Chuyển đến nội dung chính

LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN, YÊNG HÙNG NGỤY TẶC 14


-Chế độ Việt nam cộng hòa là chế độ "lộng giả thành chân" thứ thiệt.
-Quân tướng VNCH mạo danh là quân tử nhưng thực ra chính danh là ngụy quân tử. Hầu hết tướng lĩnh VNCH đều bắt đầu đường binh nghiệp bằng việc đầu quân cho Thực dân Pháp, phản quốc. Đó là lũ "tướng tiền" chứ không phải "tướng tài". 
-Việt Cộng sinh ra nhằm giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. VNCH do ngoại bang nhào nặn ra nhằm vì danh lợi mà làm tay sai cho chúng, yêu Tổ Quốc bằng cách cam tâm và cả mù quáng "cõng rắn cắn gà nhà", âm mưu chia cắt giang sơn của giống nòi mình, gieo rắc hận thù Dân Tộc cho chính giống nòi mình.

           Không nỗi đau nào bằng nỗi đau "nồi da xáo thịt"
           Không nỗi buồn nào bằng nỗi buồn chia cắt giang sơn
          Yêu Tổ Quốc là phải biết thương tận lòng Tổ Quốc
          Thật bụng khen chê, thà ngây như kẻ thất phu.
---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

"LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN"

Thành ngữ Việt Nam có câu "lộng giả thành chân” có nghĩa là “bỡn quá hóa thật”. Trước khi tìm hiểu định nghĩa này, tôi và nhiều người thường hiểu câu thành ngữ này nôm na là, biến cái giá thành cái thật, hay lời nói dối được nói đi nói lại nhiều lần lâu ngày ngưòi ta sẽ tin là thật.(...)
 
Hé lộ điều hối tiếc của tướng VNCH Lê Văn Hưng trước khi chết?
Hé lộ điều hối tiếc của tướng VNCH Lê Văn Hưng trước khi chết? ---------------------- Tướng VNCH Lê văn Hưng là 1 trong 5 vị tướng lĩnh đã tuẫn tiết sau ngày thể chế VNCH sụp đổ tại Miền Nam Việt Nam. Ông cùng với Thiếu tướng VNCH Nguyễn khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Văn Phú, Trần Văn Hai, sau khi nghe lệnh đầu hàng của tổng thống VNCH Dương Văn Minh đã tự kết liễu đời mình bằng việc tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết của 1 người làm tướng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa và đúng với 6 chữ Tổ quốc danh dự trách nhiệm. Trên đây là hồi ký của vợ Tướng Lê Văn Hưng bà Nguyễn thị Kim Hoàng đã viết về những giây phút cuối cùng của ông và những hối tiếc sau cùng.






Câu chuyện tuẫn tiết của Tướng Lê Văn Hưng


Mạnh Kim
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng
Đối diện tôi là một ông già ốm yếu 75 tuổi nhưng còn rất minh mẫn. Nhắc lại chuyện cũ, ông nhớ như in từng chi tiết và thuật lại sống động mạch lạc như thể thời gian vẫn chưa làm hao mòn ký ức ông. Tôi đã ngồi với ông từ 10g30 sáng đến 3g chiều mà câu chuyện vẫn chưa dứt. Ông là Huỳnh Quang Nghĩa, cựu trung úy Chánh văn phòng của Chuẩn tướng Tư lệnh phó Quân đoàn IV Lê Văn Hưng, Quân lực VNCH. Trung úy Nghĩa là nhân chứng mục kích từ đầu đến đuôi cái chết của Tướng Hưng. Câu chuyện được kể dưới đây là những gì được ghi trong hồi ức cá nhân mà trung úy Nghĩa cho tôi xem, cùng những gì ông kể với tôi hôm ấy, 21-4-2016…
“Sau khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, Chuẩn tướng bảo tôi (Huỳnh Quang Nghĩa) gọi để nói chuyện với 16 Tiểu Khu Trưởng, yêu cầu ban hành thiết quân luật trên toàn lãnh thổ Quân đoàn IV. Vùng IV có vẻ chuẩn bị đối phó với tình hình hơn là chấp nhận treo cờ rũ. Khi nghe tin Sài Gòn thất thủ, dân chúng Cần Thơ bắt đầu mua nhanh bán vội để thu xếp về nhà. Khuôn mặt ai nấy đều lo âu. Xe lướt nhanh hơn, người đi bộ gần như chạy, đường phố giống như đang trốn chạy khỏi cơn giông lớn. Sau thông điệp đầu hàng của Tổng thống Minh, mọi liên lạc với Sài Gòn đều bị cắt đứt. Tuy vậy, cho đến trưa, tình hình Cần Thơ cũng như 16 tỉnh miền Tây vẫn yên tĩnh. Các tiểu khu vẫn còn liên lạc tốt với Bộ Tư Lệnh Quân đoàn.
13g, tôi trở vào Bộ Tư Lệnh, cách tư dinh Chuẩn tướng Hưng chừng 300 mét. Tôi thấy chiếc Falcon đen đưa bà Chuẩn tướng cùng hai con rời cổng dinh. Khuôn viên Bộ Tư Lệnh vắng ngắt đến nghẹt thở. Chuẩn tướng đứng nơi hiên tiền đình, nhìn mông lung ra khoảng sân phía trước. Tôi đứng bên trái ông, cách vài bước hơi chếch phía sau, hướng tầm mắt theo ông. Mới vào mùa hè mà cảnh vật như đã thu đông. Trời chiều ảm đạm, thê lương, từng mảng mưa bụi lạnh lẽo thả xuống tàng phượng vĩ nở đỏ ối giữa sân. Chuẩn tướng bất động. Tất cả mang đến cho tôi một cảm giác u buồn, tan tác. Bất chợt, ông quay lại hỏi tôi:
– Cô (bà phu nhân Chuẩn tướng) đi đâu?
– Thưa, cô đến nhà thờ xin rửa tội.
Thật sự mấy ngày nay tôi thấy có chuyện hơi lạ trong dinh. Tình hình nguy ngập như vậy mà người thợ may riêng không ngớt giải quyết mớ vải vóc mới tinh cho bà Chuẩn tướng cùng thân quyến. Bây giờ bà và các con lại đi lễ. Tôi không thể ngờ được rằng ông bà Chuẩn tướng đã âm thầm bàn bạc chuẩn bị cái chết cho toàn bộ gia đình và bà Chuẩn tướng cũng dọn mình bằng cung cách riêng của bà. Bà muốn khi từ giã cõi đời sẽ cùng con cái được đón nhận là con chiên của Chúa và bước vào áo quan trong bộ đồ mới tinh trong trắng. Vào buổi sáng ngay sau thông điệp của Tổng thống Minh, bà Chuẩn tướng gọi điện thoại sang văn phòng tôi, bảo tìm càng nhiều càng tốt thuốc Valium 5mg…
Đèn phòng vừa bật sáng, tôi giật mình ngó qua khung cửa sổ. Bóng tối đã nhợt nhờ ngoài sân. Phía cuối phòng, bà Chuẩn tướng và gia đình đã ngồi vào bàn ăn. Một người lính phục dịch đặt trên bàn Chuẩn tướng dĩa, muỗng và hai quả trứng gà ngâm trong ly nước sôi. Đó là buổi ăn tối của ông hôm nay. Đang miên man, tôi giựt mình khi điện thoại reo. Nhấc ống nghe, tôi vội chuyển cho Chuẩn tướng khi nhận ra giọng trầm trầm của Thiếu tướng Tư lệnh (Nguyễn Khoa Nam) đầu bên kia. Buông ống điện thoại, Chuẩn tướng thừ người bất động. Lần đầu tiên, tôi nhận rõ nét mệt mỏi tuyệt vọng trên gương mặt ông…
Trung úy Huỳnh Quang Nghĩa thời trẻ
Trung úy Huỳnh Quang Nghĩa thời trẻ
Chuẩn tướng bảo tôi tập hợp toán lính gác để ông nói chuyện. Tiểu đội bảo vệ tư dinh Tư Lệnh Phó xếp thành hai hàng bên hông dinh chỗ khúc sân lối ra vào. Bằng giọng cảm động, chân tình, Chuẩn tướng cám ơn họ vẫn ở bên ông đến giờ phút này và bảo anh em ai muốn rời dinh cứ tùy ý… 10 phút sau Chuẩn tướng gọi tôi lên lầu. Tại đây, tôi thấy ngoài tôi và Thiếu tá Phương, còn hiện diện đông đủ binh sĩ từng phục dịch Chuẩn tướng và gia đình. Chuẩn tướng đứng nơi phòng ngủ, hai cánh tay ghì chặt đứa con gái ba tuổi để đầu cháu tựa vào má ông. Bà Chuẩn tướng đứng cạnh bên. Hai bàn tay măng non cháu bé hồn nhiên lùa trên tóc cha, làm lòa xòa vài lọn tóc rối trên trán Chuẩn tướng. Bức tranh bi thảm ấy khiến lòng tôi ngậm ngùi tê cứng. Bằng giọng tha thiết ân cần, Chuẩn tướng gởi lại bà cùng hai con cho chúng tôi. Ông quả quyết từ giờ cho đến sáng sẽ không có gì xảy ra, bảo chúng tôi cố gắng hộ tống bà Chuẩn tướng và hai đứa bé về Sài Gòn rạng sáng ngày mai 1-5. Trước đó, ông đã thuyết phục bà phải sống để nuôi con chứ không thể giết con bằng ý định tự sát cả gia đình như ban đầu.
Bất ngờ, ông quát bảo tất cả trở xuống dưới lầu, chỉ còn mình tôi và bà Chuẩn tướng. Lúc đó khoảng 8g30 tối 30-4. Bên trong phòng ngủ, khi nụ hôn vĩnh biệt của bà Chuẩn tướng vừa kịp đặt lên má chồng, ông vội đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa. Lúc quay lại, còn thấy tôi trong phòng, ông thảng thốt: “Nghĩa! Mày đi ra!”. Vừa nói ông vừa nắm tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo: “Cho tôi ở lại cùng Chuẩn tướng…”.
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hàng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm giọng Chuẩn tướng lạc đi. Ông cố đẩy tôi ra cửa. Sự va chạm ngắn ngủi đầy bi thương ấy khiến tôi có cảm giác như thỏi nam châm đang cố rút khỏi thanh sắt. Ôi! Cái chết hoàn toàn được sắp đặt trước, lần đầu tiên trong đời tôi mới chứng kiến. Tôi chợt bật khóc và cùng bà Chuẩn tướng quỳ xuống trên nền cửa bên ngoài. Bên tai còn vọng nghe tiếng rít khô khốc của tiếng then cài. Mọi sự diễn ra không đầy một phút sau. Tiếng nổ chát chúa vang lên sau cánh cửa. Tôi hoảng hốt bật dậy và kêu lớn khi thấy ba bốn cái đầu đang nhớn nhác nhìn lên từ dưới chân cầu thang: “Con dao, lấy con dao cạy cửa mau!…”.
Người tài xế tên Giêng cầm con dao to nhọn vội vàng chạy lên. Mọi người ùa vào phòng. Tôi bàng hoàng khóc ngất. Tất cả cũng khóc và chạy đến chỗ giường ngủ của Chuẩn tướng. Ông nằm ngửa trên tấm nệm drap trắng, hai cánh tay buông ngang, khuy cổ và ngực áo bung ra, máu tươi nhuộm thắm ngực trái chiếc thun trắng bên trong. Có lẽ Chuẩn tướng đã ngồi ở thành giường, một tay cởi hai khuy áo trên, tay kia đưa nòng khẩu Colt 45 ấn vào tim…
Tôi còn nhớ lúc ông đảm nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 21, một buổi chiều sau giờ nghỉ việc, tôi theo ông thả bộ và dừng lại nơi nhà nghỉ trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh. Không biết đang nghĩ gì, ông cười cười quay lại nói với tôi: “Mày còn nhớ không, lúc ở Trung đoàn, tuy ở bất kỳ vùng hành quân nào, trước khi đi ngủ, Đồng hoặc mày đều gọi về Chương Thiện để tao nói chuyện với cô (bà phu nhân Chuẩn tướng). Ở mặt trận An Lộc cũng vậy, tối nào tao cũng gọi về Lai Khê nói chuyện với cổ”. Chuẩn tướng nói thêm: “Lúc đó (nếu An Lộc thất thủ), tao chợt nghĩ nếu tao bắn vào đầu chắc cô mày không dám nhìn mặt, nên tao đã quyết ý có gì thì sẽ bắn vào tim”.
Viên đạn oan nghiệt đã xuyên chính xác qua tim. Đứa con trai đầu lòng Lê Uy Hải khi đó vừa tròn sáu tuổi nhặt đầu đạn đưa mọi người xem, rồi mím môi, khép năm ngón tay giữ chặt. Nhìn cử chỉ ấy, tôi nghĩ tuổi thơ ngây dại của cháu đã trôi qua mất kể từ buổi tối hôm ấy rồi. Trước đó một tiếng, một anh trai và một em gái ba tuổi còn đùa giỡn trên tấm nệm cao su đặt dưới nền gạch cạnh phòng cha, hai đứa bé không hề hay biết lát nữa đây vành khăn tang trắng sẽ phủ lên tuổi ấu thơ hồn nhiên của chúng… Với tôi, âm hưởng Tướng Hưng vẫn vang vọng lại hồn tôi rõ ràng từng lời, nhức nhối như từng vết dao đâm: “Nghĩa, tùy mày. Tao đã quyết định cuộc đời của tao! Chuẩn tướng, Thiếu tá hay Trung úy không là gì cả, cái quan trọng là có sống nhục được hay không!”
Trung úy Nghĩa
Trung úy Nghĩa
………..
Trung úy Huỳnh Quang Nghĩa cho tôi biết thêm, đám tang Tướng Hưng được tổ chức theo nghi lễ quân đội VNCH, và sáng ngày 1-5, ông được mang về mảnh đất quê nhà Cái Răng để chôn vội. Đó là mảnh đất chứ không phải khu nhà riêng của Tướng Hưng và là tài sản còn lại duy nhất của Tướng Hưng. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp hiển hách kể từ khi gia nhập quân lực VNCH năm 1954 đến khi chết, Tướng Hưng chưa từng có căn nhà riêng nào. Sau 1975, mảnh đất có mộ Tướng Hưng rơi vào tay một thiếu tá “thắng trận”. Khoảng trước năm 2000, ngôi mộ bị sụp lún, gia đình Tướng Hưng được báo cho biết. Bà Hưng từ Mỹ âm thầm về cải táng và mang tro cốt chồng theo.
Tôi cũng gặp cô con gái của Tướng Hưng, chị Lê Ánh Tuyết, con của người vợ đầu (bà Nguyễn Xuân Mai). Chị Tuyết (sinh năm 1954) hiện tá túc nghèo khổ cùng bà mẹ già 85 tuổi trong một căn nhà ở Gò Vấp mà chủ nhà không lấy tiền thuê. Cụ bà đã lẫn, không còn biết và nhớ gì. Do mẹ chị Tuyết và Tướng Hưng sớm ly dị nên ký ức chị Tuyết về cha mình không nhiều, chỉ nhớ rằng cha luôn chu cấp đều đặn cho mẹ con chị.
Quanh câu chuyện Tướng Hưng, Trung úy Huỳnh Quang Nghĩa có nhờ tôi cải chính giùm ông một ngộ nhận nhỏ. Khi chết, trong mình Tướng Hưng có hai chiếc quẹt Zippo. Một chiếc được bà Hưng lấy làm kỷ vật; chiếc kia do ông Nghĩa giữ. Năm 1998, ông Nghĩa tặng cái Zippo ấy cho ông anh rể thứ ba được bảo lãnh đi Pháp. Ông Nghĩa còn giữ thêm cái gạt tàn. Đó là cái gạt tàn của Sư đoàn 21 do Tiểu đoàn 21 tiếp vận làm từ vỏ đạn 115 ly, có đính phù hiệu Quân đoàn IV và phù hiệu Sư đoàn 21, để trên bàn làm việc của Tướng Hưng. Khi ông Nghĩa đi “học tập cải tạo”, cha của ông, vì sợ, nên đục bỏ hai miếng đồng phù hiệu Quân đoàn IV và Sư đoàn 21. Khoảng năm 1998 hoặc 1999, khi ông anh rể thứ tư từ Mỹ về thăm, ông Nghĩa lại tặng di vật ấy. Trở về Mỹ, bác này trao cái gạt tàn cho một viện bảo tàng Quân lực VNCH ở California, nhưng không rõ vì lý do gì, cái gạt tàn lại được ghi là di vật của Tướng Nguyễn Khoa Nam.
MK
25-4-2016
(tức 19-3 Âm lịch, ngày giỗ Chuẩn tướng Lê Văn Hưng)
Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen.manhkim/posts/10154432499959796
 
Tướng VNCH NGUYỄN KHOA NAM - Cuộc Sống Cô Đơn Kiêng Kỵ Phụ Nữ, Đến Cửa Phật Xin Xá Tội Trước Khi Mất
 
Tiểu Sử Tướng VNCH NGUYỄN KHOA NAM – Nghi Án "RA ĐI" Năm Xưa Chỉ Là Dàn Dựng, Tướng NAM Vẫn Sống

Kết cục bi thảm của viên Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật

08:13 30/04/2016
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, Vùng 4 chiến thuật là vùng rộng lớn nhất, bao gồm cả ĐBSCL hiện nay (trừ Long An), Bộ tư lệnh (BTL) đặt tại Cần Thơ. Mỗi vùng có biên chế quân đội là 1 quân đoàn. Đầu năm 1975, Tư lệnh Vùng 4, kiêm Tư lệnh Quân đoàn 4 là Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.


Tướng Nguyễn Khoa Nam bấy giờ khá nổi tiếng trong quân đội Sài Gòn. Khi đó, sắp vào tuổi 50 nhưng ông ta vẫn sống độc thân. Điều này có nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyễn Khoa Nam là dân làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, nay thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Từ nhỏ, ông ta tỏ ra rất có năng khiếu về hội họa và âm nhạc. Ngay từ những năm tháng còn là học sinh, nhất là thời gian học trung học tại Huế, ông ta đã có nhiều tác phẩm hội họa ấn tượng được trưng bày.
Ai cũng nghĩ ông ta sẽ tiếp tục khẳng định tài năng của mình thế nhưng một biến cố trong tình cảm riêng tư đã xảy ra. Cô gái người yêu của ông ta sang Pháp định cư, rồi lấy chồng. Chàng họa sĩ tài hoa ấy đã vứt bỏ giá vẽ, vào lính và trở nên hận “phụ nữ”. Ông ta từng “thề” cho tới chết, sẽ không quen biết thêm người phụ nữ nào nữa…
Trụ sở của Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật xưa.
Sau khi học Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (thuộc "Quân đội Quốc gia Việt Nam" trong Liên hiệp Pháp), Nguyễn Khoa Nam phục vụ cho chính quyền Ngô Đình Diệm với chức đại đội trưởng lính dù. Phục vụ trong binh chủng “con cưng” của Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, ông ta liên tục thăng tiến. Từ quân hàm đại úy, lên cấp tá chẳng bao lâu, ông ta được Thiệu tin cẩn phong chuẩn tướng, rồi thiếu tướng, giao làm Tư lệnh Vùng 4, trấn giữ cả miền Tây.
Trước sức mạnh như vũ bão của quân Giải phóng, ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức trao quyền lại cho Trần Văn Hương. Trước khi cùng gia đình lên máy bay ra nước ngoài, ông Thiệu cùng một số tay chân của mình vẫn nuôi ảo vọng “ngày trở về”. Tại dinh Độc Lập, ông Thiệu đã có cuộc làm việc với thuộc cấp “ruột” Nguyễn Khoa Nam.
Cả hai “thầy trò” tỏ ra rất tâm đắc, đầy kỳ vọng với “phương án Gavin”. Đó là nếu Sài Gòn thất thủ thì khu vực cuối cùng phải án ngữ là miền Tây Nam Bộ. Sau cuộc họp đó, tướng Nam sốt sắng về Cần Thơ, vạch kế hoạch chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn rút về tử thủ.
Chính vì lo cho kế hoạch tử thủ này mà tháng 4-1975 cũng là những ngày bận bịu nhất của tướng Nam. Một thuộc cấp ông sau này viết trong hồi ký rằng: “Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng tham mưu, ở dinh Độc Lập. Thời gian còn lại, Tư lệnh thường đến các tiểu khu và sư đoàn nhưng nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc”.
Gần cuối tháng 4-1975, trong tình thế càng ngày càng hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng của quân đội Sài Gòn bay lũ lượt từ hướng Sài Gòn về phi trường Trà Nóc (Cần Thơ) và một số bay ra hướng Phú Quốc, tướng Nam vẫn còn dạt dào niềm tin, đến Châu Ðốc khảo sát “vành đai phòng thủ”. Lịch họp của ông ta vẫn dày đặc: Ngày 24-4, họp ở Bộ Tổng tham mưu; sáng 25-4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường… Ngày 27-4, tướng Nam ra lệnh giới nghiêm, yêu cầu các đơn vị bám vị trí, sẵn sàng chống trả quân Giải phóng. Sáng 28-4, tướng Nam tiếp cố vấn Mỹ tại văn phòng Bộ Tư lệnh. Sáng hôm sau, ông ta vẫn bay và chiều cùng ngày, họp ở BTL Sư đoàn 21 Bộ binh (cạnh phi trường Trà Nóc).
Điều khiến cho tướng Tư lệnh Vùng 4 lo lắng nhất vẫn là chuyện quân Giải phóng áp sát và chiếm giữ ngày càng nhiều vị trí trên QL4 (nay là QL1A). Đầu tháng 4-1975, tướng Nam đã trực tiếp đến tận nơi hoặc gọi điện khích lệ tinh thần binh lính tại Sư đoàn 7 Bộ binh (phụ trách tiểu khu Ðịnh Tường) và Sư đoàn 22 Bộ binh (rút từ Vùng 2 về, phụ trách tiểu khu Long An).
Nguyễn Khoa Nam trước ngày 30-4-1975.
Quyết không cho phá cầu Tân An và Bến Lức nhằm phục vụ cho kế hoạch di chuyển bộ máy chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu về thủ phủ của miền Tây, tướng Nam liên tục lên “dây cót” tinh thần với các tỉnh trưởng trong Vùng 4 rằng “tôi sẽ chiến đấu tới viên đạn cuối cùng”. “Những ngày cuối tháng 4-1975, áp lực địch vẫn nặng ở QL4. Tiểu khu trưởng Long An tiếp tục báo cáo tình hình nguy ngập và xin tư lệnh cho giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ” – nhật ký của một thuộc cấp của tướng Nam viết.
Thiếu tướng Hà Nghĩa Lộ, nguyên Giám đốc Công an TP Cần Thơ cho biết, trong ngày 28-4-1975, dù từng tin Cần Thơ là “thủ đô thứ hai” sau Sài Gòn nhưng các tướng tá, nhân viên cao cấp của Mỹ - VNCH tại Tòa lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ đã hoang mang cực độ, kéo nhau xuống tàu hải quân chạy ra biển, trong số này có Đại tá Huỳnh Ngọc Diệp – Tỉnh trưởng và Chánh văn phòng BTL Vùng 4.
Tướng Nam đã chỉ định Đại tá Trần Cửu Thiên lên nắm quyền tỉnh trưởng, kiêm thị trưởng Cần Thơ; chỉ đạo tiếp tục duy trì hiệu lực lệnh tử thủ và lệnh giới nghiêm 24/24 toàn thành phố, đồng thời gấp rút điều lực lượng (gồm 4 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn bảo an, 2 thiết đoàn xe thiết giáp M113) về giữ tuyến Lộ Vòng Cung, chống trả quyết liệt các cánh quân Giải phóng nhằm bảo vệ cơ quan đầu não. Sáng sớm 30-4, tướng Nam vẫn bay xuống Ðịnh Tường để chỉ đạo cuộc họp chớp nhoáng, xong ông ta bay ngay về Cần Thơ.
Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, lúc 15h ngày 30-4-1975, 18h30 cùng ngày, lực lượng An ninh TP Cần Thơ chiếm lĩnh Ty Cảnh sát Phong Dinh và Bộ Tổng tham mưu Vùng 4 chiến thuật, tước vũ khí bắt tại chỗ trên 100 tên cảnh sát… Tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn ngoan cố tử thủ. Đó cũng là lúc đó ông ta phát hiện có nhiều nội dung trong kế hoạch tử thủ đã bị vứt vào sọt rác, không được triển khai đến các tiểu khu theo lệnh ông ta. Không chỉ có vậy, ông ta còn muốn không tin vào tai mình khi nghe báo cáo tay trợ lý đã “hớt tay trên” khi dùng chiếc máy bay trực thăng dành riêng cho ông ta, để cùng vợ con bay ra Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi.
Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng Tư lệnh Vùng 4 đều đã tự sát, chết tại BTL vùng. Chuẩn tướng, Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đã tự sát trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp chiều tối 30-4-1975. Đến viếng và an ủi vợ con tướng Hưng vào tối hôm ấy, tướng Nam lộ chút hoang mang. Còn tình tiết tướng Nam “tự sát”, BBC dẫn từ một cấp dưới của ông ta xác định điều này. Trong hồi ký sau này của một người xưng trung úy, Lê Văn Danh - một trong những thuộc cấp có mặt bên “chủ tướng” Nam vào đêm 30-4-1975, có đoạn tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nam tự sát. Tướng Nam gần như thức trắng đêm 30-4-1975 và rít thuốc lá liên tục.
Đến sáng 1-5-1975, khi trinh sát của ta vào thì phát hiện tướng Nam đã tự kết liễu mạng sống của mình bằng khẩu súng ngắn. Nhiều người cho rằng, trong tình huống không còn máy bay để di tản, tướng Nam chọn cách tự sát là do ông ta sợ bị trừng trị (?). Điều đó không ai kết luận đúng sai. Có nhân chứng kể lại, trước khi tự sát, tướng Nam đã nói với một số thuộc cấp: “Các em hạ vũ khí đi, đừng đổ máu vô ích nữa. Họ (quân Giải phóng) là người chiến thắng sẽ không đối xử tệ bạc với chúng ta đâu”.
Một số ý kiến khác thì cho rằng có thể trước khi tự sát, ông ta đã nghĩ đến tình huống sẽ bị những “chiến hữu” và người thân của họ trả thù vì đã nghe theo những toan tính điên cuồng, đặc biệt là “nhật lệnh” tử thủ của ông ta, chống trả lại quân Giải phóng, mà họ và người thân của họ đã phải trả giá thích đáng. Thực tế ngày 30-4-1975, chấp hành theo tuyên bố của chính quyền Cách mạng, nhiều người của chính quyền Sài Gòn đã nhận được đối xử khoan dung...
Thái Bình
 
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ - Tiểu sử và binh nghiệp

Tướng Lê Nguyên Vỹ: Từ Miền Tây Đến Căn Cứ Lai Khê

19/05/2001
 Lược ghi về đời binh nghiệp của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ
Theo lời của một thân nhân gia đình Tướng Lê Nguyên Vỹ cho biết, Tướng Vỹ sinh năm 1933 tại Hà Đông, anh em họ với cố Trung tướng Lê Nguyên Khang. Năm 18 tuổi, thanh niên Lê Nguyên Vỹ đầu quân và theo học khóa đào tạo Trung đội trưởng tại Trường Võ bị Địa phương Đệ Nhị Quân Khu (sau này là Vùng 1) ở Huế vào thời kỳ 1951-1952. Sau khi ra trường với cấp bậc chuẩn úy, sĩ quan Lê Nguyên Vỹ đã có thời gian phục vụ tại Tiểu đoàn 19 Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Miền Tây Nam phần mà vị tiểu đoàn trưởng là Đại úy Đỗ Cao Trí (thăng đến cấp trung tướng vào tháng 11/1963).
Trước tháng 7/1954, sĩ quan Lê Nguyên Vỹ đã theo học khóa Nhảy Dù tại Pháp. Trong thập niên 60, ông lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy: đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng. Năm 1969, ở cấp bậc đại tá, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8/Sư đoàn 5 Bộ binh (BB). Vào giữa năm 1971, ông giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 5 BB. Năm 1973, ông là Tư lệnh phó Sư đoàn 21 BB. Ngày 7 tháng 11.1973, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch khi ông còn mang cấp đại tá (ông được thăng chuẩn tướng gần 1 năm sau). Về lại Sư đoàn 5BB, Tư lệnh Lê Nguyên Vỹ đã trở về với đại đơn vị mà ông đã có nhiều năm gắn bó. Trong năm 1969, ông đã chỉ huy trung đoàn 8/Sư đoàn 5 BB lập nhiều chiến công tại chiến trường Miền Đông Nam phần.
* Tư lệnh Sư đoàn 5 BB Lê Nguyên Vỹ tại căn cứ Lai Khê
Nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 5 BB vào thời gian Cộng quân gia tăng hoạt động quân sự tại các tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long, thuộc vùng trách nhiệm của Sư đoàn 5 BB, Tướng Lê Nguyên Vỹ đã phải đương đầu với hoàn cảnh vô cùng khó khăn, vừa phải lo đối phó ngăn chận các cuộc tấn công CSBV vào các vị trí trọng yếu do Sư đoàn 5 BB đảm trách, vừa phải lo củng cố và phát triển hiệu năng tác chiến của các đơn vị trực thuộc. Vị tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 5 BB đã làm việc không kể giờ giấc ngày đêm. Hết họp bàn kế hoạch hành quân tại bộ Tư lệnh Sư đoàn, ông lại bay đến các trung đoàn, tiểu đoàn kiểm tra hệ thống phòng thủ, đôn đốc quân sĩ đào chiến hào, đắp công sự chiến đấu và các cụm chướng ngại vật để ngăn chận chiến xa CSBV khi địch mở cuộc tấn công với xe tăng và bộ binh phối hợp.
Trong ba tháng đầu của năm 1975, sau khi CSBV tấn công cường tập đánh chiếm Phước Long vào tháng 1/1975, Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tái phối trí lực lượng để giữ cụm phòng tuyến Chơn Thành. Đến giữa tháng 4/1975, quận Chơn Thành bị bỏ ngỏ, căn cứ Lai Khê được xem như phòng tuyến tiền đồn. Trong tình hình đó, vị Tư lệnh Quân đoàn 3 lúc bấy giờ là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn đã bay lên Lai Khê họp bàn với Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ. Trung tướng Toàn nói với Tướng Vỹ là nên di chuyển bộ Tư lệnh về Phú Lợi, Bình Dương, và chỉ nên để một trung đoàn ở lại phòng thủ căn cứ Lai Khê. Trước ý kiến của vị Tư lệnh Quân đoàn 3, Chuẩn tướng Vỹ trình bày: “Nếu tôi di chuyển đi Phú Lợi, anh em binh sĩ sẽ nói mình “Đi di tản chiến thuật hay sao" Do đó, tôi quyết ở lại Lai Khê sống chết với nơi này.”
Ngày 28 tháng 4/1975, Chuẩn tướng Vỹ chỉ thị cho vị Tư lệnh phó Sư đoàn 5 BB là Đại tá Trần Văn Thoàn chỉ huy bộ Tư lệnh nhẹ Sư đoàn 5 BB, cùng với Trung đoàn 8 BB mà trung đoàn trưởng là Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng và Chi đoàn 3/1 Thiết kỵ di chuyển về Phú Lợi. Cũng trong buổi sáng ngày 28/4. Tướng Vỹ nói với quân sĩ các cấp: “Các anh em ai có thể cho vợ con đi nước ngoài được thì cho đi, còn các anh ở lại với tôi. Tôi cũng vậy, cùng ở lại bên cạnh các anh.”
Chiều ngày 29/4, sau cuộc họp tham mưu thường lệ tại phòng họp của bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB, vào 7 giờ tối, các đơn vị của Sư đoàn 5 BB được lệnh của bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 là phải bỏ Lai Khê di chuyển về Bình Dương. Theo kế hoạch, tất cả quân dụng hư hỏng và giấy tờ không quan trọng phải thiêu hủy tại chỗ. Do đó, tối 29/4, cả căn cứ Lai Khê có từng đám cháy đỏ rực. Cùng với căn cứ Lai Khê, khu vực Phú Giáo ở xa cũng có từng đám lứa như thế do lực lượng phòng thủ tại Phú Giáo cũng di tản.
Lúc bấy giờ, Trung tá Nguyễn Minh Tánh, Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 1 Kỵ binh, được báo tin CQ đặt chốt ở xã Mỹ Thạnh phía Nam Bến Cát, ông xin với Tư lệnh Sư đoàn 5 BB cho điều động chiến xa đi giải tỏa thế nhưng Tướng Vỹ nói ban đêm khó phối kiểm, để đến sáng sẽ tính. Trung tá Tánh gọi máy về hậu cứ đang đóng tại Trại Phù Đổng (Bộ chỉ huy Thiết Giáp) Gò Vấp hỏi tình hình ở vòng đai Sài Gòn. Trong điện thoại Trung tá Tánh nghe cả tiếng súng nổ văng vẳng, và tiếng động cơ của các trực thăng. Trung tá Tánh cũng được biết bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã di chuyển về Phù Đổng( Trung tướng Toàn vẫn kiêm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Thiết Giáp khi giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 3 BB thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống xin từ chức sau khi Phước Long thất thủ vào tháng 1/1975).
Trung tá Nguyễn Minh Tánh đã báo tin này cho Tướng Vỹ. Trước đó, theo lời của Trung tá Tống Mạnh Hùng, một trong những sĩ quan cao cấp của bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB, thì Tướng Vỹ đã gọi điện thoại về bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 nhưng không ai trả lời, ông tức giận nói: “Tụi nó chạy trốn cả rồi.”
* Những giờ cuối cùng của Anh hùng Lê Nguyên Vỹ
Đêm 29 tháng 4/1975 là đêm dài nhất cho tất cả quân sĩ Sư đoàn 5 BB đang còn ở lại Lai Khê. Các vị trí tiền đồn báo cáo từng đoàn quân xa của CSBV đủ loại di chuyển nhưng đi vòng tránh căn cứ Lai Khê. Sáng ngày 30 tháng 4/1975 vào lúc 7 giờ, tất cả sĩ quan ngồi họp tại Phòng họp Hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Vừa họp xong, Đại úy Nguyên, chánh văn phòng Tư lệnh, tới báo cáo là 10 giờ Tổng thống Dương Văn Minh sẽ đọc bài diễn văn quan trọng liên quan đến tình hình. Tướng Lê Nguyên Vỹ bảo các Sĩ quan ngồi chờ tại chỗ bên cạnh chiếc radio và tách cà phê nóng. Đúng giờ, mọi người đều nghe bài phát thanh của ông Dương Văn Minh. Khi nghe lệnh tiếp theo của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được ông Dương Văn Minh cử làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc (Tổng tham mưu trưởng được bổ nhiệm vào ngày 29/4), thì Tướng Vỹ ra lệnh cho Trung tá Nguyễn Tấn Văn, treo cờ trắng trước cổng trại, rồi ông cho triệu tập tất cả các sĩ quan, quân nhân tại bộ Tư lệnh để giải thích cho mọi người rõ về lệnh của ông Dương Văn Minh.
Theo lời kể của một số sĩ quan có mặt lúc đó, bằng giọng nói cương quyết, tướng Vỹ nói: “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là bắt chúng ta buông súng đầu hàng. Riêng với tôi, là một tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Từ nay, tôi không còn chỉ huy các anh em nữa, các anh em tự lo liệu lấy”. Sau đó, tướng Vỹ cho tìm bác sĩ Hiếu, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Quân Y, có lẻ ông định tìm thuốc độc tự tử, nhưng bác sĩ Hiếu đã lánh mặt. Các sĩ quan thân cận quanh tướng Vỹ tìm cách dấu hết súng vì sợ vị tư lệnh tự tử. Các sĩ quan cùng nhau khuyên ông, nhưng ông lại yêu cầu mọi người rời khỏi căn cứ, đừng đợi Việt Cộng vào.
Trước khi vĩnh biệt các sĩ quan trong bộ Tư lệnh , tướng Vỹ đã mời mọi người sang nhà riêng ăn cơm chung. Vừa lùa xong chén cơm một cách vội vã, trong khi mọi người đang ăn thì tướng Vỹ đi nhanh vào “trailer”. Hai tiếng súng nổ chát chúa, mọi người bỏ đủa chạy vào thì thấy Tướng Vỹ nằm trên vũng máu. Dù tất cả các súng đã giấu kỹ nhưng còn khẩu súng Beretta 6.35 để trong trailer thì không ai ngờ đến. Vào giây phút đó, quanh Tướng Vỹ có Đại tá Từ Vấn, Tham mưu trưởng Sư đoàn, Trung tá Tống Mạnh Hùng và một số sĩ quan tham mưu. Mọi người đã thay quần áo cho vị Tư lệnh, và đứng nghiêm chào vĩnh biệt vị chủ tướng anh hùng. Tướng Vĩnh ra đi ở tuổi 42. (Một bài viết của ông Thanh Sơn, dựa theo theo lời kể một số bạn bè, đăng trong KBC, lại ghi rằng: sau khi nói chuyện xong với anh em quân nhân Sư đoàn 5 Bộ binh, tướng Vỹ bước ra sân đứng nghiêm dưới cột cờ của bộ Tư lệnh, rồi tự sát bằng khẩu súng lục chỉ huy của mình).
Trung tá Nguyễn Minh Tánh kể lại rằng khi ông dẫn các Thiết giáp xa cơ hữu đến bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB để đón Đại tá Nguyễn Mạnh Tường và Trung tá Tống Mạnh Hùng (hai sĩ quan này cùng khóa 5 Thủ Đức với Trung tá Tánh) như đã hứa trước. Vừa đến nơi thì Trung tá Hùng chạy ra nói: “Anh vào chào Chuẩn tướng Tư lệnh đi, người đã tự sát rồi.” Trung tá Tánh nghe Trung tá Hùng báo tin thì lòng ông vô cùng xúc động. Ông đứng chỗ trailer nhìn vào thì thấy vị Tư lệnh đáng kính của mình nằm yên trong quân phục tươm tất, có huy chương trên túi áo, và hai tay xếp trên bụng. Một viên đạn súng Beretta 6.35 ly trổ từ dưới cằm lên đỉnh đầu. Trung tá Tánh và các sĩ quan thuộc cấp vội chào kính vĩnh biệt người người anh cả của Sư đoàn 5 Bộ binh, một anh hùng của Quân Lực VNCH.
(Biên soạn dựa theo tài liệu tạp chí KBC, hồi ký của cựu Trung tá Nguyễn Minh Tánh, tài liệu của cựu Thiếu tá Trương Dưỡng, và của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ).
 
Mở Trang Sử Cũ: Mỹ Tho Tuẫn Tiết - Trần Văn Hai





Tưởng Niệm Tướng Trần Văn Hai


https://ongvove.files.wordpress.com/2010/04/tranvanhai.jpg
Người Lính Già
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi ông Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng dâng miền Nam cho tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt làm tiêu tan nền tảng hợp pháp hóa sự xâm lăng của chúng thì một số quân nhân các cấp không chấp nhận đã tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng hoặc tự sát. Trong số các anh hùng đó, có các danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai*, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân.
Với mục đích góp thêm vài nét chấm phá rất thực để tưởng niệm một người quân nhân thuần túy bất khuất, coi quyền lực như không có và đôi khi gần như ngạo mạn, không tham sân si và cả cuộc đời chỉ nhằm đóng góp nỗ lục cho Đất Nước…
Phải thẳng thắn nhìn nhận là ít ai để ý và biết tới tân Thiếu Úy Trần Văn Hai tốt nghiệp Khóa 7 trường Võ Bị Đà Lạt tình nguyện ra chiến đấu tại chiến trường Bắc Việt năm 1952 bổ nhiệm về phục vụ Tiểu Đoàn 4 Việt Nam (Thiếu Tá Đặng Văn Sơn tiểu đoàn trưởng, sau này là đại tá tư lệnh Sư Đoàn 2, rồi chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân (BĐQ) Dục Mỹ). Sau khi đất nước bị chia đôi và người Pháp lần lượt trao trả quyền quản trị, điều khiển các quân khu lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (đặc biệt là Quân Khu 4 trên cao nguyên từ trước vẫn hoàn toàn do các sĩ quan Pháp nắm giữ) và do một cơ duyên nào đó ông Hai gặp Đại Úy Đặng Hữu Hồng là một chuyên viên tình báo mới được bổ nhiệm lên cao nguyên làm Trưởng Phòng 2 Quân Khu 4 đã nhận thấy ông Hai rất có thiện chí với nhiều khả năng về tình báo nên đã đề nghị rút về phụ trách ban binh địa của Phòng 2 Quân Khu, sau đó vinh thăng Đại Úy đi làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 địa phương đồn trú tại Phan Thiết rồi về làm Đại Đội Trưởng chỉ huy công vụ Trung Đoàn 44 thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Năm 1961, sau khi tốt nghiệp khóa bộ binh cao cấp tại Hoa Kỳ thì Đại Úy Trần Văn Hai đã trở nên quen thuộc và được nhiều người biết đến trong tình thân thương cũng có mà thù ghét cũng không phải là ít. Khi Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ được thành lập để huấn luyện các đơn vị Biệt Động Quân cũnh như rừng núi sình lầy, mưu sinh thoát hiểm cho sĩ quan, hạ sĩ quan của các đơn vị và sinh viên sĩ quan của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đại Úy Hai là một trong số những huấn luyện viên tận tụy làm viếc hết mình theo đúng quan niệm: Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu, và mồ hôi của ông luôn luôn ướt sũng bộ đồ tác chiến như mọi người đã nhìn thấy.
Năm 1964, Đại Úy Trần Văn Hai được vinh thăng thiếu tá sau khi mang lon đại úy liên tiếp 9 năm và được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Phú Yên và cũng chính từ ở chức vụ này ông đã có dịp bộc lộ các cá tính và con người thực. Dưới đây là phần trích dẫn bài của Lôi Tam viết lại cuộc đối thoại của một nhóm quân nhân và công chức trẻ mà chính anh là một:
– Tụi bây bỏ hết công việc ra đây mai mốt anh Mũ Nâu lại gọi vào chửi cho cả đám.
Anh Mũ Nâu là biệt danh chúng tôi dùng để gọi Trung Tá Hai tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng vốn xuất thân là Biệt Động Quân.
– Ối ăn nhằm gì, chửi bới là nghề của anh ấy, không có chuyện cho anh ấy chửi, anh ấy bệnh ngay. Dưới mắt anh ấy cả nước này chỉ có mình anh ấy là khá, kỳ dư còn lại là lũ ăn hại, đái nát…
– Tụi bây chửi anh ấy cũng tội nghiệp, phải công nhận là anh ấy có thiện chí. Nếu nước mình mà có vài mươi mạng như anh ấy thì cũng đỡ khổ.
– Đỡ qúa chứ cũng đỡ gì…chỉ riêng cái việc anh ấy không ăn bẩn là tao sợ anh ấy rồi…
Chúng tôi kính phục Trung Tá Hai vì sự trong sạch, thái độ ngay thẳng và lòng yêu mến dân chúng thật tình của ông. Trong thời gian phục vụ dưới quyền ông, chúng tôi phải làm việc gấp hai ba lần hơn khi làm việc với các ông tỉnh trưởng khác nhưng cũng là thời gian mà chúng tôi thích thú nhất…
…Ông không bao giờ cười, họa hoằn lắm mới có một cái nhếch mép nhưng lại có máu khôi hài lạnh. Tôi nhớ sau cuộc hành quân tại Vũng Rô, một phái đoàn tướng tá Việt Mỹ đến Phú Yên tham dự cuộc thuyết trình về thành quả. Trong khi ông Hai đang thuyết trình về tổn thất địch thì một ông đại tá Mỹ đứng dậy đặt câu hỏi là trong số thương vong của địch có bao nhiêu phần trăm do hỏa lực bộ binh?
Trung Tá Hai không trả lời ngày, ông có vẻ suy nghĩ, một lát sau ông nói:
– Tôi rất tiếc không thể trả lời câu hỏi của đại tá lúc này được.
Mọi người có vẻ ngạc nhiên, viên đại tá Mỹ cau mày hỏi:
– Tại sao vậy trung tá?
Ông Hai hơi nhếch mép, tôi biết ông đang cố gắng nén cái cười ngạo mạn.
– Tại vì tôi chưa kịp viết thư cho viên tướng Cộng Sản ở vùng này. Lẽ ra tôi phải viết thư trước và yêu cầu hắn chỉ thị cho binh sĩ của hắn khi bị sát hại bằng hỏa lực phi pháo thì phải nằm riêng ra một chỗ và khi bị bộ binh bắn chết thì phải nằm riêng ra một chỗ để chúng ta dễ đếm và thống kê, lần này thì chịu, theo nhận định của Bộ Chỉ Huy hỗn hợp thì đầy là một cuộc hành quân phối hợp hoàn hảo của Hải, Lục, Không Quân, thương vong của địch rải rác lẫn lộn, tình thế cũng không cho phép binh sĩ của ta ở lại lâu tại vị trí giao tranh để làm thống kê tỉ mỉ, vì vậy tôi không thể trả lời được câu hỏi của đại tá.
Trung Tá Hai có thể nén cười được, nhưng chúng tôi thì không…
Trung Tá Hai rời chức vụ tỉnh trưởng vì một chuyện rất nhỏ** …Ông tướng tư lệnh Vùng đang say mê một cô ca sĩ; biết rõ như thế nên một số các ông tỉnh trưởng trong vùng thi nhau làm vui lòng ông mỗi khi cô ca sĩ này đến trình diễn tại địa phương.
Ông Hai không cần biết điều này và ông cũng không cần tìm biết làm gì vì bản chất của ông: Thanh liêm, chính trực. Sau một lần không làm vừ lòng tướng tư lệnh về những chuyện công vụ, một tháng sau ông Hai bị thay thế, chúng tôi tiễn ông ra máy bay trực thăng… và hành trang của ông là một túi vải nhỏ, loại mà các phi công thường sử dụng mỗi khi đi bay…
– Tôi cám ơn các anh chị đã tận tình làm việc với tôi trong những tháng vừa qua, có thể người ta cho rằng mình là những đứa dại, chỉ biết làm việc mà không biết đục khoét. Nhưng tôi tin là mình đã làm đúng…
Thảo luận với ông về những khó khăn trở ngại ông thường nói: Tôi biết, tôi biết, tôi đã đi qua chiếc cầu đó rồi, đừng nản, sớm muộn gì đất nước mình cũng có ngày sáng sủa…
…Ông về làm Chỉ Huy Trưởng BĐQ vinh thăng đại tá…Sau Tết Mậu Thân được bổ nhiệm vào chức vụ tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia, vinh thăng chuẩn tướng, tư lệnh Biệt Khu 44, tư lệnh phó Quân Đoàn 2, chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ và cuối cùng là tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh.
Khi ông vừa rời Phú Yên về trình diện Bộ Quốc Phòng thì cũng đúng lúc chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân đang trống và ông Hai được bổ nhiệm điều khuyết để trở lại nơi ông đã xuất thân với những tình cảm thân thương.
Vừa nhận chức với buổi họp tham mưu đầu tiên tại Bộ Chỉ Huy, ông đã giành tối đa thời giờ để lên lớp đúng theo danh từ mà Lôi Tam dùng để diễn tả các chỉ thị Tham Mưu chính yếu nhằm quét dọn rác rưới trong việc điều hành, thuyên chuyển nhân viên, sử dụng quỹ xã hội cách rất đúng đắn và những ngày sau đó đi thăm viếng các đơn vị, đặc biệt là những đơn vị trú đóng những căn cứ hẻo lánh, các trại gia binh và các thương bệnh binh đang nằm điều trị tại các quân y viện.
Quyết định đầu tiên của ông là xuất quỹ xã hội trao tặng cho mỗi đơn vị 5000 dồng để tổ chức cây mùa xuân, ông quan niệm đây là tiền của anh em đóng vào thì họ phải được hưởng, và hơn nữa ông là một người trong sạch nên ông coi giá trị đồng tiền khá cao, tại mỗi đơn vị ông giơ cao bao thơ đựng tiền lập đi, lập lại nhiều lần khiến mọi người phải cười thầm.
Đặc điểm của ông là luôn luôn lắng nghe và ghi nhận những khó khăn của các đơn vị trưởng và dù với cấp bậc khiêm nhượng ông không ngần ngại đến gõ cửa chính các vị Tư Lệnh vùng để trực tiếp can thiệp giải quyết vấn đề chứ không qua các vị Tham Mưu Trưởng. — đâu có đụng chạm, có khó khăn là có sự hiện diện của ông và đặc biệt là nhiều khi mùi khét của thuốc súng giao tranh chưa tan ông cũng không ngần ngại đáp trực thăng xuống để cùng chia sẻ ngay tại chỗ với đơn vị và đặc biệt với các cấp chỉ huy về những nỗi khó khăn gặp phải mặc dù đó không phải là nhiệm vụ chính yếu được ấn định cho chức vụ chỉ huy trưởng binh chủng của ông là quản trị.
Trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân, chính ông đã trực tiếp điều khiển các Liên Đoàn BĐQ hành quân giải tỏa vùng ven đô gây tổn thất nặng nề cho địch quân cũng như giảm thiểu thiệt hại cho dân chúng.
Đại Tá Trần Văn Hai đang điều binh từ một góc phố trong Chợ Lớn trong trận Mậu Thân 1968.
Khi được bổ nhiệm làm tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG), ông có đem theo một số sĩ quan và hạ sĩ quan để cùng tiếp tay với ông điều hành công vụ và ông đã tỏ ra rất cứng rắn đối với những người này. Trường hợp Đại Úy La Thành H. cùng quê và được ông coi như một người em đỡ đầu được bổ nhiệm làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quận 10 nhưng có những hành động lợi dụng chức vụ, tức khắc bị ông áp dụng biện pháp trừng phạt và trả về quân đội, trong đó có luôn cả chánh văn phòng của ông.
Khi một đại diện của Giám Sát Viện phàn nàn với ông về những bê bối trong ngành Cảnh Sát, ông trầm ngâm trả lời: Tôi biết, nhưng vấn đền không thể giải quyết một sớm một chiều mà phải kiên nhẫn tìm ra những đầu mối, những tương quan thế lực chằng chịt thì mới ngăn chận được. Từ ngày về đây tôi đã gặp khá nhiếu khó khăn, mình như người vác chiếc thang dài đi trong căn nhà hẹp, bốn bề đều đụng chạm. Không ai muốn mình làm những điều mình thấy cần phải làm.
Tướng Hai là một quân nhân thuần túy, không biết hay nói cho đúng hơn là không bao giờ chịu luồn cúi. Khi mới nhận chức chỉ huy trưởng/BĐQ và lúc đó uy quyền của Tân Sơn Nhất hay nói đúng hơn là Tướng Kỳ đang ở thế thượng phong nên có người đặt vấn đề là nếu ông muốn vững tiến thì cần phải tìm cách móc nối để lọt vào vòng ảnh hưởng, nhưng ông làm ngơ. Với ông, bè phái là một từ ngữ xa lạ.
Theo tiết lộ của cụ Trần Văn Hương khi cụ được chỉ định làm Thủ Tướng thay thế Luật Sư Lộc, cụ đề nghị với Tổng Thống bổ nhiệm một tướng lãnh có khả năng chỉ huy chiến trường là Trung Tướng Đỗ Cao Trí làm Tư Lệnh Quân Đoàn 3 và Đại Tá Trần Văn Hai, một sĩ quan trong sạch làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát. Nhưng có lẽ đó cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nằm trong kế hoạch loại bỏ ảnh hưởng của ông Kỳ.
Khi vừa nhận chức được ít lâu thì ông Bộ Trưởng Nội Vụ muốn đưa đàn em về coi Cảnh Sát Tư Pháp nên yêu cầu ông Hai cất chức Phụ Tá Tư Pháp là Luật Sư Đinh Thành Châu, nhưng ông Hai thẳng thắn trả lời: Nếu ông Bộ Trưởng muốn thay xin cứ ban hành nghị định, tôi sẽ thi hành nhưng tôi không thấy LS Châu có lỗi lầm gì hết. Để dằn mặt và trả dũa về sự cứng đầu của ông, phụ phí cho Cảnh Sát đã bị cắt giảm quá một nửa, ông biết như vậy sẽ gặp rất nhiều trở ngại cho sự thi hành nhiệm vụ nhưng vẫn làm những gì mà lương tâm ông nghĩ và coi đó là lẽ phải.
Với thời gian hơn một năm làm tổn giám đốc, ông Hai chỉ đến gặp tổng thống, phó tổng thống và thủ tướng khi có lệnh hoặc vì công vụ phải đích thân trình bày, ngoài ra không bao giờ mon men cầu cạnh và chưa bao giờ người ta thấy ông mặc thường phục đi xe hơi mang số ẩn tế hoặc công xa lộng lẫy với xe hộ tống võ trang cùng mình chạy trước, chạy sau dẹp đường mà chỉ sử dụng chiếc xe jeep cũ của Biệt Độnd Quân mang theo với vài người cận vệ ngồi phía sau.
https://i2.wp.com/lasvegasbao.com/hinh%20anh/tranvanhai1.jpg
Người ta cũng không mấy ngạc nhiên khi thấy ông bị thay thế trở về quân đội vì cụ Hương đã rời Phủ Thủ Tướng và hơn thế nữa, các thế lực sẽ không thể chi phối các hoạt động của Cảnh Sát nếu còn để ông tiếp tục nắm giữ quyền điều khiển cơ quan này.
Mùa hè đỏ lửa 72, Cộng quân đẩy mạnh các nỗ lực tấn công có tính cách trận điạ chiến cắt đứt các trục giao thông chiến lược, đặc biệt là đoạn Quốc Lộ 14 nối liền hai thị xã Kontum Pleiku và Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2 Quân Khu 2 cũng vừa mới nhận chức muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của ông cũng như tạo một tiếng vang nên ra lệnh cho lực lượng BĐQ phải hành quân giải tỏa đoạn Quốc Lộ nêu trên với sư tăng cường của một Chi Đoàn Thiết Kỵ giao tiếp với một thành phần của Sư Đoàn 23 nhưng liên tiếp bị chận đánh không tiến lên được như ý muốn của ông nên trong một buổi họp tham Mưu, Tướng Tư Lệnh*** đã trút giận dữ cho là BĐQ không chịu đánh, ra lệnh thay thế các cấp chỉ huy liên hệ bằng những sĩ quan khác đồng thời còn hướng về Tướng Hai lúc này đã được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn và nói: Biệt Động Quân của anh đó. Bị miệt thị và nhất là tự ái binh chủng của ông nên ông đã thẳng thắn đáp lễ là ông sẽ đứng ra trực tiếp điều khiển cuộc hành quân và ngay sau chấm dứt ông sẽ rời khỏi Quân Đoàn 2 vì ông không thể cộng tác với một ông Tư Lệnh làm việc tùy hứng…Hai ngày sau đó lực lượng Biệt Động Quân giao tiếp được thành phần tiếp đón từ Kontum tiến ra, Tướng Tư Lệnh đã bay tới nơi với một phái đoàn báo chí để ngợi khen cái bắt tay có tính quyết định này. Tuy nhiên, để giữ lời hứa, Tướng Hai yêu cầu được rời Quân Đoàn 2, sau đó về làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ, nơi mà trước đây ông đã phục vụ với tính cách một huấn luyện viên nhỏ bé; nhưng ông chưa ngồi ở chức vụ này được bao lâu thì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn 4 nên ông Hai được bổ nhiệm thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7, một đại đơn vị nổi danh với những vị Tư Lệnh tiền nhiệm yêu nước, trong sạch gồm cố Trung Tướng Nguyền Viết Thanh và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Một đơn vị đã hoạt động một cách hữu hiệu trong nhiệm vụ chận đứng sự xâm nhập của các đơn vị Cộng quân trong mưu toan cắt đứt đường liên lạc tiếp tế từ miền Tây về thủ đô và đó cũng là đơn vị đã chứng kiến hành động khí phách phi thường nhất của ông với niềm tin sắt đá sớm muộn gì đất nước mình rồi sẽ có ngày sáng sủa.
Cùng các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Tướng Hai đã ghi đậm một nét son cho trang cuối của quân sử Việt Nam Cộng Hòa.
Nhân ngày quân lực, xin đốt nén nhang cho những tang trung liệt, những người đời đời là nỗi tiếc thương và niềm hãnh diện cho Quân Dân Miền Nam, cho mọi thế hệ, cho mọi thời đại của giòng sử đấu tranh Việt.
Người Lính Già – Đa Hiệu 52
Chú thích:
* Sinh năm 1929, Cần Thơ, tốt nghiệp khoá 7 Trường Võ Bị Liên Quân, Đà Lạt. Ông nguyên là tư lệnh Sư Đoàn 7/BB thuộc Quân Đoàn IV/ Quân Khu IV từ ngày 1-3-1974. Trước đó ông cũng từng đảm trách các chức vụ như tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên (năm 1965), chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương (năm 1967), tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia (năm 1968), chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm chỉ huy trưởng Huấn Khu Dục Mỹ (năm 1971), tư lệnh phó Quân Đoàn II/Quân Khu II và kiêm nhiệm chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân Chiến Thuật Quân Đoàn II/QKII (năm 1972).
Trong ngày 30-4-1975, khoảng 17:00 giờ tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đã uống thuốc độc ngay trong văn phòng của mình. Vị sĩ quan tùy viên sau khi phát giác chủ tướng của mình đã quyên sinh, đã đưa ông qua Tiểu Đoàn 7 Quân Y mong cứu được ông, nhưng mọi nổ lực đều quá muộn. Buổi chiều trong ngày, trước khi uống thuốc độc Chuẩn Tướng Trần Văn Hai trao cho vị sĩ quan tùy viên số tiền 70.000 đồng nhờ đưa cho người mẹ già của mình. Đây cũng là tháng lương cuối cùng của một người lính suốt đời liêm chính.
** Đầu năm 1966, phu nhơn của Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, tư lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu 2, là nữ ca sĩ Minh Hiếu tới Phú Yên có việc riêng và lệnh của Tướng Vĩnh Lộc là phải đón tiếp chu đáo. Thiếu Tá Hai lúc đó đã được thăng cấp trung tá, quyết định dùng tiền riêng thuê xe dân sự đưa đón thay vì dùng công xa. Vì chuyện này mà Trung Tá Hai mất chức tỉnh trưởng với lý do ‘không hoàn tất chu đáo nhiệm vụ’. Theo BDQ.com
*** Tức Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Đoàn 2, Quân Khu 2. Theo BĐQ.com
Người Lính Già
 
Chiến trường An Lộc 1972 - An Loc battlefield 1972
                           

An Lộc Sự thật & Lịch sử


Jan 9 · 50 min read
Chương # 8: An Lộc Sự thật & Lịch sử




Lời giới thiệu:
Tôi, Nguyễn Tường Tuấn, cựu Trung uý, Đại đội trưởng Đại đội 7/5 Trinh sát (Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH). Cách đây đúng 47 năm,đã tham dự cuộc chiến 100 ngày Tử thủ tại An Lôc. Dưới những cơn mưa pháo liên hồi của cộng quân người dân An Lộc và các chiến sĩ Quân lực VNCH hy sinh vô số kể, thế mà giờ đây chính quyền cộng sản trong nước đã dựng lên một đài tưởng niệm tại trung tâm An Lộc, gọi là mộ chôn tập thể 3,000 dân An Lộc đã bị VNCH thảm sát bằng pháo binh và máy bay. Nếu chúng ta không cất lên tiếng nói lúc này, thì không biết bao nhiêu thế hệ sau còn bị đầu độc?
AN LỘC 1972
Lịch sử Việt Nam hôm nay bị chế độ cộng sản vo tròn, bóp méo. Bài viết trình bầy một bằng chứng, và tội ác ngập đầu của chúng, tất cả chúng ta đều có thể tìm hiểu qua Internet. Lịch sử như mặt trời, mặt trăng, sẽ có lúc mặt trời tạm vắng, và mặt trăng chia tay. Nhưng theo chu kỳ tất cả sẽ nhanh chóng quay lại, cộng sản Việt Nam (CSVN) không thể điêu ngoa thay đổi.
Bốn mươi bẩy năm trước, 1972, An Lộc một trong ba quận của tỉnh Bình Long, với diện tích chiều ngang 1 cây số và chiều dài 4 cây số đã trở thành mục tiêu của CSVN.
Ngày 30 tháng 3 năm 1972, cộng sản tập trung quân chính quy từ ba nơi: Bắc Việt Nam, Lào, và Campuchea đồng loạt tấn công tỉnh Bình Long của Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) với ý định chiếm An Lộc làm thủ đô cho chính phủ bù nhìn: Mặt trận “Giải phóng Miền nam” (MTGP.) An Lộc, chỉ cách Sài Gòn 104 cây số. Theo hai nhà báo Mỹ Walter Scott Dillard và John Francis Shortal trong bài viết tựa đề “Faster Invasion Repulsed” tác phẩm “The Battle of An Lộc” có ba yếu tố khiến cộng sản chọn thời điểm này để tấn công:
+ “Với thoả thuận rút quân của Hoa Kỳ, năm 1972 chỉ còn lại 65,000 quân nhân Mỹ trên toàn lĩnh thổ miền Nam Việt Nam (năm 1969 tổng số quân Mỹ tại VN là 543,000 người.) Mỹ sẽ không còn khả năng tham chiến để yểm trợ đồng minh VNCH.” (Theo thiển ý của người viết, không phải Mỹ không còn khả năng tham chiến, nói cho đúng hơn là Mỹ KHÔNG CÒN MUỐN tham dự vào cuộc chiến nữa, họ chỉ muốn rút quân vì áp lực của dư luận phản chiến tại Hoa Kỳ. Quan trọng hơn nữa, Washington đã quyết định “bỏ rơi” VNCH để đổi lấy thị trường hơn một tỉ dân buôn bán ở Trung cộng.)
+ “Chiến dịch “Phượng Hoàng” rất thành công của chính phủ VNCH trong hai mục tiêu, phát hiện các hang ổ cộng sản nằm vùng, và chiêu hồi cán binh Việt cộng (VC) về với chính nghĩa quốc gia. Nay phải chấm dứt hoàn toàn theo hiệp định Paris.” (Đây là bài học lớn nhất cho các chính trị gia khi thương thảo với cộng sản. CSVN chưa bao giờ tôn trọng những văn bản ký kết với quốc tế. CSVN vi phạm Hiệp định Geneve 1954 khi tiếp tục gửi quân miền Bắc xâm chiếm miền Nam. 1968, CSVN mở cuộc Tấn công Tết Mậu thân, mặc dù trước đó họ cam kết hưu chiến ba ngày cho người dân ăn Tết. Năm 1972, Trong khi chính phủ VNCH tuân thủ Hiệp định Paris, chấm dứt chương trình “Phụng Hoàng” thì CSVN có chấm dứt cuộc xâm lăng tại miền Nam không, ngày 30/4/1975 đàn bò nào ngơ ngác vào thành phố?
+ “Phân tán quân đội VNCH ra ba mặt trận (Quảng Trị — Kontum — An Lộc) khi lực lượng bị xé nhỏ, cộng quân sẽ tập trung hàng sư đoàn với pháo binh và thiết giáp để tiêu diệt.” (Cuộc Tổng tấn công 1972 tại: Quảng Trị — Kontum — An Lộc chứng minh cho thế giới thấy sự thất bại của đám “trí tuệ nghèo nàn” Ba Đình; cũng như cuộc chiến Mậu Thân 1968, Quân lực VNCH đã đánh bại Bắc quân trên khắp các nẻo đường miền Nam. Phá tan huyền thoại “bách chiến, bách thắng” của những cái loa tuyên truyền CS. Năm 1975, VNCH đã bị đồng minh bỏ rơi, trong khi đó CSVN tiếp tục nhận tiếp tế vũ khí đạn dược từ Nga và Trung cộng. Tháng 4/1975 nhiều tỉnh thành miền Nam đã bỏ ngỏ, cộng quân vào không gập một chống cự! Thế mà họ gọi là chiến thắng vẻ vang, “long trời, lở đất!” Có đánh đâu mà trời long đất lở? Có chăng chỉ là “Lở mồm, long móng” đưa đất nước đến mất biển đảo hôm nay!
Địa danh An Lộc hiền hoà, trở thành mục tiêu chính cho cả hai bên quốc cộng. Với chính phủ VNCH, đây là cửa ngõ ngăn VC ở hướng Tây Bắc tiến về Sài Gòn. Quan trọng hơn cả, quận Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long nằm ngay sát biên giới Việt Nam & Campuchea đã rơi vào tay VC ngày 7 tháng 4 năm 1972. VNCH không thể chấp nhận bị mất thêm một tiền đồn ngay cạnh Sài Gòn!
Đối với CSVN, chúng muốn chiếm An Lộc làm thủ đô cho chính quyền bù nhìn, danh xưng: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam” người cộng sản thích dùng những chữ đao to búa lớn (thực chất cái chính phủ bù nhìn MTGP đó đã nhanh chóng bị giải tán chỉ vài ngày sau khi Hà Nội chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975.) Cho đến khi có một mảnh đất nhỏ, để cắm dùi, vênh váo gọi là thủ đô, Bắc Việt không thể nào thuyết phục thế giới về một chính quyền “ma” do chúng dựng ra mang giá trị pháp lý!
So sánh tương quan lực lượng giữa hai bên, phía cộng sản từ nay gọi chung là Việt Cộng (VC) gồm: Ba Sư đoàn 5, 7, và 9 + Hai Trung đoàn bộ binh 24 và 271 + Trung đoàn Đặc công 429 + Hai Trung đoàn Pháo binh Miền 28 và 42 + Hai tiểu đoàn Thiết giáp 20 và 21 + Đại đội 33 Độc lập + Đại đội 52 Cao xạ + Bốn Tiểu đoàn Pháo phòng không. 15,000 quân mở đầu cuộc tấn công, chiến dịch của CS Bắc Việt mang tên Nguyễn Huệ với tổng số 40,000 quân. (Trích dẫn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%...An_L%E1%BB%99c)
Phía VNCH phòng thủ An Lộc ngoài một Tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu Bình Long (quân số chưa đến 500 người) + Nhân dân Tự vệ (trang bị vũ khí thô sơ và là lực lượng bán quân sự, không có kinh nghiệm chiến đấu). Bên cạnh là Sư đoàn 5 Bộ binh (-) đã bị mất Trung đoàn 9 tại Lộc Ninh ngày 7/4/1972, chỉ còn lại Bộ Chỉ huy nhẹ Sư đoàn + hai Trung đoàn 7 & 8 + ba đại đội Trinh sát: 5, 7, và 8 + Trung đoàn 52 (trực thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh) + Liên đoàn 3 Biệt Động Quân. Sau này được tăng cường thêm các đơn vị Lữ đoàn 1 Nhẩy dù + Liên đoàn 81 Biệt cách Dù + Sư đoàn 21 Bộ binh + Sư đoàn 18 Bộ binh + Sư đoàn 9 Bộ binh. Tổng cộng quân đội VNCH tham chiến tại An Lộc trước sau chưa đến 20,000 quân. Về pháo binh, pháo đội của Tiểu khu Bình Long và toàn bộ 23 khẩu pháo 105 ly của Tiểu đoàn 52 Pháo binh, Sư đoàn 5 Bộ binh đã bị pháo binh 130 ly của VC phá huỷ ngay trong những ngày đầu cuộc chiến, chỉ có một khẩu 105 ly may mắn còn lại. Lữ đoàn 1 Nhẩy dù trực thăng vận vào một số đại bác 105 ly, sau đó không lâu cũng bị đạn pháo 130 ly của cộng quân huỷ diệt! Thiết giáp, không có. [Chú ý, danh sách các đơn vị nêu trên không có nghĩa là tất cả có mặt từ ngày đầu tiên của trận chiến, phía VNCH ngoài Địa Phương Quân, Cảnh sát, và Nhân dân tự vệ là đơn vị cơ hữu của Tiểu khu Bình Long + Sư đoàn 5 BB (-) + Liên đoàn 3 Biệt Động Quân + Trung đoàn 52 thuôc Sư đoàn 18 Bộ binh là có mặt tại An Lộc ngay từ ngày đầu tiên.] Lữ đoàn 1 Nhẩy Dù, và Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù được trực thăng vận vào sau. Các sư đoàn 21, 18 và 9 phụ trách việc khai thông Quốc lộ 13 và vào An Lộc giai đoạn cuối.
Dựa vào chiến thắng dễ dàng vì quân số áp đảo của cộng quân tại quận Lộc Ninh, ngày 7/4/1972, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH bị tiêu diệt. Ngoại trưởng bù nhìn Nguyễn Thị Bình của Mặt trận Giải phóng (MTGP) đã mạnh miệng tuyên bố tại bàn hội nghị Hoà đàm Paris: “Chỉ trong vòng 10 ngày nữa, An Lộc sẽ trở thành thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam” (sic.)
Năm 1972, tôi chỉ mới 22 tuổi, vào An Lộc là một Thiếu uý, Đại đội phó Đại đội 7 Trinh sát, Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH. Sau 100 ngày tử thủ, bị thương, và ra khỏi An Lộc được thăng cấp Trung uý làm Đại đội trưởng, Đại đội 7/5 Trinh sát. Tôi không phải người viết sử, là một sĩ quan cấp nhỏ dĩ nhiên không thể biết được ở tầm mức chỉ huy cao hơn nếu không vì cơ may được tiếp xúc. Toàn bộ câu chuyện đến từ kinh nghiệm bản thân, chắc chắn sẽ có rất nhiều thiếu sót về các đơn vị bạn, xin các vị chỉ huy, huynh trưởng khoá đàn anh, và chiến hữu tha thứ và bổ sung cho.





[Hình bên trái: Vòng cung mầu xanh với 5 mũi tên hướng ra ngoài là tuyến phòng thủ An Lộc của Quân lực VNCH. Các mũi tên mầu đỏ là hướng tấn công của Cộng sản Bắc Việt (CSBV.) Hình bên phải: Ba hướng tấn công của CSBV vào Quảng Trị, Kontum, và An Lộc 1972.] (Hình ảnh: Map of An Loc Battle — Google.)
CHIẾN TRƯỜNG XƯA
Tháng 6/2019, lần thứ hai tôi trở về An Lộc, thăm lại chiến trường xưa. Chiếc xe thuê đưa vợ chồng tôi, và ông anh đã ngoài 80 đi khắp thành phố từ bắc xuống nam, từ đông qua tây, đến cả Tống Lê Chân. Chẳng còn nhận ra bất cứ một dấu tích nào! Dừng lại ăn trưa và ghé vào quán cà phê bên đường, với hy vọng tìm ra một ai đó nói giọng miền Nam, cư dân chính gốc của thị trấn đi vào lịch sử từ mùa hè đỏ lửa 1972. Nhưng chỉ nghe toàn một giọng “Bắc kỳ hai nút” (ám chỉ người Bắc vào Nam sau năm 1975. Riêng người Bắc di cư 1954 được biết đến là “Bắc kỳ 9 nút”.) Thật là nghịch lý, đáng ra dân miền Nam, nạn nhân của “Mỹ Nguỵ” được cách mạng “giải phóng” phải ở lại mới đúng chứ, hay là họ chạy ra Bắc để hưởng “thiên đường xhcn” hết rồi? Còn “bên thắng cuộc” sao lại chạy về vùng “Mỹ Nguỵ” bỏ lại thiên đường ảo tưởng cho ai? Tôi không kỳ thị Bắc Nam, bản thân mình là “Bắc kỳ 9 nút”, nêu ra sự kiện người miền Bắc đua nhau vào Nam sau 1975 chỉ để chứng minh chính nghĩa nằm ở bên nào, và đâu là thiên đường thật sự?
Theo tài liệu Wikipedia danh sách các Tỉnh thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hoà năm 1964: An Lộc, thuộc Tỉnh Bình Long, đứng hàng thứ 7 trong tổng số 49 tỉnh, bao gồm ba quận: An Lộc, Chơn Thành, và Lộc Ninh. Diện tích toàn tỉnh 2,334 cây số vuông, dân số 82, 884 người, đến năm 1972 vì chiến tranh cho nên số dân cư tại Bình Long trong đó có An Lộc cũng đã giảm đi khá nhiều, một tài liệu Wikipedia cho biết dân số An Lộc vào năm 1972 là 15,000 người [con số này chỉ là phỏng đoán, không có tài liệu chính thức.]
Trong suốt 100 ngày Đại đội 7/5 Trinh sát tham dự cuộc chiến, An Lộc đã mang tôi trở về từ cõi chết, máu của bạn bè chiến hữu và chính bản thân mình đã thấm vào lòng đất đỏ quạnh và bám chặt như bùn. Có đêm, cộng quân bắn vào cái thị trấn nhỏ bé chiều ngang một cây số và chiều dài bốn cây số trên 12,000 quả đạn đại bác 130 ly, còn trung bình mỗi ngày trên dưới ngàn quả là chuyện bình thường. Thử hình dung một diện tích bốn cây số vuông và mỗi ngày hứng trọn từ vài trăm đến vài ngàn quả đạn đại bác 130 ly, món quà của “bác hồ” (xin lỗi không thể viết hoa) thương nhớ đồng bào miền Nam, thì đất nào không bị đào xới? Xác người nào không bị nát tan? An Lộc 1972, mỗi một centimetre đất được trộn bằng xương, máu, và sắt thép của đại bác cộng quân, đất bốc lên mùi tanh của xác chết và mùi khét của khói súng đạn.





[Bản đồ quân sự An Lộc, đường mầu nâu đậm từ Nam lên Bắc là Quốc lộ 13 chạy xuyên qua thị trấn, nằm chính giữa trung tâm, đây là Quốc lộ chính. An Lộc, với chiều ngang 1 km và chiều dài 4 km. Với hình chữ nhật diện tích 4 cây số vuông này, mỗi ngày trung bình nhận vài ngàn quả đạn pháo, trong 93 ngày giao tranh. Da thịt nào còn nguyên? Khung hình chữ nhật mầu xanh là khu vực cộng quân tập trung pháo kích mỗi ngày.]
(Hình ảnh:
http://legacy.lib.utexas.edu/maps/to...loc-6332-3.pdf)
Chỉ vì mưu đồ chính trị bẩn thỉu, tìm kiếm thủ đô cho một chính phủ “ma” MTGP, bọn đầu xỏ “Ba Đình” đã không ngần ngại dùng đạn pháo Nga xô và Trung cộng để “giết sạch” đồng bào ruột thịt miền Nam. Giải phóng là thế đó ư? Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta thi đua phá nước. Đúng hay sai?
Tháng 4/1972, Đại đội 7/5 Trinh sát thuộc Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 Bộ binh chúng tôi đang hành quân gần Lộc Ninh, thì được lịnh rút về An Lộc. Qua máy truyền tin PRC 25, giọng trầm ấm của Trung tá Lý Đức Quân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 Bộ binh:
- 95 đây 44 (95 là danh hiệu của Đại đội trưởng 7/5 Trinh sát, và 44 là danh hiệu của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 Bộ binh.)
- 44, 95 nghe.
- Anh cho con cái zulu (di chuyển) gặp tôi.
- Nghe rõ 44.
Trung uý Đặng Văn Tuấn, biệt danh “Tuấn râu” khoá 24 Thủ Đức là Đại đội trưởng Trinh sát 7/5, và tôi, Nguyễn Tường Tuấn, khoá đàn em 9/68 Thủ Đức là Thiếu uý Đại đội phó, kiêm Trung đội trưởng Trung đội Viễn thám, để phân biệt hai Tuấn, trong đơn vị gọi tôi là “Tuấn nhô.” Danh hiệu truyền tin của Tuấn râu là “95” và tôi là “59.” Đại đội Trinh sát, có bốn trung đội, gồm một trung đội Viễn thám và ba trung đội trinh sát. Trung đội trưởng Viễn thám là sĩ quan thâm niên và đồng thời là Đại đội phó. Khác với các trung đội Trinh sát chỉ có một sĩ quan làm trung đội trưởng, bên Viễn thám ngoài Trung đội trưởng, còn có ba sĩ quan dưới quyền làm Trưởng toán Viễn thám cấp bậc Chuẩn uý.
Hành trình băng rừng từ Lộc Ninh về đến An Lộc không phải dễ, lịnh của 44 là phải gập ông nhanh nhất. Tuấn râu họp các trung đội trưởng dưới cánh rừng cao su ra lịnh.
- Tao nghi có chuyện gì, giọng ông già (ám chỉ 44) có vẻ nghiêm quá. Nhiệm vụ tụi mình là tiến vào Lộc Ninh tiếp hơi thằng 9 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ binh) mà sao bây giờ lại thay đổi?
Không còn thời giờ bàn bạc nữa, gia đình Trinh sát 7/5 nhanh chóng thu dọn mìn claymore và mìn chiếu sáng gài trong đêm. Đoàn quân lên đường, băng rừng lội suối. Về đến gần An Lộc, đơn vị được quân xa GMC của Trung đoàn ra đón và đưa vào thành phố. “44” chỉ định tạm thời đóng quân trong sân trường Trung học của thị trấn.





[Hình bên trái: Các sĩ quan Viễn thám vẽ đường đi trên bản đồ hành quân từ Lộc Ninh về An Lộc.
Hình chính giữa: Chuyển quân trong rừng Lộc Ninh về An Lộc.
Hình bên phải: Về đến An Lộc, đơn vị nhận tiếp tế thực phẩm và nước ngoài bìa rừng cao su.] (Hình ảnh: NTT/1972.)
Lần đầu trong gần một tháng thấy phố thị, buổi chiều giờ tan học những tà áo dài mầu trắng nữ sinh tung bay trên con đường bụi đỏ sao mà đẹp thế. Tuấn râu đi họp với 44, và tôi ở lại thu xếp cho đơn vị đóng quân trong khuôn viên trường, cũng như rải các toán viễn thám và tiểu đội ra xung quanh. Các cô nữ sinh ngạc nhiên khi thấy đám lính quần áo nhễ nhại mồ hôi, giầy bám đầy đất đỏ và súng đạn lỉnh kỉnh trong sân. Thị trấn ngày hôm đó vẫn bình an, nhưng chỉ là cái yên lặng báo hiệu một cái gì kinh khủng sắp đến. Đơn vị được lệnh cắm trại 100%, không ai được ra phố, các quán ăn và cà phê không có cơ hội đón khách như họ tưởng. Cửa hàng nhanh chóng đóng cửa, tin quận Lộc Ninh mất không còn xa lạ. Thành phố trong một ngày trở thành hối hả, không khí chiến tranh bao trùm!
Không cần chờ lâu, 95 trở về khuôn mặt nghiêm trọng yêu cầu tôi tập họp các trung đội trưởng, trưởng toán viễn thám, lại họp.
- Lộc Ninh và Trung đoàn 9 mất rồi! Anh nói với vẻ mặt buồn bã. Trong nay mai bọn “vịt con” (ám chỉ Việt cộng) sẽ tràn về đây. 44 ra lịnh đơn vị bung ra bảo vệ hướng Phú Lố, phân tán từng tổ nhỏ trong khu nhà dân, (nói là nhà cho oai, chứ thật ra chỉ là những mái tranh vách đất xiêu vẹo, không lấy đâu ra nhà nào có nổi một bức tường bằng gạch.) Các toán kích ra nằm ngoài rừng làm chốt chặn. Lịnh đào hố cá nhân chống pháo kích được ban ra. Các anh lính mừng hụt, tưởng là sẽ được tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ và sáng mai tha hồ ngắm các cô nữ sinh. Nhưng không, khi bóng đêm phủ xuống, toàn đại đội lặng lẽ ba lô súng đạn lên đường, đội hình hàng một cách nhau mỗi người trên dưới một thước, âm thầm như những bóng ma biến vào màn đêm. Các Trung đội và Toán đi mỗi hướng khác nhau, máy truyền tin PRC 25 vặn âm thanh nhỏ nhất và chỉ được phép trao đổi khi cần bằng cách bấm nút tín hiệu trên ống nghe, không được nói. Cẩn thận, các hiệu thính viên truyền tin mang máy PRC 25 còn lấy bao gạo xấy bằng nylon bọc kín ống nghe để giảm âm thanh và tránh bị mưa ướt.
Không cần chờ lâu, ngay đêm đầu pháo binh VC bắt đầu hỏi thăm. Chúng bắn cầm chừng vào thành phố, chúng tôi nằm tiền đồn ở vòng đai xa nhất nên không hề gì. Trong một hai tuần đầu, pháo binh VNCH của Sư đoàn 5 và Tiểu khu Bình Long còn bắn trả, nhưng chỉ vài ngày sau các khẩu pháo binh lần lượt bị địch phá huỷ bằng đạn 130 ly. Cộng sản chơi bạc lớn, chuẩn bị rất kỹ để chiếm cho bằng được An Lộc. Chúng có tiền sát viên pháo binh ngay trong thành phố, mặc thường phục, chạy xe Honda khắp nơi và điều chỉnh pháo giữa ban ngày. Đơn vị chúng tôi bắt được vài tên dân sự với máy truyền tin nhỏ, nhưng không thể bắt hết khi chúng giả dạng thường dân.
Phương tiện tiếp tế đường bộ trên Quốc lộ 13 bị cắt đứt nhiều đoạn từ Lai Khê lên Chơn Thành, không thể nào vào được An Lộc. Tiếp tế bằng Trực thăng ngày càng hiếm vì pháo kích, không đáp được, bước đầu vài trăm quả mỗi ngày. Các chú “Gà cồ” (pháo binh 105) của VNCH nếu không bị trúng pháo thì cũng hết đạn, một khẩu duy nhất còn dùng được sau này để dành bắn trực xạ vào xe tank của địch. Trong khi quân ta cạn kiệt về pháo binh, thì VC lại thừa thãi để mỗi ngày từ con số vài trăm lên đến vài ngàn và nhiều nhất có hôm trên 12,000 đạn pháo trong một đêm. Tôi còn nhớ, Trung đoàn 7 còn một khẩu súng cối 81 ly của Đại đội Công vụ Trung đoàn, do Trung uý Lục Cá Lìn (người Nùng) khoá 24 Thủ Đức làm đại đội trưởng chưa bị pháo binh cộng quân phá huỷ. Buổi tối, thỉnh thoảng anh Lục Cá Lìn nổi hứng (thật ra là theo lịnh,) bắn vài quả, thế là cộng quân nhanh chóng đáp lễ từ vài chục đến trăm quả pháo như chơi. Lính Trinh sát chửi thề: “ĐM nó, đéo sợ Việt cộng bằng sợ thằng cha “sáu cái L ..” này, mỗi lần nó sủa, thế nào bọn chó đẻ cũng chơi lại bạc trăm.” Trung uý Lục Cá Lìn đúng bản chất người dân tộc Nùng, thật thà, dễ thương, và hiền hơn con gái, chẳng bao giờ giận ai cả. Lính Trinh sát có căn bệnh lười đào hố cá nhân lắm, nhưng cũng phải cám ơn cái anh chàng hiền lành này, nhờ hắn mà chiếc hố càng ngày càng sâu hơn, có thể đứng thoải mái và chỉ cần thẳng lưng là đầu ra khỏi miệng hố, nói chuyện phải quấy với con cháu “lão hồ”, chưa kể ngồi dưới có thể nấu nước nóng bằng C 4 (C 4 là loại chất nổ mầu trắng, mềm và dẻo như kẹo cao su, có thể xé nhỏ ra và khi đốt tạo ra ngọn lửa xanh rất nóng, không có khói. Khi cả khối C 4 gắn lại với ngòi nổ có thể phá một chiếc cầu hay lô cốt) trong chiếc ca nhà binh để pha gạo sấy hoặc cà phê, thậm chí phì phèo chút khói thuốc lá Quân tiếp vụ, với điều kiện một anh làm chuyện đó thì hai người nơi chiếc hố bên cạnh phải chống mắt canh giặc. Hố cá nhân là phương pháp chống đạn pháo tốt nhất, nếu đào sâu đủ để ngồi xuống qua khỏi đầu, trừ khi trời gọi, đạn rơi ngay vào hố, hoặc nổ rất gần, hay quân địch dùng đạn loại phá hầm.
Quyển sách tiếng Anh tựa đề “Hell On Earth” tạm dịch “Địa Ngục Trần Gian” của tác giả James H. Willbanks có đoạn viết: “Sau hai lần tấn công thất bại, quân Bắc Việt thay đổi kế hoạch. Tư lệnh Sư đoàn 9 của CSBV(cộng sản Bắc Việt) bị khiển trách vì đã hai lần thất bại, và nhiệm vụ mới được giao cho Sư đoàn 5 CSBV làm mũi tấn công chính, hai Sư đoàn CSBV 7 và 9 đóng vai trò yểm trợ. Cuộc tấn công lần thứ ba bắt đầu vào lúc 05:00 sáng ngày 11/5/1972 với màn mưa pháo, hơn 10,000 quả đạn đại bác 130 ly bắn liên tục trong 12 giờ đồng hồ, dưới sự yểm trợ của hoả lực pháo binh, nhiều trung đoàn bộ binh cộng sản tấn công vào An Lộc cùng thiết giáp. Cuộc tấn công thật dữ dội, gần như xé đôi quân phòng thủ, và có lúc quân phòng thủ hầu như chịu không nổi.” [10,000 đạn pháo binh 130 ly bắn trong ngày này chỉ là ước đoán của hai tác giả người Mỹ. Theo Radar điện tử của Hoa Kỳ và “Biệt đội Tác chiến Điện tử” Sư đoàn 5 BB cho con số chính xác là 12,000.]
ĐÊM MƯA PHÁO
Làm sao có thể quên được cái đêm gần sáng ngày Thứ năm 11 tháng 5 năm 1972? Trong một căn hầm nổi, đào sâu dưới đất khoảng nửa thước, nhưng đi vào vẫn phải khom lưng, bao cát chất xung quanh chừa vài lỗ châu mai hướng ra ngoài, nóc hầm phủ hai lớp bao cát chỉ đủ để ngăn miểng pháo, nếu quả đạn rơi trúng thì cả lũ lên bàn thờ, thế cũng vui, không phải ra đi cô đơn. Diện tích căn hầm chưa đến ba thước vuông, rất nhỏ, chứa hơn 10 người, không ai có chỗ nằm cả, ngồi là may lắm rồi, chưa kể người giăng võng ngồi cong lưng hình chữ V ở trên và dưới võng lại là một anh khác. Không thở được, căn hầm đã chật, thêm vào hơi người lại toàn là những anh chàng “ít tắm” (tắm ở An Lộc là một xa xỉ, đế vương, sống mãi đâm quen đi) cát bụi, khói đạn bay mù mịt ở ngoài tạt vào hầm thật là khó chịu, chưa kể đến mùi đất. Lính chúng tôi nói đùa: “Tập ngửi mùi đất cho quen, mai mốt có nằm xuống cũng cảm thấy bớt khó chịu!” Ai tin dị đoan thì ráng chịu, đời lính nay sống, mai lên bàn thờ có gì đâu mà lạ? Theo Radar thăm dò điện tử của Hoa Kỳ, Đại tá William H. Miller cố vấn trưởng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 cho biết trong ngày hôm đó CSBV đã bắn vào An Lộc 12,000 quả đạn. Tất cả đều chuẩn bị vì chúng tôi biết khi pháo binh chấm dứt là chúng cho bộ binh và thiết giáp tấn công. [Đại tá William H. Miller làm việc bên cạnh Tướng Hưng và Ban tham mưu Sư đoàn 5 BB, ông phụ trách liên lạc trực tiếp với đơn vị B 52 đóng tại Thái Lan, và các đơn vị Radar tình báo kỹ thuật của Hoa Kỳ để nhận những thông tin chính xác qua các máy móc điện tử. Chính vì thế, nên họ biết được bao nhiêu quả đạn pháo binh của cộng sản bắn vào mỗi ngày, đường đi nước bước của quân Bắc Việt trong rừng, đưa lại kết quả B 52 rải bom rất chính xác.] Thử hỏi, “Nếu Hoa Kỳ tôn trọng những lời hứa trong Hiệp định Paris, họ sẽ can thiệp lại nếu phía cộng sản vi phạm những điều cam kết trên văn bản?” Thì tháng 4/1975 chỉ cần để B 52 quay lại trải thảm như An Lộc năm 1972, thì Sài Gòn đâu bao giờ phải mang tên xác người? Tổng thống Gerald Ford chỉ xin 300 triệu tiền quân viện cho VNCH, nhưng cái đảng Dân Chủ “khốn nạn” đã nhất định không phê chuẩn. Bầy khỉ từ rừng vào thành phố chẳng vì giỏi giang hay anh hùng gì cả, chúng vào được vì nhà cửa đã bị bỏ hoang. Từ 1975 đến nay chúng đã làm được gì? Một đất nước tả tơi, biển đảo bị xâm chiếm, ngư dân được phát cờ ra khơi bám biển, để hải quân ở nhà bám bờ! Chẳng lẽ số phận người Việt sẽ phải chịu tạm thời mất nước một lần nữa, trước khi dành lại được? Sẽ phải nếm mùi cộng sản để từ nay sợ đến già? “Ai chiến thắng chưa hề chiến bại? Ai nên khôn chưa dại đôi lần?” Tôi không mong điều này, nhưng lịch sử có cái ác nghiệt riêng của nó.





[Hình bên trái: Đại tá William H. Miller, Cố vấn Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH tại mặt trận An Lộc. Ông có mặt bên cạnh Chuẩn tướng Lê Văn Hưng từ ngày đầu tiên đến cuối cùng của trận chiến. Ông trực tiếp điều khiển B 52 từ Thái Lan rải bom trải thảm xung quanh An Lộc, các phi cơ AC-130 Spectres cũng do vị sĩ quan Hoa Kỳ đã từng tham dự Đệ nhị Thế chiến, Chiến tranh Hàn quốc và ba lần tham chiến tại Việt Nam hướng dẫn. Ông sinh ngày 9/8/1924 và qua đời ngày 28/2/2004. Hình bên phải: Thiếu Tướng James F. Hollingsworth thị sát An Lộc, tháng 10 năm 1972. Bên cạnh ông là một Đại tá Cố vấn Mỹ tại Sư đoàn 5 Bộ binh, không biết tên.] (Hình ảnh: Admin ĐN)
Trong hầm hôm đó, cùng chúng tôi có Đại uý Nguyễn Văn Minh, khoá 18 Thủ Đức, ông là cựu Đại đội trưởng 7/5 Trinh sát trước “Tuấn râu”, ra làm Tiểu đoàn Phó và có lệnh của Bộ Tư lệnh Sư đoàn về trình diện hậu cứ Lai Khê để đi nhận nhiệm vụ mới ở Tiểu khu. Vì không có máy bay di chuyển về Lai Khê, nên Đại uý Minh quay về ăn ở chung với lính Trinh sát, ông người cao lớn, với hàng ria mép rậm và rất “ngầu”. Trong cái đêm kinh hoàng đó, Đại uý Minh bị một miểng đạn pháo rất nhỏ chui qua lỗ châu mai, để lại một vệt máu trên sống mũi, và ông đã trả nợ núi sông. Đến sáng khi ngưng pháo, cộng quân bắt đầu tấn công, chúng tôi nghe tiếng xích xe thiết giáp cầy trên đường bên tiếng AK 47 và M 16 hai bên bắn nhau. Lính Trinh sát chôn vội Đại uý Minh ngay ngoài chiến hào, đứng chào ông lần cuối, sau đó lao vào cuộc chiến một mất một còn với địch quân.





[Hai bức hình trên cho chúng ta thấy rõ đạn pháo binh 130 ly của cộng quân tàn phá đến mức nào? Không thể do bom Mỹ được vì sức tàn phá của bom mạnh hơn rất nhiều, sẽ không có mảnh tường nào đứng vững được nếu bị ăn bom. Hình bên trái: Toà Hành chính Tỉnh Bình Long. Hình bên phải: “Giải phóng là như thế này đây” có khác gì chuyện cướp đất của đồng bào Thủ Thiêm, hay vườn rau Lộc Hưng hôm nay?] (Hình ảnh: Bruno Barbey.)
Đạn pháo của cộng quân mỗi ngày mỗi nhiều hơn, chúng bắn cả ngày lẫn đêm. Thị trấn bắt đầu trở thành khói lửa, khu chợ An Lộc, Toà Hành chính, Bệnh viện, Trường học, Bộ chỉ huy Tiểu khu, chẳng còn chỗ nào gọi là an toàn! Chẳng hiểu Bắc quân đánh giặc kiểu gì? Có thấy thằng VC nào mặc quân phục xuất hiện đâu? Ở xa cả chục cây số với tầm bắn của pháo binh 130 ly chúng bắn vô tội vạ, thậm chí đạn rơi ngay trên đầu đoàn người gồng gánh chạy nạn, nhà thờ, chùa chiền cũng chẳng tha. Đơn vị đóng quân trên đường từ Phú Lố, dân chạy vào thị trấn, kinh có, thượng có, vừa đi vừa gồng gánh, vừa khóc. Mẹ bố chúng nó, đứa nào lẻo mép tuyên truyền quân giải phóng đến đâu đồng bào chào đón đến đó. Hãy nhìn những bức ảnh do tác giả chụp dưới đây để xem dân chúng miền Nam sợ giặc miền Bắc ra sao? Không phải chờ đến mùa hè đỏ lửa 1972 người dân mới bỏ phiếu bằng chân cho “bác và đảng”. Lịch sử đã chứng minh năm 1954 hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam — Tết Mậu thân 1968, có người dân miền Nam nào hoan hô “giải phóng” đâu, ngoại trừ một dúm trí thức, trí ngủ nằm vùng! — Đến năm 1972, An Lộc, Kontum, Quảng Trị với “Đại lộ kinh hoàng!” Những hình ảnh dưới đây chụp đồng bào người Kinh và Thượng gồng gánh nhau chạy nạn cộng sản. Cái ác và khốn nạn nhất của cộng sản là chúng biết mọi người chạy trốn vào An Lộc, và chúng tạm ngưng pháo kích, không phải vì nhân đạo, chúng chỉ muốn tạo ảo tưởng cho họ là trong An Lộc bình an hơn, cứ vào đi. Khi màn đêm buông xuống, khi nồi cơm chưa kịp ăn, chỗ nằm chưa ấm, đám dân chúng vô tội đã đón nhận cơn mưa pháo ân huệ của bác và đảng. Pháo mịt mù, đạn nổ hơn cả sấm sét, pháo thủ cộng sản không cần toạ độ, cứ bắn thoải mái cho “Chết mẹ đồng bào miền Nam!” Tội nghiệp, lính Cộng hoà thì đã có hầm, người dân An Lộc nhà nào cũng có, chỉ dân tản cư là không. Họ chạy tán loạn, lấy lưng làm nắp hầm! Có mặt ở An Lộc, thời điểm lịch sử này, nhìn tận mắt xác người dân bị đạn pháo binh của cộng quân bắn tan nát đến không còn nhận ra hình thù, quả là một bữa “tiệc máu” được người lính miền Bắc dâng lên “bác” của chúng “đạt chỉ tiêu” và “đầy chất lượng” (chữ của cs)! Có ở An Lộc chúng ta mới thấm thía bài hát của Cục Chính Huấn, Quân lực VNCH: “Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào — Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em. — Hận thù đó! chất cao trong lòng người — Hận thù đó! chất cao trong lòng tôi, lòng anh. — Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù — Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.” Không phải là tuyên truyền, lời nhạc viết cho những “xác người” viết cho lịch sử hôm nay và ngàn năm sau, viết cho một cuộc chiến “khốn nạn” người Việt giết đồng loại!





[Hình bên trái: Đoàn người chạy trốn cộng sản từ hướng Phú Lố đi vào An Lộc, trong số này người Kinh có và Thượng có, tất cả tay sách nách mang, vừa đi vừa khóc. Hình bên phải: Lính Trinh sát 7/5 đóng quân trong một khu vườn bỏ hoang, ngay trên miệng hố cá nhân là súng chống chiến xa M 72, mọi người ăn, ngủ ngay bên cạnh hố cá nhân.] (Hình ảnh: NTT/1972.)
Với những sư đoàn thiện chiến từ miền Bắc vào, từ Lào qua, Campuchea đến. Với số lượng pháo binh 130 ly áp đảo đối phương ngay từ những ngày đầu, từ vài ngàn cho đến có hôm 12,000 quả đạn đại pháo được bắn vô tội vạ, cộng thêm những tiểu đoàn thiết giáp. Ưu thế quân sự rõ ràng, mặc dù trận chiến kéo dài 93 ngày (theo các tài liệu quân sử) nhưng giấc mơ “10 ngày An Lộc sẽ thành thủ đô của MTGPMN” của Nguyễn Thị Bình đã tan theo mây khói. Huyền thoại “Quân đội Nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng” nghe sao mà lố bịch, mỉa mai và trơ trẽn đến thế là cùng! Mang ra một lực lượng quân số đông gấp nhiều lần, vũ khí đạn dược bắn thả dàn không sợ thiếu, đánh một quận nhỏ với vài ngàn quân tử thủ, hơn ba tháng không xong thì anh hùng cái nỗi gì?






[An Lộc tan hoang, đổ nát! Giải phóng là thế này ư? “Vua Hùng có công dưng nước, Bác cháu ta thi đua phá nước.”]
(Hình ảnh: Bruno Barbey.]
An Lộc đứng vững nhờ sự hy sinh trên cả tuyệt vời của các chiến sĩ Quân lực VNCH thuộc đủ mọi quân binh chủng, các đơn vị Tiểu khu và Chi khu những người lính Địa Phương Quân biết từng con đường, từng ngõ ngách của thị trấn. Không thể quên được vai trò của Sư đoàn 5 Bộ binh, đơn vị trách nhiệm chính quy bảo quốc an dân Vùng 3 chiến thuật, Quân đoàn III, phụ trách ba tỉnh Bình Dương, Bình Long, và Phước Long. Sư đoàn 5 BB bị thiệt hại rất nặng, ngoài Trung đoàn 9 bị mất tại quận Lộc Ninh, hai Trung đoàn 7 và 8 còn lại hy sinh trên dưới hai phần ba quân số. Riêng tại Trung đoàn 7 Bộ binh, Tiểu đoàn 3/7 do Đại uý Định, Tiểu đoàn Trưởng, Đại uý Hoa, Tiểu đoàn Phó (không nhớ rõ tên họ của hai vị) cả hai sĩ quan này đều từ Nhẩy dù chuyển qua, đã hy sinh vì đạn pháo. Các bạn tôi, Trung uý Nguyễn Văn Hoà, xuất thân từ Thiếu sinh quân, khoá 24 Thủ Đức, vừa được đặc cách tại mặt trận lên Đại uý chưa được vài ngày thì ra đi vì đạn pháo khi anh trên đường đi họp tại Bộ chỉ huy trở về đơn vị. Tôn Thất Nguyện, Trung uý, khoá 2 Chiến tranh Chính trị Đà Lạt, tính tình hiền hậu, ăn nói giọng Huế nhỏ nhẹ, Đại đội Trưởng cũng vĩnh biệt anh em vì những viên đạn pháo. Chuẩn uý Nguyễn Văn Tân, và Chuẩn uý Nguyễn Văn Đệ, Trưởng toán Viễn thám, đền nợ nước ngay tại Phú Lố … Nhiều lắm, không nhớ được.
Đại đội 7/5 Trinh sát khi được trực thăng vận từ Lai Khê đến một cánh rừng gần Lộc Ninh, đơn vị chúng tôi có hơn một trăm chiến binh, không kể hậu cứ. Đến tháng 6/1972 chỉ còn 40 người, tính luôn cả các binh sĩ được bổ sung sau này, có nghĩa là lính Trinh sát chính gốc còn lại trên dưới 20. Hơn hai phần ba đại đội đã nằm xuống tại An Lộc, từ Phú Lố đến trận chiến chiếm lại Nhà tù An Lộc đã bị cộng quân chiếm giữ. Đại uý “Tuấn râu” được 44 đưa qua làm Tiểu đoàn Trưởng, Tiểu đoàn 3/7, mang danh là tiểu đoàn, nhưng lúc đó cao lắm thu lại chỉ còn khoảng một đại đội, tính luôn cả những thương binh không có phương tiện tản thương. “Tuấn râu” đi, thì “Tuấn nhô” lên, tôi nhận chức vụ đầu đàn Trinh sát 7/5 và ngày đầu tiên kiểm điểm lại quân số đại đội chỉ còn trên dưới 20 tay súng chưa bị đui què, sứt mẻ, hoặc chỉ bị thương nhẹ! Rất may, toàn là lính cũ, gắn bó với nhau qua nhiều thử thách từ trận Snoul, qua Bù Gia Mập, Đồng Xoài, Phước Long, Chiến khu C, Phú Hoà Đông … “Có bao nhiêu, chơi bấy nhiêu 95” tôi cảm động khi nghe các chiến binh dưới quyền khuyến khích bằng câu nói đơn giản như thế, không cần phải đao to búa lớn làm chi cho mệt. Người lính VNCH chiến đấu vì non sông, vì đất nước, không làm tay sai cho bất cứ một “đảng khốn nạn” nào cả. Người dân VNCH cũng chẳng cần thằng “lãnh tụ” nào để đời đời biết ơn. Chúng tôi sống thẳng lưng, cho đến khi nằm xuống.
Lữ đoàn 1 Nhẩy dù và Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù là hai đơn vị gieo rắc nỗi kinh hoàng cho cộng quân. Trên đường giải toả An Lộc, Lữ đoàn 1 Nhẩy dù tiến quân bằng đường bộ vượt qua Chơn Thành 7 cây số về hướng Bắc (An Lộc) đụng độ ác liệt với các ổ chống cự của cộng quân và thiệt hại rất nặng, nhưng cuối cùng đã quét sạch cộng quân, tiến vào An Lộc bắt tay với các đơn vị tử thủ.
Liên đoàn 81 Biệt cách Dù chiến đấu dũng cảm, để lại không biết bao nhiêu yêu thương và nước mắt, khiến một cô giáo tại An Lộc đã ngậm ngùi qua câu thơ: “An Lộc địa sử ghi chiến tích — Biệt cách dù vị quốc vong thân” nơi nghĩa trang an nghỉ của các anh ngay phố chợ An Lộc (nghĩa trang này hiện nay đã bị chính quyền csvn xoá bỏ không còn dấu tích.)





[Hình bên trái: Nghĩa trang 81 Biệt cách dù nằm bên cạnh ngôi chợ An Lộc hoang tàn đổ nát vì Bắc quân, hiện nay nghĩa trang này không còn tìm thấy. CSVN đã tìm đủ mọi cách phá đi những chứng tích lịch sử, tội ác không phải chỉ với người sống, mà chúng cũng không tha cả người chết. Hình bên phải: Các chiến sĩ Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù trên đường vào giải toả An Lộc. “Chàng từ đi vào nơi gió cát — Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?” Chinh Phụ Ngâm. Đặng Trần Côn.] (Hình ảnh: Picture of An Loc battle, Google.)
Ba Sư đoàn 21 + 18 + 9 Bộ binh của VNCH cũng tham chiến để giải toả Quốc lộ 13, mở ra đường tiếp tế cho An Lộc, giúp chặng đường phía nam quận lỵ an toàn để trực thăng của Không quân VNCH có thể tản thương, giúp chúng tôi bổ sung quân số. Mong các chiến sĩ trong các sư đoàn trên tha thứ cho người viết vì khả năng nhỏ bé, không được biết nhiều về đường tiến quân của các anh, cho nên chỉ vài lời tạ ơn đến từ trái tim.
“Tổ quốc Không gian” xin ngàn lần cám ơn các phi công Trực thăng, Khu trục, Chinook, và C 130 của Không quân VNCH. Không có các anh, chắc chúng tôi sẽ bị ăn tươi nuốt sống, Skyraider đánh bom Napal cách chỗ đóng quân từ 50 thước trở lại, chúng tôi chỉ còn biết ôm nón sắt ngồi thật sâu dưới chiếc hố cá nhân, đinh tai về tiếng nổ, da thịt nóng như bỏng vì ngọn lửa, để rồi sau đó là mùi khét của xác VC. Khi thả chúng tôi vào gần Lộc Ninh, Trực thăng các anh không chiếc nào về đến phi trường mà không đếm được vài chục vết đạn, chưa nói đến một số bị bắn hạ trong rừng. Trong khi viết bài này, tôi may mắn đọc được một bài viết tựa đề “Trung Uý Phạm Văn Công trưởng phi cơ C-123K và phi hành đoàn hy sinh vì Tổ Quốc tại An Lộc”. Bạn đọc có thể tìm theo địa chỉ sau: http://www.canhthep.com/modules.php?...t=360&last=419. Các anh phi công đã ra đi không hẹn ngày về, lỗi đạo với vợ con và gia đình, cũng chỉ vì đem lương thực tiếp tế cho chúng tôi. Tổ quốc Ghi ơn các anh!





[Hình bên trái: Phi cơ Trực thăng đổ quân.. Hình bên phải: Phi đoàn 518, Sư đoàn 3 Không quân, Biên Hoà] (Hình ảnh: KQ/VNCH và Chiến trường An Lộc https://www.google.com/search?sxsrf + T/U Nguyễn Văn Chuyên, Phi đoàn 518, Sư đoàn 3 KQ Biên Hoà.)
LƯU DANH SỬ SÁCH
Nói đến An Lộc không thể không vinh danh Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư đoàn 5 BB (sau mặt trận An Lộc lên Thiếu tướng) và Đại tá Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Phó Sư đoàn 5 BB (có tài liệu nói Đại tá Vỹ là Chỉ huy Bộ Tư lệnh nhẹ Quân đoàn 3 tại An Lộc, sau trận chiến lên Chuẩn tướng.) Trong trận đánh của Đại đội 7/5 Trinh sát từ Ty Công chánh An Lộc qua tái chiếm lại nhà tù An Lộc chỉ cách nhau một con đường, nhưng chúng tôi trả giá khá đắt, vì VC có lợi thế là tử thủ trong các lô cốt bê tông cốt sắt, mỗi góc nhà tù lại thêm những vọng gác cao xây trên lô cốt. Chưa kể các phòng giam, mặc dù đã bị pháo kích đến không còn nhận ra, nhưng những bức tường chỗ nào còn đứng được đều trở thành lợi thế ẩn núp cho địch quân. Trong khi đó, quân ta bên Ty Công chánh chỉ có giao thông hào và hố cá nhân, bên nào bất lợi thì đã rõ. Nhà tù dĩ nhiên là các vọng gác phải kiên cố, đạn M 79 chỉ là gãi ghẻ, đơn vị có M 72 súng bắn chiến xa, nhưng số lượng hạn chế nên phải để dành để “nướng cua” (bắn chiến xa.) Tôi đã bị thương nơi đùi vì đạn pháo của VC tại đây, vết thương cũng không mấy nặng so với đồng đội, nhưng cũng được cho về chỉ huy đám thương binh trong hai tuần, phụ trách bảo vệ hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng.
Căn hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng được dựng bằng các tấm vỉ sắt dùng để lót phi trường, bao bọc xung quanh là lớp bao cát dầy, nguỵ trang ngay sau một dẫy nhà của trường Trung học An Lộc. Từ đường chính trước mặt là Quốc lộ 13 sẽ bị che khuất bởi dẫy nhà này. Căn hầm khá rộng, đủ để Ban Tham mưu, Truyền tin, và cố vấn sinh hoạt. Những thương binh nặng được cho ở cùng trong hầm để bác sĩ có thể yên tâm điều trị. Chính vì thế, số người đông, căn hầm trở nên chật chội. Tướng Lê Văn Hưng, ở ngoài chiếc áo giáp của ông đeo hai bên là hai quả lựu đạn “mini”, có thế thôi. Không phù hiệu, cấp bực, khi nóng quá ông cởi áo giáp mắc lên chiếc ghế sắt và chỉ mặt áo lót. Đại Tá William H. Miller là Cố Vấn Trưởng Hoa Kỳ bên cạnh Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. Thỉnh thoảng, tạm ngưng công việc trong giây lát, Tướng Hưng ra nói chuyện với các thương binh. Ám danh đàm thoại trên truyền tin của Tướng Hưng là “54” (Tư lệnh) và của Đại Tá Vỹ là “45” (Tư lệnh phó,) một hôm “54” hỏi thăm tôi:
- Em bị thương hôm nào, có nặng không?
- Thưa “54” cũng nhẹ thôi.
- Ráng lên em. Qua sẽ ở cùng các em đến giây phút cuối cùng.
- Sao “54” chỉ đeo có hai trái “mini”? Tôi hỏi.
- Trái đầu cho tụi nó, và trái thứ hai dành cho Qua. Ông mỉm cười trả lời dí dỏm.
Thiếu tướng Lê Văn Hưng đã giữ đúng lời hứa, “Tướng chết theo thành” ông đã tự sát vào ngày 30/4/1975, trước khi chào tạm biệt vợ con và chiến hữu. Ông yêu cầu vợ con và thuộc cấp ra ngoài, đóng cửa phòng, và một tiếng súng vang lên, đưa người về với non sông, đất nước.
Trong cuộc chiến An Lộc, Đại tá Lê Nguyên Vỹ rất âm thầm làm việc. Một mình ông, mặc áo giáp, đội nón sắt, đi thăm từng đơn vị với hai người cận vệ và một truyền tin. Ông cũng không đeo cấp bậc, tính tình khá nóng nẩy, giọng nói khàn khàn. Có một hôm, hai chiếc xe thiết giáp của cộng quân lầm lũi tiến vào thành phố ban ngày. Một chiếc đã vào trong sân trường nơi đặt Bộ chỉ huy của Sư đoàn 5 BB, chiếc xe này đậu ngay trước phòng học đằng sau là hầm chỉ huy, lính Bắc Việt không nhận ra, đằng sau cái vẻ hiền hoà của căn phòng trống kia là một rừng an ten truyền tin. Chúng đang ngơ ngáo, thì Đại tá Lê Nguyên Vỹ chụp một khẩu M 72 ra trực xạ và chiếc xe cháy bùng lên. Đại tá Vỹ là người đầu tiên hạ chiến xa của cộng quân tại An Lộc.





Sau chiến thắng An Lộc, Đại tá Lê Nguyên Vỹ lên Chuẩn tướng, và trở thành vị Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 5 BB. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự sát tại Lai Khê vào ngày 30/4/1975.
Tôi rất hãnh diện được phục vụ dưới quyền, và may mắn được tiếp xúc trực tiếp với hai vị Tướng “uy vũ bất năng khuất.” Xin thành kính nghiêng mình trước hai người anh cả của đơn vị.
Chưa bao giờ tự nhận mình là đội quân “bách chiến, bách thắng” trong chiến tranh có lúc được và lúc thua, nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ mãi mãi hãnh diện về những cấp chỉ huy can đảm chọn cái chết để lưu danh muôn thuở. Lịch sử sẽ ghi tên Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 — Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 — Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 BB — Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 BB — Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 — Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh trưởng Cần Thơ, người đã bị cộng sản đem ra xử bắn vì đã chống đối đến giây phút cuối cùng. Còn rất nhiều những tấm gương anh hùng khác: — Đại tá Đặng Sĩ Vinh, cùng vợ và 7 con đã tự sát ngày 30/4/1975 — Trung tá Nguyễn Văn Long, tuẫn tiết trước toà nhà Quốc hội VNCH (nay là công viên phố đi bộ trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn.)
Theo nhiều tài liệu, sách báo cả Việt lẫn Mỹ thì cộng sản đã mở ra tổng cộng 7 cuộc tấn công vào Quận An Lộc trong 93 ngày đêm. Với quân số và vũ khí gấp bốn lần phía VNCH, trong chiến tranh bên tấn công bao VC giờ cũng có nhiều lợi thế hơn bên phòng thủ VNCH. Với ưu thế rõ ràng không thể chối cãi, tại sao cộng quân thua? Chúng ta có thể thấy qua vài nguyên nhân dưới đây:
+ Không có chính nghĩa, người dân An Lộc đang sống trong bình an, trẻ em cắp sách đến trường, phố chợ buôn bán bình thường. Chỉ vì cộng sản Bắc Việt muốn chiếm thị xã để làm thủ đô cho cái mặt trận bù nhìn MTGP do chúng dựng ra, thế là chúng đem quân lính, xe thiết giáp, và đại pháo 130 ly vào quét sạch, đốt sạch, giết sạch mọi người. Quân xâm lăng đã phải trả giá.
+ Đưa vào cuộc chiến một lực lượng rất lớn gồm nhiều sư đoàn bộ binh, thiết giáp và pháo binh. Quân cộng sản không hề nhận được sự giúp đỡ của dân chúng An Lộc như họ tuyên truyền. Chiến xa đi vào thành phố ngơ ngác không biết đường, quay tới, quay lui, cuối cùng làm mồi cho chiến sĩ VNCH. Du kích địa phương của CS cũng không biết nhiều về địa hình thành phố, cho nên việc hướng dẫn bộ đội cứ như thằng chột dẫn thằng mù. Pháo binh CS quả đã làm quân và dân An Lộc thiệt hại nặng nề, chết vô số kể, nhưng không thể tàn sát tất cả. Một mình pháo binh không thể tạo ra chiến thắng.





[Theo tài liệu tổng số xe thiết giáp đủ loại của cộng quân bị hạ tại An Lộc do các binh chủng Quân Lực VNCH bắn bằng súng M 72, hoặc do phi cơ AC-130 Specter và B 52 là 45 chiếc. Khi CSVN vào chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, không hề gập một chống đối, nhưng sau đó dàn cảnh cho quay phim một chiếc xe thiết giáp húc đổ cánh cửa dinh. VNCH không có thói quen đóng phim tuyên truyền bịp bợm, rẻ tiền như thế!] (Hình ảnh: Bruno Barbey.)
+ Quân cộng sản chưa hề được huấn luyện chiến thuật bộ binh đánh giặc cùng thiết giáp (tùng thiết.) Theo nguyên tắc, bộ binh luôn luôn phải đi trước để khám phá và dọn dẹp những ổ phục kích chống xe tăng, và thiết giáp đi sau bộ binh yểm trợ với hoả lực mạnh. Quân lực VNCH rất giỏi về chiến thuật “tùng thiết.” Lính Bắc Việt thì làm ngược lại, họ để thiết giáp (VC gọi là bộ đội tăng) đi trước đỡ đạn, và bộ binh đi sau. Thiết giáp như thằng mù, và trở thành mục tiêu bắn hạ một cách dễ dàng của VNCH. Thú thật, những ngày đầu, nghe tiếng xe thiết giáp của VC gầm rú trong bìa rừng, chúng tôi cũng sợ và mất tinh thần! Đừng tin những tuyên truyền bố láo về “thằng ngu” nào đó “lấy thân mình lắp lỗ châu mai!” Mẹ nó, khi súng nổ chỉ có thằng điếc mới không biết sợ. Nhưng khi Đại tá Lê Nguyên Vỹ hạ chiếc xe đầu tiên một cách dễ dàng, nỗi sợ trở thành “trò chơi” mang tên “săn cua” cho lính VNCH. Khi thiết giáp đi đầu bị cháy, đám bộ binh VC theo sau nhanh chóng mất tinh thần, “chạy thì sống, chống lại là toi theo bác ngay!” Chưa nói đến các quân nhân VNCH còn sáng chế một kiểu hạ xe thiết giáp, họ dùng thuốc bồi pháo binh 105 ly, cột vào lựu đạn cá nhân, ném vào xe của địch.
+ Phi cơ AC-130 Spectre dùng đại bác bắn trực xạ từ trên trời xuống và bộ binh ở dưới có thể giúp điều chỉnh từng 5–10 thước. Trinh sát 7/5 chúng tôi đã phải nhờ đến phi cơ AC-130 Spectre để triệt hạ mấy cái lô cốt ở nhà tù An Lộc. Thú thật, khi ở mặt trận An Lộc chúng tôi không hề biết đến loại phi cơ đặc biệt này, trên máy bay trang bị đại bác 105 ly và các loại súng 40 ly + 20 ly. Ban đêm, bạn không thể thấy nó và khi bắn chỉ nghe dưới đất những tiếng nổ rời rạc bùm, bùm. So với đạn pháo binh VC rải như mưa sa, bão táp thì chẳng thấm vào đâu. Nhưng hãy cất đi sự thiếu hiểu biết của mình để học hỏi thêm về kỹ nghệ chiến tranh của Mỹ, bạn sẽ ngạc nhiên về những gì tai nghe, mắt thấy. Khi Trinh sát 7/5 tấn công vào nhà tù An Lộc, chúng tôi gập cản trở rất lớn vì mấy cái lô cốt kiên cố do chính VNCH xây và bây giờ VC tạm trú. Bộ chỉ huy Sư đoàn 5 quyết định gọi AC-130 Spectre giúp:
- 95, 44.
- 44, 95 nghe.
- Anh cho con cái ăn mặc đàng hoàng (ý nói trang bị súng đạn, áo giáp đầy đủ) có người đẹp đến thăm (AC-130 Spectre.)
- Tôi nhận rõ 44.
Hệ thống truyền tin của VNCH tại An Lộc không được an toàn vì cộng quân đã chiếm khá nhiều máy cũng như đặc lệnh truyền tin của quân ta, tần số nào chúng nó cũng nhẩy vào, có lúc cả hai bên cãi nhau hoặc chửi thề trên máy. Chính vì thế, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng ra lịnh hạn chế tối đa nói qua máy PRC 25. Tôi đã được họp trước cùng Trung tá Lý Đức Quân “44” và Đại tá Cố vấn Mỹ William H. Miller của Sư đoàn 5 BB và biết trước sẽ có máy bay AC-130 Spectre đến giúp, để thanh toán mấy cái lô cốt thổ tả, cho nên không cần nói nhiều. Đầu tiên, phi cơ sẽ bắn vào mục tiêu định sẵn bằng một viên đạn đại bác 20 hoặc 40 ly, ở dưới đất tôi quan sát xem và từ đó điều chỉnh từng thước một về hướng bắc, nam, hay từ đông qua tây. Khi viên đạn thứ hai trúng mục tiêu, chỉ cần nói qua máy: OK. Thế là đạn pháo 105 ly từ trời rơi xuống cực kỳ chính xác, đưa con cháu bác về gập bác!
Người đẹp AC-130 Spectre “trên cả tuyệt vời” nàng bắn và điều chỉnh bằng radar điện tử, chỉ vài phút đến thăm, đã quét sạch đám thổ phỉ. Trong đêm tối, lính Trinh sát tiến vào khu nhà tù An Lộc không còn bị VC từ lô cốt bắn ra nữa. Theo nhiều bài viết về trận An Lộc của các phóng viên chiến trường Mỹ & VNCH, cô nàng AC-130 Spectre cũng nướng khá nhiều xe thiết giáp của cộng quân trong rừng, trên máy bay có máy quay phim dùng hồng ngoại tuyến có thể nhìn qua màn đêm, cho nên họ đếm được từng con “cua sắt” và hạ một cách dễ dàng.





[Hình bên trái: AC-130 Spectre trang bị đại bác 105 ly bắn trực xạ, điều chỉnh mục tiêu từ 5–10 thước một bằng đại bác 40 hoặc 20 ly, khi đơn vị dưới đất xác nhận, đạn 105 ly sẽ phá huỷ mục tiêu. Hình bên phải: B 52 có thể trải thảm mục tiêu rộng hàng cây số và rải bom chồng chéo lên nhau. Một chiếc B 52 mang trong lòng máy bay 84,500 pound bom = 38,363 kg + 24,750 pound bom gắn hai bên cánh, tương đương với 11,236 kg. Tổng cộng, một chiếc B 52 mang theo 108 quả bom, trọng lượng 109,250 pounds = 49,599 kilograms. Với số lượng khủng khiếp trong một lần rải bom này, đủ để xoá sổ một sư đoàn Bắc Việt.] (Hình ảnh: Google.)
+ B 52 trải thảm, có khi cách vị trí đóng quân 500 thước, không đẹp, không lấy tiền. Một số toán Viễn thám và Trinh sát của nhiều binh chủng tham chiến được chia thành từng toán nhỏ khoảng 5 người một, đi sâu vào rừng, tránh né giao tranh, chấm toạ độ các đơn vị CS và phần còn lại giao cho B 52 làm việc. Đi thành từng toán nhỏ rất an toàn, không sợ pháo binh của địch, dễ lẩn trốn, và cuối cùng cộng quân ỷ có quân số đông nên coi thường chuyện phải giữ bí mật. Chúng ồn ào như đi chợ, xuống suối tắm rửa thoải mái, quân ta chỉ cần chấm toạ độ chính xác, báo về cấp trên, và nhận ám hiệu qua máy truyền tin rút lui khỏi vùng khoảng 15–20 phút trước khi B 52 đến làm cỏ.
Nói một cách công tâm, B 52 đóng vai trò vô cùng quan trọng với hằng trăm phi vụ, rải xuống hằng ngàn tấn bom nơi những cánh rừng cao su xung quanh An Lộc. Quân CSBV tập trung ở trong rừng, cách xa An Lộc một hai cây số, pháo binh của chúng tung hoành vì không có đối thủ, xe thiết giáp của chúng chạy suốt đêm, bật đèn như đi trên xa lộ thoải mái. Nơi vị trí phòng thủ, quân VNCH chỉ cần bình tĩnh quan sát, chấm toạ độ chính xác, gửi cho Bộ chỉ huy của Tướng Hưng, đơn giản có thế thôi. Như đã nói phần trên, hệ thống truyền tin của VNCH không còn an toàn nữa, cho nên Tướng Hưng đã họp từng đơn vị trưởng một tại hầm chỉ huy, vẽ trước trên bản đồ hành quân những ô hình chữ nhật bao vây kín An Lộc (mỗi một ô hình chữ nhật là một mục tiêu trải thảm cho B 52, và được mã hoá bằng một tên riêng, để cho dễ nhớ, tên các ca sĩ nổi tiếng của VNCH đều được dùng) các ô này chồng chất, xen kẽ lên nhau, để không một lính “cụ hồ” nào thoát.
- 95, 44. Em có nghe chương trình “Dạ Lan?” (Dạ Lan là tên chương trình phát thanh trên làn sóng Đài phát thanh Quân đội và Sài Gòn, rất nổi tiếng, với giọng nữ của Dạ Lan ngọt như mật, dân Sài Gòn trước 1975 ai cũng biết.) Ám hiệu cho biết sắp có B 52, và chuẩn bị điều chỉnh mục tiêu.
- 44, 95, dạ có, em thích nghe Khánh Ly và Thanh Lan (tên mục tiêu đã định sẵn) Thế là chỉ vài phút sau hai khu vực hình chữ nhật trên bản đồ hành quân đã rùng mình như động đất, giúp con cháu bác thoả mãn ước mơ “sinh bắc, tử nam.” [Để giữ bí mật tối đa, mỗi đơn vị nhỏ như chúng tôi chỉ được phép biết trước một vài mục tiêu của địch trong khu vực mình, và mã hoá các mục tiêu đó, khi họp trực tiếp với cấp cao hơn. Không dùng toạ độ, mật khẩu đơn giản như nói chuyện gia đình hay chuyện tếu, và ngắn gọn. Có hôm 44 nói qua máy, em còn chai bia con cọp nào không? Như thế là biết sắp có B 52. Trả lời, dạ hết bia rồi, 44 dùng tạm Coca nhé? Coca là tên mục tiêu xin thả bom.]
Dĩ nhiên quân CS không ngu dại gì mà tập trung để ăn bom! Giải quyết vấn đề này không mấy khó, các khu vực hình chữ nhật là mục tiêu, sẽ được đặt chồng chéo lên nhau, đánh từ vị trí gần nhất nơi quân ta tử thủ tại An Lộc (bom thả cách chỗ đóng quân VNCH 500 mét) và từ từ đi ra xa. Đơn vị CS nào tiến gần quân ta nhất, sẽ được ưu tiên nếm mùi B 52, các “đồng chí” ở xa rồi sau đó cũng được hưởng. Chưa kể là các mục tiêu được đánh đi, đánh lại nhiều lần, không có một vùng nào an toàn cho con cháu “bác hồ” cả!
LỊCH SỰ NHƯ “NGUỴ”
Cho đến nay (2019) các sách giáo khoa hoặc tài liệu lịch sử của người Việt trong nước vẫn còn bị CSVN tuyên truyền bịp bợm. Họ mô tả Quân lực và chế độ VNCH là “nguỵ” Học sinh, từ tiểu học đến đại học được “nhồi sọ” “lính Mỹ Nguỵ gian ác vô cùng, chúng giết trẻ em, hiếp dâm phụ nữ ..” Chính những tuyên truyền “rẻ tiền” dưới thời đại “tin học” này khiến người dân từ Bắc chí Nam đã “sáng mắt, sáng lòng” xa rời bác và đảng. Thành phần còn bám vào CS chẳng qua là họ còn kiếm ra tiền vì dựa hơi đảng mà thôi! Hoặc nhờ đảng mà ăn cướp nhà của “nguỵ” và đất của “dân” ăn nên làm ra.
Quay trở lại An Lộc năm 1972, VNCH hy sinh nhiều không phải vì trực tiếp chiến đấu với quân CS, tỉ lệ chết vì giao tranh rất ít. Đa số chết hay bị thương vì đạn pháo kích của cộng quân mà thôi. Ưu thế ngay trong những ngày đầu của cộng quân chính là hoả lực pháo binh 130 ly của họ, với diện tích 4 cây số vuông, mỗi ngày nhận từ vài trăm đến vài ngàn quả đạn pháo, thì thiệt hại về nhân mạng cho cả thường dân lẫn quân đội VNCH là đương nhiên. Sau cái đêm VC pháo kích hơn 12,000 quả đạn đại bác 130 ly, tiểu đoàn 3/7 của Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 bị tổn thất nặng nề, Đại uý Định, Tiểu đoàn trưởng 3/7 và Đại uý Hoa, Tiểu đoàn phó hy sinh. Trinh sát 7/5 được lịnh ra trám tuyến và nhận bàn giao để canh giữ một tù binh Bắc Việt tên Trần Anh Vũ, để chờ khi trực thăng đáp được, người tù binh này sẽ đưa về Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 tại Lai Khê.
Trần Anh Vũ bị thương ở chân, khi Tiểu đoàn 3/7 giao anh ta cho Trinh sát 7/5, ra lệnh cởi khăn bịt mắt, tôi thấy một khuôn mặt rất trẻ bên một cơ thể ốm yếu, nước da xanh như bị sốt rét! Thật là tội nghiệp, chúng tôi là đơn vị tác chiến, không phải là An ninh “Phòng 2” cho nên cũng không được phép tra hỏi tù binh, và cũng không chuyên môn để làm việc này. Nhiệm vụ chỉ là tạm giữ anh ta cho đến ngày đưa được về Lai Khê, có thế thôi. Trong chiến tranh, dù ở bên nào cũng thế, có một quy luật chung là: Nếu tôi không bắn anh, thì anh cũng bắn tôi. Nhưng khi đã buông súng, Quân lực VNCH có luật rất nghiêm trong nguyên tắc đối xử với tù binh.
An Lộc tiếp tục bị pháo kích, đạn từ trên rơi xuống, trời gọi thằng nào, thằng đó đi! Trực thăng không xuống được, có nghĩa là đơn vị sẽ phải giữ Trần Anh Vũ lâu. Tuần đầu tiên, Vũ không còn bị bịt mắt, trói tay, tôi nói với anh ta:
- Anh không muốn bịt mắt hay trói tay em làm gì, em đang bị thương cần để y tá chăm sóc. Tốt nhất là em cứ ngoan ngoãn đừng trốn, vì em đi ra ngoài nhìn nước da em là ai cũng biết thôi, chưa kể lính các đơn vị khác họ có thể bắn em. Hơi “hù doạ” một chút, nhưng cũng là thật.
- Em cám ơn anh, Vũ trả lời và nhìn tôi với đôi mắt biết ơn.





[Tù binh cộng sản Bắc Việt, Trần Anh Vũ, bị Tiểu đoàn 3/7 bắt sống tại mặt trận An Lộc năm 1972, sau đó Vũ được bàn giao cho Đại đội 7/5 Trinh sát tạm giữ để chờ Trực thăng di chuyển về Lai Khê.] (Hình ảnh: NTT 1972.)
Chỗ an toàn nhất cho Trần Anh Vũ là ở cùng hầm với tôi. Vũ cũng rất biết điều, cậu ta phụ giúp những người lính trong ban chỉ huy đại đội nấu cơm. Những ngày không có giao tranh, tôi cũng hay hỏi thăm Vũ về gia đình: 18 tuổi, quê quán tại Bắc (vì lâu ngày tôi không nhớ rõ tỉnh hay huyện nào,) chưa kịp có người yêu, nhưng cũng đã yêu trộm nhớ thầm một cô bé trong làng. Lính thuộc Công trường 5 CS (công trường có nghĩa là sư đoàn theo cách gọi của CS.)
Ăn khẩu phần cơm xấy, thịt hộp của VNCH chẳng bao lâu Vũ khác hẳn, trông đẫy đà hơn, chỉ phải cái nước da vẫn còn hơi xanh (cái mầu xanh bệnh hoạn của sốt rét rừng.) Giữ mãi anh chàng này cạnh mình cũng chẳng được tích sự gì, tôi quyết định cho Vũ một bộ quần áo lính VNCH, gỡ hết phù hiệu đơn vị ra, tặng thêm cậu ta một chiếc nón sắt che cái “gáo dừa” và cho Vũ đi theo người lính của mình lang thang trong khu vực gần chỗ đóng quân lấy nước nơi những chiếc giếng bỏ hoang vì gia đình đã di tản, trong lúc đó Vũ cũng rất nhanh nhẹn hái những bó rau có thể tìm được. Bữa cơm của chúng tôi ăn chung với nhau, với tài đi tìm rau cỏ của Vũ đã trở nên ngon hơn. Niềm tin đến rất nhanh, ở một nơi sống chết chỉ cách nhau vài phút như An Lộc, thời gian tìm hiểu và tin tưởng nhau cũng nhanh không kém, Vũ được chia phiên gác cùng các anh em, được hướng dẫn cách dùng súng M 16, được phát một chiếc áo giáp (những món này thì không thiếu, để lại từ những bạn bè, đồng đội đã hy sinh.)
Có lúc tôi hỏi Vũ: — Nếu chẳng may CS lật ngược thế cờ thì em sẽ đối xử với tụi anh ra sao? Chẳng cần suy nghĩ lâu, câu trả lời:
- Các anh đối xử với em quá tốt, em không thể nào phản bội các anh. Bộ đội họ là anh em cùng quê với em, cũng không thể nào bắn họ, em nghĩ mình sẽ tự sát.
Tháng 7/1972 An Lộc xem như hoàn toàn được giải toả, một hạ sĩ quan Phòng 2 Sư đoàn 5 BB đón nhận Trần Anh Vũ từ đơn vị chúng tôi và lên trực thăng cùng với thương binh bay về Lai Khê. Vũ đã khóc, và chúng tôi ngậm ngùi chia tay. Tại bãi đáp trực thăng, tôi nói với người hạ sĩ quan P 2 là hãy đối xử tốt với Vũ và đêm trước ngày đó tôi cũng khuyên Vũ là em nên xin “Chiêu hồi.” Không biết Vũ có nghe theo không? Muốn biết chính sách Chiêu hồi của chính phủ VNCH ra sao, xin mời vào Google đánh hai chữ “Chiêu Hồi” bạn sẽ có 24,900,000 bài viết trong 0.68 giây. VNCH có hẳn một Bộ mang tên “Bộ Chiêu Hồi.”
NÓI DỐI KHÔNG BAO GIỜ BIẾT XẤU HỔ!
Cuộc chiến anh em một nhà đánh nhau chí mạng có thắng chẳng lấy gì làm vinh, và có thua cũng không gì phải nhục. Chẳng có “Mẹ Việt Nam Anh hùng” nào mà lại vui mừng nhìn đàn con đánh nhau đến chí tử! Nếu có, đó chỉ là “Mẹ Việt Nam Bất hạnh” mà thôi! Cái khốn nạn nhất là “bên thắng cuộc” đã “vô liêm sỉ” tạo ra “nguỵ sử” (viết sử không đúng sự thật) để tự đề cao mình và đổ lỗi cho bên thua. Cái gì, chứ đức tính “vô liêm sỉ” này người cộng sản Việt Nam có thừa và họ đang truyền lại cho những thế hệ mai sau. Nhà văn, Nguyễn Khải cựu Đại tá CSBV, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, đã cay đắng nhận xét:





[Người dân vì muốn sống còn, đành phải nói dối theo, nghe sao mà tủi thân quá! Hình bên phải là tấm bia minh chứng cho nhận xét của ông Nguyễn Khải.] (Hình ảnh: Nhà văn Nguyễn Khải, lấy trên Google. Hai bức về mộ tập thể: NTT 1972.)
Ngày 8/6/2019 chúng tôi trở lại An Lộc viếng thăm chiến trường xưa, chỗ đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là một khu vực đặt đài kỷ niệm “Di tích Lịch sử Văn hoá — Mộ 3,000 Đồng bào tại An Lộc.” Vào phía trong bên trái là một mô đất cao khoảng chưa đến nửa thước, diện tích khoảng 100 thước vuông được ghi đây là mộ của 3,000 người chôn tập thể, bên phải của mô đất là tấm bia như sau:
“Bia Dẫn Tích — Mùa hè năm 1972, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới của địch ở phía Bắc Sài Gòn. Ngày 13/4/1972 quân giải phóng bắt đầu tấn công vào thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long. Để đối phó với sức mạnh tấn công của quân giải phóng và trước nguy cơ thất thủ An Lộc, Quân lực Việt Nam Cộng hoà đã sử dụng tại An Lộc một lượng khí tài rất mạnh bao gồm pháo đạn, xe tăng, B 52 … ngày đêm liên tục bắn phá (1). Trong suốt 32 ngày đêm (từ 13/4/1972 đến 15/5/1972.) (2) Chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đã bắn phá, thả bom vào các công trình dân sự như nhà thờ, trường học, bệnh viện … nơi có rất nhiều đồng bào tập trung để tránh bom, đạn. (3) Sau những ngày chiến sự, do số người chết quá nhiều Quân lực VNCH đã dùng máy ủi hai hố lớn và đưa khoảng 3,000 người chết xuống những hố này để chôn tập thể. Để ghi dấu sự đau thương tổn thất của đồng bào An Lộc trong cuộc chiến năm 1972 và sự khắc nghiệt của chiến tranh, ngày 01/4/1985 Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận mộ tập thể 3,000 người là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.” Ghi lại nguyên văn bia trong hình.
(1) Dùng suy nghĩ của một người có trí thông minh tối thiểu, đọc bài viết, bạn sẽ thấy ngay từ tuần đầu tiên, pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã bị huỷ diệt bởi pháo binh 130 ly của cộng sản, xe tăng VNCH hoàn toàn không có, zero, và B 52 thì có, nhưng làm gì có chuyện B 52 thả bom vào thành phố? B 52 thả bom sát tuyến VNCH thì có, nhưng chỗ đó thì dân còn đâu nữa, họ đã bỏ chạy từ lâu rồi.
(2) Trong suốt 32 ngày đêm, đây là một dối trá nữa, cuộc chiến theo tất cả các tài liệu chỉ cần vào Google đánh ba chữ “An Lộc Battle” trong 0.85 giây, bạn sẽ có 16,800,000 bài viết bằng cả tiếng Việt lẫn Anh ngữ, đều nói cuộc chiến kéo dài hơn nhiều: 93 ngày. Tại sao CS lại giảm đi số ngày giao tranh? Vì mang cả một đại đơn vị, với xe thiết giáp, đạn pháo binh thừa thãi mà trong 93 ngày không thanh toán được mục tiêu 4 cây số vuông, thì còn mẹ gì nữa huyền thoại quân đội ta “bách chiến, bách thắng?” Đạn pháo binh 130 ly của CS bắn vào An Lộc, chuyện này tất cả những người dân từng sống ở đây đều biết, nhà thờ, trường học, bệnh xá, tất cả đều là nạn nhân của đạn pháo CS, đơn giản có thế thôi. Quân lực VNCH sống ngay trong thành phố và bảo vệ thành phố, sao lại tự mình bắn phá, thả bom lên chính mình?
(3) Quân lực VNCH lấy đâu ra máy ủi tại An Lộc, Ty Công chánh nơi đơn vị TS 7/5 của chúng tôi đóng quân, còn lại một vài chiếc xe làm đường đã bị bắn nát tan không còn nhận ra hình thù!
KẾT LUẬN
Nhìn lại lịch sử một cách công bằng, chúng ta có thể kết luận:
+ 100% người dân ở An Lộc đều chết vì đạn pháo binh 130 ly của cộng sản Bắc Việt. Đừng đổ lỗi cho Mỹ Nguỵ nhé, lập luận đó vừa ngu, vừa hèn, không ai tin đâu.
+ 100% bộ đội CS chết trong những cánh rừng xung quanh An Lộc là do bom B 52. Đơn giản có thế thôi. Chẳng có dân nào trong rừng cả, chỉ toàn là “vịt con” thôi.
Cướp được chính quyền, tự mình bầu cho mình, cho nên cái tính rừng rú, thảo khấu “Nói dối lem lẻm, nói dối lì lợm, nói dối không bao giờ biết xấu hổ, và không hề run sợ” cho đến nay vẫn không từ bỏ được!
Cũng giống như tầu Trung cộng đâm vào tầu đánh cá của ngư dân Việt Nam, đảng anh hùng cứ nhất định, gọi đó là “tầu lạ”, đánh giặc thì hèn, nói dối thì quen.
Hôm nay, khi tầu Trung cộng vào sâu trong bãi “Tư chính” xâm phạm chủ quyền Việt Nam, toàn đảng, toàn quân câm như hến. Quân đội Nhân dân anh hùng đâu? Tầu ngầm Kilo đâu? Hay là “quân đội ta” (chữ của VC) “Trung với đảng, ác với dân” cho nên chẳng cần nói nhiều.
Hãy trả lại sự thật cho lịch sử!
Nguyễn Tường Tuấn
tuan@1TeamConcept.com
11/09/2019

 Trận đánh tại thị xã An Lộc

NHNBây giờ mà người cầm bút cứ hay nói đến đề tài chiến tranh có vẻ như nặng về hoài cổ, không hợp thời lắm, tự tôi cũng đôi khi mang mặc cảm như vậy, bởi cuộc chiến gần nhất cũng đã trôi qua ngót một nửa thế kỷ rồi. Nhưng khi về tỉnh Bình Phước, chứng kiến những di ấn của cuộc chiến, tôi lại nhận thấy cái sự “ám ảnh chiến tranh” dường như vẫn còn. Những di tích chỉ là bề nổi, những gì mà nó gây ra còn hằn sâu trong tâm can con người mới là điều đáng nói.
Không những là “thủ phủ” của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Lộc Ninh còn là nơi tập kết các nguồn nhiên liệu chi viện phục vụ cho chiến trường B2 và chiến dịch giải phóng miền Nam, trong đó nguồn nguyên liệu xăng dầu là một yêu cầu bức thiết. Đầu năm 1974, đường ống xăng dầu chi viện từ miền Bắc về đến Bù Gia Mập huyện Phước Long được thiết lập. Từ đây, xăng dầu được chuyển về chứa tại Lộc Ninh dọc theo các con đường từ Bù Đốp đến ngã ba Lộc Tấn, trong đó kho xăng dầu VK 98 xã Lộc Quang (7 bồn) và VK 99 xã Lộc Hòa (10 bồn) là có quy mô lớn nhất. Mỗi bồn xăng cao 3,5m đường kính 10m với sức chứa 250.000lít/ bồn đủ nói lên tầm vóc quy mô của Tổng kho này. Việc xây dựng Tổng kho và vận chuyển xăng dầu về đây trong thời kỳ chiến tranh được giữ gìn một cách hoàn toàn bí mật, những người dân sống xung quanh cũng  không hề biết, là một trong những kỳ tích của cuộc chiến tranh. Hiện nay các bồn xăng đã được tháo dỡ chỉ còn lại một bồn để giới thiệu với bạn bè gần xa một trang sử hào hùng đã đi qua của dân tộc.

Ám ảnh chiến tranh - Kỳ II: Trận đánh tại thị xã An Lộc
Bộ chỉ huy miền, quân giải phóng miền Nam tại Bình Phước. Ảnh: Lê Hoài Nam.
Khu di tích lịch sử Tà Thiết (huyện Lộc Ninh), đang được xây dựng với một tầm vóc rất quy mô bởi nó gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, gắn với những tên tuổi thuộc thế hệ vàng của các tướng lĩnh Việt Nam, trong những năm tháng cam go nhất họ đã có mặt tại đây để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ: Đại tướng Lê Đức Anh, Đại tướng Văn Tiến Dũng,Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Chính ủy Phạm Hùng, Cố vấn Lê Đức Thọ…

Cũng tại địa bàn huyện Lộc Ninh có khu nhà bia tưởng niệm hơn 9000 liệt sĩ quân dân y miền Đông Nam Bộ đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Miền B2. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại chiến trường B2 đã có 34 bệnh viện quân y và 13 đội điều trị quân y cơ động thuộc Cục hậu cần Miền. Họ ngày đêm bám sát chiến trường phục vụ các đơn vị lực lượng vũ trang quân giải phóng. Do tính chất ác liệt của cuộc chiến đã có nhiều thương, bệnh binh, bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ lý, anh nuôi… hy sinh trong khi điều trị, thậm chí có những người đã hy sinh còn tiếp tục bị bom đạn cày xới mộ. Hiện nay còn khoảng gần 60% liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt.

- Về mức độ ác liệt và hao tổn máu xương thì Bình Phước chỉ đứng sau Quảng Trị thôi – Đại úy Bế Thanh Sơn, trợ lý Ban Tuyên huấn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã khẳng định với chúng tôi như thế. Anh nói câu ấy khi chúng tôi đứng bên một ngôi mộ tập thể chôn cất 3000 người tại thị xã Bình Long.

Đó là hậu quả của trận đối đầu lịch sử giữa ta và địch tại thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long cũ, nay là thị xã Bình Long. Đây là một trận chiến mà phía địch xem là đợt 2 trong Chiến dịch Hè 1972. Về phía quân giải phóng miền Nam Việt Nam, thì đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng trong đợt 1 của Chiến dịch Nguyễn Huệ, từ ngày 1 tháng 4 năm 1972 đến 19 tháng 1 năm 1973, gây áp lực để Hiệp định Paris được ký kết.

An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với quân lực Việt Nam Cộng hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến về Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay quân giải phóng  ngày 7 tháng 4 năm 1972.

Ám ảnh chiến tranh - Kỳ II: Trận đánh tại thị xã An Lộc
Ngôi mộ chôn chung 3000 người ở thị xã Bình Long, Bình Phước. Ảnh: Lê Hoài Nam
Phía quân giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công trực tiếp thị xã An Lộc gồm có Sư đoàn 9, 2 Trung đoàn pháo binh 28 và 42, 4 Tiểu đoàn pháo phòng không và Tiểu đoàn tăng thiết giáp 20, về sau tăng cường thêm tiểu đoàn tăng thiết giáp 21. Tham chiến ở vòng ngoài là Sư đoàn 5, 7 và Đoàn C30B.

Phía quân lực Việt Nam Cộng hòa có Sư đoàn 5 bộ binh, Liên đoàn 3 Biệt động quân cùng lực lượng nhân dân tự vệ và địa phương quân tỉnh Bình Long. Trong quá trình diễn ra trận đánh, Hoa Kỳ dùng trực thăng chở thêm hàng ngàn quân Việt Nam Cộng hòa vào An Lộc, đồng thời huy động gần 20.000 quân tìm cách giải vây bằng trận đánh theo đường 13. Ngoài ra, không quân Hoa Kỳ yểm trợ bằng gần 1.000 máy bay phản lực và trực thăng các loại, từ ném bom, vận tải tới chuyển thương.

Trận đánh có quá nhiều người chết. Chưa kể quân đội hai phía hy sinh và bị thương lên tới hàng vạn, những người dân vô tội cũng phải hứng những trận bom pháo khủng khiếp của quân Mỹ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa phải dùng những xe ủi đào một hố lớn rồi xúc những xác chết đổ xuống vùi đất lên, ước tính ngôi mộ gồm 3000 người xấu số.

Người đi cùng chúng tôi hôm nay cũng là một trong những nạn nhân còn sống sót trong trận đánh ấy, đó là Trung tá Dương Hà Cường, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự thị xã Bình Long. Sau khi viếng xong ngôi mộ tập thể khổng lồ, Dương Hà Cường đưa chúng tôi đến trường Tiểu học An Lộc A mà ở giữa sân có pho tượng Đức chúa Giêsu cao lừng lững nhưng bị cụt đầu. Dương Hà Cường nói với giọng rưng rưng:

- Hồi trước chiến tranh trên nền đất phía sau pho tượng này là ngôi nhà thờ giáo xứ Bình Long rất đẹp nhưng đã bị bom Mỹ san phẳng. Sau này, bà con giáo dân đã nhường phần đất này cho địa phương xây trường học, còn nhà thờ mới thì xây bên cạnh. Riêng pho tượng Đức chúa Giêsu cụt đầu thì bà con không cho phá, họ bảo cứ để cho hậu thế biết thêm về những gì đã diễn ra trong chiến tranh…

Trận Chiến An Lộc 1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa)

Trận An Lộc là trận chiến tại An Lộc. Đây là một trận chiến mà phía Việt Nam Cộng hòa xem là đợt 2 trong Chiến dịch Hè 1972 hay "Mùa Hè Đỏ Lửa" trong Chiến tranh Việt Nam. Về phía quân Giải phóng, thì đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng trong đợt 1 của Chiến dịch Nguyễn Huệ (1 tháng 4 năm 1972 - 19 tháng 1 năm 1973).
An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn quân Giải Phóng tiến về thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay quân Giải Phóng ngày 7 tháng 4 năm 1972.
Quân đội miền Bắc dùng 35.000 quân bao vây, tấn công suốt 2 tháng nhưng không chiếm được, bị thiệt hại nặng nề phải rút lui.
Ngày 12 tháng 6/1972 khi cờ Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa bay trên đỉnh đồi Đồng Long, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố "Thành phố An Lộc được hoàn toàn giải tỏa." (tuy nhiên thực tế Thành phố vẫn bị vây lỏng cho đến ngày kí Hiệp định Paris)

Posted by Admin ĐN
Tại phi trường Lai Khê, đoàn trực thăng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang thi hành kế hoạch Trực Thăng Vận Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tăng cường cho Chiến Trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Tại phi trường Lai Khê, đoàn trực thăng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang thi hành kế hoạch Trực Thăng Vận Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tăng cường cho Chiến Trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Thả dù tiếp tế cho An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Thả dù tiếp tế cho An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng Type 59 của phía VNDCCH bỏ lại, đang được mang lên tầu của Úc. Phía VNCH tặng xe tăng này cho nước Úc. Ngày nay, chiếc xe tăng này nằm tại viện bảo tàng thiết giáp tại Puckapunyal, Victoria, Úc. Xe tăng Type 59 này do TQ biến chế từ xe tăng T54 của LX.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng Type 59 của phía VNDCCH bỏ lại, đang được mang lên tầu của Úc. Phía VNCH tặng xe tăng này cho nước Úc. Ngày nay, chiếc xe tăng này nằm tại viện bảo tàng thiết giáp tại Puckapunyal, Victoria, Úc. Xe tăng Type 59 này do TQ biến chế từ xe tăng T54 của LX.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ VNCH đang khám xét một xe thiết giáp PT-76 của quân CS Bắc Việt bỏ lại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ VNCH đang khám xét một xe thiết giáp PT-76 của quân CS Bắc Việt bỏ lại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ VNCH đang khám xét một xe thiết giáp PT-76 của quân CS Bắc Việt bỏ lại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ VNCH đang khám xét một xe thiết giáp PT-76 của quân CS Bắc Việt bỏ lại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T54 của phía VNDCCH bị sa lầy trong bùn.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T54 của phía VNDCCH bị sa lầy trong bùn.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH đang khám xét một xe tăng T54 bỏ lại bởi quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH đang khám xét một xe tăng T54 bỏ lại bởi quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T54 bị phá hủy tại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T54 bị phá hủy tại chiến trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Tòa tỉnh trưởng Bình Long, 1972.
Posted by Admin ĐN
Tòa tỉnh trưởng Bình Long, 1972.
Posted by Admin ĐN
Tượng đài chiến sĩ đối diện sân vận động Nguyễn Huệ, An Lộc 1972.
Posted by Admin ĐN
Tượng đài chiến sĩ đối diện sân vận động Nguyễn Huệ, An Lộc 1972.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng chiến tranh tại An Lộc, 24/6/1972.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng chiến tranh tại An Lộc, 24/6/1972.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng chiến tranh tại An Lộc, 24/6/1972.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng chiến tranh tại An Lộc, 24/6/1972.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng xảy ra trận chiến An Lộc.  Một giáo dân đọc sách thánh trong lễ, mặc dầu đã bị thương.
Posted by Admin ĐN
Thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng xảy ra trận chiến An Lộc. Một giáo dân đọc sách thánh trong lễ, mặc dầu đã bị thương.
Posted by Admin ĐN
Tượng Chúa Ky Tô Vua cuối Đại Lộ Hoàng Hôn trước khi bị phá hủy trong trận chiến An Lộc 1972, hình chụp vào khoảng năm 1967-68.
Posted by Admin ĐN
Tượng Chúa Ky Tô Vua cuối Đại Lộ Hoàng Hôn trước khi bị phá hủy trong trận chiến An Lộc 1972, hình chụp vào khoảng năm 1967-68.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ trận chiến An Lộc năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ trận chiến An Lộc năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của phiá VNDCCH bị phá hủy bởi không lực Đồng Minh.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của phiá VNDCCH bị phá hủy bởi không lực Đồng Minh.
Posted by Admin ĐN
Một thiết giáp của phía VNDCCH bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một thiết giáp của phía VNDCCH bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe thiết giáp phòng không ZSU-57 (súng 57 ly) của phía VNDCCH bị phá hủy bởi không lực Đồng Minh tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe thiết giáp phòng không ZSU-57 (súng 57 ly) của phía VNDCCH bị phá hủy bởi không lực Đồng Minh tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
7 tháng 4 năm 1972.  Đàn bà và trẻ em đang được di tản khỏi An Lộc bởi trực thăng CH-47 Chinook Mỹ trước khi bị phía CS pháo kích.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
7 tháng 4 năm 1972. Đàn bà và trẻ em đang được di tản khỏi An Lộc bởi trực thăng CH-47 Chinook Mỹ trước khi bị phía CS pháo kích. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
9 tháng 4 năm 1972.  Đoàn lính Dù đang đi trên Quốc Lộ 13 để giúp lính giải tỏa An Lộc.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
9 tháng 4 năm 1972. Đoàn lính Dù đang đi trên Quốc Lộ 13 để giúp lính giải tỏa An Lộc. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
11 tháng 4 năm 1972.  Một người lính Dù trên Quốc Lộ 13 tại Chơn Thành.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
11 tháng 4 năm 1972. Một người lính Dù trên Quốc Lộ 13 tại Chơn Thành. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
14 tháng 4 năm 1972.  Xác của những người lính phiá VNCH sau khi bị bắn chết bởi phiá VNDCCH trong trận chiến An Lộc.  Phía VNDCCH quyết định muốn chiếm An Lộc để làm thủ đô cho phía Việt Cộng.
Posted by Admin ĐN
14 tháng 4 năm 1972. Xác của những người lính phiá VNCH sau khi bị bắn chết bởi phiá VNDCCH trong trận chiến An Lộc. Phía VNDCCH quyết định muốn chiếm An Lộc để làm thủ đô cho phía Việt Cộng.
Posted by Admin ĐN
16 tháng 4 năm 1972.  Lính Dù của phiá VNCH đang đợi trực thăng chở đi giải tỏa An Lộc.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
16 tháng 4 năm 1972. Lính Dù của phiá VNCH đang đợi trực thăng chở đi giải tỏa An Lộc. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
16 tháng 4 năm 1972.  Lính Dù của phiá VNCH đang đợi trực thăng chở đi giải tỏa An Lộc.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
16 tháng 4 năm 1972. Lính Dù của phiá VNCH đang đợi trực thăng chở đi giải tỏa An Lộc. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
21 tháng 4 năm 1972.  Hình từ trên không của thị trấn An Lộc.
Posted by Admin ĐN
21 tháng 4 năm 1972. Hình từ trên không của thị trấn An Lộc.
Posted by Admin ĐN
21 tháng 4 năm 1972.  Bom của không lực Đồng Minh nổ giữa những căn nhà ngoài thị trấn An Lộc.  Một nửa thành phố An Lộc đã bị san bằng bởi pháo từ phiá CS và bom từ phiá không lực Mỹ và VNCH.
Posted by Admin ĐN
21 tháng 4 năm 1972. Bom của không lực Đồng Minh nổ giữa những căn nhà ngoài thị trấn An Lộc. Một nửa thành phố An Lộc đã bị san bằng bởi pháo từ phiá CS và bom từ phiá không lực Mỹ và VNCH.
Posted by Admin ĐN
28 tháng 4 năm 1972.  Đoàn quân VNCH tiếp viện An Lộc bị ngăn lại bởi mọt chê và mìn trên QL13.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
28 tháng 4 năm 1972. Đoàn quân VNCH tiếp viện An Lộc bị ngăn lại bởi mọt chê và mìn trên QL13. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
Pháp binh phiá VNCH trên QL13 đang nhìn phi cơ Skyraider của Không Quân VNCH oanh tại một vị trí của phía VNDCCH, 4 dặm phía nam của Chơn Thành.  Súng 105ly của pháo binh VNCH chỉa thẳng vào vị trí của phía CS.  Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
Pháp binh phiá VNCH trên QL13 đang nhìn phi cơ Skyraider của Không Quân VNCH oanh tại một vị trí của phía VNDCCH, 4 dặm phía nam của Chơn Thành. Súng 105ly của pháo binh VNCH chỉa thẳng vào vị trí của phía CS. Hình của Bettmann.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH trong trận đánh tại An Lộc 1972.  Hình của Patrick Chauvel.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH trong trận đánh tại An Lộc 1972. Hình của Patrick Chauvel.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ theo Quốc Lộ 13 từ Bến Cát tới Lộc Ninh và qua Cam Bốt.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ theo Quốc Lộ 13 từ Bến Cát tới Lộc Ninh và qua Cam Bốt.
Posted by Admin ĐN
8 tháng 6 năm 1972.  Lính phía VNCH làm lều bằng gỗ, giấy, và võ đạn để tránh nắng và giúp chống đạn pháo, 8 dặm phía bắc của Chơn Thành.  Có còn hơn không, khi không có phương tiện để đào hầm cá nhân.
Posted by Admin ĐN
8 tháng 6 năm 1972. Lính phía VNCH làm lều bằng gỗ, giấy, và võ đạn để tránh nắng và giúp chống đạn pháo, 8 dặm phía bắc của Chơn Thành. Có còn hơn không, khi không có phương tiện để đào hầm cá nhân.
Posted by Admin ĐN
8 tháng 6 năm 1972.  Một người lính VNCH bị thương 8 dặm phía bắc của Chơn Thành.
Posted by Admin ĐN
8 tháng 6 năm 1972. Một người lính VNCH bị thương 8 dặm phía bắc của Chơn Thành.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972.  Xác một người lính VNCH bị bắn chết tại An Lộc.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972. Xác một người lính VNCH bị bắn chết tại An Lộc. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972.  Xác một người lính bộ đội miền Bắc Vệt Nam bị bắn chết tại An Lộc.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972. Xác một người lính bộ đội miền Bắc Vệt Nam bị bắn chết tại An Lộc. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972.  Lính pháo binh phía VNCH trong trận chiến An Lộc.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 5 năm 1972. Lính pháo binh phía VNCH trong trận chiến An Lộc. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972.  Nhiếp ảnh gia người Anh, Don McCullin và một lính cứu thương phía VNCH giúp một người lính đang bị thương.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972. Nhiếp ảnh gia người Anh, Don McCullin và một lính cứu thương phía VNCH giúp một người lính đang bị thương. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972.  Lính VNCH trong cuộc chiến tại An Lộc.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972. Lính VNCH trong cuộc chiến tại An Lộc. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972.  Lính VNCH trong cuộc chiến tại An Lộc.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 5 năm 1972. Lính VNCH trong cuộc chiến tại An Lộc. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
22 tháng 5 năm 1972.  Một người lính VNCH dùng mảnh thép để bảo vệ chống rốc kết 122 ly.  Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
22 tháng 5 năm 1972. Một người lính VNCH dùng mảnh thép để bảo vệ chống rốc kết 122 ly. Hình của Henri Bureau.
Posted by Admin ĐN
Trung Tướng VNCH Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Chiến Trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Trung Tướng VNCH Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Chiến Trường An Lộc.
Posted by Admin ĐN
1972 - Máy bay thám thính Cessna O-2 Skymaster đánh dấu các mục tiêu oanh tạc tại An Lộc bằng rốc kết khói.  Hình chụp từ đuôi máy bay.
Posted by Admin ĐN
1972 - Máy bay thám thính Cessna O-2 Skymaster đánh dấu các mục tiêu oanh tạc tại An Lộc bằng rốc kết khói. Hình chụp từ đuôi máy bay.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ miền Nam Việt Nam được trực thăng đổ xuống trên Quốc Lộ 13, phía nam An Lộc để giải vây thành phố.  Đằng sau máy bay là xác một chiếc xe tăng T-54 của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Binh sĩ miền Nam Việt Nam được trực thăng đổ xuống trên Quốc Lộ 13, phía nam An Lộc để giải vây thành phố. Đằng sau máy bay là xác một chiếc xe tăng T-54 của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng Type 63 của quân Bắc Việt sau khi bị cháy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng Type 63 của quân Bắc Việt sau khi bị cháy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng đổ quân Dù tăng viện cho An Lộc, đồng thời tải thương binh ra khỏi mặt trận.  Trực thăng không thể đáp xuống vì phải cất cánh ngay nhằm tránh hỏa lực của địch.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng đổ quân Dù tăng viện cho An Lộc, đồng thời tải thương binh ra khỏi mặt trận. Trực thăng không thể đáp xuống vì phải cất cánh ngay nhằm tránh hỏa lực của địch.
Posted by Admin ĐN
4 tháng 4 năm 1972.  Một người đàn ông Việt Nam nằm khóc trên đường Quốc Lộ 12 sau khi vợ ông bị giết chết trong một cuộc phục kích bởi quân Bắc Việt.  Người đàn ông này cũng bị thương trong cuộc phục kích này.  Quân Bắc Việt dùng hoả tiễn phóng lựu và súng cá nhân để bắn xe này (AP Wirephoto).
Posted by Admin ĐN
4 tháng 4 năm 1972. Một người đàn ông Việt Nam nằm khóc trên đường Quốc Lộ 12 sau khi vợ ông bị giết chết trong một cuộc phục kích bởi quân Bắc Việt. Người đàn ông này cũng bị thương trong cuộc phục kích này. Quân Bắc Việt dùng hoả tiễn phóng lựu và súng cá nhân để bắn xe này (AP Wirephoto).
Posted by Admin ĐN
30 tháng 6 năm 1972.  Các thương binh miền Nam Việt Nam đang được di chuyển ra chổ trực thăng dáp tại An Lộc (AP wirephoto).
Posted by Admin ĐN
30 tháng 6 năm 1972. Các thương binh miền Nam Việt Nam đang được di chuyển ra chổ trực thăng dáp tại An Lộc (AP wirephoto).
Posted by Admin ĐN
9 tháng 6 năm 1972.  Thương binh miền Nam Việt Nam trèo lên trực thăng, sau khi quân đội tiếp viện đã được thả xuống.  Trực thăng không thể đáp vì để tránh hõa lực của phia bên kia.  (AP wirephoto)
Posted by Admin ĐN
9 tháng 6 năm 1972. Thương binh miền Nam Việt Nam trèo lên trực thăng, sau khi quân đội tiếp viện đã được thả xuống. Trực thăng không thể đáp vì để tránh hõa lực của phia bên kia. (AP wirephoto)
Posted by Admin ĐN
1972.  Hình bên trái, lính miền Nam Việt Nam đang trên đường giải vây An Lộc.  Hình bên phải, thường dân và thương binh đang chen chúc trèo lên trực thăng để thoát khoải mặt trận.
Posted by Admin ĐN
1972. Hình bên trái, lính miền Nam Việt Nam đang trên đường giải vây An Lộc. Hình bên phải, thường dân và thương binh đang chen chúc trèo lên trực thăng để thoát khoải mặt trận.
Posted by Admin ĐN
1972.  Hình chụp từ trên không của thị xã An Lộc sau trận chiến. 
Posted by Admin ĐN
1972. Hình chụp từ trên không của thị xã An Lộc sau trận chiến.
Posted by Admin ĐN
Hình chụp từ trên không của thị xã An Lộc sau trận chiến 1972.
Posted by Admin ĐN
Hình chụp từ trên không của thị xã An Lộc sau trận chiến 1972.
Posted by Admin ĐN
1972.  Hình chụp trên không của thị xã An Lộc.  Một xe thiiết giáp Type 63 của quân Bắc Việt bị bắn nằm tại một ngã trên đường, bên cạnh những xe vận tải và xe buýt.
Posted by Admin ĐN
1972. Hình chụp trên không của thị xã An Lộc. Một xe thiiết giáp Type 63 của quân Bắc Việt bị bắn nằm tại một ngã trên đường, bên cạnh những xe vận tải và xe buýt.
Posted by Admin ĐN
Thị xã An Lộc trước tháng 4 năm 1972, trong cảnh yên bình.
Posted by Admin ĐN
Thị xã An Lộc trước tháng 4 năm 1972, trong cảnh yên bình.
Posted by Admin ĐN
Những người lính miền Nam Việt Nam đang nhìn xuống một đoàn xe tăng T-54 của quân Bặc Việt bị bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Những người lính miền Nam Việt Nam đang nhìn xuống một đoàn xe tăng T-54 của quân Bặc Việt bị bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Những người lính phòng thủ An Lộc đứng cạnh một xe tăng T-54 và một xác chết của một người lính Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Những người lính phòng thủ An Lộc đứng cạnh một xe tăng T-54 và một xác chết của một người lính Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt bị bắn cháy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt bị bắn cháy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt bị bắn nổ mất tháp pháo.  Bên cạnh xe tăng là xác chết của một người lính Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt bị bắn nổ mất tháp pháo. Bên cạnh xe tăng là xác chết của một người lính Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Chó hoang tại thành phố An Lộc đang tìm ăn đằng trước một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt, có lẽ chó đang tìm ăn một xác chết nằm gần xe tăng.
Posted by Admin ĐN
Chó hoang tại thành phố An Lộc đang tìm ăn đằng trước một xe tăng T-54 của quân Bắc Việt, có lẽ chó đang tìm ăn một xác chết nằm gần xe tăng.
Posted by Admin ĐN
Các binh sĩ phòng thủ An Lộc đang vui mừng chiến thắng trên một xác xe tăng T-54.
Posted by Admin ĐN
Các binh sĩ phòng thủ An Lộc đang vui mừng chiến thắng trên một xác xe tăng T-54.
Posted by Admin ĐN
Thiết giáp Type 63 bị hỏa tiền chống xe tăng M72 bắn hạ.
Posted by Admin ĐN
Thiết giáp Type 63 bị hỏa tiền chống xe tăng M72 bắn hạ.
Posted by Admin ĐN
Một đoàn xe tăng T-54 bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một đoàn xe tăng T-54 bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Những trẻ em đang chơi bắn súng tại thị xã An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Những trẻ em đang chơi bắn súng tại thị xã An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T-54 này bị phá hủy bởi một bịch thuốc súng đạn 155mm và một trái lựu đạn để làm nổ thuốc súng.  Bộ binh miền Nam Việt Nam mở cửa xe tăng thả bịch chất nổ vô bên trong làm nổ tung tháp pháoi.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T-54 này bị phá hủy bởi một bịch thuốc súng đạn 155mm và một trái lựu đạn để làm nổ thuốc súng. Bộ binh miền Nam Việt Nam mở cửa xe tăng thả bịch chất nổ vô bên trong làm nổ tung tháp pháoi.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 bị bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một xe tăng T-54 bị bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH đang ngồi trên thiết giáp Type 63 của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Lính VNCH đang ngồi trên thiết giáp Type 63 của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Thương binh của phía miền Nam Việt Nam đang được tải thương bởi trực thăng.  bên trái hình là một sọ người của phiá miền Bắc Việt Nam trên một xe tăng T-54 đã bị phá hủy. Hình của Bruno Barbey.
Posted by Admin ĐN
Thương binh của phía miền Nam Việt Nam đang được tải thương bởi trực thăng. bên trái hình là một sọ người của phiá miền Bắc Việt Nam trên một xe tăng T-54 đã bị phá hủy. Hình của Bruno Barbey.
Posted by Admin ĐN
Thiếu Úy Tô Phạm Thái đứng cạnh một xe tăng 54 bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Thiếu Úy Tô Phạm Thái đứng cạnh một xe tăng 54 bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Hình trên, xe tăng T-54B và quân Bắc Việt tấn công An Lộc đợt thứ ba trong ngày 14 tháng 5 năm 1972.  Hình dưới, những người lính miền Nam Việt Nam này với hoả tiền chống xe tăng M72 đã làm thiết hại nhiều xe tăng và thiết giáp của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Hình trên, xe tăng T-54B và quân Bắc Việt tấn công An Lộc đợt thứ ba trong ngày 14 tháng 5 năm 1972. Hình dưới, những người lính miền Nam Việt Nam này với hoả tiền chống xe tăng M72 đã làm thiết hại nhiều xe tăng và thiết giáp của quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Các chiến sĩ Biệt Cách Dù tiến vào An Lôộ ngày 17 tháng 4 năm 1972.  Hình của Đỗ Đức Thịnh LĐ81/BCND.
Posted by Admin ĐN
Các chiến sĩ Biệt Cách Dù tiến vào An Lôộ ngày 17 tháng 4 năm 1972. Hình của Đỗ Đức Thịnh LĐ81/BCND.
Posted by Admin ĐN
Đơn vị Biệt Động Quân trền đồi 169 đang nấu ăn và chờ trực thăng tải thương ngày 16 tháng 4 năm 1972.  Hình của Đỗ Đức Thịnh LĐ81/BCND.
Posted by Admin ĐN
Đơn vị Biệt Động Quân trền đồi 169 đang nấu ăn và chờ trực thăng tải thương ngày 16 tháng 4 năm 1972. Hình của Đỗ Đức Thịnh LĐ81/BCND.
Posted by Admin ĐN
Phi cơ vận tải Lockheed C-130 Hercules tiếp tế quân đội miền Nam Việt Nam phòng thủ An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Phi cơ vận tải Lockheed C-130 Hercules tiếp tế quân đội miền Nam Việt Nam phòng thủ An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T-54 của quân Bắc Viêt bỏ lại sau khi rút lui khỏi An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T-54 của quân Bắc Viêt bỏ lại sau khi rút lui khỏi An Lộc.
Posted by Admin ĐN
21 tháng 8 năm 1972 - Quốc Lộ 13.  Lính miền Nam Việt Nam trên xe thiết giáp M113 đang chờ lệnh để đi tiến tới (AP wirephoto).
Posted by Admin ĐN
21 tháng 8 năm 1972 - Quốc Lộ 13. Lính miền Nam Việt Nam trên xe thiết giáp M113 đang chờ lệnh để đi tiến tới (AP wirephoto).
Posted by Admin ĐN
Lính miền Nam Việt Nam đang nhào xuống đường mương dọc theo Quốc Lộ 13 để tránh đạn pháo từ phía quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Lính miền Nam Việt Nam đang nhào xuống đường mương dọc theo Quốc Lộ 13 để tránh đạn pháo từ phía quân Bắc Việt.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T54 của quân Bắc Việt bị phá hủy tron trận chiến An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Xe tăng T54 của quân Bắc Việt bị phá hủy tron trận chiến An Lộc.
Posted by Admin ĐN
5 tháng 8, 1972.  Một xe cứu thương chạy về hướng bắc của QL13.  Bên cạnh đường là mộ không tên của một chiến sĩ VNCH, cách phia bắc An Lộc khoảng 14km.
Posted by Admin ĐN
5 tháng 8, 1972. Một xe cứu thương chạy về hướng bắc của QL13. Bên cạnh đường là mộ không tên của một chiến sĩ VNCH, cách phia bắc An Lộc khoảng 14km.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng bay vào An Lộc, năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng bay vào An Lộc, năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Chiến xa T-54 của bộ đội Cộng Sản bị bắn hạ trong thị xã An Lộc vào tháng 4 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Chiến xa T-54 của bộ đội Cộng Sản bị bắn hạ trong thị xã An Lộc vào tháng 4 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 6 năm 1972.  Các binh sĩ miền Nam Việt Nam đang chờ trực thăng vận chuyển đến giải vây TP. An Lộc.
Posted by Admin ĐN
13 tháng 6 năm 1972. Các binh sĩ miền Nam Việt Nam đang chờ trực thăng vận chuyển đến giải vây TP. An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù 1970-1975.
Posted by Admin ĐN
Bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù 1970-1975.
Posted by Admin ĐN
Khói lửa chiến tranh trong thành phố An Lộc, nhìn từ trên một nóc nhà.
Posted by Admin ĐN
Khói lửa chiến tranh trong thành phố An Lộc, nhìn từ trên một nóc nhà.
Posted by Admin ĐN
Cảnh khổ của người dân An Lộc, năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Cảnh khổ của người dân An Lộc, năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Chiến xa T-54 của quân CSBV bị quân trú phòng của quân lực VNCH bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Chiến xa T-54 của quân CSBV bị quân trú phòng của quân lực VNCH bắn hạ tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Cô Pha tác giả của 2 câu thơ:
Cô Pha tác giả của 2 câu thơ:
"An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân."
được các chiến sĩ 81 Dù tải thương khoảng tháng 6 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
19 tháng 6 năm 1972, một gia đình với 5  con của cư dân An Lộc vượt thoát vòng vây của quân Cộng Sản Bắc Việt trên Quốc Lộ 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Hình của Nick Út (AP Photo).
Posted by Admin ĐN
19 tháng 6 năm 1972, một gia đình với 5 con của cư dân An Lộc vượt thoát vòng vây của quân Cộng Sản Bắc Việt trên Quốc Lộ 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Hình của Nick Út (AP Photo).
Posted by Admin ĐN
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đứng cạnh TT Nguyễn Văn Thiệu tại An Lộc, trong chuyến đi thị sát mặt trận của TT Thiệu, tháng 6 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đứng cạnh TT Nguyễn Văn Thiệu tại An Lộc, trong chuyến đi thị sát mặt trận của TT Thiệu, tháng 6 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An Lộc:
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An Lộc: "Nếu An Lộc mất, tôi sẽ tự sát ngay tại thị trấn này". Ảnh chụp trong hầm hành quân của Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở An Lộc, với Trung Tá cố vấn James H. Willbanks.
Posted by Admin ĐN
Giao thông hào của quân phòng thủ tại mặt trận phía đông của Biệt Động Quân Việt Nam Cộn Hoà.
Posted by Admin ĐN
Giao thông hào của quân phòng thủ tại mặt trận phía đông của Biệt Động Quân Việt Nam Cộn Hoà.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng Huey bay vô An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Trực thăng Huey bay vô An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Thị sát mặt trận An Lộc/Bình Long của Chuẩn Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Posted by Admin ĐN
Thị sát mặt trận An Lộc/Bình Long của Chuẩn Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Posted by Admin ĐN
Thăm viếng của Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân tại mặt trận An Lộc/Bình Long.
Posted by Admin ĐN
Thăm viếng của Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân tại mặt trận An Lộc/Bình Long.
Posted by Admin ĐN
Hình trên:  12 tháng 5, 1972.  Đa số những súng pháo 105ly có khoảng 2 tới 3 viên đạn HEAT để sẵn gần súng.  Chiết thiết giáp Type 63 này có lẽ bị bắn trúng đài pháo bởi môt viên đạn HEAT, rồi sau đó bị phá hủy bở hoả tiễn M72.
Hình dưới:  Tất cả xe tăng của phiá Bắc Việt vô An Lộc không mang theo bình xăng bên ngoài, nên nhiều xe bị hết xăng trước khi bắn hết đạn.
Posted by Admin ĐN
Hình trên: 12 tháng 5, 1972. Đa số những súng pháo 105ly có khoảng 2 tới 3 viên đạn HEAT để sẵn gần súng. Chiết thiết giáp Type 63 này có lẽ bị bắn trúng đài pháo bởi môt viên đạn HEAT, rồi sau đó bị phá hủy bở hoả tiễn M72.
Hình dưới: Tất cả xe tăng của phiá Bắc Việt vô An Lộc không mang theo bình xăng bên ngoài, nên nhiều xe bị hết xăng trước khi bắn hết đạn.
Posted by Admin ĐN
Vài xe tăng bị phá hủy bởi đạn pháo.  Hình bên tay trái là chiếc xe tăng mất đài pháo vì bị một bao thuốc súng đạn 155ly liệng vô xe tăng cùng với lựu đạn làm ngòi nổ. 
Hình trên bên phải:  20 người lính Bắc Việt đã ngồi trong xe thiết giáp BTR50-PK này khi xe này bị phá hủỵ  
Hình dưới bên phải:  Phi cơ phá hủy xe thiết giáp phòng không ZSU-57/2.
Posted by Admin ĐN
Vài xe tăng bị phá hủy bởi đạn pháo. Hình bên tay trái là chiếc xe tăng mất đài pháo vì bị một bao thuốc súng đạn 155ly liệng vô xe tăng cùng với lựu đạn làm ngòi nổ.
Hình trên bên phải: 20 người lính Bắc Việt đã ngồi trong xe thiết giáp BTR50-PK này khi xe này bị phá hủỵ
Hình dưới bên phải: Phi cơ phá hủy xe thiết giáp phòng không ZSU-57/2.
Posted by Admin ĐN
Một người lính Nam Việt Nam đang giơ tay mừng chiến thắng bên cạnh một xác xe tăng của quân Bắc Việt bị rớt xuống hố bom và bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Một người lính Nam Việt Nam đang giơ tay mừng chiến thắng bên cạnh một xác xe tăng của quân Bắc Việt bị rớt xuống hố bom và bị phá hủy tại An Lộc.
Posted by Admin ĐN
Thiếu Tá Wade Lovings (bên trái) đang nhìn hầm Chỉ Huy của Trung Đoàng 44 VNCH bị hư hại.  Cạnh đó là một xe tăng của quân Bắc Việt bị phá hủy gần cửa vô hầm.
Posted by Admin ĐN
Thiếu Tá Wade Lovings (bên trái) đang nhìn hầm Chỉ Huy của Trung Đoàng 44 VNCH bị hư hại. Cạnh đó là một xe tăng của quân Bắc Việt bị phá hủy gần cửa vô hầm.
Posted by Admin ĐN
Đường phố An Lộc ngày 17 tháng 4 năm 1972.  Hình của Đỗ Đức Thịnh, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Posted by Admin ĐN
Đường phố An Lộc ngày 17 tháng 4 năm 1972. Hình của Đỗ Đức Thịnh, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Posted by Admin ĐN
Nổ kho đạn ở Lai Khê do đặc công VC, ngày 16 tháng 4 năm 1972.  Hình của Đỗ Đức Thịnh, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Posted by Admin ĐN
Nổ kho đạn ở Lai Khê do đặc công VC, ngày 16 tháng 4 năm 1972. Hình của Đỗ Đức Thịnh, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Posted by Admin ĐN
Trung Tướng James F. Hollingsworth thị sát An Lộc, tháng 10 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Trung Tướng James F. Hollingsworth thị sát An Lộc, tháng 10 năm 1972.
Posted by Admin ĐN
Trong hầm súng cối ở An Lộc, 1972.
Posted by Admin ĐN
Trong hầm súng cối ở An Lộc, 1972.
Posted by Admin ĐN
Nhà thờ Bình Long khánh thành tạm sau cuộc chiến 1972.
Posted by Admin ĐN
Nhà thờ Bình Long khánh thành tạm sau cuộc chiến 1972.
Posted by Admin ĐN
Posted by Admin ĐN
Posted by Admin ĐN



Hình ảnh khủng khiếp về trận An Lộc 1972 của Bruno Barbey


Trận An Lộc 1972 (13/4 – 20/7/1972) là một trong những trận đánh có quy mô lớn nhất và ác liệt nhất thời chiến tranh Việt Nam. Trong trận đánh này, Mỹ đã ném 30.000 tấn bom và đưa hàng nghìn quân cứu viện để giải nguy cho binh lính Sài Gòn đang bị bao vây trong thị xã An Lộc. 
Loạt ảnh do phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng tin ảnh Magnum thực hiện. 
Những cột khói được tạo ra từ bom Mỹ sau các cuộc oanh tạc ở trận An Lộc 1972.
Khói lửa trong trận An Lộc.
Xe tăng T-54 của lực lượng Giải phóng bị phá hủy sau khi dính bom B-52 của Mỹ ở An Lộc.
Xác xe tăng T-54 trên đường Ngô Quyền, thị xã An Lộc sau một đợt giao tranh.
Lính VNCH trên đường phố đổ nát do bom Mỹ ở An Lộc.
Lính VNCH trở về căn cứ sau các cuộc oanh tạc ở An Lộc.
Lính VNCH cáng đồng đội bị thương trong trận An Lộc, 1972.
Lính VNCH bị thương trong trận An Lộc được đưa về tuyến sau.
Lính VNCH trên đống đổ nát của quảng trường trung tâm thị xã An Lộc.
Xác binh sĩ Sài Gòn được đưa từ An Lộc về căn cứ Lai Khê.
Lính Sài Gòn cáng đồng đội ngang qua xác một chiếc T-54 được “trang trí” bằng sọ người ở An Lộc.
Một chiếc T-54 bị vùi lấp trong hố bom ở An Lộc.
Một nhóm lính VNCH, trong đó có cả lính trẻ em ở An Lộc.
Một lính Sài Gòn thu nhặt các loại đồ quân dụng trong đống đổ nát ở An Lộc.
Một lính Sài Gòn cõng đồng đội bị thương ra trực thăng quân y ở An Lộc.
Một ngôi nhà được từng được sử dụng làm vị trí chiến đấu trong trận An Lộc.
Chiếc trực thăng di tản thương binh Mỹ và VNCH về tuyến sau.
Binh sĩ Mỹ và VNCH trên một chuyến trực thăng di tản thương binh khỏi An Lộc.
Lính Sài Gòn nghỉ ngơi bên đồng đội bị thương khị các cuộc không kích của Mỹ đang diễn ra gần đó.
Xác xe tăng T-54 ở An Lộc.
Xác xe tăng T-54 ở An Lộc.
Hố bom lớn bên một ngôi nhà ở An Lộc.
Đống đổ nát ở An Lộc sau các cuộc oanh tạc của Mỹ.
Đống đổ nát ở An Lộc sau các cuộc oanh tạc của Mỹ.
Đống đổ nát ở An Lộc sau các cuộc oanh tạc của Mỹ.
Đống đổ nát ở An Lộc sau các cuộc oanh tạc của Mỹ.
Đống đổ nát ở An Lộc sau các cuộc oanh tạc của Mỹ.
Thi thể một chiến sĩ Giải phóng nằm trong đống đổ nát của thị xã An Lộc.
Một hài cốt ven đường.
Người dân An Lộc quay về kiểm tra nhà cửa sau khi giao tranh kết thúc.
Một đám tang ở An Lộc sau cuộc chiến.
Các phóng viên, nhà báo đáp máy bay đến An Lộc ghi nhận tình hình.
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32