RỒ DẠI VÀ THIÊN TÀI 37

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Top 10 Thiên Tài Vĩ Đại Nhất Trong Lịch Sử Thể Giới

Quyết định gây sốc của thiên tài toán học nổi tiếng nhất Trung Quốc khiến bố mẹ nhập viện

Thứ Ba, ngày 02/06/2020 17:30 PM (GMT+7)

Mẹ Lưu Chí Vũ buồn bã đến mức ngã bệnh phải nhập viện khi cậu con trai thần đồng kiên quyết trở thành nhà sư.

Quyết định gây sốc của thiên tài toán học nổi tiếng nhất Trung Quốc khiến bố mẹ nhập viện - 1
Lưu Chí Vũ là thiên tài toán học nổi tiếng bậc nhất Trung Quốc. 
Ngay từ khi còn nhỏ, Lưu Chí Vũ đã bộc lộ tài năng toán học của mình. Trong khi nhiều đứa trẻ bằng tuổi khóc thét khi phải làm các phép tính cộng trừ nhân chia thì Lưu lại tỏ ra say mê và chỉ xem toán như một trò chơi. Lưu Chí Vũ học toán không biết chán và thường dành hàng giờ mỗi ngày bên các phép tính.
Năm 2005, khi còn đang học trung học Lưu Chí Vũ đã nổi tiếng khắp cả nước. Anh được cử làm thí sinh đại diện cho Trung Quốc tham dự kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 31. Tại kỳ thi này, Lưu dễ dàng giành Huy chương vàng mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Thành tích này được Lưu tiếp tục lặp lại trong kỳ thi Olympic kế tiếp.
Với 2 Huy chương vàng toán học, Lưu Chí Vũ được cả Đại học Bắc Kinh và Đại học MIT (Mỹ) chiêu mộ, hứa cấp học bổng toàn phần. Đối với nhiều người, môi trường học tập quốc tế tất nhiên là lựa chọn hàng đầu. Tuy nhiên Lưu lại quyết định nhập học tại khoa toán của Đại học Bắc Kinh. Trong thời gian học tập, Lưu tiếp tục khiến các giảng viên và bạn bè phải ngỡ ngàng vì trí tuệ hơn người của mình.

Ai nấy đều cho rằng sau khi tốt nghiệp, Lưu sẽ có những công trình nghiên cứu toán học làm rạng danh nước nhà. Tuy nhiên thực tế lại không hề như vậy.
Theo lời kể của các sinh viên cùng lớp, trong thời gian học ở Đại học Bắc Kinh, Lưu Chí Vũ đã tham gia một câu lạc bộ Thiền. Cứ ngỡ đây chỉ là hoạt đồng giúp chàng trai thiên tài bình tâm hơn sau mỗi giờ học căng thẳng. Nào ngờ ngay sau khi tốt nghiệp, Lưu Chí Vũ lại quyết định cạo đầu đi tu tại chùa Long Tuyền.
Quyết định gây sốc của thiên tài toán học nổi tiếng nhất Trung Quốc khiến bố mẹ nhập viện - 2
Áp lực từ gia đình và xã hội khiến thần đồng Lưu Chí Vũ quyết định nương nhờ cửa phật. 
Mặc cho bố mẹ van xin, Lưu vẫn không thay đổi quyết định. Mẹ anh sau đó sốc đến mức phải nhập viện, ốm liệt giường suốt nhiều ngày liền. Thực tế, việc Lưu quyết định đi tu không phải do sự bồng bột thoáng chốc. Ngay từ nhỏ, Lưu đã là một người có tính cách hướng nội. Lúc lên cấp 2, anh luôn thích ở một mình và nghĩ về những bí mật trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác khiến Lưu quy y cửa Phật chính là bởi những áp lực từ gia đình.
Sau khi anh đưa ra quyết định này nó đã thu hút sự chú ý của đông đảo mọi người. Một số bày tỏ sự đánh giá cao quyết định của anh, số khác lại bày tỏ sự khó hiểu.
Nhà văn trẻ Giang Phương Châu, Trung Quốc cũng bày tỏ ý kiến của mình sau khi nghe tin Lưu Chí Vũ trở thành một nhà sư. Cô tin rằng suy nghĩ của anh về cuộc sống và thế giới rất sâu sắc, không có gì ngạc nhiên khi anh quyết định như vậy.
Những người trước giờ ngưỡng mộ Lưu Chí Vũ nghĩ rằng anh thờ ơ với danh tiếng và tài sản, dám chọn cho mình một con đường khác biệt với số đông, điều đó thật đáng ngưỡng mộ. Trong khi đó, các nhà giáo dục cảm thấy rằng việc anh từ chối học bổng toàn phần của Học viện công nghệ Massachusetts, trở thành nhà sư là điều rất lãng phí tài năng và nguồn lực giáo dục.
Nguồn: https://www.doisongphapluat.com/giao-duc/quyet-dinh-gay-soc-cua-thien-tai-toan-hoc-noi-tieng-nha...
Bà ngoại nuôi cháu trai 5 tuổi thành thần đồng, bí quyết gói gọn trong 3 điều
3 phương pháp mà người bà này chia sẻ rất đơn giản, bất kỳ cha mẹ nào cũng đều có thể áp dụng.

Theo Thanh Tùng (Đời sống & Pháp luật)

Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất

Boris Kipriyanovich là một thiên tài với vô số những khả năng đặc biệt ngay từ lúc mới lọt lòng. Dù vậy chàng trai này tự nhận mình là người sao Hỏa và có những lời tiên tri đáng sợ.

Thiên tài từ thuở lọt lòng

Giống như bao người mẹ khác, bà Nadezhda trải qua một ca sinh hạ mẹ tròn con vuông vào ngày 11/1/1996. Tuy nhiên con trai bà, cậu bé Boris Kipriyanovich lại là một thiên tài khác thường hơn những đứa trẻ khác.
Nhớ lại quá trình khi sinh, bà Nadezhda cho biết bà không cảm nhận được cơn đau và mọi thứ rất nhanh chóng. Cậu bé vừa sinh ra đã có ánh mắt của một người lớn với cặp mắt nâu mở to. Ngoài điều đó ra, Boris có mọi biểu hiện của những đứa trẻ sơ sinh bình thường khác.
Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất  1
Boris Kipriyanovich còn được gọi với cái tên thân quen là Boriska, sau 2 tuần chào đời đã có thể tự ngẩng đầu lên. Một tháng sau, cậu bé biết nói. Năm lên 1 tuổi rưỡi, Boriska có thể đọc, vẽ tranh và tô màu như một đứa trẻ tiểu học. Năm 2 tuổi, cậu đã có khả năng ngôn ngữ và tí nhớ đáng kinh ngạc.
Cả bố mẹ của Boriska khẳng định không hề dạy bảo gì về vũ trụ hay những thứ ngoài không gian. Tuy nhiên cậu bé đã ngồi kể vanh vách những câu chuyện về sao Hỏa, về những nền văn minh ngoài Trái Đất.
Đam mê với vũ trụ và không gian của Boriska ngày càng lớn dần. Đến một ngày, cậu bé khiến không chỉ gia đình mà cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên bố kiếp trước mình được sinh ra trên sao Hỏa, sau đó trở thành một phi công du hành vũ trụ và được tái sinh trên Trái đất để thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt.
Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất  2
Ban đầu, nhiều nhà nghiên cứu và nhà khoa học đã bất ngờ trước lời nói của Boriska nên đến tận nơi để tìm hiểu. Họ đã từng không tin vào những lời nói này và cho rằng Boriska "có vấn đề về tâm thần". Cậu thanh niên được miêu tả là một người cực kỳ nhút nhát và có trí thông minh chỉ trên mức trung bình một chút, hoàn toàn là một người bình thường.
Tuy nhiên, không ai lý giải được những khả năng đặc biệt của Boriska, đồng thời càng không thể hiểu được những kiến thức nổi bật của Boriska về hệ thống hành tinh và vũ trụ có từ đâu. Điều này đã gây bối rối cho các nhà khoa học suốt một thời gian dài.

Lời tiên tri đáng sợ về số phận của Trái Đất

Ngay từ khi còn nhỏ, Boriska đã bắt đầu nói với mọi người về những tội lỗi của họ. Cậu nói với một chàng trai gặp trên đường rằng anh ta nên từ bỏ ma tuý, nói với một ông chồng không nên lừa dối vợ... Những lời tiên tri này thường cảnh báo mọi người về các rắc rối và tai họa sắp đến.
Nadezhda để ý rằng con trai của bà thường cảm thấy khó chịu về một thảm họa nghiêm trọng sắp đến. "Khi chiếc tàu ngầm Kursk sắp chìm, Boriska tỏ vẻ rất đau đớn. Nó cũng cảm thấy đau khổ trong cuộc khủng hoảng con tin ở Beslan và không chịu đi học trong những ngày diễn ra tấn thảm kịch này", bà nhớ lại.
Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất  3Thảm kịch chìm tàu ngầm khiến cậu bé Boris vô cùng đau lòng. Ảnh: Internet
Khi được hỏi cảm giác về những ngày xảy ra thảm kịch ở Beslan, Boriska cho biết cậu như bị đốt nóng từ bên trong. "Giống như có một ngọn lửa đang cháy ở bên trong tôi. Tôi biết rằng câu chuyện ở Beslan sẽ có một kết cục khủng khiếp".
Boriska hoàn toàn lạc quan về tương lai của nước Nga. "Tình hình trong nước dần được cải thiện. Tuy nhiên, hành tinh trái đất sẽ trải qua hai năm nguy hiểm là 2009 và 2013. Những thảm họa này có liên quan đến nước" - cậu bé tiên đoán.
Boriska tuyên bố mình là người đến từ sao Hỏa. Cậu kể lại Hỏa tinh từng gặp một cuộc chiến đẫm máu, hủy hoại bầu khí quyển và người dân ở đây.
Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất  4
Theo lời của Boriska, người sao Hỏa bất tử và ngừng lão hóa ở tuổi 35. Họ thường cao hơn 2m, được trang bị công nghệ tiên tiến và có khả năng du hành giữa các vì sao. Người sao Hỏa thở bằng khí carbon dioxide.
Trong lần phỏng vấn đó có đoạn sau: “Chúng tôi không sợ chết, vì chúng tôi bất tử. Từng xảy ra một tai nạn thảm khốc trên sao Hỏa nơi tôi sinh ra và lớn lên. Những người như tôi vẫn còn sống ở đó. Chiến tranh hạt nhân đã xảy ra trên sao Hỏa, mọi thứ bị thiêu rụi, chỉ một vài người sống sót. Họ đã lại dựng nơi trú ẩn và tạo vũ khí mới”. “Mọi thứ đều thay đổi. Người sao Hỏa chủ yếu thở bằng carbon dioxide. Nếu họ bay tới Trái đất, chắc hẳn họ sẽ phải sà xuống những ống khói phả ra loại khí này”, Boriska chia sẻ. Vậy vì sao cậu từ sao Hỏa mà lại không cần carbon dioxide? – Tôi đang mang hình hài con người này, nên phải thở bằng oxy, nhưng các ông biết không, oxy khiến con người chóng già”, Boriska trả lời.
Theo TS John Brandenburg từ Đại học California, có đủ bằng chứng cho thấy ít nhất hai vụ nổ hạt nhân lớn từng xảy ra trên bề mặt Sao Hỏa trong quá khứ. Kết luận này được dựa trên dấu vết của các nguyên tố phóng xạ cùng các vết lõm (hố bom tiềm năng) trên bề mặt sao Hỏa. Nói cách khác, ông cho rằng Sao Hỏa từng có một nền văn minh có khả năng phát triển bom nguyên tử.
Cậu bé thiên tài tự nhận mình là người sao Hỏa, đưa ra tiên tri đáng sợ về Trái Đất  5
Cậu lo ngại Trái đất cũng có thể gặp số phận tương tự trong tương lai. Điều này càng thêm rõ hơn khi Boriska quan tâm đặc biệt tới những căng thẳng về vấn đề hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên.
Boriska nói rằng nếu con người trên Trái đất cứ phớt lờ những lời tiên tri của mình thì có thể sẽ gánh chịu những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, giống như "người anh em" sao Hỏa đã từng chịu đựng.
Mặc dù hiện nay, chưa có bất cứ khẳng định nào về những lời nói của Boriska, càng chưa có nghiên cứu nào khẳng định có sự sống trên sao Hỏa, tuy nhiên nhiều người vẫn cảm thấy lo sợ trước những dự đoán của Boriska về ngày tận thế của Trái đất. Cho đến nay, thiên tài về vũ trụ này vẫn còn là bí ẩn đối với các nhà khoa h
Tin Liên Quan
Thành Đạt (tổng hợp)

Có phải Albert Einstein là thiên tài vĩ đại cuối cùng?

Thứ năm, ngày 04/06/2020 20:30 PM (GMT+7)
Các bước đột phá lớn trong khoa học là lĩnh vực của các cá nhân chứ không phải của viện nghiên cứu. Galileo, Copernicus, Edison và Einstein đã phải lao động trong phòng thí nghiệm riêng hay suy tư về vũ trụ trong các nghiên cứu cá nhân.
Bình luận 0
Nhưng trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là từ sau thành công phóng vệ tinh Sputnik của Xô Viết vào năm 1957, xu hướng đã tạo ra nhiều viện nghiên cứu lớn thúc đẩy sự hợp tác và những khoản tài trợ lớn.
Hiện nay đạt được bước tiến khoa học lớn trở nên khó khăn hơn. Một nghiên cứu của các nhà khoa học giành được giải thưởng Nobel năm 2005 phát hiện thấy tích lũy kiến thức qua thời gian buộc các khối óc lớn lao động nhiều hơn trước khi họ đạt được đột phá. Kỷ nguyên mà các nhà tư tưởng tạo ra phát kiến vĩ đại đã tăng 6 năm trong thế kỷ 20.
Tuy nhiên đừng vội đặt ra ngoài các thiên tài riêng lẻ lúc này.
Sự cân bằng giữa phương pháp cá nhân và phương pháp của viện nghiên cứu là một ý kiến tốt nhất, theo giả thuyết của kỹ sư Adrian Bejan thuộc Đại học Duke – người cho rằng các viện nghiên cứu được lợi ích nhiều nhất từ sự đồng tồn tại của các nhóm lớn tự tổ chức và các nhà khoa học đơn lẻ đưa ra những sáng kiến vĩ đại.
Bejan viết trên số ra tháng 12 tờ International Journal of Design & Nature and Ecodynamics rằng: “Lịch sử thành tựu khoa học được đánh dấu bởi các nhà nghiên cứu riêng lẻ, từ Archimedes đến Newton và Darwin. Các nhà tư tưởng độc lập rất có ảnh hưởng xuyên suốt tiến trình lịch sử bởi bản thân khoa học tự nhiên đã có lợi đối với trí óc của họ cũng như sự phồn vinh của xã hội. Mặc dù xu hướng thiên về các nhóm nghiên cứu lớn, cá nhân vẫn luôn hưng thịnh”.
Thế nhưng quan niệm về thiên tài đơn lẻ được đánh giá hơi quá mức, ngay cả các thiên tài cũng xác nhận điều này.
Như Isaac Newton chẳng hạn, ông nói rằng ông không có thành tựu gì trong nghiên cứu của mình, ví dụ như quy tắc chuyển động và trọng trường đó là bằng cách “đứng trên vai những người khổng lồ”.
Áp lực Xô Viết
Tiến trình nghiên cứu hiện đại thay đổi bất ngờ sau ngày 4 tháng 10 năm 1957, khi Xô Viết cũ trở thành quốc gia đầu tiên đưa tàu Sputnik vào vũ trụ. Sự kiện đã châm ngòi cho quá trình phát triển ngoạn mục trong nguồn tài trợ Hoa Kỳ cho các nhóm nghiên cứu lớn thuộc viện nghiên cứu. Mô hình này được các viện nghiên cứu nhỏ hơn áp dụng, họ cũng đồng thời hình thành nhóm nghiên cứu lớn hơn để thu hút tài trợ.
Tuy nhiên, các nhà tư tưởng lớn độc lập không hề biến mất. Bejan cho rằng họ vẫn tiếp tục phát triển. Ông nghĩ rằng giả thuyết xây dựng của ông ra đời vào năm 1996 có thể giải thích lý do.



Có phải Albert Einstein là thiên tài vĩ đại cuối cùng? - Ảnh 1.
Khi nào Einstein thế hệ kế tục sẽ xuất hiện ? ( Ảnh : poster.ne )


Giả thuyết công bố rằng cái gọi là hệ thống chảy tiến hóa để cân bằng và tối thiểu hóa tính không hoàn hảo, làm giảm xích mích và các hình thức kháng cự khác sao cho lượng năng lượng sử dụng thất thoát ít nhất. Các ví dụ trong tự nhiên bao gồm các dòng sông, con suối bồi đắp nên đồng bằng hoặc các đường khí phức tạp trong lá phổi.
Trong nghiên cứu do con người tiến hành, Bejan nhận thấy có hai dòng chảy chính: dòng ý tưởng dưới dạng phát hiện khoa học, và dòng hỗ trợ được đo bởi các tác nhân hữu hình như quỹ tài trợ và phòng thí nghiệm.
Ông nói: “Các nhóm nghiên cứu thành công là các nhóm tự phát triển và biến đổi qua thời gian. Ví dụ, một cá nhân nảy ra ý tưởng mới, anh ta nhận được tài trợ, và một nhóm nghiên cứu bắt đầu hình thành liên quan đến ý tưởng đó. Điều này tạo nên một khuôn khổ trong đó nhiều nhóm nhỏ đóng góp vào ý tưởng chung”.
Biệt giam
Bejan nghĩ rằng cực đoan không có lợi cho khoa học.
Ông nói: “Nếu một viện nghiên cứu chỉ bao gồm các nhà nghiên cứu đơn lẻ, nó sẽ có nhiều ý tưởng nhưng lại có ít hỗ trợ. Mặt khác, một nhóm lớn vì lợi ích số đông sẽ có nhiều hỗ trợ nhưng lại có ít sáng kiến hơn tính theo số lượng nhà nghiên cứu”.
Vấn đề này là hình ảnh thu nhỏ của nghiên cứu kiểu Xô Viết cũ, nơi mà chính phủ đặt ra mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, đồng thời quy định cấu trúc nguyên khối với các nhà khoa học có cùng mục đích.
Không có sự bất đồng thừa kế nào giữa các đế chế nghiên cứu và các cá nhân, mà là sự cân bằng để phục vụ cho lợi ích lớn hơn. Do đó, các nhà quản lý viện nghiên cứu cần phải thoải mái hơn với các cá nhân có ý tưởng lớn.
Bejan cho biết: “Tôi cho rằng những người quản lý ép buộc cộng sự của họ làm việc theo nhóm lớn chỉ để thu hút tài trợ, để tăng lý lịch của họ hoặc để tốn nhiều giấy hơn. Họ đang hoạt động đối lập với bản chất tự tổ chức của viện nghiên cứu cũng như nghiên cứu. Sự liên kết tuyệt đối trong các nhóm lớn không xảy ra và sẽ không bao giờ xảy ra”.
Einstein thế hệ kế thừa?
Một số người lập luận rằng bản chất của thiên tài là cái không thể hủy bỏ hoặc không thể ngó ngàng tới.
Một nghiên cứu kéo dài 35 năm công bố vào năm 2006 về trẻ em có năng khiếu toán học bẩm sinh sẽ sống như thế nào trong cuộc đời của chúng đã tiết lộ thành phần của một bộ óc vĩ đại nhiều sáng kiến: khả năng nhận thức, cơ hội giáo dục, niềm đam mê và chăm chỉ làm việc. Không phải tất cả mọi người khi sinh ra thông minh rồi sẽ trở thành thiên tài.
Vậy khi nào Einstein thế hệ kế tục sẽ xuất hiện?
Đó là một câu hỏi mà ngay cả Einstein cũng không thể trả lời. Nhưng theo các đối thủ thiên tài vĩ đại khác của Einstein, hai thập kỷ phân cách giữa Einstein và Newton chẳng có nghĩa lý gì. Điều đó có nghĩa là Einstein hậu thế có thể đang là một đưa trẻ sơ sinh hoặc cũng có thể chưa ra đời.
PV (theo LiveScience)


2 sai lầm lớn nhất của Einstein: Bộ óc vĩ đại nào khiến ông 'tâm phục khẩu phục' thừa nhận mình sai?

Trang Ly |


2 sai lầm lớn nhất của Einstein: Bộ óc vĩ đại nào khiến ông 'tâm phục khẩu phục' thừa nhận mình sai?

Trước những bằng chứng khoa học hiển nhiên, thiên tài vật lý Einstein cũng phải thừa nhận rằng mình đã phạm sai lầm lớn...

Là một trong những nhà vật lý tiên phong dự đoán sự tồn tại của Lỗ đen - 'Quái vật' khủng khiếp của vũ trụ và phải mất hơn 100 năm sau nhân loại mới có đủ trình độ để chứng minh dự đoán của ông về Lỗ đen là đúng; Là bộ óc thiên tài lập nên phương trình thế kỷ "E=mc2" thể hiện mối tương quan giữa năng lượng và vật chất; Là người ủng hộ và hết lòng hành động vì chủ nghĩa hòa bình...  nhưng thiên tài mang tên Albert Einstein (1879 - 1955) ấy cũng có lúc phạm sai lầm. 
Đâu là 2 sai lầm lớn nhất của ông? Và ông đã thừa nhận một trong hai sai lầm ấy như thế nào? Mời độc giả theo dõi bài viết theo quan điểm của Giáo sư vật lý học François Vannucci, nhà nghiên cứu về vật lý hạt, chuyên gia về neutrino, thuộc trường Đại học Paris Diderot (Pháp). Công trình được đăng trên The Convers.
SAI LẦM THỨ 1
Đối với giới khoa học đầu thế kỷ 20, năm 1905 được học giả quốc tế công nhận "Năm kỳ diệu của Einstein" khi ông công bố 4 công trình đột phá về hiệu ứng quang điện, về chuyển động Brown, thuyết tương đối, và phương trình E=mc2.
Trong công trình khoa học bậc thầy của Albert Einstein - Thuyết tương đối - nhà bác học người Đức đã lập được các phương trình mô tả sự tiến hóa của vũ trụ theo thời gian. Giải phương trình này cho thấy vũ trụ không ổn định, không phải là một khối cầu khổng lồ với thể tích không đổi với các ngôi sao trượt xung quanh, như đã được tin vào thời điểm đó.
Vào đầu thế kỷ 20, con người sống với ý tưởng được thiết lập về một vũ trụ tĩnh nơi chuyển động của các ngôi sao không bao giờ thay đổi. Điều này có lẽ đến từ những lời dạy của nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Aristotle (384 – 322 TCN), khi ông cho rằng bầu trời là bất biến, không giống như Trái Đất có thể bị diệt vong.
Nhận định này đã gây ra sự bất thường trong lịch sử: Năm 1054, người Trung Quốc, Nhật Bản, thổ dân Bắc Mỹ nhận thấy sự xuất hiện của một ánh sáng mới trên bầu trời, nhưng không có tài liệu châu Âu nào đề cập đến nó. Tuy nhiên, nó có thể được nhìn thấy trong ánh sáng ban ngày và kéo dài trong vài tuần. Đó là một siêu tân tinh, nghĩa là một ngôi sao đang hấp hối. Tinh vân Con cua (Crab Nebula) chính là tàn dư của Thiên Quan khách tinh SN 1054 này.
2 sai lầm lớn nhất của Einstein: Bộ óc vĩ đại nào khiến ông tâm phục khẩu phục thừa nhận mình sai? - Ảnh 1.
Tinh vân Con cua, được quan sát ngày hôm nay ở các bước sóng khác nhau, trước đó nó không được người châu Âu ghi lại khi nó xuất hiện vào năm 1054. Nguồn các bức ảnh đo tinh vân ở các bước sóng khác nhau: Radio: NRAO / AUI và M. Bietenholz, JM Uson, TJ Cornwell; Hồng ngoại: NASA / JPL-Caltech / R. Gehrz, Đại học Minnesota; Ánh sáng nhìn thấy được: NASA, ESA, J. Hester và A. Loll, Đại học bang Arizona; Tia cực tím: NASA / Swift / E. Hoversten, PSU; X-quang: NASA / CXC / SAO / F.Seward và cộng tác viên; Tia gamma: NASA / DOE / Fermi LAT / R. Buehler
Tư tưởng chiếm ưu thế ở châu Âu (theo Aristotle) đã ngăn cản người ta chấp nhận một hiện tượng hoàn toàn trái ngược với ý tưởng về một bầu trời không thay đổi. 
Siêu tân tinh là một sự kiện rất hiếm, chỉ có thể quan sát bằng mắt thường một lần trong một thế kỷ. Lần gần đây nhất là từ năm 1987. Điều này gần như đúng khi nghĩ rằng bầu trời không thay đổi - ít nhất là dưới quy mô của một đời người.
Để phù hợp với ý tưởng về vũ trụ tĩnh, Einstein đã đưa một hằng số vũ trụ vào các phương trình của mình, điều này làm "đóng băng" trạng thái của vũ trụ. Trực giác của Einstein khiến ông lạc lối. Cho đến năm 1929...
Trở về năm 1919, nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble (1889 – 1953) khi ấy đến làm việc tại Đài thiên văn Wilson ở California. Khi đồng nghiệp của Edwin Hubble tin rằng tinh vân (đám mây sao) đều gói gọn trong Dải Ngân Hà nhưng ông lại không nghĩ vậy.
Bằng quan sát tỉ mỉ của mình qua kính viễn vọng Hooker 100 inch - loại kính viễn vọng mạnh nhất thế giới vừa được chế tạo khi đó - Edwin Hubble đã khiến cả thế giới kinh ngạc với phát hiện: Vũ trụ đang giãn nở vào năm 1929.
Ông đã chụp những bức ảnh đẹp nhất có thể về tinh vân, cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng ít nhất một số trong số chúng vượt xa Dải Ngân Hà. Bằng cách khám phá các thiên hà khác, Edwin Hubble đã mở rộng vũ trụ 100 lần.
Khám phá này khiến chỉnh Einstein cũng ngạc nhiên tột cùng và buộc phải 'tâm phục khẩu phục' thừa nhận rằng ông đã phạm phải sai lầm lớn nhất của mình. Tên của Edwin Hubble về sau được NASA lấy để đặt cho Kính viễn vọng không gian Hubble.
SAI LẦM THỨ 2
Cơ học lượng tử phát triển cùng thời với Thuyết tương đối. Nó mô tả vật lý ở quy mô nhỏ vô hạn. Einstein đã đóng góp rất lớn cho lĩnh vực này vào năm 1905, bằng cách giải thích hiệu ứng quang điện là sự va chạm giữa các electron và photon - nghĩa là, các hạt vô hạn mang năng lượng tinh khiết. Nói cách khác, ánh sáng, theo truyền thống được mô tả là sóng, hoạt động giống như một dòng các hạt. Chính bước tiến này, không phải là lý thuyết tương đối, đã mang lại cho Einstein giải thưởng Nobel năm 1921.
Nhưng bất chấp đóng góp quan trọng này, ông vẫn một mực phủ định đặc điểm quan trọng của cơ học lượng tử - rằng thế giới của các hạt không bị ràng buộc bởi tính quyết định nghiêm ngặt của vật lý cổ điển. Thế giới lượng tử là xác suất. Chúng ta chỉ biết làm thế nào để dự đoán xác suất xảy ra giữa một loạt các khả năng.
Trong sự khăng khăng của Einstein, một lần nữa chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của triết học Hy Lạp lên tư tưởng của ông.
Triết gia vĩ đại của Hy Lạp Plato (427-347 TCN) đã dạy rằng suy nghĩ nên duy trì lý tưởng, thoát khỏi các tình huống thực tế - một ý tưởng xuất sắc nhưng không tuân theo giới luật của khoa học. Kiến thức đòi hỏi sự nhất quán hoàn hảo với tất cả các sự kiện được dự đoán, trong khi niềm tin dựa trên khả năng, được tạo ra bởi các quan sát một phần. 
Bản thân Einstein đã bị thuyết phục rằng tư tưởng thuần túy có khả năng nắm bắt hoàn toàn thực tế, nhưng tính ngẫu nhiên lượng tử mâu thuẫn với giả thuyết này.
Trong thực tế, sự ngẫu nhiên này không phải là một điều gì đao to búa lớn vì nó bị hạn chế bởi nguyên lý bất định của Heisenberg. [Nguyên lý mang tên của Werner Karl Heisenberg (1901 – 1976) là một nhà vật lý lý thuyết người Đức nổi danh của thế kỷ 20. Ông là một trong những người sáng lập ra thuyết cơ học lượng tử và đoạt giải Nobel vật lý năm 1932].
Nguyên lý này phát biểu rằng: "Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác".
2 sai lầm lớn nhất của Einstein: Bộ óc vĩ đại nào khiến ông tâm phục khẩu phục thừa nhận mình sai? - Ảnh 2.
Kết quả của Thí nghiệm giao thoa của Thomas Young: Mô hình được hình thành từng chút một với sự xuất hiện của các electron (8 electron trên ảnh a, 270 electron trên ảnh b, 2.000 trên ảnh c và 60.000 trên ảnh d) cuối cùng tạo thành các vân dọc gọi là giao thoa Rìa. Nguồn: Tiến sĩ Tonomura / Wikimedia
Nguyên tắc này áp đặt tính xác định tập thể lên các nhóm hạt - một electron bản thân nó đã tự do, vì chúng ta không biết cách tính quỹ đạo của nó khi để lại một lỗ trống, nhưng một triệu electron vẽ hình nhiễu xạ (Diffraction) cho thấy các vệt sáng và tối sẽ giúp chúng ta dễ dàng tính toán hơn (xem hình).
Einstein đã không chấp nhận điều này, ông nói: "Chúa Trời không chơi trò súc sắc với vũ trụ". Einstein tưởng tượng sự tồn tại của các biến ẩn, tức là, những con số chưa được khám phá vượt quá khối lượng, điện tích mà các nhà vật lý sử dụng để mô tả các hạt. Nhưng thí nghiệm không hỗ trợ ý tưởng này. 
Không thể phủ nhận rằng, thực tế tồn tại vượt qua sự hiểu biết của chúng ta - chúng ta không thể biết mọi thứ về thế giới nhỏ bé vô hạn.
MÂU THUẪN CỦA NHÀ VẬT LÝ VĨ ĐẠI
Một trong những câu nói nổi tiếng của Einstein đó là: "Logic đưa anh từ điểm A đến điểm B. Trí tưởng tượng đưa anh đến khắp mọi nơi".
Trong quá trình của phương pháp khoa học, vẫn còn một giai đoạn không hoàn toàn khách quan. Đây là những gì dẫn đến khái niệm hóa một lý thuyết, và Einstein, với các thí nghiệm tư tưởng của mình, đưa ra một ví dụ nổi tiếng về nó. Ông nói rằng trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. 
Thật vậy, khi nhìn vào các quan sát khác nhau, một nhà vật lý phải tưởng tượng ra một định luật cơ bản. Đôi khi, một số mô hình lý thuyết cạnh tranh để giải thích một hiện tượng, và chỉ đến thời điểm này logic mới tiếp tục trở lại.
Theo cách này, sự tiến bộ của các ý tưởng nảy sinh từ cái được gọi là trực giác. Đó là một bước nhảy trong kiến ​​thức vượt ra ngoài sự hợp lý thuần túy. Ranh giới giữa khách quan và chủ quan không còn hoàn toàn vững chắc. Ý nghĩ đến từ các tế bào thần kinh dưới tác động của các xung điện từ, một số trong số chúng đặc biệt màu mỡ, như thể có một mạch ngắn giữa các tế bào, nơi cơ hội đang hoạt động.
2 sai lầm lớn nhất của Einstein: Bộ óc vĩ đại nào khiến ông tâm phục khẩu phục thừa nhận mình sai? - Ảnh 3.
Nhưng những trực giác này không giống nhau đối với mọi người - bộ não Einstein đã tạo ra phương trình thế kỷ "E=mc2", trong khi bộ não của nhà văn người Pháp Marcel Proust (1871-1922) - một trong những đại văn hào vĩ đại nhất thể kỷ 20 - đã đưa ra một phép ẩn dụ đáng ngưỡng mộ. Trực giác bật lên ngẫu nhiên, nhưng tính ngẫu nhiên này bị hạn chế bởi từng kinh nghiệm, văn hóa và kiến ​​thức của từng cá nhân.
Einstein là một nhân vật điển hình về tinh thần sáng tạo và chuộng tự do; vậy mà ông vẫn giữ thành kiến ​​của mình. Sai lầm đầu tiên của ông có thể tóm gọn rằng: "Tôi không tin vào sự khởi đầu của vũ trụ". Tuy nhiên, các thí nghiệm đã chứng minh nhà bác học ấy đã sai. 
Đến sai lầm thứ hai, khi ông nói rằng "Chúa Trời không chơi trò súc sắc với vũ trụ" có nghĩa là, "Tôi từ chối tin vào cơ hội". Cơ học lượng tử liên quan đến tính ngẫu nhiên bắt buộc. Câu nói của Einstein đặt ra câu hỏi "Liệu ông ấy có tin vào Chúa trong một thế giới không có cơ hội hay không?" điều này sẽ hạn chế rất nhiều sự tự do của chúng ta, khi đó chúng ta sẽ bị giới hạn trong chủ nghĩa quyết định tuyệt đối. 
Và Einstein một mực tuân theo ý nghĩa này. Đối với ông, bộ não con người nên có khả năng biết vũ trụ là gì. 
Với sự khiêm tốn hơn rất nhiều, Werner Karl Heisenberg dạy chúng ta rằng vật lý bị giới hạn trong việc mô tả cách tự nhiên phản ứng trong hoàn cảnh nhất định. Lý thuyết lượng tử chứng minh rằng sự hiểu biết tổng thể không có sẵn cho chúng ta. Đổi lại, nó cung cấp sự ngẫu nhiên mang lại sự thất vọng và nguy hiểm, nhưng cũng có lợi ích.
Einstein, một nhà vật lý huyền thoại, là ví dụ hoàn hảo của một sinh vật giàu trí tưởng tượng. Do đó, việc ông từ chối tính ngẫu nhiên là một nghịch lý, bởi vì tính ngẫu nhiên là điều làm cho trực giác có thể cho phép các quá trình sáng tạo trong cả khoa học và nghệ thuật sản sinh ra.
Những mốc chính trong cuộc đời của Albert Einstein
- Ngày 14/3/1879: Albert Einstein được sinh ra tại Ulm, tiểu bang Baden-Württemberg, Đức.
- Tháng 1/1903: Einstein và Marić cưới nhau, sinh được hai người con là Hans Albert Einstein và Eduard Einstein. Ngày 14/2/1919, 2 người ly dị.
- Năm 1905: Còn gọi là "Năm kỳ diệu của Einstein" khi ông công bố 4 công trình đột phá về hiệu ứng quang điện, về chuyển động Brown, thuyết tương đối, và phương trình E=mc2
- Năm 1916, Einstein được bổ nhiệm làm chủ tịch của Hội Vật lý Đức (1916–1918).
- Ngày 2/6/1919, Einstein kết hôn với Elsa Löwenthal.
- Năm 1921, Einstein nhận giải Nobel Vật lý vì những giải thích về hiện tượng quang điện và các đóng góp cho vật lý.
- Năm 1925, Einstein nhận huy chương Copley từ Hội Hoàng gia Anh.
- Tháng 10/1933, Einstein cùng vợ Elsa quay trở lại Mỹ và đảm nhiệm chức vụ giáo sư tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton tại Princeton, New Jersey, Mỹ.
- Ông làm việc tại Princeton cho đến khi qua đời vì vỡ động mạch chủ năm 1955 tại Bệnh viện Princeton.
Bài viết sử dụng nguồn: Scitechdaily
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32