KIẾP GIANG HỒ 213

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Số Phận TƯ MẮT – Đại Ca Quân Tử Nhất SÀI GÒN, Màn Đối Đầu Với Quân PHÁP Khiến Giới Giang Hồ Kính Nể

Anh hùng hiệp nghĩa dưới vẻ ngoài bặm chợm

0
Nhiều giai thoại để lại cho đến ngày nay vẫn tôn sùng giang hồ Tư Mắt là anh hùng. Chuyện nhân vật này thống lĩnh thế giới ngầm, bảo kê cả khu chợ đầu mối tại Sài Gòn-Gia Định thì ai cũng rõ nhưng điều lạ là nhiều người luôn dành cho Tư Mắt những lời khen từ đáy lòng. Họ biết ơn, coi Tư Mắt như là một anh hùng, thậm chí là đáng để thờ phụng…
Giang hồ thứ thiệt
Cuộc thanh trừng, chiếm lĩnh địa bàn của Tư Mắt diễn ra nhanh đến mức nhiều băng nhóm còn chưa kịp tính toán nên chống lại hay rút thì đã bị gã giang hồ này đến hỏi thăm. Cả một khu chợ trên bến, dưới thuyền nằm gọn trong tay Tư Mắt.
Hàng quán, sòng bài ở khu trung tâm Sài Gòn cũng bị Tư Mắt thâu tóm. Chỉ hơn 1 năm xuất hiện, từ chỗ đơn thương độc mã, Tư Mắt đã trở thành “ông trùm”.
Tư Mắt từ chối làm “tay sai” cho Pháp. (Hình minh họa).
Tư Mắt từ chối làm “tay sai” cho Pháp. (Hình minh họa).
Vẫn lấy quán cắt tóc Nam Hữu Mai làm “bản doanh”, Tư Mắt hàng ngày chỉ việc dạo quanh các khu chợ, cũng chẳng cần thu tiền mà có đám đệ tử lo hết.
Tiền thu phế của các tiểu thương hay từ những sòng bài, Tư Mắt cất vào một cái dương bằng gỗ hương để trong phòng ngủ của mình. Chẳng ai biết bên trong có bao nhiêu tiền, vàng vì duy nhất chỉ mình Tư Mắt là được bước chân vào căn phòng đó.
Mỗi khi bước chân ra đường, bất kể già, trẻ, là tiểu thương hay những kẻ mạt vận đều cúi đầu chào Tư Mắt là: “Tư đại ca quá bộ đi đâu đó ạ”. Thường thì Tư Mắt chỉ gật đầu đáp lại. Có một đặc điểm là Tư Mắt được người Sài Gòn xưa gọi là dân giang hồ thứ thiệt nghĩa là “nói là làm” chứ không phải hạng ba hoa, giảo hoạt dùng “võ mồm” đe dọa kẻ khác.
Thời đó, quan Tây (người Pháp) có quyền lực ghê gớm, hễ ai thân được với chúng thì chẳng khác nào có được “huyền trượng”, “kim bài” mà đi “khua thiên múa địa”. Quen được với quan Tây chức càng lớn thì càng có nhiều quyền lực và nhiều kẻ tự cho mình cái quyền ức hiếp, đè nén, đánh đập kẻ khác không nương tay.
Không ít tiểu thương ở chợ Cầu Muối thường rơi vào cảnh mất cả gánh hàng vì bị đám lâu la “cậy thế” quen quan Tây nói: “Đồ này tươi ngon, quan Tây thích và cứ thế lấy mang đi”. Gặp tình huống này, mọi người chỉ biết cắn răng nhìn tài sản của mình bị cướp trắng.
Tuy nhiên, từ ngày có Tư Mắt bảo kê, chuyện đám lâu la - tay chân của quan Tây cướp hàng giảm hẳn. Có lần, khi đang lững thững qua khu chợ bán hương liệu, thấy một đám dường như là tốp lính của chính quyền đang gây hấn với một chủ cửa hiệu, Tư Mắt đi vào hỏi chủ quán là có việc gì thì được biết đám lính này muốn lấy hàng mà không trả tiền.
Nghe vậy, Tư Mắt quay ra rồi tay vung, chân quắc, trong nháy mắt 3 tên lính đã nằm gục dưới đất không đứng dậy nổi… Dĩ nhiên, quán này cũng nằm dưới sự bảo kê của Tư Mắt thì mới được bảo vệ như vậy nhưng tiểu thương họ chấp nhận chi tiền để gã giang hồ này bảo kê hơn là phải mất trắng tất cả.
Tiếng tăm của Tư Mắt ngày một lớn mạnh, chính quyền Pháp cai trị tại Sài Gòn không phải là không biết nên đã tìm nhiều cách mà tiêu diệt. Tuy nhiên, vì Tư Mắt có quá nhiều đệ tử, đàn em, trong khi đó nếu diệt gã giang hồ này thì chắc chắn sẽ có nhiều tốp khác nổi lên vì vậy chính quyền Pháp thay vì “diệt tật gốc” đã tìm cách chiêu hàng.
Nhiều lần quan Tây mời đi ăn tiệc tại nhà hàng sang trọng, Tư Mắt không đến. Thậm chí, quan Tây còn “quá bộ” đến tận tiệm tóc Nam Hữu Mai tìm Tư Mắt, muốn mời tham gia lực lượng bảo vệ an ninh Sài Gòn, thực tế là biến Tư Mắt thành “tay sai” cai quản đám du đãng…
Tuy nhiên, đáp lại lời mời này, Tư Mắt chỉ thủng thẳng nói: “Tôi chỉ là thợ hớt tóc, đâu có biết làm gì mà cai quản ai. Cảm ơn các quan đã thương tình nhưng xin phép được từ chối”.

Sau lần từ chối thẳng thừng đó, nhiều người dù rất kinh nể nhưng cũng không khỏi lo lắng Tư Mắt sẽ gặp đại họa. Người ta bảo, Tư Mắt là giang hồ nghĩa khí, không sợ kẻ mạnh mà phải luồn cúi. Cứ như vậy vị thế của Tư Mắt càng trở lên vững mạnh hơn trước.
Hành hiệp trượng nghĩa Thống lĩnh đám du côn bặm trợn chưa bao giờ là một việc dễ dàng. Tuy nhiên, với Tư Mắt đám đệ tử không chỉ sợ hãi mà còn kính nể thực sự.
Họ nể Tư Mắt ở nghĩa mang ơn con người này đã cứu giúp trong những lúc hoạn nạn, những lúc sa cơ nên chẳng người nào có suy nghĩ sẽ tìm cách thù hại. Tư Mắt luôn sẵn sàng giúp đỡ hết sức mình nếu như đệ tử, người quen biết, thậm chí là một ai đó gặp khó khăn như gia đình có người ốm, bị ai đó hãm hại hoặc sa cơ lỡ vận…
Nhiều lúc trong người không có sẵn tiền, Tư Mắt sẵn sàng mang đồ đạc ở nhà đi bán, cầm cố để giúp đỡ. Chính vì lý do này mà Tư Mắt luôn được mọi người kính nể bằng sự chân thành, đặc biệt là những ai từng nhận ơn giúp đỡ.
Có lần, một đệ tử quê ở mãi Tây Ninh nghe tin mẹ mất nên đã xin Tư Mắt về chịu tang. Nghe thấy vậy, Tư Mắt liền đưa cho riêng người này một khoản tiền lớn đủ để sống vài năm rồi nói. “Anh không về chịu tang mẹ được, em về chịu tang đủ 3 năm rồi quay trở lại Sài Gòn gặp anh”.
Đó chỉ là một trong rất nhiều hành động trượng nghĩa mà Tư Mắt đã đối đáp với mọi người. Thậm chí, có giai thoại để lại đến ngày nay còn nói rằng, bao nhiêu tiền thu được từ bảo kê, tổ chức sòng bài Tư Mắt đều mang đi giúp đỡ người người hết.
Cái dương gỗ để trong căn phòng ngủ nhiều người cho rằng chất đầy tiền có khi chỉ là hư danh. Có một điều mà dân giang hồ khu vực Chợ Cầu Muối luôn dặn dò nhau là bất cứ ai đã chịu ơn đại ca Tư thì phải báo đáp hết mình.
Hễ khi nào đại ca lên tiếng nhờ vả thì phải xả thân dù đó có thể là đi vào những chỗ mất mạng. Chính vì lý do này trong tất cả những trận tranh giành lãnh địa, chỉ cần có mặt Tư Mắt là chẳng phe cánh nào có thể đối địch lại được vì sẽ rất nhiều người sẵn sàng xả thân để đáp nghĩa gã giang hồ này…
Nhiều người chỉ biết đến Tư Mắt là một gã giang hồ khét tiếng mà ít ai biết con người này còn có tâm hướng Phật. Vào những ngày đầu tháng hoặc cuối tuần, Tư Mắt thường “mất tích” liền 2 ngày rồi mới về. Người thì bảo Tư Mắt về quê, người thì bảo xuống miền Tây du chơi.
Sau này, khi mọi chuyện đã rõ, người ta mới biết Tư Mắt lui vào chùa Giác Lâm để tĩnh tâm. Người thì bảo Tư Mắt vào chùa để tránh đi cuộc sống bụi bặm, khắc nghiệt, người thì nói vào chùa để luyện võ công…
Chẳng ai biết chính xác Tư Mắt làm gì trong đó nhưng sau này cứ đến 2 ngày cuối tuần là mặc định không ai có thể thấy được gã giang hồ này ở chợ Cầu Muối hay là ở các con phố tại Sài Gòn.
Nội dung bài viết số tới sẽ đăng tải về giai thoại Tư Mắt chính là người đã huy động băng nhóm giang hồ của mình cứu người anh hùng Phan Xích Long trong cuộc khởi nghĩa khi bị chính quyền Tây dìm trong biển máu. Chính từ đây đã để lại những tiếng thơm cho hậu thế mặc dù Tư Mắt là một kẻ giang hồ thứ thiệt...
Lam Linh

Sài thành kim cổ ký: Tư Mắt, gã giang hồ đánh Tây, phá khám cứu chí sĩ

Tư Mắt, giới giang hồ gọi là Tư đại ca, tên thật là Nguyễn Phát Trước là trùm du đãng vùng Sài Gòn – Chợ Lớn một thời. Năm 1916, ông là người chỉ huy cuộc phá khám Lớn Sài Gòn để giải cứu Phan Xích Long - thủ lĩnh khởi nghĩa chống Pháp.
Cách đây hơn 100 năm, Sài Gòn – Gia Định xuất hiện nhiều giang hồ nổi danh vì hành hiệp trượng nghĩa, trong đó có Tư Mắt. Ông được miêu tả là người có dáng mập lùn, râu vuốt sáp như trái ấu và có đến 3 vợ.
Tư Mắt dù xuất thân là chủ một tiệm tóc nhưng lại là tay giang hồ nắm hầu hết địa bàn ở Sài Gòn. Tư Mắt có thể chiếm lĩnh một khu vực lớn như vậy là do đối đãi với đàn em rất tốt, thường cướp nhà giàu chia cho nhà nghèo.
Khi ấy, Tư Mắt có hàng trăm thuộc hạ ở khu Chợ Lớn, cầu Muối, chợ Bến Thành...
Học giả Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn năm xưa thuật rằng, với đám đàn em không tiền, gã cho tiền. Người nào không có áo, đại ca cho áo; thậm chí khi bị tù thì có người nuôi ăn, cung cấp thuốc, bánh.
Chợ Cầu Muối. Ảnh: Pháp Luật Plus
Chợ Cầu Muối. Ảnh: Pháp Luật Plus
Nhưng khi Tư Mắt cần dùng tới thì việc gì cũng phải tuân, chết sống không kể thân. Tư Mắt đi đến tỉnh nào, xứ nào là em út rần rần, đứa theo ủng hộ, đứa đến trình diện bái nghinh đại ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì người khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh, gọi mì vì đã có đại ca bao trả.
Nhưng phải nhớ "ăn của anh Tư thì sau này có việc chớ so đo cùng anh Tư"! Lính tráng kiêng dè nể mặt, cò bót miệng ngậm sáp cũng làm lơ. Lệnh truy nã đã ra mà không có ai dám ra tay, vì không khéo có ngày mang thẹo, ăn dao của hàng em út anh Tư.
Trong sách Phong trào Đông Du ở miền Nam của Trần Văn Rạng có viết, Tư Mắt rất ngưỡng mộ ông Lê Văn Trung, người tham gia phong trào Đông Du ở miền Nam.
Ông Trung cũng chính là người đã đặt biệt danh Tư Mắt cho Nguyễn Phát Trước với lời giải thích, “mỗi người chỉ có hai con mắt mà Trước có tới bốn mắt”, ám chỉ người sáng dạ, lẹ tay nhanh chân chạy thoát mọi cuộc bố ráp của lính Tây.
Năm 1913, Nam Kỳ xôn xao về vụ chính quyền bảo hộ bắt Phan Xích Long - người kêu gọi dân chúng đánh Tây khôi phục nước Nam - rồi giam ở khám Lớn Sài Gòn. Gã giang hồ muốn phá khám cứu minh chúa nhưng ông Trung khuyên không nên động thủ vì còn có hoàng thân Cường Để (cùng Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du) sắp xếp mọi việc.
Chí sĩ này sau đó gợi ý cho Tư Mắt gạt bỏ những du côn cướp giật, lập một hội kín bao gồm các anh em tốt. Hội này mở rộng địa bàn hoạt động ra các tỉnh quanh Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm thu hút giới nông dân và coi họ là thành phần nòng cốt.
Nghe lời ông Trung, Tư Mắt xây dựng hội kín trong 3 năm. Ngày 14/2/1916 thành viên hội ở Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa... bí mật kéo về ẩn mình trong thành phố. Rạng sáng ngày 15/2/1916, khoảng 300 người đi thuyền đến chợ cầu Ông Lãnh rồi kéo đến cột cờ Thủ Ngữ, giương cờ đề 3 chữ lớn Phan Xích Long.
Tất cả đều đem theo giáo mác, vận quần trắng, áo đen, khăn trắng quấn cổ, hẹn tập trung tại Khám lớn Sài Gòn. Tác giả Trần Văn Rạng kể: Trên đường tiến vào trung tâm thành phố, họ xung đột với cảnh sát, vài người chết.
Và khi đứng trước khám Lớn, thì hô to "cứu đại ca", "giết Tây" làm náo động cả thành phố. Lính gác trong các đồn canh xả súng bắn liên hồi, nhưng đoàn người cứ tiến. Đoàn người mỗi lúc bị thương và chết càng nhiều... Như thế, việc phá khám Lớn Sài Gòn thất bại.
Tư Mắt sau đó bị bắt và khép tội "gia nhập hội kín ám trợ Cường Để" nhưng chỉ kêu án vài năm rồi thả nhằm xoa dịu phong trào chống Pháp đang lên cao ở Nam Kỳ.
Sau này, Tư Mắt vào chùa Giác Lâm (Chợ Lớn) tụng kinh, không muốn can dự vào chuyện giang hồ nữa. Ông tham gia đạo Cao đài, thụ nhiều chức sắc cao. Năm 1929, ông qua đời trong một vụ cháy nổ, kết thúc cuộc đời nhiều sóng gió.
create NAM AN / doisongphapluat.com
Tài liệu

Tư Mắt

Social Sciences   

Giới thiệu

Tư Mắt, giới giang hồ gọi là Tư Đại Ca (?- 1929) tên thật là Nguyễn Phát Trước trước là trùm du đãng vùng Sài Gòn – Chợ Lớn, kế đến là người chỉ huy cuộc phá Khám Lớn Sài Gòn năm 1916 để giải cứu Phan Xích Long, và sau cùng là Chưởng Nghiêm Pháp Quân, một chức sắc cấp cao của đạo Cao Đài, Việt Nam.

Một số thông tin

Tư Mắt, chưa rõ năm sinh, cha mẹ và gốc tích của ông. Các tài liệu trích dẫn ngay sau đây, chỉ cho biết một phần đời, sau khi ông đã trưởng thành.
Học giả Vương Hồng Sển, thuật:
Tư Mắt, tên thiệt là Nguyễn Văn Trước, sanh tiền có lập một tiệm hớt tóc, số nhà 200 đường Thủy Bình cũ (trước 1975 là đường Đồng Khánh, Sài Gòn), lấy hiệu là "Nam Hữu Mai".
Ngày mười bốn tháng 5 năm 1915, Toà đem Tư Mắt ra xử, kể lai lịch Tư Mắt có đến ba vợ, đều phục sự "Anh Tư" hết lòng, và vô số anh em.
Tòa khép Tư Mắt vào tội "gia nhập hội kín ám trợ Cường Để", kêu án lấy chừng, kỳ trung Tư Mắt bắt chước theo Đơn Hùng Tín trong truyện Thuyết Đường. Phàm trong đám du côn đứa nào đã chịu làm em nuôi của "Đại Ca Tư Mắt" thì Đại Ca không khi nào bỏ, "hoạn nạn tương cứu, sanh bất tử ly", không tiền thì Đại Ca cho tiền, không áo, Đại Ca cho áo, thậm chí khi bị tù rạc thì có người nuôi ăn và cung cấp thuốc, bánh. Nhưng khi nào Đại Ca cần dùng ra lịnh thì phải tuân hành, chết sống không kể thân, sai biểu chém ai, giết ai là chém bất luận bà con thân thích.
Tư Mắt đi đến tỉnh nào xứ nào là em út rần rần, đứa theo ủng hộ, đứa đến trình diện bái nghinh Đại Ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì người khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh gọi mì vì đã có Đại Ca bao trả. Nhưng phải nhớ "ăn của anh Tư thì sau nầy có việc chớ khá so đo cùng anh Tư"!
Lính tráng kiêng dè nể mặt, cò bót miệng ngậm sáp cũng làm lơ. Lịnh sai nã trốc đã ra mà tìm không có ai dám ra tay sanh cầm Tư Mắt, không khéo có ngày mang thẹo, ăn dao của hàng em út anh Tư.
Tuy vậy hết hồi vinh quang đến hồi xuống dốc. Về sau Tư Mắt ăn năn vào chùa Giác Lâm Chợ Lớn lần chuỗi bồ đề tụng kinh sám hối.
Bài viết Đạo Cao Đài với phong trào Minh Tân & Đông Du của tác giả Trần Văn Rạng, cho biết thêm chi tiết, đại để như sau:
Nguyễn Phát Trước, tục gọi Bếp Trước, bỏ làm bồi cho nhà hàng Pháp, ra ngoài tụ tập các bọn du côn làm trùm du đảng, đi quấy phá các thương hiệu Pháp kiều và dân Tây, tức người Việt có quốc tịch Pháp. Sau, Nguyễn Phát Trước vì ngưỡng mộ ông Lê Văn Trung nên tự nguyện làm bảo vệ cho ông. Phát Trước đề nghị với ông Trung cho ông ám sát De la Chevrotière, thượng nghị sĩ Pháp, nhưng bị ông Trung cản ngăn: Mục đích của chúng ta là đuổi hết Tây ra khỏi đất nước, chứ không phải giết một thằng Tây. Người có mưu sự lớn thì không làm việc nhỏ.
Năm 1913, dân Nam Kỳ xôn xao về vụ chính quyền bảo hộ bắt được Phan Xích Long giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Nghe tin, Nguyễn Phát Trước đề nghị ông Trung lên làm Minh chủ để đi phá khám cứu Phan Xích Long. Ông Trung nói nhỏ với Trước Minh chủ chính là Kỳ Ngoại hầu Cường Để, chỉ nên gọi ông là Anh Cả. Hãy cho đàn em khoa trương: Phan Phát Sanh (tức Phan Xích Long) là vua, Nguyễn Phát Trước là tướng; và hãy tổ chức anh em lại, gạt bỏ những đứa du côn cướp giật, lập một hội kín, mở rộng địa bàn hoạt động ra các tỉnh quanh Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm thu hút giới nông dân và coi họ là thành phần nồng cốt... Sau đó, ông Trung còn khuyên Phát Trước nên nhận biệt danh Tư Mắt mà anh em trong nhóm đã tôn vinh, với lời giải thích: Mỗi người chỉ có hai con mắt mà Trước có tới bốn mắt, ám chỉ người sáng dạ, lẹ tay nhanh chân chạy thoát mọi cuộc bố ráp của lính Tây.
Nguyễn Phát Trước nghe lời ông Trung xây dựng hội kín trong gần ba năm. Đến tối ngày 14 tháng 2 năm 1916, các tổ chức hội kín ở các tỉnh quanh Sài Gòn là Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa...bí mật kéo về ẩn mình trong thành phố. Vào canh tư ngày 15 tháng 2, khoảng 300 người đi thuyền đến chợ Cầu Ông Lãnh rồi kéo đến cột cờ Thủ Ngữ, giương cờ đề ba chữ lớn Phan Xích Long. Tất cả đều đem theo giáo mác và vận đồng phục giống nhau: quần trắng, áo đen, khăn trắng quấn cổ. Đoàn người chia thành ba nhóm, tiến theo ba ngã, hẹn tập trung tại Khám Lớn Sài Gòn.
Tác giả Trần Văn Rạng kể:
Trên đường tiến vào trung tâm thành phố, họ xung đột với cảnh sát, vài người chết. Và khi đứng trước Khám Lớn, thì họ hô to “cứu đại ca”, “giết Tây” làm náo động cả thành phố. Lính gác trong các đồn canh xả súng bắn liên hồi, nhưng đoàn người cứ tiến. Đoàn người mỗi lúc bị thương và chết càng nhiều...Như thế, việc phá Khám lớn Sài Gòn thất bại...
Sau đó, Tư Mắt bị bắt. Theo Vương Hồng Sển, thì ông bị tòa kêu án lấy chừng và rồi đến lúc hết hồi vinh quang...Tư Mắt ăn năn vào chùa tu...
Nói đến quãng đời sau này của Tư Mắt, có hai bài viết, tuy so lại vẫn có ít nhiều dị biệt, trích:
Trong Cao Đài từ điển của tác giả Đức Nguyên:
Ông Tư Mắt, một tay võ giỏi, đứng đầu đám anh chị ở Chợ Lớn. Ông thấy được huyền diệu của Đức Chí Tôn qua cơ bút nên xin nhập môn cầu đạo, tự giác bỏ nghề dao búa, ông hiến căn nhà của ông ở Phú Thọ (Chợ Lớn) để làm Thánh Thất, nên bổn đạo thời đó gọi Thánh Thất ấy là chùa Tư Mắt. Sau ông được Đức Chí Tôn phong là Chưởng Nghiêm Pháp Quân ngày 26 tháng 10 năm Bính Dần (1927). Ông Tư Mắt là người của ông Đốc Phủ Nguyễn Ngọc Tương. Nói thêm về ông Tư Mắt: Một thời gian sau, ông Tư Mắt bị chết cháy thảm thiết. Nguyên là ông Tư Mắt lâm bịnh, nằm tại nhà, chẳng may trên gác cây, mèo chạy làm thùng dầu hôi (dầu lửa) ngã, dầu theo kẻ ván chảy xuống chỗ ông đang nằm, có ngọn đèn chong để kế bên giường, hơi dầu bắt lửa phựt cháy to, khiến ông bị chết cháy.
Và trong một bài viết trên Website của đạo Cao Đài...:
Nguyễn Phát Trước tự Tư Mắt mà các tay giang hồ thời bấy giờ quen gọi là anh Tư Đại Ca. Khi ông được tin nhà ông Đốc học Đồn Văn Bản có Đàn Cơ thỉnh Tiên, ông đến xem thực giả. Chính Đàn Cầu Kho này đã thâu nhận ông là môn đệ của Đức Cao Đài (1926).
Tính khí ông ngang tàng, là trùm du đãng vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, Chính quyền Pháp cũng nể vì ông. Cũng có điều lạ, ông rất sợ Đức Chí Tôn sau khi theo Đạo, Ông lập Thánh Thất Chợ Lớn ở tại nhà, trên lầu thờ Thầy, dưới dùng làm nhà ở và tiếp khách. Đạo hữu đến cúng kiến tại Thánh Thất của ông rất đông, có lẽ họ dựa vào ông để được che chở khỏi bị các tên du đãng bắt nạt hay một lý do huyền nhiệm nào khác...
Cái chết của ông thật thê thảm. Lúc bấy giờ ở Chợ Lớn các nhà sang trọng dùng đèn Manchon treo giữa nhà nhưng cái bơm hơi chuyền xuống đất, ông lại nằm gần cái bơm hơi này, quấn chăn. Không rõ vì lẽ nào, cái bơm phát nổ, đèn phựt cháy luồn xuống cái bơm bắt lửa qua cháy cái khăn. Ông bị phỏng nặng nên vừa đến bệnh viện thì chết (1929).

Nhận xét

Nhà văn Sơn Nam ở gần nhà Tư Mắt trên Phú Thọ (Chợ Lớn) có nhận định như sau:
Ông Tư Mắt dám làm quốc sự, chống Tây, biết chuyện khó thành công nhưng ông vẫn làm. Đích thân Tư Mắt chỉ huy để cứu Minh chúa (Phan Xích Long), bị bắt và bị giam...Tư Mắt là người mà các nhà viết sử thời Phan Xích Long đều nhớ, ông mập lùn, có bộ râu thời trang, mép vuốt sáp như trái ấu. Trong nhà có ảnh mặc lễ phục chức sắc của đạo Cao Đài.
Còn học giả Vương Hồng Sển thì liệt Tư Mắt và Thầy Sáu Ng. vào hạng "người khác lạ hơn thường" hay "người bất đắc chí trổ sanh nghề lạ".

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32