TT&HĐ I - 7/k
Học thuyết âm dương ngũ hành
PHẦN I: CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ
“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
CHƯƠNG VII: VÔ TỰ ĐẠI THƯ
Tôi
thích mùa xuân, nhưng nó trẻ trung quá. Tôi thích mùa hè, nhưng nó kiêu
ngạo quá. Vậy nên tôi thích mùa thu nhất, bởi thanh âm của nó êm đềm
hơn, màu sắc của nó sâu đậm hơn, và nó nhuốm chút u sầu. Sắc vàng cam
tươi thắm của nó không thể hiện sự ngây thơ của mùa xuân, hay cường lực
của mùa hạ, mà nói lên những dịu dàng và sự khôn ngoan nhân hậu của tuổi
tác. Mùa thu biết những giới hạn và ý nghĩa của cuộc đời.
Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
I
like spring, but it is too young. I like summer, but it is too proud.
So I like best of all autumn, because its tone is mellower, its colours
are richer, and it is tinged with a little sorrow. Its golden richness
speaks not of the innocence of spring, nor the power of summer, but of
the mellowness and kindly wisdom of approaching age. It knows the
limitations of life and its content.
Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
Tôi
thích mùa xuân, nhưng nó trẻ trung quá. Tôi thích mùa hè, nhưng nó kiêu
ngạo quá. Vậy nên tôi thích mùa thu nhất, bởi thanh âm của nó êm đềm
hơn, màu sắc của nó sâu đậm hơn, và nó nhuốm chút u sầu. Sắc vàng cam
tươi thắm của nó không thể hiện sự ngây thơ của mùa xuân, hay cường lực
của mùa hạ, mà nói lên những dịu dàng và sự khôn ngoan nhân hậu của tuổi
tác. Mùa thu biết những giới hạn và ý nghĩa của cuộc đời.
Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
"Tự nhiên không có tình, không thiên vị ai. Nó không phân biệt Thiện Ác, May Rủi".
I
like spring, but it is too young. I like summer, but it is too proud.
So I like best of all autumn, because its tone is mellower, its colours
are richer, and it is tinged with a little sorrow. Its golden richness
speaks not of the innocence of spring, nor the power of summer, but of
the mellowness and kindly wisdom of approaching age. It knows the
limitations of life and its content.
Đọc thêm tại: https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/466/sw/t © TuDienDanhNgon.vn
NTT
Khoa học là cái quan trọng nhất, tốt đẹp nhất và cần thiết nhất trong cuộc sống con người, nó đã và sẽ luôn luôn là biểu hiện cao nhất của tình yêu, chỉ nhờ nó, con người mới chiến thắng được thiên nhiên và bản thân mình.
Khuyết danh
Có những thế lực bí ẩn trong thiên nhiên; khi chúng ta hoàn toàn trao mình cho nàng mà không ngần ngại, nàng sẽ đem cho chúng ta mượn, nàng chỉ cho chúng ta hình thái của những điều mà mắt ta không thấy và trí tuệ ta không hiểu hay ngờ tới."
Auguste Rodin
“Chân lý cao cả nhất là chân lý này: Thượng Đế hiện diện ở trong vạn
vật. Vạn vật là muôn hình vạn trạng của Thượng Đế. Không nên tin một
đấng thần linh nào khác… Chúng ta cần một tôn giáo tạo những con người
cho ra người… Bạn nên bỏ những tôn giáo thần bí làm cho bạn suy nhược
đi, và bạn nên cương cường… Chỉ có mỗi một đấng Thượng Đế có ý thức, là
nòi giống của ta, đâu đâu cũng có bàn tay của Ngài, bàn chân của Ngài,
cặp tai của Ngài; Ngài bao trùm hết thảy… Sự sùng bái chính đáng nhất là
sự sùng bái vạn vật chung quanh ta… Chỉ người nào giúp đỡ vạn vật mới
thực sự là thờ phụng Thượng Đế.”
(Vivekananda)
(Tiếp theo)
* * *
Chúng ta kể chuyện Mặc Tử, mục đích chính là bênh vực (hay cũng là minh
oan) cho Dương Chu. Bênh vực cho Dương Chu là bảo vệ Quỉ Cốc tiên sinh;
bảo vệ Quỉ Cốc tiên sinh có nghĩa là kính phục Lão Đam (người đầu tiên
của Trung Quốc đồng thời với các hiền triết Upanishad của Ấn Độ đã
“thấy” được Tự Nhiên Tồn Tại: Chỉ có điều mỗi người gọi bằng một cái tên
khác: hiền triết Upanishad gọi là Cái Ấy, còn Lão Đam gọi là Đạo). Kính
phục Lão Đam chỉ vì chúng ta quá yêu mến Đạo của Lão.
Khi nói học thuyết của Đạo Gia hay Nho Gia thì chúng ta hiểu rằng không phải sinh thời Lão Tử hay Khổng Tử đã xây dựng hoàn chỉnh hai học thuyết ấy mà chỉ là những người khai mở, đề xướng, đi tiên phong, làm nên cái cốt xương thiết yếu. Có thể nói sự hình thành đến hoàn chỉnh của hai thuyết ấy là thành quả của nhiều người chứ không phải của một người. Nếu Nho Gia chỉ đóng vai trò như một học thuyết giảng dạy về luân thường đạo lý, về cách sống làm người sao cho đúng đắn, rút ra,suy luận ra từ những bài học của hiện tượng xã hội đương thời và trước đó, thì Đạo Gia chính là một học thuyết triết học đích thực, nó giải thích mọi hiện tượng xã hội, mọi thể hiện của nhân sinh hành vi vào sự chi phối của Đạo, của tự nhiên không trực tiếp thì cũng gián tiếp.
Dương Chu là một cái tên chung, chỉ “người phát ngôn” trên vũ đài tranh biện của phái Đạo Gia. Lão Đam mất tích thì xuất hiện Dương Chu và trong dân dã xuất hiện một Quỉ Cốc tài năng cái thế nhưng dung dị đáng yêu. Điều đó làm chúng ta cứ ngờ ngợ. Hình như… A! Phải rồi! Lão Đam rời nước Chu đến nước Trần (về quê ông!) rồi sang đất Bái (nước Tống) ở ẩn tại đó. Lúc này ông đã đổi tên thành Dương Chu. Khổng Tử có lần qua đó tìm thăm và có lẽ đã gặp (Triết thuyết của Lão Đam đang độ hình thành còn của Khổng Tử thì mới manh nha, hoặc cũng có thể vì Khổng Tử vẫn coi Lão Đam là thầy mình nên chẳng có lý do nào mà đối chọi gay gắt như sau này!). Ông ở đó dạy học, để kiếm sống, truyền bá học thuyết của mình và rất có khả năng ông đã đặt tên cho thuyết ấy là Quỉ Cốc. Dân gian đất Bái vì vậy mà gọi ông là Quỉ Cốc tiên sinh (hay ông ẩn đâu đó ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Chu như chúng ta có lần đã kể? Chắc không phải!). Một vài học trò “chân truyền” sau này về ở ẩn đó đều giấu tên và tự nhận là Quỉ Cốc Tử theo truyền thống ẩn sĩ, u hiển. Như vậy Quỉ Cốc là một cái tên chung, lúc đầu là tên một học thuyết, sau là tên một trường phái, là tên một cái gì đấy linh thiêng như… Thần Hang, và cũng có thể là tên gọi đầu tiên mà “Đạo Đức Kinh” sau này tạm gọi là Đạo vậy. Còn Quỉ Cốc Tử, ngoài nghĩa là Quỉ Cốc tiên sinh, thầy Quỉ Cốc, có thể nào còn có nghĩa là con của Quỉ Cốc, con của Thần Hang, hay con của Đạo, con của Tự Nhiên?
Rất có thể sau Văn Vương và Chu Công, Lão Đam là người thứ ba, trong thời gian ở ẩn đã tu chỉnh, bổ sung, mở rộng, chú giải Kinh Dịch, làm cho nó mang thêm ý nghĩa triết học theo quan niệm của ông (mà phái Nho Gia sau này đã san định lại, gán cho Khổng Tử nhiều câu nói mang âm hưởng triết học tự nhiên của Đạo Gia?)
Vũ trụ quan của Lão Đam là bước phát triển đến hoàn thành của việc kết hợp nguyên lý âm dương do Bá Dương Phụ đề xướng và những điều rút ra được trong quá trình nghiền ngẫm Kinh dịch (Hà đồ, Lạc thư) của chính bản thân ông. Thuyết ấy thể hiện lần đầu tiên trên thẻ tre chắc là rất ngắn gọn, một phần vì sự trở ngại của công việc viết lách thời bấy giờ, một phần vì chân lý vốn chỉ có thế, hết mực giản dị. Hiểu được nó thì thấy sáng tỏ, không hiểu được nó thì lại thấy hết sức kỳ bí, thậm chí là quái dị, làm cho người ta không chú ý đến nó, coi nó như là những lời lẽ “trên trời”, chẳng “ăn nhập” gì với đời sống nhân gian cả. Vì thế mà chẳng có bậc trí giả nào bận tâm đoái hoài đến những câu từ có phần vẩn vơ như thế; trừ những môn đồ Quỉ Cốc. Đó là nguyên nhân dẫn đến sau này, hậu thế (thời Mạnh Tử) chỉ biết Dương Chu với thuyết “vị ngã”, “khinh vật trọng sinh” đầy vị kỷ mà không biết đến Lão Tử(!?).
Trong thực tế, chỉ khi truyền thụ học thuyết của mình cho các môn đồ bằng lời nói (truyền ngôn), Lão Đam (hay cũng là Dương Chu hoặc Quỉ Cốc tiên sinh) mới thể hiện ra hết được nội dung cũng như ý nghĩa huyền diệu thâm sâu của nó. Nó là cái gốc, là xuất phát điểm của mọi lập luận biện minh cho nhận thức xã hội và hành vi của người theo phái Đạo Gia.
Có thể “đoán mò” rằng Quỉ Cốc là một trước tác gồm ít nhất là hai phần, một phần là học thuyết nói về nguồn gốc, nguyên lý vận hành của Tự Nhiên (Đạo), của Vũ Trụ (trong đó có loài người), một phần mang tính ứng dụng, áp dụng Đạo vào thực tiễn mọi mặt, đóng vai trò như cẩm nang, bí quyết, kim chỉ nam cho hành động để sống còn, để “chiến đấu” giành thắng lợi cho chính nghĩa.
Học thuyết (gọi thế e không chính xác nhưng cứ tạm gọi vậy!) Quỉ Cốc mang tính khách quan cao độ, được các môn đồ tiếp thu qua truyền ngôn trực tiếp của thầy dạy; chỉ cho môn đồ thấy được Đạo; thấy được sự vận hành đều theo luật một cách tự nhiên của vạn vật, để biết mà sống, sống cho hợp, cho đúng, cho tốt. Quỉ Cốc không phải là một sự rao giảng cao giọng về luân lý (bản thân tự nhiên đã là luân lý rồi!?) mà như một lời khuyên nhủ chí tình, chí lý. Có thể mường tượng nó như một bài quyền hư chiêu trong võ thuật, như là Thái cực quyền: thích hay không thích thì tùy, nhưng biết nó rồi thì mê!
Mặc Địch sinh ở nước Tống, lớn lên ở nước Tống cho nên không thể thoát khỏi ảnh hưởng của Đạo gia, dù có thể đã học Nho gia. Theo truyền thuyết thì ông là bạn của Quỉ Cốc tiên sinh và Cầm Hoạt Ly, học trò của ông đã từng đàm biện với Dương Chu. Cứ cho sự thực là như vậy thì lúc này, Quỉ Cốc tiên sinh (hay cũng là Dương Chu) không phải là Lão Đam nữa mà là một người khác; là một “truyền nhân” của ông. Lão Đam, dù là người có phương pháp dưỡng sinh, tu tiên nên sống thọ, thì cũng đã tạ thế từ lâu, trước sau gì đó mươi, mười lăm năm, ngày Mặc Định chào đời. Vậy thì đích danh của Dương Chu (hay cũng là Quỉ Cốc tiên sinh) xuất hiện lúc này là… ai? Người này trước hết phải là môn đệ “chân truyền”, đóng vai trưởng môn phái, thông thuộc học thuyết của Lão Đam.
Người đó rất có thể là Lão Lai Tử và cái tên ấy cũng chỉ là một tên giả của con người có tên thật là Đam (thái tử Đam). Vì sao đoán như vậy? Vì đã là ẩn sĩ chân chính thì phải thật sự vô danh. Do đó thái tử Đam khi rời bỏ thế cuộc thì “tạm” lấy tên là Lão Lai Tử. Tên giả thường ẩn một nghĩa nào đấy. Chẳng hạn như tên Dương Chu ẩn cái nghĩa là Thành Lạc Dương, nhà Chu. Thế thì có thể cho rằng cái tên Lão Lai Tử mang cái ẩn nghĩa là con của Lão Lai. Con của Lão Lai tên Đam nên còn có thể gọi là Lão Đam. (Chúng ta chú ý đến điều này: thầy trò khi xưng hô, đối đáp vẫn thường xưng con – thưa thầy!). Người đời sau “đoán non đoán già” trước sự “u hiển” ấy và cuối cùng gộp chung “ba lão ấy” làm một: Lão Tử, người thọ 160 năm, thậm chí là 200 năm (tuổi thọ mà ba người cộng lại thì như thế cũng là thường thôi!).
Truyền thuyết Quỉ Cốc Tử là bạn của Mặc Tử và Lão Tử (Lão Lai Tử) như vậy cũng không đến nỗi vô lý lắm. Có thể truyền thuyết đó ẩn chứa sự thực này: Quỉ Cốc Tử sống cùng thời với Mặc Tử nhưng chỉ đã từng là học trò của Lão Tử (?). Có điều nhiều khả năng sau này Quỉ Cốc Tử sau khi đắc đạo, và được giao phó những cẩm nang bí truyền đã cùng môn đệ rời khỏi đất Bái (có thể vì đất Tống đã không còn “an toàn” nữa) đến Hàm Cốc (nước Tần đang lớn mạnh, thịnh trị) tiếp tục ẩn tại đó.
Hình như trường phái Quỉ Cốc (hay sau này gọi là Đạo Gia) có một ước lệ ngầm là học trò sau khi học xong những sở đắc của Quỉ Cốc đều phải “xuống núi” hành hiệp, tham gia thời cuộc tùy sở trường để thấu triệt cái thâm sâu của Đạo lý. (Tuy vậy, ai muốn bỏ học nửa chừng ra đi thì cũng không cấm, tự nhiên mà!). Sau một thời gian “lăn lộn” chốn thế sự, sẽ có những con người (rất ít?) vượt được qua vòng danh lợi, bảo toàn được mạng sống, nhận ra được cái chân lý vi diệu của Đạo, sẽ “rửa tay gác kiếm” quay về ở ẩn, chân tu, tiếp tục học nữa, và bắt đầu truyền dạy thế hệ sau, đồng thời luyện thần thành tiên.
Có một người trong số đó, vốn là môn đệ của Lão Lai Tử, “nhập thế, hữu vi”, làm nghề biện sĩ, du thuyết. Người đó được đời gọi là Vương Thiện (có thể tên giả mà thôi!).
Vương Thiện vào đời “quậy” một thời gian rồi trở về, ẩn tại đâu đó ở Dương Thành, vẫn còn là đất nhà Chu… Với lối sống mộc mạc, chân phác, bốc thuốc trị bệnh cứu người, nên dân quanh vùng nghe danh Quỉ Cốc Tử mà ông tự xưng liền gọi ông là Quỉ Cốc Tử, hoặc một cái tên khác nghe có vẻ kính phục hơn, đó là: Vương Thiện Lão Tổ. Vương Thiện Lão Tổ hay Quỉ Cốc tiên sinh là hai tên gọi của một con người tư tưởng thì cao sâu, tài năng thì siêu quần nhiều mặt (như đã nói trước đây) mà gần gũi và xuề xòa như “kẻ tiện dân”. Ông được Lão Lai Tử truyền thụ, sau này khi đã ở ẩn, hai thầy trò vẫn thường gặp nhau và khi Lão Lai Tử qui tiên, ông được coi như người đứng đầu trường phái Quỉ Cốc.
Lại một phán đoán thiếu căn cứ nữa là bắt nguồn từ tư tưởng sống phù hợp với tự nhiên, hòa vào thiên nhiên nên những người xuất thế theo phái Đạo gia thường về ẩn ở những vùng hẻo lánh, khai phá đất đai để trồng trọt chăn nuôi, tự nuôi sống mình, làm hình thành nên những trung tâm (không công khai) học, truyền đạo, và cũng có thể là còn phân tích tình hình chính sự, đề ra những quyết sách, ngầm tác động vào thời cuộc, khi đã giũ áo từ quan thì những ẩn sĩ Đạo gia chẳng khác nào một anh chàng nhà quê, một bác tá điền hay một lão nông xuề xòa chân phác. Họ ẩn là ẩn cái danh xưa kia của họ, cái tài năng xuất chúng của họ, cái mục đích phụng nghĩa cao cả của đời họ. Đó là “người đi đường”, “người gánh cỏ”, là “hai người đang cày ruộng” tên Tràng Thư và Kiệt Nịch, là “ông già làm cỏ ruộng”, là “người cuồng nước Sở” mà thầy trò Khổng Tử đã vô tình gặp được trên bước đường tìm nơi hành đạo của mình. Mặc Tử nhiều khả năng đã chứng kiến được cái cảnh sống điền viên ấy của các ẩn sĩ và nó đã tác động sâu sắc đến ông sau này, thể hiện trong phong cách sống và biện thuyết Kiêm Ái của ông.
Chuyện Khổng Tử theo Lão Tử trợ táng ở Hương Đảng (trong bộ “Tiểu Đái Ký”, thiên “Tăng Tử Vân”) mà chúng ta đã nói đến thì Hương Đảng có thể là vùng đất của các ẩn sĩ phái Đạo gia (hồi đó chưa có tên Đạo Gia!) chăng?
Dù thiếu căn cứ lịch sử nhưng chúng ta tin điều phán đoán trên là rất gần với hiện thực bởi câu nói này của Dương Chu: “Cho nên cái quí của trí là bảo tồn lấy cái ta làm quí. Cái đáng khinh ở sức ấy là chiếm đoạt lấy vật làm khinh”.
(Còn tiếp)
Khi nói học thuyết của Đạo Gia hay Nho Gia thì chúng ta hiểu rằng không phải sinh thời Lão Tử hay Khổng Tử đã xây dựng hoàn chỉnh hai học thuyết ấy mà chỉ là những người khai mở, đề xướng, đi tiên phong, làm nên cái cốt xương thiết yếu. Có thể nói sự hình thành đến hoàn chỉnh của hai thuyết ấy là thành quả của nhiều người chứ không phải của một người. Nếu Nho Gia chỉ đóng vai trò như một học thuyết giảng dạy về luân thường đạo lý, về cách sống làm người sao cho đúng đắn, rút ra,suy luận ra từ những bài học của hiện tượng xã hội đương thời và trước đó, thì Đạo Gia chính là một học thuyết triết học đích thực, nó giải thích mọi hiện tượng xã hội, mọi thể hiện của nhân sinh hành vi vào sự chi phối của Đạo, của tự nhiên không trực tiếp thì cũng gián tiếp.
Dương Chu là một cái tên chung, chỉ “người phát ngôn” trên vũ đài tranh biện của phái Đạo Gia. Lão Đam mất tích thì xuất hiện Dương Chu và trong dân dã xuất hiện một Quỉ Cốc tài năng cái thế nhưng dung dị đáng yêu. Điều đó làm chúng ta cứ ngờ ngợ. Hình như… A! Phải rồi! Lão Đam rời nước Chu đến nước Trần (về quê ông!) rồi sang đất Bái (nước Tống) ở ẩn tại đó. Lúc này ông đã đổi tên thành Dương Chu. Khổng Tử có lần qua đó tìm thăm và có lẽ đã gặp (Triết thuyết của Lão Đam đang độ hình thành còn của Khổng Tử thì mới manh nha, hoặc cũng có thể vì Khổng Tử vẫn coi Lão Đam là thầy mình nên chẳng có lý do nào mà đối chọi gay gắt như sau này!). Ông ở đó dạy học, để kiếm sống, truyền bá học thuyết của mình và rất có khả năng ông đã đặt tên cho thuyết ấy là Quỉ Cốc. Dân gian đất Bái vì vậy mà gọi ông là Quỉ Cốc tiên sinh (hay ông ẩn đâu đó ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Chu như chúng ta có lần đã kể? Chắc không phải!). Một vài học trò “chân truyền” sau này về ở ẩn đó đều giấu tên và tự nhận là Quỉ Cốc Tử theo truyền thống ẩn sĩ, u hiển. Như vậy Quỉ Cốc là một cái tên chung, lúc đầu là tên một học thuyết, sau là tên một trường phái, là tên một cái gì đấy linh thiêng như… Thần Hang, và cũng có thể là tên gọi đầu tiên mà “Đạo Đức Kinh” sau này tạm gọi là Đạo vậy. Còn Quỉ Cốc Tử, ngoài nghĩa là Quỉ Cốc tiên sinh, thầy Quỉ Cốc, có thể nào còn có nghĩa là con của Quỉ Cốc, con của Thần Hang, hay con của Đạo, con của Tự Nhiên?
Rất có thể sau Văn Vương và Chu Công, Lão Đam là người thứ ba, trong thời gian ở ẩn đã tu chỉnh, bổ sung, mở rộng, chú giải Kinh Dịch, làm cho nó mang thêm ý nghĩa triết học theo quan niệm của ông (mà phái Nho Gia sau này đã san định lại, gán cho Khổng Tử nhiều câu nói mang âm hưởng triết học tự nhiên của Đạo Gia?)
Vũ trụ quan của Lão Đam là bước phát triển đến hoàn thành của việc kết hợp nguyên lý âm dương do Bá Dương Phụ đề xướng và những điều rút ra được trong quá trình nghiền ngẫm Kinh dịch (Hà đồ, Lạc thư) của chính bản thân ông. Thuyết ấy thể hiện lần đầu tiên trên thẻ tre chắc là rất ngắn gọn, một phần vì sự trở ngại của công việc viết lách thời bấy giờ, một phần vì chân lý vốn chỉ có thế, hết mực giản dị. Hiểu được nó thì thấy sáng tỏ, không hiểu được nó thì lại thấy hết sức kỳ bí, thậm chí là quái dị, làm cho người ta không chú ý đến nó, coi nó như là những lời lẽ “trên trời”, chẳng “ăn nhập” gì với đời sống nhân gian cả. Vì thế mà chẳng có bậc trí giả nào bận tâm đoái hoài đến những câu từ có phần vẩn vơ như thế; trừ những môn đồ Quỉ Cốc. Đó là nguyên nhân dẫn đến sau này, hậu thế (thời Mạnh Tử) chỉ biết Dương Chu với thuyết “vị ngã”, “khinh vật trọng sinh” đầy vị kỷ mà không biết đến Lão Tử(!?).
Trong thực tế, chỉ khi truyền thụ học thuyết của mình cho các môn đồ bằng lời nói (truyền ngôn), Lão Đam (hay cũng là Dương Chu hoặc Quỉ Cốc tiên sinh) mới thể hiện ra hết được nội dung cũng như ý nghĩa huyền diệu thâm sâu của nó. Nó là cái gốc, là xuất phát điểm của mọi lập luận biện minh cho nhận thức xã hội và hành vi của người theo phái Đạo Gia.
Có thể “đoán mò” rằng Quỉ Cốc là một trước tác gồm ít nhất là hai phần, một phần là học thuyết nói về nguồn gốc, nguyên lý vận hành của Tự Nhiên (Đạo), của Vũ Trụ (trong đó có loài người), một phần mang tính ứng dụng, áp dụng Đạo vào thực tiễn mọi mặt, đóng vai trò như cẩm nang, bí quyết, kim chỉ nam cho hành động để sống còn, để “chiến đấu” giành thắng lợi cho chính nghĩa.
Học thuyết (gọi thế e không chính xác nhưng cứ tạm gọi vậy!) Quỉ Cốc mang tính khách quan cao độ, được các môn đồ tiếp thu qua truyền ngôn trực tiếp của thầy dạy; chỉ cho môn đồ thấy được Đạo; thấy được sự vận hành đều theo luật một cách tự nhiên của vạn vật, để biết mà sống, sống cho hợp, cho đúng, cho tốt. Quỉ Cốc không phải là một sự rao giảng cao giọng về luân lý (bản thân tự nhiên đã là luân lý rồi!?) mà như một lời khuyên nhủ chí tình, chí lý. Có thể mường tượng nó như một bài quyền hư chiêu trong võ thuật, như là Thái cực quyền: thích hay không thích thì tùy, nhưng biết nó rồi thì mê!
Mặc Địch sinh ở nước Tống, lớn lên ở nước Tống cho nên không thể thoát khỏi ảnh hưởng của Đạo gia, dù có thể đã học Nho gia. Theo truyền thuyết thì ông là bạn của Quỉ Cốc tiên sinh và Cầm Hoạt Ly, học trò của ông đã từng đàm biện với Dương Chu. Cứ cho sự thực là như vậy thì lúc này, Quỉ Cốc tiên sinh (hay cũng là Dương Chu) không phải là Lão Đam nữa mà là một người khác; là một “truyền nhân” của ông. Lão Đam, dù là người có phương pháp dưỡng sinh, tu tiên nên sống thọ, thì cũng đã tạ thế từ lâu, trước sau gì đó mươi, mười lăm năm, ngày Mặc Định chào đời. Vậy thì đích danh của Dương Chu (hay cũng là Quỉ Cốc tiên sinh) xuất hiện lúc này là… ai? Người này trước hết phải là môn đệ “chân truyền”, đóng vai trưởng môn phái, thông thuộc học thuyết của Lão Đam.
Người đó rất có thể là Lão Lai Tử và cái tên ấy cũng chỉ là một tên giả của con người có tên thật là Đam (thái tử Đam). Vì sao đoán như vậy? Vì đã là ẩn sĩ chân chính thì phải thật sự vô danh. Do đó thái tử Đam khi rời bỏ thế cuộc thì “tạm” lấy tên là Lão Lai Tử. Tên giả thường ẩn một nghĩa nào đấy. Chẳng hạn như tên Dương Chu ẩn cái nghĩa là Thành Lạc Dương, nhà Chu. Thế thì có thể cho rằng cái tên Lão Lai Tử mang cái ẩn nghĩa là con của Lão Lai. Con của Lão Lai tên Đam nên còn có thể gọi là Lão Đam. (Chúng ta chú ý đến điều này: thầy trò khi xưng hô, đối đáp vẫn thường xưng con – thưa thầy!). Người đời sau “đoán non đoán già” trước sự “u hiển” ấy và cuối cùng gộp chung “ba lão ấy” làm một: Lão Tử, người thọ 160 năm, thậm chí là 200 năm (tuổi thọ mà ba người cộng lại thì như thế cũng là thường thôi!).
Truyền thuyết Quỉ Cốc Tử là bạn của Mặc Tử và Lão Tử (Lão Lai Tử) như vậy cũng không đến nỗi vô lý lắm. Có thể truyền thuyết đó ẩn chứa sự thực này: Quỉ Cốc Tử sống cùng thời với Mặc Tử nhưng chỉ đã từng là học trò của Lão Tử (?). Có điều nhiều khả năng sau này Quỉ Cốc Tử sau khi đắc đạo, và được giao phó những cẩm nang bí truyền đã cùng môn đệ rời khỏi đất Bái (có thể vì đất Tống đã không còn “an toàn” nữa) đến Hàm Cốc (nước Tần đang lớn mạnh, thịnh trị) tiếp tục ẩn tại đó.
Hình như trường phái Quỉ Cốc (hay sau này gọi là Đạo Gia) có một ước lệ ngầm là học trò sau khi học xong những sở đắc của Quỉ Cốc đều phải “xuống núi” hành hiệp, tham gia thời cuộc tùy sở trường để thấu triệt cái thâm sâu của Đạo lý. (Tuy vậy, ai muốn bỏ học nửa chừng ra đi thì cũng không cấm, tự nhiên mà!). Sau một thời gian “lăn lộn” chốn thế sự, sẽ có những con người (rất ít?) vượt được qua vòng danh lợi, bảo toàn được mạng sống, nhận ra được cái chân lý vi diệu của Đạo, sẽ “rửa tay gác kiếm” quay về ở ẩn, chân tu, tiếp tục học nữa, và bắt đầu truyền dạy thế hệ sau, đồng thời luyện thần thành tiên.
Có một người trong số đó, vốn là môn đệ của Lão Lai Tử, “nhập thế, hữu vi”, làm nghề biện sĩ, du thuyết. Người đó được đời gọi là Vương Thiện (có thể tên giả mà thôi!).
Vương Thiện vào đời “quậy” một thời gian rồi trở về, ẩn tại đâu đó ở Dương Thành, vẫn còn là đất nhà Chu… Với lối sống mộc mạc, chân phác, bốc thuốc trị bệnh cứu người, nên dân quanh vùng nghe danh Quỉ Cốc Tử mà ông tự xưng liền gọi ông là Quỉ Cốc Tử, hoặc một cái tên khác nghe có vẻ kính phục hơn, đó là: Vương Thiện Lão Tổ. Vương Thiện Lão Tổ hay Quỉ Cốc tiên sinh là hai tên gọi của một con người tư tưởng thì cao sâu, tài năng thì siêu quần nhiều mặt (như đã nói trước đây) mà gần gũi và xuề xòa như “kẻ tiện dân”. Ông được Lão Lai Tử truyền thụ, sau này khi đã ở ẩn, hai thầy trò vẫn thường gặp nhau và khi Lão Lai Tử qui tiên, ông được coi như người đứng đầu trường phái Quỉ Cốc.
Lại một phán đoán thiếu căn cứ nữa là bắt nguồn từ tư tưởng sống phù hợp với tự nhiên, hòa vào thiên nhiên nên những người xuất thế theo phái Đạo gia thường về ẩn ở những vùng hẻo lánh, khai phá đất đai để trồng trọt chăn nuôi, tự nuôi sống mình, làm hình thành nên những trung tâm (không công khai) học, truyền đạo, và cũng có thể là còn phân tích tình hình chính sự, đề ra những quyết sách, ngầm tác động vào thời cuộc, khi đã giũ áo từ quan thì những ẩn sĩ Đạo gia chẳng khác nào một anh chàng nhà quê, một bác tá điền hay một lão nông xuề xòa chân phác. Họ ẩn là ẩn cái danh xưa kia của họ, cái tài năng xuất chúng của họ, cái mục đích phụng nghĩa cao cả của đời họ. Đó là “người đi đường”, “người gánh cỏ”, là “hai người đang cày ruộng” tên Tràng Thư và Kiệt Nịch, là “ông già làm cỏ ruộng”, là “người cuồng nước Sở” mà thầy trò Khổng Tử đã vô tình gặp được trên bước đường tìm nơi hành đạo của mình. Mặc Tử nhiều khả năng đã chứng kiến được cái cảnh sống điền viên ấy của các ẩn sĩ và nó đã tác động sâu sắc đến ông sau này, thể hiện trong phong cách sống và biện thuyết Kiêm Ái của ông.
Chuyện Khổng Tử theo Lão Tử trợ táng ở Hương Đảng (trong bộ “Tiểu Đái Ký”, thiên “Tăng Tử Vân”) mà chúng ta đã nói đến thì Hương Đảng có thể là vùng đất của các ẩn sĩ phái Đạo gia (hồi đó chưa có tên Đạo Gia!) chăng?
Dù thiếu căn cứ lịch sử nhưng chúng ta tin điều phán đoán trên là rất gần với hiện thực bởi câu nói này của Dương Chu: “Cho nên cái quí của trí là bảo tồn lấy cái ta làm quí. Cái đáng khinh ở sức ấy là chiếm đoạt lấy vật làm khinh”.
Nhận xét
Đăng nhận xét