Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN, YÊNG HÙNG NGỤY TẶC 13
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Chế độ Việt nam cộng hòa là chế độ "lộng giả thành chân" thứ thiệt. -Quân tướng VNCH mạo danh là quân tử nhưng thực ra chính danh là ngụy quân tử. Hầu hết tướng lĩnh VNCH đều bắt đầu đường binh nghiệp bằng việc đầu quân cho Thực dân Pháp, phản quốc. Đó là lũ "tướng tiền" chứ không phải "tướng tài". -Việt Cộng sinh ra nhằm giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. VNCH do ngoại bang nhào nặn ra nhằm vì danh lợi mà làm tay sai cho chúng, yêu Tổ Quốc bằng cách cam tâm và cả mù quáng "cõng rắn cắn gà nhà", âm mưu chia cắt giang sơn của giống nòi mình, gieo rắc hận thù Dân Tộc cho chính giống nòi mình.
Không nỗi đau nào bằng nỗi đau "nồi da xáo thịt" Không nỗi buồn nào bằng nỗi buồn chia cắt giang sơn Yêu Tổ Quốc là phải biết thương tận lòng Tổ Quốc Thật bụng khen chê, thà ngây như kẻ thất phu.
---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
"LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN"
Thành
ngữ Việt Nam có câu "lộng giả thành chân” có nghĩa là “bỡn quá hóa
thật”. Trước khi tìm hiểu định nghĩa này, tôi và nhiều người thường hiểu
câu thành ngữ này nôm na là, biến cái giá thành cái thật, hay lời nói
dối được nói đi nói lại nhiều lần lâu ngày ngưòi ta sẽ tin là thật.(...)
Cuộc Phản Công Của PHẠM VĂN PHÚ VNCH Hòng Tái Chiếm Buôn Ma Thuột Thua Thảm Quân Giải Phóng Ra Sao
Lý do Thiếu tướng VNCH Phạm Văn Phú tuẫn tiết ngày 30/4/1975 | Cuộc đời Thiếu tướng Phạm Văn Phú
QĐND - Thứ Tư, 22/04/2009, 15:47 (GMT+7)
Thiếu Tướng Ngụy Phạm Văn Phú, tháng 3 năm 1975 là Tư lệnh quân khu II Ngụy Sài Gòn.
Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông. Sau khi tốt nghiệp học khóa 8 trường Võ
bị liên quân Đà Lạt giữa năm 1953, Phú đã tình nguyện phục vụ trong
binh chủng Nhảy Dù. Ngày 14 tháng 3-1954, trong tình huống chiến
trường Điện Biên Phủ vô cùng nóng bỏng, khi đó Phú mang lon trung úy, y
đã chỉ huy một đại đội của Tiểu đoàn 5 quân dù người Việt, nhảy xuống
chốt một vị trí sát đường băng chính sân bay Mường Thanh. Sau hơn một
hơn tháng liên tục giao tranh với đối phương, ngày 16 tháng 4-1954,
Phú đã chỉ huy một phần tiểu đoàn 5 quân dù, cùng với các đơn vị người
Pháp phản công tái chiếm lại một cứ điểm trọng yếu. Sau trận phản công
này, y được thăng cấp đại úy lúc đó Phú 25 tuổi.
Ngày 26 tháng
4-1954, y được cử giữ chức tiểu đoàn phó, tiểu đoàn 5 quân dù. Ngày
7-5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Phú bị ta bắt giam. Sau 20-7-1954
(Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ), Phú được trao trả. Từ đó Phú tiếp tục theo
quan thày vào Nam, phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cho đến
ngày Tây Nguyên thất thủ tháng 3-1975.
Tướng Phú trên máy bay lúng túng chỉ huy di tản
Lo lắng quân giải phóng tiến công, từ
năm 1974, Phú bố trí lực lượng mạnh tập trung ở Bắc Tây Nguyên. Nhưng
trước đòn nghi binh chiến dịch của Quân giải phóng, lần lượt các tuyến
đường 19, 21 xuống duyên hải bị chia cắt, sau đó đường 14, huyết mạch
cao nguyên bị chặn, khiến cho lực lương các sư đoàn, chiến đoàn của
Phú bị cô lập, chỉ còn trông chờ vào điều quân bằng đường không. Tới
khi căn cứ Đức Lập bị đánh, Phú giật mình thấy Nam Tây Nguyên bị sơ hở
thì đã muộn. Thế đã cài, các hướng đã sẵn sang. Trận Buôn Mê Thuột đã
nổ vào rạng sáng ngày 10 tháng 3/1975. , Phú điều quân cứu Buôn Mê
Thuột trong thế túng quẫn mà bất thành. Bốn ngày sau, vào trưa ngày 14
tháng 3 -1975, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú triệt thoái
toàn bộ Quân Đoàn 2 khỏi Cao nguyên. Lên trực thăng chỉ huy xa, Phú
giao cho thuộc cấp làm một cuộc triệt thoái, thực chất là một cuộc rút
chạy hỗn loạn. Sau 3 trận then chốt chiến dịch, quân Ngụy cố gượng lại
chống trả, nhưng kết cục sức mạnh Quân đoàn II ngụy tại Tây Nguyên
nhanh chóng suy sụp thảm bại.
Lực lương còn lại tại duyên hải
trung bộ chịu sức ép trước sức tiến công, nổi dậy, Quân giải phóng lần
lượt làm chủ Bình Định, Phú yên, Khánh Hòa. Sau khi lực lượng Quân
đoàn II “triệt thoái” khỏi Nha Trang, 1 giờ 45 trưa ngày 2 tháng
4-1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã dùng trực thăng chạy đến ngọn đồi
"Lầu Ông Hoàng" Bình Thuận để chờ Quân đoàn 3 Ngụy tới nhận bàn giao
phần "lãnh thổ" cuối cùng của Quân Khu 2 được lệnh sát nhập vào Quân
Khu 3.
Ít ngày sau, tại quân y viện Phú đã tự sát. Từ đây kết thúc
cuộc đời tay sai theo ngoại bang của Phạm Văn Phú - kẻ hai lần bại
trận.
TRẦN BANG
Điểm Lại Những Gương Mặt Chỉ Huy Cốt Cán VNCH Được Quân Giải Phóng Cảm Hóa Đầu Hàng
Một bà mẹ vất vả ngược xuôi (Phu nhân Thiếu Tướng Phạm Văn Phú)
Ngọc Thủy
Vào một buổi trưa trong dịp một số các vị cựu Quân nhân Biệt Kích ở
Bắc Cali tổ chức buổi họp mặt cách đây khoảng bốn năm – không nhớ đó có
phải là buổi hội ngộ hằng năm không – tôi được mời đến trong một không
khí ấm áp, đậm đà tình nghĩa Huynh Đệ Chi Binh giữa những người từng một
thời vào sinh ra tử bên nhau. Sau khi được anh chị Trần Hoàng giới
thiệu với những người chung bàn và thật bất ngờ vì đó là điều hân hạnh
đối với tôi khi được biết mình đang ngồi bên cạnh bà quả phụ cố Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú, là một trong những vị Tướng đã tuẫn tiết để giữ tròn
sĩ khí của một Quân Nhân khi miền Nam Cộng Hòa vừa rơi vào tay Cộng Sản
Bắc Việt trong ngày 30 tháng Tư năm 1975. Qua vài câu xã giao, tôi và
bà nhanh chóng đi vào những tâm tình cởi mở. Với vóc người khá cao lớn,
giọng nói mạnh mẽ cùng tiếng cười sang sảng, cho tôi thấy đó là một vị
nữ lưu trực tính và quả cảm. Khi ấy, dù đã ngoại lục tuần, bà Phạm văn
Phú vẫn giữ được sự duyên dáng và nét tinh anh qua đôi mắt sáng, nụ cười
tươi tắn với lối nói chuyện bộc trực trẻ trung.
Hôm ấy, tuy đang hạnh phúc trước cảm tình trân quý nồng ấm của mọi
người hiện diện dành cho cố T/T Phạm Văn Phú và bà, nhưng có lúc tôi
thấy đôi mắt bà ngấn lệ. Dòng nước mắt lăn chậm ấy như cũng bay vào mắt
tôi khi giọng bà tự dưng khàn nhỏ lại bên tai : “Cô Ngọc Thủy cũng là
người kẹt lại với biến cố ấy thì chắc cũng thấu hiểu được nỗi khổ đau
cùng tận đến thế nào rồi. Cùng một lúc, tôi và các con chịu hai cái tang
lớn nhất trong cuộc đời, mất miền Nam, mất chồng mất cha, xem như mất
tất cả rồi, lại trong lúc Sàigòn của chúng ta đang kinh hoàng đến hỗn
loạn như thế. Mọi người phải tự lo lấy thân mình còn chưa xong còn lo
được đến chuyện của ai. Cùng tám đứa con mồ côi trước mắt chưa biết phải
xoay sở ra sao mà sống mà nuôi con, nhưng trước hết là phải lo cho ông
Phú tôi được chôn cất tử tế chứ. Thế là phải nén chặt lại tất cả sự khổ
đau để cố lo tang lễ cho ông ấy được đàng hoàng. Dù đang không, ông Phú
tôi đành dứt áo bỏ lại tôi cùng tám đứa con nhỏ bơ vơ, nhưng việc ông
làm là đúng khi thế thời như thế. Việc ông làm cho đất nước như vậy, tôi
nào đâu dám trách. May mà bên cạnh tôi lúc ấy cũng có vài người thân
thiết có nghĩa tình bên cạnh giúp đỡ phần nào đấy cô”.
Buổi gặp gỡ lần đầu đã để lại cho tôi sự thấm thía xót xa về tất cả
những mất mát của mọi hoàn cảnh nằm trong sự tan vỡ của quê hương vào
tháng tư năm 1975, niềm quý mến về người phụ nữ đã một mình chống đỡ với
bao phong ba bão táp xẩy đến dồn dập trước và ngay sau biến cố trọng
đại tang thương ấy. Lòng tôi thầm nhủ lúc chia tay là sẽ điện thoại thăm
bà luôn để mong bà có thể thêm chút niềm vui trong thời gian đầu mới
vừa rời nơi cư ngụ quen thuộc ở Nam Cali để lên vùng nắng ấm San Jose
với các con. Thế mà có khi cả hàng năm mới có dịp gọi phôn thăm hỏi được
một lần, dù ngẫu nhiên qua vài lần thăm hỏi đó tôi cũng biết thêm là
nhà tôi và nhà bà cùng ở vùng North Valley, cách nhau chỉ độ mấy khoảng
đường dài. Nỗi đau tâm sự của bà kể lại trong câu chuyện hàn huyên vẫn
lởn vởn trong trí nhớ tôi, kèm thêm biết bao hồi ức đau buồn khác đã xẩy
đến cho tất cả mọi người trong giai đoạn tối đen của đất nước và cuộc
sống lúc ấy.
Tình hình nghiêm trọng cho thấy là phiên họp ngày 11 /3/75 tại Dinh
Độc Lập, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu còn muốn giữ lại thị xã Ban Mê
Thuột nhưng tới phiên họp khẩn báo ngày 14/3/75 tại Cam Ranh, tức chỉ ba
ngày sau, Tổng Thống cùng Bộ Tổng Tham Mưu đã ra quyết định cho Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú thi hành kế hoạch rút quân. Cuộc di tản diễn ra khá
thuận lợi trong hai ba ngày đầu vì bất ngờ, CSBV không biết để đánh chận
đường. Con đường duy nhất để tháo quân lúc đó là liên tỉnh lộ 7B từ Phú
Bổn nối liền với các tỉnh lân cận. Trên đoạn đường này về đến Tuy Hòa
và Phan Rang, Phan Thiết đã trở thành bờ vực từ lộ dưới làn mưa pháo của
Cộng quân ráo riết nhắm vào đoàn người di tản gồm nhiều binh lính thuộc
các lực lượng, sư đoàn của Quân đoàn II và gia đình Binh sĩ cùng mấy
trăm ngàn thường dân từ các tỉnh nhập vào.
Dù phải thừa hành theo lệnh tối cao nhưng sự thất bại của Quân Đoàn
II cũng là phần trách nhiệm của Tướng Phú nên không ai hiểu nỗi đau đớn
xót xa nào bằng của ông trong lúc ấy chính là người vợ luôn sát cánh
cùng ông trong mọi hoàn cảnh khốn khó hoặc vui buồn từ trước giờ. Bà đã
hết lòng an ủi ông, nhưng ông vẫn không thể nguôi ngoai nỗi khổ đau to
lớn đó khi nghĩ đến cái chết oan khiên tức tưởi của nhiều sinh mạng chứ
không riêng gì sự mất mát những vùng đất thân yêu máu thịt của miền Nam
VN, đến mức mang tâm bệnh não nề. Buổi sáng ngày 29 tháng Tư, trời
Sàigòn đã u ám mây đen. Tình hình miền Nam sắp mất gây thành nỗi kinh
hoàng cho mọi người. Họ phải thoát chạy khỏi Cộng sản lần nữa bằng mọi
cách, mọi phương tiện tìm được.
Giữa giòng người ấy, bà Phạm Văn Phú đang mang bẩy người con (người
con trai lớn mười tám tuổi vừa được xuất ngoại du học) ra phi trường. Bà
nóng lòng nghĩ đến lời ông buổi sáng dục giã bà hãy mang các con đi
trước, ông sẽ cố gắng thu xếp mọi việc rồi sẽ gặp nhau sau. Bà còn nhớ
lời bà nức nở khi tạm chia tay : “Ông nhớ đừng làm chuyện gì nguy hại
đến tính mệnh. Tôi không đủ sức nuôi nổi tám đứa con thơ một mình đâu”.
Ông không trả lời, chỉ xiết chặt tay bà như ngầm bảo, không đâu, nhưng
ánh mắt của ông nhìn bà lúc ấy, sao thương yêu mà thê thiết quá. Rồi ông
đẩy nhẹ lưng bà, khe khẻ nhắc : “Em và các con đi nhanh lên kẻo trễ”.
Bà có ngờ đâu, đó là cái chạm tay lần cuối.
Nhớ lại những cử chỉ khác thường của ông lúc đó, bà bỗng thấy nao nao
và lòng dạ như có ai đốt lửa. Bà ngập ngừng giữa sân bay, chưa nỡ rời
xa quê mẹ lẫn người chồng thân yêu còn ở lại, dù đang được người bạn Hoa
Kỳ thúc hối lên máy bay gần cất cánh. Vừa lúc đó bà nghe người thân tín
chạy vội tới báo tin : Tướng Phú vừa uống thuốc độc tự tử, đang cấp cứu
ở nhà thương Grall. Không cần suy nghĩ gì nữa, bà tức tốc đem các con
trở về hết. Vừa thấy bà và các con vào thăm, Tướng Phú lộ vẻ đau đớn
trong ánh mắt, bởi lúc đó ông đã không cử động hoặc nói năng gì được
nữa, ông đang trong tình trạng hấp hối bởi độc dược chưa làm ông chết
ngay được. Và ông đã vĩnh viễn ra đi vào trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Hình ảnh mới hôm nào của ngày Tết mùa xuân 1975, hai ông bà Phạm Văn
Phú chụp cùng các con trong niềm vui hạnh phúc gia đình tràn đầy, có ngờ
đâu vài tháng sau, hình ảnh tang thương một góa phụ cùng đàn con dại,
bé nhất mới lên năm, lại quấn khăn tang bên cạnh quan tài người chồng,
người cha, không tiếng súng tiễn đưa, không lá quốc kỳ phủ mộ. Chỉ có
một nỗi buồn đau lớn lao chung gộp lại : niềm đau vận hạn tang thương
của đất nước lẫn người thân yêu đã vĩnh viễn ra đi.
Thân cò lặn lội nuôi con từ đó, một người phụ nữ goá chồng với tám
đứa con thơ lúc ấy chỉ mới vừa ba mươi chín tuổi. Thương con, thương
chồng bà ở vậy, chắt chiu nuôi con trong bủa vây khốn khó của buổi giao
thời dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Bao ngày tháng qua đi mang theo bao
giòng nước mắt tủi cực đắng cay của người mẹ yếu ớt che chở nuôi dạy đàn
con thơ. Căn nhà đang cư ngụ trên đường Gia Long, đối diện nhà thương
Grall ngay sau ngày 30-04-75 đã bị những cán bộ miền Bắc tràn vào tiếp
thu. Bà Phạm Văn Phú gạt nước mắt xa lìa nơi chốn ấm êm hạnh phúc của
những ngày tháng qua một cách bàng hoàng tức tưởi, vội vã tìm thuê ngay
một căn nhà nhỏ khác để tạm ổn định cuộc sống mới, rồi bương chải lo cho
các con – mà đứa lớn nhất chỉ mới mười lăm mười sáu và bé nhất năm
tuổi, khi ấy giống như chú gà con bước đi chưa vững đã phải bám theo
chân mẹ và đàn anh chị lội qua cánh đồng lầy cuộc sống không nhìn thấy
tương lai. Và người phụ nữ ấy giống như trăm ngàn người phụ nữ khác sau
cuộc đổi đời cay đắng, không bị mất chồng trong biến cố tang thương thì
cũng phải chịu cảnh thân cò lặn lội nuôi con vì chồng, cha đã bị ở trong
trại tù “cải tạo” xa xôi mờ mịt, không biết khi nào mới có ngày trở về.
Bà Phú đã ngược xuôi khắp ngả đường “chợ trời” để mua bán chiu chắt
từng đồng cắt, độn cháo rau khoai sắn qua ngày cho các con thơ. Bà cũng
quá quen thuộc với con đường xe lửa chạy hàng trên tuyến đường Sàigòn,
Phan Thiết, Nha Trang. Cảnh mắt nhắm mắt mở ngủ vội vàng trên toa, cảnh
xô vai té ngả rồi gượng đứng lên để cố chen nhau mua hàng bán họ kiếm
chút đồng lãi mua gạo cho con, thật ra có thấm gì với sự khổ đau trong
tâm hồn và bao sống cảnh nghiệt ngả khác mà gia đình bà và của biết bao
người phải hứng chịu từ ngày miền Nam đổ vỡ tan hoang.
Chịu đựng gần mười tám năm với cuộc sống khó khăn ở ngay chính quê
hương mình, mỗi ngày thêm mệt mõi, buồn phiền khi một số bạn bè người
thân còn kẹt lại cũng lần lượt ra đi như ba người con trai bà cũng đã
vượt biển và tới được bến bờ tự do từ mấy năm trước. Đang lúc chới với
nhất thì bà may mắn nhận được giấy xuất cảnh từ sự bảo lãnh người con
trai trưởng bên Hoa Kỳ.
Ngày Mother’s Day năm nay, bà quả phụ Phạm Văn Phú đã ngoài bẩy mươi.
Hạnh phúc của bà là các con, năm trai và ba gái, giờ đây đều đã trưởng
thành và rất hiếu thảo, thương kính mẹ. Những lúc cùng các con với các
buổi tiệc thịnh soạn do các con chúc mừng Mẹ, đặc biệt là ngày lễ Mẹ hôm
nay thì bà lại nhớ những ngày cùng cực đói khổ trong cuộc sống cam go
đã trải qua. Bà rơi nước mắt ngậm ngùi nhưng cũng rất hãnh diện với sức
mạnh của lòng mẹ đã giúp bà vượt qua tất cả. Vì các con và cho các con. Ngọc Thủy
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn - Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng
Ông
Hồ Minh Tiến (tên gọi thân mật là Sáu Sơn), Chánh án Tòa quân sự cách
mạng TP Cần Thơ năm nay tròn tuổi 80 người, nhưng ký ức về vụ án đầu
tiên của chính quyền cách mạng ở Cần Thơ sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng còn sống động trong tâm trí ông.
Giữa
năm 1975, ông Sáu Sơn mang quân hàm đại úy, phụ trách Ban Quân pháp cục
Chính trị Quân khu 9 được biệt phái sang Ban Quân quản giữ chức Chánh án
Tòa án Quân sự cách mạng TP Cần Thơ. Tháng 7 năm đó, Tòa án Quân sự
cách mạng TP Cần Thơ mở phiên tòa đầu tiên đưa ra xét xử một số bị cáo
có nhiều tội ác với cách mạng và nhân dân. Công tác chuẩn bị xét xử được
tiến hành rất chu đáo. Thời gian và địa điểm xét xử được thông báo rộng
rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng lúc bấy giờ. Địa điểm mở
phiên tòa là Vận động trường Cửu Long (nay là Văn phòng Thành ủy TP Cần
Thơ). Ngay từ chiều hôm trước, trên các ngã tư đường dẫn đến vận động
trường Cửu Long ta đều bố trí xe thiết giáp của quân đội án ngữ. Tôi còn
xin được 2 máy bay trực thăng vũ trang của Quân khu 9 làm nhiệm vụ
thường xuyên tuần tiễu trên bầu trời để đề phòng bất trắc.
Ông Hồ Minh Tiến
Hôm
đó, từ sáng sớm trên các nẻo đường của TP Cần thơ, người dân lũ lượt kéo
về nơi xử án. Ước tính có gần 6.000 người đến chứng kiến phiên tòa đầu
tiên của chính quyền cách mạng. Vì là phiên tòa đầu tiên của Khu Tây Nam
bộ (TNB) nên Khu ủy còn yêu cầu lãnh đạo Tòa án Quân sự các tỉnh trực
thuộc Khu về tham dự để rút kinh nghiệm. Hội đồng xét xử (HĐXX) được
thành lập do Đại úy Hồ Minh Tiến - Chánh án Tòa án Quân sự cách mạng làm
Chủ tọa, ông Nguyễn Cúc, Ủy viên Ban An ninh Khu TNB (sau này là Trưởng
ty công an tỉnh Cửu Long) và ông Đào Hồng Giỏi thành viên Mặt trận Khu
làm Hội thẩm chuyên môn (như Thẩm phán ngày nay); ông Trần Công Chánh,
Điều tra viên công an Khu làm Ủy viên công tố và ông Ngô Tấn Sĩ làm thư
ký phiên tòa. Tất cả HĐXX đều mặc quân phục.
Ông
Sáu Sơn nhớ lại: “Hôm đó HĐXX đưa ra xét xử 3 vụ án. Vụ đầu tiên là xử
tên Xệ. Xệ nguyên là trung đội trưởng du kích của ta nhưng ra đầu hàng
giặc. Sau đó trở thành tên chỉ điểm ác ôn, quay lại giúp sức cho địch
giết hại rất nhiều đồng bào và cán bộ cách mạng ở Cần Thơ. Bản án tử
hình được tuyên là thích đáng cho những tội lỗi mà Xệ đã gây ra.
Vụ
thứ hai là xét xử 2 tên chuyên dùng xe gắn máy cướp giật vàng trên đường
phố thuộc địa bàn TP Cần Thơ. Trước tòa chúng khai nhận đã hành nghề
cướp giật vàng từ trước ngày giải phóng, sau đó lợi dụng chính quyền
cách mạng có quá nhiều việc để làm chúng liên tiếp gây ra các vụ cướp
giật. Cho đến khi bị bắt, số vụ cướp giật lên tới hàng trăm vụ, số vàng
cướp được nhiều đến mức chúng không thể nhớ hết. HĐXX đã tuyên án tử
hình tên ngồi sau ra tay cướp giật, còn tên cầm lái lãnh án 10 năm tù.
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn
Vụ
thứ 3 là vụ xét xử Hồ Ngọc Cẩn, nguyên là đại tá, Chỉ huy trưởng tiểu
khu, cũng là tỉnh trưởng Chương Thiện (tỉnh Hậu Giang ngày nay). Qua
thẩm vấn HĐXX đã làm rõ tội ác của Hồ Ngọc Cẩn. Ngay trong thời điểm
Tổng thống chính quyền Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng trên toàn miền
Nam vào lúc 11 giờ ngày 30/4/1975, Cẩn vẫn bất tuân, y vẫn ngoan cố hô
hào “tử thủ đến cùng”, mãi đến sáng ngày 1/5/1975, quân ta đánh giải
phóng Chương Thiện và bắt được Cẩn…
Điều
đáng lưu ý trong phiên tòa này là có phần tuyên thệ của HĐXX. Trước khi
làm các thủ tục để bước vào phần thẩm vấn, HĐXX cùng đứng lên, đưa nắm
tay và Chủ tọa phiên tòa đọc lời tuyên thệ: “Vì công lý xét xử công tâm
không thiên vị bất kỳ ai, bất kỳ điều gì trong vụ án này”. Sau phần
tranh tụng, HĐXX đã tuyên án tử hình Hồ Ngọc Cẩn. Vào thời đó, xét xử sơ
thẩm đồng thời là chung thẩm, án được thi hành ngay và bị cáo không
được quyền kháng cáo.
Sau
những vụ án mà Tòa án quân sự Quân quản xét xử, tình hình an ninh trật
tự trên địa bàn TP Cần Thơ được chuyển biến rất tốt, nhân dân rất phấn
khởi vì bọn phản cách mạng đã bị trừng trị. Người dân càng tin tưởng hơn
vào chính quyền cách mạng.
Chia
sẻ về chặng đường gần 20 năm làm Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu 9, ông
cho rằng, người làm công tác xét xử phải công tâm, vì lợi ích cách
mạng, vì lợi ích nhân dân mà hành xử và lòng dũng cảm là nhân tố không
thể thiếu trong mỗi người Thẩm phán. Trên cương vị Chánh án của ông cũng
đã phải trải qua nhiều thử thách. Đó là ông buộc phải tuyên án những
người một thời đã từng là đồng đội, một thời cưu mang cách mạng và có
những lúc đã là bạn bè, cùng ăn, cùng ở cùng làm với mình thời kháng
chiến cam go, nếu không giữ vững các nguyên tắc thì khó vượt qua- ông
nói.
Trần Cửu Long
Tướng VNCH NGUYỄN HỮU THÔNG tuẫn tiết ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ
Đại Tá Nguyễn Hữu Thông
Cố Cựu Chủng Sinh Huế Nguyễn Hữu Thông, sinh quán Thạch Hản, Quảng
Trị, tên thánh Gioakim, lớp AN51, tốt nghiệp VBQG Khóa 16, nguyên Đại Tá
Trung Đoàn Trưởng TrĐ 42/SĐ22BB/QLVNCH, mất tích trên bãi biển Qui Nhơn
vào những ngày đầu tháng 4/75 với những giả thuyết chưa thể xác định.
Có nguồn tin ông đã tự sát, nguồn tin khác cho hay ông từ chối
theo tàu di tản, và bơi vào bờ để cùng chung số phận với đồng đội dưới
quyền ông chỉ huy. Vì đuối sức sau nhiều ngày không ăn uống nghỉ ngơi
cho nên đã chết trước lúc lội đến bờ.
Theo tôi nghĩ giả thuyết sau này đáng tin hơn, vì đối với một
người Công Giáo, nhứt là một cựu chủng sinh thì trường hợp tự sát xảy ra
rất hy hữu, vì bất cứ tín hữu nào cũng thừa hiểu như thế là lỗi luật
đạo. Bất cứ cái chết nào cũng được phó thác vào bàn tay từ bi nhân hậu
của Chúa. Vấn đề nóng bỏng hiện tại là sau khi thâu lượm được nhiều tin
tức phỏng đoán về nơi chôn xác của ông, gia đình ông đã khấn xin nhiều
chỗ nhiều cách và nhiều lần hồi quê tìm kiếm. Cho đến nay, măc dầu đã cố
gắng hết sức, cụ thể trong chuyến về VN cách đây 2 tháng, gia đình vợ
con vẫn chưa tìm ra manh mối về hài cốt của Cố Đại Tá. Những nguồn tin
trên báo chí gần đây cho biết thi hài của ĐT nằm trong số 48 xác được
chôn tập thể dưới cột cờ bệnh viện Qui Nhơn.
Trong tinh thần kỷ niệm 35 năm ngày Quân
lực 19-6, thể theo yêu cầu của một số đông bạn đọc, chúng tôi sẽ lần
lượt trình bày một số sự kiện chiến trường đã đi vào quân sử, qua đó,
chúng ta thấy được tinh thần chiến đấu vì đại nghĩa của người lính VNCH
trong hoàn cảnh nghiệt ngã của lịch sử. Trong kỳ báo này, VB trân trọng
giới thiệu bài tường trình chi tiết về mặt trận Tân Cảnh và cố tư lệnh
Sư đoàn 22 BB Lê Đức Đạt, vị sĩ quan cao cấp đã tự sát để giữ tròn khí
tiết của một tư lệnh chiến trường. Phần này được biên soạn dựa theo tài
liệu của cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, loạt
bài của trung tướng Ngô Quang Trưởng và một số sĩ quan cao cấp viết cho
Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Phan
Anh, một số bài viết trong tạp chí KBC, tài liệu riêng của VB.
* Tư lệnh Sư đoàn 22 BB Lê Đức Đạt và phòng tuyến Tân Cảnh
Từ
tháng 2/1972, trước những tín hiệu báo động về các cuộc chuyển quân ồ
ạt của CSBV, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã tăng cường lực lượng phòng thủ ở
mặt trận phía Bắc tỉnh Kontum: trung đoàn 47 Bộ binh/Sư đoàn 22 BB (BB)
cùng với bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn, và một thành phần Tiếp vận từ
Bình Định lên khu vực Tân Cảnh-Dakto. Tại Tân Cảnh, bộ tư lệnh Tiền
phương đóng chung với bộ chỉ huy trung đoàn 42 BB, một trong 4 trung
đoàn cơ hữu của sư đoàn, đã đóng quân tại đây từ trước. Căn cứ này gần
ngã ba Quốc lộ 14 và Tỉnh lộ 512. Toàn bộ cuộc chuyển quân hoàn tất vào
ngày 8 tháng 2/1972. Ngày 1 tháng 3/1972, thiếu tướng Lê Ngọc Triển, tư
lệnh Sư đoàn 22 BB, bàn giao chức vụ chỉ huy sư đoàn cho đại tá Lê Đức
Đạt tư lệnh phó Sư đoàn để về bộ Tổng Tham Mưu nhận chức tham mưu phó
Hành quân.
Đại tá Lê Đức Đạt nguyên là một sĩ quan
cao cấp của binh chủng Thiết giáp, khi còn ở cấp đại úy, vào thời gian
1954-1955, ông đã theo học tại trường Thiết giáp Ky binh Saumur Pháp. Ở
cấp bậc thiếu tá, ông đã có thời gian chỉ huy một trung đoàn Thiết giáp.
Trong thời gian từ 1965-1967, ông là trung tá tỉnh trưởng/kiêm tiểu
trưởng Phước Tuy.
Ngay sau khi nhận chức tư lệnh,
Đại tá Đạt đã điều động các phòng tham mưu chính lên Tân Cảnh, bộ Tư
lệnh Tiền phương trở thành bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn. Theo lời kể của
cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2 và của một số
sĩ quan cao cấp Sư đoàn 22 BB, khi đảm nhận chức vụ tư lệnh Sư đoàn, đại
tá Lê Đức Đạt đã không có được yểm trợ của cố vấn trưởng Quân đoàn 2
Paul Vann như ông ta đã dành cho đại tá Lý Tòng Bá, tân tư lệnh Sư đoàn
23 BB, lại còn bị vị cố vấn này gây nhiều khó khăn trong chỉ huy và điều
hợp các đơn vị. Do bất bình với trung tướng Ngô Du, tư lệnh Quân đoàn
2, đã không sắp xếp nhân sự giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22 BB theo ý của cố
vấn trưởng, ông Paul Vann đã từ chối yêu cầu của tướng Du về kế hoạch
dội B 52 “dập nát” hai sư đoàn Cộng quân đang bao vây Sư đoàn 22 BB, dẫn
đến hậu quả là sư đoàn này đã bị bức tử.
Cố vấn
trưởng Quân đoàn 2 Paul Vann đã yêu cầu trung tướng Ngô Du làm đề nghị
cử đại tá Lý Tòng Bá thay thiếu tướng Lê Ngọc Triển trong chức vụ tư
lệnh Sư đoàn 22 BB, cử đại tá Lê Minh Đảo giữ chức tư lệnh Sư đoàn 23 BB
thay chuẩn tướng Võ Văn Cảnh (tướng Cảnh sau đó đã giữ chức chỉ thuy
trưởng Huấn khu Dục Mỹ, ông được thăng thiếu tướng vào tháng 4/1974 khi
giữ chức vụ phụ tá Tổng trưởng Nội vụ đặc trách Nhân dân Tự vệ). Lý do
cố vấn Paul Vann đưa ra là tướng Triển và Cảnh đã lớn tuổi, cần phải
thay thế bởi những đại tá mà ông ta đánh giá là có nhiều khả năng.
Sự
tiến cử của ông Paul Vann đã không được trung tướng Ngô Du đồng ý.
Tướng Du nói với ông Paul Vann rằng việc bổ nhiệm tư lệnh Sư đoàn là do
Tổng thống VNCH quyết định, hơn nữa tướng Triển và tướng Cảnh không phạm
lỗi gì, nên không thể đề nghị thay đổi được. Tuy nhiên ông Paul Vann
làm áp lực đòi trung tướng Du phải thay thế gấp hai vị tư lệnh Sư đoàn.
Tướng Ngô Du hỏi tại sao ông Paul Vann lại nằng nặc đề cử đại tá Bá và
đại tá Đảo mà ông đề cử một số đại tá trẻ và giỏi đang phục vụ tại Quân
đoàn 2, vị cố vấn trưởng này trả lời: Đại tá Lý Tòng Bá và đại tá Lê
Minh Đảo là các sĩ quan trẻ, năng động và kinh nghiệm chiến trường mà
tôi đã biết tại Quân đoàn 3. (Ông Paul Vann nguyên là trung tá Cố vấn
trưởng Sư đoàn 7 BB trong thời gian 1961-1962, thời kỳ tướng Huỳnh Văn
Cao còn là đại tá tư lệnh Sư đoàn, sau đó, ông giải ngũ và về Hoa Kỳ.
Năm 1966 ông trở lại Việt Nam, từ 1967-1969, với tư cách là quan chức
dân chính cao cấp của Hoa Kỳ, ông chỉ huy cơ quan CORDS tại Vùng 3 chiến
thuật, khi được bổ nhiệm làm cố vấn trưởng Quân đoàn 2, ông được hưởng
quyền lợi ngang hàng với một thiếu tướng Hoa Kỳ).
Cuối
cùng, do tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi sự yểm trợ
về Không quân của Hoa Kỳ qua trung gian của Cố vấn Quân đoàn, trung
tướng Ngô Du đành phải thỏa mãn gấp các điều kiện của ông Paul Vann, tuy
nhiên vị tư lệnh Quân đoàn 2 cũng chỉ thỏa mãn một nửa số điều kiện của
ông Paul Vann: ông đề ghị Tổng thống VNCH bổ nhiệm đại tá Lý Tòng Bá
giữ chức tư lệnh Sư đoàn 23 BB thay vì tư lệnh Sư đoàn 22 BB như ông
Paul yêu cầu, và đại tá Lê Đức Đạt, tư lệnh phó Sư đoàn 22 BB giữ chức
tư lệnh Sư đoàn này. Giải pháp 50% của trung tướng Ngô Du vẫn không làm
vừa lòng Paul Vann, nên ông ta đã trút tất cả sự bức tức lên đại tá Đạt.
Theo
giải thích của cựu đại tá Trịnh Tiếu thì sở dĩ tướng Du cử đại tá Lê
Đức Đạt vì đại tá đang là tư lệnh phó Sư đoàn lên thay tư lệnh Sư đoàn
là điều hợp lý, hơn nữa đại tá đại tá Đạt rất thân với đại tướng Cao Văn
Viên, nên tướng Du nghĩ rằng khi đại tá Đạt lên làm tư lệnh mặt trận
thì đại tướng Viên sẽ yểm trợ tối đa cho đại tá Đạt. Cũng cần ghi nhận
rằng trong năm 1965, khi đại tướng Cao Văn Viên còn là thiếu tướng tư
lệnh Quân đoàn 3 & Vùng 3 chiến thuật thì đại tá Đạt là tỉnh
trưởng/tiểu khu trưởng Phước Tuy với cấp bậc trung tá như đã trình bày ở
trên.
* Ngày cuối của đại tá Lê Đức Đạt và bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB:
Trở
lại với chiến trường Tân Cảnh, trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công
cường tập vào căn cứ này, lực lượng bố phòng tại đây gồm có trung đoàn
42 BB, hai pháo đội 105 và 155 ly, một chi đội M 41 và một chi đội
M-113, một đại đội Công Binh chiến đấu. Ngày 21 tháng 4, 1972, cố vấn
Quân đoàn 2 Paul Vann bay lên Tân Cảnh thăm đại tá Philip Kaolan, cố vấn
trưởng Sư đoàn 22 BB. Tại hầm chỉ huy, mặc dù biết vị cố vấn Quân đoàn
có ác với mình, đại tá Đạt vẫn trình bày đầy đủ tình hình chi tiết cho
ông Paul Vann rõ, Vị cố vấn này đã có hành động thiếu lịch sự, ông ta
chỉ mạnh vào bản đồ hành quân và nói cộc lốc: “Đại tá Đạt, ông sẽ là vị
tư lệnh Sư đoàn VN đầu tiên làm mất sư đoàn và bại trận”. Đại tá Đạt rất
giận, ông đã vứt điếu thuốc đang hút xuống đất, cười gằn và nói với cố
vấn Paul Vann: Ồ, chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.
Ngày
23 tháng 4/1972, lực lượng Cộng quân gồm các đơn vị của sư đoàn 2 CSBV
phối hợp với các đơn vị đặc công, thiết giáp CQ thuộc B 3 đã khởi động
cuộc tấn công ở vòng đai Tân Cảnh. Trong ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân
đã pháo kích dồn dập vào căn cứ. Địch quân mở một trận hỏa công bằng đủ
loại pháo, trong đó có hỏa tiễn-dây điều khiển Sagger 13 để làm tê liệt
các chiến xa và công sự chiến đấu của lực lượng trú phòng. Từng chiến
xa M 41 đang nằm trên các vị trí phòng ngự để bảo vệ Trung tâm Hành quân
Sư đoàn đều bị trúng đạn. Tiếp đó, vào 10 giờ 30, trung tâm Hành quân
cũng bị trúng đạn địch bắn trực xạ, hệ thống truyền tin bị hủy hoại, một
số quân nhân thương vong.
Buổi trưa, với sự giúp
đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ, một trung tâm Hành quân tạm thời đã được thiết
lập chung với trung tâm Hành quân Sư đoàn 22 BB với các máy móc truyền
tin lấy từ hệ thống dành cho các Cố vấn. Thế nhưng, đại tá Lê Đức Đạt,
tư lệnh Sư đoàn, đã từ chối cùng với các sĩ quan Hoa Kỳ trong ban Cố vấn
Sư đoàn đến làm việc tại trung tâm Hành quân mới, ông ở lại bộ chỉ huy
cũ đã bị tan hoang cùng với vị đại tá Tôn Thất Hùng, tư lệnh phó, vài sĩ
quan thân tín trong bộ Tham mưu cùng với một máy truyền tin liên lạc.
Buổi
chiều, đại tá Lê Đức Đạt cho lệnh các pháo đội của Sư đoàn phản pháo
vào các vị trí tình nghi là pháo binh của địch đặt súng, nhưng không có
kết quả. Cùng lúc đó, từ trung tâm Hành quân mới, các cố vấn Hoa Kỳ đã
hướng dẫn Không quân thực hiện phi vụ không yểm, oanh kích vào các mục
tiêu của Cộng quân-dựa theo báo cáo của các cố vấn trung đoàn. Nỗ lực
của các cố vấn Hoa Kỳ vẫn không có hiệu quả do thời tiết quá xấu đã hạn
chế phần quan sát, ngoài ra hệ thống phòng không dày dặc của địch đã bắn
chận các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Không quân Việt-Mỹ.
Gần
tối, một thành phần đặc công CSBV đã xâm nhập vào vòng đai phi đạo của
căn cứ và đặt chất nổ phá hủy một bãi đổ đạn dược gần đường bay. Trong
khi đó, Cộng quân tiếp tục pháo kích dữ dội vào khu vực trung tâm của
căn cứ. Vào nửa đêm, các đơn vị của trung đoàn 42 phòng thủ quanh vòng
đai căn cứ quan sát thấy 15 chiến xa địch di chuyển theo hướng Nam đến
Tân Cảnh. Trong tình hình nguy kịch, nên Sư đoàn 22 BB khó tiến hành một
kế hoạch nào kịp thời để ngăn chận Cộng quân, ngoài trừ một trận pháo ở
mức độ nhỏ của Pháo binh và đợt phản pháo dữ dội nhưng không có kết quả
của đối phương, trong khi đó hai chiếc cầu trên Quốc lộ 14 ở hướng Nam
đến Tân Cảnh vẫn để nguyên vẹn nên chiến xa của địch đã di chuyển dễ
dàng trên lộ trình chuyển quân.
Khoảng 2 giờ sáng
ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa T 54 của Cộng quân bao vây căn cứ Tân
Cảnh, vào lúc này 10 chiến xa M 41 và M 113 bảo vệ bộ Tư lệnh đã bị địch
bắn cháy 8 chiếc, 2 chiếc còn lại đoàn 22 đã ở trong tình trạng bất
khiển dụng vì bị đứt dây xích. Nhận thấy tình hình vô vọng, đại tá
Kaplan, cố vấn trưởng Sư đoàn, đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu cố vấn
trưởng Quân đoàn 2 bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng,
ông Paul Vann lál trực thăng trinh sát OH-58 Kiowa-loại mới nhất của Hoa
Kỳ đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc đại tá Kaplan.
Trước
khi trực thăng đáp xuống, đại tá Kaplan đã đến báo cho đại tá Lê Đức
Đạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông Paul Vann nhưng
đại tá Đạt đã từ chối. Vị tư lệnh Sư đoàn 22 BB đã biết rõ tình hình rất
bi đát, thế nhưng ông vẫn không yêu cầu trung tướng Ngô Du cho trực
thăng bay lên cứu. Đại tá Đạt ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại
trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài căn cứ trước khi trời sáng. Ông bắt
tay vĩnh biệt đại tá Hùng, tư lệnh phó, và các sĩ quan, ông nói với mọi
người: “Là một tư lệnh, tôi phải ở lại với Tân Cảnh.” Theo lời kể của
đại tá Kaplan và một số nhân chứng, đại tá Lê Đức Đạt đã tự sát sau khi
căn cứ bị Cộng quân tràn ngập.
Về các sĩ quan
trong bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB vượt thoát ra ngoài căn cứ, một số đã bị
địch bắt. Còn đại tá Tôn Thất Hùng đã thoát được ra ngoài nhưng bị
thương, Ông đã cố chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng
Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu, chăm
sóc, sau đó dẫn đường đưa ông về đến tỉnh lỵ Kontum sau 15 ngày đi loanh
quanh trong rừng. (Ba tháng sau, đại tá Hùng cùng gia đình lên Pleiku
để đền ơn gia đình người Thượng này, vào lúc đó đang sống trong trại tỵ
nạn bằng một số tiền và vàng rất lớn). Riêng với đại gia đình Sư đoàn
Trấn Sơn Bình Hải 22 BB, ngày 24 tháng 4/1972 là ngày mà Tư lệnh Mặt
trận Tân Cảnh Hè 1972 đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường.
SO SÁNH LỰC LƯỢNG GIỮA QĐNDVN VÀ QLVNCH
• Đầu năm 1975, ngoài Bộ Tổng tham mưu với các cơ quan, binh chủng và
binh sở trong hệ thống quản trị (hành chánh, nhân viên, huấn luyện,
chiến tranh chính trị, tiếp vận), Quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn có các
đơn vị yểm trợ tác chiến gồm 4 bộ tư lệnh quân đoàn và các đơn vị yểm
trợ trực thuộc. Các đơn vị trực tiếp tác chiến gồm:
• Lục quân:
11 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn nhảy dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến,
Liên đoàn 81 Biệt cách dù, 21 liên đoàn biệt động quân, 4 lữ đoàn kỵ
binh thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các
đơn vị pháo binh biệt lập và lực lượng địa phương quân gồm 400 tiểu
đoàn, nghĩa quân hơn 50.000 quân.
• Tăng thiết giáp: Có 4 lữ đoàn
kỵ binh, 18 thiết đoàn (tương đương trung đoàn thiết giáp) và 57 chi
đội (tương đương đại đội) xe tăng thiết giáp với 383 xe tăng (162
M-48A3, 221 M-41) và 1.691 thiết giáp M-113.
• Pháo binh: Có 66
tiểu đoàn và trên 160 trung đội pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu
pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
• Không quân.
Quân số 60.000, gồm: 1 bộ tư lệnh quân chủng với đầy đủ các cơ quan và
binh sở yểm trợ, 5 sư đoàn không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục
cơ, trang bị khoảng 550 phi cơ A-1H,A-37 và F-5, 23 phi đoàn trực thăng,
trang bị khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47, 8 phi đoàn quan sát, trang
bị khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17), 1 sư đoàn vận tải (9 phi đoàn vận
tải, trang bị khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130), 1 không đoàn
tân trang chế tạo, 4 phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC-119, AC-130
Spectre Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc Giác (tình báo kỹ thuật),
Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314.
• Hải quân.
Quân số hơn 40.000, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, nhân viên, huấn
luyện, tiếp vận (có hải quân công xưởng), gồm 3 lực lượng tác chiến:
(1) Hành quân lưu động sông, với 14 giang đoàn trang bị khoảng 260 chiến
đỉnh; (2) Hành quân lưu động biển với một hạm đội trang bịtuần dương
hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, tuần duyên hạm, giang pháo hạm, trợ
chiến hạm,dương vận hạm, hải vận hạm và giang vận hạm; (3) các lực lượng
đặc nhiệm 211 thủy bộ với 6 giang đoàn, 212 tuần thám với 12 giang
đoàn, 214 trung ương với 6 giang đoàn, và Liên đoàn Người nhái. Tổng
cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng
700 tàu chiến trên sông và trên biển.
• Năm 1975, theo số liệu từ
hồi ký Đại thắng mùa xuân của Đại tướng QĐNDVN Văn Tiến Dũng, toàn bộ
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) gồm có 1.351.000 quân, trong đó có
495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân "phòng vệ
dân sự" có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động
quân.
• Theo Walter . Boyne, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa
gồm có 750.000 người, trong đó 229.000 là lực lượng chiến đấu nòng cốt
để chống lại gần 500.000 quân Giải phóng ở miền Nam bao gồm cả các lực
lượng chính quy và du kích, trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà
hơn 80.000 quân đã ở lại miền Nam sau Hiệp định Paris.
Theo đánh
giá về trang bị và quân số, quân lực Việt Nam Cộng Hòa có lục quân và
không quân đứng thứ 4 thế giới, hải quân đứng thứ 9 thế giới. So với đối
thủ là Quân đội Nhân dân Việt Nam, họ có ưu thế 4 lần về xe tăng và đại
bác, và hơn tuyệt đối về không quân và hải quân.
Những điểm yếu về lực lượng
Tuy trang bị hùng hậu, song thực tế tác chiến cho thấy khi không còn
quân Mỹ hỗ trợ, quân đội này thường thất trận khi đối đầu với chủ lực
của Quân đội Nhân Dân Việt Nam. Chỉ sau gần 2 tháng của Chiến dịch Mùa
Xuân 1975, quân lực Việt Nam Cộng Hòa với hơn 1,2 triệu quân hoàn toàn
bị tiêu diệt hoặc tan rã. Các nhà nghiên cứu đã liệt kê một số nguyên
nhân để lý giải cho sự sụp đổ to lớn và toàn diện này.
• Theo nhà
nghiên cứu quân sự Nguyễn Đức Phương trong bài viết "Việt Nam Cộng hòa
1975, nguyên nhân sụp đổ", thì một trong các nguyên nhân Quân lực Việt
Nam Cộng hòa thất bại là vì được "tổ chức theo lối Mỹ, một lính tác
chiến có năm người yểm trợ như tiếp liệu, quân nhu, quân y, hành chính…
nên trên thực tế lính tác chiến chưa tới 200 ngàn người, thành phần
không tác chiến (non combatant) chiếm khá nhiều, địa phương quân và
nghĩa quân chỉ đủ sức cầm cự chờ lính Bộ binh của sư đoàn". Lối đánh này
sử đụng tối đa hỏa lực nên vô cùng tốn kém, đòi hỏi phải cung cấp dồi
dào về vũ khí đạn dược. Mỗi năm QLVNCH cần hơn 3 tỷ đôla viện trợ mới đủ
để duy trì sức chiến đấu, trong khi QĐNDVN chỉ cần khoảng 300 triệu đô
la là đủ để củng cố lực lượng. Kết quả tất yếu là khi bị cắt giảm viện
trợ, nhiều máy bay, xe tăng, tàu chiến… thiếu cơ phận thay thế đã trở
thành bất khiển dụng. Hỏa lực không quân giảm 60% so với năm 1972. Dự
trữ đạn dược tuy còn tới gần 2 triệu tấn (gấp 15 lần đối phương), nhưng
nếu tiêu tốn nhanh như chiến thuật mà Mỹ áp dụng thì chỉ đủ đánh cho tới
tháng 6 năm 1975.
• Về số lượng xe tăng và pháo binh của QLVNCH
nhiều gấp bốn lần đối phương nhưng về mặt phẩm chất vũ khí lại không có
ưu thế. Xe tăng chỉ có M48 Patton tương đương với T-54, pháo 155 và 105
ly tầm viễn xạ tối đa chỉ được 15 và 11 cây số, ngang với pháo 122 ly
cấp Sư đoàn của QĐNDVN, pháo 175 ly thì không có nhiều. Hơn nữa do phải
chiến đấu nhiều năm trong điều kiện bị áp đảo về hỏa lực nên QĐNDVN có
kinh nghiệm hơn hẳn về ngụy trang và phản pháo. Các tướng lĩnh Mỹ đã
nhận xét:"Hiệu quả chiến đấu của QLVNCH không đều, họ đứng vững được bởi
sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên
không... Điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy là họ tỏ ra quá phụ
thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ”.
• Về chiến lược quân sự,
QLVNCH thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn), trong khi đó
QĐNDVN lại áp dụng hiệu quả chiến lược chiến tranh nhân dân, do đó
QLVNCH bị dồn ép liên tục, phải trải quân khắp nơi để giữ đất. Toàn bộ
13 sư đoàn của QLVNCH và 15 liên đoàn BÐQ (tương đương với hơn 6 sư
đoàn) phải bảo vệ 44 tỉnh, tính trung bình một tỉnh chỉ được hơn một
trung đoàn bảo vệ. Trong khi đó QĐNDVN do nắm thế chủ động chiến lược có
thể tập trung hơn 10 trung đoàn để đánh một tỉnh như tại Ban Mê Thuột
tháng 3-1975.
• Và vấn đề quan trọng nhất vẫn là tổ chức và con
người. Theo William Colby, người từng đứng đầu tổ chức tình báo CIA tại
Việt Nam Cộng hòa thì QLVNCH "Được huấn luyện theo chiến thuật Hoa Kỳ,
thì nay họ lại phải vận dụng chiến thuật ấy trong điều kiện thiếu thốn
đạn dược, máy bay khác hẳn những gì họ đã học" và "giới quân sự Nam Việt
Nam trước viễn cảnh của một trận chiến đấu cuối cùng đầy tuyệt vọng, đã
bắt đầu quan tâm nhiều đến sự sống còn của gia đình mình hơn là quan
tâm đến lợi ích chung".
Ký giả Alan Dawson nhận xét: Đội quân này
trang bị vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có nhiều máy bay
chiến đấu, có nhiều đạn dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn
hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ thiếu mỗi một điều thôi. Một
người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: "Chúng tôi đã cho anh mọi
thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy".
Trong
khi đó thì QĐNDVN trong những năm 70 được đánh giá là lực lượng quân sự
mạnh top đầu thế giới. Bộ đội cụ Hồ (Uncle Ho Army) cũng nằm trong top
những đội quân thiện chiến nhất mọi thời đại cùng với Waffen SS Đức Quốc
Xã, lính thiên hoàng Nhật Bản và đội cận vệ của Thành Cát Tư Hãn.
Tướng Marcel Bigeard - Cựu Bộ trưởng Bộ quốc phòng Pháp nhận xét:
“Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau
đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi
từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại
đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân.
Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ
đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những
người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một
bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo
quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng
và họ đã đánh bại được chúng ta".
"Họ là địch thủ giỏi nhất mà
chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử" --- Cuộc khảo sát của sĩ quan
quân đội Hoa Kỳ sau chiến tranh. Kinnard, Douglas, The War Managers.
Wayne NJ: Avery Publishing Group, 1988. tr. 67
(Tổng hợp nhiều nguồn)
Một số Sư Đoàn Bộ Binh QLVNCH (Tổng
Một số sư đoàn của VNCH
(Tổng cộng gồm 11 Sư đoàn)
SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH QL-VNCH là Sư đoàn lớn nhất và danh tiếng nhất trong 11 Sư đoàn Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đã bao phen làm địch quân csbv hồn phi phách tán ngay tại vùng địa đầu giới tuyến. Sư Đoàn 1 Bộ Binh đồn trú tại Quân Khu I VNCH, giáp ranh Vĩ tuyến thứ 17. SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH VÀ CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 Sư
Đoàn 1 Bộ Binh với hai mươi năm đóng góp xương máu bảo vệ đất nước,
ngoại trừ một thời gian ngắn chiến đấu trên các chiến trường miền Tây,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, thời gian còn lại các chiến
sĩ mang trên vai áo Số 1 đã trấn giữ và hành quân liên tục trên một
vùng chiến trường thật quá khắc nghiệt cực Bắc Quân Khu I.
Một
vùng khô cằn sỏi đá của hai tỉnh địa đầu Quảng Trị và Thừa Thiên. Hình
ảnh người chiến sĩ Sư Đoàn 1 Bộ Binh trong những năm thăng trầm của lịch
sử đã gắn liền với vận mệnh nổi trôi của đất nước.
Các
anh luôn hiện diện trong đời sống quá đỗi cơ cực của người dân đất
nghèo Cam Lộ, Gio Linh, cho đến Hương Điền, Quảng Điền, Phú Thứ, Phú
Lộc. Quê hương em nghèo lắm ai ơi. Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn.
Những địa danh thật xa lạ mà người dân ở mãi tận vùng đất phì nhiêu Đồng
Nai hay Cửu Long chưa từng nghe biết, bỗng đã trở thành quen thuộc từ
trên trang đầu tin chiến sự những nhật báo hàng ngày.
Cồn
Thiên, Khe Sanh, Quốc Lộ 9, Ba Lòng, Tà Bạt, Làng Vei, Ashau, A Lưới.
Những chiến thắng của Sư Đoàn 1 Bộ Binh không chỉ vang vọng trong lãnh
thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn vượt biên giới tỏa khắp thế giới. Bộ
Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ thời thập niên 1970 đã tuyên bố : “Sư Đoàn 1 Bộ
Binh là một sư đoàn thiện chiến nhất trên thế giới”.
Tướng
Vanuxem của Pháp ca ngợi tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Sư Đoàn 1 Bộ
Binh đã vượt ngoài sức tưởng tượng của thế giới. Những lời khen ấy không
phải phản ảnh từ lời lẽ ngoại giao chiếu lệ, vì bản chất tự thân người
Mỹ và người Pháp rất cao ngạo, ngoài dân tộc và quân lực của họ, thì họ
không thể thấy một quân lực nào vượt trội hơn. Nhưng khi họ đã thành tâm
nghiêng mình ca tụng một quân lực của một quốc gia nhỏ bé, thì những
lời ấy là những lời thật lòng từ tận đáy thâm tâm.
Chiến
dịch Lam Sơn 719 khởi diễn ngày 8.2.1971. Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn 1
Bộ Binh được vinh dự chọn làm nỗ lực chính đánh qua vùng Hạ Lào, nơi con
đường huyết mạch mang tên Đường Mòn Hồ Chí Minh vận chuyển người và
tiếp liệu địch xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Đại quân Việt Nam
Cộng Hòa tập trung tại Đèo Lao Bảo gần biên giới Lào-Việt. Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn I & Quân Khu I được thiết lập tại căn cứ Khe Sanh cũ, với
danh xưng Hàm Nghi. Theo kế hoạch, quân Dù sẽ tấn công đến tận Tchépone
và phá hủy Căn Cứ 604 nằm trên trục Đường Mòn Hồ Chí Minh. Sư Đoàn 1 Bộ
Binh đảm nhiệm giai đoạn kế tiếp đánh tràn xuống hướng Nam phá hủy Căn
Cứ Tiếp Vận 611 của địch. Sau giai đoạn này, tất cả các cánh quân của
quân ta sẽ trở về Việt Nam bằng cả đường không vận và trên Quốc Lộ 9.
Sau
khi các cánh quân Biệt Động Quân, trên hướng Bắc, Nhảy Dù trên trục
đường 9 và những cao điểm 31, 30 phía Bắc Quốc Lộ này bị thiệt hại nặng,
Bộ Tư Lệnh Lam Sơn 719 của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm quyết định tung
một tiểu đoàn của Trung Đoàn 2 Bộ Binh nhảy xuống Tchépone, Trung Đoàn 2
và 3 Bộ Binh trấn giữ những cao điểm dọc theo trục Quốc Lộ và gần
Tchépone yểm trợ cho Trung Đoàn 1.
Ngày
6.3.1971, Thiếu Tá Trần Ngọc Huế, người hùng Mậu Thân 1968 cùng chiến
sĩ Tiểu Đoàn 2/2 của ông ồ ạt nhảy xuống khu vực ngoại ô thành phố
Tchépone đái một cái rồi trở ra. Quân cộng đã rút hết về phía Nam sông
Xepone chờ cơ hội khép chặt vòng vây và phản công tiêu diệt quân Nam.
Nhiệm vụ vào Tchépon mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký thác đã xong,
hang ổ hậu cần của giặc đã bị phá hủy, Thiếu Tá Huế nhận lệnh cấp tốc
dẫn quân trở ra. Một lực lượng cộng quân hùng hậu với Sư Đoàn 2, 304,
308 và 324B tập trung lực lượng, quân số lên đến 40.000 người quyết tâm
truy đuổi và tàn sát Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Các
Trung Đoàn 1 của Đại Tá Nguyễn Văn Điềm,Trung Đoàn 2 của Đại Tá Ngô Văn
Chung và Trung Đoàn 3 Bộ Binh đều chạm nặng với giặc.
Giặc
nhung nhúc khắp nơi như những đàn kiến háu đói. Được cho uống thuốc
kích thích và bị dí súng từ phía sau, cán binh cộng cản không còn con
đường nào khác ngoài mỗi việc ôm súng hò hét lao vào lửa. Trung Đoàn 1
Bộ Binh bị vây khốn tại Căn Cứ Lolo, tình hình càng lúc càng nguy ngập.
Đại Tá Nguyễn Văn Điềm, Trung Đoàn Trưởng mở cuộc họp khẩn cấp và yêu
cầu một tiểu đoàn đánh hậu cho toàn Trung Đoàn rút. Người anh hùng Lê
Huấn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4 xin nhận nhiệm vụ nặng nề này. Ôi cao
cả biết ngần nào, người Lê Lai của thời đại lửa binh. Tiểu Đoàn của
Trung Tá Lê Huấn nhận hy sinh để cho đồng đội được sống .
Cuộc
ác chiến Hạ Lào vỡ bùng lên với tất cả những khía cạnh thảm khốc và tàn
nhẫn nhất của cuộc chiến tranh giữ nước khổ ải của người lính Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu Đoàn 4/1 giữa trùng vây của giặc, đã không xin
tải thương, mà chỉ xin tiếp tế đạn dược. Ngay cả lời thỉnh cầu này cũng
không thể được thỏa mãn. Phi cơ tiếp tế không thể xuống thấp, dù là để
xô những thùng đạn xuống, vì màn lươiù phòng không dầy đặc của giặc. Người
lính VNCH không ngại chuyện tử sinh, nhưng các anh cần súng và đạn.
Súng gãy, đạn hết, Trung Tá Lê Huấn và hầu hết các sĩ quan chỉ huy của
Tiểu Đoàn 4 lần lượt ngã gục.
[
Trận
đánh dưới cơn bão pháo lửa đạn, đến sắt thép cũng phải chảy mềm, huống
gì thịt da con người. Xác thân của những người anh hùng đó đã oan khuất
nằm vùi trơ vơ giữa vùng rừng núi xứ người. Chiến
sĩ Tiểu Đoàn 4 dắt díu nhau đột phá mãi về hướng Đông, là hướng đất mẹ.
Vài trăm chiến sĩ của Tiểu Đoàn 4/1 khi được các phi công Hoa Kỳ dũng
cảm liều mạng đáp xuống bốc được chỉ còn vỏn vẹn 32 tay súng.
Những
khuôn mặt hốc hác đen nhẻm vì đói, khát, vì lao lực xông pha, vì nhiều
đêm mất ngủ, quần áo rách nát vì gai góc núi rừng, đáng lẽ phải được
vinh danh ngợi ca. Thì bọn báo
chí phương Tây bất lương, ti tiện diễn tả các anh như là những người hèn
nhát chạy trốn cái chết tìm cái sống bằng cách bám càng trực thăng.
Trời ơi, để cứu sống hàng ngàn sinh mạng đồng đội rút được về quê hương
an toàn, người lính quá đỗi tội nghiệp thảm thương của chúng ta đã bị
bọn vô lương phỉ nhổ và lăng nhục.
Chúng
tôi viết những giòng này để tố cáo sự ác độc có toan tính của truyền
thông thiên tả Tây phương, đặc biệt truyền thông phản chiến và những nhà
làm chín sách Hoa Kỳ, với mục đích chuẩn bị dư luận thuận lợi cho quân
Mỹ bỏ chạy ra khỏi Việt Nam và đổ vấy trách nhiệm cho người lính Việt
Nam Cộng Hòa. Trong buổi lễ bàn giaoTiểu Đoàn cho vị Tiểu Đoàn Trưởmg
mới là Trung Tá Nguyễn Văn Diệp, toàn Tiểu Đoàn 4 chỉ còn lại 50 chiến
sĩ, kể cả quân số hậu cứ đứng nghiêm chào người chỉ huy.
Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh
Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH Tại Mặt Trận Quế Sơn
Từ
những ngày cuối tháng 3 năm 1972, Sư Đoàn 2 Bộ Binh ngày đêm lặng lẽ
chiến đấu ở chiến trường Quế Sơn, trong khi các mặt trận lớn tại Quảng
Trị, Kontum, An Lộc bùng nổ ác liệt và mang một tầm vóc quan trọng, cũng
như thu hút sự quan tâm của cả thế giới. Mặt
trận Quế Sơn tuy không có được tiếng xích sắt T 54 nghiến ầm ì trên đá
sỏi, hay tiếng rền của đại pháo 130 ly, nhưng cũng đã mang một bộ mặt
căng thẳng, gay cấn và đỏ lửa không kém.
Vào
đầu tháng 4.1972, hoạt động tiếp sức của Sư Đoàn 711 Bắc Việt cho Mặt
Trận 44 cộng sản tại Quảng Nam đã hâm nóng tình hình Quế Sơn và làm cho
nó sôi động trở lại. Các lực
lượng cộng quân thuộc Mặt Trận 44 từ trong Tết đã không đẩy mạnh được
cao điểm nào, ngược lại gần như tan tác vì cuộc hành quân Quyết Thắng
22B, 22D do Sư Đoàn 2 Bộ Binh tung ra vào những tháng trước khi nổ ra
cuộc chiến khốc liệt mùa hè 1972. Sư
Đoàn tân lập 711 của Bắc Việt cố gắng gom góp các thành phần Trung Đoàn
31, 38 và 270 để tạo thành lực lượng nòng cốt. Sư Đoàn 711 BV được tăng
cường thêm đến 9 tiểu đoàn yểm trợ pháo binh, phòng không, vệ binh,
công binh, v.v... Là sư đoàn mới hình thành, Sư Đoàn 711 vẫn còn rất thiếu hụt quân số sau những cuộc giao tranh ác liệt với Sư Đoàn 2 Bộ Binh.
Những
trang quân sử của Sư Đoàn 711 không kéo dài qua khỏi năm 1973, khi Sư
Đoàn 3 Bộ Binh của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh nhận trách nhiệm bảo vệ
tỉnh Quảng Nam, có nghĩa là trực tiếp đối đầu với Sư Đoàn 711. Sư Đoàn 3
Bộ Binh trở lại chiến trường rất sớm từ những ngày giữa tháng 6.1972
sau cơn triệt thoái đầu tháng 5.1972. Trong vòng hơn một tháng, một
khoảng thời gian thật quá ngắn ngủi, Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã gượng đứng
dậy, rồi được trao trách nhiệm an ninh lãnh thổ Quảng Nam, làm vòng đai
chống pháo kích và hỏa tiễn của địch cho phi trường Đà Nẵng. Một năm
sau, sau ngày Hiệp Định Ba Lê được ký kết, Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã tạo nên
một chiến công làm những sư đoàn đàn anh phải ngả nón nể phục, đó là
đánh thiệt hại nặng Sư Đoàn 711 Bắc Việt, từ đó sư đoàn này dần dần tan
rã và biến mất trên bản đồ trận liệt hành quân của Quân Đoàn I Việt Nam
Cộng Hòa. Trong lịch sử chiến tranh xâm lược của quân cộng Bắc Việt, lần
đầu tiên cấp lãnh đạo và tướng lãnh Hà Nội cam chịu giải tán một sư
đoàn. Những thành phần tàn dư của Sư Đoàn 711 được đưa sáp nhập vào Sư
Đoàn 2 Thép và Sư đoàn 3 Sao Vàng Bắc Việt đang hoạt động ở Liên Khu 5
của cộng quân, vùng đất bao gồm những tỉnh miền duyên hải như Quảng Nam,
Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Theo
tin tức tình báo, Sư Đoàn 711 BV cố gắng xâm nhập theo các sơn đạo, từ
rặng Trường Sơn đổ xuống vùng thung lũng Quế Sơn, với ý đồ cắt đứt hai
tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín. Mưu sự là một chuyện, nhưng thành sự hay
không lại là một chuyện khác. Nỗ lực chuyển vận lén lút vũ khí, đạn
dược, thực phẩm từ một kho hậu cần chôn giấu trong vùng thâm sơn Hiệp
Đức về tiếp tế cho mặt trận Quế Sơn gặp nhiều nguy hiểm khó khăn, khi
chạm phải quyết tâm của chiến sĩ Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Muốn kéo quân xuống
được quận lỵ Quế Sơn, Sư Đoàn 711 đã chấp nhận giao tranh nhiều trận đẫm
máu với chiến sĩ mang trên vai áo Mũi Tên Thép và Số 2. Quân ta đã đánh
quân Sư Đoàn 711 rệu rã thành từng mảnh, buộc chúng phải kêu gọi cấp
trên điều quân bổ sung nhiều đợt.
Có
tất cả bốn đợt bổ sung. Lần thứ nhất, 1,070 cán binh. Lần thứ hai 930
người. Lần thứ ba, 1,200. Lần thứ tư, 600 binh lính. Tuy vậy quân số Sư
Đoàn 711 Bắc Việt cũng chỉ nhích lên đến khoảng 4,500 cán binh tham
chiến. Đè nặng thêm vào nỗi khó khăn, tinh thần chiến đấu của bộ đội sư
đoàn hết sức xuống dốc, bải hoải vì sự đe dọa của khủng khiếp của cái
đói, bệnh tật và những thảm bom B52 ì ầm dội ngày đêm. Nhưng trên hết,
là các Trung Đoàn 4, 5, 6 của Sư Đoàn 2 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa hành
quân càn quét không ngừng nghỉ, nhất quyết không cho quân địch nằm liếm
vết thương. Đặc biệt, Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh của SĐ2BB luôn được các cố
vấn Hoa Kỳ viết tường trình khen ngợi là một đơn vị bách thắng, bởi bánh
xích của những chiến sĩ Mũ Đen lăn đến đâu, chiến công theo đến đấy
(chi tiết từ tác phẩm Mounted Combat In Vietnam –Kỵ Binh Chiến Đấu Ở
việt Nam- của Tướng Donn A. Starry, do Bộ Lục Quân Hoa Kỳ xuất bản năm
1989). Vết thương của SĐ711 cứ bị Sư Đoàn 2 Bộ Binh xé tét ra mãi, cuối
cùng Sư Đoàn 3 Bộ Binh cho một phát súng ân huệ, chấm dứt hơi tàn của
một sư đoàn sanh non.
Ngày
28.6.1972 đại quân Quân Đoàn I Việt Nam Cộng Hòa gồm Sư Đoàn Nhảy Dù,
Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh, Liên Đoàn 1 Biệt Động
Quân và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vượt sông Mỹ Chánh khai diễn chiến
dịch Lam Sơn 72 đánh lên hướng Bắc tái chiếm Quảng Trị và Cổ Thành Đinh
Công Tráng. Đại quân Việt Nam Cộng Hòa trong những ngày đầu gặt hái
nhiều thắng lợi, thẳng tiến vũ bão về thành phố Quảng Trị, Đại Đội Trinh
Sát Dù và những toán tiền quân Dù đã đặt chân lên vùng ngoại ô thành
phố. Cuộc hành quân Lam Sơn 72 thật sự làm rúng động cơ cấu phòng thủ
của các lực lượng địch, Sư Đoàn 312 Bắc Việt đang hoạt động bên đất Hạ
Lào nhận lệnh khẩn cấp kéo về Việt Nam tiếp viện các Sư Đoàn 304, 308,
324, 325 Bắc Việt đang dàn quân đối phó trối chết với đại quân Việt Nam
Cộng Hòa, Sư Đoàn 324 B BV bị Sư Đoàn 1 Bộ Binh của Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú ghìm chặt tại mặt trận Tây Nam Huế. Ba sư đoàn bộ binh của chúng ta
phải chiến đấu chống năm sư đoàn địch: 304, 308, 312, 324B, 325 cùng
nhiều trung đoàn bộ binh độc lập, dù quân số ít nhưng được lợi thế hỏa
lực không quân, hải quân và pháo binh Việt - Mỹ, nên trận thế chiến
trường dần nghiêng về phía quân Nam.
Từ
thế thượng phong chủ động, Mặt Trận B2, tức Mặt Trận Trị Thiên của cộng
sản Bắc Việt rơi xuống thế hạ phong thụ động, cấp chỉ huy địch lúng
túng không phán đoán được ý định hành quân của Tư Lệnh Quân Đoàn I &
Quân Khu I, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Chúng ta nhận thấy là, khi
tướng tá địch dàn quân chấp nhận trận địa chiến với quân ta, thì chúng
không còn giữ được yếu tố bí mật, chợt đánh chợt ẩn chợt hiện theo lối
vận động chiến, là sở trường của chúng. Các đơn vị địch đều chường mặt
ra trực diện với quân ta, từ đó cấp chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
dễ dàng áp dụng binh pháp thần tốc, chỉa mũi nhọn cường kích lên những
mục tiêu được chọn lựa. Trong tư thế chiếm đất rải quân giữ chắc, quân
cộng bỗng thấy chúng đang ở trong tình trạng phòng thủ cố định, đại quân
Quân Đoàn I dễ dàng tập trung sức mạnh, hỏa lực đánh vào dứt điểm từng
vị trí một của chúng. Điều mà quân cộng vẫn thường thực hiện khi chúng
tấn công các căn cứ cố định, đồn bót của chúng ta. Trong nhiều trường
hợp, quân ta cũng “chơi” chiến thuật đặc công quấy phá và diệt chốt
kiềng cả ngày lẫn đêm, công đồn chận viện, làm giặc ăn ngủ không yên.
Muốn
hóa giải hay làm giảm thiểu sức mạnh tấn công đang lúc lên cao hừng hực
đại quân Cộng Hòa, Mặt Trận B2 chỉ có thể tung ra chiến dịch tấn công
tại mặt trận Nam Hải Vân. Mặt Trận 44 tại Nam Hải Vân nhận lệnh bằng mọi
cách phải tấn kích, nếu chiếm được càng tốt nhiều vị trí quân ta ở
Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi, với ý đồ tạo chiến trường lớn thu
hút quân tổng trừ bị Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân đang thắng
thế ở mặt trận Bắc Hải Vân chia quân về cứu viện, từ đó tốc độ tiến quân
của quân ta bị khựng lại. Hoặc nếu đại quân Bắc Hải Vân không kéo về,
thì Mặt Trận 44 sẽ cầm chân các lực lượng Nam Hải Vân không thể gửi quân
tăng viện ra phía Bắc. Nếu đạt được một trong hai mục tiêu này, coi như Mặt Trận 44 hoàn thành nhiệm vụ.
Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 3 Bộ binh Ngày 3 tháng 5- nĂM 1972 rời khỏi chức vụ Tư Lệnh Sư Đòan 3
Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh Tân Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh
SƯ ĐOÀN 3 BỘ BINH TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG
Chiếm
được dải núi đèo Răm, con đường xuống thung lũng và quận cũ Hiệp Ðức đã
mở rộng đối với bộ binh. Nhưng muốn đi sâu xuống Hiệp Ðức hay khai thác
chiến quả xa hơn nữa, lục soát các khu hậu cần Mồng 1 tháng 5 - 1972 là ngày kinh hoàng với quân và dân phía bắc đèo Hải vân. Sư
đoàn 3 bộ binh bỏ Quảng Trị, các đơn vị tăng cường mặt trận đó cũng vội
vã "di tản chiến thuật" về phía nam, bỏ lại hay phá hủy hầu hết quân
dụng nặng. Dân chúng Quảng Trị hốt hoảng ùa theo đoàn quân tháo lui. Ðể
gây thêm hỗn loạn, Cộng quân pháo kích, tấn công, tàn sát đoàn người vô
tội di tản, mắc nghẽn nheo nhóc dọc quốc lộ 1. Ðoạn
đường từ Mai lĩnh chạy về Mỹ Chánh đã được mệnh danh là "đại lộ kinh
hoàng", cái tên sẽ còn mãi trong sử sách cuộc chiến quốc-cộng VN. Ðoàn
quân và dân chạy giặc đã khiến thành phố Huế không còn trật tự. Sự rối loạn và tranh cướp các phẩm vật khan hiếm đã khiến chợ Ðông Ba bị đốt phá. Kinh
thành xưa cũ này cũng đang được suy đoán sẽ là mục tiêu kế tiếp của
cuộc tổng tấn công CS. Hình ảnh tang tóc Mậu Thân 1968 đã xua dân Huế bỏ
chạy trong một không khí hốt hoảng tột cùng.
Trước
tình hình toàn quốc nặng nề với các cuộc tấn công dồn dập của CS tại An
Lộc, Kontum và các tin chẳng lành từ Quảng Trị gởi về, tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu đã lấy một quyết định không dễ dàng nhưng cần thiết:
thay thế Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật (QÐI & VICT). Sáng
ngày 3-5-72, có lệnh triệu tập trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh
QÐIV&V4CT về Sài-gòn họp gấp. Ông được lệnh ra nắm Quân đoàn I và
ngay sau trưa ngày đó, đã rời Cần Thơ và đồng bằng Cửu Long êm ả, đáo
nhậm vùng hỏa tuyến cùng tư lệnh phó Quân khu, Chuẩn tướng Nguyễn Duy
Hinh với vài ba sĩ quan tham mưu chọn lựa khác. Ngay
chiều đó, sau buổi lễ bàn giao quyền chỉ huy Quân đoàn dản dị đến tối
đa, trung tướng Trưởng và bộ tham mưu bắt tay làm việc không ngừng nghỉ.
Chuẩn tướng Hinh được chỉ định làm Tham mưu trưởng Hành Quân. Bộ Tham
mưu Hành quân QÐI tại Mang Cá được uốn nắn lại. Những
cơ cấu cần thiết cho sự điều hành và phối hợp tác chiến, sưu tầm và
phối hợp tình báo, xử dụng hỏa lực được đặc biệt chú trọng. Phải chặn địch trước tuyến Mỹ Chánh và cuộc phản công lớn được toan tính ngay từ những giờ phút đầu. Tân
tư lệnh Quân đoàn đã đem lại sự an lòng cho cả quân và dân giới tuyến
nhưng các đơn vị chiến đấu đã sứt mẻ cần được chấn chỉnh và cần thời giờ
chuẩn bị để phản công. Thời giờ
quí báu ấy, phe ta như đã giành được vì sức tấn công của Cộng quân đã
chựng lại trước tuyến Mỹ Chánh của Thủy quân Lục chiến (TQLC) oai hùng
và bên kia vòng đai phòng thủ Huế của Sư đoàn 1 BB kiên cường. Ðồng thời
với các đợt tấn công trên toàn quốc, đối phương đang ngạo mạn đưa ra
nhiều đòi hỏi hỗn xược trước hòa hội Paris. Quân lực VNCH và Ðồng minh phải đập tan các âm mưu "đánh và đàm" đó. Sư đoàn Nhảy dù đang dần dần được tăng cường đầy đủ ra mặt trận bắc Huế. Trong
khi chờ đợi cuộc phản công sắp đến, mưu lược áp dụng là tiêu hao tối đa
sinh lực địch bằng mọi phương tiện phi pháo vốn là ưu thế của chính ta
và của Ðồng minh. Những trận bom và pháo tập trung mệnh danh là "lôi
phong" đã tỏ ra rất hữu hiệu theo các báo cáo tới tấp của các đơn vị
địch tại tiền tuyến và các cung từ của tù hay hàng binh cùng các tài
liệu thâu lượm được về sau. Ngoài
nỗ lực thiết kế và sửa soạn cho kế hoạch tái chiếm Quảng Trị, Quân đoàn I
còn đẩy mạnh một cố gắng khác không kém phần quan trọng: đó là công tác
chỉnh trang các đơn vị thiệt hại vì chiến trận vừa qua. Với
sự trợ lực tận tình của bộ Tổng Tham mưu và các bộ Chỉ huy Binh chủng,
các đơn vị thiết giáp, pháo binh, công binh, biệt động quân ... đã được
bổ xung tổn thất và tân trang mau lẹ. Công
tác hệ trọng khác là tổ chức và huấn luyện Ðịa phương quân tỉnh Quảng
Trị và nhất là việc tái tổ chức Sư đoàn 3 Bộ Binh là đơn vị coi như sa
sút, mất mát nặng nề nhất nhưng sẽ phải đứng dậy càng mau lẹ càng tốt.
Chuẩn
Tướng Lê Nguyên Vỹ về đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào
khoảng giữa năm 1973, khi ông vẫn còn mang cấp bậc Đại Tá. Ông nổi tiếng về tinh thần dũng cảm và chống cộng cương quyết, cũng như tính tình nóng như lửa cuả ông.
Năm
1974,Tướng Lê Nguyên Vỹ được thăng chuẩn tướng sau khi học một khóa học
chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ và giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ
Binh
Vào
mùa Hè năm 1972, Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Phó Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã
có mặt ở Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn tại An Lộc cùng Chuẩn Tướng
Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn. Họ đâu biết rằng họ sẽ là chứng nhân cho
một biến cố lịch sử.
Rạng
sáng ngày 5 tháng 4 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt xua bốn sư đoàn (5, 7, 9
và Bình Long) và hai trung đoàn xe tăng 202, 203 nhiều đơn vị yểm trợ
tấn công thị xã An Lộc. Cộng quân đã dùng những trận mưa pháo để chà nát
và san bằng thị xã nhỏ bé nàỵ Hàng ngàn đồng bào vô tội đã bỏ mình dưới
hỏa lực của Cộng quân. Nhiều lần, csbv dùng chiến xa T-54 tấn công thẳng vào nơi Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn 5 đang đóng. Lần
đầu tiên người lính VNCH gặp phải chiến xa địch, lại không tin tưởng
vào khả năng của vũ khí của mình, nên đã hoảng hốt tìm nơi ẩn tránh.
Không thể trách họ, vì hoả tiễn M72 không đủ sức xuyên phá nếu bắn vào
đằng "mũi" của xe T-54. Khi ấy tướng Hưng đã cầm sẵn một trái lựu đạn
nơi tay, với ý định nếu Việt Cộng tràn vào, ông tung ra, tất cả cùng
chết. Chiếc chiến xa đi đầu đã tiến gần, quay ngang quay dọc để tìm kiếm
trung tâm chỉ huỵ Đại Tá Vỹ thừa cơ đứng lên, bắn một quả đạn M72 vào
hông xe làm chiếc xe tăng bốc cháỵ. Binh sĩ lên tinh thần theo phương
pháp diệt xe của Đại Tá Vỹ, bò theo nhũng vách tường, bờ giậu để bắn xe
đich. Kết quả là đoàn xe bị tiêu diệt.
Sau
68 ngày tử thủ, Cộng quân bị đánh lui và An Lộc được giải toả. Đại Tá
Lê Nguyên Vỹ được thăng cấp Chuẩn Tướng và về chỉ huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh
tại căn cứ Lai Khê (Bình Dương) khi Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đi nhận
nhiệm vụ mới ở Quân Khu IV.
Tại
Lai Khê, ông làm việc không kể giờ giấc, ngày đêm, trong việc xây dựng
và tu bổ hệ thống phòng thủ, cũng như huấn luyện binh sĩ. Ông cũng rất
nhiệt tình trong việc bài trừ tệ nạn và tham nhũng trong hàng ngũ quân
độị Vì thế, ông đã mang lại miềm tin tưởng cho mọi người .
Chúng
ta mãi mãi nhớ đến chiến công của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, mà trong
trận An Lộc, là Đại Tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Trước khi Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (Tư Lệnh) đưa bộ Tham Mưu vào An Lộc, thì Tướng Vỹ chỉ huy Bộ Tư Lệnh Hành Quân nhẹ ở đó.
Đó
là một chiến công có tính cách quyết định vì khi Cộng quân tung xe
thiết giáp T-54 vào trận, quân sĩ VNCH rất bối rối - đây là lần đầu tiên
trực chiến với chiến xa địch có hoả lực còn hơn loại thiết giáp M-41
của VNCH. Dù bộ binh VNCH đã được
trang bị loại hoả tiễn cầm tay M-72 từ năm trước, nhưng chỉ được dùng
để phá hầm chứ chưa bắn xe thiết giáp bao giờ.
Sau
vài loạt M-72 bắn không hiệu quả vì bắn hoặc quá xa, hoặc quá gần, hoặc
không trúng chỗ nhược, anh em binh sĩ đã tỏ ra vô cùng lo âu. Đại Tá Lê Nguyên Vỹ là người đã can đảm nhảy ra khỏi chiến hào, tự tay bắn M-72 làm cháy chiếc chiến xa địch. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong bài Viết Về Cố Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ của tác giả Triệu Vũ đăng trên Tạp chí KBC:
“Một
chiếc T54 đang nghiến xích sắt trên mặt đường sát bên hông BTL/Hành
Quân. Mọi người, từ binh sĩ tới Tư Lệnh chiến trường, đều nín thở như
chờ đợi một thảm họa và hầu như phó mặc cho số phận. Bỗng Ðại Tá Vỹ lao
khỏi hầm, với nón sắt, áo giáp và đặc biệt khẩu súng chống chiến xa M72
trên tay, theo sau là Trung úy sĩ quan tùy viên. Tới
bờ tường phòng thủ, vừa lúc chiến xa địch vượt qua khỏi cổng chính
khoảng 20 mét. Ông quỳ người, giữ tư thế tác xạ, đưa M72 lên vai. Người
sĩ quan tùy viên kế bên, khom người quan sát. Mọi người trong hầm chỉ
huy hồi hộp phóng tầm nhìn qua lỗ châu mai. Một tiếng nổ. Và một luồng
lửa đỏ tống về phía sau. Chiến xa địch bị trúng hỏa tiễn, bốc khói nhưng vẫn cố di động trước khi trở thành một khối sắt xám xịt vô dụng bên vệ đường.
Quân
sĩ từ trong hầm chỉ huy đổ ra ngoài reo hò mừng rỡ. Bây giờ người ta
mới thực sự tin M72 đã bắn hạ chiến xa địch mà suốt mấy năm qua, từ khi
được trang bị, chưa có cơ hội tác xạ. Ai ngờ ngày hôm đó, trong cơn nguy
khốn, vị Ðại Tá Tư Lệnh Phó chiến trường lại làm nhiệm vụ một khinh
binh, đích thân sử dụng M72 triệt hạ T54 của Bắc Việt. Câu chuyện Ðại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa địch lan truyền, tinh thần quân sĩ trú phòng tại Bình Long - An Lộc lên cao. Ðó đây có những báo cáo về Bộ Tư Lệnh, cho biết đã bắn hạ thêm nhiều chiếc khác.”
Chuẩn
Tướng Lê Nguyên Vỹ Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại mặt trận An Lộc
năm 1972, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà năm 1975,
đã tuẫn tiết tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (căn cứ Lai Khê, Tỉnh Bình
Dương). Ông đã giữ tròn khí phách của Vị làm Tướng, “Thành còn thì
Tướng còn, Thành mất thì Tướng mất”, hay nói khác đi ”Đất nước còn thì
còn là Tuớng Soái, đất nước mất vào tay giặc Cộng thì Tướng phải chết
theo vận mệnh của Đất Nước”, cho tròn cả NGHĨA ĐẠO LÀM NGƯỜI và mang
NGHIỆP TƯỚNG. Sáng
ngày 30 tháng 4, sau khi DVM ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng.
Tướng Vỹ triệu tập sĩ quan và binh sĩ dưới quyền lần cuốị Ông tuyên bố:
Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh nàỵ
Tôi nghĩ thân làm tướng, phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của quốc
gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi cho riêng tôị"
Đoạn ông bình tĩnh bước ra sân, nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư
Lệnh, và rút súng ra tự sát. Lúc đó là 11 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975.
Trường Kỳ, Nam Lộc và nhóm nghệ sĩ tại Sư đoàn 5 Bộ Binh.
Đây
là những hình ảnh của Tướng Nguyễn văn Hiếu tại Căn Cứ Lai Khê đang dự
nghi thức chuyễn giao căn cứ Lai Khê từ Sư Đoàn 1 Bộ Binh HK qua tay Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH ngày 25 tháng 2 năm 1970.
Tướng Nguyễn văn Hiếu
Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Sằng - năm 1966
ChuẩnTướng Lê Đức Đạt Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh - năm 1972
11
giờ sáng ngày 31 tháng 03 năm 1975, tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân Mặt Trận
Bình Định, vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh nhận được lệnh «điều động» Sư
Đoàn về phòng thủ Quy Nhơn. 11 giờ
01 phút, trên hệ thống truyền tin chỉ huy giữa Sư đoàn với Trung đoàn;
và sau đó, Trung đoàn- Tiểu đoàn, các Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn
trưởng đều nghẹn ngào khi nghe tin này.
Cả
3 Trung đoàn 41, 42, 47 lúc đó đều đang giao tranh với địch. Trung đoàn
41 và 42 Bộ Binh tại các mặt trận Quốc lộ 19, cách Quy Nhơn hơn 30 cây
số, và Trung đoàn 47 ở phía Bắc Bình Định.
Có những quân nhân nhà nghề đã chiến đấu trong đại đơn vị này suốt 2 thập niên, ngay từ khi Sư đoàn mới thành lập. Đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, vinh quang, bi hùng trong suốt 20 năm dòng dã.
«Những người lính già của chiến trường»,tưởng không bao giờ gục ngã. Nhưng, với cái lệnh rút khỏi vùng hành quân hôm nay, họ biết ngay, đây là giai đoạn chót cuối đời binh nghiệp!!
Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã từng bị đánh tan tành, và tưởng rằng bị xóa tên, trong Mùa Hè 72. Họ đã rút lui, đã tan hàng, chạy bộ suốt cả chục cây số đường rừng, núi để về tới «điểm tập trung». Nhưng họ không sờn lòng, nản chí. Họ vẫn giữ vững tinh thần, tin tưởng rằng sẽ có ngày Sư Đoàn hồi sinh, trở lại phong độ. Một cuộc «rút lui» khác nữa mà họ cũng không bao giờ quên. Đó
là cuộc chuyển quân thần tốc của một Trung đoàn – Trung đoàn 42 Bộ Binh
– từ Tây Nguyên trở về Bình Định tái chiếm đèo Nhông – đây cũng là một
chiến thắng kỳ diệu nhất của Trung đoàn 42 trong năm 1974.
Trung
đoàn 42 Bộ Binh đang hành quân tại vùng Pleime, Tây Nam Pleiku, trong
một buổi chiều, được lệnh về giải tỏa áp lực của địch tại mặt trận Bình
Định. Cuộc chuyển quân tưởng rằng phải được thực hiện trong vòng 2 hay 3
ngày. Nhưng, ngay đêm ấy, toàn bộ Trung đoàn đã về tới Bắc Phù Cát. Và
từ đó, dùng bàn đạp, đánh thẳng vào hậu phương địch, khiến Bắc quân trở
tay không kịp. Những trận đánh đẫm máu dòng dã suốt 3 ngày sau. Trung
đoàn 42 đã tiêu diệt gần 1 Trung đoàn CSBV của Sư đoàn 3 Sao Vàng, dựng
nên «Chiến Thắng Đèo Nhông». Trước
khi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ, lần nữa, Trung đoàn 42 Bộ Binh lại
biến 2 ngọn đồi vô danh từ Tây Tây Nam quận Hoài Nhơn, Bình Định thành
những «di tích» của chiến sử, nói lên tinh thần chiến đấu chống Cộng phi
thường của người quân nhân QLVNCH. Hai
ngọn đồi vô danh, đó là những ngọn đồi chiến lược, được mang số 82 và
174, nằm trên huyết lộ vận chuyển của Cộng quân, trên trục Quảng Ngãi –
Bình Định – cũng tại hai cao điểm chiến lược này, bọn nhà báo bất lương
ngoại quốc, sau gần 20 năm xuyên tạc về chiến tranh Việt Nam, đã ngả nón
kính phục về tinh thần dũng cảm của QLVNCH. Một
phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ cũng được gởi tới đó quan sát chiến trường,
và khi trở về nước, đã lên tiếng binh vực, ủng hộ Việt Nam. Nhưng, mọi
chuyện đã quá muộn! 22 giờ đêm,
Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh cuối cùng của Quân đoàn 2 và chiến trường
Cao Nguyên, bay trên đầu những cánh quân Sư đoàn 22 Bộ Binh. Với phương
tiện và Hải pháo yểm trợ của Hải Quân vùng 2. Ông hy vọng sẽ cứu được 50% lực lượng của Sư đoàn. Tuy nhiên, điều mong ước của Ông không bao giờ đến! Giờ
phút này, trước đó, và sau đó suốt 22 tiếng đồng hồ, các Trung đoàn 41,
42, 47, trên chặng đường rút quân và cũng là một trận tuyến dài hơn 30
cây số; từng đơn vị bị phục kích, bị đánh tan tác, bị «chặt đứt» ra từng
khúc nhỏ. Đây là một cuộc trả thù
tàn ác, man rợ nhất trong trận chiến sau cùng của chiến tranh Việt Nam.
Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không
tản thương. «Hậu phương» rã ngũ, bỏ súng. Trước mặt, sau lưng, đều là địch. «Đối
thủ» tuy vẫn là Sư đoàn 3 Sao Vàng, và những Tiểu đoàn đặc công CSBV.
Nhưng Bắc quân ở thế thượng phong, có pháo, chiến xa yểm trợ, và một
«hậu phương lớn nổi dậy». Những người cộng sản đã không cần biết đến quy
luật của chiến tranh. Chúng thẳng tay tàn sát «kẻ thù» trong đơn vị, mà
trước đây đã gây cho chúng những tổn thất lớn lao, những thất bại đau
đớn. Trên 30 cây số đường máu, các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng, nhưng dũng cảm, anh hùng. Họ đã bắn đến viên đạn cuối cùng rồi, gục xuống, có những hành động thật hào hùng, thật phi thường.
Một cấp chỉ huy Trung đoàn 47 đã quỳ xuống, ôm lấy người lính bị thương, rồi bật khóc. Người lính chỉ còn thoi thóp, nhưng ngón tay vẫn để trên cò súng. Hình ảnh này làm Ông đau đớn. Ông đứng dậy bỏ đi. Nhưng rồi trở lại. Và thật bình tĩnh. Ông rút súng…kết liễu đời đứa em thân yêu, sau đó, bắn vào đầu mình.
Có
một «Người Anh Lớn» khác, đợi cho các chiến hữu của mình lên tầu hết,
rồi lững thững bỏ đi. Trời bừng sáng, nhưng Anh không đi về hướng mặt
trời. Anh trở lại con đường cũ. Trở lại phía có «Những Ngọn Đồi Vô
Danh». Nơi đó, anh sẽ gặp «Dũng sĩ» Mai Hồng Bướm – người Binh Nhất
Trung Đội Trưởng anh hùng Sư Đoàn 22 Bộ Binh – «người Trung Đội Trưởng
thứ…sáu» của Trung Đội, đã chỉ huy đơn vị đánh bật kẻ thù khỏi đỉnh Du
Tự, Hoài Ân trước khi gục ngã. Và, gặp lại rất nhiều những anh hùng vô
danh khác của Sư Đoàn, những người đã lấy máu mình tô thắm cho mầu cờ
đơn vị, trong những năm sau cùng!!!
…Có một hy sinh của người anh hùng – một đại anh hùng – sáng ngày 1 tháng 4 năm 1975, cũng bị rơi vào quên lãng. Và cũng là một thiệt thòi lớn lao cho đất nước! Đó là trường hợp Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 Bộ Binh. Tôi
có thể quả quyết rằng, trong 20 năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam,
không một tướng lãnh nào khi chỉ huy cấp trung đoàn và lữ đoàn, đã tạo
dựng những chiến công to lớn như người anh hùng Nguyễn Hữu Thông. Những
tướng csbv chỉ huy Sư đoàn 320 Điện Biên Phủ, Sư đoàn 3 Sao Vàng trong
những năm 73, 74, 75, cho đến bây giờ và mãi mãi sẽ phải cúi mặt khi nhớ
đến thảm bại nhục nhả. Những thảm bại bởi Trung đoàn 42 Bộ Binh, do Đại
tá Nguyễn Hữu Thông chỉ huy, tại Pleime, đèo Nhông, và «Những Ngọn Đồi
Vô Danh» (Cao điểm chiến lược 82 và 174) tại Tây Tây Nam Hoài Nhơn, Bình
Định. «Nhân vật và hình ảnh»
Nguyễn Hữu Thông, sau khi đưa «những chiến hữu anh em còn lại» về vùng
an toàn; đã một mình lững thững…trở lại con đường cũ, về phía «Những
Ngọn đồi vô danh»…thật phi thường, thật hào hùng. Ngày
1 tháng 4 năm 1975, nếu người anh hùng Nguyễn Hữu Thông là Thiếu tướng
Nguyễn Hữu Thông, chắc chắn cái chết của Ông sẽ tạo thành một trận cuồng
phong. «Trận cuồng phong» từ vùng đất linh thiêng của Quang Trung Đại
Đế, sẽ làm quân thù khiếp sợ. Và gây được sự tin tưởng, phấn khởi cho
toàn Quân, toàn Dân trong những ngày cuối cùng! Hai
năm trước đây, tôi có dịp hầu chuyện với một vị tiền bối cùng thời với
Hồ chí Minh. Tôi có thưa với Cụ về tài ba, anh hùng, của những Sĩ quan
các khóa 16, 17, 18…Đà Lạt. Họ được huấn luyện 4 năm cả về Quân Sự lẫn
Văn Hóa, như tại các trường Võ Bị của Mỹ, Anh, Pháp.
Trong
trận chiến sau cùng, các Sĩ quan này giữ những chức vụ Trung đoàn
trưởng, Lữ đoàn trưởng đa số đều tự tử chết; hoặc ở lại chiến đấu với
chiến hữu của mình cho đến phút cuối cùng. Như các Trung tá Nguyễn Xuân
Phúc, Thủy Quân Lục Chiến, ngoài vùng I; Nguyễn Hữu Thông, Lê Cầu, tại
mặt trận Bình Định; Bùi Quyền, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù… Sư Đoàn 22 Bộ Binh của QLVNCH là một trong những sư đoàn có một lịch sử bi
hùng nhất trong tất cả các sư đoàn của miền Nam. Được gọi là sư đoàn
“Bình Sơn Trấn Hải” vì có địa bàn hoạt động là Bình Định, Phú Yên, Phú
Bổn (nay gọi là Ayunpa, thuộc tỉnh Pleiku), Kontum và Pleiku, Sư Đoàn 22
Bộ Binh có 4 trung đoàn, 3 thiết đoàn, một pháo đoàn, và một tiểu đoàn
quân y. Quân số tổng cọng của Sư Đoàn 22 ước lượng trên dưới 20 ngàn
người (4). Vào Mùa Hè Đỏ Lửa (từ 30 Tháng 1 năm 1972 đến 31 tháng 1 năm
1973; còn được gọi là Chiến Dịch Xuân-Hè 1972 ở Miền Bắc và Easter
Offensive 1972 tại Hoa Kỳ), khoảng 18,000 binh sĩ và sĩ quan, kể cả tư
lệnh sư đoàn, đại tá Lê Đức Đạt, và hầu hết các trung đoàn trưởng, đã
anh dũng hy sinh khi chiến đấu ngăn chặn trên 120,000 bộ đội chính quy
miền Bắc trong đó có Sư Đoàn 3 Sao Vàng đã ồ ạt tràn qua sông Bến Hải và
xâm nhập miền Nam dọc theo rặng Trường Sơn (5, 6, 7). Được cấp thời tái
bổ sung quân số và đặt dưới quyền lãnh đạo của một sư đoàn trưởng mới,
đại tá Phan Đình Niệm, Sư Đoàn 22 Bộ Binh trong vòng 18 tháng từ tháng 2
năm 1973 tới tháng 7 năm 1974, sẽ chứng minh được lòng can đảm và khả
năng tác chiến của mình bằng cách chiếm lại được các vùng đất đã mất,
đánh tan và ép tàn quân của Sư Đoàn 3 Sao Vàng phải rút về núp ở mật khu
An Lão. Vào những tháng cuối cùng
của chiến tranh (từ tháng Giêng năm 1975 đến cuối tháng 4 năm 1975), Sư
Đoàn 22 Bộ Binh sẽ hy sinh thêm trên dưới 15 ngàn binh sĩ và sĩ quan
khi chấp hành lệnh trên rút quân từ Cao Nguyên về đồng bằng sông Cửu
Long (8, 9). Trong cuộc rút quân hoành tráng và vô cùng bi đát này, Sư
Đoàn 22 Bộ Binh đã phải vừa chiến đấu ngăn chặn quân địch đang tiến công
từ bốn phía, vừa bảo vệ trên hàng vạn thường dân và gia đình binh sĩ đã
bỏ tất cả ở phía sau để di tản theo các đoàn quân về những vùng đất
miền Nam vẫn còn được tự do. Với
những tổn thất vô cùng lớn lao như thế - 33 ngàn binh sĩ và sĩ quan
trong vòng ba năm – vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại bộ chỉ huy tạm
thời của sư đoàn 22 Bộ Binh tại căn cứ Bến Lức, Long An, thiếu úy trẻ
Ngô Hào đương nhiên có thể là một trong những sĩ quan cao cấp nhất còn
sót lại dưới ngọn cờ “Bình Sơn Trấn Hải”. Là một người đã kinh qua và
sống sót được những trận đánh có thể nói là tàn khốc nhất trong lịch sử
Việt Nam cận đại, một người vừa được điều về Phòng 1, Nhân Sự, của sư
đoàn nhằm góp phần vào việc tái bổ sung khẩn cấp quân số thêm một lần
nửa cho sư đoàn, vào ngày định mệnh đó, Thiếu Úy Ngô Hào cùng các chiến
hữu đã nghĩ gì, và có âu lo thấp thỏm đợi hay mong chờ một lệnh trên hãy
chiến đấu cho đến người lính cuối cùng và viên đạn cuối cùng để bảo vệ
miền Nam tự do hay không?
Phi
trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày
thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm
chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy
đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành
chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện
địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C-47 hàng không quân
sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa
máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc
Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân
tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những
chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua
những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với
vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta
chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục
tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn
vào cùng đám quân nhân hành khách. - Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!
Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán. Bỗng
một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ
chữ “Ân” đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may
tiệp vào cổ áo tác chiến. Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo.
Người nầy vội vã, hốt hoảng: - Vào hàng! Vào hàng! Phắc!
Hành
khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng
toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát: - Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận! Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích: -
Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được
phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như
những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị
chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân
tư lệnh!
Ông
lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng
Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân
phong, quân kỷ ấn định.
Đoàn
xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của
khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư
lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng
không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù.
Ngay
sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy
vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà
thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị
Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm. Liền sau giờ giao
thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung
đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa
phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã.
Sở
Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu
khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ
quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ
trước hết. Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ
được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân,
gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ
quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu
thắng.
Nhưng
tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm
mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo
hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều
động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu
đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang
hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao
vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm
lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững
những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.
Về
mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê
Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân
khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm
đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên
phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.
Tính
đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa,
Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành
đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống.
Nhưng
mỉa mai thay, có một “lạnh nhạt cố ý” rất đáng chê trách: suốt chiến
dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao
nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột “hình như” được cố ý
loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết “Cuộc
Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968″, danh
tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn
toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên
tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng
súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.
Khi
những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc
đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó
ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn
Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng
nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập
niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4 n8m 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ – Tướng Quân.Ngày đau thương oan nghiệt đó thắm thoát đã đi qua 39 năm rồi. Lửa chiến trường cũng đã nguội lạnh từ lâu. Những chiến sĩ trẻ tuổi nhất của chiến trường lúc ấy, bây giờ cũng đã bước vào tuổi lục tuần. Những cấp chỉ huy của mặt trận lúc ấy, sau bao thăng trầm dâu biển, giờ đây số còn sống sót cũng chẳng là baọ. Đã có nhiều cuốn sách, hồi ký của nhiều tác giả viết về trận đánh mang tính quyết định này. Có
người đã nhìn diễn tiến của trận chiến đó từ những góc độ khá cao, thậm
chí có khi đã tường thuật 1 cách dửng dưng như 1 khán giả ngồi xem trên
khán đài. Nhưng dầu sao, cũng còn nhiều khía cạnh đặc biệt của các trận
chiến đó mà những người ngoại cuộc không thể thấy rõ hết được ...
Sư Đoàn 9 Quân Giải Phóng Lợi Hại Thế Nào Mà Quân VNCH Cứ Nghe Tên Là Mất Vía Đến Vậy
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét