TT&HĐ I - 8/a


                        Vì sao người xưa dùng Kinh Dịch dự đoán vận mệnh vô cùng chính xác?

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
CHƯƠNG VIII: HOÀNG LÃO

Không biết mà nói là ngu, biết mà không nói là hiểm.
CHU-HI

 
Ở đời cái gì thung dung thì còn, cấp bách quá thì mất. Việc mà thung dung thì có ý vị. Người mà thung dung thì sống lâu.
Làm việc nghĩa chớ kể thiệt hại. Luận anh hùng chớ kể hơn thua.
Tâm niệm trầm tĩnh thì lẽ gì nghĩ chẳng tới. Chí khí cao rộng thì việc gì làm chẳng xong.
Tầm thuật quý nhất là sáng suốt. Tướng mạo quý nhất là chính đại. Ngôn ngữ quý nhất là giản dị, Chân thật.
Khí kiêng nhất là hung hăng. Tâm kiêng nhất là hẹp hòi. Tài kiêng nhất là bộc lộ.
Tâm phải rộng để dung nạp người trong thiên hạ. Tâm phải công bằng để làm việc trong thiên hạ.Tâm phải trầm tĩnh để xét lý trong thiên hạ. Tâm phải vững vàng để chống lại những biến cố trong thiên hạ.
Việc sắp xảy ra mà ngăn được, việc đang xảy ra mà cứu được, đó là quyền biến. Chưa có việc mà biết việc sắp đến, mới có việc mà biết được việc sau, có tài năng. Định việc mà biết việc xảy ra thế này, thế nọ, như vậy là biết lo xa. Người như thế là người có kiến thức rộng rãi.
LÃ-TƯ-PHÚC

Khiến người ta nể lời, Không bằng khiến người ta tin lời.
Khiến người ta tin lời, Không bằng khiến người ta vui vẻ nhận lời.
Đem họa phước mà răn dọa là khiến người ta sợ.
Đem lý lẽ mà răn dụ là khiến người ta tin
Dùng tâm lý mà giác ngộ là khiến người ta vui lòng mà nghe theo.

VƯƠNG DƯƠNG MINH

Biết đủ trong cái đủ của mình thì luôn luôn đủ.
Biết người là trí, biết mình là sáng
Không có lỗi nào to bằng ham muốn; Không có tai hoạ nào to bằng không biết đủ.
Lo thắng người thì loạn; Lo thắng mình thì bình.
Lời thành thật thì không đẹp; Lời đẹp thì không thành thật.
LỄ KÝ

“Lời của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, mà thiên hạ không ai hiểu được, làm được. Lời của ta có tôn chỉ, việc của ta có căn bản. Vì thiên hạ không hiểu ngôn luận của ta nên không biết ta. Người hiểu ta rất ít, người theo ta được là rất hiếm. Cho nên thánh nhân mặc áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.”
Lão Tử


Ở đầu thời nhà Hán, tư tưởng triết học của phái Đạo Gia được gọi một cách phổ thông là Hoàng Lão; chỉ đến cuối nhà Hán mới đổi tên gọi là Lão Trang.

Trang ở đây là Trang Chu, thường gọi là Trang Tử, một hiền triết nổi tiếng của Đạo Gia. Ông là người nước Tống, huyện Mông, ở khoảng giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hồ Nam ngày nay; sinh và mất ở khoảng 369 - 286 TCN. Thời sau đánh giá ông là người phát triển thêm, đưa học thuyết triết học của Lão Tử lên tầm hoàn chỉnh của nó. Quan niệm sống của ông được Tư Mã Thiên, ở mục Lão Trang thân hàn liệt truyện trong “Sử ký” lột tả rất rõ ràng qua lời kể một sự việc:

“Vua Uy Vương nước Sở nghe nói Trang Chu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời về làm Tướng quốc. Trang Chu mỉm cười bảo với sứ giả rằng: Lợi ngàn vàng đáng trọng thật, địa vị khanh tướng đáng quí thật, ngươi không thấy con bò làm đồ lễ hy sinh ngày tế đình sao? Được nuôi nấng bao nhiêu năm, rồi được trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu. Lúc ấy dù có muốn làm con lợn mồ côi há còn được nữa không? Ngươi bước đi ngay, đừng đến làm nhục ta. Thà ta chơi ở trong bùn lầy dơ bẩn còn thấy vui hơn là để cho kẻ có nước trói buộc ta…”

Khi trước đây chúng ta nói rằng cuốn “Quỉ Cốc tử” viết được như vậy là nhờ nó dựa trên một nền tảng triết thuyết thâm hậu nào đó. Bây giờ, sau một hồi lang thang va vật trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chúng ta đã biết cái triết thuyết cao vời ấy chính là Hoàng Lão.

Học thuyết triết học Lão Trang, dựa chủ yếu trên hai trước tác “Đạo đức Kinh” và “Nam Hoa Kinh”. Nhưng để hiểu được trọn vẹn hơn hệ thống tư tưởng triết học ấy, có lẽ chúng ta nên chú ý đến cả “Xung hư chân kinh” và “Quỉ Cốc tử” nữa.

Chúng ta đã mạnh miệng bênh vực, ca ngợi, tâng bốc cái hệ thống tư tưởng triết học ấy lên tận mây xanh. Tại sao vậy? Tại vì nó được sinh ra từ tự nhiên, từ chính bản thân cuộc sống, là học thuyết được phát triển có kế thừa từ những kết tinh của hàng ngàn đời chiêm nghiệm thực tiễn của người Phương Đông cổ đại nói chung, chứ không riêng gì của người Trung Hoa cổ đại nói riêng (!?), là sự chắt lọc đúc kết của muôn vàn góc độ quan sát và suy tư xuất sắc nhất về thiên nhiên. Từ đó mà học thuyết đã đạt đến một nhận định đặc biệt thiên tài: đời sống xã hội có nguồn gốc từ Tự Nhiên, là bộ phận phụ thuộc không thể tách rời của Tự Nhiên, có mối quan hệ tương tác qua lại với Tự Nhiên và do đó, vận động xã hội phải tuân theo những quy luật mà nếu xét đến cùng thì cũng chính là những quy luật Tự Nhiên, hoặc xuất phát từ những nguyên lý nền tảng của Tự Nhiên. 
Cũng vì những lẽ đó mà quan niệm về nhân sinh của học thuyết mang tính giản dị, mộc mạc mà hợp lý cao độ; mang hơi thở của đại chúng, không cố tình, gượng ép mà trở thành như tâm sự của đại chúng, nguyện vọng của đại chúng và như thế nó cũng mang tính nhân đạo sâu sắc và tính chính nghĩa cao cả. Một con người đại chúng, khi được sinh ra, trước hết và trên hết là để làm người, để sống và chỉ mong cầu một đời được ấm no, được hưởng hạnh phúc trong an bình chứ không phải để làm anh hùng, quân tử hay vua chúa gì. Thuở đầu tiên, khi mới thoát thai khỏi loài vật, cũng như con vật, con người tìm ăn,tìm mặc trong thiên nhiên hoang dã, no ấm rồi thì thôi, không ham hố tích lũy làm gì. Mối quan hệ tương hỗ giữa xã hội con người với giới tự nhiên làm biến đổi điều kiện sống ở từng kỳ thuận lợi hay bất lợi (do thiên tai, phát triển dân số…), làm nảy sinh ra ở con người một thứ gọi là tình cảm (cảm giác sâu sắc về tinh thần làm nảy sinh những cặp khái niệm tương phản như yêu-ghét, vui-buồn...?), làm xuất sinh những ý niệm nhận thức như: sự tư hữu, sự phân định gọi là giàu-nghèo, rồi mạnh-yếu, có quyền lực-không có quyền lực,..., từ đó mà xuất hiện khái niệm danh lợi. Chính danh lợi đã làm biến dạng sự mong cầu ban đầu vốn chừng mực, giản dị, trong sáng của con người thành đục ngầu thèm khát vị kỷ, hắc ám mê muội dục vọng!

Không cương cứng như thuyết Khổng, không thái quá như thuyết Mặc, thuyết Lão - Trang có cái vẻ nhu mì nhưng lại hàm chứa được cái siêu đẳng, vĩ đại. Rất nhiều khả năng nhiều ý tưởng triết học cốt lõi về Tự Nhiên của Phật giáo Trung Hoa sau này được rút tỉa ra từ học thuyết Lão – Trang. Thậm chí không ít nhà nghiên cứu Trung Hoa thời trung đại về triết học sử còn suy đoán rằng hệ thống tư tưởng của Phật Giáo nguyên thủy (thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế) có xuất pháp điểm từ Đạo Gia hoặc là kết quả ban đầu của quá trình tiến triển phân nhánh, mà nhánh thứ hai chính là Đạo Giáo (một đàng tu thân thành Phật, một đàng tu thân thành Tiên, và đều lấy "Thiền" làm phương thức tu tập cơ bản). Suy đoán đó không phải là không có lý!!!

Bây giờ chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu kỹ hơn về học thuyết Lão - Trang, được đến đâu hay đến đấy.

 ***

Nếu so sánh về thời gian tính đang được thừa nhận trong lịch sử triết học thế giới thì phải cho rằng triết học cổ đại Ấn Độ là "người" đầu tiên nhận chân được Tự Nhiên Tồn Tại, dù còn ở dạng suy lý ngây thơ.

Con đường nhận thức của loài người là từ ngây ngô vô thần đến hữu thần, từ đa thần đến nhất thần và cuối cùng, trước sau gì cũng đạt đến quan niệm vô thần (đã được tri giác đúng!). Triết học Ấn Độ cũng không đi chệch con đường ấy. Ngay từ buổi bình minh của mình, triết học Ấn Độ, trong quá trình nhận thức, luôn trằn trọc với những câu hỏi “Tại sao?” về thế giới các sự vật hiện tượng đã quan sát thấy.

Chúng ta có thể tạm gọi thời gian từ 1500 - 1000 năm TCN là thời kỳ đầu Vêđa và cũng là thời kỳ tiền triết học của Triết Học Ấn Độ. Thời kỳ này là thời kỳ lưu truyền trong xã hội các thánh ca (Kinh) Vêđa mà theo Paul Oltramare thì:

“Những thánh ca Vêđa rõ rệt về vấn đề thần linh, lại hoàn toàn không biết đến vấn đề liên quan đến nhân sinh. Về vận mệnh của linh hồn, chúng không có một lời đề cập. Trái lại, chúng chú ý nhiều đến vấn đề nguồn gốc nguyên lai. Những câu hỏi “tại sao” kế tiếp nhau mà đặt ra. Trong các cuộc hội họp, trong khi kẻ đọc, hay hát sửa soạn cuộc lễ, còn có người Bà La Môn ở chỗ này, chỗ kia thảo luận về nguyên lai của vạn vật”.

Đúng vậy, trong kinh Rig Vêđa, chúng ta đọc được nhiều đoạn dồn dập câu hỏi, hỏi rồi tự trả lời, rất hay. Chẳng hạn như bài ca ngợi Vicvakarman - thần kiến thiết:

“Lúc khai thiên lập địa

Ngài ở đâu,

Ngài Vicvakarman vĩ đại?

Người chứng kiến sự bất tử của muôn vật

Đã thúc đẩy cuộc sáng tạo như thế nào?

Với cái gì?

Làm thế nào mà Ngài đã phô diễn vòm trời kia?

Và mặt đất ở dưới này.

Tai và mắt Ngài đâu đâu cũng có!

Diện mục Ngài ở khắp mọi nơi!

Ngài ở trong tất cả bàn tay

Tất cả bàn chân

Thượng đế duy nhất vận động cánh và tay

Và đây Ngài tạo ra đất và trời

Với rừng nào?

Với gỗ nào?

Ngài đã dùng làm chất liệu để tạo thành trời đất?..."

Hay ở chỗ khác:

“Ai biết, ai có thể nói cho ta ở đây

Từ đâu mà sinh ra có tạo vật

Chư vị Thần linh không thể nói được

Vì các Ngài ra đời sau cuộc sinh thành tạo thiên lập địa.

Vậy thì ai biết từ đâu sinh ra tạo vật?

Từ đâu mà có thế giới này?

Thế giới này là sáng tạo hay không phải sáng tạo?..."

Cuối cùng, qua bao nhiêu những tự vấn như thế, qua bao nhiêu trầm tư mặc tưởng, trăn trở như thế, các thánh triết Ấn độ cổ đại cũng cảm nhận được cái mà chúng ta gọi là Tự Nhiên Tồn Tại:

“Ở thuở ấy chưa có hiện diện một vật gì mà cũng không phải là trống không

Bấy giờ chưa có địa giới này và cũng chưa có bầu khí xa vời và cao tít trên đầu. Đã có không  biết cái gì, bao phủ hai thế giới chưa?

Có ai sống bấy giờ và ở đâu? Ở đây chỉ có một sự Nghiêm Nghị với Nghiêm Nghị mà thôi

Thuở ấy chưa có chết và không chết, Ngày và Đêm, chưa có gì khác nhau giữa ngày với đêm. Bấy giờ chỉ có cái Một hồn nhất, Tự Tại tối cao không chút gợn, yên lặng không một hơi thở. Sự thực chỉ có cái Một mà thôi…

Bấy giờ đêm dày bao phủ lấy đêm dày, tất cả còn chưa phân; tất cả chìm trong Hồng Thủy

Hiện Hữu còn chìm bên trong Vô Hữu; cái vĩ đại của nó chỉ biểu hiện ra là Nghiêm Nghị với Nghiêm Nghị mà thôi.

Bấy giờ một ý muốn đầu tiên xuất hiện trong cái Thức vũ trụ hóa, từ cái chí dục đầu tiên ấy nảy nở mầm mống của tất cả sự vật!

Các đại hiền đã thực hiện trong hành động của tâm, sự sinh thành của thực tại từ cái hư vô.

Cái Một ấy cũng chính là cái mà chúng ta (tạm gọi) là Tự Nhiên Tồn Tại, là cái thế giới khách quan chưa được nhận thức; “hiện ra” trước khi hữu thức, hữu tri. Do đó mà Cái Một cũng là cái vô hữu (không, chưa hiện hữu!!!) vĩ đại, mọi hiện hữu “chìm” trong đó. Nếu chúng ta lạc vào một vùng đồi núi hoang vu, xa vắng; đứng đó một mình cô đơn, trong một đêm khuya tịch mịch không sao mà cũng không trăng, và không gian hoàn toàn yên ắng; ngước nhìn lên cao, rất có khả năng chúng ta sẽ nhìn thấy Cái Một đầy nghiêm nghị!

Khoảng thời gian 1000 - 750 năm TCN được gọi là thời kỳ Vêđa - Brahman hay có người gọi là Giao thời Brahman. Thời kỳ này mang nặng tính nghi lễ. Người ta không chú ý nhiều đến thần linh nữa mà tập trung xem trọng việc cúng bái tế lễ vì họ cho rằng đó là những nghi thức tác động được đến thần linh.

“Mặt trời sẽ không mọc lên được nếu thầy cúng lúc bình minh không làm lễ Cúng Lửa” (Brahmana).

Có lẽ niềm tin vào sự linh nghiệm của công việc lẽ bái, cúng tế xuất phát từ quan niệm này:

“Thế giới này sự thực khởi kỳ thủy là không có gì hết! Không có trời cao, không có đất thấp, không có không trung. Cái thực tại phi hữu ấy là một ý tưởng: Ta muốn có!”.

(Brahmana)

Nếu ở đầu thời Vêđa, triết học Ấn Độ đã phát hiện một cách tài tình ra Cái Một, cái Tự Nhiên Tồn Tại chưa qua nhận thức thì ở thời kỳ này, họ cũng xuất sắc làm xuất hiện hai khái niệm hết sức cơ bản không chỉ cho riêng triết học cổ đại Ấn Độ, là Brahman (Đại Ngã, Phạn Thiên, Tinh thần Vũ Trụ) và Atman (Tiểu Ngã, cái tôi, Tinh thần Cá Nhân). Rõ ràng, với hai khái niệm ấy, các hiền triết thời đó đã nhận thức được tính phân định của thế giới mà ở đây Brahman đóng vai trò (cũng có nghĩa như) Thế giới khách quan (Khách thể, đại Vũ Trụ) và Atman đóng vai trò (cũng có nghĩa như) thế giới chủ quan (chủ thể, tiểu Vũ Trụ). Nguyễn Đăng Thục, trong cuốn “Lịch sử triết học phương Đông”, tập 3, có viết: “Sự tìm tòi một nguyên lý cùng tột của thế giới, dần dần càng ngày càng đi đến điểm kết chung vào hai ý niệm sớm xuất hiện từ cổ xưa để rồi trở nên hai then chốt của tư tưởng: ấy là ý niệm Brahman và Atman. Chữ Brahman là một danh từ thiêng liêng trong Vêđa, là tiếng nói vật linh có hiệu lực như lời thần chú. Kế đến cái đức nó đã hiện thân vào đấy, và sau cùng là cái quyền năng siêu nhiên hiện ở tại gốc các cuộc cúng lễ và đại diện cho cái nguyên chất khởi thủy của tất cả hiện hữu. Còn Atman là cái nhân, của một nhân cách, cái tồn tại ở một cá nhân sau khi đã từ bỏ hết cả những gì có tính cách ngẫu nhiên. Hai ý niệm ấy xuất hiện ở các địa hạt tư tưởng thì ngay ở tại các câu thơ Brahmana đã thấy đồng nhất cái nọ với cái kia rồi”.

Khỏang thời gian từ năm 750-550 TCN được gọi là thời kỳ Vêđa - Upanishad. Đến thời kỳ này, sự nhận thức hồn nhiên khách quan đã mất dần đi, nhường chỗ cho những suy tưởng tâm linh hướng về nhân thế. Xảy ra hiện tượng ấy là do các nhà Upanishad đã đồng nhất hóa Brahman với Atman nhưng lại cho rằng Brahman là cái gì đó phi vật chất, bất diệt:

“Thân thể vật chất thì tiêu diệt. Trong cái ấy có ngự Tuyệt đối với Brahman là phi vật chất và bất diệt. Ở tạm trong thân thể như là linh hồn cá nhân. Ngài vui và buồn bởi vì Ngài đồng nhất bằng ý nghĩ với cái thân thể có vui và buồn. Chừng nào Ngài giải thoát khỏi thân thể này, trở nên linh hồn Vũ Trụ, Ngài không còn vui buồn nữa, nhưng không bị diệt vong vì vui buồn. Trái lại, bình thản và an định, Ngài là Tự Ngã Tuyệt Đối”.

(Chadogya Upanishad)

Đó là một nhận thức thụt lùi rất đáng tiếc. Việc phát hiện một cách tuyệt vời ra Cái Một và xuất sắc thấy được thế giới gồm có Brahman và Atman, đã không còn được phát huy hơn nữa.

Chúng ta quan niệm rằng Cái Một được Vêđa mô tả như thế, chính là Tự Nhiên Tồn Tại chưa qua nhận thức (và như vậy nó là vô hữu). Trước nhận thức, nó hiện hữu ra (biểu hiện ra) thành vạn vật - hiện tượng mà nhận thức cũng là một sự vật - hiện tượng trong số đó. Tính phân biệt được của thế giới các sự vật - hiện tượng đã phân định một cách tự nhiên ra chủ thể quan sát (cái nhận thức) và khách thể bị quan sát (cái được nhận thức) hay thế giới chủ quan và thế giới khách quan. Hai cái đó chính là Atman và Brahman. Atman là bộ phận của Brahman và cả hai đều là sự thể hiện ra của cái Một, cái vận động vật chất ở tầng nền tảng; có cùng nguồn gốc là Cái Một. Cái vận động vật chất ở tầng nền tảng chính là cái mà Upanishad gọi là Cái Ấy. Nếu Cái Một là Tự Nhiên Tồn Tại chưa qua nhận thức thì Cái Ấy chính là Tự Nhiên Tồn Tại đã được nhận thức tuyệt đối. Như vậy Atman và Brahman vì là hai sự vật - hiện tượng độc lập tương đối với nhau nên không thể đồng nhất được; vì có cùng nguồn gốc xuất hiện nên cũng lại có tính đồng nhất. Atman có thể mất đi và trở về với Cái Ấy nhưng Brahman thì chỉ biến đổi chứ không bao giờ mất, hoặc chỉ mất đi để trở về với Cái Một khi toàn bộ Atman mất đi!

Đến đây, tự nhiên bật ra một câu hỏi cũng thuộc “ngàn đời” của triết học: Linh hồn có tồn tại ngoài thể xác không; còn tồn tại khi thể xác đã mất đi rồi không?
Câu hỏi đó là một thử thách vàng đá đối với mọi học thuyết triết học. Vì vậy mà nó cũng đặt ra một đề tài vô cùng hóc búa nhưng cũng vô cùng hấp dẫn đối với mọi bộ não tò mò. Nếu sau này còn kịp thời gian thì chúng ta sẽ quay lại với câu hỏi đó, làm cái công việc tương tự như bác sĩ thần kinh Freud đã làm (nhưng không thể chuyên sâu vào ngành y như thế mà chỉ hời hợt trên bình diện triết học thôi). Còn bây giờ chúng ta chỉ có thể nói rằng trả lời, phủ định hay khẳng định câu hỏi trên đền không đúng vì thực tế đã chứng minh điều đó. Khi thân xác mất đi thì cấu trúc của vật chất vận động nền tảng có thể bị phá hủy theo hoặc do một nguyên nhân bí ẩn nào đó, vẫn còn có thể tồn tại một thời gian vài năm, vài trăm năm thậm chí là vài ngàn năm… rồi lúc đó mới thực sự bị phá hủy. Do đó cái gọi là Atman, quan niệm một cách tương đối thôi, vẫn có thể tồn tại ngoài thể xác nhưng chắc chắn là “mờ nhạt” và ngày càng mờ nhạt. Nhưng từ đó những hiện tượng về vong, hồn ma, nhập hồn và hãn hữu là cả sự đầu thai nữa cũng có thể xảy ra …Một cách tuyệt đối thì phải dứt khoát khẳng định rằng, linh hồn tồn tại ngoài thể xác là sự "bộc lộ" ra trong hiện thực của một hư vô (một thể thức tồn tại chưa biết, chưa nhận thức được!) chứ không phải của một Hư Vô (tuyệt đối không có gì!), vì chúng ta đã luận giải rồi: dù có cố gọi là Hư Vô thì cứ vẫn là Tồn Tại!
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32