BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 179

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Bằng chứng về nhan sắc thật của mỹ nhân Trung Hoa thời cổ đại, phá vỡ mọi quan điểm sai lầm

Lời tiên tri trở thành sự thật của hai giai nhân tuyệt sắc

Chủ nhật, ngày 31/05/2020 06:30 AM (GMT+7)
Họ là những giai nhân tuyệt sắc, được nhiều đàn ông say mê, rồi trở thành những bà hoàng khuynh đảo thiên hạ... biến những lời tiên tri trở thành sự thật.
Bình luận 0
Lá số của người đàn bà đầu tiên làm Hoàng đế
Lịch sử phong kiến Trung Quốc ghi nhận Võ Tắc Thiên (624 – 705) là nữ Hoàng đế duy nhất. Bà cực kỳ đặc biệt, là giai nhân tuyệt sắc kiều mị, có tài năng tuyệt đỉnh và minh mẫn hơn người. Bà bị lịch sử lên án vì rất ác nghiệt, dùng mọi thủ đoạn để thống trị vương triều hơn chục năm.
"Tân đường thư – Viên Thiên Cang truyện" và sách tiên tri "Thôi Bối Đồ" viết về Viên Thiên Cang, Lý Thuần Phong – những bậc thầy tướng số, phong thủy nổi tiếng thời kỳ đầu nhà Đường đã ghi lại những lời tiên đoán về Võ Tắc Thiên.

Lời tiên tri trở thành sự thật của hai giai nhân tuyệt sắc - Ảnh 1.
Võ Tắc Thiên hoàng đế. Ảnh cổ trang.
Viên Thiên Cang khi đã trở thành bậc thầy tướng số có lần đi qua ngoài phủ Võ Sĩ Hoạch – cha của Võ Tắc Thiên đang làm Đô đốc Lợi Châu. Tình cờ gặp vợ ông và bật nói: "Phu nhân, bà có cốt pháp không giống người thường, trong nhà tất có quý tử". Bà liền mời Viên Thiên Cang vào phủ xem tướng cho các con.
Viên Thiên Cang khen hai con trai là "bảo gia chi tử", nói con gái lớn tương lai sẽ là quý phu nhân… nhưng không có "quý tử". Bà bèn gọi nhũ mẫu bế một đứa trẻ ăn mặc như bé trai ra. Nhìn đứa bé sắc mặt Viên Thiên Cang chợt biến đổi, và khi đứa bé mở đôi mắt to ngước nhìn Viên Thiên Cang thì ông kinh hãi: "Đứa trẻ này có con ngươi của rồng và cái cổ của phượng hoàng (long tinh phượng cảnh), có tướng đại phúc, đại quý. Nếu nó là con gái tất sẽ là vua của thiên hạ".
Đứa trẻ ấy chính là Võ Tắc Thiên. Viên Thiên Cang cũng từng tiên tri rằng, triều đại nhà Đường sẽ bị một phụ nữ họ Võ xâm phạm.
Lần tiên đoán được ghi chép thứ hai về Võ Tắc Thiên là của Lý Thuần Phong – bậc thầy thiên văn, địa lý và kinh dịch. Khi đó Hoàng đế Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã cao tuổi, muốn Lý Thuần Phong dùng hiểu biết về thuật số, tính xem ai là người làm mất nước, ai sẽ bắt đầu triều đại mới.
Lý Thuần Phong không dám tiết lộ thiên cơ, nên nói: "Người làm loạn triều ta, ở ngay bên cạnh bệ hạ. 30 năm sau, người đó sẽ giết chết hầu hết con cháu nhà Đường". Nghe vậy Đường Thái Tông muốn giết chết người đó trừ họa, nhưng Lý Thuần Phong nói đó là thiên ý, nếu giờ giết chết đi, Trời tất sẽ giáng họa, con cháu nhà Đường càng nguy hiểm.
Vì thế Hoàng đế Đường Thái Tông biết trước mà không lạm sát. Khi ông qua đời, Võ Tắc Thiên trở thành Hoàng hậu, trải qua các đời Đường Trung Tông Lý Hiển, Đường Duệ Tông Lý Đán với tư cách Hoàng thái hậu, và đã trở thành Hoàng đế duy nhất của triều đại Võ Chu (690 -705).
Theo tiên tri của Lý Thuần Phong nói về người sẽ người làm mất nước và bắt đầu triều đại mới: "Người này chỉ có cây thương không rời thân, 2 mắt mọc trên không trung".
(Lời này là tả về tên thật của Võ Tắc Thiên là Võ Chiếu. Võ Tắc Thiên có họ là Võ ("武"). Từ Võ ("武") này do chữ "chỉ có"("止") ghép với "cây thương (" 戈"), tên là Chiếu ("曌") tức là "2 mắt "(目目") mọc ở trên không trung (" 空"). Về sau này, sự tình thực tế xảy ra hoàn toàn đúng với lời tiên đoán này.)
Đương số đặc biệt của cụ Ngô Hùng Diễn
Ở Việt Nam ghi nhận 3 quẻ bói về cuộc đời ly kỳ của giai nhân tuyệt sắc là Đệ nhất phu nhân (1924-2011). Bà là vợ ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính quyền ở miền Nam trước đây - đặc biệt là lá số của thần tướng Ngô Hùng Diễn. Bà sinh ra trong gia đình quyền quý: Cha là ông Trần Văn Chương, đại địa chủ và là luật sư Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ luật của Pháp. Mẹ là quận chúa Thân Thị Nam Trân, là công chúa, con của Kiên Thái Vương (em vua Tự Đức).

Lời tiên tri trở thành sự thật của hai giai nhân tuyệt sắc - Ảnh 2.
Bà Trần Lệ Xuân. Ảnh Internet.
Lời tiên tri đầu tiên là khi Trần Lệ Xuân ra đời. Ông thầy bói xem tướng rồi đối chiếu ngày sinh, giờ sinh, hoàng đạo với vị trí của mặt trời và mặt trăng và cả những ngôi sao xấu đang lướt qua… để đưa ra tiên tri. Ông đã thốt lên vì bà có số phận kỳ lạ ngoài sức tưởng tượng: "Ngôi sao chiếu mệnh của nó không thể nào tốt hơn. Đứa bé sẽ leo lên đến những đỉnh cao vời vợi".
Lần xem bói thứ hai được ghi lại trong "Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân" của tác giả Hoàng Trọng Miên (Mõ Hà Nội, VNthuquan - Thư viện Online). Khi ấy Trần Lệ Xuân đang tiến tới hôn nhân với Ngô Đình Nhu. Về gia thế thì gia đình ông Trạng Trần thông gia với cụ Thượng Ngô rất môn đăng hộ đối, chú rể lại có bằng cấp cao, cô dâu tân thời đúng mực – rất xứng đôi vừa lứa.
Nhưng bà Nam Trân vẫn đưa Trần Lệ Xuân đi xem bói cho đôi lứa ở trước khi quyết định có nhận lời nhà trai hay không. Trần Lệ Xuân thắp hương, van vái rồi hai tay cầm ống quẻ lắc mạnh để xin xăm. Bà Nam Trân đặt lên tráp thầy bói 5 đồng bạc để nghe lời thánh dạy (năm 1948 đó là số tiền lớn, bởi giải quẻ xăm chỉ thu đồng hào). Để "tạ ơn" mệnh phụ phu nhân và tiểu thư, ông thầy cao hứng xem cả tướng số, xem tay và bói Dịch, phán rằng:
- Bẩm bà lớn, cô nhà ta cao số, đôi lưỡng quyền nổi bật - đủ thấy người đàn ông phải bản lĩnh lắm mới ăn đời ở kiếp được. Lòng bàn tay đầy đặn đỏ son là số về sau sống trong nhung lụa, lên xe xuống ngựa, đường đường mệnh phụ phu nhân. Chỉ phải cái gia đạo không yên vui mấy vì những nét phá ngang. Theo tử vi thì đường tình duyên cô có nhiều éo le, song nhờ "tử phù vũ tướng" và "tả phù hữu bật" nên đời cô dù có lao đao về chồng con, rốt cuộc cô vẫn sung sướng thanh nhàn, giàu sang quý phái hơn thiên hạ.
Bà Nam Trân đưa tuổi của chàng rể tương lai ra hỏi. Thầy tính toán một hồi nói:
- Số người đàn ông này cũng cao lắm. Có thể sánh được với cô nhà ta. Cung quan lộc của ông này về sau vượng lắm, danh tiếng lẫy lừng. Đi đôi với số cao của cô dù cách nhau trên 16 tuổi, song có thể phối hợp được thành chồng thành vợ. Trong tử vi người đàn ông có bị phá cách về sau, nhưng có thể cúng sao giải hạn được.
Và năm 1943 khi Trần Lệ Xuân 18 tuổi đã kết hôn với Ngô Đình Nhu.
Lần xem bói thứ ba của Trần Lệ Xuân được ghi nhận theo đương số của cụ Ngô Hùng Diễn. Theo đó: "Cô là một người phụ nữ danh giá. Chồng cô chỉ đứng sau một người và trên cả triệu người. Nhưng trong cuộc đời, cô tuyệt đối không được rời xa nhà chồng. Nếu cô rời xa nhà chồng thì cả gia đình nhà chồng sẽ gặp đại họa".
Cụ Ngô Hùng Diễn nói về Trần Lệ Xuân là mắt phượng, mặt cái lá, dáng người thanh thoát, quý phái. Người mặt cái lá thì suốt đời gặp may. Đàn bà mắt phượng là có quyền lực lớn, đã mắt phượng mà còn xinh đẹp thì quyền lực rất lớn. Ngoài cụ Ngô Hùng Diễn, không ai luận đoán về số phận một con người chính xác đến thế. Cụ cũng nói với Ngô Đình Diệm: "Xin tổng thống đừng để bà cố vấn đi ra khỏi biên giới".
Cuộc đời của Trần Lệ Xuân đã diễn ra đúng như vậy. 18 tuổi, Trần Lệ Xuân lấy chồng, trở thành bà cố vấn và nhảy thẳng vào chính trường miền Nam, không qua bầu bán. Bà thực sự đứng dưới một người và trên cả triệu người, còn được coi là lá bùa hộ mệnh của gia đình nhà chồng.
Bà nổi tiếng là người đàn bà đầy mưu mô, dùng tất cả mánh lới để leo lên đỉnh cao của quyền lực. Robert McNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã nhận xét về Trần Lệ Xuân: "Giống như hầu hết những người Mỹ đến đất nước này, và theo tôi, cả nhiều người Việt nữa, tôi thấy bà Nhu là một người sáng sủa, mạnh mẽ và xinh đẹp, nhưng cũng độc ác và mưu mô - một mụ phù thủy thực sự".
Nhưng tình hình năm 1963 rất căng thẳng. Tại Sài Gòn các tướng lĩnh dưới sự chỉ đạo của Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn (được Đại sứ Mỹ đảm bảo là sẽ không can thiệp), đã tổ chức đảo chính. Gia đình họ Ngô bị xóa sổ, trừ Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Thục thoát nạn vì đang ở Mỹ.
Khi quân đảo chính nổ súng, ngồi trong hầm ngầm dưới Dinh Độc Lập, Ngô Đình Diệm đã nói với Ngô Đình Nhu: "Nếu thím Xuân ở nhà thì tình hình không phải như thế này".
Lời nói đó có cơ sở, bởi trong cuộc đảo chính vai trò của Trần Văn Đôn rất quan trong, là Tổng tham mưu trưởng và Phó Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Viên tướng trẻ này - và nhiều tướng tá của quân lực Cộng hòa miền Nam - tuy không ủng hộ Ngô Đình Diệm nhưng đều si mê trí thông minh, nhan sắc đa tình của Trần Lệ Xuân. Bà Trần Lệ Xuân cũng rất thích đức tính hào hiệp của Trần Văn Đôn. Cuộc tình vụng trộm khiến vợ Đôn ra tay "đánh ghen" bắn Trần Lệ Xuân ở Đà Lạt. Sau đó mối quan hệ vợ chồng giữa Đôn và bà vợ chấm dứt. Và Đôn chỉ còn Trần Lệ Xuân. Nếu Trần Lệ Xuân không đi ra khỏi biên giới thì tình hình có thể không xấu như thế.
Ngọc Hà (Theo Gia đình & Xã hội)

Hoàng hậu keo kiệt, tham lam nhất lịch sử Trung Hoa là ai?

Chủ nhật, ngày 24/05/2020 18:30 PM (GMT+7)
Là thành viên của hoàng thất, lại là mẫu nghi thiên hạ nhưng sự tham lam vô độ và bản tính keo kiệt, bủn xỉn của Hoàng hậu Lưu Ngọc Nương - vợ Trang Tông Lý Tồn Úc đã góp phần đẩy triều đại nhà Hậu Đường đến bờ vực sụp đổ.
Bình luận 0
Lưu Ngọc Nương (trong chính sử không có tên rõ ràng, Lưu Ngọc Nương có thể là tên gọi được người đời sau đặt cho bà) sinh tại Thành An, vùng Ngụy Châu vào giai đoạn cuối nhà Đường. Gia đình Lưu Ngọc Nương cực kỳ nghèo khó, thời thơ ấu bà luôn phải sống trong cảnh nghèo túng, đói ăn thiếu mặc. Bà thường theo cha đi biểu diễn giữa đường phố để kiếm tiền.
Hoàng hậu keo kiệt, tham lam nhất lịch sử Trung Hoa: Thà đưa con trai cho người khác bán chứ không thưởng tiền tướng sĩ - Ảnh 1.
Chân dung Lưu hoàng hậu Lưu Ngọc Nương (Ảnh: Internet)
Năm Lưu Ngọc Nương khoảng 5 - 6 tuổi, Tấn vương Lý Khắc đoạt được Thành An. Đại tướng quân Viên Kiến Phong vô tình bắt gặp Lưu Ngọc Nương. Dù còn rất nhỏ lại sống trong sự nghèo đói nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn khiến người ta phải xuýt xoa vì ngoại hình xinh xắn của mình. Dự đoán được sau khi trưởng thành, bà sẽ thành mỹ nhân nên Viên Kiến Phong đã đưa Lưu Ngọc Nương tặng cho Tấn vương. Sau đó Lưu Ngọc Nương lại trở thành người hầu của Tào phu nhân, mẹ ruột Tấn vương. Ở đây bà được người ta dạy dỗ chơi nhạc cụ và múa hát. Càng lớn Lưu Ngọc Nương lại càng xinh đẹp hơn, vì vậy mà khi Lý Tồn Úc thừa kế tước ngôi vị Vương gia của cha đã thu nạp Lưu Ngọc Nương làm vợ lẽ.
Chẳng những sở hữu dung mạo xinh đẹp hơn người, Lưu Ngọc Nương còn rất thông minh và đa tài. Ở bên Lý Tồn Úc không bao lâu, bà đã hạ sinh con trai đầu lòng Lý Kế Ngập và dựa vào con để đánh bại những người đẹp khác trong cung, trở thành thiếp yêu được Lý Tồn Úc cưng chiều, sủng ái nhất. Năm 924 công nguyên, Lý Tồn Úc sau khi tiêu diệt nhà Hậu Lương, lập ra nhà Hậu Đường đã sắc phong Lưu Ngọc Nương làm Hoàng hậu, bất chấp mọi lời can ngăn của bá quan. Sau khi Lưu Ngọc Nương được làm Hoàng hậu, cha bà đã tìm đến con gái. Chẳng những không nhận cha, Lưu Ngọc Nương còn cho người phạt đòn ông rồi đuổi ra ngoài.
Có lẽ vì khi còn bé phải sống trong cảnh đói khổ, bần hàn đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Lưu Ngọc Nương. Sau khi trưởng thành bà cực kỳ ham mê tiền bạc, vật báu. Trở thành Hoàng hậu sống trong vinh hoa nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn không thay đổi thói xấu này mà ngày càng trầm trọng hơn. Vì muốn kiếm tiền, Lưu Ngọc Nương cho thái giám rời cung để rao bán củi khô, trái cây ngoài chợ. Không có ai mua, bà lợi dụng địa vị của mình ép buộc mọi người. Số tiền kiếm được đều phải đưa về cho Lưu Ngọc Nương và không ai có thể bớt xén đồng nào.
Không chỉ thế, các quan viên mỗi khi cống nạp tiền tài châu báu cho Hoàng đế đều phải chuẩn bị 2 phần lễ vật, một cho Vua, một tặng cho Lưu Ngọc Nương. Cung Hoàng hậu trở thành nhà kho, chất đầy vàng bạc châu báu cùng những món đồ đắt tiền, vô giá. Cũng bởi lòng tham không đáy mà Lưu Ngọc Nương trở thành người giàu có nhất nhà Hậu Đường lúc bấy giờ bất chấp người dân vẫn còn đói khổ, loạn lạc vì chiến tranh liên miên.
Hoàng hậu keo kiệt, tham lam nhất lịch sử Trung Hoa: Thà đưa con trai cho người khác bán chứ không thưởng tiền tướng sĩ - Ảnh 2.
Cũng bởi lòng tham không đáy mà Lưu Ngọc Nương trở thành người giàu có nhất nhà Hậu Đường lúc bấy giờ bất chấp người dân vẫn còn đói khổ, loạn lạc vì chiến tranh liên miên. (Ảnh: Internet)
Giàu nứt đố đổ vách nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn không thấy đủ. Bất chấp đã là Hoàng hậu của một nước, bà nhận Trương Toàn Nghĩa của vùng Hà Nam làm cha nuôi chỉ vì người này nổi danh giàu có. Bà liên tục vòi Trương Toàn Nghĩa phải tiến cống vàng bạc cho mình. Trở thành cha nuôi của Hoàng hậu là ước mơ của nhiều người, chính vì vậy Trương Toàn Nghĩa đã vơ vét mọi của cải để đáp ứng yêu cầu của Lưu Hoàng hậu mà không than vãn lấy một lời.
Giàu có là thế nhưng Lưu Ngọc Nương cũng rất keo kiệt bủn xỉn, chưa bao giờ bà chi một đồng nào để giúp đỡ quốc gia vượt qua bạo loạn hay nguy nan. Đầu năm 926 công nguyên, quân đội Ngụy Châu bạo loạn, tể tướng khẩn cầu Hoàng đế và Hoàng hậu lấy tiền riêng để khao thưởng tướng sĩ. Lưu Ngọc Nương vừa nghe đã nổi giận ngăn cản không cho Đường Trang Tông nhận lời. Thậm chí bà còn đẩy con trai út ra trước mặt bá quan văn võ rồi tuyên bố: "Đòi tiền không có. Không bằng các ngươi đem hoàng tử bán lấy tiền đi!"
Tể tướng dù rất tức giận nhưng chẳng thể làm gì, cuối cùng đành phải ra về. Mãi cho đến khi vụ bạo loạn ngày càng lớn không thể dẹp được, Lưu Ngọc Nương mới chịu lấy tiền bạc ra thưởng cho mọi người. Các binh lính vừa cầm tiền của bà vừa chửi bới: "Vợ con ta đều đã muốn đói chết. Giờ mới khao thưởng thì còn nghĩa lý gì nữa".
Hoàng hậu keo kiệt, tham lam nhất lịch sử Trung Hoa: Thà đưa con trai cho người khác bán chứ không thưởng tiền tướng sĩ - Ảnh 3.
Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc (Ảnh: Internet)
Tháng 3 cùng năm, Đại Tướng quân Quách Tòng Khiêm phản loạn, dẫn quân vây Hoàng đế. Lý Tồn Úc bị thương nặng, khát muốn uống nước. Lưu Hoàng hậu lại kêu thái giám đến hầu còn mình thì không thèm xuất hiện hay đoái hoài gì đến ông. Đợi cho Lý Tồn Úc chết, Lưu Hoàng hậu mang theo rất nhiều vàng bạc châu báu cùng Thân vương Lý Tồn Ác trốn chạy đến vùng Thái Nguyên. Có lẽ tận mắt chứng kiến sự lạnh lùng, ích kỷ của Lưu Hoàng hậu nên Lý Tồn Ác không hề có tình cảm với bà mà chỉ muốn lợi dụng vị Hoàng hậu keo kiệt này. Tới Thái Nguyên, nhân lúc Lưu Hoàng hậu bất cẩn, Lý Tồn Ác đã gom hết toàn bộ tài sản của bà rồi chạy đến nơi khác. Không tiền bạc, không có người bảo vệ, Lưu Hoàng hậu chỉ còn cách phải vào chùa giả làm ni cô, tránh sự truy đuổi của quân phản loạn.
Tháng 4 cùng năm, con nuôi của Lý Tồn Úc là Lý Tự Nguyên lên ngôi Hoàng đế. Để trấn an quân đội và triều đình cũng như thể hiện quyết tâm trở thành vị vua anh minh, Lý Tự Nguyên cho người truy lùng và bắt giam Lưu Hoàng hậu rồi bắt bà phải tự sát. Lưu Hoàng hậu tham lam, vơ vét tiền bạc châu báu cả đời để rồi cuối đời lại chết với 2 bàn tay trắng.
Ngọc Minh (Theo Helino)

Tướng Trần Văn Đôn có phải nhân tình của bà Trần Lệ Xuân?

Thứ năm, ngày 21/03/2019 16:32 PM (GMT+7)
Trung tướng Trần Văn Đôn nguyên là Tổng tham mưu trưởng, Tổng trưởng Quốc phòng, rồi Phó thủ tướng chính quyền Việt Nam cộng hòa. Ông ta được đồn đại là nhân vật hết sức đào hoa.
Bình luận 0
Một trong những người được đồn là nhân tình của ông Đôn chính là "Đệ nhất phu nhân" Trần Lệ Xuân, vợ của ông Ngô Đình Nhu, em ruột và cũng là cố vấn của tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm.
Ông Trần Văn Đôn đã thừa nhận ông có rất nhiều nhân tình, nhưng chưa khi nào ông khẳng định ông "cặp kè" với bà Lệ Xuân.
"Đệ nhất phu nhân" Trần Lệ Xuân.
Việc thừa nhận số nhân tình của tướng Trần Văn Đôn được ông kể lại chi tiết trong cuốn hồi ký mang tên Việt Nam nhân chứng, được ông xuất bản khi sống lưu vong bên Mỹ.
Theo lời kể của ông Đôn, sự việc diễn ra khi ông cùng các tướng Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Vỹ đang bị giữ tại Đà Lạt, sau khi tướng Nguyễn Khánh làm cuộc "chỉnh lý", giành quyền từ các tướng đã đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, vào ngày 30.1.1964. Các viên tướng này bị tướng Khánh cáo buộc âm mưu "trung lập hóa miền Nam Việt Nam", hoặc sâu xa hơn, là tội "thân Pháp", vì họ đều được quân đội Pháp đào tạo, trong khi chính tướng Khánh cũng có xuất thân như vậy!
Đến đêm 28.5.1964, sau 4 tháng giam giữ, Hội đồng tướng lĩnh đem các ông tướng bị giam ra xét xử. Hội đồng gồm các tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, cùng 12 tướng và 3 đại tá khác. Viên tướng bị xét hỏi được đưa vào ngồi giữa, các tướng trong hội đồng ngồi xung quanh theo hình chữ U.
Trong cuộc xét hỏi này, Tướng Nguyễn Khánh đã đưa ra một danh sách ghi tên họ một số các bà, các cô, và hỏi:
- Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh xem kỹ rồi trả lời.
Trở lại phiên họp, ông Đôn trả lời:
- Một số tên đúng, một số tên không đúng, và một số tên chưa hề quen biết.
Nghe vậy, các viên tướng cười ồ lên. Thiếu tướng Đỗ Cao Trí lên tiếng với giọng bực tức:
- Tôi nghe nói chuyện đời tư của Trung tướng Đôn mà tôi xấu hổ quá. Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của Trung tướng Đôn thì (số nhân tình) không phải một tờ giấy như vậy mà là chở một xe GMC!
Trần Văn Đôn không hề xác nhận bà Lệ Xuân là nhân tình của ông, tuy nhiên, sau cuộc đảo chính ngày 1.11.1963, giết chết anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, từ Mỹ, bà Lệ Xuân đã gọi điện về Bộ tổng tham mưu, và giữa các tướng lĩnh tổ chức cuộc đảo chính, bà yêu cầu gặp đích danh ông Đôn để hỏi các thông tin: Chính xác số phận chồng bà và ông Diệm, số phận các con bà, cũng như em ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn. Bà Lệ Xuân cũng yêu cầu ông Đôn cho về nước để thu dọn tài sản ở Dinh Gia Long, nhưng ông Đôn trả lời, tất cả tài sản trong dinh đã bị dân chúng lấy hết sau cuộc đảo chính.
Trong cuộc xét xử kể trên, Nguyễn Chánh Thi, lúc đó là Chuẩn tướng, hỏi ông Đôn:
- Tại sao sau đảo chính, Trung tướng lại trả các con của bà Nhu lại cho bà ta mà không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc?
Ông Đôn trả lời do đại sứ Mỹ Cabot Lodge yêu cầu và việc này đã trình bày cho Hội đồng quân nhân cách mạng.
Cuối cùng, mãi đến chiều hôm sau, các tướng lĩnh đã kết luận "5 viên tướng Đà Lạt" vi phạm các lỗi: Thiếu lãnh đạo chỉ huy; thiếu tác phong; chưa dứt khoát tư tưởng. Ông Đôn bị yêu cầu không được chỉ huy quân đội trong một năm.
Ông Trần Văn Đôn sau này lại phục vụ trở lại trong quân đội và chính quyền Sài Gòn cho đến ngày 29.4.1975, khi quân đội giải phóng tiến vào đến sát Sài Gòn thì chạy ra chiến hạm Hancock của Mỹ ngoài biển Đông, rồi di tản sang Mỹ. Ông ta qua đời tại Mỹ năm 1998.
Còn bà Trần Lệ Xuân, từ cuộc đảo chỉnh năm 1963, đã sống lưu vong tại Pháp và Italia đến cuối đời. Bà qua đời tháng 4.2011 tại Roma, Italia.
Lê Tiên Long

Trần Lệ Xuân và vụ đánh ghen rùng rợn nhất Sài Gòn

Thứ ba, ngày 19/03/2019 15:32 PM (GMT+7)
Sau vụ vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt axit, hàng trăm vũ trường bị đóng cửa, sĩ quan có vợ bé lo ngay ngáy, sợ đòn trừng phạt của Trần Lệ Xuân.
Bình luận 0
Khi vụ tạt axít vũ nữ Cẩm Nhung xảy ra, Trần Lệ Xuân đang ở nước ngoài, nhưng cũng biết được vụ việc qua báo chí. Một tuần lễ sau về tới Sài Gòn, việc đầu tiên là bà chỉ đạo Nha An ninh phải vào cuộc, xử thật nặng những kẻ gây ra tội ác.
Đích thân Trần Lệ Xuân cũng tới thăm Cẩm Nhung, rồi thu xếp đưa cô đi nước ngoài chữa trị. Nhưng tất cả đều vô ích, không gì có thể cứu vớt cuộc đời cô vũ nữ.
Cả Sài Gòn hồi hộp theo dõi
Không chỉ ra lệnh nghiêm trị những kẻ tạt axít, Lệ Xuân còn chỉ đạo cho ngừng hoạt động tất cả các vũ trường, vì theo bà đó là nguồn gốc của ăn chơi sa đọa, tan nát gia đình và tội ác.
Bà ra lệnh cho kiểm tra tất cả các tướng tá Sài Gòn xem ai có vợ nhỏ phải kỷ luật, hạ cấp hoặc loại khỏi quân đội. Sài Gòn vốn sôi động về đêm, những ngày sau đó trở nên đìu hiu khi mà hàng trăm vũ trường nhộn nhịp phải đóng cửa theo lệnh của bà cố vấn.
Các tướng tá Sài Gòn thì khỏi phải nói, chạy lo đủ kiểu để không bị phát hiện là có vợ nhỏ. Sau giờ làm việc, các đấng phu quân ở Sài Gòn chạy thẳng về nhà với vợ con, để cô vợ không nổi hứng tố cáo với bà cố vấn là chồng mình đã có vợ nhỏ, khi đó thì sự nghiệp nhà binh coi như đổ sông đổ biển.
Con đường công danh, sự nghiệp của trung tá Thức “công binh” - người tình của vũ nữ Cẩm Nhung - cũng bỗng chốc chấm hết, bao nhiêu bổng lộc trong ngành xây dựng công trình quân sự bỗng chốc mất trắng. Ông bị buộc phải giải ngũ, trở về làm dân. Một phiên tòa xét xử vụ tạt axít đã được gấp rút mở sau đó gần 3 tháng. Bà Năm Ra-đô (vợ  trung tá Thức) và tên du đãng tạt axít bị tuyên phạt mỗi người 20 năm tù, một tên đồng bọn khác bị phạt 15 năm tù.
Thế nhưng, chỉ vài tuần sau, khi vụ án còn đang bị kháng cáo, chế độ Ngô Đình Diệm đã bất ngờ sụp đổ với cái chết của 2 anh em nhà họ Ngô, bà Lệ Xuân phải sống lưu vong.
 Trần Lệ Xuân và con gái. Ảnh: Internet.
Chính trường Sài Gòn sau cái chết của anh em nhà họ Ngô đã rối ren suốt mấy năm trời, không ai quan tâm đến vụ tạt axít cô vũ nữ Cẩm Nhung nữa. Cũng không thấy nền “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu đưa ra xét xử lại.
Sau đó vợ chồng Thức “công binh” đã chia tay nhau, người chồng về quê sống ẩn dật, còn bà Năm Ra-đô thì gửi thân nơi cửa Phật, có lẽ bà muốn nhờ cửa Phật từ bi gột rửa tội lỗi khủng khiếp đã gây ra.
Lại nói về Cẩm Nhung, ca axít đậm đặc đã phá hủy toàn bộ khuôn mặt của cô vũ nữ, đôi mắt của nạn nhân cũng bị bỏng rất nặng. Các bệnh viện ở Sài Gòn đều bó tay, chỉ có thể cứu được mạng sống của Cẩm Nhung, còn đôi mắt, khuôn mặt thì không thể cứu chữa.
Bà Trần Lệ Xuân đã đích thân đến bệnh viện thăm nạn nhân, trực tiếp nghe các bác sĩ trình bày tình trạng thương tật. Sau đó, vợ chồng bà Trần Lệ Xuân đã chỉ đạo cho Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Nhật Bản thu xếp đón Cẩm Nhung qua Nhật Bản chữa trị thương tật.
Một ngày cuối tháng 9.1963, Cẩm Nhung được đưa lên máy bay sang Nhật Bản. Thế nhưng, nền y học của Nhật Bản cũng phải chịu thua, không thể phục hồi dung nhan và đôi mắt cô vũ nữ. Hai tháng sau, Cẩm Nhung trở về nước lúc Sài Gòn đã đổi chủ. Bà Trần Lệ Xuân từng hứa “bảo bọc trọn đời” cho Cẩm Nhung giờ đã sống lưu vong ở nước ngoài.
Trả thù đời
Từ đỉnh cao danh vọng bỗng chốc rơi xuống tận cùng địa ngục, Cẩm Nhung trong đau khổ tuyệt vọng đã lao vào đập phá, uống rượu, hút thuốc... Để “trả thù đời”, Cẩm Nhung sẵn sàng ngã vào lòng của bất cứ người đàn ông nào, không cần tiền bạc hay điều kiện gì.
 Vũ Cẩm Nhung thời đình đám. Ảnh chụp tại một vũ trường của Sài Gòn trước năm 1975. Nguồn: Giáo Dục Việt Nam.
Thế nhưng, với khuôn mặt cháy xám, sẹo lồi lõm như ác quỷ, cặp mắt mờ đục lồi ra ngoài như mắt ếch, không có người đàn ông tỉnh táo nào đủ can đảm làm tình nhân của cô. Chán chường, tức giận, Cẩm Nhung càng lặn ngụp trong rượu chè. Mẹ của Cẩm Nhung vì buồn phiền mà sinh bệnh, rồi qua đời cuối năm 1964.
Cẩm Nhung càng lao sâu vào cuộc nghiện ngập cho quên đời, tài sản sau mấy năm kiếm được trong các vũ trường và cặp bồ với hàng tá nhân tình là sĩ quan, giờ cô tha hồ đập phá.
Bao nhiêu món đồ quý giá của cô cứ lần lượt ra đi, ban đầu là chiếc xe máy loại mới nhập cảng của Nhật Bản, sau đến các loại nữ trang, hột xoàn, vòng vàng... Cuối cùng, Cẩm Nhung bán nốt căn nhà với giá gần 200 lượng vàng để có tiền tiêu xài, cô và bà vú Sọ phải thuê nhà ở trọ.
Số tiền bán nhà rồi cũng cạn dần. Ngày cô không còn đủ tiền để trả tiền thuê nhà cũng là ngày bà vú Sọ trung thành đổ bệnh nặng, không tiền chạy chữa, nên đã qua đời. Còn lại một mình không nơi nương tựa, không nghề nghiệp, đôi mắt mù lòa, cô vũ nữ lừng danh một thời chỉ còn biết đi ăn mày.
Ban đầu, Cẩm Nhung đi ăn xin trước chợ Bến Thành vào dịp tết năm 1969. Cô ngồi bên vệ đường, trên ngực đeo bức ảnh cô chụp chung với trung tá Trần Ngọc Thức, tay chìa ra xin lòng thương hại của người đi đường. Ban đầu người ta kéo tới xem Cẩm Nhung rất đông, cho tiền cô cũng nhiều. Có tiền, Cẩm Nhung tiếp tục nghiện ngập, đập phá.
Càng về sau, người Sài Gòn càng bớt cảm động về chuyện ăn xin của cô vũ nữ, càng ít cho tiền. Không thể ngồi xin một chỗ, Cẩm Nhung cầm gậy dò đường đi xin dọc theo đại lộ Lê Lợi, đường Tự Do, những lối đi một thời in dấu chân cô từ nhà tới vũ trường Kim Sơn.
Sau đó, Cẩm Nhung phải rời khỏi khu vực trung tâm Sài Gòn, đến chợ Bình Tây, chợ Bà Chiểu, cuối cùng là ngã tư Trần Quốc Thảo - Lý Chính Thắng, trước khi cô âm thầm rời Sài Gòn hoa lệ để về miền Tây xa xôi ăn xin trên bến phà Mỹ Thuận.
 Gương mặt bị tàn phá của Cẩm Nhung. Ảnh: Megafun.
Ngày ấy, khi đã mù lòa, xấu xí, phải ra đường ăn xin kiếm sống, Cẩm Nhung nhờ người quen phóng to tấm ảnh cô chụp với người tình trung tá công binh Trần Ngọc Thức để đeo trước ngực, vừa để thiên hạ xót thương mà bố thí, vừa để “trả thù đời” đối với kẻ đã tệ bạc bỏ mặc cô đau đớn, bệnh tật, nghèo khó mà không một lời hỏi han, thăm viếng. Mấy ngày sau, có người lạ tới năn nỉ cô đừng chưng tấm hình ấy ra nữa, bù lại họ cho cô số tiền kha khá.
Cẩm Nhung không chịu, họ cũng giật đại tấm ảnh, xong để lại trong ca ăn xin của cô một số tiền. Không chịu thua, Cẩm Nhung lại nhờ người thân phóng tấm ảnh khác để đeo, và lại bị họ giật. Sau đó, không chỉ bị giật hình ảnh, mà cô còn bị đánh đập gây thương tích, chỉ vì chuyện ôm tấm hình chụp chung với người tình cũ đi ăn xin khắp Sài Gòn.
Không sống được ở Sài Gòn, Cẩm Nhung âm thầm tìm ra bến xe Miền Tây để lên xe đò về bến phà Mỹ Thuận kiếm sống, vẫn với cái cách ngồi bên lề đường ăn xin, ngực treo tấm ảnh năm nào.
Tại đây, cô cũng bị người lạ giật tấm ảnh. Không chỉ vậy, ai đó đã nhân lúc cô đi ăn xin đã lẻn vào chỗ ở trọ, lục tung đồ đạc của cô, lấy đi tất cả hình ảnh cô chụp chung với người tình trung tá công binh.
Kể từ đó, Cẩm Nhung không còn ảnh chụp chung với Thức công binh, cô lấy tấm ảnh chân dung của riêng mình treo trước ngực để đi ăn xin, người đi đường cảm thương phận bạc của cô vũ nữ mà bố thí cho ít tiền giúp cô sống qua ngày trong mù lòa, cô độc.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Cẩm Nhung tiếp tục ăn xin trên bến phà Mỹ Thuận. Nhưng sau đó chính quyền cách mạng dẹp nạn ăn xin để ổn định trật tự xã hội, Cẩm Nhung được đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật. Không chịu được cuộc sống gò bó trong trung tâm, người phụ nữ mù đã lén bỏ trốn về Sài Gòn tiếp tục ăn xin.
Rồi cô lại bị “thu gom”, lại trốn về tận Hà Tiên. Tại đây, Cẩm Nhung lúc thì đi ăn xin quanh quẩn các ngôi chùa, khi địa phương có chiến dịch “thu gom” người ăn xin, cô xin tá túc nhà chùa để được chén cơm, manh áo, vừa quét dọn sân chùa để khuây khỏa nỗi buồn trong cuộc đời bạc bẽo hơn vôi của cô.
Kể từ đó, dù tá túc trong nhà chùa hay ăn xin đó đây, Cẩm Nhung không còn đeo tấm hình “nữ hoàng vũ trường” của mình trước ngực nữa.
Trong những năm tháng Cẩm Nhung sau khi bị nạn lang thang trên khắp nẻo Sài Gòn, cũng là lúc ở Sài Gòn xuất hiện bài hát “Bài ca cho người kỹ nữ”. Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung. Bài hát có đoạn:
"Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người
Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi
Loài người vô tình giẫm nát thân em
Loài người vô tình giày xéo thân em
Loài người vô tình giết chết đời em..."
PV (Lao Động)
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32