Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 179
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Bằng chứng về nhan sắc thật của mỹ nhân Trung Hoa thời cổ đại, phá vỡ mọi quan điểm sai lầm
Lời tiên tri trở thành sự thật của hai giai nhân tuyệt sắc
Chủ nhật, ngày 31/05/2020 06:30 AM (GMT+7)
Họ là những giai nhân tuyệt sắc, được
nhiều đàn ông say mê, rồi trở thành những bà hoàng khuynh đảo thiên
hạ... biến những lời tiên tri trở thành sự thật.
Bình luận
0
Lá số của người đàn bà đầu tiên làm Hoàng đế
Lịch
sử phong kiến Trung Quốc ghi nhận Võ Tắc Thiên (624 – 705) là nữ Hoàng
đế duy nhất. Bà cực kỳ đặc biệt, là giai nhân tuyệt sắc kiều mị, có
tài năng tuyệt đỉnh và minh mẫn hơn người. Bà bị lịch sử lên án vì
rất ác nghiệt, dùng mọi thủ đoạn để thống trị vương triều
hơn chục năm.
"Tân đường thư – Viên Thiên Cang truyện" và sách
tiên tri "Thôi Bối Đồ" viết về Viên Thiên Cang, Lý Thuần Phong – những
bậc thầy tướng số, phong thủy nổi tiếng thời kỳ đầu nhà Đường đã ghi lại
những lời tiên đoán về Võ Tắc Thiên.
Võ Tắc Thiên hoàng đế. Ảnh cổ trang.
Viên
Thiên Cang khi đã trở thành bậc thầy tướng số có lần đi qua ngoài phủ
Võ Sĩ Hoạch – cha của Võ Tắc Thiên đang làm Đô đốc Lợi Châu. Tình cờ gặp
vợ ông và bật nói: "Phu nhân, bà có cốt pháp không giống người thường,
trong nhà tất có quý tử". Bà liền mời Viên Thiên Cang vào phủ xem tướng
cho các con.
Viên Thiên Cang khen hai con trai là "bảo gia chi
tử", nói con gái lớn tương lai sẽ là quý phu nhân… nhưng không có "quý
tử". Bà bèn gọi nhũ mẫu bế một đứa trẻ ăn mặc như bé trai ra. Nhìn đứa
bé sắc mặt Viên Thiên Cang chợt biến đổi, và khi đứa bé mở đôi mắt to
ngước nhìn Viên Thiên Cang thì ông kinh hãi: "Đứa trẻ này có con ngươi
của rồng và cái cổ của phượng hoàng (long tinh phượng cảnh), có tướng
đại phúc, đại quý. Nếu nó là con gái tất sẽ là vua của thiên hạ".
Đứa trẻ ấy chính là Võ Tắc Thiên. Viên Thiên Cang cũng từng tiên tri rằng, triều đại nhà Đường sẽ bị một phụ nữ họ Võ xâm phạm.
Lần
tiên đoán được ghi chép thứ hai về Võ Tắc Thiên là của Lý Thuần Phong –
bậc thầy thiên văn, địa lý và kinh dịch. Khi đó Hoàng đế Đường Thái
Tông Lý Thế Dân đã cao tuổi, muốn Lý Thuần Phong dùng hiểu biết về thuật
số, tính xem ai là người làm mất nước, ai sẽ bắt đầu triều đại mới.
Lý
Thuần Phong không dám tiết lộ thiên cơ, nên nói: "Người làm loạn triều
ta, ở ngay bên cạnh bệ hạ. 30 năm sau, người đó sẽ giết chết hầu hết con
cháu nhà Đường". Nghe vậy Đường Thái Tông muốn giết chết người đó trừ
họa, nhưng Lý Thuần Phong nói đó là thiên ý, nếu giờ giết chết đi, Trời
tất sẽ giáng họa, con cháu nhà Đường càng nguy hiểm.
Vì thế Hoàng
đế Đường Thái Tông biết trước mà không lạm sát. Khi ông qua đời, Võ Tắc
Thiên trở thành Hoàng hậu, trải qua các đời Đường Trung Tông Lý Hiển,
Đường Duệ Tông Lý Đán với tư cách Hoàng thái hậu, và đã trở thành Hoàng
đế duy nhất của triều đại Võ Chu (690 -705).
Theo tiên tri của Lý
Thuần Phong nói về người sẽ người làm mất nước và bắt đầu triều đại mới:
"Người này chỉ có cây thương không rời thân, 2 mắt mọc trên không
trung".
(Lời này là tả về tên thật của Võ Tắc Thiên là Võ Chiếu.
Võ Tắc Thiên có họ là Võ ("武"). Từ Võ ("武") này do chữ "chỉ có"("止")
ghép với "cây thương (" 戈"), tên là Chiếu ("曌") tức là "2 mắt "(目目") mọc
ở trên không trung (" 空"). Về sau này, sự tình thực tế xảy ra hoàn toàn
đúng với lời tiên đoán này.) Đương số đặc biệt của cụ Ngô Hùng Diễn
Ở
Việt Nam ghi nhận 3 quẻ bói về cuộc đời ly kỳ của giai nhân tuyệt sắc
là Đệ nhất phu nhân (1924-2011). Bà là vợ ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính
quyền ở miền Nam trước đây - đặc biệt là lá số của thần tướng Ngô Hùng
Diễn. Bà sinh ra trong gia đình quyền quý: Cha là ông Trần Văn Chương,
đại địa chủ và là luật sư Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ luật của
Pháp. Mẹ là quận chúa Thân Thị Nam Trân, là công chúa, con của Kiên Thái
Vương (em vua Tự Đức).
Bà Trần Lệ Xuân. Ảnh Internet.
Lời
tiên tri đầu tiên là khi Trần Lệ Xuân ra đời. Ông thầy bói xem tướng
rồi đối chiếu ngày sinh, giờ sinh, hoàng đạo với vị trí của mặt trời và
mặt trăng và cả những ngôi sao xấu đang lướt qua… để đưa ra tiên tri.
Ông đã thốt lên vì bà có số phận kỳ lạ ngoài sức tưởng tượng: "Ngôi sao
chiếu mệnh của nó không thể nào tốt hơn. Đứa bé sẽ leo lên đến những
đỉnh cao vời vợi".
Lần xem bói thứ hai được ghi lại trong "Đệ nhất
phu nhân Trần Lệ Xuân" của tác giả Hoàng Trọng Miên (Mõ Hà Nội,
VNthuquan - Thư viện Online). Khi ấy Trần Lệ Xuân đang tiến tới hôn nhân
với Ngô Đình Nhu. Về gia thế thì gia đình ông Trạng Trần thông gia với
cụ Thượng Ngô rất môn đăng hộ đối, chú rể lại có bằng cấp cao, cô dâu
tân thời đúng mực – rất xứng đôi vừa lứa.
Nhưng bà Nam Trân vẫn
đưa Trần Lệ Xuân đi xem bói cho đôi lứa ở trước khi quyết định có nhận
lời nhà trai hay không. Trần Lệ Xuân thắp hương, van vái rồi hai tay cầm
ống quẻ lắc mạnh để xin xăm. Bà Nam Trân đặt lên tráp thầy bói 5 đồng
bạc để nghe lời thánh dạy (năm 1948 đó là số tiền lớn, bởi giải quẻ xăm
chỉ thu đồng hào). Để "tạ ơn" mệnh phụ phu nhân và tiểu thư, ông thầy
cao hứng xem cả tướng số, xem tay và bói Dịch, phán rằng:
- Bẩm bà
lớn, cô nhà ta cao số, đôi lưỡng quyền nổi bật - đủ thấy người đàn ông
phải bản lĩnh lắm mới ăn đời ở kiếp được. Lòng bàn tay đầy đặn đỏ son là
số về sau sống trong nhung lụa, lên xe xuống ngựa, đường đường mệnh phụ
phu nhân. Chỉ phải cái gia đạo không yên vui mấy vì những nét phá
ngang. Theo tử vi thì đường tình duyên cô có nhiều éo le, song nhờ "tử
phù vũ tướng" và "tả phù hữu bật" nên đời cô dù có lao đao về chồng con,
rốt cuộc cô vẫn sung sướng thanh nhàn, giàu sang quý phái hơn thiên hạ.
Bà Nam Trân đưa tuổi của chàng rể tương lai ra hỏi. Thầy tính toán một hồi nói:
-
Số người đàn ông này cũng cao lắm. Có thể sánh được với cô nhà ta. Cung
quan lộc của ông này về sau vượng lắm, danh tiếng lẫy lừng. Đi đôi với
số cao của cô dù cách nhau trên 16 tuổi, song có thể phối hợp được thành
chồng thành vợ. Trong tử vi người đàn ông có bị phá cách về sau, nhưng
có thể cúng sao giải hạn được.
Và năm 1943 khi Trần Lệ Xuân 18 tuổi đã kết hôn với Ngô Đình Nhu.
Lần
xem bói thứ ba của Trần Lệ Xuân được ghi nhận theo đương số của cụ Ngô
Hùng Diễn. Theo đó: "Cô là một người phụ nữ danh giá. Chồng cô chỉ đứng
sau một người và trên cả triệu người. Nhưng trong cuộc đời, cô tuyệt đối
không được rời xa nhà chồng. Nếu cô rời xa nhà chồng thì cả gia đình
nhà chồng sẽ gặp đại họa".
Cụ Ngô Hùng Diễn nói về Trần Lệ Xuân là
mắt phượng, mặt cái lá, dáng người thanh thoát, quý phái. Người mặt cái
lá thì suốt đời gặp may. Đàn bà mắt phượng là có quyền lực lớn, đã mắt
phượng mà còn xinh đẹp thì quyền lực rất lớn. Ngoài cụ Ngô Hùng Diễn,
không ai luận đoán về số phận một con người chính xác đến thế. Cụ cũng
nói với Ngô Đình Diệm: "Xin tổng thống đừng để bà cố vấn đi ra khỏi biên
giới".
Cuộc đời của Trần Lệ Xuân đã diễn ra đúng như vậy. 18
tuổi, Trần Lệ Xuân lấy chồng, trở thành bà cố vấn và nhảy thẳng vào
chính trường miền Nam, không qua bầu bán. Bà thực sự đứng dưới một người
và trên cả triệu người, còn được coi là lá bùa hộ mệnh của gia đình nhà
chồng.
Bà nổi tiếng là người đàn bà đầy mưu mô, dùng tất cả mánh
lới để leo lên đỉnh cao của quyền lực. Robert McNamara, nguyên Bộ trưởng
Quốc phòng Mỹ, đã nhận xét về Trần Lệ Xuân: "Giống như hầu hết những
người Mỹ đến đất nước này, và theo tôi, cả nhiều người Việt nữa, tôi
thấy bà Nhu là một người sáng sủa, mạnh mẽ và xinh đẹp, nhưng cũng độc
ác và mưu mô - một mụ phù thủy thực sự".
Nhưng tình hình năm 1963
rất căng thẳng. Tại Sài Gòn các tướng lĩnh dưới sự chỉ đạo của Dương Văn
Minh và Trần Văn Đôn (được Đại sứ Mỹ đảm bảo là sẽ không can thiệp), đã
tổ chức đảo chính. Gia đình họ Ngô bị xóa sổ, trừ Trần Lệ Xuân và Ngô
Đình Thục thoát nạn vì đang ở Mỹ.
Khi quân đảo chính nổ súng, ngồi
trong hầm ngầm dưới Dinh Độc Lập, Ngô Đình Diệm đã nói với Ngô Đình
Nhu: "Nếu thím Xuân ở nhà thì tình hình không phải như thế này".
Lời
nói đó có cơ sở, bởi trong cuộc đảo chính vai trò của Trần Văn Đôn rất
quan trong, là Tổng tham mưu trưởng và Phó Chủ tịch Hội đồng Quân nhân
Cách mạng. Viên tướng trẻ này - và nhiều tướng tá của quân lực Cộng hòa
miền Nam - tuy không ủng hộ Ngô Đình Diệm nhưng đều si mê trí thông
minh, nhan sắc đa tình của Trần Lệ Xuân. Bà Trần Lệ Xuân cũng rất thích
đức tính hào hiệp của Trần Văn Đôn. Cuộc tình vụng trộm khiến vợ Đôn ra
tay "đánh ghen" bắn Trần Lệ Xuân ở Đà Lạt. Sau đó mối quan hệ vợ chồng
giữa Đôn và bà vợ chấm dứt. Và Đôn chỉ còn Trần Lệ Xuân. Nếu Trần Lệ
Xuân không đi ra khỏi biên giới thì tình hình có thể không xấu như thế.
Ngọc Hà (Theo Gia đình & Xã hội)
Hoàng hậu keo kiệt, tham lam nhất lịch sử Trung Hoa là ai?
Chủ nhật, ngày 24/05/2020 18:30 PM (GMT+7)
Là thành viên của hoàng thất, lại là mẫu
nghi thiên hạ nhưng sự tham lam vô độ và bản tính keo kiệt, bủn xỉn của
Hoàng hậu Lưu Ngọc Nương - vợ Trang Tông Lý Tồn Úc đã góp phần đẩy
triều đại nhà Hậu Đường đến bờ vực sụp đổ.
Lưu Ngọc Nương (trong chính sử
không có tên rõ ràng, Lưu Ngọc Nương có thể là tên gọi được người đời
sau đặt cho bà) sinh tại Thành An, vùng Ngụy Châu vào giai đoạn cuối nhà
Đường. Gia đình Lưu Ngọc Nương cực kỳ nghèo khó, thời thơ ấu bà luôn
phải sống trong cảnh nghèo túng, đói ăn thiếu mặc. Bà thường theo cha đi
biểu diễn giữa đường phố để kiếm tiền.
Năm
Lưu Ngọc Nương khoảng 5 - 6 tuổi, Tấn vương Lý Khắc đoạt được Thành An.
Đại tướng quân Viên Kiến Phong vô tình bắt gặp Lưu Ngọc Nương. Dù còn
rất nhỏ lại sống trong sự nghèo đói nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn khiến người
ta phải xuýt xoa vì ngoại hình xinh xắn của mình. Dự đoán được sau khi
trưởng thành, bà sẽ thành mỹ nhân nên Viên Kiến Phong đã đưa Lưu Ngọc
Nương tặng cho Tấn vương. Sau đó Lưu Ngọc Nương lại trở thành người hầu
của Tào phu nhân, mẹ ruột Tấn vương. Ở đây bà được người ta dạy dỗ chơi
nhạc cụ và múa hát. Càng lớn Lưu Ngọc Nương lại càng xinh đẹp hơn, vì
vậy mà khi Lý Tồn Úc thừa kế tước ngôi vị Vương gia của cha đã thu nạp
Lưu Ngọc Nương làm vợ lẽ.
Chẳng những sở hữu dung mạo xinh đẹp hơn
người, Lưu Ngọc Nương còn rất thông minh và đa tài. Ở bên Lý Tồn Úc
không bao lâu, bà đã hạ sinh con trai đầu lòng Lý Kế Ngập và dựa vào con
để đánh bại những người đẹp khác trong cung, trở thành thiếp yêu được
Lý Tồn Úc cưng chiều, sủng ái nhất. Năm 924 công nguyên, Lý Tồn Úc sau
khi tiêu diệt nhà Hậu Lương, lập ra nhà Hậu Đường đã sắc phong Lưu Ngọc
Nương làm Hoàng hậu, bất chấp mọi lời can ngăn của bá quan. Sau khi Lưu
Ngọc Nương được làm Hoàng hậu, cha bà đã tìm đến con gái. Chẳng những
không nhận cha, Lưu Ngọc Nương còn cho người phạt đòn ông rồi đuổi ra
ngoài.
Có lẽ vì khi còn bé phải sống trong cảnh đói khổ, bần hàn
đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Lưu Ngọc Nương. Sau khi trưởng thành
bà cực kỳ ham mê tiền bạc, vật báu. Trở thành Hoàng hậu sống trong vinh
hoa nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn không thay đổi thói xấu này mà ngày càng
trầm trọng hơn. Vì muốn kiếm tiền, Lưu Ngọc Nương cho thái giám rời cung
để rao bán củi khô, trái cây ngoài chợ. Không có ai mua, bà lợi dụng
địa vị của mình ép buộc mọi người. Số tiền kiếm được đều phải đưa về cho
Lưu Ngọc Nương và không ai có thể bớt xén đồng nào.
Không chỉ
thế, các quan viên mỗi khi cống nạp tiền tài châu báu cho Hoàng đế đều
phải chuẩn bị 2 phần lễ vật, một cho Vua, một tặng cho Lưu Ngọc Nương.
Cung Hoàng hậu trở thành nhà kho, chất đầy vàng bạc châu báu cùng những
món đồ đắt tiền, vô giá. Cũng bởi lòng tham không đáy mà Lưu Ngọc Nương
trở thành người giàu có nhất nhà Hậu Đường lúc bấy giờ bất chấp người
dân vẫn còn đói khổ, loạn lạc vì chiến tranh liên miên.
Cũng
bởi lòng tham không đáy mà Lưu Ngọc Nương trở thành người giàu có nhất
nhà Hậu Đường lúc bấy giờ bất chấp người dân vẫn còn đói khổ, loạn lạc
vì chiến tranh liên miên. (Ảnh: Internet)
Giàu
nứt đố đổ vách nhưng Lưu Ngọc Nương vẫn không thấy đủ. Bất chấp đã là
Hoàng hậu của một nước, bà nhận Trương Toàn Nghĩa của vùng Hà Nam làm
cha nuôi chỉ vì người này nổi danh giàu có. Bà liên tục vòi Trương Toàn
Nghĩa phải tiến cống vàng bạc cho mình. Trở thành cha nuôi của Hoàng hậu
là ước mơ của nhiều người, chính vì vậy Trương Toàn Nghĩa đã vơ vét mọi
của cải để đáp ứng yêu cầu của Lưu Hoàng hậu mà không than vãn lấy một
lời.
Giàu có là thế nhưng Lưu Ngọc Nương cũng rất keo kiệt bủn
xỉn, chưa bao giờ bà chi một đồng nào để giúp đỡ quốc gia vượt qua bạo
loạn hay nguy nan. Đầu năm 926 công nguyên, quân đội Ngụy Châu bạo loạn,
tể tướng khẩn cầu Hoàng đế và Hoàng hậu lấy tiền riêng để khao thưởng
tướng sĩ. Lưu Ngọc Nương vừa nghe đã nổi giận ngăn cản không cho Đường
Trang Tông nhận lời. Thậm chí bà còn đẩy con trai út ra trước mặt bá
quan văn võ rồi tuyên bố: "Đòi tiền không có. Không bằng các ngươi đem
hoàng tử bán lấy tiền đi!"
Tể tướng dù rất tức giận nhưng chẳng
thể làm gì, cuối cùng đành phải ra về. Mãi cho đến khi vụ bạo loạn ngày
càng lớn không thể dẹp được, Lưu Ngọc Nương mới chịu lấy tiền bạc ra
thưởng cho mọi người. Các binh lính vừa cầm tiền của bà vừa chửi bới:
"Vợ con ta đều đã muốn đói chết. Giờ mới khao thưởng thì còn nghĩa lý gì
nữa".
Đường Trang Tông – Lý Tồn Úc (Ảnh: Internet)
Tháng
3 cùng năm, Đại Tướng quân Quách Tòng Khiêm phản loạn, dẫn quân vây
Hoàng đế. Lý Tồn Úc bị thương nặng, khát muốn uống nước. Lưu Hoàng hậu
lại kêu thái giám đến hầu còn mình thì không thèm xuất hiện hay đoái
hoài gì đến ông. Đợi cho Lý Tồn Úc chết, Lưu Hoàng hậu mang theo rất
nhiều vàng bạc châu báu cùng Thân vương Lý Tồn Ác trốn chạy đến vùng
Thái Nguyên. Có lẽ tận mắt chứng kiến sự lạnh lùng, ích kỷ của Lưu Hoàng
hậu nên Lý Tồn Ác không hề có tình cảm với bà mà chỉ muốn lợi dụng vị
Hoàng hậu keo kiệt này. Tới Thái Nguyên, nhân lúc Lưu Hoàng hậu bất cẩn,
Lý Tồn Ác đã gom hết toàn bộ tài sản của bà rồi chạy đến nơi khác.
Không tiền bạc, không có người bảo vệ, Lưu Hoàng hậu chỉ còn cách phải
vào chùa giả làm ni cô, tránh sự truy đuổi của quân phản loạn.
Tháng
4 cùng năm, con nuôi của Lý Tồn Úc là Lý Tự Nguyên lên ngôi Hoàng đế.
Để trấn an quân đội và triều đình cũng như thể hiện quyết tâm trở thành
vị vua anh minh, Lý Tự Nguyên cho người truy lùng và bắt giam Lưu Hoàng
hậu rồi bắt bà phải tự sát. Lưu Hoàng hậu tham lam, vơ vét tiền bạc châu
báu cả đời để rồi cuối đời lại chết với 2 bàn tay trắng.
Ngọc Minh (Theo Helino)
Tướng Trần Văn Đôn có phải nhân tình của bà Trần Lệ Xuân?
Thứ năm, ngày 21/03/2019 16:32 PM (GMT+7)
Trung tướng Trần Văn Đôn nguyên là Tổng
tham mưu trưởng, Tổng trưởng Quốc phòng, rồi Phó thủ tướng chính quyền
Việt Nam cộng hòa. Ông ta được đồn đại là nhân vật hết sức đào hoa.
Một trong những người được đồn là
nhân tình của ông Đôn chính là "Đệ nhất phu nhân" Trần Lệ Xuân, vợ của
ông Ngô Đình Nhu, em ruột và cũng là cố vấn của tổng thống VNCH Ngô Đình
Diệm.
Ông Trần Văn Đôn đã thừa nhận ông có rất nhiều nhân tình, nhưng chưa khi nào ông khẳng định ông "cặp kè" với bà Lệ Xuân.
"Đệ nhất phu nhân" Trần Lệ Xuân.
Việc thừa nhận số nhân tình của tướng Trần Văn Đôn được ông kể lại
chi tiết trong cuốn hồi ký mang tên Việt Nam nhân chứng, được ông xuất
bản khi sống lưu vong bên Mỹ.
Theo lời kể của ông Đôn, sự việc diễn ra khi ông cùng các tướng Mai
Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Vỹ đang bị giữ tại Đà
Lạt, sau khi tướng Nguyễn Khánh làm cuộc "chỉnh lý", giành quyền từ các
tướng đã đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, vào ngày 30.1.1964. Các viên
tướng này bị tướng Khánh cáo buộc âm mưu "trung lập hóa miền Nam Việt
Nam", hoặc sâu xa hơn, là tội "thân Pháp", vì họ đều được quân đội Pháp
đào tạo, trong khi chính tướng Khánh cũng có xuất thân như vậy!
Đến đêm 28.5.1964, sau 4 tháng giam giữ, Hội đồng tướng lĩnh đem các
ông tướng bị giam ra xét xử. Hội đồng gồm các tướng Dương Văn Minh,
Nguyễn Khánh, cùng 12 tướng và 3 đại tá khác. Viên tướng bị xét hỏi được
đưa vào ngồi giữa, các tướng trong hội đồng ngồi xung quanh theo hình
chữ U.
Trong cuộc xét hỏi này, Tướng Nguyễn Khánh đã đưa ra một danh sách ghi tên họ một số các bà, các cô, và hỏi:
- Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy
anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh xem kỹ rồi trả lời.
Trở lại phiên họp, ông Đôn trả lời:
- Một số tên đúng, một số tên không đúng, và một số tên chưa hề quen biết.
Nghe vậy, các viên tướng cười ồ lên. Thiếu tướng Đỗ Cao Trí lên tiếng với giọng bực tức:
- Tôi nghe nói chuyện đời tư của Trung tướng Đôn mà tôi xấu hổ quá.
Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của Trung tướng Đôn thì (số nhân tình)
không phải một tờ giấy như vậy mà là chở một xe GMC!
Trần Văn Đôn không hề xác nhận bà Lệ Xuân là nhân tình của ông, tuy
nhiên, sau cuộc đảo chính ngày 1.11.1963, giết chết anh em Ngô Đình
Diệm, Ngô Đình Nhu, từ Mỹ, bà Lệ Xuân đã gọi điện về Bộ tổng tham mưu,
và giữa các tướng lĩnh tổ chức cuộc đảo chính, bà yêu cầu gặp đích danh
ông Đôn để hỏi các thông tin: Chính xác số phận chồng bà và ông Diệm, số
phận các con bà, cũng như em ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn. Bà Lệ Xuân
cũng yêu cầu ông Đôn cho về nước để thu dọn tài sản ở Dinh Gia Long,
nhưng ông Đôn trả lời, tất cả tài sản trong dinh đã bị dân chúng lấy hết
sau cuộc đảo chính.
Trong cuộc xét xử kể trên, Nguyễn Chánh Thi, lúc đó là Chuẩn tướng, hỏi ông Đôn:
- Tại sao sau đảo chính, Trung tướng lại trả các con của bà Nhu lại cho bà ta mà không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc?
Ông Đôn trả lời do đại sứ Mỹ Cabot Lodge yêu cầu và việc này đã trình bày cho Hội đồng quân nhân cách mạng.
Cuối cùng, mãi đến chiều hôm sau, các tướng lĩnh đã kết luận "5 viên
tướng Đà Lạt" vi phạm các lỗi: Thiếu lãnh đạo chỉ huy; thiếu tác phong;
chưa dứt khoát tư tưởng. Ông Đôn bị yêu cầu không được chỉ huy quân đội
trong một năm.
Ông Trần Văn Đôn sau này lại phục vụ trở lại trong quân đội và chính
quyền Sài Gòn cho đến ngày 29.4.1975, khi quân đội giải phóng tiến vào
đến sát Sài Gòn thì chạy ra chiến hạm Hancock của Mỹ ngoài biển Đông,
rồi di tản sang Mỹ. Ông ta qua đời tại Mỹ năm 1998.
Còn bà Trần Lệ Xuân, từ cuộc đảo chỉnh năm 1963, đã sống lưu vong tại
Pháp và Italia đến cuối đời. Bà qua đời tháng 4.2011 tại Roma, Italia.
Lê Tiên Long
Trần Lệ Xuân và vụ đánh ghen rùng rợn nhất Sài Gòn
Thứ ba, ngày 19/03/2019 15:32 PM (GMT+7)
Sau vụ vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt axit, hàng
trăm vũ trường bị đóng cửa, sĩ quan có vợ bé lo ngay ngáy, sợ đòn trừng
phạt của Trần Lệ Xuân.
Khi vụ tạt axít vũ nữ Cẩm Nhung
xảy ra, Trần Lệ Xuân đang ở nước ngoài, nhưng cũng biết được vụ việc qua
báo chí. Một tuần lễ sau về tới Sài Gòn, việc đầu tiên là bà chỉ đạo
Nha An ninh phải vào cuộc, xử thật nặng những kẻ gây ra tội ác.
Đích thân Trần Lệ Xuân cũng tới thăm Cẩm Nhung, rồi thu xếp đưa cô đi
nước ngoài chữa trị. Nhưng tất cả đều vô ích, không gì có thể cứu vớt
cuộc đời cô vũ nữ. Cả Sài Gòn hồi hộp theo dõi
Không chỉ ra lệnh nghiêm trị những kẻ tạt axít, Lệ Xuân còn chỉ đạo
cho ngừng hoạt động tất cả các vũ trường, vì theo bà đó là nguồn gốc của
ăn chơi sa đọa, tan nát gia đình và tội ác.
Bà ra lệnh cho kiểm tra tất cả các tướng tá Sài Gòn xem ai có vợ nhỏ
phải kỷ luật, hạ cấp hoặc loại khỏi quân đội. Sài Gòn vốn sôi động về
đêm, những ngày sau đó trở nên đìu hiu khi mà hàng trăm vũ trường nhộn
nhịp phải đóng cửa theo lệnh của bà cố vấn.
Các tướng tá Sài Gòn thì khỏi phải nói, chạy lo đủ kiểu để không bị
phát hiện là có vợ nhỏ. Sau giờ làm việc, các đấng phu quân ở Sài Gòn
chạy thẳng về nhà với vợ con, để cô vợ không nổi hứng tố cáo với bà cố
vấn là chồng mình đã có vợ nhỏ, khi đó thì sự nghiệp nhà binh coi như đổ
sông đổ biển.
Con đường công danh, sự nghiệp của trung tá Thức “công binh” - người
tình của vũ nữ Cẩm Nhung - cũng bỗng chốc chấm hết, bao nhiêu bổng lộc
trong ngành xây dựng công trình quân sự bỗng chốc mất trắng. Ông bị buộc
phải giải ngũ, trở về làm dân. Một phiên tòa xét xử vụ tạt axít đã được
gấp rút mở sau đó gần 3 tháng. Bà Năm Ra-đô (vợ trung tá Thức) và tên
du đãng tạt axít bị tuyên phạt mỗi người 20 năm tù, một tên đồng bọn
khác bị phạt 15 năm tù.
Thế nhưng, chỉ vài tuần sau, khi vụ án còn đang bị kháng cáo, chế độ
Ngô Đình Diệm đã bất ngờ sụp đổ với cái chết của 2 anh em nhà họ Ngô, bà
Lệ Xuân phải sống lưu vong.
Trần Lệ Xuân và con gái. Ảnh: Internet.
Chính trường Sài Gòn sau cái chết của anh em nhà họ Ngô đã rối ren
suốt mấy năm trời, không ai quan tâm đến vụ tạt axít cô vũ nữ Cẩm Nhung
nữa. Cũng không thấy nền “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu đưa ra
xét xử lại.
Sau đó vợ chồng Thức “công binh” đã chia tay nhau, người chồng về quê
sống ẩn dật, còn bà Năm Ra-đô thì gửi thân nơi cửa Phật, có lẽ bà muốn
nhờ cửa Phật từ bi gột rửa tội lỗi khủng khiếp đã gây ra.
Lại nói về Cẩm Nhung, ca axít đậm đặc đã phá hủy toàn bộ khuôn mặt
của cô vũ nữ, đôi mắt của nạn nhân cũng bị bỏng rất nặng. Các bệnh viện ở
Sài Gòn đều bó tay, chỉ có thể cứu được mạng sống của Cẩm Nhung, còn
đôi mắt, khuôn mặt thì không thể cứu chữa.
Bà Trần Lệ Xuân đã đích thân đến bệnh viện thăm nạn nhân, trực tiếp
nghe các bác sĩ trình bày tình trạng thương tật. Sau đó, vợ chồng bà
Trần Lệ Xuân đã chỉ đạo cho Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Nhật Bản thu
xếp đón Cẩm Nhung qua Nhật Bản chữa trị thương tật.
Một ngày cuối tháng 9.1963, Cẩm Nhung được đưa lên máy bay sang Nhật
Bản. Thế nhưng, nền y học của Nhật Bản cũng phải chịu thua, không thể
phục hồi dung nhan và đôi mắt cô vũ nữ. Hai tháng sau, Cẩm Nhung trở về
nước lúc Sài Gòn đã đổi chủ. Bà Trần Lệ Xuân từng hứa “bảo bọc trọn đời”
cho Cẩm Nhung giờ đã sống lưu vong ở nước ngoài. Trả thù đời
Từ đỉnh cao danh vọng bỗng chốc rơi xuống tận cùng địa ngục, Cẩm
Nhung trong đau khổ tuyệt vọng đã lao vào đập phá, uống rượu, hút
thuốc... Để “trả thù đời”, Cẩm Nhung sẵn sàng ngã vào lòng của bất cứ
người đàn ông nào, không cần tiền bạc hay điều kiện gì.
Vũ Cẩm Nhung thời đình đám. Ảnh chụp tại một vũ trường của Sài Gòn trước năm 1975. Nguồn: Giáo Dục Việt Nam.
Thế nhưng, với khuôn mặt cháy xám, sẹo lồi lõm như ác quỷ, cặp mắt mờ
đục lồi ra ngoài như mắt ếch, không có người đàn ông tỉnh táo nào đủ
can đảm làm tình nhân của cô. Chán chường, tức giận, Cẩm Nhung càng lặn
ngụp trong rượu chè. Mẹ của Cẩm Nhung vì buồn phiền mà sinh bệnh, rồi
qua đời cuối năm 1964.
Cẩm Nhung càng lao sâu vào cuộc nghiện ngập cho quên đời, tài sản sau
mấy năm kiếm được trong các vũ trường và cặp bồ với hàng tá nhân tình
là sĩ quan, giờ cô tha hồ đập phá.
Bao nhiêu món đồ quý giá của cô cứ lần lượt ra đi, ban đầu là chiếc
xe máy loại mới nhập cảng của Nhật Bản, sau đến các loại nữ trang, hột
xoàn, vòng vàng... Cuối cùng, Cẩm Nhung bán nốt căn nhà với giá gần 200
lượng vàng để có tiền tiêu xài, cô và bà vú Sọ phải thuê nhà ở trọ.
Số tiền bán nhà rồi cũng cạn dần. Ngày cô không còn đủ tiền để trả
tiền thuê nhà cũng là ngày bà vú Sọ trung thành đổ bệnh nặng, không tiền
chạy chữa, nên đã qua đời. Còn lại một mình không nơi nương tựa, không
nghề nghiệp, đôi mắt mù lòa, cô vũ nữ lừng danh một thời chỉ còn biết đi
ăn mày.
Ban đầu, Cẩm Nhung đi ăn xin trước chợ Bến Thành vào dịp tết năm
1969. Cô ngồi bên vệ đường, trên ngực đeo bức ảnh cô chụp chung với
trung tá Trần Ngọc Thức, tay chìa ra xin lòng thương hại của người đi
đường. Ban đầu người ta kéo tới xem Cẩm Nhung rất đông, cho tiền cô cũng
nhiều. Có tiền, Cẩm Nhung tiếp tục nghiện ngập, đập phá.
Càng về sau, người Sài Gòn càng bớt cảm động về chuyện ăn xin của cô
vũ nữ, càng ít cho tiền. Không thể ngồi xin một chỗ, Cẩm Nhung cầm gậy
dò đường đi xin dọc theo đại lộ Lê Lợi, đường Tự Do, những lối đi một
thời in dấu chân cô từ nhà tới vũ trường Kim Sơn.
Sau đó, Cẩm Nhung phải rời khỏi khu vực trung tâm Sài Gòn, đến chợ
Bình Tây, chợ Bà Chiểu, cuối cùng là ngã tư Trần Quốc Thảo - Lý Chính
Thắng, trước khi cô âm thầm rời Sài Gòn hoa lệ để về miền Tây xa xôi ăn
xin trên bến phà Mỹ Thuận.
Gương mặt bị tàn phá của Cẩm Nhung. Ảnh: Megafun.
Ngày ấy, khi đã mù lòa, xấu xí, phải ra đường ăn xin kiếm sống, Cẩm
Nhung nhờ người quen phóng to tấm ảnh cô chụp với người tình trung tá
công binh Trần Ngọc Thức để đeo trước ngực, vừa để thiên hạ xót thương
mà bố thí, vừa để “trả thù đời” đối với kẻ đã tệ bạc bỏ mặc cô đau đớn,
bệnh tật, nghèo khó mà không một lời hỏi han, thăm viếng. Mấy ngày sau,
có người lạ tới năn nỉ cô đừng chưng tấm hình ấy ra nữa, bù lại họ cho
cô số tiền kha khá.
Cẩm Nhung không chịu, họ cũng giật đại tấm ảnh, xong để lại trong ca
ăn xin của cô một số tiền. Không chịu thua, Cẩm Nhung lại nhờ người thân
phóng tấm ảnh khác để đeo, và lại bị họ giật. Sau đó, không chỉ bị giật
hình ảnh, mà cô còn bị đánh đập gây thương tích, chỉ vì chuyện ôm tấm
hình chụp chung với người tình cũ đi ăn xin khắp Sài Gòn.
Không sống được ở Sài Gòn, Cẩm Nhung âm thầm tìm ra bến xe Miền Tây
để lên xe đò về bến phà Mỹ Thuận kiếm sống, vẫn với cái cách ngồi bên lề
đường ăn xin, ngực treo tấm ảnh năm nào.
Tại đây, cô cũng bị người lạ giật tấm ảnh. Không chỉ vậy, ai đó đã
nhân lúc cô đi ăn xin đã lẻn vào chỗ ở trọ, lục tung đồ đạc của cô, lấy
đi tất cả hình ảnh cô chụp chung với người tình trung tá công binh.
Kể từ đó, Cẩm Nhung không còn ảnh chụp chung với Thức công binh, cô
lấy tấm ảnh chân dung của riêng mình treo trước ngực để đi ăn xin, người
đi đường cảm thương phận bạc của cô vũ nữ mà bố thí cho ít tiền giúp cô
sống qua ngày trong mù lòa, cô độc.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Cẩm Nhung tiếp tục ăn xin trên bến phà
Mỹ Thuận. Nhưng sau đó chính quyền cách mạng dẹp nạn ăn xin để ổn định
trật tự xã hội, Cẩm Nhung được đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật.
Không chịu được cuộc sống gò bó trong trung tâm, người phụ nữ mù đã lén
bỏ trốn về Sài Gòn tiếp tục ăn xin.
Rồi cô lại bị “thu gom”, lại trốn về tận Hà Tiên. Tại đây, Cẩm Nhung
lúc thì đi ăn xin quanh quẩn các ngôi chùa, khi địa phương có chiến dịch
“thu gom” người ăn xin, cô xin tá túc nhà chùa để được chén cơm, manh
áo, vừa quét dọn sân chùa để khuây khỏa nỗi buồn trong cuộc đời bạc bẽo
hơn vôi của cô.
Kể từ đó, dù tá túc trong nhà chùa hay ăn xin đó đây, Cẩm Nhung không
còn đeo tấm hình “nữ hoàng vũ trường” của mình trước ngực nữa.
Trong những năm tháng Cẩm Nhung sau khi bị nạn lang thang trên khắp
nẻo Sài Gòn, cũng là lúc ở Sài Gòn xuất hiện bài hát “Bài ca cho người
kỹ nữ”. Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ
Cẩm Nhung. Bài hát có đoạn:
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét