BỘ MẶT CHIẾN TRANH 85
Thanh Thuy "ngo hon qua dem " nhac truoc 1975
Music Tinh Khuc Nguoi Linh VNCH ,Mua Xuan La Kho.
-Trong tình trạng chiến tranh đầy chết chóc và tan hoang, bản chất sống của loài người trở nên cực hạn về mọi phía:
+Yêu thương vô vàn mà cũng hận thù vô song
+Thông minh trí tuệ bao nhiêu thì cũng ngu ngốc, mù quáng bấy nhiêu.
+Tuyệt đỉnh dũng cảm thì cũng tột cùng hèn nhát.
+Vừa là thánh thần vừa là quỉ dữ.
...
-Chiến tranh mang bộ mặt gớm ghiếc, tởm lợm đến khủng khiếp, không thể tả được, dù bôi son trát phấn như thế nào, tung hô ra sao.
-Chiến tranh là thể hiện sự thờ ơ, vô cảm khốn nạn tột cùng về việc hủy diệt tàn bạo cuộc sống và thân phận con người.
-Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh "nặn ra" lý do từ không có lý do, hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách không chính đáng. Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh nảy sinh từ việc giải phóng hoặc chống chiến tranh phi nghĩa, được hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách chính đáng (?).
-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người cộng sản có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử".
-Giống như bóng tối không thể làm tiêu tan bóng tối, thì hận thù không thể xoa dịu được hận thù, và chiến tranh không thể xóa bỏ được chiến tranh.
-Chỉ khi con người thoát ra khỏi vòng tham muốn danh lợi, thấu hiểu ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống, thấu hiểu về sự vô nghĩa tột cùng của cái chết và sự cảm thông, yêu thương sâu sắc đồng loại, mới có thể loại trừ được gây hấn và chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội!
-Một khi còn tình cảm dân tộc hẹp hòi, lòng tham vị kỷ và cái tâm hận thù của con người, thì vẫn còn chiến tranh.
Sabaton - 7734
Sabaton - Panzerkampf (NAPISY PL)
------------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET)
Ukraine và Những Trận Chiến Ác Liệt Không Được Công Khai
Bí mật tàu ngầm I-52 của Đế quốc Nhật trong Thế chiến II
Cao Trí |

75 năm sau ngày Chiến tranh Thế giới lần thứ II kết thúc (tháng 5/1945 - tháng 5/2020), nhiều hồ sơ quân sự tuyệt mật đã được bạch hóa, trong đó có chiếc tàu ngầm I-52 của Đế quốc Nhật, đã từng mang theo 800kg oxit urani để chế tạo bom bẩn và 2,2 tấn vàng…
Những thỏa thuận ban đầu
Tháng
12/1943, gần ba năm rưỡi sau khi Thế chiến II bùng nổ và 3 năm sau khi
phát xít Nhật cùng Đức Quốc xã ký kết hiệp ước liên minh quân sự, một
đoàn tàu gồm 4 chiến hạm Nhật dẫn đầu bởi tướng Tomoyuki Yamashita, bí
mật đến Berlin, Đức, trên danh nghĩa viếng thăm hữu nghị.
Với
biệt danh “con hổ Malaya”, tướng Yamashita là kiến trúc sư của cuộc
chiếm đóng Singapore, Miến Điện (nay là Myanmar), Philippines, Malaysia,
Việt Nam và một phần lục địa Trung Quốc…
Tại
Berlin, trong cuộc hội kiến với Adolf Hitler, tướng Yamashita đã được
Hitler yêu cầu nước Nhật phải tiếp tục tuyên chiến với nước Anh sau khi
đã tuyên chiến với Mỹ qua vụ tập kích Trân Châu Cảng.
Tuy
nhiên thời điểm ấy, Yamashita chưa cảm thấy hứng thú với việc mở rộng
chiến tranh bởi lẽ người Nhật còn đang bận rộn với việc khai thác các
nguồn tài nguyên thiên nhiên như gạo, cao su, than đá, đồng, thiếc,
quặng sắt… ở Đông Nam Á, cũng như bảo vệ các hòn đảo đã chiếm được ở
Thái Bình Dương.
Cái
mà Yamashita quan tâm là những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của người
Đức trong việc chế tạo radar, máy bay, xe tăng và thiết bị quang học.
Theo Yamashita, chỉ khi nào nước Nhật nắm vững các kỹ thuật này thì quân
đội Thiên Hoàng mới “tính sổ” với Anh quốc!
Cuối
cùng, một thỏa thuận cũng được ký kết giữa Hitler và Yamashita. Theo
đó, phía Nhật sẽ giao cho Đức 9,8 tấn molypden, 11 tấn vonfram, 2,2 tấn
vàng, 3 tấn thuốc phiện và 54 kg cafein để đổi lấy 800kg oxit uranium,
khoảng 4 tấn tài liệu, bản vẽ thiết bị quân sự, 1 ngư lôi siêu âm T-5, 1
động cơ 213 Jumo lắp trên máy bay tiêm kích Focke-Wulf 190, 2 hệ thống
radar cùng các thiết bị quang học và kỹ thuật để làm ra chúng.
Với
800kg oxit uranium chưa làm giàu, nó không đủ để phát xít Nhật chế tạo
một quả bom nguyên tử nhưng nó thừa khả năng biến thành những quả bom
bẩn.
Địa điểm giao nhận những loại
hàng hóa nêu trên là cảng Lorient, Pháp, đã bị Đức Quốc xã chiếm đóng,
con tàu được Yamashita chọn để thực hiện nhiệm vụ cực kỳ bí mật này là
loại tàu ngầm vận tải lớp C-3, mã danh I-52.
Chuyến đi cuối cùng của tàu ngầm I-52
Khởi
hành ngày 10/3/1944 dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng Uno Kameo và
thủy thủ đoàn 94 người cùng 14 kỹ sư, là những người đang học hỏi công
nghệ Đức về pháo phòng không, động cơ cho tàu phóng ngư lôi, chiếc I-52
nhổ neo rời cảng Kure rồi đi qua Sasebo đến Singapore.
Tại
đây, nó lấy thêm 120 tấn thiếc, 59,8 tấn cao su thiên nhiên, 3,3 tấn
quinin (dùng để chế tạo thuốc chống sốt rét). Sau đó nó vượt Ấn Độ
Dương, ra Đại Tây Dương.
Với
chiều dài 108,66m, đường kính thân chỗ lớn nhất 9,30m, tàu ngầm I-52
được thiết kế và chế tạo bởi tập đoàn Mitsubishi. Khi chạy trên mặt
nước, nó sử dụng 2 động cơ Diesel tổng công suất 4.700 mã lực với tốc độ
32,87 km/ giờ còn khi lặn dưới nước, tốc độ này là 12km/giờ, tạo ra bởi
1 động cơ điện công suất 1.200 mã lực.
Vì là tàu chuyên dùng chở hàng nên I-52 chỉ lặn sâu tối đa 100m, vũ khí cũng chỉ có 2 pháo 140mm cùng 6 ống phóng ngư lôi 533mm.
Ngày
6/6/1944, khi vẫn còn đang trên biển Đại Tây Dương, thuyền trưởng Uno
Kameo nhận được một bức điện, gửi đi từ chuẩn đô đốc Kojima Hideo. Nội
dung cho biết quân Đồng Minh đã đổ bộ lên bờ biển Normandy, Pháp, và
điều này sẽ đe dọa tàu I-52 khi nó vào cảng Lorient, cũng thuộc Pháp.
Vì thế, theo chỉ thị của chuẩn đô đốc Kojima Hideo, tàu I-52 phải chuyển hướng đi Na Uy.
Trên
đường đi, ngày 22-6 nó sẽ gặp một tàu ngầm Đức vào lúc 21 giờ 15 phút
giờ GMT tại 15-40 độ kinh Đông, 36-23 độ kinh Tây. Tuy nhiên, cả thuyền
trưởng Uno Kameo lẫn chuẩn đô đốc Kojima Hideo đều không ngờ rằng bức
điện ấy đã bị đơn vị theo dõi tàu ngầm của Hải quân Mỹ là Phòng 21 và
Phòng F-211 thuộc Hạm đội 10 thu được.
Lập
tức, một kế hoạch được đặt ra. Tàu sân bay Bogue với 9 máy bay cường
kích FM-2 Wildcats cùng 12 chiếc tiêm kích Grumman TBF-1C Avenger và 5
tàu khu trục hộ tống gồm USS Francis M. Robinson do trung úy J. E.
Johansen là thuyền trưởng, tàu USS Haverfield thuộc Lực lượng đặc nhiệm
51, do trung úy T. S. Lank chỉ huy, tàu USS Swenning do trung úy R. E.
Peek chỉ huy, tàu USS Willis do thiếu tá Hải quân G. R. Atterbury chỉ
huy và tàu USS Janssen do thiếu tá Hải quân H. E. Cross chỉ huy, đang
trên đường từ châu Âu về Mỹ được lệnh quay trở lại, lùng tìm và tiêu
diệt tàu ngầm phát xít Nhật.
Dưới sự
chỉ huy chung của Hải quân đại tá Aurelius B. Vosseller, nhóm tàu săn
lùng khởi hành từ vùng biển Casablanca ngày 15-6-1944. Chiều tối 22-6,
khi gần đến điểm hẹn giữa tàu ngầm Nhật và tàu ngầm Đức, tàu sân bay
Bogue tung ra những cuộc trinh sát bằng máy bay Avengers để tìm kiếm
chiếc I-52 nhưng không phát hiện được gì.
21
giờ 18 phút, cách quần đảo Cape Verde 1.574km về phía tây ngoài khơi bờ
biển Châu Phi, tàu ngầm I-52 nhận được tín hiệu liên lạc của tàu ngầm
Đức U-530 do Kurt Lange là thuyền trưởng.
6
phút sau đó, cả 2 cùng nổi lên mặt nước. U-530 chuyển cho I-52 một
lượng dầu Diesel khoảng 2.000 lít, 1 bộ mã hóa, 1 radar Naxos Fumb 7
cùng 2 sĩ quan điều khiển radar là Schulze và Behrendt. Bên cạnh đó,
I-52 còn nhận thêm 1 sĩ quan Đức làm nhiệm vụ liên lạc và dẫn đường.
22
giờ 45, I-52 lặn xuống, hướng về bờ biển Na Uy. Đến 23 giờ 40, trung sĩ
Ed Whitlock, chuyên viên điều hành radar trên máy bay Avenger do Hải
quân trung tá Jesse D. Taylor cầm lái, phát hiện dấu hiệu của một chiếc
tàu ngầm. Lập tức, trung tá Jesse D. Taylor thả pháo sáng đồng thời thả
thêm 5 phao định vị.
Những chiếc phao này có gắn microphone để thu những âm thanh phát ra từ chân vịt tàu ngầm.
0
giờ 10 phút, sau khi đã xác định chắc chắn những tín hiệu thu được từ 5
phao định vị là của tàu ngầm, Taylor lập tức tấn công bằng ngư lôi Mark
24. Đây là loại ngư lôi được phát triển bởi Phòng thí nghiệm âm thanh
dưới nước thuộc Đại học Harvard.
Chỉ
vài phút kể từ lúc thả, dưới ánh sáng rực rỡ của những quả pháo sáng,
Taylor thấy mặt biển sủi lên một cuộn sóng hình nấm còn 5 phao định vị
hiển thị trên màn mình một vụ nổ với cường độ rất lớn.
Trên
tàu sân bay USS Bogue, căn cứ vào báo cáo của Taylor, Hải quân Mỹ tin
rằng họ đã đánh chìm tàu ngầm I-52 của phát xít Nhật. Tuy nhiên, khi
chiếc máy bay Avenger của Taylor quay về tàu Bogue để thay thế bằng
chiếc Avenger do trung úy William "Flash" Gordon cầm lái cùng với Fish,
chuyên gia về dò tìm âm thanh dưới nước thì Fish phát hiện vẫn có tiếng
ồn của cánh quạt chân vịt.
Lập tức,
Hải quân đại tá Aurelius B. Vosseller ra lệnh cho Taylor quay lại, tiếp
tục tấn công. Dựa vào tín hiệu của 5 phao định vị thủy âm, Fish đề nghị
trung úy Gordon thả ngư lôi Mark 24 xuống vị trí do Fish chỉ dẫn.
Cũng
như quả ngư lôi do Taylor thả, mặt nước sủi lên nhưng lần này, 30 phút
kể từ khi ngư lôi Mark 24 nổ, chuyên gia Fish cũng như 5 phao định vị
thủy âm không còn ghi nhận bất cứ một âm thanh nào. Họ quay về tàu sân
bay Bogue lúc 1 giờ 57 phút.
Sáng hôm
sau, ngày 23/6, tàu USS Janssen đến nơi máy bay Avenger đã thả ngư
lôi. Trên mặt biển, các thủy thủ phát hiện 1 kiện cao su thiên nhiên, 1
mảnh vải lụa và những mảnh thịt người trôi dập dềnh trên sóng.
Sau
này, khi đã tìm thấy xác tàu I-52 dưới đáy biển, các nhà phân tích tại
Phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng, Đại học Johns Hopkins kết luận rằng
chiếc I-52 bị Taylor tiêu diệt, còn âm thanh chân vịt nghe được bởi Fish
là của chiếc U-530, lúc ấy đang ở cách nơi thả bom khoảng 30 đến 32km.
Mãi đến ngày 2-8-1944, Hải quân Nhật mới chính thức xác nhận chiếc I-52
đã bị đánh chìm.
5,7 chứ không phải 2,2 tấn vàng
Cuối
năm 1994, một chiến dịch mang tên Project Orca được những người Mỹ
chuyên săn tìm các kho báu dưới đáy biển tiến hành để xác định vị trí
tàu I-52. Thời điểm này, 1 tàu của Nga là chiếc Akademik Keldysh cũng
đang thực hiện nhiệm vụ tương tự nhưng cả hai đều thất bại.
Mùa
xuân năm 1995, Paul Tidwell thuộc Công ty thám hiểm đại dương Meridian
Sciences Inc (sau này đổi tên thành Nauticos Corp) tìm thấy xác tàu I-52
nằm theo tư thế gần như thẳng đứng ở độ sâu 5.200m. Hình ảnh từ camera
gửi về cho thấy tháp chỉ huy của I-52 còn nguyên vẹn cùng với số hiệu
của tàu. Chỉ có phần mũi tàu bị phá vỡ do tác động của ngư lôi Mark 24.
Theo
kế hoạch, Paul Tidwell và Công ty Meridian Sciences Inc sẽ tiến hành
trục vớt tàu I-52 để thu hồi 2,2 tấn vàng mà theo thời giá lúc ấy, nó là
25 triệu USD.
Trước
đó, Paul Tidwell đã làm việc với Chính phủ Nhật Bản và nhận được sự
chấp thuận của Cục Phòng vệ (tương đương với Bộ Quốc phòng) bởi lẽ chiếc
I-52 chìm trong vùng biển quốc tế, không quốc gia nào có chủ quyền
nhưng một số ý kiến trong Nội các Nhật cho rằng nên để tàu I-52 nằm yên
tại chỗ vì đó là nấm mồ của thuyền trưởng Uno Kameo và thủy thủ đoàn 94
người cùng 14 kỹ sư.
Tuy nhiên, công
việc trục vớt vẫn tiếp tục với sự cam kết 2,2 tấn vàng thu hồi cùng các
vật dụng trên tàu sẽ được chuyển đến New Orland, bang Lousiana, Mỹ, để
làm sạch và xử lý chống ăn mòn rồi đưa ra trưng bày tại sòng bài
Mandalay, thành phố Las Vegas, bang Nevada.
Sau
3 năm trưng bày, mọi thứ sẽ được trả lại cho Chính phủ Nhật – ngoại trừ
vàng! Bằng cách sử dụng tàu ngầm không người lái Trieste, nhóm của Paul
Tidwell đưa lên được 1 thùng kim loại nhưng khi mở ra, nó không phải là
vàng mà là… thuốc phiện.
Năm
2019, với những thiết bị hàng hải tiên tiến của quân đội Mỹ, Paul
Tidwell một lần nữa quyết tâm đưa 2,2 tấn vàng lên khỏi mặt nước. Thông
qua Công ty Sound Ocean Systems Inc, Tidwell thuê chiếc Yuzhmorgeologiya
- là tàu nghiên cứu lớn của Nga nhưng ngay lập tức, ông biết rằng một
nhóm người Anh cũng sử dụng một tàu Nga là tàu Akademik Keldysh để lấy
vàng trên chiếc I-52.
Ngày 2/5/2019,
Tidwell ra tuyên bố quốc tế về quyền cứu hộ của mình với tàu I-52 để
loại nhóm người Anh ra khỏi cuộc chơi. Ông cho biết sau khi thu hồi 2,2
tấn vàng, I-52 sẽ được đưa lên khỏi mặt nước bằng cách cách bơm vào
khoang tàu một loại bọt đặc biệt, đủ để cho nó tự nổi lên. Toàn bộ chi
phí sẽ tốn từ 5 triệu đến 8 triệu USD.
Đến
ngày 5/5, thông qua những hình ảnh do các tàu ngầm không người lái gửi
về, Tidwell tiến hành một thực nghiệm: Bằng cách làm một chiếc thùng với
kích thước giống như chiếc thùng chứa vàng trên tàu I-52, Tidwell mượn
một số thỏi vàng của Công ty Holdings - chuyên kinh doanh vàng bạc - rồi
bỏ vào cho đầy.
Ông Tidwell khẳng định: “Qua thực nghiệm, với tổng số thùng vàng hiện có trên tàu I-52 thì nó phải là 5,7 tấn…”.
Hiện tại, công việc tìm vàng vẫn đang tiếp tục với quyết tâm của Tidwell: “Sẽ không trở về với hai bàn tay trắng”.
Bí mật về biệt đội "Samurai Nga" quay lưng với người Nhật, giúp quân đội Liên Xô thắng lợi trong Thế chiến II
Mạnh Kiên |

Trong hàng ngũ quân đội đế quốc Nhật Bản năm đó có các binh sĩ người Nga được mệnh danh là "samurai Nga". Họ đã thức tỉnh trước tinh thần chiến đấu anh hùng của Liên Xô trước Đức Quốc xã.
"Samurai Nga"
Sau Nội chiến Nga và sự ra đời của nhà nước Liên Xô, đã có hàng trăm ngàn người rời bỏ đất nước. Nhưng trong thâm tâm họ vẫn mong chờ có một ngày trở về cố hương.
Những
người di cư này một phần đi về châu Âu, phần khác định cư ở Viễn Đông
và chọn Đế quốc Nhật Bản làm nơi nương náu, theo RBTH. Người Nhật bắt
đầu củng cố mối quan hệ với những người di cư Nga sống ở Mãn Châu, đông
bắc Trung Quốc vào những năm 1920.
Vào năm 1931, khi đội quân Quan Đông chiếm đóng khu vực này, một bộ phận đáng kể người Nga đã đi theo hỗ trợ người Nhật.
Người
Nga khi đó rất được quân đội Nhật coi trọng và nắm nhiều vai trò bảo vệ
trọng yếu. Tướng Genzo Yanagita gọi họ là những "samurai Nga", được
huấn luyện cả về quân sự lẫn tư tưởng.
Mặc
dù muốn giữ thái độ trung lập và không hào hứng với kế hoạch chiếm giữ
tất cả các vùng đất của Nga theo kế hoạch của người Nhật nhưng các
"samurai Nga" này vẫn phải giả vờ trung thành để có chốn nương thân.
Nổi
bật nhất trong số các đơn vị quân đội Nga do người Nhật thành lập là
biệt đội "Asano", được đặt theo tên của chỉ huy Asano Makoto. Vào những
thời điểm khác nhau, biệt đối có số lượng quân từ 400 đến 3.500 người.
Được
thành lập vào ngày 29/4/1938, biệt đội bao gồm các đơn vị bộ binh, kỵ
binh và pháo binh. Binh lính của Asano vẫn được quân đội Nhật giám sát
hoàn toàn.
Các chiến binh từ đơn vị
bí mật của biệt đội Asano khi đó được giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt
động phá hoại và trinh sát trên lãnh thổ Viễn Đông của Liên Xô, chuẩn bị
cho một cuộc chiến trong tương lai.
Trong
đó, nhiệm vụ của họ là chiếm giữ hoặc phá hủy các cây cầu và các nút
liên lạc quan trọng, xâm nhập vào các đơn vị Liên Xô để đầu độc nhà bếp
lẫn nguồn nước ở đó.
Sau hai lần
thách thức Hồng quân nhưng không mang lại nhiều kết quả khả quan, đến
cuối năm 1941, giới lãnh đạo Nhật Bản đã từ bỏ kế hoạch chống lại Liên
Xô. Vì không còn nhiệm vụ ban đầu, người Nhật đã tiến hành cải tổ các
toán biệt kích Nga, biến họ từ biệt đội phá hoại và trinh sát đặc biệt
thành các đơn vị hỗn hợp thông thường.
Do
đó, biệt đội Asano đã không còn tư cách bí mật, trở thành một phần của
Trung đoàn Súng trường 162 của Lực lượng vũ trang Mãn Châu Quốc bù nhìn.
Tuy
nhiên, Tokyo vẫn luôn đánh giá cao những người lính Nga trong hàng ngũ.
Vào tháng 5/1944, em trai của Nhật Hoàng Hirohito, Hoàng tử Mikasa
Takahito, đã đến thăm nơi các chiến binh Asano đóng quân.
Trong
bài phát biểu trước các binh sĩ, ông đã nói về việc tăng cường huấn
luyện tinh thần và quân sự của các dân tộc Nhật Bản và Nga.
Phản bội người Nhật
Cuộc
đấu tranh anh hùng của Liên Xô trước Đức Quốc xã đã củng cố tinh thần
yêu nước và thái độ chống Nhật của người Nga ở Mãn Châu. Nhiều sĩ quan
người Nga bắt đầu hợp tác với tình báo Liên Xô. Hóa ra, ngay cả một
trong những thủ lĩnh của biệt đội Asano, Gurgen Nagolyan, thực chất cũng
là một đặc vụ của NKVD (đơn vị cảnh sát mật của Liên Xô).
Vào
ngày 9/8/1945, Hồng quân đánh đến Mãn Châu, các đơn vị quân đội địa
phương người Nga đã có những phản ứng khác nhau. Một phần nhỏ trong số
đó đã chống lại những người lính Liên Xô.
Thiếu
tá Liên Xô Pyotr Melnikov kể lại, phía Nhật Bản thường có những tiếng
la hét bằng ngôn ngữ Nga nhằm gây hoang mang và làm mất phương hướng của
những người lính Liên Xô trong việc tìm ra ai là bạn, ai là thù.
Tuy
nhiên, hầu hết những người lính Nga khi đó đã quyết định đổi phe, sát
cánh cùng những người chiến sĩ máu mủ. Họ đã bắt giữ các chỉ huy Nhật
Bản, thiết lập các đội biệt kích để chiến đấu với quân Nhật và giao lại
các khu định cư cho quân đội Liên Xô sau khi đã kiểm soát.
Mặc
dù về sau này, những "samurai Nga" vẫn bị trừng phạt vì đi theo hàng
ngũ kẻ thù và tham gia vào những kế hoạch phá hoại Liên Xô ngày trước,
nhưng tinh thần của những con người rời xa quê hương nhưng vẫn mang nặng
lòng yêu nước đã được sử sách Nga ghi nhận.



Nhận xét
Đăng nhận xét