TT&HĐ I - 7/l

 
Nikola Tesla và Kim Tự Tháp - Công nghệ năng lượng Vũ trụ


PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”

CHƯƠNG VII: VÔ TỰ ĐẠI THƯ

Tôi thích mùa xuân, nhưng nó trẻ trung quá. Tôi thích mùa hè, nhưng nó kiêu ngạo quá. Vậy nên tôi thích mùa thu nhất, bởi thanh âm của nó êm đềm hơn, màu sắc của nó sâu đậm hơn, và nó nhuốm chút u sầu. Sắc vàng cam tươi thắm của nó không thể hiện sự ngây thơ của mùa xuân, hay cường lực của mùa hạ, mà nói lên những dịu dàng và sự khôn ngoan nhân hậu của tuổi tác. Mùa thu biết những giới hạn và ý nghĩa của cuộc đời.
I like spring, but it is too young. I like summer, but it is too proud. So I like best of all autumn, because its tone is mellower, its colours are richer, and it is tinged with a little sorrow. Its golden richness speaks not of the innocence of spring, nor the power of summer, but of the mellowness and kindly wisdom of approaching age. It knows the limitations of life and its content.


Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
Tôi thích mùa xuân, nhưng nó trẻ trung quá. Tôi thích mùa hè, nhưng nó kiêu ngạo quá. Vậy nên tôi thích mùa thu nhất, bởi thanh âm của nó êm đềm hơn, màu sắc của nó sâu đậm hơn, và nó nhuốm chút u sầu. Sắc vàng cam tươi thắm của nó không thể hiện sự ngây thơ của mùa xuân, hay cường lực của mùa hạ, mà nói lên những dịu dàng và sự khôn ngoan nhân hậu của tuổi tác. Mùa thu biết những giới hạn và ý nghĩa của cuộc đời.
I like spring, but it is too young. I like summer, but it is too proud. So I like best of all autumn, because its tone is mellower, its colours are richer, and it is tinged with a little sorrow. Its golden richness speaks not of the innocence of spring, nor the power of summer, but of the mellowness and kindly wisdom of approaching age. It knows the limitations of life and its content.


Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
"Tự nhiên không có tình, không thiên vị ai. Nó không phân biệt Thiện Ác, May Rủi".
NTT

Khoa học là cái quan trọng nhất, tốt đẹp nhất và cần thiết nhất trong cuộc sống con người, nó đã và sẽ luôn luôn là biểu hiện cao nhất của tình yêu, chỉ nhờ nó, con người mới chiến thắng được thiên nhiên và bản thân mình.

Khuyết danh

Có những thế lực bí ẩn trong thiên nhiên; khi chúng ta hoàn toàn trao mình cho nàng mà không ngần ngại, nàng sẽ đem cho chúng ta mượn, nàng chỉ cho chúng ta hình thái của những điều mà mắt ta không thấy và trí tuệ ta không hiểu hay ngờ tới." 

 Auguste Rodin

“Chân lý cao cả nhất là chân lý này: Thượng Đế hiện diện ở trong vạn vật. Vạn vật là muôn hình vạn trạng của Thượng Đế. Không nên tin một đấng thần linh nào khác… Chúng ta cần một tôn giáo tạo những con người cho ra người… Bạn nên bỏ những tôn giáo thần bí làm cho bạn suy nhược đi, và bạn nên cương cường… Chỉ có mỗi một đấng Thượng Đế có ý thức, là nòi giống của ta, đâu đâu cũng có bàn tay của Ngài, bàn chân của Ngài, cặp tai của Ngài; Ngài bao trùm hết thảy… Sự sùng bái chính đáng nhất là sự sùng bái vạn vật chung quanh ta… Chỉ người nào giúp đỡ vạn vật mới thực sự là thờ phụng Thượng Đế.”

(Vivekananda)

 



(Tiếp theo)
 

* * *


Có lẽ Vương Thiện Lão Tổ là người tổng kết, làm sâu sắc thêm, và xây dựng đến mức hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học tự nhiên – xã hội của Đạo Gia cũng như những cơ sở lý luận ứng dụng vào thực tiễn của nó (Dịch học, y học, thuật dưỡng sinh, thuật cai trị, cẩm nang quyền mưu, biện thuyết… ). Vương Thiện Lão Tổ là tên được dân chúng địa phương gọi; Vương Danh Lợi là tên được những người trong nội bộ đạo phái gọi, Quỉ Cốc tiên sinh (Quỉ Cốc thần sinh) là tên được lưu truyền trong nhân gian. Nhưng trên bàn tròn học thuật, không còn “người phát ngôn” Dương Chu nữa mà xuất hiện một nhân vật mới có tên là Lý Nhĩ. Lý Nhĩ là tác giả cuốn “Lão Tử”. Cuốn “Lão Tử”, sau này đến thời nhà Hán được gọi là “Đạo đức kinh” và được cho là chứa đựng toàn bộ tư tưởng triết học của Đạo Gia. 

Như đã nói, Vương Thiện Lão Tổ dạy rất nhiều học trò, theo nhiều lĩnh vực. Ai thích gì ông dạy nấy, không nề hà. Bốn đại đệ tử nổi danh của ông là Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi. Trong bốn người đó thì Bàng Quyên chết trong chiến trận, Tô Tần chết vì chính cái nghề du thuyết của mình, Trương Nghi chết tại quê nhà, riêng Tôn Tẫn sau trận phục binh tiêu diệt quân Ngụy, giết chết Bàng Quyên ở Mã Lăng, truyền thuyết lưu truyền rằng ông bỏ đi, theo Quỉ Cốc tiên sinh tu tiên. Từ đó không còn cái tên Tôn Tẫn nữa vì ông đã trở thành một người mai danh ẩn tích, là một Quỉ Cốc Tử (con của Quỉ Cốc) với cái tên khác, có thể là Vương Danh Lợi. Đã từng là nhà quân sự và đã thấu triệt Đạo Gia, do đó có thể nhận định là không một ai khác mà chính ông là tác giả của quyển sách thiên cổ kỳ thư có tựa đề: “Quỉ Cốc Tử”. 

Thật là buồn cười, qua bao nhiêu chặng đường đi tìm hiểu tác giả của “Quỉ Cốc Tử” là ai và thầy của tác giả là ai, rốt cuộc chúng ta chẳng thấy rõ ràng thêm được tí gì, thậm chí lại còn “mù tịt” hơn nữa. Tác giả của “Quỉ Cốc Tử” là… Quỉ Cốc Tử; thầy của Quỉ Cốc Tử là… Quỉ Cốc Tử, hết! Tương tự như để trả lời “Tồn Tại là gì?”, loài người đã phải đi một chặng đường dằng dặc để đến tận hôm nay, câu trả lời chính xác nhất từ cổ chí kim vẫn là: “Tồn Tại là… Tồn Tại!”. 

Dù có thể là công dã tràng, nhưng chí ít cuộc đi cũng làm cho chúng ta khỏi phải vô công rỗi nghề; khỏi bị người đời chê là ngồi một chỗ mà luận thiên hạ! 

Đi đến đây có lẽ cũng đủ rồi. Nếu có đi nữa để tìm hiểu thêm những Mạnh Tử, Huệ Tử, Công Tôn Long, Trâu Diễn, Hàn Phi, Trang Tử… thì cũng đến thế mà thôi. Học thuyết của họ chỉ là sự xào qua xào lại, tranh biện mặt này mặt kia của các khái niệm, của một khía cạnh cụ thể nào đó của ba nhà: Lão, Khổng, Mặc; chứ ít có những ý mới mang tính đột phá. 

Đi nữa, vừa tốn công, vừa mất thời gian và điều lo ngại lớn nhất là thời Chiến Quốc sắp bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, rất dễ bị tên bay đạn lạc. Nên nhớ rằng còn vài “tua du lịch” hoang tưởng nữa đang chờ chúng ta ở thế kỷ XXI. 

Nhưng trước khi trở về, chúng ta sẽ sắp xếp lại các nhân vật làm nên hệ tư tưởng Đạo Gia đúng vị trí mà họ đã “có mặt” thực sự trong lịch sử kèm theo lời giải đáp những nghi vấn nêu ra trong sách sử, theo sự phán đoán của riêng chúng ta. Và xin thông báo trước rằng đừng ai lấy nó hoặc rút ra từ nó những thông tin để dùng vào bất cứ sự khảo cứu nghiêm túc nào vì nó chỉ đúng đối với những cái đầu đầy đặc hoang tưởng mà thôi! 

Ấy chết! Chúng ta chưa làm cái việc sắp xếp vị trí cho các hiền triết của phái Đạo Gia được. Có một sự bỏ sót “khổng lồ” là chúng ta đã quên béng mất Doãn Hỷ và Liệt Ngự Khấu (Liệt Tử). 

Tương truyền Lão Lai (bây giờ chúng ta gọi thế) thấy nhà Chu suy vi vô phương cứu vãn, liền bỏ đi, đến cửa quan thì gặp quan coi cửa quan là Doãn Hỷ. Doãn Hỷ nói: 

- Ông sắp đi ẩn rồi, cố viết cho tôi một cuốn sách. 

Lão Lai bèn viết. Không biết viết gì. Người ta cho rằng đó là quyển “Đạo đức kinh” hơn năm nghìn chữ. Lúc đó Lão Lai nóng ruột đi mà viết đến năm nghìn chữ (lên lụa hay lên thẻ tre) cho một anh quan coi cửa ải thì thật là lạ. Cho nên chúng ta đoán rằng “quyển sách” đó có thể chỉ là vài câu thiết yếu về “Đạo” của Lão Lai mà thôi. Có thể chính nội dung của cuốn sách đó (chắc là “mỏng” thôi) đã làm Doãn Hỷ mê nên về sau cũng bỏ luôn việc quan, theo Lão Lai đi ở ẩn. Người ta đồn Doãn Hỷ viết sách nói về công dụng của Đạo Gia. Lão Tử sau này cũng có sách với nội dung tương tự). 

Nhân vật thứ hai, Liệt Tử, có thân thế mờ ảo hơn nhiều. 

Liệt Tử được cho là tác giả cuốn “Xung hư chân kinh”. “Xung hư chân kinh” là tên được đặt ra sau này, vào năm thứ nhất (năm 742), niên hiệu Thiên bảo vua Đường Huyền Tôn). Đến đầu thế kỷ XI, đời vua Tống Chân Tôn, nó được gọi là “Xung hư chí đức chân kinh” (xung hư có nghĩa là hư không). Thường hơn, người ta gọi đó là “Liệt Tử”, được đặt ngang hàng với những cuốn kinh khác như Đạo đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Kinh Thi, Kinh Thư… Nhờ thế mà Liệt Tử cũng được xếp chung với những triết gia lớn nhất thời Xuân Thu - Chiến Quốc. 

Vậy mà có một số học giả, như Cao Tự Tôn (thế kỷ XII), bảo Liệt Tử chỉ là nhân vật hoang đường. Lý do là trong Sử Ký (của Tư Mã Thiên) không chép Liệt Tử trong khi lại chép truyện nhiều nhân vật kém quan trọng hơn như: Thuận Đáo, các môn đệ của Khổng Tử… Lý do nữa là trong Nam Hoa Kinh, Trang Tử có kể Liệt Tử cưỡi gió mà đi (!) Nhiều lý do khác nữa… 

Cuốn “Liệt Tử” còn bị nghi ngờ là ngụy thư bởi số học giả đông hơn. Có người cho là hoàn toàn ngụy thư, có người cho rằng chỉ một phần nhỏ là do đệ tử chép tư tưởng của Liệt Tử, còn lại là do đời sau thêm vào thành bản mà ngày nay chúng ta biết. 

Ai đọc tác phẩm “Liệt Tử” cũng đều thấy xuyên suốt trong đó hệ tư tưởng triết học duy vật, hồn nhiên, vô thần của Đạo Gia phái, cái triết lý sống thản nhiên, thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, giản dị, lạc quan mà sống vì sống cũng chỉ là tạm mà thôi: “Sống là tạm đến, chết là tạm đi”… Toàn bộ nội dung của “Liệt Tử” chỉ có một phần rất ít trực tiếp nói về Đạo lý (lý thuyết triết học), còn lại hầu hết là những truyện kể các loại như: truyện cổ, truyện hoang đường, thần thoại, sự tích kim cổ… nói chung có vẻ tạp lục. Đọc các truyện đó, thấy mỗi câu chuyện đều có tính ngụ ngôn, ngầm biện minh cho một tư tưởng, quan niệm nào đó hoặc ngầm dẫn dụ, khuyên can một điều gì đó. Một quyển kinh mà lại như một quyển truyện chọn lọc với những truyện vừa ngắn gọn vừa sâu sắc, trong sáng nhẹ nhàng, đọc đi đọc lại vẫn hay, càng thấm thía. 

Nhìn chung những câu chuyện kể trong “Liệt Tử” có vẻ như tạp văn, “đủ thứ” nhưng xét kỹ thì hóa ra những câu chuyện đó đều hướng về một mục đích duy nhất: giải thích hoặc chứng minh cho lý thuyết triết học của Đạo Gia. 

Từ nhận xét đó, chúng ta đưa ra một phán đoán: Cuốn “Liệt Tử” là tổng hợp các câu chuyện dùng để minh chứng, phụ họa, dẫn giải của các thầy phái Đạo Gia trong khi truyền giảng, dạy học cho các môn sinh. Lúc đầu chỉ do Liệt Tử chấp bút, nhưng về sau được bổ sung dần từ nhiều người khác. 

Theo Nguyễn Hiến Lê (Liệt Tử - Dương Tử, NXB Văn hóa thông tin, 2002) cuốn “Liệt Tử” gồm tám thiên, cách trình bày nguyên thủy (y như hồi xưa) như sau:
  1. Thiên Thụy
  2. Hoàng Đế
  3. Chu Mục Vinh
  4. Trọng Ni (Khổng Tử)
  5. Thang Vấn (vua Thang hỏi)
  6. Lực Mệnh (Sức người và mệnh trời)
  7. Dương Chu
  8. Thuyết Phù
Nguyễn Hiến Lê cho rằng cách sắp đặt các thiên như thế trong nguyên bản chữ Hán (bản “Liệt Tử chú thích” của NXB Hoa Liên, Đài Bắc năm 1969) là “rất lộn xộn, không hợp lý chút nào cả, do đó nhan đề mỗi thiên không phù hợp với nội dung”. Ông viết tiếp:
“Như thiên đầu: Thiên thụy gồm 13 bài mà chỉ có 5 bài nói về Vũ Trụ, về Đạo, còn 8 bài kia nói về sự sống chết, cách làm giàu. Thiên Hòang đế gồm 21 bài chỉ có một bài nó về Hòang Đế còn 20 bài kia nói về Khổng Tử (4 bài), Dương Chu (2 bài), Lão Tử, Chu Tuyên Vương .. v… v… Mà thiên Trọng Ni gồm 15 bài cũng chỉ là 4 bài nói về Khổng Tử, còn thì nói về quan Doãn Hỷ, Liệt Tử, Đặng Tích .. v… v…”
Theo chúng ta, nếu cấu trúc của tác phẩm nguyên thủy là như thế mà bản Hán văn vẫn để nguyên như thế thì không phải là họ không thấy “rất lộn xộn” như Nguyễn Hiến Lê thấy mà họ thật ra là tôn trọng quá khứ, tôn trọng lịch sử.
Nhờ thế mà làm chúng ta nảy ra ý này: Cuốn “Liệt Tử” đóng vai trò như một giáo án (hay như sách giáo khoa?) dùng trong việc truyền giảng triết học nhân sinh của Đạo gia.
Trong tám thiên ấy, có ba thiên gây chú ý đặc biệt cho chúng ta, đó là thiên Thụy, thiên Lực Mệnh và thiên Thuyết Phù.
Thiên Thụy, Nguyễn Hiến Lê chú giải: “Nhan đề này khó hiểu, các bản chữ Hán và các từ điển Từ Hải, Từ Nguyên đều không giảng, chỉ cho biết Thụy là một thứ ngọc khuê, ngọc bích dùng làm dấu hiệu. Dấu hiệu đó các vua thời xưa ban cho người đeo. Theo Benedykt Grynpas, thiên Thụy là phần Vũ Trụ mà chúng ta nhìn thấy được, nhờ nó mà các thánh nhân mới tìm hiểu được Đạo. Cho nên thiên này bàn về Vũ Trụ và Đạo”
Thiên Thụy là thiên mở đầu, là nội dung cơ bản, cốt lõi của tư tưởng triết học phái Đạo gia, đóng vai trò chủ đạo, xuyên suốt các tác phẩm.
Thiên Lực Mệnh hầu như là nói về mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên, về khả năng tạo dựng của con người cũng như cái lẽ thành bại của sự tạo dựng.
Thiên cuối có tên là “Thuyết Phù”. Cũng theo Nguyễn Hiến Lê chú giải thì: “Thuyết Phù, cũng không sách nào giảng. Phù là cái thẻ tre, viết chữ vào rồi chẻ làm đôi, mỗi người giữ một mảnh. Ngày xưa khi phong các chư hầu hay sai đại thần đi đâu, đều dùng cái phù làm tin, hễ ghép hai mảnh lại mà ăn khớp nhau thì là phải. Theo Grynpas, thuyết phù có nghĩa là “giảng cái phù”, nghĩa là những truyện trong thiên này người viết chỉ nói một nửa ý thôi, người đọc phải suy nghĩ mà đoán được nửa kia, như ghép hai mảnh tre lại với nhau vậy”.
“Thuyết Phù” làm chúng ta liên tưởng ngay đến thiên cổ kỳ thư “Quỉ Cốc Tử”. Tồn Tại có nghĩa là Tự Nhiên, Tự Nhiên là nói về Tồn Tại. Tất cả các sự vật tồn tại được, là hợp lẽ tự nhiên, sự sinh ra và mất đi của chúng cũng là hợp lẽ tự nhiên. Tồn tại, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó chính là tuyệt đối tồn tại, viết: Tồn Tại.
Một sự vật - hiện tượng sinh ra hay mất đi, tồn tại hay không tồn tại thì vẫn cứ là bộ phận của Tồn Tại, vẫn là vì hợp lẽ Tự Nhiên một cách tuyệt đối. Cái tuyệt đối ấy khi đã qua nhận thức thì cũng chỉ là… tương đối thôi! Trước người quan sát, sự hợp lẽ tự nhiên thể hiện ra được là nhờ sự xuất hiện của cái phi tự nhiên. Đó chính là mâu thuẫn. Mâu thuẫn cũng là hợp lẽ tự nhiên. Mâu thuẫn tuyệt đối cũng là một biểu hiện của Tồn Tại, cũng là lẽ tự nhiên và cũng chính là Tự Nhiên. Tính đầy đủ (và đồng thời cũng không đầy đủ, là cả hai mà cũng không phải cả hai) của Tồn Tại là như thế đấy, giản dị mà cũng rắc rối quá chừng! Vì thế, nếu ai đó muốn tránh rắc rối, không thích thấy mâu thuẫn thì chỉ còn nước… đừng nhận thức nữa, thế thôi!.
Tồn tại (hay không tồn tại) là hợp lẽ tự nhiên nên tồn tại (hay không tồn tại)! Con người ta được sinh ra, sống rồi chết đi là hợp lẽ tự nhiên. Mạng sống, đối với con người suy nghĩ bình thường là cái quí giá nhất, không gì so sánh được vì đối với “cái tôi”, nó là hi hữu, có một không hai mà theo Dương Chu nói “dầu có cả thiên hạ cũng không thể đổi lấy được”. Do đó mục đích tự nhiên (bản năng) đầu tiên, tối thượng trong hành động của con người là duy trì mạng sống của mình, tìm cách thích nghi với mọi hoàn cảnh để sống, nghĩa là biết sống phù hợp theo những biến đổi của môi trường thiên nhiên cũng như những biến động của điều kiện xã hội. Trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc mịt mùng khói lửa và bạt ngàn binh đao, thời mịt mùng không còn thấy chính nghĩa ở đâu nữa, không thể theo ông vua nào để cứu nhân độ thế được thì cách sống phù hợp nhất là xuất thế vô vi, tác động vào thời cuộc bằng cách khác, ở thế vô danh, tưởng không làm mà làm tất cả (vô vi vô bất vi). Chắc chắn sự “tung hoành” của thời Chiến Quốc dẫn đến thống nhất Trung Quốc có sự tham gia ngầm rất tích cực của những người theo phái Đạo gia.
Phải chăng những điều chúng ta vừa nói là nội dung của thuyết Phù? Đúng là như thế vì toàn bộ nội dung của “Quỉ Cốc Tử” toát lên một chữ Phù, toàn bộ quan niệm về nhân sinh của Đạo gia cũng toát lên một chữ Phù.
Có thể nói rằng từ quan niệm triết học ngay từ đầu nói chung là đúng đắn về Tự Nhiên Tồn Tại mà con đường nhận thức đi đến thuyết Phù mang tính tất yếu. Và thuyết Phù trở thành nền tảng trực tiếp cho mọi quan niệm nhân sinh, quan điểm chính trị, lý luận quyền mưu của Đạo gia phái. Tóm lại Đạo gia cho rằng tất cả sự thành bại, còn mất trong xã hội chỉ là do suy nghĩ và hành động của con người có phù hợp hay không phù hợp mà thôi!
Nếu ý kiến của Grynpas là đúng thì thiên Thuyết Phù còn như là tập hợp những bài tập kiểm tra mức độ nhận thức của các môn sinh (phải xây dựng nửa phần còn lại của câu chuyện cho phù hợp, hợp thành một ý nghĩa hoàn chỉnh).
Theo chúng ta, sách “Liệt Tử” nhiều khả năng là một công trình có tính tập thể, do nhiều người góp ý và xây dựng nên trong khỏang thời gian khá dài; ý kiến cho rằng Liệt Tử chỉ là nhân vật hoang đường cũng có nhiều khả năng đúng hơn. Hay chúng ta cứ phán rằng Liệt Tử là tên của ẩn sĩ… Doãn Hỷ, cho gọn, mà cũng chẳng ảnh hưởng gì đến triết thuyết của Đạo gia cả.
Rồi! Thế là không có điều gì khuất tất nữa, đã có thể lập bảng “phong thần” cho các hiền triết Đạo gia thời Xuân Thu - Chiến Quốc được rồi và chúng ta lập như sau:
  1. Lão Lai (Thái Thượng Lão quân)
  2. Doãn Hỷ (Liệt Tử)
  3. Lão Đam (Thái tử Đam, Lão Lai Tử)
    (Ba người này hun đúc nên nhân vật huyền thoại là Lão Tử, sống thọ đến 160 tuổi, thậm chí là 200 tuổi. Lão Tử lập nên một học thuyết triết học có cái tên huyền bí là Quỉ Cốc Đạo. Trước khi xuất hiện tên Lão Tử, thì lúc ấy đóng vai trò “người phát ngôn” cho Quỉ Cốc Đạo trên bàn tròn tranh biện trong xã hội, là Dương Chu.)
  4. Vương Thiện (Quỉ Cốc tiên sinh, Vương Thiện Lão Tổ)
    (Ông là người chấp bút viết “Đạo đức kinh”, “Xung hư chân kinh”, như là một hành động tổng kết tư tưởng của Lão Tử. Ông cũng được cho là tổ sư của các nhánh triết học, những trường phái chính trị: Danh gia, Âm dương gia, Pháp gia…)
  5. Tôn Tẫn (Vương Danh Lợi)
    (Vương Thiện và Tôn Tẫn hợp lại thành một nhân vật huyền thoại là Quỉ Cốc Tử, được đắc đạo trường sinh, thành tiên. Tôn Tẫn chính là người viết cuốn “Quỉ Cốc Tử”. Lúc này Quỉ Cốc Đạo mang tên gọi mới là Đạo Lão mà “người phát ngôn” là Lý Nhĩ. “Quỉ Cốc Tử” được viết trên nền tảng nhận thức lý luận của Đạo Lão, là bộ phận hợp thành của hệ thống triết học ấy. Nó có tính chất khai triển, nói thiên về quyền mưu.)
    Ông là người hoàn thành “Đạo đức kinh” của Vương Thiện Lão Tổ và cũng chính là tác giả của cuốn “Quỉ Cốc tử”.
Năm con người kiệt xuất ấy đã làm nên một pho sách vĩ đại: Vô Tự Đại Thư.


* * *



Có người hỏi: “Sắp xếp như vậy đúng không?”. Chúng ta nói: “Không biết!”. Hỏi tiếp: “Đã không biết thì sao dám cả gan làm?”. Chúng ta trả lời: “Thích!”. Lại hỏi: “Không sợ bị thiên hạ lên án sao?”. Chúng ta đáp: “Không! Vì chúng ta là… vô danh!”.

Chúng ta vô danh không phải vì chê danh mà vì danh không đến. Ngày xưa bước vào đời “nhập thế hữu vi”, chúng ta đã cố gắng học hành, “lùng sục” công danh một cách đầy nhiệt huyết. Than ôi, sức lực thì có thừa nhưng tài năng lại có hạn, nên đi đã gần hết một đời, công đã bất thành rồi mà đến danh cũng bất toại; trước sau vẫn hoàn vô danh; trước là đứa trẻ vô danh, bây giờ là thằng già vô danh. Dù sao thì cũng còn may: tuy là vô danh nhưng không đến nỗi “tiểu tốt”, nên chúng ta chẳng cảm thấy hèn nhục, lo lắng khổ sở gì. Biết đâu chừng trong cái dở lại có cái hay. Sách “Liệt Tử” viết về danh như thế này:
“Từ bỏ cái danh đi thì khỏi phải lo nghĩ. Lão Tử nói: “Danh là khách của thực”, mà người đời đau đáu chạy theo cái danh hoài.
Danh vốn không thể bỏ được, danh vốn không thể coi là khách được. Ngày nay ai có danh thì được tôn vinh, vô danh thì chịu hèn nhục; tôn vinh thì an dật vui sướng, hèn nhục thì lo lắng khổ sở. Lo lắng, khổ sở thì lại hại đến bản tính, an dật vui sướng thì thuận với bản tính, quả có liên hệ với nhau như vậy. Vậy thì làm sao lại bỏ danh? Làm sao lại coi danh là khách? Ghét chăng là ghét sự giữ cái danh mà làm lụy cái thực; giữ cái danh mà làm lụy cái thực thì sẽ có lúc phải chịu nỗi nguy vong mà không có cách cứu, chứ đâu phải chỉ là chuyện an dật vui sướng với lo lắng, khổ sở mà thôi đâu”.
Trước đây thú thực, nghĩ về thân phận cũng thấy buồn. Nhưng từ ngày được các “Lão” tận tình truyền thụ, chúng ta bỗng cảm thấy lòng an nhiên lạ thường. Xin đề tặng cho chương này một bài thơ như sau:
Ta chẳng buồn đâu, chẳng nữa đâu
Từ nay thôi nhé vạn u sầu
Cứ đến cứ đi bằng thỏa thích
Lòng ta đã lộng gió cao sâu
*
Tham muốn chi nhiều, tổ lo âu
Công danh nuôi chí, rước bạc đầu
Tài khối, tiền muôn, sinh lắm tật
Nặng nhân tình, chuốc nặng khổ đau.
*
Sắc dục tùm lum, oải phao câu
Lễ nhạc om sòm, điếc tai trâu
Trăng xinh, ngó mãi, đâm nhàm mắt
Ơn nghĩa ôm vào, vác phờ râu.
*
Một mình trôi nổi, giữa đêm thâu
Rượu nhạt chan hòa với bầu sao
Hữu ngã bồng bềnh trong vô ngã
Theo hầu Lão Tử xứ Đông Châu.


 (Hết chương VII)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32