LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN, YÊNG HÙNG NGỤY TẶC 15
-Chế độ Việt nam cộng hòa là chế độ "lộng giả thành chân" thứ thiệt.
-Quân tướng VNCH mạo danh là quân tử nhưng thực ra chính danh là ngụy quân tử. Hầu hết tướng lĩnh VNCH đều bắt đầu đường binh nghiệp bằng việc đầu quân cho Thực dân Pháp, phản quốc. Đó là lũ "tướng tiền" chứ không phải "tướng tài".
-Việt Cộng sinh ra nhằm giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. VNCH do ngoại bang nhào nặn ra nhằm vì danh lợi mà làm tay sai cho chúng, yêu Tổ Quốc bằng cách cam tâm và cả mù quáng "cõng rắn cắn gà nhà", âm mưu chia cắt giang sơn của giống nòi mình, gieo rắc hận thù Dân Tộc cho chính giống nòi mình.
Không nỗi đau nào bằng nỗi đau "nồi da xáo thịt"
Không nỗi buồn nào bằng nỗi buồn chia cắt giang sơn
Yêu Tổ Quốc là phải biết thương tận lòng Tổ Quốc
Thật bụng khen chê, thà ngây như kẻ thất phu.
---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
-Quân tướng VNCH mạo danh là quân tử nhưng thực ra chính danh là ngụy quân tử. Hầu hết tướng lĩnh VNCH đều bắt đầu đường binh nghiệp bằng việc đầu quân cho Thực dân Pháp, phản quốc. Đó là lũ "tướng tiền" chứ không phải "tướng tài".
-Việt Cộng sinh ra nhằm giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. VNCH do ngoại bang nhào nặn ra nhằm vì danh lợi mà làm tay sai cho chúng, yêu Tổ Quốc bằng cách cam tâm và cả mù quáng "cõng rắn cắn gà nhà", âm mưu chia cắt giang sơn của giống nòi mình, gieo rắc hận thù Dân Tộc cho chính giống nòi mình.
Không nỗi đau nào bằng nỗi đau "nồi da xáo thịt"
Không nỗi buồn nào bằng nỗi buồn chia cắt giang sơn
Yêu Tổ Quốc là phải biết thương tận lòng Tổ Quốc
Thật bụng khen chê, thà ngây như kẻ thất phu.
---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
"LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN"
Thành ngữ Việt Nam có câu "lộng giả thành chân” có nghĩa là “bỡn quá hóa thật”. Trước khi tìm hiểu định nghĩa này, tôi và nhiều người thường hiểu câu thành ngữ này nôm na là, biến cái giá thành cái thật, hay lời nói dối được nói đi nói lại nhiều lần lâu ngày ngưòi ta sẽ tin là thật.(...)
Chuẩn Tướng VNCH HUỲNH VĂN LẠC tiết lộ lý do ông không tuẫn tiết ngày 30/4/1975
Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc
Tướng Huỳnh – Văn – Lạc, trước khi về làm Tư –
Lệnh Sư – Đoàn 9/BB, vùng đồng bằng sông Cửu – Long,trách nhiệm các tỉnh
: Châu -đốc, An – giang, Kiến – phong, Sa – đéc… Ông là Tham – Mưu
-Trưởng của Quân – Đoàn IV & Quân – Khu IV. Tướng Huỳnh -Văn – Lạc
người Mằng- Lăng, quận Tuy – An, tỉnh Phú – Yên, nghe nói ông là người
Tu – Xuất (?) từ Nhà -Dòng,
Tôi rất hân hạnh có thời gian dài làm việc dưới quyền Ông, tuy không
trực tiếp. Vì tôi ở cấp Tiểu đoàn, qua Trung đoàn, rồi mới tới Sư đoàn.
Nhưng thói thường, người cấp dưới hay nhìn và tìm hiểu người cấp trên.
Tôi, cũng vậy. Theo chỗ tôi biết , Tướng Huỳnh – Văn – Lạc hiền lành và
không hề tai tiếng về những chuyện lem nhem … Lúc còn làm Tư Lệnh Sư
Đoàn Ông rất quan tâm đên đời sống anh em và gia đình binh sĩ. Nghe nói
có lần Ông ra đơn vị hành quân, thấy anh em binh sĩ có một số ăn mặc
thiếu thốn, Ông đã ta thán: ” Thiệt là không có quân đội nào nghèo khổ
như quân đội ta!!”
Rồi ngày đau thương của dân tộc ập đến, ngày VNCH thất thủ, tôi cũng ở tù chung với Ông ở trại Quân – Lao Cần – Thơ. Tôi ở cách Ông hơi xa, khu trong, khu ngoài, có khi tôi cũng đến thăm Ông . Ông rất phiền muộn vì vận nước nổi trôi! Tôi cấp nhỏ, dưới rất xa chỉ biết ngậm ngùi …! Và, trong bước đường gian nan đăng đẳng cái gọi là Học Tập Cải Tạo cũng có khi nghe nói về Ông, mà ai nói, tại đâu cũng không nhớ nữa, là khi ở trong những trại tù của VC, Ông từng than rằng : “Nhục quá , muốn tự tử cho rôì, nhưng vì có Đạo”. Cho đến khoảng tháng 6 năm 1976, hầu hết tù Chính Trị trong Nam đều chuyển ra cái gọi là Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, thì trại tù ở quân lao Cần Thơ (giam từ cấp Thiếu Tá đến Thiếu Tướng ) cũng chung số phận. Từ ấy, Ông và tôi chưa hề gặp lại nhau. Khi nghe tin Ông mới qua Mỹ khoảng năm 1996(?), tôi có tìm gọi phôn thăm Ông một lần, sau đó số phôn đổi khác và mất liên lạc!!
Hôm nay, tình cờ đọc lại trang báo cũ (vì cắt xén còn chút xíu nên không rõ tên báo ), do anh bạn cùng ở tù trại Thanh – Cẩm (1979 – 1782), anh Phạm – Văn – Tiến ở Seattle ( tiểu bang Washington ) gửi cho. Trong trang báo có mục ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG ” , Tác giả Vũ – Văn – Qúy có kể lại chuyện liên hệ với cấp trên của tôi là Chuẩn – Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC, tôi mạn phép tác giả trích đoạn liên quan nguyên văn như sau:
“”- Trở lại câu chuyện của Tướng Lê – Minh – Đảo. Chắc ông biết rõ vụ Tướng Huỳnh – Văn – Lạc đưọc trại mời ra nói chuyện để giao công tác gặp phái đoàn ngoại quốc. Việt Cộng thấy không lay chuyển được Tướng cao bồi Lê – Minh – Đảo nên thấy Tướng Lạc hiền lành như một thầy tu, tưởng dễ sai khiến. Tướng Lạc được hứa hẹn rằng gặp phái đoàn ngoại quốc chỉ cần nói một câu là trước kia ông đã từng bắn vào dân chúng thì sẽ được ghi tên tha ngay tức thời, nhưng đã bị ông thẳng thắng từ chối. Tướng Lạc từ tốn nói:”-Tôi không thể nói dối.Tôi không thể làm gương xấu cho bạn bè, cho thuộc cấp của tôi đang cải tạo ở đây. Các ông muốn bắn bỏ tôi, xin cứ việc bắn ”
Ngoài ra, cũng trong tiểu đề ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG “, tác giả Vũ – Văn – Quí có viết một đoạn, xin phép trích nguyên văn : ” Tập thể tướng lãnh bị giam giữ trong tù đều là những người rất xứng đáng, sống trong những năm tháng đen tối ngụp lặn dưới đường hầm cải tạo gần như mịt mùng vô định, cho dù chịu đói, chịu rét, lao động khổ cực và thiếu thăm nuôi tiếp tế, các vị ấy vẫn giữ được phong độ, vẫn giữ được cốt cách của những người làm tướng. Một chén canh rau rừng, một củ khoai hay khúc sắn, lúc nào cũng chia xẻ no đói chan hoà, đùm bọc thưong yêu nhau trong tình ” huynh đệ chi binh”. Tôi thường nghe các vị dặn dò nhau”- Những con mãnh hổ ở ngoài rừng hay bị nhốt trong cũi sắt, luôn luôn vẫn là cọp chứ không thể thay hình đổi dạng thành con chó được.”
Kính thưa quí độc giả, quí anh chị, hôm nay tôi viết tiểu đoạn này với những mục đích:
Một là để bày tỏ lòng kính mến của tôi đối với cấp trên cũ của tôi là Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC cùng hầu hết quí tướng lãnh khác, trừ tên NCK…
Hai là để các cháu Thanh Thiếu Niên thế hệ sau hiểu rõ thêm rằng quí vị Tướng Lãnh trong Quân lực VNCH rất xứng đáng để được tôn vinh chứ không phải tệ hại như VC tuyên truyền xuyên tạc và bóp méo sự thật!!
Sau hết, tôi cũng xin ô. Vũ – Văn – Qúy , tác giả bài báo “BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG” thứ lỗi cho tôi v/v trích đoạn bài viết mà không xin phép trước. Trân trọng.
NGUYỄN – MINH – THANH
Rồi ngày đau thương của dân tộc ập đến, ngày VNCH thất thủ, tôi cũng ở tù chung với Ông ở trại Quân – Lao Cần – Thơ. Tôi ở cách Ông hơi xa, khu trong, khu ngoài, có khi tôi cũng đến thăm Ông . Ông rất phiền muộn vì vận nước nổi trôi! Tôi cấp nhỏ, dưới rất xa chỉ biết ngậm ngùi …! Và, trong bước đường gian nan đăng đẳng cái gọi là Học Tập Cải Tạo cũng có khi nghe nói về Ông, mà ai nói, tại đâu cũng không nhớ nữa, là khi ở trong những trại tù của VC, Ông từng than rằng : “Nhục quá , muốn tự tử cho rôì, nhưng vì có Đạo”. Cho đến khoảng tháng 6 năm 1976, hầu hết tù Chính Trị trong Nam đều chuyển ra cái gọi là Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, thì trại tù ở quân lao Cần Thơ (giam từ cấp Thiếu Tá đến Thiếu Tướng ) cũng chung số phận. Từ ấy, Ông và tôi chưa hề gặp lại nhau. Khi nghe tin Ông mới qua Mỹ khoảng năm 1996(?), tôi có tìm gọi phôn thăm Ông một lần, sau đó số phôn đổi khác và mất liên lạc!!
Hôm nay, tình cờ đọc lại trang báo cũ (vì cắt xén còn chút xíu nên không rõ tên báo ), do anh bạn cùng ở tù trại Thanh – Cẩm (1979 – 1782), anh Phạm – Văn – Tiến ở Seattle ( tiểu bang Washington ) gửi cho. Trong trang báo có mục ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG ” , Tác giả Vũ – Văn – Qúy có kể lại chuyện liên hệ với cấp trên của tôi là Chuẩn – Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC, tôi mạn phép tác giả trích đoạn liên quan nguyên văn như sau:
“”- Trở lại câu chuyện của Tướng Lê – Minh – Đảo. Chắc ông biết rõ vụ Tướng Huỳnh – Văn – Lạc đưọc trại mời ra nói chuyện để giao công tác gặp phái đoàn ngoại quốc. Việt Cộng thấy không lay chuyển được Tướng cao bồi Lê – Minh – Đảo nên thấy Tướng Lạc hiền lành như một thầy tu, tưởng dễ sai khiến. Tướng Lạc được hứa hẹn rằng gặp phái đoàn ngoại quốc chỉ cần nói một câu là trước kia ông đã từng bắn vào dân chúng thì sẽ được ghi tên tha ngay tức thời, nhưng đã bị ông thẳng thắng từ chối. Tướng Lạc từ tốn nói:”-Tôi không thể nói dối.Tôi không thể làm gương xấu cho bạn bè, cho thuộc cấp của tôi đang cải tạo ở đây. Các ông muốn bắn bỏ tôi, xin cứ việc bắn ”
Ngoài ra, cũng trong tiểu đề ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG “, tác giả Vũ – Văn – Quí có viết một đoạn, xin phép trích nguyên văn : ” Tập thể tướng lãnh bị giam giữ trong tù đều là những người rất xứng đáng, sống trong những năm tháng đen tối ngụp lặn dưới đường hầm cải tạo gần như mịt mùng vô định, cho dù chịu đói, chịu rét, lao động khổ cực và thiếu thăm nuôi tiếp tế, các vị ấy vẫn giữ được phong độ, vẫn giữ được cốt cách của những người làm tướng. Một chén canh rau rừng, một củ khoai hay khúc sắn, lúc nào cũng chia xẻ no đói chan hoà, đùm bọc thưong yêu nhau trong tình ” huynh đệ chi binh”. Tôi thường nghe các vị dặn dò nhau”- Những con mãnh hổ ở ngoài rừng hay bị nhốt trong cũi sắt, luôn luôn vẫn là cọp chứ không thể thay hình đổi dạng thành con chó được.”
Kính thưa quí độc giả, quí anh chị, hôm nay tôi viết tiểu đoạn này với những mục đích:
Một là để bày tỏ lòng kính mến của tôi đối với cấp trên cũ của tôi là Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC cùng hầu hết quí tướng lãnh khác, trừ tên NCK…
Hai là để các cháu Thanh Thiếu Niên thế hệ sau hiểu rõ thêm rằng quí vị Tướng Lãnh trong Quân lực VNCH rất xứng đáng để được tôn vinh chứ không phải tệ hại như VC tuyên truyền xuyên tạc và bóp méo sự thật!!
Sau hết, tôi cũng xin ô. Vũ – Văn – Qúy , tác giả bài báo “BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG” thứ lỗi cho tôi v/v trích đoạn bài viết mà không xin phép trước. Trân trọng.
NGUYỄN – MINH – THANH
Tướng VNCH Ngô Dzu – Nuôi Ong Tay Áo Ông Cố Vấn Và Cái Gía Phải Trả Qúa Đắt Ở Pleiku
Trung Tướng Ngô Du, Thế Trận Qđ 2 Tại Cao Nguyên
16/09/2000
Tháng
8/1970, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ban hành sắc lệnh tái tổ chức
an ninh lãnh thổ VNCH. Theo đó, các Vùng chiến thuật được đổi thành Quân
khu, mỗi Quân khu do một Quân đoàn đảm trách. Cũng theo sắc lệnh này,
các Khu chiến thuật do Sư đoàn đảm trách được bãi bỏ, tuy nhiên mỗi Sư
đoàn vẫn được phân nhiệm hoạt động trên một địa bàn rộng theo tình hình
và địa thế của từng Quân khu. Cùng với sắc lệnh này, Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu đã bổ nhiệm 2 tân tư lệnh Quân đoàn: thiếu tướng Ngô Quang
Trưởng, nguyên tư lệnh Sư đoàn 1 BB được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Quân
đoàn 4 & Quân khu 4 thay thế thiếu tướng Ngô Du; tướng Du được cử
giữ chức tư lệnh Quân đoàn 2 & Quân khu 2 thay thế trung tướng Lữ
Lan. Vài tháng sau, cả hai vị tân tư lệnh Quân đoàn 2 và 4 đều được
thăng trung tướng.
Cũng cần ghi nhận rằng thiếu tướng
Ngô Du đã nhận chức tư lệnh Quân đoàn 4 vào tháng 5/1970 thay thế thiếu
tướng Nguyễn Viết Thanh bị tử nạn trực thăng. Trước khi được giao phó
trọng trách chỉ huy Quân đoàn, tướng Ngô Du đã từng đảm nhận nhiều chức
vụ quan trọng. Theo tài liệu của Khối Quân sử/Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu
QL.VNCH và tài liệu về các Sư đoàn VNCH do Trung tâm Quân sử Lục quân
Hoa Kỳ biên soạn, vào tháng 4 năm 1957, khi Quân lực VNCH trong giai
đoạn hình thành và phát triển với 4 Sư đoàn Dã chiến và 6 Sư đoàn Khinh
chiến, tướng Ngô Du đã được Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm cử giữ chức tư
lệnh Sư đoàn 4 Dã chiến khi ông còn mang cấp trung tá. Ông giữ chức vụ
này từ tháng 4/1957 đến tháng 3/1958 (trong năm 1958, Sư đoàn này được
cải danh thành Sư đoàn 7 Bộ binh). Cuối tháng 1/1964, khi mang cấp đại
tá, ông được cử giữ chức tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh (từ 30 tháng 1 đến
29/7/1964), thăng chuẩn tướng vào tháng 5/1964. Năm 1968, Ông được thăng
thiếu tướng khi đang phụ trách kế hoạch Hành quân Bình định của Bộ Tổng
tham mưu QL.VNCH.
Nhận chức tư lệnh Quân đoàn 2
vào mùa thu 1970, đúng vào lúc CQ đang gia tăng nỗ lực tại chiến trường
Tây nguyên. Trong 3 tháng cuối của năm 1970 và trong suốt năm 1971, dưới
quyền chỉ huy của tướng Ngô Du, Quân đoàn 2 với sự tăng cường của các
đơn vị Sư đoàn Nhảy Dù QL.VNCH và các đơn vị Đồng minh Mỹ, Đại Hàn, đã
nỗ lực đánh bại nhiều cuộc tấn công cường tập của CSBV tại các mặt trận
lớn trên địa bàn các tỉnh Kontum, Pleiku, Quảng Đức, Bình Định...
* Phối trí lực lượng của Quân đoàn 2/Quân khu 2 đầu năm 1972
Đầu năm 1972, các đơn vị Hoa Kỳ lần lượt rút quân khỏi Cao nguyên, Quân đoàn 2 đã tái phối trí lực lượng để bảo vệ lãnh thổ. Lực lượng chính của Quân đoàn 2 gồm Sư đoàn 22 BB và Sư đoàn 23 BB được phối trí như sau.
-Sư đoàn 22 Bộ binh chịu trách nhiệm phía Bắc Quân khu 2 gồm 5 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku và Kontum.
-Sư đoàn 23 Bộ binh trách nhiệm 7 tỉnh và 1 thành phố còn lại của Quân khu 2 gồm có: Ban Mê Thuột, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng Khánh Hòa, Cam Ranh, Ninh Thuận và Bình Thuận.
Đầu năm 1972, các đơn vị Hoa Kỳ lần lượt rút quân khỏi Cao nguyên, Quân đoàn 2 đã tái phối trí lực lượng để bảo vệ lãnh thổ. Lực lượng chính của Quân đoàn 2 gồm Sư đoàn 22 BB và Sư đoàn 23 BB được phối trí như sau.
-Sư đoàn 22 Bộ binh chịu trách nhiệm phía Bắc Quân khu 2 gồm 5 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku và Kontum.
-Sư đoàn 23 Bộ binh trách nhiệm 7 tỉnh và 1 thành phố còn lại của Quân khu 2 gồm có: Ban Mê Thuột, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng Khánh Hòa, Cam Ranh, Ninh Thuận và Bình Thuận.
Ngoài 2 sư đoàn Bộ
binh, lực lượng Lục quân tác chiến của Quân đoàn 2 còn có 1 liên đoàn
Biệt động quân tiếp ứng, 12 tiểu đoàn Biệt động quân biên phòng, 1 lữ
đoàn Kỵ binh, một số tiểu đoàn Pháo binh trực thuộc Quân đoàn, 1 liên
đoàn Công binh Chiến đấu.
Trước khi trận chiến Hè
1972 xảy ra, tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh là thiếu tướng Lê Ngọc Triển, tư
lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh là chuẩn tướng Võ Văn Cảnh. Trong thời gian làm
tư lệnh các sư đoàn nói trên, tướng Triển và tướng Cảnh đã chỉ huy có
kết quả trong các cuộc hành quân thuộc khu vực trách nhiệm của mình. Thế
nhưng vào tháng 2/1972, ông John Paul Vann, cố vấn trưởng Quân đoàn 2
yêu cầu trung tướng Ngô Du phải thay thế hai vị tướng này. Ông Vann
nguyên là trung tá cố vấn trưởng Sư đoàn 7 Bộ binh VNCH trong thời kỳ
đại tá Huỳnh Văn Cao làm tư lệnh (1961-1962); ông đã giải ngũ với cấp
bậc trung tá, một thời gian sau trở lại Việt Nam và giữ nhiều chức vụ
quan trọng, chức vụ cuối cùng của ông trước khi tử nạn vào cuối năm
1972, là cố vấn trưởng Quân đoàn 2 với quyền hạn và lương bổng dành cho
một thiếu tướng Hoa Kỳ.
Giải thích về yêu cầu của
mình, ông Paul Vann nêu ra lý do như sau: Mặt trận sắp tới sẽ sôi động
và gay cấn, cần có các tư lệnh sư đoàn năng động, trẻ tuổi, còn tướng
Triển và tướng Cảnh thì đã lớn tuổi (năm 1972, các tướng Cảnh và Triển
chưa đến 50 tuổi). Sau đó, ông Paul Vann đã đề nghị đại tá Lý Tòng Bá và
đại tá Lê Minh Đảo thay thế hai vị tướng trên. Theo hồi ký của cựu
chuẩn tướng Lý Tòng Bá thì ban đầu ông Vann đề nghị đại tá Bá làm tư
lệnh Sư đoàn 22 BB còn đại tá Đảo làm tư lệnh Sư đoàn 23 BB.
Theo
lời kể của cựu đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn 2 thì trung
tướng Ngô Du bị bất ngờ trước ý kiến của ông Paul Vann và đã nói với vị
cố vấn này rằng việc bổ nhiệm tư lệnh Sư đoàn là do Tổng thống Thiệu
quyết định, tư lệnh Quân đoàn không có quyền. Trung tướng Du cũng cho
biết là hai tướng Triển và Cảnh không có lỗi gì nên không thể đề nghị
thay thế được. Tuy nhiên Paul Vann nhất quyết đòi phải thay thế hai vị
tướng này.
Tướng Triển và tướng Cảnh biết được
những khó khăn của trung tướng Ngô Du, tư lệnh Quân đoàn 2, nên hai vị
tướng này đã nói với trung tướng Ngô Du rằng “vì đất nước và quân đội”,
hai ông sẽ sẵn sàng làm đơn lên Tổng thống xin từ chức vì lý do sức khỏe
để tướng Du tiện sắp xếp nhân sự cao cấp tại các sư đoàn. Khi trao đổi ý
kiến với ông Paul Vann, tướng Du hỏi: Quân đoàn 2 có nhiều sĩ quan trẻ
và giỏi như đại tá Lê Đức Đạt, đại tá Tôn Thất Hùng và nhiều đại tá
khác, tại sao ông không đề nghị. Ông Paul Vann trả lời: đại tá Đạt bị
tai tiếng khi còn ở Quân khu 3, nên tôi không đề nghị, còn đại tá Hùng
tôi chưa có cơ hội biết được khả năng của ông ta.
Do
tình hình chiến sự tại Cao nguyên càng ngày càng sôi động, Quân đoàn 2
cần đến sự hỗ trợ của Không lực Hoa Kỳ qua trung gian của ông Paul Vann
nên trung tướng Du cần phải thỏa mãn gấp các đề nghị của vị cố vấn này.
Tuy nhiên tướng Du chỉ thỏa mãn 50% đề nghị. Với cương vị của một tư
lệnh Quân đoàn, trung tướng Ngô Du đề nghị Tổng thống Thiệu bổ nhiệm đại
tá Lý Tòng Bá làm tư lệnh Sư đoàn 23 (lúc đó, đại tá Bá là phụ tá Lãnh
thổ Tư lệnh Quân khu 2); đại tá Lê Đức Đạt, tư lệnh phó Sư đoàn 22 BB,
giữ chức tư lệnh Sư đoàn này. Trước đề nghị của trung tướng Ngô Du, ông
Paul Vann không hài lòng. Cũng trong sự sắp xếp mới này, thiếu tướng
Triển được thuyên chuyển về làm tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu,
còn chuẩn tướng Võ Văn Cảnh thì sau đó được cử giữ chức chỉ huy trưởng
Huấn khu Dục Mỹ (gồm 3 quân trường: trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trường
Pháo Binh và trường Biệt động quân).
* Chiến trường Cao nguyên trong tháng 2 và tháng 3/1972
Theo loạt bài của trung tướng Ngô Quang Trưởng và một số cựu sĩ quan cao cấp VNCH viết cho Trung tâm Quân sử Hoa Kỳ và tài liệu của tác giả Trần Phan Anh trong cuốn Chiến Trận Mùa Hè, thế trận của Quân đoàn 2 trong những tháng đầu năm 1972 được ghi nhận như sau.
Vào cuối tháng Giêng và đầu tháng 2/1972, phi cơ quan sát của Không quân Việt-Mỹ đã liên tục phát giác các dấu hiệu di chuyển về người và tiếp liệu của CSBV trong vùng. Các dấu xích chiến xa, cả một đoàn quân xa cũng được khám phá tại vùng Đông Căn cứ địa 609. Cùng lúc đó, tài liệu CSBV bị tịch thu bởi các toán tuần tiễu, xác nhận sự hiện diện của sư đoàn 320 CSBV tại vùng hoạt động của mặt trận B-3 và đồng thời khám phá CQ đem được các súng đại pháo tầm xa 122 và 130 ly vào vùng Tam biên Việt-Căm Bốt-Lào. Trước những tín hiệu trên, theo yêu cầu của trung tướng Ngô Du, Không lực Hoa Kỳ đã thực hiện tối đa các phi tuần B- 52 và Không quân chiến thuật, các cuộc hành quân tuần tiểu của các đơn vị bộ chiến đã được khai triển rộng để truy tìm địch quân. Cùng lúc đó, tướng Ngô Du cũng đã cho tăng cường phòng thủ hai tỉnh lỵ Pleiku và Kontum.
Theo loạt bài của trung tướng Ngô Quang Trưởng và một số cựu sĩ quan cao cấp VNCH viết cho Trung tâm Quân sử Hoa Kỳ và tài liệu của tác giả Trần Phan Anh trong cuốn Chiến Trận Mùa Hè, thế trận của Quân đoàn 2 trong những tháng đầu năm 1972 được ghi nhận như sau.
Vào cuối tháng Giêng và đầu tháng 2/1972, phi cơ quan sát của Không quân Việt-Mỹ đã liên tục phát giác các dấu hiệu di chuyển về người và tiếp liệu của CSBV trong vùng. Các dấu xích chiến xa, cả một đoàn quân xa cũng được khám phá tại vùng Đông Căn cứ địa 609. Cùng lúc đó, tài liệu CSBV bị tịch thu bởi các toán tuần tiễu, xác nhận sự hiện diện của sư đoàn 320 CSBV tại vùng hoạt động của mặt trận B-3 và đồng thời khám phá CQ đem được các súng đại pháo tầm xa 122 và 130 ly vào vùng Tam biên Việt-Căm Bốt-Lào. Trước những tín hiệu trên, theo yêu cầu của trung tướng Ngô Du, Không lực Hoa Kỳ đã thực hiện tối đa các phi tuần B- 52 và Không quân chiến thuật, các cuộc hành quân tuần tiểu của các đơn vị bộ chiến đã được khai triển rộng để truy tìm địch quân. Cùng lúc đó, tướng Ngô Du cũng đã cho tăng cường phòng thủ hai tỉnh lỵ Pleiku và Kontum.
Đầu
tháng 2/1972, trung tướng Ngô Du đã khởi động kế hoạch tái phối trí lực
lượng để bảo vệ Cao nguyên. Ông đã ra lệnh di chuyển bộ Tư lệnh Tiền
phương Sư đoàn 22 BB cùng với 1 trung đoàn cơ hữu, Trung đoàn 47, và một
thành phần yểm trợ quan trọng của Sư đoàn từ căn cứ chính tại Bình Định
di chuyển đến khu vực Tân Cảnh-Dakto. Tại đây, bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB
đặt chung với bộ chỉ huy Trung đoàn 42 BB, một binh đoàn cơ hữu của Sư
đoàn đã hoạt động tại khu vực này từ trước. Ngày 8 tháng 2/1972, cuộc di
chuyển đã hoàn tất. Ngoài lực lượng Bộ binh, một thành phần của Thiết
đoàn 19 Kỵ binh cũng được lệnh đến Tân Cảnh để tăng cường cho Thiết đoàn
14, đơn vị thống thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh.
Để
tăng cường lực lượng bộ chiến cho mặt trận Cao nguyên, bộ Tổng Tham mưu
đã điều động Lữ đoàn 2 Nhảy Dù đặt thuộc quyền điều động của Quân đoàn
2. Bộ chỉ huy Lữ đoàn đặt tại căn cứ Võ Định, các đơn vị Nhảy Dù thống
thuộc được phối trí phòng thủ các căn cứ hỏa lực tại vùng Đồi Chiến Lược
(Rocket Ridge) bao vùng cho anh ninh tỉnh lộ 511 về hướng Tây và sông
Poko về hướng Đông, tạo thành một màng lưới bảo vệ Tân Cảnh và thị xã
Kontum từ hướng Tây và Tây Bắc, hướng tiến của CQ. Tất cả lực lượng đã
được báo động và trong tư thế sẵn sàng chiến đấu để chận đứng cuộc tấn
công của CQ, và trong tháng 2 và tháng 3, trận chiến vẫn chưa diễn ra
trên chiến trường Cao nguyên.
Tướng VNCH Nguyễn Vĩnh Nghi Được Quân Giải Phóng Cảm Hóa Quay Lưng Phản Lại Nguyễn Văn Thiệu
Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi & Mặt Trận Phan Rang 4/75
15/04/2000
Sau
khi lực lượng VNCH triệt thoái khỏi Quân khu 1 vào ngày 29/3/1975, tình
hình chiến sự tại các tỉnh duyên hải phía Nam Trung phần ngày càng nguy
kịch. Trước áp lực của CQ, trong các ngày 30, 31/3, 1/4 và 2/4, các đơn
vị VNCH thuộc Quân đoàn 2/Quân khu 2 đã lần lượt rút khỏi các tỉnh Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Để ngăn chận mức tiến quân của CSBV, và để
cứu vãn tình hình, nhất là tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, hai
thành lũy cuối cùng của Quân khu 2, bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH đã ủy nhiệm
cho Quân đoàn 3 đảm trách hai tỉnh này. Trong hai ngày 6 và 7 tháng 4,
phòng tuyến Phan Rang được tăng cường lực lượng với nỗ lực chính là Lữ
đoàn 2 Nhảy Dù và các toán thám sát của Nha Kỹ thuật, lực lượng tiếp ứng
này hoạt động tại hai khu vực Đông Bắc và Tây Bắc thị xã Phan Rang.
Trước đó, vào ngày 4/4, bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 được thành
lập tại căn cứ Không quân Phan Rang với trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi,
đương kim chỉ huy trưởng Trường Bộ Binh, trực tiếp chỉ huy các đơn vị
tại mặt trận Ninh Thuận-Bình Thuận. Trung tướng Nghi từng là tư lệnh
Quân đoàn 4/Quân khu 4 từ tháng 5/1972 đến tháng 10/1974, trước đó ông
là tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh (từ tháng 6/1968 đến tháng 5/1972).
Với
hệ thống chỉ huy mới, lực lượng mới đến tăng cường, được sự yểm trợ hữu
hiệu của Không quân, tình hình an ninh, trật tự tại Ninh Thuận-Bình
Thuận được vãn hồi nhanh chóng. Trong tuần lễ đầu, chỉ có vài trận đụng
độ nhỏ không đáng kể, chỉ có áp lực của sư đoàn 7 CSBV ở cạnh sườn Phan
Thiết. Trong khi đó, tại Quân khu 3, áp lực của CQ đã gia tăng tại mặt
trận Biên Hòa-Long Khánh. Trước tình hình đó, trung tướng Nguyễn Văn
Toàn, tư lệnh Quân đoàn 3, quyết định rút Lữ đoàn 2 Nhảy Dù từ Phan Rang
về để củng cố lực lượng trừ bị phản ứng cấp thời. Thay thế cho Lữ đoàn 2
Dù và tăng cường lực lượng phòng thủ Bình Thuận là thành phần còn lại
của Sư đoàn 2 Bộ Binh (BB) được tái chính trang sau khi rút khỏi Quân
khu 1 vào hai tuần trước đó, một liên đoàn Biệt động quân cũng vừa được
củng cố cách đó ba ngày và một chi đoàn M 113 thuộc Quân đoàn 2 mới được
tái thành lập.
Theo tài liệu của đại tướng Cao
Văn Viên thì lực lượng Sư đoàn 2 BB được tái thành lập với 2 trung đoàn
BB, 1 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly, 1 pháo đội 155 ly và chi đội M 113.
Việc chuyển quân ra thay thế vừa sắp hoàn tất thì chiến trận bùng nổ.
Ngày 14 tháng 4/1975, sư đoàn F-10 CQ được tăng cường bởi các đơn vị của
Sư đoàn 3 CSBV tấn công vào cụm vị trí của Thiết giáp và Pháo binh.
Trước tình thế nguy kịch, trung tướng Nghi yêu cầu giữ lại một tiểu đoàn
Nhảy Dù đang chuẩn bị rút về để đối phó. Sau đây là tình hình chiến sự
tại mặt trận Phan Rang trong hai ngày 15 và 16/4/1975. Phần này được
biên soạn dựa theo hồi ký của cựu trung tướng Trần Văn Đôn, nguyên Tổng
trưởng Quốc phòng VNCH, bài nhận định của cựu đại tướng Cao Văn Viên
viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, cuốn Đời Chiến Binh của cựu
thiếu tá Nhảy Dù Trương Dưỡng, và tài liệu riêng của VB.
* Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn thị sát mặt trận Phan Rang
Ngày 15/4/1975, cựu trung tướng Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng của tân nội các Nguyễn Bá Cẩn, đã bay ra Phan Rang để thị sát chiến trường. Sau khi nghe trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3, trình bày tình hình và những đề nghị cấp thiết, Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn hứa là sẽ tìm mọi cách để cung cấp các loại vũ khí chiến lược như hỏa đạn CBU cho lực lượng bảo vệ phòng tuyến Phan Rang. Sau khi về đến Sài Gòn, cựu trung tướng Trần Văn Đôn cho mời thiếu tướng Smith, tùy viên Quân sự tòa đại sứ Mỹ đến gặp ông tại văn phòng Tổng trưởng Quốc phòng VNCH ở đường Gia Long. Trong cuộc gặp này, cựu trung tướng Trần Văn Đôn đã yêu cầu thiếu tướng Smith cung cấp cho bộ Quốc phòng VNCH những loại vũ khí mà Quân lực VNCH đang cần đến, trong đó có hỏa đạn CBU, ống dòm và máy truyền tin cho các đơn vị chiến đấu.
Ngày 15/4/1975, cựu trung tướng Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng của tân nội các Nguyễn Bá Cẩn, đã bay ra Phan Rang để thị sát chiến trường. Sau khi nghe trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3, trình bày tình hình và những đề nghị cấp thiết, Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn hứa là sẽ tìm mọi cách để cung cấp các loại vũ khí chiến lược như hỏa đạn CBU cho lực lượng bảo vệ phòng tuyến Phan Rang. Sau khi về đến Sài Gòn, cựu trung tướng Trần Văn Đôn cho mời thiếu tướng Smith, tùy viên Quân sự tòa đại sứ Mỹ đến gặp ông tại văn phòng Tổng trưởng Quốc phòng VNCH ở đường Gia Long. Trong cuộc gặp này, cựu trung tướng Trần Văn Đôn đã yêu cầu thiếu tướng Smith cung cấp cho bộ Quốc phòng VNCH những loại vũ khí mà Quân lực VNCH đang cần đến, trong đó có hỏa đạn CBU, ống dòm và máy truyền tin cho các đơn vị chiến đấu.
Trước yêu cầu của VNCH, thiếu tướng
Smith cho biết hiện trong kho vũ khí của Hoa Kỳ không còn những loại
này. Tướng Smih hứa sẽ hỏi lại bộ Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình
Dương, vì vào thời gian này vũ khí và đạn dược đều nằm ở những tổng kho
ngoài lãnh thổ Việt Nam. Rời bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Simth ghé qua
văn phòng của Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH, ông báo cho đại tướng
Viên biết qua về nội dung cuộc gặp gỡ của ông với tổng trưởng Quốc phòng
VNCH. Thiếu tướng Smith nói với đại tướng Viên: “Tôi được ông tổng
trưởng Quốc phòng mời đến, tưởng ông bàn chuyện di tản gia đình của ông,
không ngờ tướng Đôn bàn chuyện tiếp vận cho các đơn vị ngoài tiền
tuyến. Lần đầu tiên, một vị tổng trưởng Quốc phòng bàn với tôi vấn đề đó
từ mấy tháng nay”.
Cũng cần ghi nhận rằng trước
ngày 14/4/1975, chức vụ tổng trưởng Quốc phòng VNCH do đại tướng Trần
Thiện Khiêm, Thủ tướng chính phủ, kiêm nhiệm. Theo nhận xét của thiếu
tướng Smith, Thủ tướng Khiêm ít có thời gian để lo công việc quốc phòng,
và hầu như ông cũng không có thực quyền, mọi việc liên quan đến quốc
phòng đều do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định. Khi cựu trung tướng
Trần Văn Đôn được tân Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn mời làm Phó Thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, ông yêu cầu Tổng thống Thiệu giao cho ông
được trọn quyền về quốc phòng. Là cấp chỉ huy cũ của Tổng thống Thiệu
nên tướng Đôn gặp nhiều sự dễ dàng khi đưa ra những đề nghị liên quan
đến vấn đề quốc phòng và tiếng nói của ông có “trọng lượng”. Trở lại với
việc tìm nguồn vũ khí tăng viện cho các đơn vị, sau khi gặp tướng
Smith, cựu trung tướng Đôn cũng đã gặp trung tướng Trần Văn Minh, tư
lệnh Không quân để bàn về phương cách làm sao có CBU để giúp cho các đơn
vị chiến đấu.
* Trận chiến cuối cùng tại phòng tuyến Phan Rang
Trong khi bộ Quốc phòng VNCH đang tìm cách để cung cấp các vũ khí tối cần thiết cho các đơn vị tại chiến trường thì tại mặt trận Phan Rang, trong 2 ngày 15 và 16/4/1975, Cộng quân đã tung 2 sư đoàn tấn công vào căn cứ Không quân Phan Rang và trung tâm thị xã. Phòng thủ vòng đai căn cứ Không quân là tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và 1 tiểu đoàn Địa phương quân. Tiểu đoàn Nhảy Dù này thuộc Lữ đoàn 2 Dù chuẩn bị về Sài Gòn theo kế hoạch chuyển quân của Bộ Tổng Tham Mưu nhưng do tình hình chiến sự rất nguy ngập, nên trung tướng Nghi đã xin giữ lại đơn vị này. Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Dù cũng còn ở lại Phan Rang khi Cộng quân tấn công vào thị xã tỉnh lỵ. Tại trung tâm thị xã, lực lượng phòng thủ là một trung đoàn của Sư đoàn 2 Bộ binh và một tiểu đoàn Địa phương quân thuộc tiểu khu Ninh Thuận.
Trong khi bộ Quốc phòng VNCH đang tìm cách để cung cấp các vũ khí tối cần thiết cho các đơn vị tại chiến trường thì tại mặt trận Phan Rang, trong 2 ngày 15 và 16/4/1975, Cộng quân đã tung 2 sư đoàn tấn công vào căn cứ Không quân Phan Rang và trung tâm thị xã. Phòng thủ vòng đai căn cứ Không quân là tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và 1 tiểu đoàn Địa phương quân. Tiểu đoàn Nhảy Dù này thuộc Lữ đoàn 2 Dù chuẩn bị về Sài Gòn theo kế hoạch chuyển quân của Bộ Tổng Tham Mưu nhưng do tình hình chiến sự rất nguy ngập, nên trung tướng Nghi đã xin giữ lại đơn vị này. Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Dù cũng còn ở lại Phan Rang khi Cộng quân tấn công vào thị xã tỉnh lỵ. Tại trung tâm thị xã, lực lượng phòng thủ là một trung đoàn của Sư đoàn 2 Bộ binh và một tiểu đoàn Địa phương quân thuộc tiểu khu Ninh Thuận.
Hệ thống bảo vệ từ xa của phòng tuyến Phan
Rang do một liên đoàn Biệt động quân, 1 tiểu đoàn Pháo binh, 1 chi đoàn M
113 phụ trách, đã bị Cộng quân tấn công từ ngày 14 tháng 4/1975. Để dọn
đường cho bộ binh tấn công vào căn cứ Không quân Phan Rang và trung tâm
thị xã, Cộng quân đã pháo liên tục vào các vị trí phòng ngự vòng quanh
căn cứ Không quân, đồng thời bắn phá dồn dập vào khu vực phi cơ đậu và
phi đạo để không cho phi cơ chiến đấu của Sư đoàn 6 Không quân cất cánh.
Cùng lúc đó, Cộng quân tấn công mạnh vào thị xã bằng ba hướng. Lúc bấy
giờ đại đa số cư dân Phan Rang đã di tản vào Nam, thị xã chỉ còn lại
quân nhân, cảnh sát và một số công chức. Lực lượng phòng thủ thị xã
chống trả quyết liệt, nhưng do Cộng quân quá đông nên lần lượt các tuyến
phòng thủ trung tâm đều bị chiếm. Cùng lúc đó, Cộng quân tung một trung
đoàn cắt đứt đường giao thông trên Quốc lộ 1 ở khu vực Cà Ná cách thị
xã Phan Rang khoảng 48 km về hướng Tây Nam cốt để chặn đường rút quân
của các đơn vị VNCH.
* Phan Rang thất thủ, trung tướng Nghi và chuẩn tướng Sang bị bắt
Không còn lực lượng trừ bị để tăng viện cho các tuyến phòng thủ, trong khi đó căn cứ Không quân bị tấn công dữ dội, nên sáng ngày 16 tháng 4/1975, trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 kiêm tư lệnh mặt trận Phan Rang họp khẩn cấp với chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang-tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân, sư đoàn đang phụ trách căn cứ Không quân Phan Rang, và chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, để bàn kế hoạch rút quân. Theo lời của chuẩn tướng Nhựt thì giải pháp mà các vị tướng chọn lựa là phân tán và rút theo cá nhân.
Không còn lực lượng trừ bị để tăng viện cho các tuyến phòng thủ, trong khi đó căn cứ Không quân bị tấn công dữ dội, nên sáng ngày 16 tháng 4/1975, trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 kiêm tư lệnh mặt trận Phan Rang họp khẩn cấp với chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang-tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân, sư đoàn đang phụ trách căn cứ Không quân Phan Rang, và chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, để bàn kế hoạch rút quân. Theo lời của chuẩn tướng Nhựt thì giải pháp mà các vị tướng chọn lựa là phân tán và rút theo cá nhân.
Tình
hình tại bộ Tư lệnh của tướng Nghi vào lúc đó rất nguy kịch, do hệ
thống truyền tin bị trúng đạn pháo kích của Cộng quân, nên bộ Tư lệnh
tiền phương Quân đoàn 3 ở Phan Rang đã không còn liên lạc được với bộ Tư
lệnh chính của Quân đoàn 3/Quân khu 3 đóng tại Biên Hòa, cũng như bộ
Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn. Đến trưa ngày 16/4/1975, thị xã Phan Rang bị
Cộng quân chiếm.
Tại bộ Tư lệnh mặt trận Phan Rang
đặt trong căn cứ Không quân, Cộng quân xua quân tiến sát đến vòng đai
phi trường, trung tướng Nghi và tướng Sang cho lệnh các sĩ quan và đơn
vị trú phòng tùy nghi phân tán. Riêng chuẩn tướng Nhựt được trực thăng
(dành riêng cho tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh) đáp xuống ngoài hàng rào phi
trường Phan Rang bốc đưa ra biển. Trực thăng chở tướng Nhật gặp tàu Hải
quân HQ 3. Tướng Trần Văn Nhựt kể lại rằng từ trực thăng ông nhảy xuống
biển và được chiến hạm HQ 3 vớt lên. Từ HQ 3, tướng Nhựt dùng máy truyền
tin của Hải quân báo cáo về Sài Gòn là Phan Rang đã thất thủ.
Trở
lại với tình hình tại căn cứ Không quân Phan Rang, sau hàng loạt pháo
kích bắn phá căn cứ phi trường, doanh trại và hệ thống công sự phòng thủ
trong căn cứ, Cộng quân điều động bộ binh và thiết giáp đánh thẳng vào
căn cứ. Trong tình hình nguy kịch, bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã mở
đường máu ra khỏi phi trường và “bắt tay” tiểu đoàn 11 Nhảy Dù ở ngoài.
Sau đó, đại tá Nguyễn Thu Lương, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù, đã liên
lạc được với phi cơ quan sát, sĩ quan liên lạc của Sư đoàn Nhảy Dù trên
phi cơ yêu cầu đại tá Lương tìm bãi đáp để 25 trực thăng sẽ hạ cánh bốc
quân đi. Vị lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 Nhảy Dù trình với trung tướng Nghi
đưa bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn và Sư đoàn 6 Không quân di chuyển
đến bãi trống phía trái phi trường để lên chuyến trực thăng đầu, còn
toàn bộ anh em Nhảy Dù sẽ di chuyển bộ đi về hướng núi Cà Núi để gặp một
số đại đội Nhảy Dù bố phòng tại đây.
Trung tướng
Nghi đã từ chối kế hoạch bảo vệ sự an toàn cho ông và các sĩ quan tham
mưu của bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3, ông nói với đại tá Lương:
“Báo cho đoàn trực thăng trở về túc trực, sáng mai sẽ tính. Bây giờ
chúng ta tiếp tục di chuyển về Cá Ná lập phòng tuyến chận địch tại đó.”
Nghe tướng Nghi nói như vậy, đại tá Lương đành cho lệnh bố trí chờ đêm
tối băng đường ra khỏi vòng vây của Cộng quân.
Theo
lời kể của một số nhân chứng thuật lại với cựu thiếu tá Trương Dưỡng,
tác giả cuốn Đời Chiến Binh, thì trong lúc nguy kịch, có một chiếc C 47
được trang bị máy móc để hình thành bộ chỉ huy trên không. Trung tướng
Nghi bảo chuẩn tướng Sang cùng sĩ quan Tham mưu bay lên trời để điều hợp
chỉ huy, tướng Sang trả lời: “Trung tướng là tướng 3 sao mà ở dưới đất,
tại sao tôi có 1 sao lại ở trên trời" Tôi phải ở dưới cùng chịu chung
nguy hiểm với trung tướng.” Cuối cùng trung tướng Nghi và chuẩn tướng
Sang và một số sĩ quan bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 bị CQ bắt
trong giờ cuối của trận chiến.
Có thể bạn chưa biết
"Những lời khai của Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi rất có ý nghĩa để Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng"
Sau khi Phan Rang, rồi sân bay Thành Sơn thất thủ. Phạm Ngọc Sang, chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân và Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng Tư lệnh Quân đoàn 3 đã bị bắt tại trận. Tiếp theo, một chuyến bay đặc biệt đã đưa Nghi và Sang ra Bắc để khai thác thông tin, phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Sau này, Nguyễn Vĩnh Nghi kể lại: "Một hôm, có một cán bộ cao cấp đến gặp tôi. Ông ấy hỏi tôi về điều kiện ăn, ở. Tôi nói tôi được đối xử tốt nhưng vì ngủ nệm đã quen nên bây giờ nằm giường ván, tôi hay bị mất ngủ. Tưởng nói thế là thôi nhưng hôm sau, tôi được cấp ngay một chiếc nệm"...
Sau khi bị bắt, Nguyễn Vĩnh Nghi đã thành khẩn khai ra tất cả những gì ông ta biết về quân đội Sài Gòn, từ vũ khí, khí tài đến cách bố trí lực lượng. Một trong những cán bộ đã trực tiếp hỏi cung Nghi, kể lại: "Khi tôi yêu cầu ông ta nhận định về Quân giải phóng, về cách Thiệu sẽ bố trí lực lượng giữ Sài Gòn thì thoạt đầu, Nghi rất dè chừng. Ông ta nói: "Các ông hỏi tôi những câu này thật khó trả lời". Chúng tôi bảo Nghi: "Vậy thì anh sẽ có thời gian để suy nghĩ".
Nhưng chỉ vài phút sau đó, Nguyễn Vĩnh Nghi đến bên tấm bản đồ, trình bày một cách rành mạch các địa điểm tác chiến, các mặt mạnh, yếu, việc bố trí quân và ý đồ chiến thuật, chiến lược của chính quyền Sài Gòn. Nghi khẳng định: "Cách phòng thủ Sài Gòn hiện nay là phòng thủ từ xa theo hình vòng cung từ Gò Dầu Hạ, Lai Khê, Biên Hòa, Xuân Lộc, lực lượng mỗi hướng có khoảng một sư đoàn. Còn trong nội đô thì không có chủ lực, không tổ chức phòng ngự kiên cố, chỉ có lực lượng cảnh sát, địa phương quân, nhân dân tự vệ… Nếu các ông diệt được lực lượng án ngữ vòng ngoài, khống chế và làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa và chiếm được hai mục tiêu quan trọng là Bộ tổng Tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám của quân dù thì các ông sẽ làm chủ Sài Gòn, Sài Gòn sẽ sụp đổ nhanh chóng".
P/S: Người cầm quân giỏi là người thương lính như thương con. Ít ra, thì những điều này đã giúp đồng bào và chiến sĩ ta bớt đổ máu. Để ngày thắng lợi được trọn vẹn hơn.
-GTS-
"Những lời khai của Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi rất có ý nghĩa để Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng"
Sau khi Phan Rang, rồi sân bay Thành Sơn thất thủ. Phạm Ngọc Sang, chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân và Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng Tư lệnh Quân đoàn 3 đã bị bắt tại trận. Tiếp theo, một chuyến bay đặc biệt đã đưa Nghi và Sang ra Bắc để khai thác thông tin, phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Sau này, Nguyễn Vĩnh Nghi kể lại: "Một hôm, có một cán bộ cao cấp đến gặp tôi. Ông ấy hỏi tôi về điều kiện ăn, ở. Tôi nói tôi được đối xử tốt nhưng vì ngủ nệm đã quen nên bây giờ nằm giường ván, tôi hay bị mất ngủ. Tưởng nói thế là thôi nhưng hôm sau, tôi được cấp ngay một chiếc nệm"...
Sau khi bị bắt, Nguyễn Vĩnh Nghi đã thành khẩn khai ra tất cả những gì ông ta biết về quân đội Sài Gòn, từ vũ khí, khí tài đến cách bố trí lực lượng. Một trong những cán bộ đã trực tiếp hỏi cung Nghi, kể lại: "Khi tôi yêu cầu ông ta nhận định về Quân giải phóng, về cách Thiệu sẽ bố trí lực lượng giữ Sài Gòn thì thoạt đầu, Nghi rất dè chừng. Ông ta nói: "Các ông hỏi tôi những câu này thật khó trả lời". Chúng tôi bảo Nghi: "Vậy thì anh sẽ có thời gian để suy nghĩ".
Nhưng chỉ vài phút sau đó, Nguyễn Vĩnh Nghi đến bên tấm bản đồ, trình bày một cách rành mạch các địa điểm tác chiến, các mặt mạnh, yếu, việc bố trí quân và ý đồ chiến thuật, chiến lược của chính quyền Sài Gòn. Nghi khẳng định: "Cách phòng thủ Sài Gòn hiện nay là phòng thủ từ xa theo hình vòng cung từ Gò Dầu Hạ, Lai Khê, Biên Hòa, Xuân Lộc, lực lượng mỗi hướng có khoảng một sư đoàn. Còn trong nội đô thì không có chủ lực, không tổ chức phòng ngự kiên cố, chỉ có lực lượng cảnh sát, địa phương quân, nhân dân tự vệ… Nếu các ông diệt được lực lượng án ngữ vòng ngoài, khống chế và làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa và chiếm được hai mục tiêu quan trọng là Bộ tổng Tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám của quân dù thì các ông sẽ làm chủ Sài Gòn, Sài Gòn sẽ sụp đổ nhanh chóng".
P/S: Người cầm quân giỏi là người thương lính như thương con. Ít ra, thì những điều này đã giúp đồng bào và chiến sĩ ta bớt đổ máu. Để ngày thắng lợi được trọn vẹn hơn.
-GTS-
Đại Tướng LÊ TRỌNG TẤN Đối Đầu NGÔ QUANG TRƯỞNG VNCH, Chiến Dịch Giải Phóng Huế - Đà Nẵng
Đại tướng Lê Trọng Tấn- “Giu-cốp của Việt Nam”
01/10/2014 16:32 4011
Điểm: 2.75/5 (4 đánh giá)
Đại
tướng Lê Trọng Tấn sinh ngày 1-10-1914 trong một gia đình trí thức yêu
nước ở xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là TP.Hà Nội), Lê
Trọng Tấn (tên khai sinh là Lê Trọng Tố) từng là lính không quân của
Pháp nhưng sớm giác ngộ cách mạng, tham gia Mặt trận Việt Minh năm 1944.
Lúc
đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà
Nội. Tháng 3/1945, ông là thành viên trong ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa
tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng LLVT tại ứng
Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông). Tháng 8/1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi
nghĩa Hà Đông phụ trách quân sự. Sau đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.Trong
những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, ông chỉ huy Tiểu
đoàn 60, Trung đoàn 37 chiến đấu tại mặt trận Hà Đông, một cửa ngõ quan
trọng phía Tây Thủ đô, ông tổ chức diệt đồn Đồng Quan và giành thắng lợi
trận đầu tiên. Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng
Khu 10 khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây.

Ngày 27/12/1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên, khi mới 36 tuổi. Với những bài học từ thực tiễn chiến trường và trưởng thành trong chiến đấu, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là đơn vị đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam ngày 13/3/1954. Sau thắng lợi này, Đại đoàn 312 tiếp tục được lệnh bám sát địch để đón thời cơ tổng công kích. Chiều 7.5.1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 đã tấn công vào sở chỉ huy của Pháp, bắt sống Tướng De Castries cùng Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau này, De Castries cho biết: ông ta có vinh dự được làm bại tướng dưới tay Lê Trọng Tấn và đại đoàn của ông.
Năm 1964, khi tình hình chiến tranh bắt đầu có những biến đổi lớn cả về mặt chính trị, quân sự, cả ở đô thị, nông thôn và vùng rừng núi, Mỹ buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”. Tướng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đặc phái vào miền Nam “giải bài toán” đánh Mỹ. Tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam, đồng thời ông trực tiếp làm tư lệnh của nhiều chiến dịch. Theo Đại tá Nguyễn Nhật Minh - thư ký riêng của Đại tướng Lê Trọng Tấn, sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, trong quân đội ta nhiều người đã có tư tưởng đánh Mỹ - Ngụy bằng chiến tranh du kích hay chiến thuật nhỏ lẻ bằng bộ đội đặc công.
Nhưng Lê Trọng Tấn kiên quyết phản đối. Ông muốn đánh theo phương châm nếu đủ quân số thì phải đánh cấp chiến dịch, quân số cấp sư đoàn phải đánh trận sư đoàn chứ không được đánh trận cấp tiểu đoàn. Nhiều quân nhân cấp dưới khi nghe ông phân tích, rút kinh nghiệm với nhiều cán bộ đã bật khóc, cuối cùng đều tin tưởng vào sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn. Chính vì vậy mà chúng ta đã có cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và tổng tiến công năm 1975.

Trong hơn 30 năm tham gia trận mạc, Đại tướng Lê Trọng Tấn có mặt ở hầu hết các chiến trường. Nhưng có 2 chiến dịch lớn quan trọng, ghi dấu ấn trong cuộc đời trận mạc của Đại tướng chính là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Trọng Tấn, lần lượt đảm nhiệm các chức trách: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam,... Nhưng đáng nói hơn, ông là Tư lệnh của những chiến dịch lớn và quan trọng trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Mặt trận Trị Thiên (B5); Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân duyên hải (do chính ông đề xuất thành lập) tiến vào Sài Gòn sớm nhất năm 1975; Tư lệnh chiến dịch biên giới Tây Nam 1978 - 1979 và biên giới phía Bắc 2-1979 lúc đó đã gần 70 tuổi, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận. Lê Trọng Tấn là vị tướng trận mạc, ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc, ác liệt và nóng bỏng nhất, có khả năng làm xoay chuyển cục diện trận đánh, trăm trận trăm thắng. Các nhà khoa học quân sự và quân đội các nước anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm nhìn chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật quân sự kiệt xuất. Các cán bộ, chiến sĩ yêu mến gọi ông là “Giu-cốp của Việt Nam”, luôn đoàn kết, một lòng tin tưởng vào tài năng, đức độ, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán của mình.
Năm 1973, trong một buổi gặp gỡ với các tướng lĩnh Việt Nam, Chủ tịch Cu-ba Phi-đen Ca-xtrô bắt tay tướng Lê Trọng Tấn rồi tươi cười hỏi mọi người xung quanh: “Đây có phải là vị tướng đánh hay nhất Việt Nam phải không?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui vẻ trả lời: “Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại”.

Thượng tướng Ngô Xuân Lịch - Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đại tướng Lê Trọng Tấn (1-10-1914 / 1-10-2014) đã viết về ông: “Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Trọng Tấn là tấm gương sáng của người cộng sản. Tên tuổi, sự nghiệp cùng những chiến công vang dội của đồng chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự trưởng thành, lớn mạnh của QĐND Việt Nam anh hùng. Tấm gương của người chiến sĩ cộng sản Lê Trọng Tấn mãi trường tồn để mỗi chúng ta, nhất là cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam và thế hệ trẻ cả nước học tập, noi theo”.
Đại tướng Lê Trọng Tấn
Ngày
25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch Khu 10. Năm 1949,
theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, Trung đoàn 209 chủ lực đầu tiên của
Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu
Trung đoàn Sông Lô. Khi đó ông là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm
là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của trung đoàn. Đại tá Đặng
Văn Việt- nguyên Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 174, đơn vị cùng được
giao nhiệm vụ trong chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 kể lại: Lê Trọng
Tấn chỉ huy Trung đoàn 209 được giao nhiệm vụ di chuyển từ hướng Nam
lên, tấn công pháo đài Đông Khê. Lệnh nổ súng lúc 6 giờ ngày 16.9.1950
nhưng anh Tấn bị lạc đường, đến 18 giờ chúng tôi mới gặp được nhau. Mặc
dù vậy, khi hội quân chúng tôi đã bàn bạc với nhau rất ăn ý. Đến trưa
ngày 18.9, hai trung đoàn chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đập tan cứ
điểm Đông Khê, mở màn cho thắng lợi chiến dịch Biên giới”. Chiến thắng
Biên Giới 1950 được đánh giá là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu
bước ngoặt cơ bản, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
tiến lên giành thắng lợi quyết định.Ngày 27/12/1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên, khi mới 36 tuổi. Với những bài học từ thực tiễn chiến trường và trưởng thành trong chiến đấu, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là đơn vị đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam ngày 13/3/1954. Sau thắng lợi này, Đại đoàn 312 tiếp tục được lệnh bám sát địch để đón thời cơ tổng công kích. Chiều 7.5.1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 đã tấn công vào sở chỉ huy của Pháp, bắt sống Tướng De Castries cùng Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau này, De Castries cho biết: ông ta có vinh dự được làm bại tướng dưới tay Lê Trọng Tấn và đại đoàn của ông.
Năm 1964, khi tình hình chiến tranh bắt đầu có những biến đổi lớn cả về mặt chính trị, quân sự, cả ở đô thị, nông thôn và vùng rừng núi, Mỹ buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”. Tướng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đặc phái vào miền Nam “giải bài toán” đánh Mỹ. Tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam, đồng thời ông trực tiếp làm tư lệnh của nhiều chiến dịch. Theo Đại tá Nguyễn Nhật Minh - thư ký riêng của Đại tướng Lê Trọng Tấn, sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, trong quân đội ta nhiều người đã có tư tưởng đánh Mỹ - Ngụy bằng chiến tranh du kích hay chiến thuật nhỏ lẻ bằng bộ đội đặc công.
Nhưng Lê Trọng Tấn kiên quyết phản đối. Ông muốn đánh theo phương châm nếu đủ quân số thì phải đánh cấp chiến dịch, quân số cấp sư đoàn phải đánh trận sư đoàn chứ không được đánh trận cấp tiểu đoàn. Nhiều quân nhân cấp dưới khi nghe ông phân tích, rút kinh nghiệm với nhiều cán bộ đã bật khóc, cuối cùng đều tin tưởng vào sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn. Chính vì vậy mà chúng ta đã có cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và tổng tiến công năm 1975.
Đại tướng Lê Trọng Tấn( ngoài cùng bên phải) tại Sở chỉ huy chiến dịch Quảng Trị năm 1972
Với
thắng lợi lớn từ đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, làm suy sụp tinh
thần chế độ Việt Nam cộng hòa và quân đội Sài Gòn, Bộ Chính trị chỉ thị
nhanh chóng đánh chiếm Huế, Đà Nẵng. Ngày 24-10-1973, Quân đoàn 1 (Binh
đoàn Quyết Thắng) - Binh đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội ta
bao gồm cả Sư đoàn 312 được thành lập. Khi đó, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn
được giao là Tư lệnh đầu tiên. Tháng 3-1975, ông được chỉ định làm Tư
lệnh chiến dịch giải phóng TP Huế-Đà Nẵng. Tháng 4-1975, ông là Phó tư
lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm
Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, Sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Theo kế
hoạch chiến dịch Hồ Chí Minh, 5 giờ 30 sáng 30-4-1975, các hướng đồng
loạt nổ súng tiến công vào Sài Gòn. Với óc phán đoán, phân tích chiến
lược tài tình, Trung tướng Lê Trọng Tấn đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân
của mình nổ súng trước các hướng khác. Lý do là lực lượng ta còn cách
vùng ven từ 15 - 20km, phải vừa đánh vừa tiến quân, lại phải vượt sông
Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng sẽ không đến kịp.Đại tướng Võ
Nguyên Giáp lúc bấy giờ đã chuẩn y cho cánh quân phía đông đánh vào 18
giờ chiều 29-4 theo lời đề nghị của Trung tướng Lê Trọng Tấn, sớm hơn
giờ G 12 tiếng. Cánh quân phía Đông do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy là đơn
vị đầu tiên tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt sống và buộc
chính quyền của Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, kết thúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta. Trong hơn 30 năm tham gia trận mạc, Đại tướng Lê Trọng Tấn có mặt ở hầu hết các chiến trường. Nhưng có 2 chiến dịch lớn quan trọng, ghi dấu ấn trong cuộc đời trận mạc của Đại tướng chính là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Trọng Tấn, lần lượt đảm nhiệm các chức trách: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam,... Nhưng đáng nói hơn, ông là Tư lệnh của những chiến dịch lớn và quan trọng trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Mặt trận Trị Thiên (B5); Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân duyên hải (do chính ông đề xuất thành lập) tiến vào Sài Gòn sớm nhất năm 1975; Tư lệnh chiến dịch biên giới Tây Nam 1978 - 1979 và biên giới phía Bắc 2-1979 lúc đó đã gần 70 tuổi, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận. Lê Trọng Tấn là vị tướng trận mạc, ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc, ác liệt và nóng bỏng nhất, có khả năng làm xoay chuyển cục diện trận đánh, trăm trận trăm thắng. Các nhà khoa học quân sự và quân đội các nước anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm nhìn chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật quân sự kiệt xuất. Các cán bộ, chiến sĩ yêu mến gọi ông là “Giu-cốp của Việt Nam”, luôn đoàn kết, một lòng tin tưởng vào tài năng, đức độ, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán của mình.
Năm 1973, trong một buổi gặp gỡ với các tướng lĩnh Việt Nam, Chủ tịch Cu-ba Phi-đen Ca-xtrô bắt tay tướng Lê Trọng Tấn rồi tươi cười hỏi mọi người xung quanh: “Đây có phải là vị tướng đánh hay nhất Việt Nam phải không?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui vẻ trả lời: “Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại”.
Bộ Tem về Đại tướng Lê Trọng Tấn được phát hành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông
Trong
Hội thảo kỷ niệm 10 năm ngày mất Đại tướng Lê Trọng Tấn tháng 12-1996,
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá tướng Tấn xứng đáng “hai lần anh
hùng” do đã chỉ huy quân xuất sắc bắt sống tướng Đờ Cát ở Điện Biên Phủ
năm 1954 và bắt sống nội các ngụy Sài Gòn 21 năm sau. Cả cuộc đời mình,
Đại tướng đã mang hết tài năng và nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi
đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng, đồng thời có nhiều đóng
góp lớn trong phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam, động
viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, góp phần đưa sự
nghiệp kháng chiến cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.Thượng tướng Ngô Xuân Lịch - Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đại tướng Lê Trọng Tấn (1-10-1914 / 1-10-2014) đã viết về ông: “Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Trọng Tấn là tấm gương sáng của người cộng sản. Tên tuổi, sự nghiệp cùng những chiến công vang dội của đồng chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự trưởng thành, lớn mạnh của QĐND Việt Nam anh hùng. Tấm gương của người chiến sĩ cộng sản Lê Trọng Tấn mãi trường tồn để mỗi chúng ta, nhất là cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam và thế hệ trẻ cả nước học tập, noi theo”.
Minh Vượng
TLTK:- Đại tướng Lê Trọng Tấn-Tổng tập, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007; Đại tướng Lê Trọng Tấn, người của những chiến trường nóng bỏng”- NXB QĐND, 2014.
Đại tướng Lê Trọng Tấn - vị tướng lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam
Chuyện Về Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang
Bốn mươi năm nhìn lại ngày Phan Rang thất thủ, tôi lại nhớ một
khuôn mặt tướng lãnh cựu tư lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân (bản doanh đóng
tại Pleiku), người đã bị địch bắt tại chiến trường, bị đem ra Bắc và trở
thành người tù có thâm niên cao nhất (17 năm).
Trong số các sĩ quan bị trả thù sau cuộc chiến, ông là người vào tù sớm nhất (16-4-75) và ra trại trễ nhất (11-2-92). Thân tàn lực kiệt ông sống thêm được 10 năm và mất tại Quận Cam năm 2002. Trước khi mất ông dồn sức cố viết một hồi ức về trận đánh Phan Rang và làm một điều chẳng ai bắt ông phải làm là tỏ lời cáo lỗi cùng đồng bào qua mấy dòng bi tráng, Tôi cảm nhận rất có tội với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành.
Nói đến quân chủng Không Quân người ta nhắc nhiều đến những khuôn mặt vừa hào hoa vừa gan dạ, lấy không gian làm nhà, lấy nghiệp bay làm lẽ sống, và trong hàng tư lệnh mang sao đã có hai ông một thời làm tới phó tổng thống và một ông làm tư lệnh cảnh sát đã tự tay bắn chết tên VC trong Tết Mậu Thân (mà sau này hãng CNN đã chọn là một trong số 100 sự kiện nổi bật của… thế kỷ 20!).
Nhưng dư luận và báo chí ít chú ý đến vị tướng gốc Nam bộ này, tên ông chỉ được nhắc khi được đề bạt làm tư lệnh một sư đoàn sau chót của Không Quân mới thành lập cuối năm 1972 nhằm yểm trợ cho chiến trường cao nguyên và trở thành bại tướng khi Phượng Hoàng (danh xưng chỉ huy của ông) gãy cánh tại Phan Rang hai tuần trước ngày mất nước.
Ngược dòng tiểu sử ít ai biết Tướng Phạm Ngọc Sang, người đã có gần 25 năm quân vụ, nguyên xuất thân là một sĩ quan Bộ Binh (khóa 1 Thủ Đức), sau được tuyển sang Không Quân du học tại Pháp, trở thành một phi công chuyên lái vận tải. Nhờ tài năng và tác phong gương mẫu, ông được tin cậy và là một trong ba người được chọn lái riêng cho Tổng Thống Diệm. Sau 63 trả về Không Quân ông tiếp tục bay và có thời đã làm chỉ huy trưởng trung tâm đào tạo phi công tại Nha trang. Ông cũng là chánh võ phòng cho Tướng Kỳ khi ông này làm chủ tịch Ùy Ban Hành Pháp Trung Ương.
Trước khi vào quân ngũ ông cũng từng là nhà giáo, có kiến thức văn hóa, song hành với nghiệp bay, ông là sĩ quan cấp tá duy nhất tốt nghiệp các khóa quân sự về chỉ huy tham mưu và quốc phòng nổi tiếng của Việt nam và Hoa Kỳ, đáng kể là khóa cao đẳng quốc phòng (VN), chỉ huy tham mưu cao cấp tại Leavenworth (Kansas) và quản trị quốc phòng tại trường đào tạo hậu đại học của Hải Quân Mỹ tại Monterey (California).
Cứ dựa vào thâm niên và tài năng ông xứng đáng trở thành tư lệnh của quân chủng, nhưng vốn không có tham vọng, lại khiêm tốn, không phe cánh, mãi đến 1972 mới lên tư lệnh và được thăng một sao một năm trước ngày gãy cánh. Cũng năm này được tuyên dương trước toàn quân với Anh Dũng Bội Tinh kèm nhành dương liễu về công trạng yểm trợ không lực hữu hiệu cho chiến trường cao nguyên.
Là người hay viết về chân dung tướng lãnh của Quân Lực VNCH khi các vị nằm xuống, tôi hụt viết về Chuẩn Tướng Sang khi ông từ giã bạn bè và người thân vì ngày ấy tôi chưa quay lại làng văn làng báo. Nhưng cũng may tôi có dịp gặp ông hai lần trớ trêu thay trong cùng cảnh tù của một trại giam hắc ám nhất miền Bắc, trại Nam Hà, rồi khi ra hải ngoại lại có dịp được biết thêm về ông qua các sĩ quan thuộc cấp đã gần gũi ông tại Pleiku và những tháng ngày cuối cùng trước ngày Sài Gòn tắt thở.
Viết về ông hơi khó vì bản thân ông không thích người khác ca ngợi mình, lại càng kín tiếng vì không thích chuyện chính trị, ông là một mẫu quân nhân thuần túy, dù là một phi công mang tiếng hào hoa nhưng cá nhân lại hết mực nghiêm túc, trọng quân phong quân ký, có thể vì gốc nhà giáo và luôn tỏ ra gương mẫu trong nếp chỉ huy của quân trường, nơi một lần ông đã uốn nắn các sinh viên sĩ quan theo đuổi nghiệp bay cả về kỹ thuật lẫn tác phong.
Tôi nhớ lần lén gặp ông trong khu biệt giam tướng lãnh, khó ai ngờ ông là tướng một sao, cảm tưởng nhìn ông cặm cụi tưới mảng rau thơm và rau cải để tự cải thiện trong một khu đất khép kín của trại tù, người ta hình dung giống như một ông giáo già người Nam bộ đang chăm sóc mảnh vườn nhà èo uột dưới quê.
Nhưng bên trong con người này là một nhân cách đáng kính, lầm lì ít nói, ngay cả khi địch bắt cũng chẳng khai thác được gì, bảo lên đài nói để kêu gọi binh sĩ ta đầu hàng buông súng ông không chịu làm, bảo thành khẩn khai báo quá trình bản thân để sớm được tha ông vẫn an nhiên tự tại, ông không dại gì mà chống khi cánh bay đã gãy, nhưng phía cán bộ địch vận ở trung ương và quản lý trại giam nơi nhốt ông, họ biết người này khó mà chiêu hồi, cải tạo, có thể vì vậy mà khi trại giam tù cải tạo cuối cùng trên đất Bắc đóng cửa, người ta đem ông về Nam để nhốt thêm. Ông là người cuối cùng ra khỏi trại giam sau 17 năm, chính thức khai tử cái chính sách khoan hồng mà Cộng Sản rêu rao dành cho những kẻ cựu thù của chúng.
Trở lại những ngày cao nguyên di tản, ông là nhân chứng đầu tiên ngoài Tướng Nguyễn Văn Phú, người nhận lệnh từ Tổng Thống Thiệu. Ông vẫn hận về cái lệnh quái đản bằng miệng từ người tổng tư lệnh cho một tư lệnh quân đoàn qua đường điện thoại (từ Khánh Hòa Nha Trang), áp đặt một quyết định sinh tử cho việc tháo lui bỏ ngỏ một vùng cao nguyên chiến lược mà chính người thi hành chỉ có không đầy… 72 tiếng đồng hồ để sắp xếp!
Ông vẫn còn nhớ như in trong cuộc họp tham mưu tại văn phòng Tướng Phú, cú điện thoại gần như độc thoại từ đầu dây bên kia và phía đầu dây bên này chỉ có những độc âm… dạ, dạ, dạ,… rồi ngưng, không kịp để phát thêm một lời xin giải thích và nhu cầu thời gian cho một cuộc di tản chiến thuật vô tiền khoáng hậu. Mặt buồn như người đưa đám, người tư lệnh cấp cao hơn ông ra lệnh các đơn vị tự lo lấy phương tiện chuẩn bị băng qua con lộ 7, mà mấy ngày sau thành tử lộ trên đường rút về Tuy hòa, một thị trấn gần Nha Trang, nơi chưa đầy một tuần trước ông Thiệu và đoàn tùy tùng có cả đại tướng Cao Văn Viên đã có mặt tại đây.
Chưa đầy một tháng sau, bản đồ miền Nam được vẽ lại, Phan Rang trở thành tuyến đầu của lãnh thổ Cộng Hòa. Tướng Thiệu cho gom góp các đơn vị vừa tản hàng sau cuộc di tản, từ cao nguyên đổ về, từ miền Trung dạt xuống, bằng mọi giá phải bảo vệ thị trấn này cũng là hometown của ông, không để cho Bắc Việt lấn chiếm thêm. Từ đây, Tướng Sang thêm một nhiệm vụ mới, làm phụ tá cho tướng ba sao Nguyễn Vĩnh Nghi, một cựu tư lệnh đồng bằng sông Cửu đang bị thất sủng nên chịu giữ chức tư lệnh tiền phương phòng thủ Phan Rang.
Có một giai thoại là tại mặt trận tiền phương, Tướng Nghi đã chỉ định tướng Sang đặt bộ chỉ huy trên không để dề bề điều động phối hợp, nhưng ông đã nói đùa, tướng 3 sao dưới đất, tướng 1 sao trên trời coi sao tiện, ông đã xin cùng ngồi ở bộ chỉ huy đóng gần phi trường, để rồi cùng số phận ít ngày sau khi Phan Rang thất thủ cả hai ông trở thành tù binh có cấp bậc cao nhất bị bắt tại chiến trường. Một thuộc cấp cũng là bạn của tôi thuật lại nếu Phượng Hoàng cứ ở trên không thì chiếc vận tải biết đâu đã quay hướng Sài Gòn và số phận của mấy thầy trò đã có ngả rẽ khác.
Viết lại về ông điều đáng nói không phải muốn đề cao một khuôn mặt từng được kính nể cả về tài năng lẫn phẩm chất, cái đáng phục dù không được nhắc nhớ như năm vị tướng đã chết theo thành, nhưng Phuợng Hoàng khi gãy cánh đã trả giá bằng những tháng năm tù đầy gian khổ qua các trại giam của kẻ thù từ Bắc vào Nam, rồi trước khi về cõi đã dũng cảm nhìn lại bằng tri nhớ của mình và nhờ các thuộc cấp bổ sung, ông đã viết được một tài liệu mang tính hồi ức thuật lại trận đánh Phan Rang mà những chi tiết có thể dùng làm tư liệu cho người viết quân sử.
Theo dư luận chung ông chẳng có lỗi gì, trái lại đã làm hết sức mình trước tình hình vận nước đã đến hồi mạt vận, dù ông đã tự thân xin lỗi đồng bào vì đã để mất Phan Rang. Các đồng đội vẫn tự hào khi nhìn lại thấy Thầy mình sống chết có nhau, hơn nhiều kẻ chóp bu đã bỏ thành trước giờ tàn cuộc.
Mọi sự đã thuộc về lịch sử, thắng thua để các người sau phân giải. Bên thắng cuộc họ mới kỷ niệm ầm ỹ 40 năm Sài gòn mất tên, nhưng cảnh đói nghèo tụt hậu vẫn còn là vết thương nhức nhối của một quê hương tan nát.
Tôi mượn lời của các thuộc cấp trong lễ truy niệm với đầy đủ lễ nghi quân cách trong ngày tiễn ông ra đi, “Thôi thì, ân đất nước đã đền, nghĩa đồng bào đã trả, xin tướng quân thanh thản ra đi”. Chúng tôi, những người lính không cùng quân chủng, với lòng quý mến của các cựu tù xin Phượng Hoàng cứ yên nghỉ ngàn thu.
Viết tại quận Cam
Đỗ Xuân Tê
Mặt Trận Phan Rang
Nhớ lại suốt hạ tuần tháng 3 năm 1975, sau khi có lệnh bỏ Huế và Đà Nẳng, các đơn vị ta cứ lần lượt tháo lui, làm các tỉnh thành, quận lỵ phải rút theo, tạo ra cảnh đỗ vở tang thương cho không biết nhiêu gia đình quân nhân cũng như dân chính. Tốc độ rút lui nhanh hơn tốc độ truy đuổi. Các đơn vị VC đến tiếp thu, không bị đánh chận, nên cứ ung dung tiến văo thành phố đã bị bỏ ngỏ. Đến khi vào tiếp thu Nha Trang, chúng vẫn cứ tin rằng Phan Rang cũng đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các toán tiền thám cứ tiến vào. Ngạc nhiên, và cũng là lần đầu tiên bị ngăn chận trước khi đến Phan Rang, chúng bèn tháo lui về hướng Bắc, vào ẩn nấp trong vùng Ba Ngòi chờ viện binh. Mãi đến ngày 16.4.1975, khi tung ra toàn lực áp đảo, chúng mới vào được Phan Rang.
Vào thời điểm các đại đơn vị ta rút lui, mà không có một sự kháng cự đáng kể nào để làm khó khăn và thiệt hại cho đối phương, thì căn cứ Phan Rang đã anh dũng chống cự, và đã làm thiệt hại đáng kể cho quân đội chánh quy Bắc Việt. Chiến trận tại Phan Rang có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhứt: Từ ngày 1 đến 3.4.1975, là giai đoạn hình thành tuyến phòng thủ, với Sư Đoàn 6 Không Quân và Tiểu Đoàn 5 Dù thuộc Lữ Đoàn 3 Dù cùng một số đơn vị Địa Phương Quân còn lại.
Sư Đoàn 6 Không Quân gồm:
– 3 Phi Đoàn A-37: 524, 534, 548
– 1 Phi Đội A-1
– 2 phi đội tản thuơng: 259 B và 259 C
– 2 phi đoàn trực thăng: 229 và 235
Lữ Đoàn 3 Dù gồm:
– Bộ Chỉ Huy
– Tiểu Đoàn 5
Giai đoạn thứ hai: Từ ngày 4 đến 12.4.1975, là giai đoạn củng cố tuyến phòng thủ, với sự thành lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3, với Lữ Đoàn 2 Dù. Đây là thời gian đem đến ít nhiều lạc quan trong việc ổn định tình hình sau nhiều ngày xáo trộn. Một số đơn vị nhỏ của địch đã hoàn toàn bị đẩy lui khỏi đèo Du Long rút về ém quân tại khu Vườn Dừa, Cam Lâm đợi tăng viện.
Lữ Đoàn 2 Dù gồm:
– 3 Tiểu Đoàn 3, 7, 11
– 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh
– Các đại đội Trinh Sát, Công Binh, Quân Y, Truyền Tin, Yểm Trợ Tiếp Vận
Giai đoạn thứ ba: Từ 13 đến 16,4.1975, là giai đoạn của trận chiến quyết định, với các đơn vị gồm:
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân gồm:
– 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52.
Tăng cường cho Bộ Tư Lệnh Tiền Phương:
– Toán Thám Sát / Nha Kỹ Thuật
Sư Đoàn 2 Bộ Binh gồm:
– 2 Trung Đoàn 4 và 5
– 2 pháo đội gồm 10 khẩu 105 ly
– 2 chi đội Thiết Vận Xa gồm 10 chiếc
Lực lượng Hải Quân gồm:
– Duyên Đoàn 27
– 2 khu trục hạm
– 1 giang pháo hạm
– 1 hải vận hạm và một số tàu yểm trợ
Trong 2 ngày 13 và 14, Lữ Đoàn 2 Dù được lịnh rút về Sài Gòn. Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và Sư Đoàn 2 Bộ Binh ra thay. Vừa thay quân vừa chiến đấu, và phòng tuyến Phan Rang bị tràn ngập vào trưa ngày 16.4.1975, bởi 2 Sư Đoàn VC 325 và 3 Sao vàng, cùng với các đơn vị của Đoàn 968 VC. Trong ngày 14.4.1975, ngoài Duyên Đoàn 27 đã có mặt tại Phan Rang, Hải Quân Sài Gòn tăng cường khẩn cấp 2 khu trục hạm, 1 giang pháo hạm, 1 hải vận hạm cùng một số tàu yểm trợ.
Lực lượng địch:
Theo tù binh thuộc Đoàn Hậu Cần 57 địch bị bắt tại đèo Du Long ngày 9.4.1975, các cấp chỉ huy địch ngở Phan Rang đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các bộ phận truy đuổi, cứ yên tâm tiến vào tiếp thu. Bị đánh đuổi, chúng lui về lẫn trốn vùng Vườn Dừa, Ba Ngòi chờ đại quân của 2 Sư Đoàn 3 và 325 VC từ phía Bắc đến. Các nhóm du kích vẫn hoạt động gần phi trường. Đoàn 968 VC vừa ghi nhận có mặt. (xác nhận bởi Đại Tá Nguyễn Thu Lương và Trung Tá Phạm Bá Mạo khi bị đơn vị nầy bắt tại mặt trận).
I. HÌNH THÀNH TUYẾN PHÒNG THỦ
Kể từ ngày 1.4.1975, sau khi Nha Trang bỏ ngỏ, căn cứ Phan Rang đương nhiên trở thành căn cứ tiền tuyến của miền Nam. Buổi tối cùng ngày, Trung Tá Lê Văn Phát, lử đoàn trưởng Lử Đoàn 3 Dù cùng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và một phần của Tiểu Đoàn 5, trên đường rút từ Khánh Dương xin vào để chờ phi cơ về Sài Gòn. Căn cứ tôi lúc bấy giờ rất là trống trải, vì một số lớn quân nhân Địa Phương Quân canh gác vòng đai đã bỏ nhiệm vụ. Trong căn cứ, một số quân nhân trẻ nổ súng loạn xạ vì lo sợ vu vơ. Ngoài thị xả, tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác, phân vân. Trên quốc lộ 1 và 11 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau chạy giặc. Tệ hại hơn nửa là Đà Lạt cũng bỏ chạy, và đoàn xe của Trường Võ Bị Đà Lạt đang theo Quốc Lộ 11 trên đường đi Bình Tuy cũng vừa chạy ngang căn cứ. Lúc nầy thực sự, căn cứ tôi đang trở thành tiền đồn và đang ở trong tình trạng hết sức cô đơn.
Chuẩn bị tìm phương kế giữ an toàn, tôi chỉ thị hạn chế sự ra vào căn cứ để tránh xáo trộn do toán người tháo chạy mang đến. Vì vậy nên khi nghe có đơn vị Dù xin vào căn cứ, tôi liền hỏi xin lệnh Bộ Tư Lệnh Không Quân. Được biết đó là do Bộ Tư Lệnh Dù yêu cầu để Lử Đoăn III được văo căn cứ như đơn vị tăng phái phối hợp phòng thủ, tôi mới thuận cho đoàn quân của Trung Tá Phát vào phi trường. Thật là đúng lúc cần thiết và tôi rất bằng lòng có thêm người để giử an toàn cho căn cứ hiện trong tình trạng bỏ ngỏ. Tôi phối họp ngay với Trung Tá Phát để phối trí việc phòng thủ căn cứ với Không Đoàn Yểm Cứ của Trung Tá Phạm Bá Mạo và Trung tá Nguyễn Văn Thiệt vì căn cứ mênh mông với vòng đai hình vuông mỗi cạnh 6 km, mà Liên Đoàn Phòng Thủ chỉ có khả năng phụ trách canh gác vòng đai gần mà thôi. Dù muốn dù không, căn cứ Không Quân Phan Rang đã trở thành tiền đồn của miền Nam mà tôi đang là người có nhiệm vụ phải chống giữ. Tôi chỉ thị Trung Tá Diệp Ngọc Châu phụ tá Nhân Huấn phải theo dỏi sát vấn đề nhân viên, để đừng xảy ra tình trạng bung chạy, vì quá hoang mang, giao động trước việc, có thể chiến đấu như bộ binh.
Trung Tá Phát xử dụng Đại Đội Trinh Sát Dù, bung ra kiểm tra nội vi căn cứ và đánh đuổi một vài tên du kích mon men vào Đồn Đại Hàn gần cổng số 2 của căn cứ. Về phần Không Quân, câc cấp phi hành và kỷ thuật đê am hiểu tình hình mới, chấp nhận thực trạng và hết mình nổ lực chiến đấu vì nhu cầu phòng thủ.
Vào buổi chiều, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2 ghé căn cứ thăm hỏi tình hình. Sáng hôm sau, rời căn cứ bay về Sài Gòn.
Ngày 2.4.1975, Sài Gòn tăng cường một đơn vị Dù. Trung Tá Phát liền xử dụng để kiện toàn an ninh cho phi trường và phối hợp với các đơn vị Địa phương quân trong việc giữ an ninh cho thị xả.
Lúc 2 giờ chiều, tôi bay xuống Phan Thiết đón Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn tư lệnh Quân Đoàn 3. Khi gặp tôi, ông nói sở dĩ muốn gặp tôi tại Phan Thiết là để xác nhận sự hiện hữu của Phan Rang, mà giờ nầy lẻ ra cũng đã bỏ chạy như Nha Trang và Cam Ranh rồi. Sau khi nghe tôi thuyết trình tình hình, Trung Tướng Toàn nói: ”Kể từ buổi thị sát nầy, Phan Rang sát nhập vào Quân Đoàn III, trở thành cứ điểm cực Bắc của quân đoàn.”
Cùng ngày tôi nhận được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định tôi phụ trách bảo vệ Phan Rang.
Ngày 3.4.1975, TĐ5 Dù để tạm kiểm soát các khu vực cạnh thị xã và nội vi phi trường.. Từ Ba Râu đến Thị xã, dân chúng bớt hoảng sợ mặc dầu sanh hoạt vẫn còn rụt rè. Trong căn cứ Không Đoàn Yểm Cứ đã chấn chỉnh an ninh nội bộ khiến cho căn cứ lần lần lấy lại sanh hoạt bình thường.
Đại Tá Lê Văn Thảo Không đoàn trưởng Không Đoàn 92 Chiến Thuật với 3 phi đoàn A-37, 524 Thiên Lôi, 534 Kim Ngưu và 548 Ó Đen đã sát cánh cùng đoàn viên xuất kích đêm ngày rất hữu hiệu.
Trung Tá Lê Văn Bút không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật với 2 phi đoàn trực thăng 229 và 235, 1 Phi Đoàn Quan Sát 118 và một bộ phận của Phi đD9àn 530 A-1 với Phi đội tản thương 259 C, đã bay thi hành nhiều công tác khó khăn nguy hiễm.
Trung Tá Đổ hữu Sung và đoàn kỹ thuật gan dạ, chu toàn mọi công tác sửa chửa và trang bị dưới làn pháo kích ngày đêm của địch.
Theo tin tức của các quân nhân ta từ các nơi ghé xin phương tiện về Sài Gòn, thì VC đang xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Tôi liền cho phi cơ quan sát bao vùng và chỉ điểm cho phi cơ A-37 đánh phá.
Cộng thêm các khó khăn, việc tiếp tế nhiên liệu đang gặp trở ngại vì xe bồn không cung cấp như bình thường, bởi cảng Cam Ranh đã bị địch chiếm. Vì vậy hàng ngày, tôi phải nhận tiếp tế từ Saigon bằng phi cơ C-130, một số lượng nhiên liệu tối thiểu cho hành quân mà thôi.
Để tránh hổn loạn khi bị pháo kích dồn dập, tôi cũng phải cho nửa số phi cơ về trú đêm ở Saigon, để sáng hôm sau trở ra với đầy nhiên liệu.
Trong ngày, khi biết có tàu Mỹ đang lảng vảng ngoài vịnh Phan Rang để chở một số người, tôi liền cử Trung Tá Lý Văn Bút dùng trực thăng đáp trên một trong những tàu đó để chào hỏi và cho biết hiện tình ở Phan Rang. Tiếp đón và trả lời những điều muốn biết trong lối 1/2 giờ, hạm trưởng thúc giục Trung Tá Bút rời tàu. Xuyên qua lời trình thuật của Trung Tá Bút, tôi đê hiểu rỏ ràng là trong cấp thời, Mỹ không còn có ý định dính líu gì nửa đến cuộc chiến đang diễn tiến hiện nay.
II – BỘ TƯ LỆNH TIỀN PHƯƠNG
Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lủng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Ngày đêm phi cơ trong căn cứ liên tục quan sát bao vùng và oanh tạc ngay các mục tiêu bị phát hiện. Các đơn vị VC đã tiến quá xa với hậu tuyến của họ. Họ chỉ mới tiếp thu Nha Trang và Cam Ranh. Với mức độ hành quân 10 cây số ngày hoặc gia tăng với phương tiện chiếm được thì không thể tập trung tấn công ngay được. Có thể có những phần tử lẻ tẻ đã xâm nhập và đang ém quân, nhưng ngoài ra Phan Rang chưa có nguy cơ bị tấn công ngay bởi quân chánh quy. Muốn tấn công, có thể chỉ có từ 2 hướng: Một là từ hướng Bắc, theo QL 1 tiến qua đèo Du Long thẳng vào thị xả và hai là từ hướng Tây tấn công từ Khrông Pha qua Tân Mỹ hướng về thị xả Phan Rang. Ngoài ra còn có một ít đường mòn từ Vườn Dừa, Ba Ngòi chạy theo hướng Nam Tây Nam sát căn cứ KQ hướng về Tân Mỹ có thể chọn để xâm nhập được. Trong lần bay quan sát chiều ngày 14.4.75, tôi thấy một vài thiết vận xa địch trên những đường mòn nầy vào hướng Tây Bắc của căn cứ, cách khoảng 8 km. (Đương nhiên, khi bị phát hiện, chúng đều lẫn trốn trước khi bị oanh tạc).
Thị xã và Phi trường Phan Rang nằm vào phần Nam của cái thung lũng đó. Quốc lộ 1 và đường xe lửa chạy song song xuyên qua đèo Du long về thị xả, tách ra tại Thôn Ba Râu, chạy sát phi trường rồi tiến về Nam không qua thị xã. Từ thị xã đến Du Long khoảng 15 km với Ba Râu khoảng 9 km và với Că Đú khoảng 4 km. Từ Cà Đú đến thị xã, mặt đất bằng phẳng.
Phi trường Phan Rang rất rộng, hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 6 km, nằm giữa QL 1 và QL 11 và sát với đường xe lửa về hướng Đông, cách thị xả 5km và Nha Trang khoảng 80km. Có 2 đường bay song song, 1 bằng xi măng cốt sắt vă 1 bằng vĩ nhôm dài 10.000 bộ, rộng 150 bộ. Có đầy đủ cơ sở cho kỷ thuật, tiếp liệu với các bồn xăng và kho bom theo tiêu chuẩn an ninh tối tân. Việc phòng thủ bao gồm 60 chòi gác, với 2 cổng chung quanh căn cứ do 7 đại đội Địa Phương Quân phụ trâch.
Ngày 4.4.1975, Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chánh thức đến Phan Rang cùng với toán truyền tin và chuyên viên, nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, và thiết lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương trong căn cứ của Sư Đoàn 6 Không Quân, nằm vào lối 5km Bắc Tây Bắc của thị xã Phan Rang. Ông cho biết là đã được thượng cấp chấp thuận gởi ra một số đơn vị chưa bị ảnh hưởng của việc rút quân để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa hẹn nầy, nên Ông rất vui lòng đảm nhận chức vụ.
Vì địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ, nên Trung Tướng Nghi quan niệm:
“Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xả phối họp với một số đơn vị Địa Phương Quân còn lại”
Theo quan niệm đó, Trung Tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cở 2 sư đoàn mới có thể trong tạm thời phòng thủ được. Đó là:
Mặt Bắc, trên Quốc Lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xả hoặc vào căn cứ.
Mặt phía Tây, trín Quốc Lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.
Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa Phương Quân phụ trách.
Ngày 5.4.1975. Trong ngày, thỉnh thoảng vẫn có vài quân nhân Không Quân thất lạc trình diện xin phương tiện về Sài Gòn và luôn xác nhận là vẫn có một số VC xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Chúng nói vì có quân Dù của ta ở phía trước nên chúng còn nấp chờ chi viện.
Ngoài ra Tướng Times, phụ trách an ninh cho Tòa Đại Sứ Mỹ, đến thăm và nói sẽ sắp xếp cho người của ông thường xuyên ở lại đây, để chuyển tin ngay về tòa đại sứ.
Trong mấy ngày qua, tôi đã điều hành công việc như là cấp có trách nhiệm ở Phan Rang, ngoài trách vụ chuyên môn là phụ trách Sư Đoàn 6 Không Quân. Vô tình tôi đã biến căn cứ Không Quân Phan Rang thành một cứ điểm phòng thủ tiền tiêu của cuộc chiến tranh rất phức tạp nầy.
Ngày 6.4.1975, trong ngày, sinh hoạt trong căn cứ Không Quân đã có sự bình thường và các phi vụ đều được thi hành như thông lệ. Thêm một số quân nhân của 7 đại đội Địa Phương Quân phụ trách canh gác vòng ngoài phi trường tiếp tục trở về.
Quân địch sau khi chiếm Nha Trang, liền vội vã đến tiếp thu Cam Ranh. Toán viễn thám của họ theo đă chạy tiếp thu, có thể đã xâm nhập từ Vườn Dừa, Ba Ngòi, qua đồi Du Long, xuống về phía Nam. Các Sư đoăn xâm nhập chưa thấy xuất hiện. Chỉ biết có đơn vị F-10 hoặc 968 đang lẫn núp xâm nhập lẻ tẻ.
Ngày 7.4.1975 là ngày đáng ghi nhớ.
ĐạiTtá Trần Văn Tự, tỉnh trưởng Phan Rang, vừa trở về với một số công chức, và đang tập họp các lính Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.
Đại Tá Nguyễn Thu Lương, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 Dù, với 3 Tiểu Đoàn 3, 7, 11 và 1 tiểu đoăn Pháo Binh cùng các Đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận lần lượt đến căn cứ. Trung Tướng Nghi liền giao cho nhiệm vụ chiếm các cao điểm và tổ chức tuyến phòng thủ tại Du Long mặt Bắc và tại Tân Mỹ mặt Tây. Tập trung lực lượng khi cần để chận không cho địch vượt qua Du Long.. Xử dụng Tiểu Đoàn 5 Dù của Trung Tá Phát hiện có mặt tại căn cứ giữ an ninh cho phi trường.
Ngày 8.4.1975, khi đơn vị cuối cùng của Lữ Đoàn 2 Dù đến căn cứ, Đại Tá Lương liền điều dộng giải tỏa đoạn Quốc Lộ 1, từ thị xã đến Du Long, qua các Thôn Cá Đú, Ba Tháp, Ba Râu và Du long, với 2 Tiểu Đoàn 11 và Tiểu Đoàn 3. Trên đường tiến quân, Tiểu Đoàn 3 Dù đuổi địch chạy tán loạn khỏi Ba Tháp và Ba Râu. Địch tổn thất khoảng một đại đội với nhiều vũ khí. Tiểu Đoàn 11 được trực thăng của Sư Đoàn 6 Không Quân, đưa đến chiếm Du Long, và các cao địa trọng yếu kiểm soát đường đỉ Du Long.
Bắt sống tại đèo Du Long, 7 xe tiếp tế thuộc đoàn hậu cần địch cùng một số quân lính VC, vì ngở Phan Rang đã bị chúng chiếm, nên cứ ngang nhiên di chuyển. Đồng thời, tìm thấy bộ đồ bay của Trung Úy Lý Tống, thuộc Không Đoàn 92 Chiến Thuật/ Sư Đoàn 6 Không Quân, còn để tại vùng đèo Du Long, khi phi cơ A-37 của mình vừa bị bắn rơi, lúc cùng phi đội oanh tạc khu Vườn Dừa. (Trung Úy Lý Tống là người đã thả truyền đơn chống Cộng tại Sài Gòn năm 1992, tại Cuba trong năm 2000 và tại Sài Gòn cuối năm 2000, nhân dịp Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam.)
Tại phía Tây, phần lớn của Tiểu Đoàn 5 Dù đã trấn ngữ đầu cầu hướng về Tân Mỹ, ngừa được sự tấn chiếm từ hướng nầy. Trong căn cứ, toán Trinh sât Dù cũng lại đuổi khỏi đồn Đại Hàn một số quân nhân địch vừa lén lút xâm nhập. Tiểu Đoàn 7 trừ bị giám sát việc giữ an ninh trong căn cứ Không Quân với Tiểu D8oàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù. Kết quả là trong ngày nầy, Phan Rang đã hoàn toàn kiểm soát được tình hình vốn bị trì trệ từ khi Nha Trang và Cam Ranh tháo chạy.
Buổi sáng, lúc Trung Úy Nguyễn thành Trung vừa oanh tạc Dinh Độc Lập, thì Bộ Tư Lệnh Không Quân bảo tôi phải cho ngăn cản và bắt đáp, nếu Trung bay qua Phan Rang. Lệnh đã được cấp tốc thi hành, và Trung đã không bay qua đây.
Đặc biệt cha giáo sứ Hồ Diêm, với niềm phấn khởi, đến thăm Trung Tướng Nghi để hoan nghênh quân Dù đã giải tỏa được Phan Rang. Điểm đáng đề cao là chính Cha, cùng với lực lượng Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ của giáo sứ, đã thành công bảo vệ địa phận mình chống lại các cố gắng len lỏi xâm nhập của địch.
Ngày 9.4.1975, Trung Tá Lê Văn Bút, không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, bay chỉ huy 40 trực thăng HU với 12 trực thăng Võ trang cơ hữu cùng 8 trực thăng Chinook từ Biên Hòa biệt phái. Mục đích là để lên Khánh Dương tìm kiếm và chở về các toán còn kẹt lại của Lữ Đoàn 3 Dù, gồm 2 Tiểu Đoàn 2 và 6 cùng một số quân của Tiểu Đoàn 5, lúc Nha Trang rút chạy. Cùng đi có Trung Tá Trần Đăng Khôi, lữ đoàn phó Lữ Đoàn 3 Dù phụ giúp tìm kiếm, chọn bãi đáp để rước toán thất lạc nầy trở về. Bấy giờ khu vực Khánh Dương đa trở thành vùng địch kiểm soât, nên tôi cho bay theo 2 phi đội A-37 yểm trợ. Kết quả là đoàn trực thăng đã mang về đến căn cứ Phan Rang, hơn 600 người mà phần lớn lă quân nhân của các Tiểu Đoàn 2 và 6, cùng một số thất lạc của Tiểu Đoàn 5 với một số ít dân sự chạy loạn đi theo. Toán nầy vào buổi chiều được chở toàn bộ vào Sài Gòn. Cuộc hành quân trực thăng vận thành công tốt đẹp, đem về được số quân nhân thất lạc của Lữ đoàn 3 Dù. Thật đúng là một chuyến bốc quân lịch sử. Đoàn trực thăng 60 chiếc đã phải bay qua vùng địch chiếm với mọi hiểm nguy và bất trắc khôn lường.
Trong thị xã, Đại Tá Trần Văn Tự tỉnh trưởng tiếp tục chấn chỉnh các phần vụ hành chánh, đồng thời lo chỉnh đốn hàng ngũ các đơn vị Địa Phương Quân. Ngoài thị xã, dân chúng hãy còn e dè ở lại, nhưng không tuôn chạy nhiều như những ngày trước. Cuộc sống có chỉ dấu trở lại bình thường, tạo nhiều phấn khởi.
Các ngày 10 và 11. 4.1975 có được sự yên tĩnh trong toàn bộ vùng Phan Rang. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đang trù tính kế hoạch chiếm lại Cam Ranh để sau đó lấy lại Nha Trang. Địch sau khi bị đuổi khỏi các địa điểm xâm nhập đang tập trung ém quân tại vùng Vườn Dừa ở Cam Lâm chờ đợi viện quân.
Ngày 12.4.75 là ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang.
Lệnh từ Quân Đoàn III cho biết sẽ rút Lữ Đoàn 2 Dù và Tiểu Đoàn 5 Dù vào ngày 13.4.1975, và thay bằng Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân với 3 tiểu đoàn, và Sư Đoàn 2 Bộ Binh với 2 trung đoàn, cùng 2 chi đội Pháo và chi đội Thiết Vận Xa.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân vừa rút khỏi Chơn Thành, sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghĩ dưỡng quân, thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng.
Sư Đoàn 2 Bộ Binh cũng vừa tháo chạy từ Quảng Ngải, vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì được lịnh phải ra Phan Rang, trong khi cả đơn vị hảy còn hoang mang, dao động. Vì chưa kịp bổ sung thiết bị, đơn vị nầy phải thu lượm một số pháo và thiết vận xa để mang theo cùng với các trung đoàn ra Phan Rang bằng đường bộ.
Bộ Tổng Tham Mưu Phòng 7 vừa bổ sung toán thám sát, vì kiểm thính phát hiện rộ lên nhiều liên lạc vô tuyến của các đơn vị địch xung quanh Phan Rang.
Chuẩn Tướng Lê Quang Lưởng tư lệnh Sư Đoàn Dù và Trung Tướng Trần Văn Minh tư lệnh Không Quân, cùng đến thám sát công cuộc phòng thủ. Cả hai vị đều tỏ ý bất đồng về việc điều quân nầy. Trung Tướng Minh nói để căn cứ Không Auân làm tiền đồn là sai lầm, vì khi hữu sự dưới lằn đạn pháo thì không thể sửa chửa, trang bị cho phi cơ có khả năng hành quân như yêu cầu được. Chuẩn Tướng Lưỡng cũng nói, muốn giữ Phan Rang làm bàn đạp để lấy lại Cam Ranh và Nha Trang, tại sao lại rút đơn vị đang chiến đấu tốt mà thay bằng 2 đơn vị đã từng vội vã rút quân vă còn đang chờ đợi bổ sung quân số.
Trung Tướng Nghi cũng bất ngờ vì không có được những đơn vị như đã hứa trước lúc ra nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang.
III. TRẬN CHIẾN QUYẾT ĐỊNH
Ngày 13.4.1975 là ngày đánh dấu nhiều việc không may xảy đến cho tuyến phòng thủ Phan Rang.
Trong ngày, liên tục toán kiểm thính Phòng 7 Tổng Tham mưu cáo có sự hoạt động bất thường của các đơn vị Sư Đoàn 325 và Sư Đoàn 3 Bắc Việt.
Tướng Times của Tòa Đại Sứ Mỹ hấp tấp bay đến, dẫn theo Ông Lewis, chuyên viên truyền tin, để chuyển về Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mọi biến chuyển mới nhứt của mặt trận. Ông Lewis ở lại, rất tích cực làm việc và rất bình tĩnh lúc địch dồn dập tấn công.
Sau mấy ngày ém quân, địch bắt đầu chuyển quân từ khu ém quân và khởi sự pháo kích văo căn cứ Không Quân. Các đơn vị địch đang tìm cách tấn công các điểm cao ở vùng đồ Du Long và phía Đông Ba Râu. Đơn vị địch 968 cũng bắt đầu xâm nhập lẻ tẻ từ phía Tây của căn cứ không quân, phối họp với từng đợt pháo kích.
Tiếc thay, trong tình thế như vậy mà cơ cấu phòng thủ phải thi hành lệnh thay quân đang chiến đấu tốt, bằng 2 đơn vị vừa mới được bổ sung sau khi bị tổn thất nhiều về trang bị và tinh thần.
Trong khi bộ phận lớn của Lữ Đoàn 2 Dù, gồm Tiểu Đoàn 7 với các bộ phần nặng và Tiểu Đoàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù rời căn cứ, thì Đại Tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52 cũng vừa từ Biên Hòa tới bằng phi cơ C-130. Quân số liên đoàn gồm khoảng 1.000 người. Các đơn vị liền vội vã đến trám vào các địa điểm đóng quân của Tiểu Đoàn 11 Dù tại Du Long và Ba Râu. Tiểu Đoàn 31 trám tại Du long, Tiểu Đoàn 36 trám từ Ba Râu đến Cá Đú và Tiểu Đoàn 52 làm trừ bị. Đang thay quân thì chạm súng với các toán thăm dò của địch.
Cùng lúc, Trung Đoàn 4 của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, quân số khoảng 450 người, từ Bình Tuy theo đường bộ cũng vừa tới, và được giao trách nhiệm trấn giữ mặt Tây căn cứ và bảo vệ phi trường thay cho Tiểu Đoàn 5 Dù vừa rời căn cứ.
Theo khuyến cáo của Bộ Tư Lệnh Không Quân, Đại Tá Nguyễn Đình Giao, tham mưu trưởng Sư Đoàn 6 Không Quân được nhiệm vụ cùng các chuyên viên về Tân Sơn Nhất để phụ lo việc quân số và tiếp liệu cho sư đoàn.
Ngày 14.4.1975, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, tư lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, cùng Trung Đoàn 5 vừa đến với khoảng 450 quân, được giao nhiệm vụ bảo vệ mặt Nam căn cứ và phi trường vì Lữ Đoàn 2 Dù đã hết nhiệm vụ và đã bàn giao với Trung Đoàn 4 hôm qua. Lực lượng Pháo Binh chỉ có 1 pháo đội 105 ly hiện diện tăng phái cho tiểu khu trong đó có một trung đội đóng tại An Phước, phía Nam phi trường lối 10 km.
Thị xả được phòng vệ bởi khoảng 1 tiểu đoàn Địa Phương Quân còn lại. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, theo lệnh, đề cử Đại Tá Trương Đăng Liêm trung đoàn trưởng Trung Đoàn 4 giử chức vụ tỉnh thưởng thay Đại Tá Trần Văn Tự.
Cũng để dự phòng cho những ngày tác chiến sắp tới, Bộ Tư Lệnh Không Quân cũng vừa gởi đến, một phi cơ C-47 để tăng cường phương tiện hành quân cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân.
Bên ngoài căn cứ, từ sáng sớm, địch lần lượt tung vài đơn vị cấp đại đội từ khu ém quân, đánh thăm dò cơ cấu phòng thủ tại Du Long và Ba Râu. Một trong các đơn vị nầy đã xâm nhập được vào cổng số 2 phi trường về phía Bắc, lúc mờ sáng. Phi cơ trực thăng tuần tiểu phát hiện, và cùng với trực thăng võ trang, yểm trợ cho một bộ phận của Tiểu Đoàn 11 Dù đang chờ phi cơ về hậu tuyến, được gởi ra tiêu diệt toán xâm nhập nầy. Kết quả địch rút chạy, bỏ lại gần 100 tên bị hạ với khoảng 80 vũ khí đủ loại, trong đó có 2 súng cối 82 ly và 2 khẩu đại bác không giựt 75 ly. Ta chỉ có 6 chiến sĩ hy sinh và 1 thiết vận xa phòng thủ phi trường bị chây. Trung Tướng Nghi tưởng thưởng ngay huy chương Anh Dũng Bội Tinh cho các quân nhân hữu công.
Khoảng trưa, Tướng Nghi và tôi cùng Đại Tá Lương chạy xe thong thả từ phi trường đến Ba Tháp, Ba Râu và Du Long thị sát công việc phòng thủ. Tại Du Long Tướng Nghi có tập họp và trấn an số Nghĩa Quân có mặt tại đây.
Tóm lại, mặc dầu hôm nay có các cuộc đánh thăm dò của địch, mặt trận vẫn đứng vững như những ngày qua.
Ngày 15.4.1975 từ sáng sớm địch liên tục pháo từng chập văo căn cứ. Buổi chiều khoảng 2 giờ, có phái đoàn của Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng trưởng Quốc phòng và Trung Tướng Nguyễn Văn Toăn tư lệnh Quân đoàn 3 đến thị sát mặt trận. Sau khi thăm thị xả, nghe Tướng Nghi thuyết trình tình hình và ghi nhận các đề nghị, trung tướng tổng trưởng quốc phòng tỏ vẻ chú trọng đến việc phòng thủ Phan Rang và hứa sẽ tìm mọi cách bổ sung đầy đủ mọi trang thiết bị thiếu hụt.
Từ chiều trở đi, Trung Tướng Nghi liên tiếp nhận được tin địch sẽ tập trung tấn công đêm nay. Một trong những công điện của Bộ chỉ huy địch với danh hiệu Sông Hồng, đóng tại Ba Râu, cho hay địch sẽ tấn công vào Phan Rang lúc 5 giờ sáng. Tiến quân theo đường rầy xe lửa cùng với 300 chiến xa, theo Quốc Lộ 1 phát xuất từ rừng dừa ở Ba Ngòi. Biết ý định của địch, Trung Tướng Nghi báo động ngay mọi nơi đề phòng, đặc biệt là Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân có nhiệm vụ án ngữ ở Du Long.
Quả nhiên, sau 8 giờ tối địch gia tăng cường độ pháo vào phi trường, đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh v.v…Chúng vượt đồi Du Long, chủ yếu chỉ để tràn qua phòng tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 31 Biệt Động Quân mà tiến nhanh về hướng Nam. Tiểu Đoàn 31 đã ở tại chổ chiến đấu gan dạ mặc dầu đoàn xe địch vượt được qua. Tại Ba Râu, Ba Tháp và Cá Đú, từ địa điểm đóng quân chờ di chuyển về hậu cứ, từ 2 giờ sáng trở đi, Tiểu Đoàn 11 Dù trừ và Tiểu Đoàn 3 Dù, cùng với Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân vừa trám chổ, chạm địch ác liệt, làm chậm sức tấn công ồ ạt của đoàn cơ giới địch. Liên tục bị oanh kích, chúng tẻ xuống đường, tắt đèn và lại tiến tới. Phi cơ A-37 không ngớt tung xuống đợt oanh tạc ngăn chăn, nhưng vì không đủ phương tiện soi sáng và hỏa long, nên chúng vẫn tràn qua, sau khi bị tổn thất khá nặng nề. Bên ta có 4 A-37 bị bắn bể bình xăng phải về đáp. Trận nầy Không Đoàn 92/Chiến Thuật đã tung toàn lực phi cơ cơ hữu kể cả 4 A-1 của Phi Đoàn 530.
Tôi cùng Trung Tá Lưu đức Thanh phụ tá hành quân Sư Đoàn 6 Không Quân đích thân theo dỏi trận đánh suốt đêm. Chúng tôi liên tục đốc thúc phần tham gia của Không Quân, kể từ lúc các đơn vị bộ binh chạm súng, liên tục báo cáo địch đang xử dụng hàng đoàn xe để đến sáng chạy từ Du Long tràn xuống. Cuối cùng, đoàn xe tắt đèn vượt qua Ba Râu, vă chiếm thị xả lúc 7 giờ sáng ngày16.4.1975.
Tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương, Trung Tướng Nghi cũng theo dỏi trận chiến suốt đêm và không nhận được tin gì từ Du Long của Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân sau 3 giờ sáng (sau nầy, Thiếu Tá Đào Kim Minh, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân và Thiếu Tá Nguyễn văn Tú tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 31 Biệt Động Quân có nhiệm vụ trấn giữ Ba Râu và Du Long cho biết không hiểu vì lý do gì mà từ 2 giờ sáng không liên lạc được với Bộ Chỉ Huy. Sở dỉ cần liên lạc khẩn cấp là vì đã 3 ngày, từ lúc thay quân, cứ liên miên đụng địch nên cấp số đạn dược mang theo đã gần cạn. Đến sáng, khu vực trách nhiệm vẫn yên tịnh như sau những lần chạm súng. Trên đường vẫn an toàn nhưng nhìn vào phi trường thấy đang bị pháo kích).
Ngày 16.4.1975, lúc vừa sáng, địch lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tây. Đến khi phòng không chúng, bắn trúng chiếc phi cơ quan sát O-1 vừa cất cánh quan sát hành quân, phải trở lại đâp khẩn cấp, thì đồng thời chúng gia tăng số lượng pháo kích.
Lúc bấy giờ mới khoảng gần 8 giờ sáng. Đại Tá Biết bổng báo cáo là Du Long bị mất và địch đã vào thị xã khiến cho Trung Tướng Nghi phải tìm phương thế thích nghi. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nhựt vừa đặt văn phòng cạnh văn phòng Trung Tướng Nghi, liền được mời tham gia vào việc duyệt xét tình hình. Sau đó Ông đi thị sát mặt trận tại nơi trách nhiệm của đơn vị mình.
Trong khi Trung Đoàn 4 Bộ Binh đang án ngữ bên ngoài phía Tây của phi trường và Trung Đoàn 5 đang phòng ngự địch tràn lên từ thị xả, thì bên trong căn cứ tình hình bắt đầu có chiều hướng bất lợi. Địch vẫn giữ mức độ pháo kích quấy rối từng chập. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số lớn phi cơ đã rời căn cứ. Còn lại chỉ có một số rất ít trực thăng võ trang và tản thương ở lại đến phút chót.
Khoảng hơn 9 giơ sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiển SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã khá nguy ngập. Trung Đoàn 4 báo cáo đang chạm địch. Toán Dù bảo vệ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đang thanh toán các toán VC lẻ tẻ chạy lạng quạng gần khu vực Bộ Tư Lệnh Tiền Phương. Đến lúc nầy, Trung Tướng Nghi vẫn tin tưởng văo khả năng chiến đấu của Trung Đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung Đoàn 5 án ngữ ngăn chận địch tràn vào cổng số 1 của căn cứ.
Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn Tướng Nhựt, Đại Tá Lương và tôi để tái duyệt xét tình hình. Vì lẽ mặt trận đã bị thủng từ Du Long và địch đang hăm dọa căn cứ nên Trung Tướng Nghi dự tính có thể sẽ dời Bộ Tư Lệnh Tiền Phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới tại đó, nếu địch chọc thủng được phòng tuyến bảo vệ phi trường. Dự trù sẽ đi khỏi phi trường từ cổng số 1 và đi cùng Trung đoàn 5.
Khoảng 10,30 giờ sáng, mãi đến khi các toán quân địch sắp tiến vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương thì Trung Tướng Nghi mới ra lịnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới. Trung Tướng Nghi, Đại Tá Lương, Ông Lewis chuyên viên Tòa Đại Sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, Sư Đoàn 6 Không Quân, Lữ Đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ của Liên Đoàn 3I Biệt Động Quân lối 400 người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 về hướng Nam.
Đoàn quân di chuyển trật tự đến cổng số 1 khoảng 11 giờ, để cùng đi với Trung Đoàn 5 về Cà Ná như dự định. Tại đây, vì không liên lạc được với Chuẩn Tướng Nhựt, nên Trung Tướng Nghi quyết định theo đường rào phía Nam, di chuyển dọc theo đường từ Tour Cham đến ngã ba An Phước. Đoàn quân an toàn đến Thôn Mỹ Đức lúc 12 giờ trưa.
Trên đường rút khỏi Ba Tháp, Tiểu Đoàn 3 Dù lần xuống bãi biển, tẻ sâu về hướng Nam và không còn thấy Giang Đoàn 27, Chiến Hạm WHEC cùng bất cứ chiếc tău nào khác tại cảng Ninh Chử. Đến một bãi cát xa hơn về hướng Nam của thị xả, đơn vị Dù nầy, gặp và kháng cự với một toán quân địch khác đến bao vây. Sau khi thoát vòng vây với ít nhiều tổn thất, Tiểu Đoàn 3 Dù được một đoàn trực thăng, bốc về an toăn. (Đoàn trực thăng cấp cứu nầy, dự trù đón Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, nhưng vì Trung Tướng Nghi không thuận cho đáp vì lý do an toàn bãi đáp, nên trên đường trở về, mới bốc được toán Dù trên).
Tiểu Đoàn 11 Dù còn lại rút được qua sông, phối hợp với toán quân vừa thoát khỏi trận phục kích ở Thôn Phú Quý về được an toăn.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và Sư Đoàn 2 Bộ Binh với một ít đơn vị cố gắng di chuyển về Nam lại chịu thêm tổn thất trên đường rút lui. Đại Tá Lê Thương, chỉ huy trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, trên đường rút về An Phước nơi có trung đội pháo binh đang trú đóng, cũng gặp địch đã đóng làm nút chận tại đây rồi.
Tại phi trường, khi đoàn quân của Trung Tướng Nghi di chuyển khá xa, thì Sư Đoàn 325 VC phối họp với Sư Đoàn 3 VC cùng Đoàn 968 tấn công và chiếm phi trường lúc 11,30 giờ trưa.
Thiệt hại của Sư Đoàn 6 Không Quân rất đáng kể vì mất toàn bộ kho bom đạn và các trang thiết bị phụ thuộc, với lối 10 phi cơ đủ loại không bay được. Tuy nhiên tổn thất hành quân tương đối là nhẹ: 1 A-37 rớt, 4 A-37 bị bắn về đáp an toàn, 2 trực thăng cháy, 1 phi cơ quan sát cùng khá nhiều trực thăng bị bắn nhưng về đáp được an toàn.
Hải Quân ta chỉ có một số ít giang thuyền bị chìm và một chiến hạm bị pháo.
Tại Thôn Mỹ Đức lúc khoảng 4 giờ chiều, Trung tướng Nghi được toán truyền tin của Đại tá Lương cho hay có 1 đoàn phi cơ xin xác nhận vị trí để xuống bốc. Lúc bấy giờ, với số gần 700 quân nhân vă thân nhân nên khó bóc hết được, vả lại khi trực thăng đến, khó lòng mà giữ được trật tự, chắc chắn sẽ tạo hổn loạn làm lộ mục tiêu giúp địch đến vây bắt. Vì vậy Trung Tướng Nghi quyết định vì sự an toàn cho đồng đội, từng khổ cực chiến đấu với nhau mà không vì an toàn cho bản thân, nên ra lịnh toán cứu cấp đó không nên đâp, và chỉ nên đến ngày hôm sau, tại một địa điểm xa hơn về phía Nam.
Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại Tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung Tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn Điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4..1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Trung Tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992.
IV. KẾT LUẬN
Sư Đoàn 6 Không Quân rời Pleiku ngày 16.3.1975 đến tạm trú tại Nha Trang. Ngày 22.3.1975 được lịnh đến căn cứ Phan Rang đồn trú. Chưa kịp thích nghi với sanh hoạt địa phương thì phải đương đầu với nhiều nổi ưu lự kể từ lúc Nha Trang rút bỏ. Liên tiếp trong 16 ngày, toàn thể quân nhân Sư Đòan 6 Không Quân đã khắc phục bao khó khăn, trong một hoàn cảnh khác thường của một căn cứ Không Quân bổng trở thành một tiền đồn, vừa thi hành các phi vụ, vừa tham gia chiến đấu như bộ binh.
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân Phan Rang có những đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đáng khen, như việc bảo vệ giáo xứ Hồ Diêm được an toàn là một thí dụ.
Sư Đoàn 2 Bộ Binh với 2 Trung Đoàn 4 và 5, tuy có một số lớn quân nhân hãy còn hoang mang, dao động vì lo lắng cho thân nhân còn kẹt lại khi đơn vị vội vả rút lui, nhưng cũng đã cố gắng tham dự.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân với 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52, chứng minh được cái tinh thần của người chiến sĩ mũ nâu, mặc dầu sau những trận đánh ác liệt tại Chơn Thành được điều động thẳng ra Phan Rang, không có một ngày nghĩ dưỡng quân, cũng như không được bổ sung quân số, tái trang bị đầy đủ.
Lữ Đoàn 2 Dù với các Tiểu Đoàn 3, 7 và 11 cùng Tiểu Đoàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù đã chiến đấu rất tích cực và tạo được sự tin tưởng của nhiều người, quả xứng đáng là những đơn vị thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Với những đơn vị như trên cộng thêm Phan Rang có vị trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, đáng lý Phan Rang không thể bị chiếm quá nhanh như thế được.
Chiếm được Phan Rang, địch mới có lý do tung ra kế hoạch Tổng Công Kích, mà đáng lý ra theo dự trù, chúng chỉ có thể tung ra vào năm 1976 thay vì năm 1975. Tướng VC Văn Tiến Dũng, sau chiến thắng, đê tuyên bố tại Cuba: ”Khi chiếm được Phan Rang thì coi như chiếm được miền Nam”. Lời tuyên bố nầy chứng minh được việc chọn phòng tuyến Phan Rang là một quyết định đứng đắn của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Việc mất Phan Rang quả đúng là một tổn thất quá lớn cho công cuộc bảo vệ Miền Nam vậy.
Đã hơn 25 năm, chắc chắn tôi không thể còn nhớ đầy đủ các diễn biến liên quan đến việc phòng thủ Phan Rang. Tôi đã tham khảo một vài tài liệu và tiếp xúc một vài thân hữu. Cộng với ký ức, tôi đã cố gắng ghi lại trong bài viết nầy mọi hiểu biết có thể có và đương nhiên chắc phải có nhiều thiếu sót.
Viết xong ngày 15 tháng 1 năm 2002
Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang
Trong số các sĩ quan bị trả thù sau cuộc chiến, ông là người vào tù sớm nhất (16-4-75) và ra trại trễ nhất (11-2-92). Thân tàn lực kiệt ông sống thêm được 10 năm và mất tại Quận Cam năm 2002. Trước khi mất ông dồn sức cố viết một hồi ức về trận đánh Phan Rang và làm một điều chẳng ai bắt ông phải làm là tỏ lời cáo lỗi cùng đồng bào qua mấy dòng bi tráng, Tôi cảm nhận rất có tội với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành.
Nói đến quân chủng Không Quân người ta nhắc nhiều đến những khuôn mặt vừa hào hoa vừa gan dạ, lấy không gian làm nhà, lấy nghiệp bay làm lẽ sống, và trong hàng tư lệnh mang sao đã có hai ông một thời làm tới phó tổng thống và một ông làm tư lệnh cảnh sát đã tự tay bắn chết tên VC trong Tết Mậu Thân (mà sau này hãng CNN đã chọn là một trong số 100 sự kiện nổi bật của… thế kỷ 20!).
Nhưng dư luận và báo chí ít chú ý đến vị tướng gốc Nam bộ này, tên ông chỉ được nhắc khi được đề bạt làm tư lệnh một sư đoàn sau chót của Không Quân mới thành lập cuối năm 1972 nhằm yểm trợ cho chiến trường cao nguyên và trở thành bại tướng khi Phượng Hoàng (danh xưng chỉ huy của ông) gãy cánh tại Phan Rang hai tuần trước ngày mất nước.
Ngược dòng tiểu sử ít ai biết Tướng Phạm Ngọc Sang, người đã có gần 25 năm quân vụ, nguyên xuất thân là một sĩ quan Bộ Binh (khóa 1 Thủ Đức), sau được tuyển sang Không Quân du học tại Pháp, trở thành một phi công chuyên lái vận tải. Nhờ tài năng và tác phong gương mẫu, ông được tin cậy và là một trong ba người được chọn lái riêng cho Tổng Thống Diệm. Sau 63 trả về Không Quân ông tiếp tục bay và có thời đã làm chỉ huy trưởng trung tâm đào tạo phi công tại Nha trang. Ông cũng là chánh võ phòng cho Tướng Kỳ khi ông này làm chủ tịch Ùy Ban Hành Pháp Trung Ương.
Trước khi vào quân ngũ ông cũng từng là nhà giáo, có kiến thức văn hóa, song hành với nghiệp bay, ông là sĩ quan cấp tá duy nhất tốt nghiệp các khóa quân sự về chỉ huy tham mưu và quốc phòng nổi tiếng của Việt nam và Hoa Kỳ, đáng kể là khóa cao đẳng quốc phòng (VN), chỉ huy tham mưu cao cấp tại Leavenworth (Kansas) và quản trị quốc phòng tại trường đào tạo hậu đại học của Hải Quân Mỹ tại Monterey (California).
Cứ dựa vào thâm niên và tài năng ông xứng đáng trở thành tư lệnh của quân chủng, nhưng vốn không có tham vọng, lại khiêm tốn, không phe cánh, mãi đến 1972 mới lên tư lệnh và được thăng một sao một năm trước ngày gãy cánh. Cũng năm này được tuyên dương trước toàn quân với Anh Dũng Bội Tinh kèm nhành dương liễu về công trạng yểm trợ không lực hữu hiệu cho chiến trường cao nguyên.
Là người hay viết về chân dung tướng lãnh của Quân Lực VNCH khi các vị nằm xuống, tôi hụt viết về Chuẩn Tướng Sang khi ông từ giã bạn bè và người thân vì ngày ấy tôi chưa quay lại làng văn làng báo. Nhưng cũng may tôi có dịp gặp ông hai lần trớ trêu thay trong cùng cảnh tù của một trại giam hắc ám nhất miền Bắc, trại Nam Hà, rồi khi ra hải ngoại lại có dịp được biết thêm về ông qua các sĩ quan thuộc cấp đã gần gũi ông tại Pleiku và những tháng ngày cuối cùng trước ngày Sài Gòn tắt thở.
Viết về ông hơi khó vì bản thân ông không thích người khác ca ngợi mình, lại càng kín tiếng vì không thích chuyện chính trị, ông là một mẫu quân nhân thuần túy, dù là một phi công mang tiếng hào hoa nhưng cá nhân lại hết mực nghiêm túc, trọng quân phong quân ký, có thể vì gốc nhà giáo và luôn tỏ ra gương mẫu trong nếp chỉ huy của quân trường, nơi một lần ông đã uốn nắn các sinh viên sĩ quan theo đuổi nghiệp bay cả về kỹ thuật lẫn tác phong.
Tôi nhớ lần lén gặp ông trong khu biệt giam tướng lãnh, khó ai ngờ ông là tướng một sao, cảm tưởng nhìn ông cặm cụi tưới mảng rau thơm và rau cải để tự cải thiện trong một khu đất khép kín của trại tù, người ta hình dung giống như một ông giáo già người Nam bộ đang chăm sóc mảnh vườn nhà èo uột dưới quê.
Nhưng bên trong con người này là một nhân cách đáng kính, lầm lì ít nói, ngay cả khi địch bắt cũng chẳng khai thác được gì, bảo lên đài nói để kêu gọi binh sĩ ta đầu hàng buông súng ông không chịu làm, bảo thành khẩn khai báo quá trình bản thân để sớm được tha ông vẫn an nhiên tự tại, ông không dại gì mà chống khi cánh bay đã gãy, nhưng phía cán bộ địch vận ở trung ương và quản lý trại giam nơi nhốt ông, họ biết người này khó mà chiêu hồi, cải tạo, có thể vì vậy mà khi trại giam tù cải tạo cuối cùng trên đất Bắc đóng cửa, người ta đem ông về Nam để nhốt thêm. Ông là người cuối cùng ra khỏi trại giam sau 17 năm, chính thức khai tử cái chính sách khoan hồng mà Cộng Sản rêu rao dành cho những kẻ cựu thù của chúng.
Trở lại những ngày cao nguyên di tản, ông là nhân chứng đầu tiên ngoài Tướng Nguyễn Văn Phú, người nhận lệnh từ Tổng Thống Thiệu. Ông vẫn hận về cái lệnh quái đản bằng miệng từ người tổng tư lệnh cho một tư lệnh quân đoàn qua đường điện thoại (từ Khánh Hòa Nha Trang), áp đặt một quyết định sinh tử cho việc tháo lui bỏ ngỏ một vùng cao nguyên chiến lược mà chính người thi hành chỉ có không đầy… 72 tiếng đồng hồ để sắp xếp!
Ông vẫn còn nhớ như in trong cuộc họp tham mưu tại văn phòng Tướng Phú, cú điện thoại gần như độc thoại từ đầu dây bên kia và phía đầu dây bên này chỉ có những độc âm… dạ, dạ, dạ,… rồi ngưng, không kịp để phát thêm một lời xin giải thích và nhu cầu thời gian cho một cuộc di tản chiến thuật vô tiền khoáng hậu. Mặt buồn như người đưa đám, người tư lệnh cấp cao hơn ông ra lệnh các đơn vị tự lo lấy phương tiện chuẩn bị băng qua con lộ 7, mà mấy ngày sau thành tử lộ trên đường rút về Tuy hòa, một thị trấn gần Nha Trang, nơi chưa đầy một tuần trước ông Thiệu và đoàn tùy tùng có cả đại tướng Cao Văn Viên đã có mặt tại đây.
Chưa đầy một tháng sau, bản đồ miền Nam được vẽ lại, Phan Rang trở thành tuyến đầu của lãnh thổ Cộng Hòa. Tướng Thiệu cho gom góp các đơn vị vừa tản hàng sau cuộc di tản, từ cao nguyên đổ về, từ miền Trung dạt xuống, bằng mọi giá phải bảo vệ thị trấn này cũng là hometown của ông, không để cho Bắc Việt lấn chiếm thêm. Từ đây, Tướng Sang thêm một nhiệm vụ mới, làm phụ tá cho tướng ba sao Nguyễn Vĩnh Nghi, một cựu tư lệnh đồng bằng sông Cửu đang bị thất sủng nên chịu giữ chức tư lệnh tiền phương phòng thủ Phan Rang.
Có một giai thoại là tại mặt trận tiền phương, Tướng Nghi đã chỉ định tướng Sang đặt bộ chỉ huy trên không để dề bề điều động phối hợp, nhưng ông đã nói đùa, tướng 3 sao dưới đất, tướng 1 sao trên trời coi sao tiện, ông đã xin cùng ngồi ở bộ chỉ huy đóng gần phi trường, để rồi cùng số phận ít ngày sau khi Phan Rang thất thủ cả hai ông trở thành tù binh có cấp bậc cao nhất bị bắt tại chiến trường. Một thuộc cấp cũng là bạn của tôi thuật lại nếu Phượng Hoàng cứ ở trên không thì chiếc vận tải biết đâu đã quay hướng Sài Gòn và số phận của mấy thầy trò đã có ngả rẽ khác.
Viết lại về ông điều đáng nói không phải muốn đề cao một khuôn mặt từng được kính nể cả về tài năng lẫn phẩm chất, cái đáng phục dù không được nhắc nhớ như năm vị tướng đã chết theo thành, nhưng Phuợng Hoàng khi gãy cánh đã trả giá bằng những tháng năm tù đầy gian khổ qua các trại giam của kẻ thù từ Bắc vào Nam, rồi trước khi về cõi đã dũng cảm nhìn lại bằng tri nhớ của mình và nhờ các thuộc cấp bổ sung, ông đã viết được một tài liệu mang tính hồi ức thuật lại trận đánh Phan Rang mà những chi tiết có thể dùng làm tư liệu cho người viết quân sử.
Theo dư luận chung ông chẳng có lỗi gì, trái lại đã làm hết sức mình trước tình hình vận nước đã đến hồi mạt vận, dù ông đã tự thân xin lỗi đồng bào vì đã để mất Phan Rang. Các đồng đội vẫn tự hào khi nhìn lại thấy Thầy mình sống chết có nhau, hơn nhiều kẻ chóp bu đã bỏ thành trước giờ tàn cuộc.
Mọi sự đã thuộc về lịch sử, thắng thua để các người sau phân giải. Bên thắng cuộc họ mới kỷ niệm ầm ỹ 40 năm Sài gòn mất tên, nhưng cảnh đói nghèo tụt hậu vẫn còn là vết thương nhức nhối của một quê hương tan nát.
Tôi mượn lời của các thuộc cấp trong lễ truy niệm với đầy đủ lễ nghi quân cách trong ngày tiễn ông ra đi, “Thôi thì, ân đất nước đã đền, nghĩa đồng bào đã trả, xin tướng quân thanh thản ra đi”. Chúng tôi, những người lính không cùng quân chủng, với lòng quý mến của các cựu tù xin Phượng Hoàng cứ yên nghỉ ngàn thu.
Viết tại quận Cam
Đỗ Xuân Tê
Mặt Trận Phan Rang
Nhớ lại suốt hạ tuần tháng 3 năm 1975, sau khi có lệnh bỏ Huế và Đà Nẳng, các đơn vị ta cứ lần lượt tháo lui, làm các tỉnh thành, quận lỵ phải rút theo, tạo ra cảnh đỗ vở tang thương cho không biết nhiêu gia đình quân nhân cũng như dân chính. Tốc độ rút lui nhanh hơn tốc độ truy đuổi. Các đơn vị VC đến tiếp thu, không bị đánh chận, nên cứ ung dung tiến văo thành phố đã bị bỏ ngỏ. Đến khi vào tiếp thu Nha Trang, chúng vẫn cứ tin rằng Phan Rang cũng đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các toán tiền thám cứ tiến vào. Ngạc nhiên, và cũng là lần đầu tiên bị ngăn chận trước khi đến Phan Rang, chúng bèn tháo lui về hướng Bắc, vào ẩn nấp trong vùng Ba Ngòi chờ viện binh. Mãi đến ngày 16.4.1975, khi tung ra toàn lực áp đảo, chúng mới vào được Phan Rang.
Vào thời điểm các đại đơn vị ta rút lui, mà không có một sự kháng cự đáng kể nào để làm khó khăn và thiệt hại cho đối phương, thì căn cứ Phan Rang đã anh dũng chống cự, và đã làm thiệt hại đáng kể cho quân đội chánh quy Bắc Việt. Chiến trận tại Phan Rang có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhứt: Từ ngày 1 đến 3.4.1975, là giai đoạn hình thành tuyến phòng thủ, với Sư Đoàn 6 Không Quân và Tiểu Đoàn 5 Dù thuộc Lữ Đoàn 3 Dù cùng một số đơn vị Địa Phương Quân còn lại.
Sư Đoàn 6 Không Quân gồm:
– 3 Phi Đoàn A-37: 524, 534, 548
– 1 Phi Đội A-1
– 2 phi đội tản thuơng: 259 B và 259 C
– 2 phi đoàn trực thăng: 229 và 235
Lữ Đoàn 3 Dù gồm:
– Bộ Chỉ Huy
– Tiểu Đoàn 5
Giai đoạn thứ hai: Từ ngày 4 đến 12.4.1975, là giai đoạn củng cố tuyến phòng thủ, với sự thành lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3, với Lữ Đoàn 2 Dù. Đây là thời gian đem đến ít nhiều lạc quan trong việc ổn định tình hình sau nhiều ngày xáo trộn. Một số đơn vị nhỏ của địch đã hoàn toàn bị đẩy lui khỏi đèo Du Long rút về ém quân tại khu Vườn Dừa, Cam Lâm đợi tăng viện.
Lữ Đoàn 2 Dù gồm:
– 3 Tiểu Đoàn 3, 7, 11
– 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh
– Các đại đội Trinh Sát, Công Binh, Quân Y, Truyền Tin, Yểm Trợ Tiếp Vận
Giai đoạn thứ ba: Từ 13 đến 16,4.1975, là giai đoạn của trận chiến quyết định, với các đơn vị gồm:
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân gồm:
– 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52.
Tăng cường cho Bộ Tư Lệnh Tiền Phương:
– Toán Thám Sát / Nha Kỹ Thuật
Sư Đoàn 2 Bộ Binh gồm:
– 2 Trung Đoàn 4 và 5
– 2 pháo đội gồm 10 khẩu 105 ly
– 2 chi đội Thiết Vận Xa gồm 10 chiếc
Lực lượng Hải Quân gồm:
– Duyên Đoàn 27
– 2 khu trục hạm
– 1 giang pháo hạm
– 1 hải vận hạm và một số tàu yểm trợ
Trong 2 ngày 13 và 14, Lữ Đoàn 2 Dù được lịnh rút về Sài Gòn. Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và Sư Đoàn 2 Bộ Binh ra thay. Vừa thay quân vừa chiến đấu, và phòng tuyến Phan Rang bị tràn ngập vào trưa ngày 16.4.1975, bởi 2 Sư Đoàn VC 325 và 3 Sao vàng, cùng với các đơn vị của Đoàn 968 VC. Trong ngày 14.4.1975, ngoài Duyên Đoàn 27 đã có mặt tại Phan Rang, Hải Quân Sài Gòn tăng cường khẩn cấp 2 khu trục hạm, 1 giang pháo hạm, 1 hải vận hạm cùng một số tàu yểm trợ.
Lực lượng địch:
Theo tù binh thuộc Đoàn Hậu Cần 57 địch bị bắt tại đèo Du Long ngày 9.4.1975, các cấp chỉ huy địch ngở Phan Rang đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các bộ phận truy đuổi, cứ yên tâm tiến vào tiếp thu. Bị đánh đuổi, chúng lui về lẫn trốn vùng Vườn Dừa, Ba Ngòi chờ đại quân của 2 Sư Đoàn 3 và 325 VC từ phía Bắc đến. Các nhóm du kích vẫn hoạt động gần phi trường. Đoàn 968 VC vừa ghi nhận có mặt. (xác nhận bởi Đại Tá Nguyễn Thu Lương và Trung Tá Phạm Bá Mạo khi bị đơn vị nầy bắt tại mặt trận).
I. HÌNH THÀNH TUYẾN PHÒNG THỦ
Kể từ ngày 1.4.1975, sau khi Nha Trang bỏ ngỏ, căn cứ Phan Rang đương nhiên trở thành căn cứ tiền tuyến của miền Nam. Buổi tối cùng ngày, Trung Tá Lê Văn Phát, lử đoàn trưởng Lử Đoàn 3 Dù cùng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và một phần của Tiểu Đoàn 5, trên đường rút từ Khánh Dương xin vào để chờ phi cơ về Sài Gòn. Căn cứ tôi lúc bấy giờ rất là trống trải, vì một số lớn quân nhân Địa Phương Quân canh gác vòng đai đã bỏ nhiệm vụ. Trong căn cứ, một số quân nhân trẻ nổ súng loạn xạ vì lo sợ vu vơ. Ngoài thị xả, tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác, phân vân. Trên quốc lộ 1 và 11 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau chạy giặc. Tệ hại hơn nửa là Đà Lạt cũng bỏ chạy, và đoàn xe của Trường Võ Bị Đà Lạt đang theo Quốc Lộ 11 trên đường đi Bình Tuy cũng vừa chạy ngang căn cứ. Lúc nầy thực sự, căn cứ tôi đang trở thành tiền đồn và đang ở trong tình trạng hết sức cô đơn.
Chuẩn bị tìm phương kế giữ an toàn, tôi chỉ thị hạn chế sự ra vào căn cứ để tránh xáo trộn do toán người tháo chạy mang đến. Vì vậy nên khi nghe có đơn vị Dù xin vào căn cứ, tôi liền hỏi xin lệnh Bộ Tư Lệnh Không Quân. Được biết đó là do Bộ Tư Lệnh Dù yêu cầu để Lử Đoăn III được văo căn cứ như đơn vị tăng phái phối hợp phòng thủ, tôi mới thuận cho đoàn quân của Trung Tá Phát vào phi trường. Thật là đúng lúc cần thiết và tôi rất bằng lòng có thêm người để giử an toàn cho căn cứ hiện trong tình trạng bỏ ngỏ. Tôi phối họp ngay với Trung Tá Phát để phối trí việc phòng thủ căn cứ với Không Đoàn Yểm Cứ của Trung Tá Phạm Bá Mạo và Trung tá Nguyễn Văn Thiệt vì căn cứ mênh mông với vòng đai hình vuông mỗi cạnh 6 km, mà Liên Đoàn Phòng Thủ chỉ có khả năng phụ trách canh gác vòng đai gần mà thôi. Dù muốn dù không, căn cứ Không Quân Phan Rang đã trở thành tiền đồn của miền Nam mà tôi đang là người có nhiệm vụ phải chống giữ. Tôi chỉ thị Trung Tá Diệp Ngọc Châu phụ tá Nhân Huấn phải theo dỏi sát vấn đề nhân viên, để đừng xảy ra tình trạng bung chạy, vì quá hoang mang, giao động trước việc, có thể chiến đấu như bộ binh.
Trung Tá Phát xử dụng Đại Đội Trinh Sát Dù, bung ra kiểm tra nội vi căn cứ và đánh đuổi một vài tên du kích mon men vào Đồn Đại Hàn gần cổng số 2 của căn cứ. Về phần Không Quân, câc cấp phi hành và kỷ thuật đê am hiểu tình hình mới, chấp nhận thực trạng và hết mình nổ lực chiến đấu vì nhu cầu phòng thủ.
Vào buổi chiều, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2 ghé căn cứ thăm hỏi tình hình. Sáng hôm sau, rời căn cứ bay về Sài Gòn.
Ngày 2.4.1975, Sài Gòn tăng cường một đơn vị Dù. Trung Tá Phát liền xử dụng để kiện toàn an ninh cho phi trường và phối hợp với các đơn vị Địa phương quân trong việc giữ an ninh cho thị xả.
Lúc 2 giờ chiều, tôi bay xuống Phan Thiết đón Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn tư lệnh Quân Đoàn 3. Khi gặp tôi, ông nói sở dĩ muốn gặp tôi tại Phan Thiết là để xác nhận sự hiện hữu của Phan Rang, mà giờ nầy lẻ ra cũng đã bỏ chạy như Nha Trang và Cam Ranh rồi. Sau khi nghe tôi thuyết trình tình hình, Trung Tướng Toàn nói: ”Kể từ buổi thị sát nầy, Phan Rang sát nhập vào Quân Đoàn III, trở thành cứ điểm cực Bắc của quân đoàn.”
Cùng ngày tôi nhận được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định tôi phụ trách bảo vệ Phan Rang.
Ngày 3.4.1975, TĐ5 Dù để tạm kiểm soát các khu vực cạnh thị xã và nội vi phi trường.. Từ Ba Râu đến Thị xã, dân chúng bớt hoảng sợ mặc dầu sanh hoạt vẫn còn rụt rè. Trong căn cứ Không Đoàn Yểm Cứ đã chấn chỉnh an ninh nội bộ khiến cho căn cứ lần lần lấy lại sanh hoạt bình thường.
Đại Tá Lê Văn Thảo Không đoàn trưởng Không Đoàn 92 Chiến Thuật với 3 phi đoàn A-37, 524 Thiên Lôi, 534 Kim Ngưu và 548 Ó Đen đã sát cánh cùng đoàn viên xuất kích đêm ngày rất hữu hiệu.
Trung Tá Lê Văn Bút không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật với 2 phi đoàn trực thăng 229 và 235, 1 Phi Đoàn Quan Sát 118 và một bộ phận của Phi đD9àn 530 A-1 với Phi đội tản thương 259 C, đã bay thi hành nhiều công tác khó khăn nguy hiễm.
Trung Tá Đổ hữu Sung và đoàn kỹ thuật gan dạ, chu toàn mọi công tác sửa chửa và trang bị dưới làn pháo kích ngày đêm của địch.
Theo tin tức của các quân nhân ta từ các nơi ghé xin phương tiện về Sài Gòn, thì VC đang xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Tôi liền cho phi cơ quan sát bao vùng và chỉ điểm cho phi cơ A-37 đánh phá.
Cộng thêm các khó khăn, việc tiếp tế nhiên liệu đang gặp trở ngại vì xe bồn không cung cấp như bình thường, bởi cảng Cam Ranh đã bị địch chiếm. Vì vậy hàng ngày, tôi phải nhận tiếp tế từ Saigon bằng phi cơ C-130, một số lượng nhiên liệu tối thiểu cho hành quân mà thôi.
Để tránh hổn loạn khi bị pháo kích dồn dập, tôi cũng phải cho nửa số phi cơ về trú đêm ở Saigon, để sáng hôm sau trở ra với đầy nhiên liệu.
Trong ngày, khi biết có tàu Mỹ đang lảng vảng ngoài vịnh Phan Rang để chở một số người, tôi liền cử Trung Tá Lý Văn Bút dùng trực thăng đáp trên một trong những tàu đó để chào hỏi và cho biết hiện tình ở Phan Rang. Tiếp đón và trả lời những điều muốn biết trong lối 1/2 giờ, hạm trưởng thúc giục Trung Tá Bút rời tàu. Xuyên qua lời trình thuật của Trung Tá Bút, tôi đê hiểu rỏ ràng là trong cấp thời, Mỹ không còn có ý định dính líu gì nửa đến cuộc chiến đang diễn tiến hiện nay.
II – BỘ TƯ LỆNH TIỀN PHƯƠNG
Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lủng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Ngày đêm phi cơ trong căn cứ liên tục quan sát bao vùng và oanh tạc ngay các mục tiêu bị phát hiện. Các đơn vị VC đã tiến quá xa với hậu tuyến của họ. Họ chỉ mới tiếp thu Nha Trang và Cam Ranh. Với mức độ hành quân 10 cây số ngày hoặc gia tăng với phương tiện chiếm được thì không thể tập trung tấn công ngay được. Có thể có những phần tử lẻ tẻ đã xâm nhập và đang ém quân, nhưng ngoài ra Phan Rang chưa có nguy cơ bị tấn công ngay bởi quân chánh quy. Muốn tấn công, có thể chỉ có từ 2 hướng: Một là từ hướng Bắc, theo QL 1 tiến qua đèo Du Long thẳng vào thị xả và hai là từ hướng Tây tấn công từ Khrông Pha qua Tân Mỹ hướng về thị xả Phan Rang. Ngoài ra còn có một ít đường mòn từ Vườn Dừa, Ba Ngòi chạy theo hướng Nam Tây Nam sát căn cứ KQ hướng về Tân Mỹ có thể chọn để xâm nhập được. Trong lần bay quan sát chiều ngày 14.4.75, tôi thấy một vài thiết vận xa địch trên những đường mòn nầy vào hướng Tây Bắc của căn cứ, cách khoảng 8 km. (Đương nhiên, khi bị phát hiện, chúng đều lẫn trốn trước khi bị oanh tạc).
Thị xã và Phi trường Phan Rang nằm vào phần Nam của cái thung lũng đó. Quốc lộ 1 và đường xe lửa chạy song song xuyên qua đèo Du long về thị xả, tách ra tại Thôn Ba Râu, chạy sát phi trường rồi tiến về Nam không qua thị xã. Từ thị xã đến Du Long khoảng 15 km với Ba Râu khoảng 9 km và với Că Đú khoảng 4 km. Từ Cà Đú đến thị xã, mặt đất bằng phẳng.
Phi trường Phan Rang rất rộng, hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 6 km, nằm giữa QL 1 và QL 11 và sát với đường xe lửa về hướng Đông, cách thị xả 5km và Nha Trang khoảng 80km. Có 2 đường bay song song, 1 bằng xi măng cốt sắt vă 1 bằng vĩ nhôm dài 10.000 bộ, rộng 150 bộ. Có đầy đủ cơ sở cho kỷ thuật, tiếp liệu với các bồn xăng và kho bom theo tiêu chuẩn an ninh tối tân. Việc phòng thủ bao gồm 60 chòi gác, với 2 cổng chung quanh căn cứ do 7 đại đội Địa Phương Quân phụ trâch.
Ngày 4.4.1975, Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chánh thức đến Phan Rang cùng với toán truyền tin và chuyên viên, nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, và thiết lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương trong căn cứ của Sư Đoàn 6 Không Quân, nằm vào lối 5km Bắc Tây Bắc của thị xã Phan Rang. Ông cho biết là đã được thượng cấp chấp thuận gởi ra một số đơn vị chưa bị ảnh hưởng của việc rút quân để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa hẹn nầy, nên Ông rất vui lòng đảm nhận chức vụ.
Vì địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ, nên Trung Tướng Nghi quan niệm:
“Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xả phối họp với một số đơn vị Địa Phương Quân còn lại”
Theo quan niệm đó, Trung Tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cở 2 sư đoàn mới có thể trong tạm thời phòng thủ được. Đó là:
Mặt Bắc, trên Quốc Lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xả hoặc vào căn cứ.
Mặt phía Tây, trín Quốc Lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.
Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa Phương Quân phụ trách.
Ngày 5.4.1975. Trong ngày, thỉnh thoảng vẫn có vài quân nhân Không Quân thất lạc trình diện xin phương tiện về Sài Gòn và luôn xác nhận là vẫn có một số VC xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Chúng nói vì có quân Dù của ta ở phía trước nên chúng còn nấp chờ chi viện.
Ngoài ra Tướng Times, phụ trách an ninh cho Tòa Đại Sứ Mỹ, đến thăm và nói sẽ sắp xếp cho người của ông thường xuyên ở lại đây, để chuyển tin ngay về tòa đại sứ.
Trong mấy ngày qua, tôi đã điều hành công việc như là cấp có trách nhiệm ở Phan Rang, ngoài trách vụ chuyên môn là phụ trách Sư Đoàn 6 Không Quân. Vô tình tôi đã biến căn cứ Không Quân Phan Rang thành một cứ điểm phòng thủ tiền tiêu của cuộc chiến tranh rất phức tạp nầy.
Ngày 6.4.1975, trong ngày, sinh hoạt trong căn cứ Không Quân đã có sự bình thường và các phi vụ đều được thi hành như thông lệ. Thêm một số quân nhân của 7 đại đội Địa Phương Quân phụ trách canh gác vòng ngoài phi trường tiếp tục trở về.
Quân địch sau khi chiếm Nha Trang, liền vội vã đến tiếp thu Cam Ranh. Toán viễn thám của họ theo đă chạy tiếp thu, có thể đã xâm nhập từ Vườn Dừa, Ba Ngòi, qua đồi Du Long, xuống về phía Nam. Các Sư đoăn xâm nhập chưa thấy xuất hiện. Chỉ biết có đơn vị F-10 hoặc 968 đang lẫn núp xâm nhập lẻ tẻ.
Ngày 7.4.1975 là ngày đáng ghi nhớ.
ĐạiTtá Trần Văn Tự, tỉnh trưởng Phan Rang, vừa trở về với một số công chức, và đang tập họp các lính Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.
Đại Tá Nguyễn Thu Lương, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 Dù, với 3 Tiểu Đoàn 3, 7, 11 và 1 tiểu đoăn Pháo Binh cùng các Đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận lần lượt đến căn cứ. Trung Tướng Nghi liền giao cho nhiệm vụ chiếm các cao điểm và tổ chức tuyến phòng thủ tại Du Long mặt Bắc và tại Tân Mỹ mặt Tây. Tập trung lực lượng khi cần để chận không cho địch vượt qua Du Long.. Xử dụng Tiểu Đoàn 5 Dù của Trung Tá Phát hiện có mặt tại căn cứ giữ an ninh cho phi trường.
Ngày 8.4.1975, khi đơn vị cuối cùng của Lữ Đoàn 2 Dù đến căn cứ, Đại Tá Lương liền điều dộng giải tỏa đoạn Quốc Lộ 1, từ thị xã đến Du Long, qua các Thôn Cá Đú, Ba Tháp, Ba Râu và Du long, với 2 Tiểu Đoàn 11 và Tiểu Đoàn 3. Trên đường tiến quân, Tiểu Đoàn 3 Dù đuổi địch chạy tán loạn khỏi Ba Tháp và Ba Râu. Địch tổn thất khoảng một đại đội với nhiều vũ khí. Tiểu Đoàn 11 được trực thăng của Sư Đoàn 6 Không Quân, đưa đến chiếm Du Long, và các cao địa trọng yếu kiểm soát đường đỉ Du Long.
Bắt sống tại đèo Du Long, 7 xe tiếp tế thuộc đoàn hậu cần địch cùng một số quân lính VC, vì ngở Phan Rang đã bị chúng chiếm, nên cứ ngang nhiên di chuyển. Đồng thời, tìm thấy bộ đồ bay của Trung Úy Lý Tống, thuộc Không Đoàn 92 Chiến Thuật/ Sư Đoàn 6 Không Quân, còn để tại vùng đèo Du Long, khi phi cơ A-37 của mình vừa bị bắn rơi, lúc cùng phi đội oanh tạc khu Vườn Dừa. (Trung Úy Lý Tống là người đã thả truyền đơn chống Cộng tại Sài Gòn năm 1992, tại Cuba trong năm 2000 và tại Sài Gòn cuối năm 2000, nhân dịp Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam.)
Tại phía Tây, phần lớn của Tiểu Đoàn 5 Dù đã trấn ngữ đầu cầu hướng về Tân Mỹ, ngừa được sự tấn chiếm từ hướng nầy. Trong căn cứ, toán Trinh sât Dù cũng lại đuổi khỏi đồn Đại Hàn một số quân nhân địch vừa lén lút xâm nhập. Tiểu Đoàn 7 trừ bị giám sát việc giữ an ninh trong căn cứ Không Quân với Tiểu D8oàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù. Kết quả là trong ngày nầy, Phan Rang đã hoàn toàn kiểm soát được tình hình vốn bị trì trệ từ khi Nha Trang và Cam Ranh tháo chạy.
Buổi sáng, lúc Trung Úy Nguyễn thành Trung vừa oanh tạc Dinh Độc Lập, thì Bộ Tư Lệnh Không Quân bảo tôi phải cho ngăn cản và bắt đáp, nếu Trung bay qua Phan Rang. Lệnh đã được cấp tốc thi hành, và Trung đã không bay qua đây.
Đặc biệt cha giáo sứ Hồ Diêm, với niềm phấn khởi, đến thăm Trung Tướng Nghi để hoan nghênh quân Dù đã giải tỏa được Phan Rang. Điểm đáng đề cao là chính Cha, cùng với lực lượng Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ của giáo sứ, đã thành công bảo vệ địa phận mình chống lại các cố gắng len lỏi xâm nhập của địch.
Ngày 9.4.1975, Trung Tá Lê Văn Bút, không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, bay chỉ huy 40 trực thăng HU với 12 trực thăng Võ trang cơ hữu cùng 8 trực thăng Chinook từ Biên Hòa biệt phái. Mục đích là để lên Khánh Dương tìm kiếm và chở về các toán còn kẹt lại của Lữ Đoàn 3 Dù, gồm 2 Tiểu Đoàn 2 và 6 cùng một số quân của Tiểu Đoàn 5, lúc Nha Trang rút chạy. Cùng đi có Trung Tá Trần Đăng Khôi, lữ đoàn phó Lữ Đoàn 3 Dù phụ giúp tìm kiếm, chọn bãi đáp để rước toán thất lạc nầy trở về. Bấy giờ khu vực Khánh Dương đa trở thành vùng địch kiểm soât, nên tôi cho bay theo 2 phi đội A-37 yểm trợ. Kết quả là đoàn trực thăng đã mang về đến căn cứ Phan Rang, hơn 600 người mà phần lớn lă quân nhân của các Tiểu Đoàn 2 và 6, cùng một số thất lạc của Tiểu Đoàn 5 với một số ít dân sự chạy loạn đi theo. Toán nầy vào buổi chiều được chở toàn bộ vào Sài Gòn. Cuộc hành quân trực thăng vận thành công tốt đẹp, đem về được số quân nhân thất lạc của Lữ đoàn 3 Dù. Thật đúng là một chuyến bốc quân lịch sử. Đoàn trực thăng 60 chiếc đã phải bay qua vùng địch chiếm với mọi hiểm nguy và bất trắc khôn lường.
Trong thị xã, Đại Tá Trần Văn Tự tỉnh trưởng tiếp tục chấn chỉnh các phần vụ hành chánh, đồng thời lo chỉnh đốn hàng ngũ các đơn vị Địa Phương Quân. Ngoài thị xã, dân chúng hãy còn e dè ở lại, nhưng không tuôn chạy nhiều như những ngày trước. Cuộc sống có chỉ dấu trở lại bình thường, tạo nhiều phấn khởi.
Các ngày 10 và 11. 4.1975 có được sự yên tĩnh trong toàn bộ vùng Phan Rang. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đang trù tính kế hoạch chiếm lại Cam Ranh để sau đó lấy lại Nha Trang. Địch sau khi bị đuổi khỏi các địa điểm xâm nhập đang tập trung ém quân tại vùng Vườn Dừa ở Cam Lâm chờ đợi viện quân.
Ngày 12.4.75 là ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang.
Lệnh từ Quân Đoàn III cho biết sẽ rút Lữ Đoàn 2 Dù và Tiểu Đoàn 5 Dù vào ngày 13.4.1975, và thay bằng Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân với 3 tiểu đoàn, và Sư Đoàn 2 Bộ Binh với 2 trung đoàn, cùng 2 chi đội Pháo và chi đội Thiết Vận Xa.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân vừa rút khỏi Chơn Thành, sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghĩ dưỡng quân, thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng.
Sư Đoàn 2 Bộ Binh cũng vừa tháo chạy từ Quảng Ngải, vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì được lịnh phải ra Phan Rang, trong khi cả đơn vị hảy còn hoang mang, dao động. Vì chưa kịp bổ sung thiết bị, đơn vị nầy phải thu lượm một số pháo và thiết vận xa để mang theo cùng với các trung đoàn ra Phan Rang bằng đường bộ.
Bộ Tổng Tham Mưu Phòng 7 vừa bổ sung toán thám sát, vì kiểm thính phát hiện rộ lên nhiều liên lạc vô tuyến của các đơn vị địch xung quanh Phan Rang.
Chuẩn Tướng Lê Quang Lưởng tư lệnh Sư Đoàn Dù và Trung Tướng Trần Văn Minh tư lệnh Không Quân, cùng đến thám sát công cuộc phòng thủ. Cả hai vị đều tỏ ý bất đồng về việc điều quân nầy. Trung Tướng Minh nói để căn cứ Không Auân làm tiền đồn là sai lầm, vì khi hữu sự dưới lằn đạn pháo thì không thể sửa chửa, trang bị cho phi cơ có khả năng hành quân như yêu cầu được. Chuẩn Tướng Lưỡng cũng nói, muốn giữ Phan Rang làm bàn đạp để lấy lại Cam Ranh và Nha Trang, tại sao lại rút đơn vị đang chiến đấu tốt mà thay bằng 2 đơn vị đã từng vội vã rút quân vă còn đang chờ đợi bổ sung quân số.
Trung Tướng Nghi cũng bất ngờ vì không có được những đơn vị như đã hứa trước lúc ra nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang.
III. TRẬN CHIẾN QUYẾT ĐỊNH
Ngày 13.4.1975 là ngày đánh dấu nhiều việc không may xảy đến cho tuyến phòng thủ Phan Rang.
Trong ngày, liên tục toán kiểm thính Phòng 7 Tổng Tham mưu cáo có sự hoạt động bất thường của các đơn vị Sư Đoàn 325 và Sư Đoàn 3 Bắc Việt.
Tướng Times của Tòa Đại Sứ Mỹ hấp tấp bay đến, dẫn theo Ông Lewis, chuyên viên truyền tin, để chuyển về Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mọi biến chuyển mới nhứt của mặt trận. Ông Lewis ở lại, rất tích cực làm việc và rất bình tĩnh lúc địch dồn dập tấn công.
Sau mấy ngày ém quân, địch bắt đầu chuyển quân từ khu ém quân và khởi sự pháo kích văo căn cứ Không Quân. Các đơn vị địch đang tìm cách tấn công các điểm cao ở vùng đồ Du Long và phía Đông Ba Râu. Đơn vị địch 968 cũng bắt đầu xâm nhập lẻ tẻ từ phía Tây của căn cứ không quân, phối họp với từng đợt pháo kích.
Tiếc thay, trong tình thế như vậy mà cơ cấu phòng thủ phải thi hành lệnh thay quân đang chiến đấu tốt, bằng 2 đơn vị vừa mới được bổ sung sau khi bị tổn thất nhiều về trang bị và tinh thần.
Trong khi bộ phận lớn của Lữ Đoàn 2 Dù, gồm Tiểu Đoàn 7 với các bộ phần nặng và Tiểu Đoàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù rời căn cứ, thì Đại Tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52 cũng vừa từ Biên Hòa tới bằng phi cơ C-130. Quân số liên đoàn gồm khoảng 1.000 người. Các đơn vị liền vội vã đến trám vào các địa điểm đóng quân của Tiểu Đoàn 11 Dù tại Du Long và Ba Râu. Tiểu Đoàn 31 trám tại Du long, Tiểu Đoàn 36 trám từ Ba Râu đến Cá Đú và Tiểu Đoàn 52 làm trừ bị. Đang thay quân thì chạm súng với các toán thăm dò của địch.
Cùng lúc, Trung Đoàn 4 của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, quân số khoảng 450 người, từ Bình Tuy theo đường bộ cũng vừa tới, và được giao trách nhiệm trấn giữ mặt Tây căn cứ và bảo vệ phi trường thay cho Tiểu Đoàn 5 Dù vừa rời căn cứ.
Theo khuyến cáo của Bộ Tư Lệnh Không Quân, Đại Tá Nguyễn Đình Giao, tham mưu trưởng Sư Đoàn 6 Không Quân được nhiệm vụ cùng các chuyên viên về Tân Sơn Nhất để phụ lo việc quân số và tiếp liệu cho sư đoàn.
Ngày 14.4.1975, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, tư lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, cùng Trung Đoàn 5 vừa đến với khoảng 450 quân, được giao nhiệm vụ bảo vệ mặt Nam căn cứ và phi trường vì Lữ Đoàn 2 Dù đã hết nhiệm vụ và đã bàn giao với Trung Đoàn 4 hôm qua. Lực lượng Pháo Binh chỉ có 1 pháo đội 105 ly hiện diện tăng phái cho tiểu khu trong đó có một trung đội đóng tại An Phước, phía Nam phi trường lối 10 km.
Thị xả được phòng vệ bởi khoảng 1 tiểu đoàn Địa Phương Quân còn lại. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, theo lệnh, đề cử Đại Tá Trương Đăng Liêm trung đoàn trưởng Trung Đoàn 4 giử chức vụ tỉnh thưởng thay Đại Tá Trần Văn Tự.
Cũng để dự phòng cho những ngày tác chiến sắp tới, Bộ Tư Lệnh Không Quân cũng vừa gởi đến, một phi cơ C-47 để tăng cường phương tiện hành quân cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân.
Bên ngoài căn cứ, từ sáng sớm, địch lần lượt tung vài đơn vị cấp đại đội từ khu ém quân, đánh thăm dò cơ cấu phòng thủ tại Du Long và Ba Râu. Một trong các đơn vị nầy đã xâm nhập được vào cổng số 2 phi trường về phía Bắc, lúc mờ sáng. Phi cơ trực thăng tuần tiểu phát hiện, và cùng với trực thăng võ trang, yểm trợ cho một bộ phận của Tiểu Đoàn 11 Dù đang chờ phi cơ về hậu tuyến, được gởi ra tiêu diệt toán xâm nhập nầy. Kết quả địch rút chạy, bỏ lại gần 100 tên bị hạ với khoảng 80 vũ khí đủ loại, trong đó có 2 súng cối 82 ly và 2 khẩu đại bác không giựt 75 ly. Ta chỉ có 6 chiến sĩ hy sinh và 1 thiết vận xa phòng thủ phi trường bị chây. Trung Tướng Nghi tưởng thưởng ngay huy chương Anh Dũng Bội Tinh cho các quân nhân hữu công.
Khoảng trưa, Tướng Nghi và tôi cùng Đại Tá Lương chạy xe thong thả từ phi trường đến Ba Tháp, Ba Râu và Du Long thị sát công việc phòng thủ. Tại Du Long Tướng Nghi có tập họp và trấn an số Nghĩa Quân có mặt tại đây.
Tóm lại, mặc dầu hôm nay có các cuộc đánh thăm dò của địch, mặt trận vẫn đứng vững như những ngày qua.
Ngày 15.4.1975 từ sáng sớm địch liên tục pháo từng chập văo căn cứ. Buổi chiều khoảng 2 giờ, có phái đoàn của Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng trưởng Quốc phòng và Trung Tướng Nguyễn Văn Toăn tư lệnh Quân đoàn 3 đến thị sát mặt trận. Sau khi thăm thị xả, nghe Tướng Nghi thuyết trình tình hình và ghi nhận các đề nghị, trung tướng tổng trưởng quốc phòng tỏ vẻ chú trọng đến việc phòng thủ Phan Rang và hứa sẽ tìm mọi cách bổ sung đầy đủ mọi trang thiết bị thiếu hụt.
Từ chiều trở đi, Trung Tướng Nghi liên tiếp nhận được tin địch sẽ tập trung tấn công đêm nay. Một trong những công điện của Bộ chỉ huy địch với danh hiệu Sông Hồng, đóng tại Ba Râu, cho hay địch sẽ tấn công vào Phan Rang lúc 5 giờ sáng. Tiến quân theo đường rầy xe lửa cùng với 300 chiến xa, theo Quốc Lộ 1 phát xuất từ rừng dừa ở Ba Ngòi. Biết ý định của địch, Trung Tướng Nghi báo động ngay mọi nơi đề phòng, đặc biệt là Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân có nhiệm vụ án ngữ ở Du Long.
Quả nhiên, sau 8 giờ tối địch gia tăng cường độ pháo vào phi trường, đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh v.v…Chúng vượt đồi Du Long, chủ yếu chỉ để tràn qua phòng tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 31 Biệt Động Quân mà tiến nhanh về hướng Nam. Tiểu Đoàn 31 đã ở tại chổ chiến đấu gan dạ mặc dầu đoàn xe địch vượt được qua. Tại Ba Râu, Ba Tháp và Cá Đú, từ địa điểm đóng quân chờ di chuyển về hậu cứ, từ 2 giờ sáng trở đi, Tiểu Đoàn 11 Dù trừ và Tiểu Đoàn 3 Dù, cùng với Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân vừa trám chổ, chạm địch ác liệt, làm chậm sức tấn công ồ ạt của đoàn cơ giới địch. Liên tục bị oanh kích, chúng tẻ xuống đường, tắt đèn và lại tiến tới. Phi cơ A-37 không ngớt tung xuống đợt oanh tạc ngăn chăn, nhưng vì không đủ phương tiện soi sáng và hỏa long, nên chúng vẫn tràn qua, sau khi bị tổn thất khá nặng nề. Bên ta có 4 A-37 bị bắn bể bình xăng phải về đáp. Trận nầy Không Đoàn 92/Chiến Thuật đã tung toàn lực phi cơ cơ hữu kể cả 4 A-1 của Phi Đoàn 530.
Tôi cùng Trung Tá Lưu đức Thanh phụ tá hành quân Sư Đoàn 6 Không Quân đích thân theo dỏi trận đánh suốt đêm. Chúng tôi liên tục đốc thúc phần tham gia của Không Quân, kể từ lúc các đơn vị bộ binh chạm súng, liên tục báo cáo địch đang xử dụng hàng đoàn xe để đến sáng chạy từ Du Long tràn xuống. Cuối cùng, đoàn xe tắt đèn vượt qua Ba Râu, vă chiếm thị xả lúc 7 giờ sáng ngày16.4.1975.
Tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương, Trung Tướng Nghi cũng theo dỏi trận chiến suốt đêm và không nhận được tin gì từ Du Long của Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân sau 3 giờ sáng (sau nầy, Thiếu Tá Đào Kim Minh, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân và Thiếu Tá Nguyễn văn Tú tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 31 Biệt Động Quân có nhiệm vụ trấn giữ Ba Râu và Du Long cho biết không hiểu vì lý do gì mà từ 2 giờ sáng không liên lạc được với Bộ Chỉ Huy. Sở dỉ cần liên lạc khẩn cấp là vì đã 3 ngày, từ lúc thay quân, cứ liên miên đụng địch nên cấp số đạn dược mang theo đã gần cạn. Đến sáng, khu vực trách nhiệm vẫn yên tịnh như sau những lần chạm súng. Trên đường vẫn an toàn nhưng nhìn vào phi trường thấy đang bị pháo kích).
Ngày 16.4.1975, lúc vừa sáng, địch lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tây. Đến khi phòng không chúng, bắn trúng chiếc phi cơ quan sát O-1 vừa cất cánh quan sát hành quân, phải trở lại đâp khẩn cấp, thì đồng thời chúng gia tăng số lượng pháo kích.
Lúc bấy giờ mới khoảng gần 8 giờ sáng. Đại Tá Biết bổng báo cáo là Du Long bị mất và địch đã vào thị xã khiến cho Trung Tướng Nghi phải tìm phương thế thích nghi. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nhựt vừa đặt văn phòng cạnh văn phòng Trung Tướng Nghi, liền được mời tham gia vào việc duyệt xét tình hình. Sau đó Ông đi thị sát mặt trận tại nơi trách nhiệm của đơn vị mình.
Trong khi Trung Đoàn 4 Bộ Binh đang án ngữ bên ngoài phía Tây của phi trường và Trung Đoàn 5 đang phòng ngự địch tràn lên từ thị xả, thì bên trong căn cứ tình hình bắt đầu có chiều hướng bất lợi. Địch vẫn giữ mức độ pháo kích quấy rối từng chập. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số lớn phi cơ đã rời căn cứ. Còn lại chỉ có một số rất ít trực thăng võ trang và tản thương ở lại đến phút chót.
Khoảng hơn 9 giơ sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiển SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã khá nguy ngập. Trung Đoàn 4 báo cáo đang chạm địch. Toán Dù bảo vệ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đang thanh toán các toán VC lẻ tẻ chạy lạng quạng gần khu vực Bộ Tư Lệnh Tiền Phương. Đến lúc nầy, Trung Tướng Nghi vẫn tin tưởng văo khả năng chiến đấu của Trung Đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung Đoàn 5 án ngữ ngăn chận địch tràn vào cổng số 1 của căn cứ.
Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn Tướng Nhựt, Đại Tá Lương và tôi để tái duyệt xét tình hình. Vì lẽ mặt trận đã bị thủng từ Du Long và địch đang hăm dọa căn cứ nên Trung Tướng Nghi dự tính có thể sẽ dời Bộ Tư Lệnh Tiền Phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới tại đó, nếu địch chọc thủng được phòng tuyến bảo vệ phi trường. Dự trù sẽ đi khỏi phi trường từ cổng số 1 và đi cùng Trung đoàn 5.
Khoảng 10,30 giờ sáng, mãi đến khi các toán quân địch sắp tiến vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương thì Trung Tướng Nghi mới ra lịnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới. Trung Tướng Nghi, Đại Tá Lương, Ông Lewis chuyên viên Tòa Đại Sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, Sư Đoàn 6 Không Quân, Lữ Đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ của Liên Đoàn 3I Biệt Động Quân lối 400 người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 về hướng Nam.
Đoàn quân di chuyển trật tự đến cổng số 1 khoảng 11 giờ, để cùng đi với Trung Đoàn 5 về Cà Ná như dự định. Tại đây, vì không liên lạc được với Chuẩn Tướng Nhựt, nên Trung Tướng Nghi quyết định theo đường rào phía Nam, di chuyển dọc theo đường từ Tour Cham đến ngã ba An Phước. Đoàn quân an toàn đến Thôn Mỹ Đức lúc 12 giờ trưa.
Trên đường rút khỏi Ba Tháp, Tiểu Đoàn 3 Dù lần xuống bãi biển, tẻ sâu về hướng Nam và không còn thấy Giang Đoàn 27, Chiến Hạm WHEC cùng bất cứ chiếc tău nào khác tại cảng Ninh Chử. Đến một bãi cát xa hơn về hướng Nam của thị xả, đơn vị Dù nầy, gặp và kháng cự với một toán quân địch khác đến bao vây. Sau khi thoát vòng vây với ít nhiều tổn thất, Tiểu Đoàn 3 Dù được một đoàn trực thăng, bốc về an toăn. (Đoàn trực thăng cấp cứu nầy, dự trù đón Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, nhưng vì Trung Tướng Nghi không thuận cho đáp vì lý do an toàn bãi đáp, nên trên đường trở về, mới bốc được toán Dù trên).
Tiểu Đoàn 11 Dù còn lại rút được qua sông, phối hợp với toán quân vừa thoát khỏi trận phục kích ở Thôn Phú Quý về được an toăn.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân và Sư Đoàn 2 Bộ Binh với một ít đơn vị cố gắng di chuyển về Nam lại chịu thêm tổn thất trên đường rút lui. Đại Tá Lê Thương, chỉ huy trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, trên đường rút về An Phước nơi có trung đội pháo binh đang trú đóng, cũng gặp địch đã đóng làm nút chận tại đây rồi.
Tại phi trường, khi đoàn quân của Trung Tướng Nghi di chuyển khá xa, thì Sư Đoàn 325 VC phối họp với Sư Đoàn 3 VC cùng Đoàn 968 tấn công và chiếm phi trường lúc 11,30 giờ trưa.
Thiệt hại của Sư Đoàn 6 Không Quân rất đáng kể vì mất toàn bộ kho bom đạn và các trang thiết bị phụ thuộc, với lối 10 phi cơ đủ loại không bay được. Tuy nhiên tổn thất hành quân tương đối là nhẹ: 1 A-37 rớt, 4 A-37 bị bắn về đáp an toàn, 2 trực thăng cháy, 1 phi cơ quan sát cùng khá nhiều trực thăng bị bắn nhưng về đáp được an toàn.
Hải Quân ta chỉ có một số ít giang thuyền bị chìm và một chiến hạm bị pháo.
Tại Thôn Mỹ Đức lúc khoảng 4 giờ chiều, Trung tướng Nghi được toán truyền tin của Đại tá Lương cho hay có 1 đoàn phi cơ xin xác nhận vị trí để xuống bốc. Lúc bấy giờ, với số gần 700 quân nhân vă thân nhân nên khó bóc hết được, vả lại khi trực thăng đến, khó lòng mà giữ được trật tự, chắc chắn sẽ tạo hổn loạn làm lộ mục tiêu giúp địch đến vây bắt. Vì vậy Trung Tướng Nghi quyết định vì sự an toàn cho đồng đội, từng khổ cực chiến đấu với nhau mà không vì an toàn cho bản thân, nên ra lịnh toán cứu cấp đó không nên đâp, và chỉ nên đến ngày hôm sau, tại một địa điểm xa hơn về phía Nam.
Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại Tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung Tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn Điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4..1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Trung Tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992.
IV. KẾT LUẬN
Sư Đoàn 6 Không Quân rời Pleiku ngày 16.3.1975 đến tạm trú tại Nha Trang. Ngày 22.3.1975 được lịnh đến căn cứ Phan Rang đồn trú. Chưa kịp thích nghi với sanh hoạt địa phương thì phải đương đầu với nhiều nổi ưu lự kể từ lúc Nha Trang rút bỏ. Liên tiếp trong 16 ngày, toàn thể quân nhân Sư Đòan 6 Không Quân đã khắc phục bao khó khăn, trong một hoàn cảnh khác thường của một căn cứ Không Quân bổng trở thành một tiền đồn, vừa thi hành các phi vụ, vừa tham gia chiến đấu như bộ binh.
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân Phan Rang có những đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đáng khen, như việc bảo vệ giáo xứ Hồ Diêm được an toàn là một thí dụ.
Sư Đoàn 2 Bộ Binh với 2 Trung Đoàn 4 và 5, tuy có một số lớn quân nhân hãy còn hoang mang, dao động vì lo lắng cho thân nhân còn kẹt lại khi đơn vị vội vả rút lui, nhưng cũng đã cố gắng tham dự.
Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân với 3 Tiểu Đoàn 31, 36 và 52, chứng minh được cái tinh thần của người chiến sĩ mũ nâu, mặc dầu sau những trận đánh ác liệt tại Chơn Thành được điều động thẳng ra Phan Rang, không có một ngày nghĩ dưỡng quân, cũng như không được bổ sung quân số, tái trang bị đầy đủ.
Lữ Đoàn 2 Dù với các Tiểu Đoàn 3, 7 và 11 cùng Tiểu Đoàn 5 của Lữ Đoàn 3 Dù đã chiến đấu rất tích cực và tạo được sự tin tưởng của nhiều người, quả xứng đáng là những đơn vị thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Với những đơn vị như trên cộng thêm Phan Rang có vị trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, đáng lý Phan Rang không thể bị chiếm quá nhanh như thế được.
Chiếm được Phan Rang, địch mới có lý do tung ra kế hoạch Tổng Công Kích, mà đáng lý ra theo dự trù, chúng chỉ có thể tung ra vào năm 1976 thay vì năm 1975. Tướng VC Văn Tiến Dũng, sau chiến thắng, đê tuyên bố tại Cuba: ”Khi chiếm được Phan Rang thì coi như chiếm được miền Nam”. Lời tuyên bố nầy chứng minh được việc chọn phòng tuyến Phan Rang là một quyết định đứng đắn của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Việc mất Phan Rang quả đúng là một tổn thất quá lớn cho công cuộc bảo vệ Miền Nam vậy.
Đã hơn 25 năm, chắc chắn tôi không thể còn nhớ đầy đủ các diễn biến liên quan đến việc phòng thủ Phan Rang. Tôi đã tham khảo một vài tài liệu và tiếp xúc một vài thân hữu. Cộng với ký ức, tôi đã cố gắng ghi lại trong bài viết nầy mọi hiểu biết có thể có và đương nhiên chắc phải có nhiều thiếu sót.
Viết xong ngày 15 tháng 1 năm 2002
Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang
Hành Khúc Ngày Và Đêm - Minh Quân ft. Anh Thơ
Hình ảnh chiến sĩ Giải phóng quân - Mỗi Bước Ta Đi
Nhận xét
Đăng nhận xét