Không biết mà nói là ngu, biết mà không nói là hiểm. CHU-HI
Ở đời cái gì thung dung thì còn, cấp bách quá thì mất. Việc mà thung dung thì có ý vị. Người mà thung dung thì sống lâu. Làm việc nghĩa chớ kể thiệt hại. Luận anh hùng chớ kể hơn thua. Tâm niệm trầm tĩnh thì lẽ gì nghĩ chẳng tới. Chí khí cao rộng thì việc gì làm chẳng xong. Tầm thuật quý nhất là sáng suốt. Tướng mạo quý nhất là chính đại. Ngôn ngữ quý nhất là giản dị, Chân thật. Khí kiêng nhất là hung hăng. Tâm kiêng nhất là hẹp hòi. Tài kiêng nhất là bộc lộ. Tâm phải rộng để dung nạp người trong thiên hạ. Tâm phải công bằng để làm việc trong thiên hạ.Tâm phải trầm tĩnh để xét lý trong thiên hạ. Tâm phải vững vàng để chống lại những biến cố trong thiên hạ. Việc sắp xảy ra mà ngăn được, việc đang xảy ra mà cứu được, đó là quyền biến. Chưa có việc mà biết việc sắp đến, mới có việc mà biết được việc sau, có tài năng. Định việc mà biết việc xảy ra thế này, thế nọ, như vậy là biết lo xa. Người như thế là người có kiến thức rộng rãi. LÃ-TƯ-PHÚC Khiến người ta nể lời, Không bằng khiến người ta tin lời. Khiến người ta tin lời, Không bằng khiến người ta vui vẻ nhận lời. Đem họa phước mà răn dọa là khiến người ta sợ. Đem lý lẽ mà răn dụ là khiến người ta tin Dùng tâm lý mà giác ngộ là khiến người ta vui lòng mà nghe theo. VƯƠNG DƯƠNG MINH
Biết đủ trong cái đủ của mình thì luôn luôn đủ. Biết người là trí, biết mình là sáng Không có lỗi nào to bằng ham muốn; Không có tai hoạ nào to bằng không biết đủ. Lo thắng người thì loạn; Lo thắng mình thì bình. Lời thành thật thì không đẹp; Lời đẹp thì không thành thật. LỄ KÝ
“Lời của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, mà thiên hạ không ai hiểu được, làm được. Lời của ta có tôn chỉ, việc của ta có căn bản. Vì thiên hạ không hiểu ngôn luận của ta nên không biết ta. Người hiểu ta rất ít, người theo ta được là rất hiếm. Cho nên thánh nhân mặc áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.” Lão Tử
Ở đầu thời nhà
Hán, tư tưởng triết học của phái Đạo Gia được gọi một cách phổ thông là Hoàng Lão;
chỉ đến cuối nhà Hán mới đổi tên gọi là Lão Trang.
Trang ở đây là
Trang Chu, thường gọi là Trang Tử, một hiền triết nổi tiếng của Đạo Gia. Ông là
người nước Tống, huyện Mông, ở khoảng giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hồ Nam ngày
nay; sinh và mất ở khoảng 369 - 286 TCN. Thời sau đánh giá ông là người phát
triển thêm, đưa học thuyết triết học của Lão Tử lên tầm hoàn chỉnh của nó. Quan
niệm sống của ông được Tư Mã Thiên, ở mục Lão Trang thân hàn liệt truyện trong
“Sử ký” lột tả rất rõ ràng qua lời kể một sự việc:
“Vua Uy Vương nước
Sở nghe nói Trang Chu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn
mời về làm Tướng quốc. Trang Chu mỉm cười bảo với sứ giả rằng: Lợi ngàn vàng đáng
trọng thật, địa vị khanh tướng đáng quí thật, ngươi không thấy con bò làm đồ lễ
hy sinh ngày tế đình sao? Được nuôi nấng bao nhiêu năm, rồi được trang sức văn
vẻ để đưa vào Thái miếu. Lúc ấy dù có muốn làm con lợn mồ côi há còn được nữa
không? Ngươi bước đi ngay, đừng đến làm nhục ta. Thà ta chơi ở trong bùn lầy dơ
bẩn còn thấy vui hơn là để cho kẻ có nước trói buộc ta…”
Khi trước đây
chúng ta nói rằng cuốn “Quỉ Cốc tử” viết được như vậy là nhờ nó dựa trên một nền
tảng triết thuyết thâm hậu nào đó. Bây giờ, sau một hồi lang thang va vật trong
thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chúng ta đã biết cái triết thuyết cao vời ấy chính
là Hoàng Lão.
Học thuyết triết
học Lão Trang, dựa chủ yếu trên hai trước tác “Đạo đức Kinh” và “Nam Hoa Kinh”.
Nhưng để hiểu được trọn vẹn hơn hệ thống tư tưởng triết học ấy, có lẽ chúng ta
nên chú ý đến cả “Xung hư chân kinh” và “Quỉ Cốc tử” nữa.
Chúng
ta đã mạnh
miệng bênh vực, ca ngợi, tâng bốc cái hệ thống tư tưởng triết học ấy lên
tận mây
xanh. Tại sao vậy? Tại vì nó được sinh ra từ tự nhiên, từ chính bản thân
cuộc sống,
là học thuyết được phát triển có kế thừa từ những kết tinh của hàng ngàn đời chiêm nghiệm thực tiễn của người Phương Đông cổ đại nói chung, chứ không riêng gì của người Trung Hoa
cổ đại nói riêng (!?), là
sự chắt lọc đúc kết của muôn vàn góc độ quan sát và suy tư xuất sắc nhất
về thiên nhiên.
Từ đó mà học thuyết đã đạt đến một nhận định đặc biệt thiên tài: đời
sống xã hội
có nguồn gốc từ Tự Nhiên, là bộ phận phụ thuộc không thể tách rời của Tự
Nhiên, có mối
quan hệ tương tác qua lại với Tự Nhiên và do đó, vận động xã hội phải
tuân theo những quy luật
mà nếu xét đến cùng thì cũng chính là những quy luật Tự Nhiên, hoặc xuất
phát từ
những nguyên lý nền tảng của Tự Nhiên. Cũng vì những lẽ đó mà quan niệm
về nhân
sinh của học thuyết mang tính giản dị, mộc mạc mà hợp lý cao độ; mang
hơi thở của
đại chúng, không cố tình, gượng ép mà trở thành như tâm sự của đại
chúng, nguyện
vọng của đại chúng và như thế nó cũng mang tính nhân đạo sâu sắc và tính
chính
nghĩa cao cả. Một con người đại chúng, khi được sinh ra, trước hết và
trên hết
là để làm người, để sống và chỉ mong cầu một đời được ấm no, được hưởng
hạnh phúc trong an bình chứ không
phải để làm anh hùng, quân tử hay vua chúa gì. Thuở đầu tiên, khi mới thoát thai khỏi loài vật, cũng như con vật, con người tìm ăn,tìm mặc trong thiên nhiên hoang dã, no ấm rồi thì thôi, không ham hố tích lũy làm gì. Mối quan hệ tương hỗ giữa
xã hội
con người với giới tự nhiên làm biến đổi điều kiện sống ở từng kỳ thuận
lợi hay
bất lợi (do thiên tai, phát triển dân số…), làm nảy sinh ra ở con người một thứ gọi là tình cảm (cảm giác sâu sắc về tinh thần làm nảy sinh những cặp khái niệm tương phản như yêu-ghét, vui-buồn...?), làm xuất sinh những ý niệm nhận thức như: sự tư hữu,
sự phân định gọi là giàu-nghèo, rồi mạnh-yếu, có quyền lực-không có quyền lực,..., từ đó mà xuất hiện khái niệm danh
lợi. Chính danh lợi
đã làm biến dạng sự mong cầu ban đầu vốn chừng mực, giản dị, trong sáng
của con người thành đục ngầu thèm
khát vị kỷ, hắc ám mê muội dục vọng!
Không
cương cứng
như thuyết Khổng, không thái quá như thuyết Mặc, thuyết Lão - Trang có
cái vẻ
nhu mì nhưng lại hàm chứa được cái siêu đẳng, vĩ đại. Rất nhiều khả năng nhiều ý
tưởng
triết học cốt lõi về Tự Nhiên của Phật giáo Trung Hoa sau này được rút
tỉa ra từ
học thuyết Lão – Trang. Thậm chí không ít nhà nghiên cứu Trung Hoa thời
trung đại về triết học sử còn suy đoán rằng hệ thống tư tưởng của Phật
Giáo nguyên thủy (thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế) có xuất pháp điểm
từ Đạo Gia hoặc là kết quả ban đầu của quá trình tiến triển phân nhánh,
mà nhánh thứ hai chính là Đạo Giáo (một đàng tu thân thành Phật, một đàng
tu thân thành Tiên, và đều lấy "Thiền" làm phương thức tu tập cơ bản).
Suy đoán đó không phải là không có lý!!!
Bây giờ chúng
ta sẽ cố gắng tìm hiểu kỹ hơn về học thuyết Lão - Trang, được đến đâu hay đến đấy.
***
Nếu so sánh về
thời gian tính đang được thừa nhận trong lịch sử triết học thế giới thì phải cho rằng triết học cổ đại
Ấn Độ là "người" đầu tiên nhận chân được Tự Nhiên Tồn Tại, dù còn ở dạng suy lý ngây thơ.
Con đường nhận
thức của loài người là từ ngây ngô vô thần đến hữu thần, từ đa thần đến nhất thần
và cuối cùng, trước sau gì cũng đạt đến quan niệm vô thần (đã được tri giác đúng!).
Triết học Ấn Độ cũng không đi chệch con đường ấy. Ngay từ buổi bình minh của mình,
triết học Ấn Độ, trong quá trình nhận thức, luôn trằn trọc với những câu hỏi “Tại
sao?” về thế giới các sự vật hiện tượng đã quan sát thấy.
Chúng ta có thể
tạm gọi thời gian từ 1500 - 1000 năm TCN là thời kỳ đầu Vêđa và cũng là thời kỳ
tiền triết học của Triết Học Ấn Độ. Thời kỳ này là thời kỳ lưu truyền trong xã
hội các thánh ca (Kinh) Vêđa mà theo Paul Oltramare thì:
“Những thánh ca
Vêđa rõ rệt về vấn đề thần linh, lại hoàn toàn không biết đến vấn đề liên quan đến
nhân sinh. Về vận mệnh của linh hồn, chúng không có một lời đề cập. Trái lại,
chúng chú ý nhiều đến vấn đề nguồn gốc nguyên lai. Những câu hỏi “tại sao” kế
tiếp nhau mà đặt ra. Trong các cuộc hội họp, trong khi kẻ đọc, hay hát sửa soạn
cuộc lễ, còn có người Bà La Môn ở chỗ này, chỗ kia thảo luận về nguyên lai của
vạn vật”.
Đúng vậy, trong
kinh Rig Vêđa, chúng ta đọc được nhiều đoạn dồn dập câu hỏi, hỏi rồi tự trả lời,
rất hay. Chẳng hạn như bài ca ngợi Vicvakarman - thần kiến thiết:
“Lúc khai thiên
lập địa
Ngài ở đâu,
Ngài
Vicvakarman vĩ đại?
Người chứng kiến
sự bất tử của muôn vật
Đã thúc đẩy cuộc
sáng tạo như thế nào?
Với cái gì?
Làm thế nào mà
Ngài đã phô diễn vòm trời kia?
Và mặt đất ở dưới
này.
Tai và mắt Ngài
đâu đâu cũng có!
Diện mục Ngài ở
khắp mọi nơi!
Ngài ở trong tất
cả bàn tay
Tất cả bàn chân
Thượng đế duy
nhất vận động cánh và tay
Và đây Ngài tạo
ra đất và trời
Với rừng nào?
Với gỗ nào?
Ngài đã dùng làm
chất liệu để tạo thành trời đất?..."
Hay ở chỗ khác:
“Ai biết, ai có
thể nói cho ta ở đây
Từ đâu mà sinh
ra có tạo vật
Chư vị Thần linh
không thể nói được
Vì các Ngài ra đời
sau cuộc sinh thành tạo thiên lập địa.
Vậy thì ai biết
từ đâu sinh ra tạo vật?
Từ đâu mà có thế
giới này?
Thế giới này là
sáng tạo hay không phải sáng tạo?..."
Cuối cùng, qua
bao nhiêu những tự vấn như thế, qua bao nhiêu trầm tư mặc tưởng, trăn trở như
thế, các thánh triết Ấn độ cổ đại cũng cảm nhận được cái mà chúng ta gọi là Tự
Nhiên Tồn Tại:
“Ở
thuở ấy chưa có hiện diện một vật gì mà cũng không phải là trống không
Bấy giờ chưa có
địa giới này và cũng chưa có bầu khí xa vời và cao tít trên đầu. Đã có khôngbiết cái gì, bao phủ hai thế giới chưa?
Có ai sống bấy
giờ và ở đâu? Ở đây chỉ có một sự Nghiêm Nghị với Nghiêm Nghị mà thôi
Thuở ấy chưa có
chết và không chết, Ngày và Đêm, chưa có gì khác nhau giữa ngày với đêm. Bấy giờ
chỉ có cái Một hồn nhất, Tự Tại tối cao không chút gợn, yên lặng không một hơi
thở. Sự thực chỉ có cái Một mà thôi…
Bấy giờ đêm dày
bao phủ lấy đêm dày, tất cả còn chưa phân; tất cả chìm trong Hồng Thủy
Hiện Hữu còn chìm
bên trong Vô Hữu; cái vĩ đại của nó chỉ biểu hiện ra là Nghiêm Nghị với Nghiêm
Nghị mà thôi.
Bấy giờ một ý
muốn đầu tiên xuất hiện trong cái Thức vũ trụ hóa, từ cái chí dục đầu tiên ấy nảy
nở mầm mống của tất cả sự vật!”
Các đại hiền đã
thực hiện trong hành động của tâm, sự sinh thành của thực tại từ cái hư vô.
Cái Một ấy cũng
chính là cái mà chúng ta (tạm gọi) là Tự Nhiên Tồn Tại, là cái thế giới khách
quan chưa được nhận thức; “hiện ra” trước khi hữu thức, hữu tri. Do đó mà Cái Một cũng
là cái vô hữu (không, chưa hiện hữu!!!) vĩ đại, mọi hiện hữu “chìm” trong đó. Nếu chúng ta lạc vào một vùng
đồi núi hoang vu, xa vắng; đứng đó một mình cô đơn, trong một đêm khuya tịch mịch
không sao mà cũng không trăng, và không gian hoàn toàn yên ắng; ngước nhìn lên
cao, rất có khả năng chúng ta sẽ nhìn thấy Cái Một đầy nghiêm nghị!
Khoảng thời
gian 1000 - 750 năm TCN được gọi là thời kỳ Vêđa - Brahman hay có người gọi là
Giao thời Brahman. Thời kỳ này mang nặng tính nghi lễ. Người ta không chú ý nhiều
đến thần linh nữa mà tập trung xem trọng việc cúng bái tế lễ vì họ cho rằng đó
là những nghi thức tác động được đến thần linh.
“Mặt trời sẽ không
mọc lên được nếu thầy cúng lúc bình minh không làm lễ Cúng Lửa” (Brahmana).
Có lẽ niềm tin
vào sự linh nghiệm của công việc lẽ bái, cúng tế xuất phát từ quan niệm này:
“Thế giới này sự
thực khởi kỳ thủy là không có gì hết! Không có trời cao, không có đất thấp, không
có không trung. Cái thực tại phi hữu ấy là một ý tưởng: Ta muốn có!”.
(Brahmana)
Nếu ở đầu thời
Vêđa, triết học Ấn Độ đã phát hiện một cách tài tình ra Cái Một, cái Tự Nhiên
Tồn Tại chưa qua nhận thức thì ở thời kỳ này, họ cũng xuất sắc làm xuất hiện
hai khái niệm hết sức cơ bản không chỉ cho riêng triết học cổ đại Ấn Độ, là Brahman
(Đại Ngã, Phạn Thiên, Tinh thần Vũ Trụ) và Atman (Tiểu Ngã, cái tôi, Tinh thần Cá Nhân). Rõ ràng, với hai khái niệm ấy,
các hiền triết thời đó đã nhận thức được tính phân định của thế giới mà ở đây Brahman
đóng vai trò (cũng có nghĩa như) Thế giới khách quan (Khách thể, đại Vũ Trụ) và
Atman đóng vai trò (cũng có nghĩa như) thế giới chủ quan (chủ thể, tiểu Vũ Trụ).
Nguyễn Đăng Thục, trong cuốn “Lịch sử triết học phương Đông”, tập 3, có viết:
“Sự tìm tòi một nguyên lý cùng tột của thế giới, dần dần càng ngày càng đi đến điểm
kết chung vào hai ý niệm sớm xuất hiện từ cổ xưa để rồi trở nên hai then chốt của
tư tưởng: ấy là ý niệm Brahman và Atman. Chữ Brahman là một danh từ thiêng liêng
trong Vêđa, là tiếng nói vật linh có hiệu lực như lời thần chú. Kế đến cái đức
nó đã hiện thân vào đấy, và sau cùng là cái quyền năng siêu nhiên hiện ở tại gốc
các cuộc cúng lễ và đại diện cho cái nguyên chất khởi thủy của tất cả hiện hữu.
Còn Atman là cái nhân, của một nhân cách, cái tồn tại ở một cá nhân sau khi đã
từ bỏ hết cả những gì có tính cách ngẫu nhiên. Hai ý niệm ấy xuất hiện ở các địa
hạt tư tưởng thì ngay ở tại các câu thơ Brahmana đã thấy đồng nhất cái nọ với cái
kia rồi”.
Khỏang thời
gian từ năm 750-550 TCN được gọi là thời kỳ Vêđa - Upanishad. Đến thời kỳ này,
sự nhận thức hồn nhiên khách quan đã mất dần đi, nhường chỗ cho những suy tưởng
tâm linh hướng về nhân thế. Xảy ra hiện tượng ấy là do các nhà Upanishad đã đồng
nhất hóa Brahman với Atman nhưng lại cho rằng Brahman là cái gì đó phi vật chất,
bất diệt:
“Thân thể vật
chất thì tiêu diệt. Trong cái ấy có ngự Tuyệt đối với Brahman là phi vật chất và
bất diệt. Ở tạm trong thân thể như là linh hồn cá nhân. Ngài vui và buồn bởi vì
Ngài đồng nhất bằng ý nghĩ với cái thân thể có vui và buồn. Chừng nào Ngài giải
thoát khỏi thân thể này, trở nên linh hồn Vũ Trụ, Ngài không còn vui buồn nữa,
nhưng không bị diệt vong vì vui buồn. Trái lại, bình thản và an định, Ngài là Tự
Ngã Tuyệt Đối”.
(Chadogya
Upanishad)
Đó là một nhận
thức thụt lùi rất đáng tiếc. Việc phát hiện một cách tuyệt vời ra Cái Một và xuất
sắc thấy được thế giới gồm có Brahman và Atman, đã không còn được phát huy hơn
nữa.
Chúng ta quan
niệm rằng Cái Một được Vêđa mô tả như thế, chính là Tự Nhiên Tồn Tại chưa qua
nhận thức (và như vậy nó là vô hữu). Trước nhận thức, nó hiện hữu ra (biểu hiện
ra) thành vạn vật - hiện tượng mà nhận thức cũng là một sự vật - hiện tượng trong
số đó. Tính phân biệt được của thế giới các sự vật - hiện tượng đã phân định một
cách tự nhiên ra chủ thể quan sát (cái nhận thức) và khách thể bị quan sát (cái
được nhận thức) hay thế giới chủ quan và thế giới khách quan. Hai cái đó chính
là Atman và Brahman. Atman là bộ phận của Brahman và cả hai đều là sự thể hiện
ra của cái Một, cái vận động vật chất ở tầng nền tảng; có cùng nguồn gốc là Cái
Một. Cái vận động vật chất ở tầng nền tảng chính là cái mà Upanishad gọi là Cái
Ấy. Nếu Cái Một là Tự Nhiên Tồn Tại chưa qua nhận thức thì Cái Ấy chính là Tự
Nhiên Tồn Tại đã được nhận thức tuyệt đối. Như vậy Atman và Brahman vì là hai sự
vật - hiện tượng độc lập tương đối với nhau nên không thể đồng nhất được; vì có
cùng nguồn gốc xuất hiện nên cũng lại có tính đồng nhất. Atman có thể mất đi và
trở về với Cái Ấy nhưng Brahman thì chỉ biến đổi chứ không bao giờ mất, hoặc chỉ
mất đi để trở về với Cái Một khi toàn bộ Atman mất đi!
Đến đây, tự nhiên
bật ra một câu hỏi cũng thuộc “ngàn đời” của triết học: Linh hồn có tồn tại ngoài
thể xác không; còn tồn tại khi thể xác đã mất đi rồi không?
Câu
hỏi đó là một
thử thách vàng đá đối với mọi học thuyết triết học. Vì vậy mà nó cũng
đặt ra một
đề tài vô cùng hóc búa nhưng cũng vô cùng hấp dẫn đối với mọi bộ não tò
mò. Nếu
sau này còn kịp thời gian thì chúng ta sẽ quay lại với câu hỏi đó, làm
cái công
việc tương tự như bác sĩ thần kinh Freud đã làm (nhưng không thể chuyên
sâu vào
ngành y như thế mà chỉ hời hợt trên bình diện triết học thôi). Còn bây
giờ chúng
ta chỉ có thể nói rằng trả lời, phủ định hay khẳng định câu hỏi trên đền
không đúng
vì thực tế đã chứng minh điều đó. Khi thân xác mất đi thì cấu trúc của
vật chất
vận động nền tảng có thể bị phá hủy theo hoặc do một nguyên nhân bí ẩn
nào đó,
vẫn còn có thể tồn tại một thời gian vài năm, vài trăm năm thậm chí là
vài ngàn
năm… rồi lúc đó mới thực sự bị phá hủy. Do đó cái gọi là Atman, quan
niệm một cách tương đối thôi, vẫn có thể tồn tại
ngoài thể xác nhưng chắc chắn là “mờ nhạt” và ngày càng mờ nhạt. Nhưng
từ đó những
hiện tượng về vong, hồn ma, nhập hồn và hãn hữu là cả sự đầu thai nữa
cũng có
thể xảy ra …Một cách tuyệt đối thì phải dứt khoát khẳng định rằng, linh
hồn tồn tại ngoài thể xác là sự "bộc lộ" ra trong hiện thực của một hư
vô (một thể thức tồn tại chưa biết, chưa nhận thức được!) chứ không phải
của một Hư Vô (tuyệt đối không có gì!), vì chúng ta đã luận giải rồi:
dù có cố gọi là Hư Vô thì cứ vẫn là Tồn Tại!
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét