LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN, YÊNG HÙNG NGỤY TẶC 16




-Chế độ Việt nam cộng hòa là chế độ "lộng giả thành chân" thứ thiệt.
-Quân tướng VNCH mạo danh là quân tử nhưng thực ra chính danh là ngụy quân tử. Hầu hết tướng lĩnh VNCH đều bắt đầu đường binh nghiệp bằng việc đầu quân cho Thực dân Pháp, phản quốc. Đó là lũ "tướng tiền" chứ không phải "tướng tài". 
-Việt Cộng sinh ra nhằm giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. VNCH do ngoại bang nhào nặn ra nhằm vì danh lợi mà làm tay sai cho chúng, yêu Tổ Quốc bằng cách cam tâm và cả mù quáng "cõng rắn cắn gà nhà", âm mưu chia cắt giang sơn của giống nòi mình, gieo rắc hận thù Dân Tộc cho chính giống nòi mình.

           Không nỗi đau nào bằng nỗi đau "nồi da xáo thịt"
           Không nỗi buồn nào bằng nỗi buồn chia cắt giang sơn
          Yêu Tổ Quốc là phải biết thương tận lòng Tổ Quốc
          Thật bụng khen chê, thà ngây như kẻ thất phu.
---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

"LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN"

Thành ngữ Việt Nam có câu "lộng giả thành chân” có nghĩa là “bỡn quá hóa thật”. Trước khi tìm hiểu định nghĩa này, tôi và nhiều người thường hiểu câu thành ngữ này nôm na là, biến cái giá thành cái thật, hay lời nói dối được nói đi nói lại nhiều lần lâu ngày ngưòi ta sẽ tin là thật.(...)
 
Trung Tướng VNCH NGUYỄN VĂN HIẾU thắng lợi vang dội cùng sư đoàn 22 bộ binh QLVNCH
 
Tiểu sử Tướng NGUYỄN VĂN HIẾU VNCH – Hé Mở Những Báo Cáo Mật Về Số Phận Tướng Hiếu

Cái Chết Đầy Bí Ẩn Của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu

03/03/2015

Ai giết Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu?. Tướng Hiếu chết vì tai nạn hay bị mưu sát?.

Suốt gần 40 năm qua những câu hỏi nầy chưa có câu trả lời xác đáng.

Ngày 8-4-1975, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lịnh Phó Quân Đoàn III được tìm thấy đã chết tại phòng làm việc trong Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn, Biên Hòa. Chết do bị một viên đạn bắn vào càm.

Tướng Hiếu được biết đến như là một tướng lãnh tài ba và thanh liêm cho nên cái chết của ông được nhiều người quan tâm theo dõi. Thông báo chính thức cho biết Tướng Hiếu chết vì tai nạn, súng bị cướp cò trong khi lau chùi. Tuy nhiên không có hình ảnh hoặc nhân chứng nào tận mắt nhìn thấy cái chết của Tướng Hiếu cả. Vì thế, lý do chết vì tai nạn không thuyết phục.

Vì thế nhiều câu hỏi được đặt ra là: Vì sao chết?, Nguyên nhân nào đưa đến cái chết? Ai giết Tướng Hiếu?

Để trả lời những câu hỏi đó, nhiều suy đoán và giả thuyết được đưa ra, nhưng không có chứng cớ nào vững chắc, đáng tin cậy được cả.

blank
Hình ảnh liên hệ về Tướng Hiếu.

Những suy đoán và giả thuyết được nêu ra xoay quanh những vấn đề như sau:

- Chết vì chống tham nhũng

- Chết vì có âm mưu đảo chánh

- Chết vì tai nạn khi lau chùi súng

- Chết vì gây gổ giữa hai ông tướng trong Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn 3.

Tuy nhiên, không có giả thuyết nào đáng tin cậy vì thiếu chứng cớ. Hình ảnh phạm trường không có, thủ phạm và hung khí cũng không, nhân chứng kẻ còn người mất nhưng chắc chắn là không có ai tận mắt trông thấy khi vụ việc xảy ra, ngoại trừ hung phạm nếu đó là mưu sát.

Tướng Hiếu mất vào những ngày sôi động nhất về quân sự và chính trị của Miền Nam đưa đến thảm họa mất nước ngày 30-4-1975.

Người em của Tướng Hiếu là ông Nguyễn Văn Tín đã bỏ ra suốt 8 năm trời để tìm gặp những nhân chứng, thu thập tin tức từ những cơ quan lưu trữ hồ sơ của chính phủ Mỹ…

Gần 40 năm qua cái chết của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu vẫn còn chìm trong vòng bí mật.

blank
Hình ảnh liên hệ về Tướng Hiếu.

2* Những tiết lộ khác nhau của các “nhân chứng”

Những “nhân chứng” mà Ông Tín đã gặp gỡ, tiếp xúc để tìm hiểu về cái chết của anh ông là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, thì đa số những nhân vật nầy không ai có mặt tại hiện trường, và cũng không có ai chính mắt họ trông thấy vụ việc đang xảy ra lúc đó. Mà những cuộc phỏng vấn được thực hiện tại Mỹ vào thời mấy chục năm sau ngày Tướng Hiếu chết, 8-4-1975. Trí nhớ của những người cao niên không còn trung thực với những điều mà chính họ đã “không” trông thấy, vì thế có nhiều tiết lộ khác nhau. Họ là nhân chứng của thời đại chớ không phải là “nhân chứng” của một cái chết.

Vào tháng 8 năm 1998, ông Nguyễn Văn Tín, em của Tướng Hiếu cho biết: “Tôi đã may mắn tìm ra và tiếp xúc được các nhân vật chính yếu có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 trong ngày Tướng Hiếu bị ám sát. Trong 13 nhân chứng, có 9 người đứng ngoài và 4 người đứng tại tâm điểm đối với cái chết của anh tôi”.

Theo ông Tín thì 4 người đó là:

1. Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 3.

2. Đại Tá Lê Trọng Đàm, Chỉ Huy Cảnh Sát QĐ 3.

3. Trung Tá Quân Y Lý Ngọc Dưỡng, chánh văn phòng của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3.

4. Đại Úy Đỗ Đức, tùy viên của Tướng Toàn.

2.1. Tường thuật của báo chí ngoại quốc

1). Phóng viên của hãng tin UPI thuật lại như sau: “Tư Lịnh Phó VNCH bảo vệ vùng Sai Gòn được khám phá bị bắn tối thứ ba, sau cuộc cãi vã về chiến thuật với cấp trên của mình. Các nguồn tin quân sự nói là có lẻ ông ta tự tử. Các nguồn tin đó nói là Thiếu Tướng Hiếu chết do một viên đạn gây nên ở miệng tại văn phòng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, nằm bên cạnh Phi Trường Biên Hòa, cách Saigon 18 miles. Không biết sự kiện Tướng Hiếu chết có liên quan gì đến cuộc oanh tạc Dinh Độc Lập xảy ra lúc 8 giờ sáng cùng ngày hay không?”.

2). Phóng viên Alan Dawson: “Phó Tư Lệnh Quân Đoàn 3, vùng bao quanh Saigon, tướng hai sao Nguyễn Văn Hiếu đã chết. Tin đồn ông tự vận tại văn phòng ở Biên Hòa sau một cuộc cãi vã với thượng cấp là tướng ba sao Nguyễn Văn Toàn, liên quan đến việc bảo vệ Thủ Đô. (55 days-The Fall of South Vietnam 1975)

2.2. Tường thuật của các nhân vật liên hệ

1). Tường thuật của Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn

Tại Mỹ, Tướng Toàn đã viết cho người em của Tướng Hiếu, là Nguyễn Văn Tín, nguyên văn như sau: “Bất ngờ vào ngày..(không nhớ) lúc bay hành quân về thì được tin anh Hiếu đã tử nạn ở văn phòng, Tôi liền bay đến văn phòng Tướng Hiếu thì thấy anh ấy đã chết bởi một viên đạn súng lục trổ từ mắt lên đầu và chết ngay nơi bàn giấy. Sự tử nạn của anh Hiếu là do súng lục bị cướp cò mà ra”.

2). Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng QĐ3

“Tướng Hiếu nằm bất động trên chiếc ghế bành sau bàn giấy. Một dòng máu tươi chảy chan hòa xuống mặt và ngực. Một viên đạn đã xuyên qua trán và đi thẳng lên óc. Viên đạn nầy còn trớn bay lên trần nhà xoi thủng một lỗ. Máu và óc văng trên tường”.

3). Đại Tá Phan Huy Lương, Phụ Tá Tư Lịnh Phó Nguyễn Văn Hiếu.

“Viên đạn qua trán lên đỉnh đầu khiến cho óc văng trên tường.”

4). Bác sĩ Trung Tá Quân Y Lý Ngọc Dưỡng, chánh văn phòng của Tướng Toàn cho biết như sau: “Tôi thấy cảnh tượng Tướng Hiếu ngồi trên ghế, đầu gục trên mặt bàn. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn, cánh tay phải thò xuống đất, có khẩu súng lục nằm trên mặt đất”.

5). Người cận vệ của Tướng Hiếu: “Hôm ấy đã qua 4 giờ rưởi rồi mà không thấy Tướng Hiếu ra về, tôi mở cửa bước vào phòng để nhắc chừng. Tôi vô cùng ngạc nhiên vì ông Hiếu đã chết tự bao giờ. Xác của ông đẫm máu còn ngồi trên ghế, nhưng bật ngữa ra sau, đầu thì nghẹo về một bên thành ghế dựa sát vách. Đường đạn đã xuyên thủng ngực Tướng Hiếu”. Đó là lời khai của thượng sĩ cận vệ của Tướng Hiếu trước Ủy Ban Điều Tra Hỗn Hợp gồm Quân Cảnh, An Ninh QĐ và Cảnh Sát.

6). Bác sĩ khám nghiệm tử thi Lương Khánh Trí phân tích như sau: “Viên đạn đi vào càm gặp phải xương quay hàm quá cứng không đi thẳng lên đầu được nên phải rẽ xuống, đâm ra sau ót khiến Tướng Hiết chết tốt, không biết đau đớn”.

Trên nguyên tắc chung, tờ trình của bác sĩ khám nghiệm tử thi được xem như tài liệu chính thức. Còn sự thật ra sao thì nằm trong bí mật.

7). Những “nhân chứng” mô tả đường đạn đi khác nhau.

Tướng Toàn: “Viên đạn từ mắt lên đầu”. Đại Tá Phan Huy Lương: “Viên đạn qua trán rồi lên đầu”.

Chuẩn Tướng Lê Trung Tường (TMT/QĐ3) “Viên đạn xuyên qua trán đi thẳng lên óc”

Ba ông nầy mô tả giống nhau, là viên đạn từ (mắt) hoặc trán lên đầu. hoặc sau ót. Ót cũng thuộc về một phần của đầu.

Ông Tín mô tả về vết thương.

Khi quan sát vết thương, ông Tín mô tả lại như sau: “Tôi chỉ thấy viên đạn để lại một dấu chấm đen nhỏ xíu ở càm bên trái cách mép môi bên trái 1cm khoảng 45 độ về phía dưới. Viên đạn cũng để lại một chấm đen nhỏ xíu trên đỉnh đầu bên phải”.

Căn cứ vào đường đi của viên đạn để tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết của Tướng Hiếu.

blank
Hình ảnh liên hệ về Tướng Hiếu.

3* Những âm mưu ám sát và đảo chánh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Một số giả thuyết cho rằng Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã bị mưu sát vì bị nghi ngờ là có âm mưu đảo chánh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho nên cần đặt vấn đề vào bối cảnh phức tạp về quân sự và chính trị trong những ngày trước khi Miền Nam sụp đổ, ngày 30-4-1975.

Về quân sự. Ngày 14-3-1975, Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút quân ra khỏi Vùng 2. Từ đó, nhiều tỉnh lỵ lần lượt rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt: Quảng Trị, Quảng Ngãi, Huế…Ngày 30-3-1975, Vùng 1 sụp đổ hoàn toàn.

Sau khi mất Quân Đoàn 1 và QĐ2, Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) vẫn một mực đòi loại Tổng Thống Thiệu ra khỏi chính quyền. Các phe nhóm Miền Nam nhận thấy đã đến lúc ông Thiệu phải ra đi để có hy vọng thương lượng với CSBV.

Đó là một trong những lý do đưa đến việc mưu sát và đảo chánh Tổng Thống Thiệu. Như thế, đảo chánh không phải thuần túy là tranh dành quyền lực mà là hy vọng có một giải pháp có thể cứu vãng Miền Nam.

3.1. Những âm mưu ám sát Tổng Thống Thiệu

Ngày 23-1-1975, một sĩ quan QLVNCH đã ám sát hụt Tổng Thống Thiệu bằng súng ngắn. Anh nầy lập tức bị đưa ra tòa án quân sự.

Ngày 4-4-1975, phe đối lập dự định đặt bom trong Dinh Độc Lập nhưng bị lộ.

Ngày 8-4-1975, phi công Việt Cộng nằm vùng là Trung Úy Nguyễn Thành Trung đã lái phi cơ F-5E ném bom Dinh Độc Lập.

3.2. Những âm mưu đảo chánh

Có sáu nhóm muốn loại ông Thiệu ra khỏi chức vụ Tổng Thống VNCH.

1. Nhóm quân nhân cao cấp do Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu.

2. Nhóm của Dương Văn Minh

3. Nhóm của Thích Trí Quang

4. Nhóm công giáo của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình

5. Nhóm của linh mục Nguyễn Hữu Thanh

6. Nhóm của Vũ Văn Mẫu.

Về việc Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, phóng viên Denis Warner, trong cuốn “Certain History-How Hanoi won the war” cho biết, một sĩ quan làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, đã gọi điện thoại đến phòng của tôi ở khách sạn Continental cho tôi hay là “cuộc đảo chánh đang tiến hành và tôi có thể an toàn mà viết phóng sự vì ông Kỳ sẽ lên nắm chính quyền trước sáng ngày hôm sau”.

Bà vợ của Thủ Tướng Khiêm muốn ông Thiệu từ chức.Trong bài viết tựa đề “Giờ phút cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn”, Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận, cận vệ của Thủ Tuớng Khiêm, kể lại như sau: “Mấy lúc sau nầy, bà (vợ của Thủ Tướng Khiêm) đã có vài lần tỏ sự chống đối mạnh mẽ đối với ông Thiệu. Có một hôm, bà bảo tôi (Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận) theo bà vào Dinh Độc Lập để yêu cầu Tổng Thống Thiệu từ chức. Cũng may là chúng tôi chỉ được Tổng Thống phu nhân đón tiếp. Nếu không thì không biết số phận của tôi đi về đâu”.

3.3. Bắt giam 7 người âm mưu đảo chánh

Ngày 2-4-1975 Tổng Thống Thiệu cho bắt 7 người, trong đó 6 người đã từng cộng tác với Nguyễn Cao Kỳ bị cho là chủ mưu, trong đó có Dân biểu Nguyễn Tấn Đời (Tín Nghĩa Ngân Hàng) và GS Châu Tâm Luân, và ngay cả ông Nguyễn Văn Ngân, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống Thiệu cũng bị bắt.

blank
Hình ảnh liên hệ về Tướng Hiếu.

4* “Ông Thiệu ra đi trong điều kiện hết sức khó khăn”

4.1 CIA sắp xếp mọi chi tiết để đưa ông Thiệu rời Việt Nam

Trong một công điện gởi cho Tòa Bạch Ốc, Đại Sứ Graham Martin cho biết nội dung như sau: “Tổng Thống Trần Văn Hương nói với tôi là ông rất lo ngại cho sự an toàn của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Sau nầy, khi kể lại việc tổ chức cho TT Thiệu rời VN, Đại sứ Graham Martin cho biết: “Ông Thiệu ra đi trong điều kiện hết sức khó khăn. Chúng tôi rất quan tâm và cố gắng sắp xếp mọi chi tiết”

Đại sứ Mỹ nói như vậy vì trước đó mấy ngày, một nhóm quân nhân đã dùng vũ khí ngăn chặn việc cất cánh của chiếc phi cơ vận tải C-141, họ yêu cầu phải cho họ di tản. Vì thế, ĐS Martin e ngại rằng việc đó có thể xảy ra.

4.2.CIA giương đông kích tây

Tin đồn lan truyền rằng chiếc Boeing 727 của Air Vietnam mà trước đó đã đưa TT Thiệu công du ngoại quốc. Chiếc phi cơ nầy hiện đặt trong tình trạng ứng trực 100% để sẵn sàng cho ông Thiệu xử dụng.

Những tin đồn đó khiến cho mọi người quan sát và theo dõi mọi động tĩnh của chiếc phi cơ nầy.

Trong khi đó, ĐS Martin cho gọi chiếc phi cơ riêng của ông là chiếc C-118 từ Thái Lan sang Tân Sơn Nhất để đưa hai ông Thiệu và Khiêm rời Việt Nam.

Đó là kế giương đông kích tây.

4.3. Một âm mưu cho Tổng Thống Thiệu nát thây

Một phần tử của Không Quân VNCH đã hết sức chống đối hai ông Thiệu và Khiêm, họ nói rằng hai ông nầy sẽ không rời khỏi VN mà còn sống nguyên vẹn.

Theo lời của Đại Tá Nguyễn Quốc Hưng, lúc đó là Phó Trưởng Phòng đặc trách máy bay khu trục thuộc Phòng Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Không Quân, cho biết giữa tháng 4/1975, một nhóm sĩ quan không quân đã theo dõi sát chiếc Boeing 727.

Lúc ấy tại sân bay Cần Thơ có loại khu trục A-37 và phản lực F-5.

Theo kế hoạch, nếu thấy ông Thiệu lên chiếc phi cơ nầy thì những người của họ ở Tân Sơn Nhất sẽ báo về Cần Thơ để phản lực F-5 cất cánh bay thẳng ra khơi và bắn hạ phi cơ chở ông Thiệu ở một địa điểm cách bờ biển 100km.

Nếu ông Thiệu rời VN bằng chiếc 727 thì bị nát thây.

5* Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu bị nghi ngờ đảo chánh

5.1. “Bản Tường Trình Kết Thúc Về Cái Chết Của Tướng Hiếu”

Ngày 28-9-2004, ông Nguyễn Văn Tín phổ biến “Bản Tường Trình Kết Thúc Về Cái Chết Của Tướng Hiếu” nguyên văn như sau:

- 8 giờ sáng ngày 8-4-1975, Trung Úy phi công Nguyễn Thành Trung lái phi cơ F-5E ném bom Dinh Độc Lập.

- Chiều ngày 8-4-1975, Bộ Tư Lệnh QĐ 3 loan tin Tướng Nguyễn Văn Hiếu chết tại văn phòng của ông trong BTL/QĐ bởi 1 vết thương ở miệng. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn đang làm Tư Lệnh QĐ III.

Vì cái chết có nhiều nghi vấn cho nên ông Nguyễn Văn Tín là em của Tướng Hiếu mới ra sức tìm hiểu và điều tra, ông Tín viết như sau: (trích nguyên văn)

"Vào lúc 8 giờ sáng ngày 8-4-1975, Dinh Độc Lập bị dội bom, TT Thiệu hốt hoảng lo sợ 1 cuộc đảo chánh phát khởi, ông ra lịnh xác định vị trí của các tướng tá trên khắp 4 quân khu, thì được cơ quan tình báo của Tướng Đặng Văn Quang, Phụ Tá An Ninh Phủ Tổng Thống, cho biết là ai nấy đều ở vị trí bình thường, chỉ duy có Tướng Hiếu là đang ở Gò Dầu Hạ (Tỉnh Tây Ninh), họp bàn với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh Lực Lượng Xung Kích QĐ 3.

TT Thiệu nghi ngay tướng Hiếu âm mưu đảo chánh. Ông nhớ là 4 năm trước, vào tháng 6 năm 1971, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh QĐ3, báo cáo là Tướng Hiếu toa rập với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, đưa Lực Lượng Xung Kích QĐ3 về Lộc Ninh, lấy cớ là để giải vây cho quân lính bị nguy khốn ở Snoul, nhưng thật ra là để đưa chiến xa về Saigon làm đảo chánh".

TT Thiệu thấy lần nầy cần phải ra tay trừ khử Tướng Hiếu để tránh hậu nạn. Lịnh được truyền xuống cho Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, TL/QĐ3 thi hành.

...Bác sĩ Trung Tá Quân Y Lý Ngọc Dưỡng, chánh văn phòng của Tướng Toàn và Đại Tá Lê Trọng Đàm, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát QĐ3, nhận nhiệm vụ đưa 1 cảnh sát viên đàn em của Đại Tá Đàm vào văn phòng của Tướng Toàn, ẩn núp chờ sẵn.

Buổi chiều, khi BTL/QĐ vắng người, tên sát nhân từ văn phòng Tướng Toàn lẽn qua văn phòng của Tướng Hiếu kế bên để mai phục.

Sau khi hạ sát Tướng Hiếu với khẩu súng lục nhỏ loại đặc biệt, tên sát nhân đặt khẩu súng của tướng Hiếu vào bàn tay của tướng Hiếu, rồi dùng ngón tay của Tướng Hiếu bóp cò.

Hành động xong, tên sát nhân lẽn về ẩn nấp an toàn trong văn phòng của Tướng Toàn.

Như vậy, Thiệu là người chủ mưu ra lịnh giết. Tướng Toàn là kết tụ nhóm, lập mưu thi hành lịnh. Dưỡng, Đàm và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng QĐ3 là những tay sai thừa hành" (Hết trích)

(Bản Tường Trình Kết Thúc Về Cái Chết Của Tướng Hiếu- Nguyễn Văn Tín-Ngày 28-9-2004

5.2. Nhận xét về Bản tường trình của ông Nguyễn Văn Tín

Bản tường trình có những chỗ không rõ ràng như sau:

- Thứ nhất.

Trong Bản tường trình, ông Tín xác định như sau: “Thiệu là người ra lịnh. Nhóm lập mưu thi hành là Dưỡng, Đàm và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường (Tham Mưu Trưởng QĐ3) là những tay sai thừa hành”.

Ông Tín khẳng định như thế mà không đưa ra nhân chứng hoặc vật chứng nào cả nên được xem như một dự đoán, như một giả thuyết mà thôi. Giả thuyết có thể đúng 100%. hoặc đúng 50% hoặc sai hoàn toàn 100%. Nhưng suy đoán và giả thuyết không có tư cách pháp lý nên không thể căn cứ vào đó mà buộc tội được.

- Thứ hai.

Khi quan sát vết thương, ông Tín mô tả lại như sau: “Tôi chỉ thấy viên đạn để lại một dấu chấm đen nhỏ xíu ở càm bên trái cách mép môi bên trái 1cm khoảng 45 độ về phía dưới. Viên đạn cũng để lại một chấm đen nhỏ xíu trên đỉnh đầu bên phải”.

Theo mô tả của ông Tín thì viên đạn đi từ dưới càm trổ ra đỉnh đầu, có nghĩa là từ dưới lên trên. Thế nhưng trong Bản tường trình ông viết: ”…người cảnh sát lẽn vào mai phục trong phòng Tướng Hiếu”.

Mai phục là ẩn náu ở một nơi kín đáo chờ tấn công bất ngờ, để tránh bị phát hiện như thế thì phải ở xa chỗ ngồi của Tướng Hiếu.

Vì ở xa nên không thể bắn từ dưới càm lên đỉnh đầu được.

Làm thế nào để người cảnh sát có được khẩu súng mà Tướng Hiếu luôn mang theo mình? Dùng nó để bắn chết Tướng Hiếu?

- Thứ ba.

Thời gian không đủ để thực hiện một âm mưu to lớn và tối mật có liên hệ đến nhiều người. Nội dung Bản tường trình như sau:

- 8 giờ sáng, Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập

- Sau đó TT Thiệu ra lịnh kiểm tra vị trí của các tướng lãnh trên toàn 4 quân khu.

- Khi đó chỉ có Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu và Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi đang ở Gò Dầu Hạ, tỉnh Tây Ninh. Tướng Hiếu về Bộ Tư Lệnh QĐ3 vào lúc 9giờ sáng.

Về thời gian thì tất cả những hành động nêu trên ít nhất cũng phải mất 2 tiếng đồng hồ. Vậy thì có thể xem như toàn bộ âm mưu được thực hiện từ 10 giờ sáng đến xế chiều. Một âm mưu gồm có rất nhiều người tham gia. Đó là:

-Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lịnh QĐ3.

- Trung Tá Lý Ngọc Dưỡng, chánh văn phòng của Tướng Toàn.

- Đại Tá Lê Trọng Đàm, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát QĐ3.

- Người cảnh sát làm sát thủ.

Tổng Thống Thiệu ra lịnh giết Tướng Hiếu bằng điện thoại hay bằng công điện mật mã, hay cử người đi từ Sài Gòn lên Biên Hòa? Chi tiết nào chứng minh Tổng Thống Thiệu ra lịnh cho Tướng Toàn?

Đi từ Sài Gòn lên Biên Hòa phải mất khoảng 40 phút. Ra lịnh bằng điện thoại không thể bảo mật được. Công điện mật thì phải có người giải mã, đệ trình cho Tướng Toàn, nên khó bảo vệ tối mật được.

Ngoài ra còn có những người liên hệ như chiếc xe nào, tài xế nào chở viên cảnh sát đến và rước về. Phải có người nào đó đưa sát thủ vào văn phòng của Tướng Toàn…

Phòng làm việc của Tư Lịnh QĐ3 luôn luôn được canh phòng cẩn mật, không phải là một nơi công cộng mà ai muốn vào, muốn ra lúc nào cũng được.

Một kế hoạch mưu sát như thế thì cần phải cần sự phối hợp của nhiều người để phân công thực hiện từng chi tiết, ăn khớp với nhau mới thống nhất hành động được.

- Thứ tư

Kế hoạch tấn công phải đi kèm theo kế hoạch rút lui khi thất bại.

Những người thực hiện âm mưu ám sát Tướng Hiếu là những sĩ quan cao cấp, đã rất quen thuộc với những kế hoạch về chiến thuật và chiến lược. Có kế hoạch tấn công thì cũng phải có kế hoạch rút lui an toàn khi thất bại. Trường hợp người cảnh sát thất bại, bị bắt thì những người chủ mưu và thừa hành phải được an toàn. Vì thế, bốn bị cáo nêu trên (Toàn, Dưỡng, Đàm) không ai dại gì trực tiếp đứng ra chỉ đạo việc ám sát một tướng lãnh đang giữ chức vụ quan trọng của QLVNCH như Tướng Hiếu.

Tóm lại, một âm mưu tối mật do nhiều người thực hiện, không có thể thi hành từ lúc 10 giờ sáng đến xế chiều trong ngày 8-4-1975.

6* Tiểu sử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 24-6-1929 tại Thiên Tân, Trung Hoa. Năm 1933 gia đình dọn về sinh sống ở tô giới Pháp là Thượng Hải. Năm 1949, Mao Trạch Đông lên nắm chính quyền, ông Hiếu đang theo học tại Đại Học Aurore, gia đình trở về Sài Gòn. Năm 1950 chuyển ra Hà Nội.

Ngày 8-4-1975, Tướng Hiếu chết tại phòng làm việc. Ngày 10-4-1975 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký quyết định truy phong cấp trung tướng cho Tướng Hiếu.

Tang lễ được tổ chức theo lễ nghi quân cách và an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, bên cạnh phần mộ của cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí.

Lúc 8 giờ tối ngày 29-4-1975, bà quả phụ cố Trung Tướng Nguyễn Văn Hiếu và 6 người con được di tản bằng trực thăng Chinook ra Hạm Đội 7 đậu ngoài khơi Vũng Tàu, sang định cư tại Philadelphia, bang Pennsylvania, HK.

7* Binh nghiệp

Cuối năm 1950, ông nhập ngũ vào Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (khai giảng ngày 5-11-1950).

Tốt nghiệp khóa 3, Trần Hưng Đạo, (ngày 25-6-1951) cấp bậc thiếu úy hiện dịch trong Quân Đội Quốc Gia thuộc khối Liên Hiệp Pháp.

Năm 1953 thăng trung úy. Do sức khỏe kém (bịnh lao phổi) nên phải vào Nam phục vụ ở Phòng 3 (Phòng Hành Quân) tại Bộ Tham Mưu, dưới quyền Đại Tá Trần Văn Đôn.

Năm 1954 thăng đại úy. Tháng 8 năm 1957 thăng thiếu tá. Tướng Trần Văn Đôn rút ông về phục vụ tại Phòng 3 của Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn 1. Cuối năm 1962 đi học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Học Viện US Army Command and General Staff College Fort Leavenworth, bang Kansas, Hoa Kỳ. Tháng 8/1963 trung tá Tham mưu trưởng Sư đoàn 1BB do Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí làm tư lịnh.

Sau đảo chánh 1963, giữ chức Quyền Tư Lịnh trong một thời gian ngắn, thay Đỗ Cao Trí. Sau đó được cử làm Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1, thay Đại Tá Trần Thanh Phong đi giữ chức Tư Lịnh Sư Đoàn 1BB

Ngày 1-1-1964 ông được cử làm Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Tháng 9/1964 nắm Tư Lịnh Sư đoàn 22BB, thay thế Thiếu Tướng Linh Quang Viên đi làm Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội. Tháng 10/1964 bàn giao Sư Đoàn 22BB cho Đại Tá Nguyễn Xuân Thịnh, trở về giữ chức Tham Mưu Trưởng QĐ2.

Tháng 5/1965 thăng đại tá. Tháng 6/1966 trở lại làm Tư Lịnh Sư Đoàn 22BB, thay Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Sằng đi làm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn 2.

Ngày 1-11-1967, được vinh thăng chuẩn tướng. Tháng 8/1969, bàn giao SĐ 22BB cho Chuẩn Tướng Lê Ngọc Triễn, để đi làm Tư Lịnh Sư Đoàn 5BB, thay thế Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Năm 1970, được vinh thăng thiếu tướng. Tháng 6 năm 1971 bàn giao SĐ 5BB cho Đại Tá Lê Văn Hưng để đi làm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn 1 do Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm làm Tư Lịnh.

Ngày 10-2-1972, Tướng Hiếu được Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đề cử giữ chức Phụ Tá đặc trách trong Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng.

Cuối tháng 10/1973 được bổ nhiệm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn 3 đặc trách hành quân.

8* Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là vị tướng tài ba và thanh liêm.

Đại Tá Trịnh Tiếu mô tả “Tướng Hiếu là một tướng lãnh tài đức vẹn toàn”. Có trình độ văn hóa cao, thông thạo Anh và Pháp ngữ, thông minh và trí nhớ tốt. Đánh giặc có bài bản theo lý thuyết quân sự nổi tiếng.

Tướng Hiếu đã từng giữ những chức vụ điều động những đại đơn vị như Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1 và TMT/QĐ2. Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3. Trước đó đã từng giữ chức Tư Lệnh các Sư Đoàn 22BB và SĐ 5BB

9* Kết luận

Những nguyên nhân gây ra cái chết của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, một vị tướng lãnh tài ba lỗi lạc của QLVNCH vẫn còn chìm trong vòng bí ẩn.

Tướng Hiếu không phải chết do tại nạn, súng bị cướp cò trong khi lau chùi. Cũng không phải tự tử hay do Tướng Toàn bắn trong một vụ cãi vã. Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá xác nhận trong thời gian Tướng Hiếu chết thì Tướng Toàn họp với ông ở một phòng trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.

Nghi vấn cái chết do hung thủ là một cảnh sát dưới quyền của Đại Tá Lê Trọng Đàm, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quân Đoàn 3, không thuyết phục.

Sau gần 40 năm điều tra của ông Nguyễn Văn Tín cũng chưa có chứng cớ thật sự nào về cái chết của Tướng Hiếu cả.

Tướng Hiếu chết 22 ngày trước cái chết của Việt Nam Cộng Hòa (30-4-75). Tất cả để lại nổi đau của một dân tộc, Việt Nam Cộng Hòa.

Trúc Giang

Minnesota ngày 2-3-2015
  
Tại Sao VNCH Không Thể Loại ĐỒNG VĂN KHUYÊN – Số Phận Tướng Khuyên Sau Năm 75

Đồng Văn Khuyên: Tướng Tham Mưu Tài Ba

24/03/2015
Một vì sao lại vừa rụng sáng chủ nhật 22 tháng 3 sau bốn mươi năm kể từ ngày di tản buồn. Mấy ngày trước khi ông mất, người ta nhắc nhiều đến tên ông – trung tướng Đồng Văn Khuyên - một tướng lãnh chưa một lần cầm quân cấp trung đoàn nhưng trở thành tướng ba sao, mỗi sao chưa đầy ba năm và chức vụ cuối cùng trước ngày mất nước là Quyền Tổng tham mưu trưởng QLVNCH trao tay từ người đàn anh là Đại tướng Cao Văn Viên từ nhiệm sáng 28/4.

Trong quân đội có thể nhiều người lính chưa biết tên ông, nhưng sĩ quan và ai đảm nhận chức vụ chỉ huy bất kể ngành gì thì đều biết ông. Một thuộc cấp gần gũi với ông, đại tá VVL tức nhà văn Giao Chỉ đã gọi ông là nội tướng của toàn quân chuyên lo vấn đề tiếp vận từ súng ống đạn dược quân xa, quân cụ đến thực phẩm lương khô, quân trang, xăng nhớt…và trong thời cao điểm của cuộc chiến suốt một thập niên tên ông đồng hành với công tác tiếp vận tiếp liệu mà chức vụ chính thức là Tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận trong hệ thống tham mưu đầu não tại trung ương.

Xuất thân Khóa 1 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, ông là một trong số sĩ quan đầu tiên có bằng tú tài bị gọi động viên gia nhập quân đội quốc gia. Sau thấy hợp áo lính ông chuyển sang sĩ quan hiện dịch và kể từ chiến dịch bình định Khu 5 cũ tại miền Trung sau 54, ông trở thành sĩ quan tham mưu chuyên về phòng tư lo các mặt tiếp vận, hậu cần cho đơn vị.

Mười năm sau ông trở thành chỉ huy trưởng BCH 3 tiếp vận cho quân đoàn 3 mà lúc này tư lệnh là thiếu tướng Cao Văn Viên. Tướng Viên một sĩ quan Dù thấy ông xuất sắc về tham mưu đã cho ông kiêm luôn chức Tham mưu trưởng quân đoàn, từ đây đường binh nghiệp như diều gặp gió khi xếp ông trở thành tướng 4 sao nắm chức Tổng tham mưu trưởng của quân lực miền Nam. Tướng Viên kéo ông về trung ương, trao nhiệm vụ tiếp vận cho toàn quân với chức vụ Tham mưu phó kiêm tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận Bộ TTM. Cũng trong thời gian này do nhu cầu công tác, có lúc ông còn làm Trưởng Phòng Tổng quản trị lo về nhân viên và kiêm luôn Đổng lý văn phòng Bộ Quốc phòng, các chức vụ vừa to về chức vừa nặng về quyền nhưng ông luôn giữ vai trò tham mưu đứng sau các xếp lớn, ít khi nào phô trương cá nhân. Ba năm trước ngày mất nước ông đảm nhận chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân, một CEO nếu kể quân đội là một đại công ty, phụ tá đắc lực và quán xuyến mọi việc cho tướng Viên khi ông này luôn đòi từ nhiệm nhưng tổng thống Thiệu không chịu cho người thay thế. Tướng Khuyên dù thực quyền là số 2 trong hệ thống tham mưu chóp bu, ông vẫn kiêm nhiệm chức vụ đầu ngành tiếp vận của quân lực. Nói vậy để thấy sức làm việc đáng nể của ông tướng này và qua đó nếu kể về công trạng ông được kể là tướng tham mưu tài ba và hữu hiệu nhất trong quân lực dù ông chẳng bao giờ cầm quân chỉ huy trực tiếp các đại đơn vị như các tướng lãnh cùng thời mang cấp ba sao.

Về cuộc đời và binh nghiệp của tướng Khuyên, tất nhiên cũng có người nói sao lên lon quá nhanh dù chỉ làm công tác tham mưu, nhưng xét cho cùng con người ta có số, có thế có thời, lại có khả năng, gặp người phù trợ biết cách dùng người (mentor) như tướng Viên thì bảo sao mà ông Khuyên không có cơ hội tiến thân? Cũng từ giai thoại này mà người ta được biết, tướng Đồng Văn Khuyên cũng rât có tình với thuộc cấp, đặc biệt chuyện lon lá thăng thưởng ông cũng sốt sắng và đặc cách cho nhiều trường hợp ngoài bảng cấp số hoặc châm chước về tiêu chuẩn căn bản miễn là người ấy phải làm việc giỏi và tranh thủ được sự tín nhiệm của ông (ít nhất có một người tôi biết là đại tá VVL).

Cũng là sự ngẫu nhiên sau cuộc chiến, khi tôi liên tưởng hai người đứng đầu về hậu cần và tiếp vận của quân đội hai miền Nam - Bắc, ông tướng bên kia cũng họ Đồng xưa nay họ này là hiếm (một ông Hà Tĩnh, một vị Gò Công), nhưng gõ Google tò mò tìm hiểu, tướng Đồng Sĩ Nguyên của Hà nội đã được thăng vượt cấp từ đại tá lên thẳng…trung tướng! Thế mới biết ngành lo về tiếp vận cho binh lính bên nào cũng cần người tài.

Nay viết ít hàng về thân thế, lý lịch của một tướng lãnh vừa nằm xuống, người viết hoàn toàn dựa trên các dữ liệu có thật, trên các chức vụ có thật, với những năm tháng cụ thể và với những nhân vật liên hệ được ghi trong quân sử, chủ đích không hề tô hồng tên tuổi một vị tướng vốn dĩ được sự kính nể của toàn quân mà một sĩ quan cấp nhỏ như tôi ít nhất cũng đã có dịp diện kiến vài ba lần trong các cuộc họp tham mưu cấp cao mà tôi được chỉ định làm biên bản buổi họp.

Lần ấy là năm 1969, một năm sau Mậu Thân, cơ quan chúng tôi có phát động một kế họach nhằm nâng cao tinh thần binh sĩ lấy tên kế họach Chân Trời Mới. Đây là một dự án có tầm qui mô lớn được thực thi trong toàn quân từ trung ương đến địa phương, cũng không phải là kế hoạch xuông nặng về giấy tờ dao to búa lớn mà là đi sâu vào thực tế của từng đơn vị kèm theo các phương tiện yểm trợ phúc lợi cho binh sĩ và gia đình của họ. Kế hoạch do Tổng cục CTCT chủ trì nhưng lại được hậu thuẫn yểm trợ mạnh mẽ từ Tổng cục tiếp vận.

Đích thân đại tướng Cao Văn Viên chỉ đạo cần có phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành của bộ TTM, và qua các buổi họp phân công tôi mới có dịp thấy và nghe khẩu khí của tướng ĐVK qua các phát biểu và lối giải quyết nhanh nhạy của ông. Nhiều việc chỉ cần họp xong dựa vào biên bản là thi hành không cần chờ văn thư văn bản. Có theo dõi định kỳ, có qui trách nhiệm cho từng phần vụ, có biện pháp kỷ luật cho các đơn vị trưởng thiếu quan tâm hoặc chậm trễ công tác. Kế hoạch khi sơ kết có những thành quả nhất định của nó.

Từ các buổi họp này tôi có ý thầm phục tài tham mưu của tướng Khuyên và càng trọng tư cách khiêm tốn của ông khi cùng sao cùng cấp với tướng Trần Văn Trung, tổng cục trưởng ngành tôi, đồng chủ tọa buổi họp nhưng ông luôn kéo ghế sang ngồi phía bên phải cùng các cục trưởng dưới quyền và tham dự như một thành viên cấp cao.

Ra hải ngoại cách đây 7 năm ông có sang Cali, chủ yếu là thăm lại bạn bè và các đàn em cũ. Ông đến trong âm thầm ông về trong lặng lẽ, nếu ông muốn cũng còn nhiều thuộc cấp cũ có máu mặt sẽ tiếp đãi phải lẽ. Tôi không ngờ khi ghé thăm một người đàn anh cũng diện H.O. đang ở trên một căn hộ gần khu tượng đài. Anh nói với tôi tướng Khuyên sang chơi mới ở nhà anh mấy bữa, ông này ở một mình lại không có xe sao ông thầy lại chọn chỗ này, mỗi trưa một ông khác có xe đến chở đi ăn cơm bình dân quán Cali 5 đô rưỡi một phần. Sau đó lòng dòng mấy nơi thăm anh em, tối về lại mỗi người một phần đồ ăn to go.

Tôi cũng như nhiều người có thể đặt câu hỏi sao ông Thầy sống giản dị như vậy, nhất là sang đây từ 75 và có một quá khứ quyền cao chức trọng phương tiện trong tay. Anh bạn tôi một người đã ở cùng tướng Khuyên khi còn ở Biên Hòa cũng chỉ là sĩ quan thanh tra tại tổng cục, anh thổ lộ, nói nhỏ mày nghe, nói to chúng nó chửi, ông thầy cũng sạch như xếp mày, không chịu ăn giờ này mới giống anh em mình. Chưa hẳn đã tin, nhưng lòng tôi cũng thấy bâng khuâng giờ này viết lại vẫn còn cảm xúc tiếc thương một ngôi sao vừa rụng.

Viết tại quận Cam 23-2-2015

Đỗ Xuân Tê
                                     
Tướng VNCH LÊ QUANG LƯỠNG không cho phủ cờ vàng 3 sọc lên quang tài lý do thật sự là gì?

Tướng Lê Quang Lưỡng: Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù Ở Bình Long

05/08/2000
 Lữ đoàn 1 Nhảy Dù trong đội hình của lực lượng Tổng trừ bị QL.VNCH
Là một trong ba lữ đoàn của Sư đoàn Nhảy Dù, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù là hậu thân của Chiến đoàn 1 Nhảy Dù, được thành lập từ năm 1966 sau khi binh chủng Nhảy Dù được phát triển lên cấp Sư đoàn vào ngày 1 tháng 12/1965. Đến 1/11/1967, chiến đoàn được cải danh thành lữ đoàn. Trong trận chiến Hạ Lào vào tháng 2/1971, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù là một trong những nỗ lực chính tấn công các đơn vị chủ lực của CSBV. Khi cuộc chiến mùa hè bùng nổ, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã có mặt tại chiến trường Bình Long ngay từ giai đoạn đầu, đến hạ tuần tháng 6/1972, Lữ đoàn này được điều động ra tăng viện cho chiến trường Trị Thiên. Cùng với Lữ đoàn 2 và 3, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã tung lực lượng truy kích các đơn vị thuộc sư đoàn 304 CSBV, án ngữ phía Tây tỉnh Quảng Trị, đánh bật CQ ra khỏi khu vực núi Tân Téo (phía Tây Bắc La Vang) mở rộng khu vực kiểm soát đến tận bờ Nam sông Thạch Hãn.
* Lữ đoàn trưởng Lê Quang Lưỡng và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù
Khi trận chiến Bình Long xảy ra vào mùa hè 1972, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù được tăng phái cho Quân đoàn 3 để tiếp ứng cho An Lộc. Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Nhảy Dù lúc bấy giờ là đại tá Lê Quang Lưỡng, xuất thân khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (cùng khóa với trung tướng Ngô Quang Trưởng), phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù từ khi mãn khóa vào tháng 6/1964. Từ đó cho đến tháng 4/1975, ông đã trải qua các chức vụ chỉ huy từ cấp trung đội đến sư đoàn của binh chủng Nhảy Dù. Từ 1965 đến 1972, ông đã lần lượt đảm nhận các chức vụ trọng yếu như sau: Ở cấp bậc thiếu tá, tháng 1/1965, ông giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù mới thành lập; đầu năm 1968, ông được cử giữ chức Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Nhảy Dù, lần lượt thăng cấp trung tá rồi đại tá.
Tháng 8/1972, lữ đoàn trưởng Lê Quang Lưỡng được cử giữ chức phụ tá Hành quân tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Cuối tháng 8/1968, ông được Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp chuẩn tướng, và sau đó, ông được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù để tạm thay trung tướng Dư Quốc Đống bị bệnh. Lúc bấy giờ bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn Nhảy Dù đặt tại căn cứ Hiệp Khánh, cách Huế 17 km về phía Bắc. Đến tháng 11/1972, trung tướng Dư Quốc Đông xin từ nhiệm vì lý do sức khỏe, chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng chính thức đảm nhận chức vụ tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.
Sau đây là bài viết về thế trận của Lữ đoàn 1 Nhảy Dù do tướng Lưỡng chỉ huy khi ông còn là đại tá lữ đoàn trưởng. Phần này được biên soạn dựa theo chiến sử của Sư đoàn Nhảy Dù được phổ biến trong KBC, hồi ký của cựu chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, bài viết của cựu trung tướng Ngô Quang Trưởng phổ biến trong bộ chiến sử của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, tài liệu của tác giả Trần Phan Anh, và tài liệu riêng của VB.
* Lữ đoàn trưởng Lê Quang Lưỡng và kế hoạch đổ quân xuống An Lộc
Theo sự điều động của bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, ngày 6 tháng 4/1972, bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù và 3 tiểu đoàn thống thuộc: 5, 6 và 8 được vận chuyển lên Lai Khê-bản doanh của Sư đoàn 5 Bộ binh, thuộc địa phận tỉnh Bình Dương. Ngày 7 tháng 4/1972, toàn lữ đoàn khởi động cuộc hành quân bằng đường bộ từ Lai Khê lên Chơn Thành-quận cực Nam tỉnh Bình Long. Nhiệm vụ của Lữ đoàn 1 Nhảy Dù là tảo thanh các đơn vị Cộng quân dọc theo Quốc lộ 13 từ Chơn Thành đến An Lộc. Khi qua khỏi Chơn Thành khoảng 6 km về hướng Bắc, và còn cách An Lộc 15 cây số, đoàn quân giải tỏa đã gặp sự kháng cự mạnh của 1 trung đoàn thuộc Công trường 7 CSBV ở Suối Tàu Ô. Địch quân đã lập các cụm chốt cố thủ liên hoàn bắn trả dữ dội vào các đơn vị Nhảy Dù.
Ngày 14 tháng 4/1972, tại căn cứ Lai Khê, trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân đoàn 3, đã họp cùng với trung tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, và đại tá Lê Quang Lưỡng, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Nhảy Dù. Tại buổi họp này, trung tướng Minh đã nhận định tình hình trận chiến An Lộc. Theo tướng Minh, An Lộc đang bị Cộng quân siết chặt vòng vây, lực lượng trú phòng không tung ra ngoài được để hoạt động. Số quân sĩ thương vong vì bị pháo kích ngày càng gia tăng, trong tình thế đó, cần phải lập một đầu cầu vào An Lộc để nới rộng tầm hoạt động của quân trú phòng. Các mặt ở hướng Bắc, Tây, Nam đều bị phong tỏa. Chỉ còn mặt Đông Nam chưa bị địch quân khống chế, ở đây có những ngồi đồi thoai thoải, thuận tiện cho cuộc đổ quân trực thăng vận, và lực lượng nhận lãnh trách nhiệm khó khăn và nguy hiểm này là Lữ đoàn 1 Dù.
Sau cuộc họp, đại tá Lê Quang Lưỡng bay quan sát vị trí trận địa để chọn bãi đổ quân. Sau 5 vòng bay, vị lữ đoàn trưởng đã chọn ấp Srok Ton Cui, cách An Lộc 4 km về phía Đông, để các đơn vị đổ bộ. Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù được thả xuống trước để khai quang bãi đáp. Ngày hôm sau, 15 tháng 4/1972, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù và bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù trực thăng vận xuống khu vực này. Sau khi đã hoàn tất cuộc đổ quân, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù chia làm 2 cánh tiến quân vào thị xã An Lộc, trong khi đó, tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại làm lực lượng đoạn hậu và án ngữ Đồi Gió.
Tiếp tục kế hoạch điều quân, đại tá Lê Quang Lưỡng cho lệnh Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bung ra lục soát về phía Tây thị xã An Lộc. Trên đường tiến quân, do bị Cộng quân pháo kích dữ dội nên tiểu đoàn đã chuyển về hướng Nam, cùng lúc đó, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù cũng nhận được lệnh ra tiếp ứng để mở rộng vòng đai, nhằm lập bãi nhận hàng tiếp tế do phi cơ thả dù.
Ngày 19 tháng 4/1972, Cộng quân điều động 2 trung đoàn 141 và 275 CSBV tấn công cường tập vào bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tại đồi 169 và Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tại đồi Gió. Trước áp lực quá nặng của địch, đại tá Lê Quang Lưỡng gọi máy cho phép trung tá Nguyễn Văn Đĩnh, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, được toàn quyền quyết định về kế hoạch triệt thoái. Trung tá Đĩnh cùng với 2 đại đội 60, 62 di chuyển theo ngọn đồi xuống ấp Srok Ton Cui, nơi đây đại đội 61 đang hoạt động; 2 đại đội 63 và 64 còn lại do thiếu tá Phạm Kim Bằng chỉ huy tiếp tục án ngữ cao địa. Cánh quân do trung tá Đĩnh chỉ huy bị Cộng quân chận đánh và cuối cùng phải triệt thoái về hướng Nam; sau đó được trực thăng Không quân VNCH bốc được và chở về Lai Khê chỉnh trang; cánh quân còn lại của tiểu đoàn 6 Nhảy Dù và bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù rút vào An Lộc. Riêng pháo đội 105 ly với 6 khẩu đội được lệnh phá hủy tất cả súng trước khi rút lui.
* Lữ đoàn 1 Nhảy Dù và những trận đánh lớn tại An Lộc
Trong cuộc rút quân khỏi Đồi Gió, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đã được Không quân yểm trợ bằng 3 phi tuần xuống các vị trí của Cộng quân quanh vòng đai của lộ trình rút quân. Rạng ngày 21 tháng 4/1972, Cộng quân pháo kích 2 ngàn quả đạn vào tuyến phòng ngự của lực lượng VNCH, trong đó có các cụm điểm trọng yếu do Lữ đoàn 1 Nhảy Dù phụ trách. Tiếp đó, đêm 22 rạng ngày 23/4/1972, Cộng quân tung thêm quân tấn công vào khu vực trách nhiệm của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù ở cửa Nam An Lộc. Cánh quân bộ binh địch tấn công vào tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù có 1 chi đội chiến xa gồm 2 T- 54 và 2 PT-76 của CQ yểm trợ. Lúc này quân trú phòng đã được trang bị vũ khí bắn chiến xa mới mang tên XM 202 cải biến từ M 72, có thể bắn liên tiếp 4 phát, với sức nóng 3,600 độ Fahrenheit mỗi trái. Cả 4 chiến xa đều bị chiến binh Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bắn cháy rụi. Ngoài ra tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù còn liên lạc qua hệ thống truyền tin không lục với phi cơ C-130 có gắn đại bác 105 ly bắn theo sự hướng dẫn của ra đa hạ luôn một đội chiến xa CQ gồm 5 chiếc đang di chuyển.
Ngày 11 tháng 5/1972, Cộng quân tấn công cường tập vào các vị trí phòng ngự của lực lượng VNCH tại mặt Đông và Đông Bắc, vài đơn vị trú phòng báo cáo về bộ Tư lệnh Hành quân là tuyến phòng ngự có thể bị địch quân tràn ngập. Tướng Lê Văn Hưng đã điều động 1 thành phần của Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tiếp ứng. Đơn vị này có nhiệm vụ chận đứng mũi xâm nhập của đối phương. Sự tăng viên của Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã có hiệu quả ngay lập tức, Cộng quân đã không thể tiến xa được. Về Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, sau khi rút khỏi Đồi Gió và được tập trung tại Lai Khê để tái chỉnh trang, đầu tháng 6/1972, tiểu đoàn này cùng với Trung đoàn 33/Sư đoàn 21 BB và Trung đoàn 15/Sư đoàn 9 BB đã khởi động cuộc hành quân giải tỏa áp lực Cộng quân trên Quốc lộ 13 để tiến về An Lộc tăng viện cho quân trú phòng. Ngày 8 tháng 6/1972, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đã bắt tay được với Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.
Cũng cần ghi nhận rằng, theo sự phối trí của bộ Tư lệnh mặt trận An Lộc, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù trách nhiệm mặt Nam An Lộc, còn Trung đoàn 8 Bộ binh do đại tá Mạch Văn Trường chỉ huy, trách nhiệm phía Bắc An Lộc. Một hôm, nghe tin đại tá Trường bị thương, đại tá Lưỡng đã vượt vòng đai phòng thủ đến thăm và nói với đại tá Trường: lúc này bị thương là chết rồi. Đại tá Trường kể với vị lữ đoàn trưởng Nhảy Dù về áp lực địch quá nặng ở mặt Bắc, đại tá Lưỡng đã chỉ dẫn cho đại tá Trường biến chế mìn để chặn đường tiến quân của địch. Làm theo cách của đại tá Lưỡng, vị trung đoàn trưởng trung đoàn 8 Bộ binh đã cho quân sĩ biến chế mìn theo công thức: cứ hai đầu đạn 155 ly với ngòi nổ thành một quả mìn. Chính với loại mìn biến chế này, trong các đợt tấn công kế tiếp của đối phương, quân trú phòng đã hạ nhiều chiến xa của Cộng quân.
 
7 xe tăng Việt Nam đối đầu với 130 xe tăng Mỹ ngụy và cái kết bất ngờ
Tại sao Tướng Lê Quang Lưỡng dặn: 'Tôi chết đừng phủ cờ vàng?'
Vũ Ánh / Người Việt
29-Apr-2014
Thời trung cổ, các chiến binh người Mông Cổ khi ngồi trên mình ngựa ra trận tiền mà không may tử trận, các đồng đội của họ lập tức giết chết con ngựa mà anh ta cưỡi, lột lấy bộ da ngựa gói chặt tử thi quân nhân này rồi cho chuyển về hậu phương hỏa táng theo tục lệ của quân đội người Mông Cổ. 

Ðây là một nghi thức đầy vinh dự chỉ dành cho người lính chết trận, không có biệt lệ dù đối với hàng tướng lãnh. Nghi thức này được lưu truyền tới ngày nay đối với nhiều quân đội tại các quốc gia trên thế giới, nhưng thay vì người ta dùng bộ da ngựa bọc thây người lính tử trận thì dùng lá quốc kỳ của quốc gia đó phủ trên quan tài người đã vì đất nước mà hy sinh.

Thời quân đội Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, quốc kỳ vàng ba sọc đỏ chỉ được phủ lên quan tài quân nhân tử trận. Nhưng sang đến thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, tục lệ này được nới rộng cho cả bên lực lượng bán quân sự, cán bộ và công chức nếu họ hy sinh đang lúc thừa hành công vụ. Sở dĩ tục lệ này được nới rộng ra hàng ngũ những người không phải quân nhân là để cho công bằng vì trong chiến tranh, nếu có người hy sinh vì quân vụ thì cũng có người hy sinh vì công vụ, họ cũng phải được nhận vinh dự mà quốc gia dành cho họ. Năm (5) cuối cùng của Ðệ Nhị Cộng Hòa, các ngành công chức và cảnh sát còn được quyền tạo những huy chương riêng để vinh danh những viên chức hay nhân viên làm việc xuất sắc, chẳng hạn như ngành thông tin và chiêu hồi có Tâm Lý Chiến Bội Tinh Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Hạng. Huy chương cao quí nhất của công chức, cán bộ là Chương Mỹ Bội Tinh Ðệ Nhị và Ðệ Nhất Hạng, riêng Ðệ Nhất Hạng Chương Mỹ Bội Tinh khi gắn xong phải cử quốc thiều như Bảo Quốc Huân Chương bên quân đội.
Tôi nhắc lại một vài chi tiết để cho thấy rằng trong điều kiện nào một quân nhân hay một dân chính phục vụ quốc gia được hưởng vinh dự mà quốc gia ban cho qua người đại diện hàng đầu cho quốc gia ấy. Tổng Thống VNCH và đồng thời là tổng tư lệnh quân đội hay viên chức được ủy nhiệm là người đại diện cho quốc gia để trao gắn huy chương hay quyết định phủ lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ lên linh cữu của một quân nhân hy sinh ngoài chiến trường hay một công chức tử nạn đang lúc thi hành công vụ.
Những tài liệu báo chí được lưu trữ trong Thư Viện Quốc Gia VNCH, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Tướng Hồ Văn Tố chỉ huy trưởng Trường Bộ Binh Thủ Ðức đã bị vị tổng tư lệnh quân đội từ chối phủ quốc kỳ lên quan tài vì lý do ông qua đời không phải là từ một nguyên nhân vinh dự. Năm 1964, phóng viên mặt trận của Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, anh Khuất Duy Hải, tử trận tại chiến trường Ðức Cơ, Pleiku, đã không được phủ quốc kỳ chỉ vì lý do anh không phải là quân nhân. Tang lễ được hệ thống truyền thanh quốc gia đứng ra cử hành trọng thể, tổng ủy viên Thông Tin (chức vụ tương đương với tổng trưởng Thông Tin trong Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), Tướng Nguyễn Bảo Trị đã đại diện chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đến gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngành Dương Liễu trên quan tài và vào dịp này bản tuyên dương công trạng cố phóng viên mặt trận Khuất Duy Hải được đọc lên, nhưng không có quyết định phủ cờ vì trường hợp anh là trường hợp đầu tiên một phóng viên mặt trận dân sự của ngành truyền thanh quốc gia tử trận trên chiến trường khi đang thi hành công vụ. Dù phóng viên mặt trận Khuất Duy Hải với những ký sự chiến trường được viết rất nhân bản và xúc động phát thanh hàng tuần, hấp dẫn được hàng triệu thính giả, nhưng chính phủ lúc đó là chính phủ quân nhân, chưa có tiền lệ phủ cờ nào dành cho những công chức trung cấp hy sinh ngoài tiền tuyến.
Tôi nhắc lại một vài chi tiết lên quan đến nghi thức “da ngựa bọc thây” đầy xúc động và vinh dự cho người nằm xuống trong trận mạc hay phục vụ quốc gia không ngoài mục đích gì khác hơn là để nhắc lại rằng VNCH khi xưa dù chưa phải là một vùng đất dân chủ tự do hoàn toàn, nhưng những nguyên tắc liên quan đến việc ban phát ân sủng của quốc gia rất chặt chẽ. Cho nên sau này nhiều đồng hương ở đây đưa ra những lời khuyên rất chí lý: “Dù VNCH đã mất, dù quân đội, cảnh sát công chức, cán bộ đã tan hàng nhưng nên duy trì cái dấu ấn tinh thần từ những gì đã mất.” Dấu ấn tinh thần đó là gì? Nhiều người trong cộng đồng giải thích theo cách nhìn của họ “đó là tinh thần chí công vô tư, giữ gìn tín niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm một cách thành thực.” Ngày 30 Tháng Tư gần kề, vấn đề trách nhiệm lại được đặt ra chứ không phải chỉ là những than khóc và những lời đãi bôi nơi cửa miệng.
Năm nay, vấn đề ai là những người phải chịu trách nhiệm đã để một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau rơi vào tay những người cộng sản được đặt ra với một bài thơ, một di chúc rất xúc động của một cố tướng lãnh VNCH: “Mai tôi chết, xin cờ vàng đừng phủ.” Ðó là Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng, nguyên tư lệnh sư đoàn Nhảy Dù mà thời chiến tranh Việt Nam, báo chí gọi ông là “con sói của trận mạc,” xin trích:
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ
Lê Quang Lưỡng
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ
Xác thân này đâu chết cho quê hương?
Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!
Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!

Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.
Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!
Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,
Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.

Bao năm trời bao nhiêu người trai trẻ,
Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.
Khi nằm xuống bạn nào đã cần gì?
Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước,

Ta giờ đây đã tàn bao mơ ước!
Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ...
Ngày về quê càng lúc càng xa mờ.
Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng,

Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!
Xót thân này khi chết bỏ lại đây!
Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai??
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.
Bài thơ tự nó đã là những cảm xúc đầy bi hùng tráng của một bại tướng VNCH. Bài thơ được làm ít lâu trước khi ông qua đời vào ngày 21 Tháng Chín, 2005 tại thành phố Bakerfield, tiểu bang California. Việc ông di tản sang Hoa Kỳ vào ngày 29 Tháng Tư, 1975 đã trở thành vết thương và niềm u sầu suốt những năm tháng sau này qua một câu thơ mà nhiều người thích “Sầu hận tim ta ai biết được.” Nhưng chính lời trối trăn của ông đối với đồng đội, đồng hương đã làm hình ảnh của một bại tướng trở nên sáng ngời:
“Tôi làm tướng không bảo vệ được nước, khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước, nên khi tôi chết già yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi, vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.”
Với lòng can đảm tuyệt vời, vị tướng lãnh đáng được trân trọng nói trên đã để lại lời nói cuối cùng trước khi qua đời bao hàm nỗi lòng u uẩn của dũng tướng, nhưng trong một phút chùng lòng đã không theo được gương của người xưa “thân làm tướng khi thành mất thì phải chết theo thành.” Nỗi buồn đó theo ông suốt những năm tháng còn lại của cuộc sống lưu vong trên xứ người, để rồi cuối cùng chuẩn bị cho cái chết ông đã can đảm từ chối vinh dự “da ngựa bọc thây,” khác với các tướng lãnh thời đương thời và cùng hoàn cảnh di tản như ông.
Nó là một thông điệp dứt khoát kêu gọi những người có trách nhiệm về việc mất miền Nam Việt Nam hãy can đảm nhận trách nhiệm của mình,
chấm dứt những nỗ lực tìm người lãnh đạo cuối cùng phải đầu hàng để trút trách nhiệm cho họ,
chấm dứt việc đòi lại danh dự cho nhà lãnh đạo này hay lãnh đạo khác mà biến cố cách đây 38 năm đã biến họ thành đào ngũ, đào nhiệm trước địch quân,
chấm dứt việc đem lá quốc kỳ đã thấm máu quân, dân, cán, chính VNCH để đem phủ cho những người không đáng được hưởng vinh dự đó,
hãy xét lại cho thật kỹ việc tự thêu khăn quàng, tự mang cà-vạt, đội mũ, mặc áo, tự sơn xe riêng của mình mầu cờ vàng ba sọc đỏ và nên tự hỏi: liệu mình có xứng đáng mang lá cờ này không, có đủ nhân cách, tư cách, có đủ sự trung thành với là cờ đó không hay việc ôm lấy lá quốc kỳ chỉ để che giấu những hoạt động chính trị thiếu chính trực của mình?
Tôi là phóng viên mặt trận của hệ thống truyền thanh quốc gia đã từng theo tường thuật hành quân và các trận đánh lớn từ thời Tướng Lê Quang Lưỡng còn là tiểu đoàn trưởng cho đến lúc ông trở thành lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 2 Sư Ðoàn Nhảy Dù, cho nên tôi hiểu nỗi đau của ông khi phải viết lại di chúc này. Nhưng ngay từ những năm 1964, 1965 khi chiến tranh bắt đầu lan rộng, Tướng Lê Quang Lưỡng đã là một ngôi sao sáng trong số những ngôi sao còn rất trẻ ở sư đoàn Nhảy Dù, một đại đơn vị lúc nào cũng ở tuyến đầu, nhận chịu những áp lực nặng nề nhất từ phía CSBV, nhưng họ đã vượt qua được muôn trùng khó khăn là do giữ được kỷ luật và tín niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.
Riêng Tướng Lê Quang Lưỡng khi còn là tiểu đoàn trưởng đã được báo chí miền Nam gọi là “con sói của trận mạc” không có gì sai cả. Kiên trì vượt lên trên những lần thất bại, luôn luôn là tấm gương tinh thần cho những sĩ quan và binh lính thuộc cấp, gan dạ và mưu lược trong những giây phút căng thẳng và nguy hiểm nhất cho đơn vị, đối xử tốt và đúng luật đối tù binh địch, Tướng Lê Quang Lưỡng đã ngồi vào chức vụ tư lệnh của một trong những đơn vị tổng trừ bị hàng đầu của Quân Lực VNCH.
Là một người công trạng sáng chói như ông mà chỉ vì một quyết định không mấy vinh dự khi đất nước nghiêng ngửa mà tên tuổi của ông bị một vết chàm tưởng như sẽ vĩnh viễn không gột rửa. Nhưng lòng yêu nước, trọng danh dự và trách nhiệm được thể hiện qua bài thơ: “Khi tôi chết xin cờ vàng đừng phủ,” ông đã nhận lại được danh dự và sự chính trực của một người mang thân làm tướng và đang là bại tướng. Gặp lại ông trong đám cưới của một người bạn năm 2001, ông cho mời tôi lại bàn. Dù tôi không biết uống rượu, tôi đã rót đầy ly của ông để đánh dấu ngày gặp lại người lính trận mà tôi vẫn nể phục này, ông chỉ thân mật cười, giọng trầm: “Chắc Ánh chưa biết anh không còn uống rượu được nữa vì bệnh. Vả lại nhiều năm qua, anh thấy rượu sao đắng quá.” Tôi nhìn lại “con sói già,” người hùng thở nào trên các mặt trận ở Quảng Trị, Cùa, Ðông Hà, Hải Lăng, Mỹ Chánh, PK.17, Kontum, Pleiku... tự nhiên thấy mắt mình cay cay. Ðó là lần cuối cùng tôi gặp ông.
Giờ đây, chắc linh hồn Tướng Lê Quang Lưỡng đã yên ổn thênh thang ở cõi không còn chiến tranh và hận thù. Ông chắc đã gặp lại các đồng đội cũng từng hành động can đảm giống như ông. Ðó là Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn, tư lệnh phó Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, và cựu Trung Úy Ðoàn Bá Phụ, một trong những đại đội trưởng xuất sắc của Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù. Ðại Tá Sơn xuất thân từ Biệt Ðộng Quân, sau những năm tháng trận mạc dài dài, ông được lệnh thuyên chuyển làm tư lệnh cảnh sát vùng và những năm cuối cùng trước 30 Tháng Tư, 1975, ông được bổ nhiệm tư lệnh phó hành quân Sư Ðoàn 7 Bộ Binh do Tướng Trần Văn Hai làm tư lệnh. Khi Tướng Hai chuẩn bị tuẫn tiết thì vừa lúc ông mở đường máu dẫn quân từ Cai Lậy về Bộ Tư Lệnh ở Ðồng Tâm. Kết quả ông lãnh hơn 12 năm tù cải tạo. Ðược thả và định cư ở Mỹ theo diện HO, ông vẫn không muốn ở không để lãnh trợ cấp chính phủ nên không bao lâu sau khi định cư dù con cái ông đã khôn lớn và ổn định, cựu Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn vẫn nhận công việc của một nhân viên an ninh tư để thấy mình vẫn còn có ích cho xã hội.
Ông bị ung thư gan và qua đời cách đây 11 năm. Trước khi qua đời ông dặn vợ con là không nhận phủ cờ vàng vì cảm thấy mình không đáng được hưởng vinh dự ấy. Còn cựu Trung Úy Ðoàn Bá Phụ là cựu tù cải tạo ở trại A-20 và đồng thời là người tù nổi tiếng bất khuất, định cư ở Mỹ bằng cách vượt biển sau khi được thả ra khỏi trại vài tháng. Sang định cư ở Hoa Kỳ, Phụ lập gia đình, làm việc và nuôi dạy ba cô con gái sau này trở thành những sinh viên, học sinh xuất sắc và được học bổng của tỷ phú Bill Gates cũng như các học bổng khác. Trước khi qua đời anh trối trăn là đừng phủ cờ vàng vì cảm thấy mình không xứng đáng được hưởng vinh dự ấy và tôi là một trong những người chứng của lời trối trăn đầy can đảm này của người bạn tù. Những điều tôi viết ra chắc chắn có những người không đồng ý. Họ có thể có cách nhìn khác. Tôi tôn trọng và không tranh cãi. Vì theo cố Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng:
“Bao năm trời bao nhiêu chàng trai trẻ
Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.”

Lòng can đảm của Tướng Lê Quang Lưỡng là một tấm gương sáng ngời một lần nữa củng cố niềm tin cho tôi, cho chúng tôi rằng, cuối cùng danh dự và chính trực muôn đời vẫn là thước đo con người dù trong hoàn cảnh chiến thắng hay trong hoàn cảnh bại trận.
Vũ Ánh / Người Việt
Nguồn http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=165025&zoneid=425#.UrekCrQRvSA đăng ngày Thứ Sáu, April 19, 2013 6:12:41 PM
 
Tiết Lộ Những Góc Tối Của VNCH Và Các Tướng Lãnh Sài Gòn Sau Hơn 40 Năm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32