CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 175

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Đây Là Trận Đánh Khủng Khiếp Nhất Trên Đất Việt Nam Khiến RUNG TRỜI LỞ ĐẤT - Bí Ẩn Lịch Sử Việt Nam

10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ

Thứ năm, ngày 21/05/2020 14:32 PM (GMT+7)
An Dương Vương được cho là khai sinh ra nghệ thuật chiến tranh du kích. Trên chiến trường, Quang Trung - Nguyễn Huệ chỉ có tiến, không lùi.
Bình luận 0



10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 1.
Dưới sự lãnh đạo của Thục Phán An Dương Vương (?- 208 TCN/179 TCN), người Việt đã đánh bại đội quân xâm lược nhà Tần - một trong những triều đại phong kiến mạnh của lịch sử Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu nhận định An Dương Vương chính là vị vua đã khai sinh ra nghệ thuật chiến tranh du kích ở nước ta.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 2.
Triệu Quang Phục (524-571) là tướng của Lý Nam Đế. Có tài cầm quân, ông được hoàng đế nhà Tiền Lý trao lại binh quyền trước khi qua đời. Triệu Quang Phục đã đánh đuổi đội quân xâm lược đông đảo của nhà Lương do tướng Trần Bá Tiên - người sau này lập nên nhà Trần ở Trung Quốc - chỉ huy. Bằng chiến thuật đánh du kích ở vùng sông nước Khoái Châu (Hưng Yên), Triệu Quang Phục giết viên tướng Dương Sàn, giành lại độc lập từ năm 545 đến 571.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 3.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, Phùng Hưng (?-791) ở làng Đường Lâm, thuộc Giao Châu, nay là Sơn Tây, Hà Nội. Ông vốn con nhà hào phú, có sức vật trâu, đánh hổ. Khoảng năm 766, Phùng Hưng cùng em trai là Phùng Hải nổi dậy chống lại ách thống trị của nhà Đường. Dưới sự chỉ huy của Phùng Hưng, nghĩa quân đã đánh bại kẻ thù xâm lược phương Bắc, khiến viên đô hộ phủ Cao Chính Bình sợ quá phát bệnh mà chết.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 4.
Ngô Quyền (897-944) cũng là người làng Đường Lâm. Ông có tài cầm quân, được chủ tướng Dương Đình Nghệ tin yêu và gả con gái. Sau khi Dương Đình Nghệ qua đời, Ngô Quyền tiếp tục sự nghiệp của bố vợ. Ông đánh bại Kiều Công Tiễn và tiêu diệt 200.000 quân Nam Hán xâm lược do hoàng tử Lưu Hoằng Tháo chỉ huy. Theo sử sách, chỉ bằng một trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã khiến vua Nam Hán khiếp vía, bỏ mộng xâm chiếm nước ta. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là mốc son chói lọi trong sử Việt, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 5.
Sau khi Ngô Quyền qua đời, đất nước lại vào thời kỳ loạn lạc, các sứ quân thi nhau chiếm cứ. Tình trạng nội chiến liên miên chỉ kết thúc khi Vạn thắng vương Đinh Bộ Lĩnh (924-979) xuất hiện. Sau khi Đinh Tiên Hoàng đánh bại 12 sứ quân, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 6.
Lê Hoàn (941-1005) là một trong những vị vua trong sử Việt có tài năng trải đều ở các lĩnh vực như quân sự, chính trị, ngoại giao… Dưới thời ông, Đại Cồ Việt đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống năm 981, đặt nền móng ngoại giao cho nước Việt. Không chỉ khiến quân Chiêm Thành khiếp sợ, Lê Hoàn còn khiến triều đình phương Bắc nể phục.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 7.
Nhà Trần 3 lần đánh bại Mông - Nguyên, đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử. Chiến công đó mang đậm dấu ấn của những nhà cầm quân tài ba như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật… Hậu thế cũng không thể quên vai trò của Trần Thánh Tông trong cả 3 cuộc chiến. Cụ thể, ông tham gia đánh giặc từ khi còn là hoàng tử Trần Hoảng trong cuộc chiến tranh chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258; thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông trong kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai và thứ ba vào các năm 1285, 1287-1288.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 8.
Xuất thân từ nông dân, Lê Lợi lãnh đạo quần hùng đánh đuổi quân Minh xâm lược, giành lại độc lập sau 20 năm bị xâm chiến. Chiến công lừng lẫy đó đã nói lên tài năng kiệt xuất của ông. Theo các tư liệu lịch sử còn lưu lại, trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh (1418-1427), Lê Lợi có nhiều quyết định quân sự sáng suốt, mang tính bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 9.
Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) có tước hiệu là Dương Quận Công, được người Đàng Trong gọi là chúa Hiền. Ông là con trai thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Lan và là vị chúa thứ tư của dòng họ Nguyễn. Ngay từ khi chưa nắm quyền, chúa Nguyễn Phúc Tần đã lập nhiều công trạng. Trong đó, chiến công hiển hách nhất của ông là đánh bại hạm đội trên biển của công ty Đông Ấn, Hà Lan năm Giáp Thân 1644. Đây được cho là lần đầu tiên người Việt đánh bại phương Tây trên biển.
10 vị vua đánh trận nổi danh sử Việt, khiến ngoại bang kinh sợ - Ảnh 10.
Anh hùng áo vải Quang Trung xứng đáng là một trong những vị vua giỏi chiến trận nhất trong số các vua chúa nước Việt. Trên chiến trường, ông chỉ có tiến, không lùi. Với lối hành quân thần tốc, Quang Trung - Nguyễn Huệ từng khiến thù trong giặc ngoài khiếp sợ.
Nguyễn Thanh Điệp (Theo Zing)

Đặng Dung: Kỳ tài danh tướng, vang danh sử Việt

Thứ tư, ngày 26/02/2020 20:31 PM (GMT+7)
Đặng Dung là một danh tướng tài ba trong lịch sử Việt Nam. Ông cùng cha mình là Đặng Tất (cũng là một tướng tài) phò tá các vua nhà Hậu Trần, ôm chí khôi phục quốc thống. Hai cha con Đặng Dung lập công đầu trong trận Bô Cô (địa danh nay thuộc Nam Định), đánh bại tướng nhà Minh là Mộc Thạnh, loại khỏi vòng chiến tới 100 nghìn quân địch.
Bình luận 0
Đặng Dung (1373-1414) là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người xã Tả Hạ, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ Anh (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Cha của ông là Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rời đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang tiếp tục khởi nghĩa.
Tháng 5/1407, cha con họ Hồ bị bắt ở cửa biển Kỳ La, Chiêm Thành nhân đó dấy quân hòng chiếm lại đất Thăng Hoa. Đặng Tất xin với Trương Phụ cho mình cai trị đất Hóa châu, Trương Phụ chấp thuận, sau đó quân Chiêm Thành rút về.
Tháng 10/1407, người con thứ của vua Trần Nghệ Tông, tên là Trần Ngỗi, tự lập làm vua lên ngôi ở Tràng An, xưng là Giản Định đế. Do quân mới lập, nhà vua phải chạy vào Nghệ An, Đặng Tất lúc ấy làm Đại tri châu Hóa châu nghe tin, liền giết viên quan nhà Minh đem quân từ Hóa châu ra Nghệ An phò giúp. Đặng Tất dâng con gái cho vua Giản Định đế, sau đó được phong làm Quốc công.
Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Vì nghe lời khuyên của hoạn quan là Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) đem binh Thuận hóa về Thanh Hóa, rước Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lập làm vua.
Trần Quý Khoáng là con Mẫn vương Ngạc và là cháu Trần Nghệ Tông, trước kia Quý Khoáng làm quan nhập nội thị trung. Trần Quý Khoáng lên ngôi vua ở Chỉ Là, đổi niên hiệu là Trùng Quang, dùng Nguyễn Súy làm Thái phó, Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.
Lúc này Giản Định đế đang ở thành Ngự Thiên, chống nhau với nhà Minh. Trùng Quang đế sai Nguyễn Súy mang quân đến đánh úp, bắt được Giản Định đế. Mẹ Giản Định đế và bầy tôi là Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bàn nhau khởi binh đánh úp lại Trùng Quang đế – Trần Quý Khoáng. Việc bị tiết lộ, Trùng Quang đế bắt giết Lê Tiệt và Nguyên Đỉnh. Khi ấy Nguyễn Súy đưa Giản Định đế đến Nghệ An, Trùng Quang đế thay mặc mũ áo thường ra đón tiếp. Trùng Quang đế bèn tôn Giản Định đế làm Thượng hoàng, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.
Giản Định đế và Trùng Quang đế chia quân làm 2, Giản Định đế tiến quân đến Hạ Hồng, vua Trùng Quang tiến quân đến Bình Than, các người hùng kiệt ở các lộ đều hưởng ứng; gặp lúc Trương Phụ dẫn quân đến, Giản Định đế bỏ thuyền lên bộ, Trương Phụ chia quân đi đằng sau, bắt được giải về Kim Lăng. Cánh quân vua Trùng Quang giữ nhau với Trương Phụ ở Bình Than, chia cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử, vì thiếu lương thực, quân tan vỡ, vua Trùng Quang được tin, tự liệu không chống nổi, lại về Nghệ An, Trương Phụ đuổi theo, đến đâu cũng chém giết người vô số.
Năm 1410, vua Trùng Quang dẫn quân tiến ra bắc, thắng một số trận nhưng vì hiệu lệnh không thống nhất, quân Minh tiến đến đâu, quân Hậu Trần tan vỡ đến đó. Vua Trùng Quang lại rút binh về Nghệ An.
Đầu năm 1411, vua nhà Minh sai Trương Phụ mang 24.000 quân tiếp viện cho Mộc Thạnh, năm sau Trương Phụ dẫn binh vào Nghệ An gặp Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Nguyễn Súy và Nguyễn Cảnh Dị vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi. Năm 1413, Trương Phụ lại tiến đánh Nghệ An, đến đây nhà Hậu Trần phải lui vào Hóa Châu, đất cố thủ cuối cùng của nhà Hậu Trần.
Tháng 9/1413, quân Trương Phụ vào đến Thuận châu, Nguyễn Suý và Đặng Dung giữ sông Thái Gia, đặt phục binh, nhân đêm đánh úp dinh Trương Phụ. Đặng Dung nhảy lên thuyền Trương Phụ toan bắt sống, nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ mà chạy thoát được. Bấy giờ quân Hậu Trần còn rất ít, Trương Phụ thấy vậy đem binh đánh úp lại, bọn Đặng Dung địch không nổi phải bỏ chạy.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không?. Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!”
Đặng Dung sau này bị bắt giải về Trung Hoa nhưng giữa đường đã tuẫn tiết để giữ tròn khí tiết. Ông có để lại một bài thơ tên là “Cảm hoài”, tỏ rõ lòng yêu nước và khí phách của mình, trong đó có những câu như: “Thù trả chưa xong đầu đã bạc. Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày“.
PV (Võ Thuật)

Lịch sử Việt Nam không chỉ có đao và kiếm

Thứ bảy, ngày 22/02/2020 12:33 PM (GMT+7)
Chắc ai cũng biết đến lịch sử hào hùng của nghĩa quân Tây Sơn. Tuy nhiên phim ảnh và truyền thông hiện nay chỉ có những bộ phim sơ bộ về những trận đánh chỉ với đao và kiếm.
Bình luận 0
Trong bộ phim TÂY SƠN HÀO KIỆT, những trận đánh chỉ có đao và kiếm, thấp thoáng vài khẩu súng thần công. Thực tế trong lịch sử, uy lực của triều đại Tây Sơn không chỉ có tướng tài và binh lược mà còn những vũ khí quân sự khiến quân địch khiếp sợ. Trong quyển Binh Thư Yếu Lược có nhắc đến các phép đánh địch bằng lửa, tên độc và nhiều vũ khí độc đáo khác trong Hổ Trướng Khu Cơ – Tập Thiên. Đặc biệt tôi chú ý đến Phép đặt tên ngầm dưới nước. Dùng cần tre cứng 100 cái hay 50 cái, mỗi cần dùng một ống tre dài 1 thước 5 tấc, trên có lỗ thông, dưới để mắt, dưới mắt để gióng thừa, đục một lỗ chênh chếch cắm đầu cần vào. Xong rồi, do lỗ thông ở đầu mỗi ống đều nạp tên thuốc độc cho đầy ống.
Chỉ có đao và kiếm
Xét trước cửa sông chỗ nào là đường thuyền giặc đi qua thì đem cần cắm xuống nước hai bên cửa sông. Mỗi đầu cần buộc một sợi dây gai, đuôi dây các cần buộc túm lại làm một nắm dây to, rồi đem nắm dây to ấy kéo ghì vào sau bờ sông, như thế thì các cần tre đều cong lên như hình cung mà các tên thì hướng trở lên. Lấy một sợi gai buộc một hòn đá lớn ở bên tả, buộc liền với một hòn ở bên hữu mà chắn ngang lòng sông, chính giữa dây gai chắn ngang ấy lại buộc một cái neo đá với những ống phao nhỏ, liệu chừng cho lềnh bềnh theo sóng, nửa chìm nửa nổi thì tốt.
Nếu thuyền giặc chợt đến, theo dòng nước tiến thẳng vào sông, thì mái chèo động vào dây chắn ngang sông, máy đá hai bên rơi xuống thì dây chân gà tuột ra, các cần tre đều bật lên mà tên ở các ống đều bắn theo nhau về một hướng. Lịch sử nước ta có nhiều trận đại thủy chiến, nên cũng không có gì lạ khi trong binh thư yếu lược lại có nhiều phép thủy chiến như thế. Những hình ảnh thế này nên được cập nhật trong sách sử để học sinh khỏi nghĩ Việt Nam chỉ mặc khố, xách gậy gộc và bắn cung tên. Mà cùng với đó là những vũ khí quân sự đặc biệt không thua kém bất cứ ai.
PV (Võ Thuật)

Nô tỳ duy nhất trong sử Việt Nam trở thành vương phi là ai?

Thứ hai, ngày 04/05/2020 10:35 AM (GMT+7)
Lịch sử phong kiến Việt Nam từng xuất hiện một người phụ nữ có số phận đặc biệt tên Lê Thị Thanh, tức Mẫn Lệ phi. Theo đó, từ thân phận nô tỳ, bà này đã bất ngờ trở thành cung phi nước Việt.
Bình luận 0
Theo sách "Kể chuyện chốn hậu cung", lịch sử phong kiến Việt Nam từng xuất hiện một người phụ nữ có số phận đặc biệt tên Lê Thị Thanh, tức Mẫn Lệ phi (chưa rõ năm sinh, năm mất, nhiều tài liệu không ghi tên, chỉ ghi bà phi họ Lê). Theo đó, từ thân phận nô tỳ, bà này đã bất ngờ trở thành cung phi nước Việt.
Theo chính sử Mẫn Lệ phi Lê Thị Thanh là vợ vua Lê Uy Mục, hoàng đế thứ 8 của nhà Hậu Lê, làm vua từ năm 1504-1509.
Bà Mẫn Lệ phi vốn người ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, sau chuyển vào sinh sống ở Quảng Trị. Do cha mắc tội nên bà bị sung làm nô tỳ trong cung phủ. Tại đây, trong một lần giáp mặt, hoàng tử Lê Tuấn đã rất yêu quý. Sau khi lên ngôi, Lê Uy Mục đã phong bà làm phi tần, rất sủng ái.
Công lao to lớn của Mẫn Lệ phi được hậu thế ghi nhận là khai khẩn đất đai. Sau khi vào cung, anh và em trai bà cũng được ban tước hiệu. Từ đây, anh em bà đã chiêu mộ dân chúng khai phá thêm những vùng đất hoang, lập nên nhiều làng xã, kéo dài từ vùng Sen Thủy (Quảng Bình) đến vùng Hạ Bạn (Gio Linh, Quảng Trị ngày nay).
Theo sách "Ô Châu cận lục", nhờ gia đình có công lao to lớn trong việc khai khẩn lập ấp, nên sau khi qua đời, người dân nhớ tới công lao của anh em bà, đã lập miếu thờ ở nhiều nơi. Trải qua hàng thế kỷ với bao biến động của lịch sử, tất cả gần như bị tàn phá, chỉ còn lại ngôi miếu chính thờ bà tại làng Sa Trung của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Hàng năm, ngày 27/3 Âm lịch, đông đảo người dân lân cận tế lễ để tưởng nhớ bà với những câu ca dao lưu truyền như: “Đi đâu cũng nhớ tháng ba / Hai bảy giỗ bà, tảo mộ vui xuân / Các nơi nô nức xa gần / Vĩnh Trung, Vĩnh Thủy, Quảng Bình về đây”.
Hà Sơn (Zing)
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32