Kế
hoạch ám sát Hitler đầu tiên đã được tình báo Liên Xô chuẩn bị trong
năm 1941, khi trùm phát xít dự kiến đến Moscow ăn mừng quân Đức chiếm
được thành phố này.
Tuy
nhiên, kế hoạch đánh chiếm Moscow của Đức thất bại, Hitler không có
việc gì mà đến thành phố này, và kế hoạch ám sát y cũng bãi bỏ.
Kế
hoạch thứ hai nhằm ám sát Hitler được soạn thảo năm 1942, vào dịp y
thực hiện các chuyến thị sát Vinisa. Nhiệm vụ được trao cho trinh sát
viên Dmitry Medvedev hoạt động tại vùng lãnh thổ Liên Xô bị quân Đức
chiếm đóng, trong hậu phương quân Đức. Tuy nhiên, kế hoạch không thành
công do lực lượng bảo vệ Hitler làm việc rất cẩn thận, còn bản thân
Hitler thường xuyên thay đổi chương trình làm việc vào thời điểm cuối
cùng.
Cuối cùng, một kế hoạch nhiều bước rất phức tạp
mà các nhà chuyên môn gọi là “kiểu bàn cờ” được soạn thảo và tổ chức
thực hiện bởi 2 nhà tình báo dày dạn kinh nghiệm là Ilyn và Sudoplatov.
Kế hoạch dự kiến cử người tìm cách tiếp cận Hitler thông qua các nhân
vật gần gũi với trùm phát xít rồi thừa cơ tiêu diệt y.
Dưới
cớ bất mãn vì không được chính quyền Xô-viết đánh giá đúng tài năng,
Igor Miklasyevsky – con một nữ nghệ sĩ nổi tiếng, đồng thời là vận động
viên quyền anh đang phục vụ trong Hồng quân được “ném” vào nước Đức. Tại
đây, Igor tiếp xúc với tên hàng tướng Vlasov, bày tỏ nguyện vọng được
hợp tác với phía Đức. Anh xuất sắc vượt qua các cuộc kiểm tra, được
Vlasov tin cậy giao làm huấn luyện viên võ thuật cho đội bảo vệ của y.
Igor cũng đạt nhiều giải cao trong các giải đấu quyền anh, trở thành
niềm tự hào của người Đức.
Bước tiếp theo, Igor bắt
đầu tìm những người quen cũ của mẹ mình trong giới thượng lưu Đức –
những người được Hitler, Goebels, Goering... và nhiều quan chức chóp bu
của Đệ tam đế chế sủng ái. Qua những người này, Igor tiếp cận được
Hitler, được trùm phát xít xem như người nhà và có quyền gặp “Quốc
trưởng” bất kì lúc nào.
Thời cơ đã chín muồi, bước
cuối cùng để thực hiện mục tiêu chiến dịch đã đến. Sudoplatov báo cáo
tình hình lên Bộ trưởng An ninh Merkulov và cùng ông này đến gặp, báo
cáo trực tiếp với Stalin, đó là vào giữa năm 1943.
Nhà lãnh đạo Liên Xô Stalin. Ảnh: Sputnik
Thật
ngạc nhiên, nghe xong, Stalin nói ngắn gọn: “Điều này không nên làm”.
Tuy nhiên, hai người không dám hỏi lại Tổng tư lệnh Tối cao mà ra lệnh
cho Igor tiếp tục chuẩn bị cho đòn quyết định. Sang năm 1944, một lần
nữa thời cơ xuất hiện; một lần nữa, Stalin lại không cho phép thực hiện
kế hoạch.
Lần
này thì Merkulov đánh bạo hỏi nguyên nhân. Stalin trầm ngâm một lát rồi
nói: “Chúng ta cần giữ Hitler lại để phục vụ cho việc tiêu diệt hoàn
toàn chủ nghĩa phát xít Đức. Một khi Hitler còn sống, y sẽ không đàm
phán riêng rẽ với các nước phương Tây. Ngược lại, Mỹ và Anh cũng không
thể đặt vấn đề thoả hiệp nếu Hitler vẫn lãnh đạo nước Đức. Hitler mà
biến mất, những kẻ như Goering hay Papens có thể thay y cầm quyền, mà
đối với những tên này thì các nước phương Tây có thể đàm phán được. Như
vậy sẽ không có lợi cho chúng ta”.
Như vậy, nhờ ý tưởng chiến lược mà Stalin “tha” cho Hitler. Igor trở về Tổ quốc và được tặng thưởng Huân chương Sao Đỏ.
Trong
khi Stalin tự đề ra nhiệm vụ tiêu diệt Hitler rồi sau đó lại “tha” cho
y, thì Hitler cũng tìm cách ám sát Stalin. Để thực hiện âm mưu này, tình
báo Đức đã chọn một viên sĩ quan Hồng quân đào ngũ tên là Tavrin, một
kẻ từng có tiền sự trước khi nhập ngũ. Đích thân đội trưởng tình báo đặc
nhiệm của Hitler là Scorsenner (người từng giải thoát cho trùm phát xít
Italia Mossolini) trực tiếp huấn luyện cho Tavrin.
Theo
kế hoạch, trong vai một Anh hùng Liên Xô, thiếu tá phản gián Tavrin
được đưa về Moscow nghỉ dưỡng sau khi điều trị “vết thương”. Tại đây,
hắn sẽ được các điệp viên Đức đã cài cắm sẵn trong nội bộ Hồng quân tìm
cách giúp đột nhập vào một hội nghị, mít tinh hay buổi lễ long trọng nào
đó mà Stalin sẽ đến dự. Tavrin sẽ ám sát Stalin bằng loại đạn tẩm độc
cực mạnh. Phương án hai là hắn sẽ chặn ô tô của Stalin ngay trên phố rồi
dùng lựu đạn tấn công.
Với chứng minh thư Phó chỉ huy
Phản gián Quân đoàn 39, Tavrin cùng nữ “thiếu uý” Silova được một
chuyến bay đặc biệt chở đến vùng Smolensk. Không may cho chúng, máy bay
bị pháo phòng không Hồng quân bắn hỏng và buộc phải hạ cánh. Tavrin và
Silova cướp một mô tô ba bánh và tẩu thoát vào rừng, nhưng bị người dân
phát hiện và báo cho công an đến tóm gọn. Tavrin ngay lập tức khai báo
mọi chuyện.
Sau đó, một kế hoạch mang tên “Sương mù”
được phản gián Liên Xô tiến hành, nhờ đó đã bắt được nhiều điệp viên Đức
được phái tới trợ giúp cho Tavrin. Chiến dịch Sương mù kéo dài đến tận
tháng 4/1945 mà phía Đức vẫn hi vọng vào kế hoạch của Tavrin, không biết
rằng tên này đã bị bắt sống. Phản gián Liên Xô còn “chờ” đến tận năm
1952 xem có điệp viên nào đến liên lạc với Tavrin nữa không.
Cũng trong năm 1952, mặc dù có đơn xin ân xá gửi Xô-viết Tối cao Liên Xô, song Tavrin và Silova vẫn bị xử bắn.
Nguyên Phong
Tình báo KGB và chiến dịch thâm nhập “Công quốc Carfagen”
Thứ năm, ngày 04/06/2020 14:34 PM (GMT+7)
Trong lịch sử của Cơ quan Tình báo đối
ngoại Nga có không ít những chiến dịch thành công. Dưới đây là một chiến
dịch độc nhất vô nhị mà tình báo Liên Xô đã tiến hành vào đầu những năm
60 của thế kỷ trước. Chiến dịch có tên Chiến dịch thâm nhập "Công quốc
Carfagen" do phóng viên Valentin Dvinhin kể lại.
Robert Lee Johnson được tình báo
KGB tuyển chọn từ năm 1953, khi anh còn phục vụ tại doanh trại quân đội
Mỹ đóng ở Tây Berlin. Sau khi cãi một trận sống mái với chỉ huy của
mình, Robert cùng với Hedi lúc đó là vợ chưa cưới chạy sang Đông Đức và
vào Sứ quán Liên Xô xin tị nạn chính trị. Sau cuộc nói chuyện nghiêm
túc, Robert nhất trí tham gia cộng tác với KGB, coi đó là biện pháp tốt
nhất để trả thù những người đã làm anh tức giận. Mặc dù đã tuyển chọn
Robert, nhưng KGB hiểu rằng với hoàn cảnh lúc đó, trước mắt xếp anh là
điệp viên dự trữ. Điệp viên dự trữ
Tuy nhiên, Robert
Lee Johnson cũng cố gắng nắm vững những thủ pháp bí mật. Anh còn lôi kéo
cả Hedi vào công tác tình báo với tư cách là liên lạc viên và thậm chí
còn thu hút cả bạn của mình là James Allen Mitkenbo. Sự trưởng thành về
mặt nghề nghiệp như một điệp viên thực thụ của Robert Lee Johnson được
khẳng định vào năm 1956 khi anh được điều về Mỹ và trở thành bảo vệ của
một trong những căn cứ tên lửa của Mỹ.
Robert
Lee Johnson đã có được các kế hoạch bố trí tên lửa, chụp ảnh, và có lần
đã khôn khéo thu được mẫu nhiên liệu tên lửa và chuyển cho tình báo
KGB. Khi Robert Lee Johnson chuẩn bị ký hợp đồng mới với quân đội, KGB
đã khéo léo tạo điều kiện để anh ta được điều đến Pháp, nơi đang bố trí
đại bản doanh Bộ chỉ huy lực lượng quân sự Mỹ ở châu Âu và Ban Tham mưu
tối cao các lực lượng đồng minh NATO. Cho đến khi Vitali Victor thiết
lập tiếp xúc với Robert Lee Johnson, thì anh đang phục vụ tại một căn cứ
quân sự Mỹ ở Orlean, cách Paris 115 km.
Lúc đó, khả năng thu và nhận tin tức từ Robert Lee Johnson bị hạn chế.
Chính
vì vậy, Robert Lee Johnson đã đến Paris để gặp gỡ trao đổi và thống
nhất khả năng chuyển anh ta đến một địa điểm gần với các cơ quan tham
mưu của Mỹ và NATO đóng ở khu vực gần thủ đô Paris.
Mùa hè năm
1960, Hedi mắc bệnh rối loạn thần kinh và được đưa đến điều trị tại một
bệnh viện quân y của Mỹ nằm ở ngoại ô thủ đô Paris. Với lý do vợ cần
phải ở gần quân y viện, Robert Lee Johnson đã đề nghị lên chỉ huy cho
anh chuyển về gần Paris. Sau khi Robert bị từ chối, anh đã trao đổi với
một thượng sĩ trong ban tham mưu và được anh ta khuyên cố gắng xin được
vào Trung tâm giao thông liên lạc của các lực lượng quân sự Mỹ đóng tại
thành phố Orly, ngoại ô Paris.
"Đó là cái gì vậy?" - Robert hỏi
lại. "Đó là bưu điện trung chuyển các bưu phẩm bí mật", - viên thượng sĩ
thiện chí kia giải thích. Hóa ra đây chính là trung tâm giao liên đang
cần bổ sung nhân lực. Và yêu cầu thuyên chuyển của Robert Lee Johnson
được đáp ứng. Điệp viên Robert Lee Johnson từ dự trữ đã trở thành điệp
viên hành động thực sự. Căn phòng két sắt
Trung tâm
giao liên Mỹ là một công trình bằng bêtông và chỉ có một cửa ra vào,
xung quanh có hàng rào dây thép gai. Công trình này nằm ở góc tận cùng
sân bay Orly, khi đó là sân bay chính của Mỹ. Không có biển đề và thường
xuyên có đội bảo vệ được vũ trang đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mục
tiêu này.
Trong điều kiện như vậy việc thâm nhập mục tiêu là cực
kỳ khó khăn. Tuy nhiên, việc cần làm vẫn cứ phải làm. Và việc nghiên cứu
được xúc tiến. Trong buổi gặp gỡ với Robert Lee Johnson, Victor đã hỏi
cặn kẽ về chế độ làm việc và tổ chức bảo vệ, yêu cầu ghi nhớ kỹ tất cả
những gì khi Robert có điều kiện vào bên trong.
Qua tìm hiểu,
Robert biết được là sau lần cửa ra vào có một buồng nhỏ, tại đó có đặt
một chiếc bàn để phân loại bưu phẩm. Còn bộ phận chính của boongke là
một buồng két sắt. Chỉ có thể vào trong đó sau khi đã mở được hai cánh
cửa sắt nặng nề. Cánh cửa thứ nhất được cài then với hai chiếc khóa treo
có mã số. Còn cánh cửa thứ hai có khóa gắn liền cánh cửa với hình thù
phức tạp.
Một hoặc hai lần trong tuần giao thông viên quân sự sẽ
chuyển từ Mỹ sang những bưu phẩm được đóng gói trong những chiếc túi
bằng da và được kẹp bằng những chiếc kẹp đặc biệt. Sĩ quan trực và nhân
viên, kể cả nhân viên bảo vệ được phép tiếp xúc với những bưu phẩm trên,
phân loại và đặt vào các ngăn của căn phòng két sắt.
Sau một thời
gian những giao thông viên đến lấy những túi bằng da đó và đem phân
phát theo các địa chỉ. Bằng biện pháp theo dõi chặt chẽ từ bên ngoài,
KGB đã xác định được rằng ngoài Sứ quán Mỹ ở Paris, một số tài liệu, bưu
phẩm còn được gửi đến các đại bản doanh của NATO và các đơn vị quân đội
Mỹ đóng ở châu Âu, kể cả Hạm đội 6 của Mỹ đóng ở Italia.
Nhiệm vụ hàng đầu là Robert Lee Johnson phải được tiếp cận với công việc tiếp xúc với tài liệu bí mật.
Trong
thời gian trực trong trung tâm giao liên, Robert đã giúp sĩ quan trực
ban phân loại và xếp các bưu phẩm trong các phong bì có dấu đỏ và dấu
xanh theo từng ngăn. Thế nhưng, việc một mình vào buồng két sắt bị tuyệt
đối nghiêm cấm. Và chỉ có các sĩ quan mới được biết mã số của các khóa
treo và có chìa khóa vào buồng trong. Lúc này, nhiệm vụ mở khóa được đặt
lên hàng đầu.
Victor đã cung cấp cho Robert một hộp chất dẻo để
nếu có thời cơ có thể lấy mẫu của chiếc khóa cửa bên trong. Và thời cơ
đó đã đến. Một lần viên sĩ quan trực ban mở cánh cửa tủ sắt gắn vào
tường bên trong cánh cửa ra vào, Robert nhìn thấy còn một bộ chìa khóa
dự trữ khác ở đó. Ngay trong lần sau, khi viên sĩ quan trực ban còn bận
vào việc phân loại bưu phẩm, Robert đã nhanh chóng lấy chùm chìa khóa dự
trữ ra... và sau đó trả lại chỗ cũ. Một tuần sau, Victor đã trao cho
Robert chùm chìa khóa được chế tạo tại Moskva.
Với bộ mã số của
những chiếc khóa treo thì phức tạp hơn. Đứng sau lưng viên sĩ quan trực
ban, Robert không tài nào liếc nhìn được viên sĩ quan bấm những số nào
để mở được khóa. Nhưng hoàn cảnh đôi khi lại giúp người. Cứ sau một thời
gian nhất định, theo hướng dẫn bảo mật, mã số lại được thay đổi. Một
hôm, viên đại úy mới đến trực không nắm được mã số mới thay. Anh ta gọi
điện cho một sĩ quan khác và hỏi. Lúc đầu viên sĩ quan kia từ chối thông
báo mã số qua điện thoại. Nhưng sau một phút lưỡng lự anh ta đã thông
báo. Viên đại úy lấy mảnh giấy chép mã số mở khóa. Mở xong, hắn vứt mảnh
giấy đó vào sọt rác. Và Robert có được nó dễ dàng.
Tổ tình báo
của KGB ở Paris lúc đó do Đại tá A.I.Lazarev đứng đầu đã quyết định thời
điểm để thâm nhập vào buồng két sắt chính là đêm thứ bảy và chủ nhật.
Theo
chỉ dẫn của Victor, Robert xin nhận trực vào các tối thứ bảy, với lý do
những ngày thường phải đưa vợ đến khám tại bệnh viện. Thời điểm quyết định
Tần
số những cuộc gặp với Robert ngày càng tăng lên. Victor dặn dò Robert
quan sát kỹ xem có hệ thống báo động trong khu vực để két sắt và Victor
đã tạo điều kiện để Felik làm quen với Robert.
Felik Ivanov đã
tốt nghiệp Trường MGIMO. Anh là chuyên gia về các vấn đề quốc tế tại
UNESCO, một cơ quan chuyên ngành của Liên Hiệp Quốc có trụ sở tại Paris.
Chính
Felik là người phải liên lạc với Robert để nhận những tài liệu lấy được
từ trung tâm giao liên. Trên chiếc "Peugeot 404" với biển số thông
thường của Paris được mua để chuyên dùng cho chiến dịch này, Felik đã
nhiều lần chở Robert đến những nơi gặp gỡ ban đêm. Họ phải tính toán
chính xác đến từng giây và thống nhất những tín hiệu đề phòng nguy hiểm.
Sau đó, Felik mang đến cho Robert hai cái túi của Hãng Hàng không Air
France thường giống hệt như cái túi mà Robert vẫn mang thức ăn đi trực
ban đêm.
Một trong những chiếc túi đó để Robert đựng tài liệu lấy
được từ buồng két sắt. Còn chiếc thứ hai có một chai rượu cognac, vài
miếng bánh mì kẹp thịt, mấy quả táo và 4 viên thuốc màu trắng được gói
trong tờ giấy ăn.
"Đó là loại rượu cognac đặc biệt, - Felik giải
thích - Nếu như ai đó bỗng nhiên xuất hiện, anh hãy mời họ uống và người
đó sẽ nhanh chóng ngủ thiếp đi. Còn nếu gặp trường hợp anh phải uống
thì hãy uống trước 2 viên thuốc này, sau 5 phút uống tiếp 2 viên còn
lại. Những viên thuốc đó sẽ giúp cho anh khỏi say và không buồn ngủ".
Chiến
dịch đầu tiên lấy tài liệu từ trung tâm giao liên diễn ra vào đêm 15
rạng sáng ngày 16/12/1962. Robert Lee Johnson chỉ mất chưa đầy 10 phút
để vào được buồng két sắt. Sau đó nhét đầy các tài liệu, nhẹ nhàng đóng
cả hai cửa và đi đến địa điểm gặp gỡ.
Như đã quy định trước, đúng
0h15, Robert trao chiếc túi cho Felik. Trong khi đó nhóm chuyên gia cao
cấp được phái từ Moskva sang đã sẵn sàng làm việc tại căn buồng trên
tầng 3 của một ngôi nhà ở Paris. Họ biết rằng họ chỉ có trên 1 tiếng
đồng hồ để chụp lại toàn bộ nội dung mớ tài liệu và sau đó đóng gói trở
lại không để lại bất cứ dấu vết gì nghi ngờ.
3h15, theo lịch trình, Felik dừng xe tại con đường bên cạnh nghĩa địa và trao lại cho Robert gói tài liệu.
Sau
một tuần, vào đêm 22 rạng sáng ngày 23/12 chiến dịch lấy cắp tài liệu
từ trung tâm giao liên được lặp lại. Và chiến dịch lại thành công.
Robert đã chuyển cho Felik chiếc túi đầy tài liệu mà các giao thông viên
mới chuyển đến.
Trong lần gặp Robert tiếp theo ngay sau Lễ Giáng
sinh, Felik tỏ ra rất phấn khởi. Anh nói với với Robert: "Tôi xin chúc
mừng anh đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp hòa bình. Để ghi nhận
công lao đó, anh được Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô phong hàm Thiếu tá".
Felik cũng trao cho Robert một món tiền lớn và chúc anh nghỉ ngơi vui
vẻ trong kỳ Lễ Giáng sinh.
Về sau được biết rằng, những tài liệu
thu được hết sức quan trọng. Đó là những tài liệu liên quan đến kế hoạch
của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ chuẩn bị tiến hành những hành động quân sự
của phương Tây chống các nước trong khối quân sự Varsava. Trong đó nêu
rõ những nhiệm vụ và mục tiêu tấn công hạt nhân vào các cơ sở, trung tâm
công nghiệp và những thành phố lớn của Liên Xô và các nước đồng minh;
xác định các phương tiện và các đơn vị của lực lượng hạt nhân Mỹ ở châu
Âu, những tàu chiến và tàu ngầm của hạm đội Mỹ, những mục tiêu tấn công
hạt nhân do các nước đồng minh NATO đảm nhiệm. Trong trường hợp quân đội
Liên Xô tiến sang Tây Âu hoặc có mối đe dọa của Liên Xô tấn công, thì
các cuộc tấn công của Mỹ và NATO sẽ đối phó như thế nào. N.S Khrutshev
đã trực tiếp đọc các tài liệu đó.
Thế rồi cứ hai tuần một lần suốt
thời gian từ tháng 12/1962 đến tháng 4/1964, cứ đến ca trực Robert lại
chuyển tài liệu cho người của tình báo Liên Xô. Mãi đến năm 1964 Mỹ mới
phát hiện ra việc các tài liệu bí mật bị lọt ra ngoài, song đến lúc đó
KGB đã chấm dứt chiến dịch này. Còn Robert Lee Johnson đã chuyển về Lầu
Năm Góc làm việc. Tuy nhiên, KGB không thể không quan tâm đến Robert bởi
anh thường xuyên thể hiện tâm lý mệt mỏi. Rất có thể do hoàn cảnh tác
động và do mâu thuẫn với vợ, bởi vợ anh tâm thần không ổn định, hay đau
ốm... Và một lần, Hedi đã kể lại với những người hàng xóm rằng chồng cô
ta là điệp viên của KGB.
Tất cả những điều đó đã đến tai Cục Điều
tra liên bang Mỹ (FBI) nhưng lúc đầu họ không chú ý. Nhưng ngày
4/2/1964, một tên phản bội đã tiết lộ về nhân thân của Robert Lee
Johnson và anh đã bị FBI bắt giữ. Năm 1965, Robert Lee Johnson đã bị Tòa
án liên bang Mỹ tuyên phạt 25 năm tù.
Văn Thắng (Theo ANTG)
Vợ chồng điệp viên phá âm mưu ám sát của phát xít Đức
Cặp "điệp viên huyền thoại" Liên Xô Goar và
Gevork Vartanian phát hiện nhóm sĩ quan Đức được cử đến Iran ám sát ba
lãnh đạo phe Đồng minh năm 1943.
Cơ quan Tình báo Hải ngoại Nga (SVR) hôm 26/11 cho biết cựu nữ điệp viên Goar Vartanian qua đời một ngày trước đó ở tuổi 93 và sẽ được an táng tại nghĩa trang Troyekurovskoe ở Moskva.
SVR ca ngợi bà cùng người chồng Gevork Vartanian là cặp "điệp viên huyền
thoại" của Liên Xô với chiến tích nổi bật nhất là đập tan chiến dịch
"Long Jump" (Bước nhảy Dài), một âm mưu của Đức Quốc xã nhằm ám sát các
lãnh đạo đồng minh trong cuộc họp đầu tiên của họ ở Tehran vào tháng
11/1943.
Theo các sử gia, Bước nhảy Dài có lẽ là kế hoạch táo bạo nhất của phát
xít Đức và có thể để lại hậu quả nghiêm trọng nhất trong Thế chiến II
nếu không bị vợ chồng Vartanian cùng các điệp viên Liên Xô ngăn chặn kịp
thời.
Tháng 10/1943, tình báo quân sự Đức giải được mật mã của hải quân Mỹ và
phát hiện ra rằng một hội nghị quan trọng của ba lãnh đạo chủ chốt của
phe Đồng minh gồm Nguyên soái Liên Xô Joseph Stalin, Thủ tướng Anh
Winston Churchill và Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt sẽ được tổ chức ở
Tehran, thủ đô Iran vào tháng 11 năm đó.
Ba lãnh đạo của phe Đồng minh khi đó muốn nhóm họp để đưa ra chiến lược
cuối cùng cho cuộc chiến chống phát xít Đức và phe Trục. Stanlin cũng
muốn biết Anh và Mỹ sẽ mở một mặt trận thứ hai ở Tây Âu như thế nào.
Cuộc họp dự kiến được tổ chức tại đại sứ quán Liên Xô ở Tehran từ ngày
28/11 đến 1/12/1943.
Dựa trên các tin tình báo có được, trùm phát xít Đức Adolf Hitler phê
chuẩn Chiến dịch Rösselsprung, hay Bước nhảy Dài, với mục tiêu ám sát
hoặc bắt cóc ba nhà lãnh đạo trụ cột của phe Đồng minh (còn được gọi là
nhóm Big Three).
Otto Skorzeny, trung tá lực lượng SS (tên viết tắt của tổ chức vũ trang Schutzstaffel, đội cận vệ khét tiếng của đảng Quốc xã Đức),
người từng tiến hành chiến dịch giải cứu nhà độc tài Italy Benito
Mussolini hồi tháng 9/1943, đã được chọn là chỉ huy chiến dịch Bước nhảy
Dài. Điệp viên Elyesa Bazna (bí danh Cicero) đang hoạt động ở Ankara,
Thổ Nhĩ Kỳ cũng được huy động tham gia chiến dịch.
Tuy nhiên, tình báo Liên Xô đã nắm được âm mưu ám sát táo bạo này nhờ sĩ
quan tình báo Nikolai Kuznetsov, người đã xâm nhập vào hàng ngũ Đức
Quốc xã ở Ukraine dưới vỏ bọc là trung úy Paul Siebert. Kuznetsov đã tìm
cách làm thân với Ulrich von Ortel, một sĩ quan chỉ huy trong lực lượng
SS.
Kuznetsov liên tục chuốc rượu Ortel, khiến hắn kể về kế hoạch ám sát
nhóm lãnh đạo Big Three ở Tehran, nơi "chúng tôi sẽ tiêu diệt Stalin và
Churchill và thay đổi cục diện trận chiến!"
"Chúng tôi sẽ bắt cóc Roosevelt để giúp Quốc trưởng đánh bại Mỹ. Chúng
tôi sẽ bay theo nhiều tốp. Người của chúng tôi đang được huấn luyện ở
một ngôi trường đặc biệt tại Copenhagen", Ortel ba hoa trong lúc say
xỉn, thậm chí còn hứa sẽ giới thiệu Kuznetsov cho trung tá Skorzeny.
Lãnh đạo Liên Xô Stalin (trái), Tổng thống Mỹ Roosevelt (giữa) và Thủ
tướng Anh Churchill nhóm họp ở Tehran hồi cuối tháng 11/1943. Ảnh: WarfareHistoryNetwork.
Đến lúc này, tình báo Liên Xô phải dựa vào các điệp viên đang hoạt động ở
Iran, trong đó có vợ chồng Vartanian cùng 5 thành viên khác trong nhóm
phản gián ở quốc gia này.
Gevork Vartanian sinh năm 1924, trong một gia đình Iran gốc Armenia tại
thành phố Rostov-on-Don, miền nam nước Nga hiện nay. Cha ông là một điệp
viên của Liên Xô và được cử về Iran vào năm 1930, nơi ông sinh sống
cùng gia đình và hoạt động tình báo dưới vỏ bọc là một thương gia giàu
có. Khi chưa đầy 16 tuổi, Gevork đã nối nghiệp cha mình, trở thành một
điệp viên của Liên Xô với bí danh Amir, với nhiệm vụ chính là săn tìm
gián điệp Anh và Đức.
Còn bà Goar sinh năm 1926 tại Gyumri, một phần của Liên Xô cũ và theo
gia đình đến Iran vào đầu những năm 1930. Bà gia nhập nhóm chống phát
xít khi mới 16 tuổi và hợp tác với Gevork Vartanian để phát hiện các đặc
vụ Đức. Hai người sau đó nên duyên vợ chồng, khi Gevork 19 tuổi, còn
Goar 17 tuổi.
Nhóm điệp viên của Gevork và Goar đã phát hiện khoảng 400 gián điệp Đức ở
Iran trong giai đoạn 1940-1941. Gevork thậm chí còn đăng ký một chương
trình huấn luyện gián điệp của tình báo Anh ở Tehran, rồi sau đó báo lại
mọi thông tin cho cơ quan tình báo Liên Xô. Kết quả là các điệp viên
nói tiếng Nga ở Anh được gửi đến Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ
hai đều bị bắt, hoặc được tuyển dụng làm điệp viên hai mang cho Liên Xô.
Sau khi nhận được thông tin từ Kuznetsov về chiến dịch Bước nhảy Dài,
tình báo Liên Xô yêu cầu nhóm của Vartanian đề cao cảnh giác, và chính
vợ chồng điệp viên này là những người đầu tiên phát hiện nhóm tiền trạm
của Đức trong chiến dịch.
"Chúng tôi là đơn vị đầu tiên xác định được vị trí nhóm ám sát thứ nhất
của phát xít Đức, gồm 6 sĩ quan liên lạc nhảy dù xuống gần thị trấn Qum,
cách Tehran 60 km. Chúng tôi đã bám theo họ đến Tehran, nơi phe phát
xít đã chuẩn bị một căn biệt thự cho nhóm này trú ẩn. Họ di chuyển bằng
lạc đà và được trang bị vũ khí", Gevorg Vartanian sau này kể lại.
Gevorg kể lại rằng khi 6 điệp viên phát xít đến gần Tehran, một chiếc xe
tải đã xuất hiện và chở các trang thiết bị của họ, gồm bộ đàm, vũ khí
và chất nổ. Họ di chuyển đến một nơi trú ẩn an toàn ở Tehran, thiết lập
các trang thiết bị liên lạc, thay thường phục và nhuộm tóc để cải trang.
"Khi chúng tôi theo dõi nhóm ám sát, chúng tôi biết rằng họ liên lạc với
Berlin bằng điện đài, nên chúng tôi đã chặn thu các lần liên lạc của
họ. Sau khi phá được mật mã, chúng tôi biết được rằng Đức Quốc xã đang
chuẩn bị đưa nhóm thứ hai đến để thực hiện kế hoạch ám sát hoặc bắt cóc
nhóm Big Three", ông cho biết.
Nhóm thứ hai được cho là do Skorzeny trực tiếp chỉ huy. Trung tá
Skorzeny lúc đó đã đến Tehran để thăm dò tình hình và đội của Gevorg đã
theo dõi mọi hoạt động của y từ khi đó.
Khi Roosevelt cùng phái đoàn Mỹ đến Tehran, phía Liên Xô đã tiết lộ với
họ về kế hoạch ám sát của Đức Quốc xã. Nhằm giảm thiểu nguy hiểm cho
Roosevelt khi di chuyển từ đại sứ quán Mỹ đến nơi nhóm họp tại Tehran,
Tổng thống Mỹ cùng phái đoàn được phép ở nhà khách trong đại sứ quán
Liên Xô.
Trong thời gian đó, nhóm của vợ chồng Vartanian đã bắt và khống chế toàn
bộ 6 điệp viên trong nhóm tiền trạm của Đức, buộc họ phải tiếp tục liên
lạc về sở chỉ huy dưới sự giám sát của tình báo Liên Xô.
"Việc bắt Skorzeny rất hấp dẫn, song nhóm Big Three đã đến Tehran nên
chúng tôi không thể chấp nhận rủi ro. Chúng tôi cố tình cho liên lạc
viên của phát xít Đức một cơ hội để thông báo rằng nhiệm vụ đã thất bại,
và họ đã quyết định không đưa nhóm thứ hai đến Tehran nữa", Gevorg kể.
Việc nhóm của vợ chồng Vartanian đã xác định chính xác vị trí nhảy dù
của đội tiền trạm và những hoạt động sau đó của họ đã chặn đứng một
trong những âm mưu ám sát lớn nhất Thế chiến II. Câu chuyện tình của vợ
chồng này sau đó trở thành nguồn cảm hứng xây dựng nhân vật Andrei và
Marie trong bộ phim hành động trinh thám "Tehran 43" của Liên Xô.
Vợ chồng điệp viên kỳ cựu Gevorg (trái) và Goar hồi năm 2010. Ảnh: TASS.
Vợ chồng Vartanian chuyển đến Liên Xô năm 1951 và tiếp tục hoạt động
tình báo trong một thời gian dài. Danh tính của Gevorg, người được phong
danh hiệu "Anh hùng Liên Xô", chỉ được công bố chính thức vào năm 2000.
"Chúng tôi đã rất may mắn là không gặp một kẻ phản bội nào", ông từng
nói với RIA Novosti. "Với những điệp viên ngầm như chúng tôi, phản bội
là tội ác xấu xa nhất".
Gevorg qua đời
năm 2012 ở tuổi 87. "Gevork thường nói rằng ít nhất hai trên năm tia
sáng trong Ngôi sao Anh hùng của mình thuộc về người vợ Goar yêu dấu",
phát ngôn viên SVR nói.
Tháng 6/2017, Tổng thống Nga Vladimir Putin đến thăm SVR và ca ngợi các
đặc vụ bí mật, trong đó có vợ chồng Vartanian. "Họ là những người khiêm
tốn, họ không thích được gọi là anh hùng", Putin nói.
Quốc Hưng (Theo WarfareHistoryNetwork)
Cuộc đời khó tin của điệp viên công nghệ nổi tiếng Liên Xô
Nhờ
thông tin do Rots cung cấp, công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã chế tạo
được thiết bị dùng xung vô tuyến mạnh vô hiệu hoá hệ thống điện tử rất
nhạy của máy bay Tornado.
Trong
suốt 30 năm, điệp viên lừng danh Manfred Emil Rots đã chuyển cho tình
báo Liên Xô những thông tin công nghệ cao cực kì có giá trị, giúp Moscow
tiết kiệm được hàng tỉ USD trong việc nghiên cứu phát triển vũ khí
trang bị, cũng như thúc đẩy ngành hàng không vũ trụ.
Tốt
nghiệp loại ưu Khoa Chế tạo máy bay, Đại học Kĩ thuật cao Dresden năm
1953, đoàn viên Liên đoàn Tự do Đức M. Rots được nhận vào làm việc tại
Nhà máy “cơ khí” Dessau, một cơ sở công nghiệp của Nhà nước CHDC Đức non
trẻ được quyền lắp ráp một số loại máy bay tiêm kích theo bản quyền của
Liên Xô. Tại đây, anh được tuyển mộ, huấn luyện và trở thành “Điệp viên
ngủ” (tạm thời chưa hoạt động) của Liên Xô.
Tháng
5/1954, Rots được bố trí chạy sang CHLB Đức xin “tị nạn”. Nhờ có bình
phong tốt, chỉ một thời gian ngắn sau đó Rots đã tìm được việc làm tại
công ty Heikel ở Stutgart và tham gia vào việc hiện đại hoá máy bay
Fuga-Magister của Pháp.
Những bản vẽ về loại máy bay
này gửi sang Đông Berlin chính là thành tích hoạt động tình báo đầu tiên
của Rots. Điều đặc biệt là các thông tin tình báo được viết bằng loại
mực mật do chính Rots tự chế tạo từ hỗn hợp các loại thuốc vitamin và
chất amoniac.
Năm 1959, Rots làm việc tại Văn phòng
thử nghiệm Phương Nam (Munich), nơi thử nghiệm loại máy bay cất hạ cánh
thẳng đứng VJ-101 của CHLB Đức. Năm 1964, ông chuyển đến công ty chế tạo
máy Yanker, tham gia dự án chế tạo các vệ tinh nghiên cứu Geos &
Dial và bóng thám không dùng năng lượng mặt trời Helios.
Máy bay cất hạ cánh thẳng đứng VJ-101 của CHLB Đức. Ảnh: Wikipedia
Năm
1969, các nhà máy của công ty Yanker sáp nhập vào Tổ hợp Công nghiệp vũ
khí Messerschmitt Belkow Blohlm (MBB), lớn nhất Tây Đức. Tại đây, Rots
được chỉ định làm người đứng đầu ban E-285 chịu trách nhiệm nghiên cứu
phần thân của loại máy bay chiến đấu đa năng Tornado.
Nhờ
thông tin do Rots cung cấp, công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã chế tạo
được thiết bị dùng xung vô tuyến mạnh vô hiệu hoá hệ thống điện tử rất
nhạy của loại máy bay này. Người ta thậm chí cho rằng, các vụ “tai nạn”
xảy ra với máy bay Tornado là xuất phát từ nguyên nhân hệ thống điện tử
của nó bị “ai đó” làm tê liệt.
Do được quyền tiếp cận
các loại tài liệu mật để “phối hợp công việc”, Rots còn nắm được phần mô
tả kĩ thuật của tên lửa tiến công Cormoran, tên lửa chống tăng HOT và
Milan, trực thăng VK-117 và VO-105, máy bay vận tải Transal, tên lửa
Arian và phòng thí nghiệm đặt trên vũ trụ Space Lab.
Rots
cũng nắm được kế hoạch nghiên cứu chế tạo loại “máy bay chiến đấu tương
lai” F-90 – sản phẩm của một dự án liên kết của các nước Tây Âu trị giá
15 tỉ DM. F-90 chính là loại máy bay tiêm kích tiên tiến có thể cất
cánh từ những đường băng nhỏ, có khả năng phát hiện và tiêu diệt mục
tiêu từ cự li 90km, được xác định là thành phần chủ yếu trong lực lượng
không quân các nước phương Tây 10 năm tiếp đó.
Tuy
nhiên, những vụ “tai nạn” liên tiếp xảy ra với máy bay Tornado đã khiến
các đối tác tham gia chương trình là Không quân Anh và Không quân Italy
nghi ngờ về khả năng rò rỉ thông tin mật từ chính Tập đoàn MBB, do vậy,
dự án F-90 đã phải bỏ dở giữa chừng. Điều thú vị là Rots không hề bị
nghi ngờ, thậm chí, ông còn gia nhập Liên minh Xã hội - Cơ đốc giáo và
được bầu vào Hội đồng điều hành của MBB.
Đầu năm 1981,
tình báo viên Liên Xô có bí danh Farewel đào tẩu sang Pháp và tiết lộ
rằng “Xô-viết biết rất nhiều về các dự án hàng không vũ trụ của Tây Âu
nhờ có điệp viên cài cắm tại Tập đoàn MBB”. Thông tin này lập tức được
phía Pháp thông báo cho tình báo CHLB Đức.
Dưới sự trợ
giúp về mặt nghiệp vụ của BvF (Cơ quan Phản gián CHLB Đức), tháng
6/1983, MBB bắt đầu rà soát lại từng nhân viên của họ. Một năm sau, các
chứng cứ có vẻ như cáo buộc nhằm vào kĩ sư Rots. Tuy vậy, việc theo dõi
Rots cũng phải kéo dài thêm 3 tháng nữa và cũng chỉ thành công nhờ một
sai sót của ông.
Vấn đề là ở chỗ Rots không nhận ra
mình đang bị theo dõi và do vậy đã nhặt từ đống rác bên đường một chiếc
ống bơ. Việc làm này quả là khác thường với một người tử tế như kĩ sư
cao cấp của MBB, nó khiến cho các nhân viên phản gián (vốn đã chán nản
sau 3 tháng theo dõi mà không có kết quả và đang định bỏ cuộc) phải nghi
ngờ.
Kiểm tra chiếc ống bơ, người ta không mấy khó
khăn tìm ra cuộn vi phim chụp các bản vẽ của một thiết bị máy bay đang
được Tập đoàn MBB bí mật triển khai nghiên cứu.
Việc
khám xét nhà riêng Rots được tiến hành ngay sau đó với kết quả vượt mọi
sự trông đợi của BvF. Bàn làm việc của Rots đầy những tài liệu về các hệ
thống trang bị của máy bay Tornado, máy bay tiêm kích F-90, máy bay
tiêm kích F-15, xe tăng chủ chiến Leopard, máy bay tàng hình không người
lái..
Manfred Emil Rots bị kết án 8 năm 6 tháng tù
giam. Tuy nhiên, đến tháng 8/1987, ông được trả tự do để đổi lấy việc
phía CHDC Đức thả một điệp viên của CHLB Đức. Phần đời còn lại, M. Rots
sống bình yên với khoản lương hưu khiêm tốn và việc chăm sóc vườn cây
cảnh cùng vườn cà chua luôn xanh tốt của mình.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét