CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ (Thống nhất nước Đức)158

-Nghĩ gì khi mới ra đời, triết học Mác được hầu hết các nhà hoạt động cách mạng, đấu tranh vì cuộc sống loài người yêu tin, nhưng dần dần nó để mất niềm tin trong ý thức loài người, bị đa số quần chúng cần lao thế giới lơ đãng, ghẻ lạnh, thậm chí là căm ghét chủ nghĩa cộng sản, đứa con mà nó mang nặng đẻ đau?
-Không thể nói đó là phản động, thiếu hiểu biết hay nhận thức kém về chính trị. Thế thì vì sao?
-Trong lịch sử khoa học loài người có rất nhiều nhận thức về tự nhiên - xã hội được đương thời thừa nhận là chân lý nhưng ngày nay chúng chỉ là cổ tích. Tiêu biểu trong số đó là thuyết Địạ Tâm của
Ptôlêmê.
-Theo tôi có hai nguyên nhân:
+Nguyên nhân sâu xa là triết học Mác đã sai lạc, nhiều quan niệm về tự nhiên - xã hội của nó cần phải xem xét, sửa chữa và điều chỉnh lại.
+Nguyên nhân trực tiếp là do tâm hồn con người chưa đủ "chín" để tiếp thu chủ nghĩa cộng sản một cách tự giác và đúng đắn nhất.
-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Tóm tắt nhanh lịch sử Đông Đức-Tây Đức - Phần 1/2
  
Tóm tắt nhanh lịch sử Đông Đức-Tây Đức - Phần 2/2

Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức


Đến giữa thế kỉ XIX, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Đức phát triển nhanh chóng ; từ một nước nông nghiệp, Đức trở thành nước công nghiệp.

1. Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức
Đến giữa thế kỉ XIX, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Đức phát triển nhanh chóng ; từ một nước nông nghiệp, Đức trở thành nước công nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp làm cho đội ngũ công nhân tăng nhanh ; riêng ở Béc-lin, chỉ trong 10 năm (1849 - 1859), số công nhân tăng từ 5 vạn lên 18 vạn. Béc-lin trở thành trung tâm chế tạo máy móc.
Công nghiệp và các thành thị phát triển nhanh chóng đã thôi thúc nhiều quý tộc địa chủ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa : sử dụng máy móc, thuê mướn nhân công, đẩy mạnh khai khẩn...
Phương thức kinh doanh mới tạo nên tầng lớp quý tộc tư sản hoá, gọi là Gioongke.
Trở ngại lớn nhất cho sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Đức là đất nước vẫn trong tình trạng bị chia xẻ thành nhiều vương quốc, trong đó Áo và Phổ là hai vương quốc lớn nhất. Vấn đề thống nhất đất nước ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết.
Bộ phận quý tộc quân phiệt Phổ đại diện là Bi-xmác, được sự ủng hộ của giai cấp tư sản đã dùng vũ lực để thống nhất đất nước bằng ba cuộc chiến tranh với các nước láng giềng : chống Đan Mạch (1864), chống Áo (1866) và chống Pháp (1870 - 1871). Do thắng lợi, năm 1867, Liên bang Bắc Đức ra đời, bao gồm 18 quốc gia ở Bắc Đức và 3 thành phố tự do. Hiến pháp Đức được thông qua, thừa nhận quyền lực tối cao thuộc về vua Phổ và hạn chế vai trò của Quốc hội.
Với sự thất bại của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp — Phổ (1870 - 1871), Bi-xmác đã gạt được ảnh hưởng của Pháp, thu phục các bang miền Nam, hoàn thành việc thống nhất đất nước.
Ngày 18 - 1 - 1871, lễ thành lập Đế chế Đức được tổ chức tại Cung điện Véc-xai (Pháp). Vua Phổ Vin-hem I chính thức lên ngôi Hoàng đế. Bi-xmác trở thành Thủ tướng nước Đức. Tháng 4-1871, Hiến pháp mới được ban hành, quy định nước Đức là một liên bang gồm 22 bang và 3 thành phố tự do, củng cố vai trò của quý tộc quân phiệt Phổ.
Như vậy, việc thống nhất nước Đức mang tính chất một cuộc cách mạng tư sản, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ ở Đức.
Loigiaihay.com




03/10/1990: Nước Đức tái thống nhất


Print Friendly, PDF & Email
German-Unity-Day
Nguồn:East and West Germany reunite after 45 years,” History.com (truy cập ngày 2/10/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Ngày mùng 3 tháng 10 năm 1990, chưa đầy một năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, Đông Đức và Tây Đức tái thống nhất, và ngày này đã trở thành “Ngày thống nhất” của nước Đức.
Kể từ năm 1945, khi quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, còn Mỹ và các lực lượng Đồng Minh khác chiếm miền Tây của quốc gia này sau khi Thế chiến II kết thúc, nước Đức bị chia cắt đã trở thành một trong những biểu tượng nổi tiếng và lâu dài nhất của Chiến tranh Lạnh. Một số giai đoạn kịch tích nhất của cuộc chiến này đã diễn ra ở đây. Trong số đó, cuộc phong tỏa Berlin (từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949), trong đó Liên Xô chặn mọi lối đi trên bộ tới Berlin, và việc Bức tường Berlin được dựng lên năm 1961 có lẽ là hai sự kiện nổi bật nhất.
Với sự suy tàn dần diễn ra của chế độ Xô viết trong cuối những năm 1980, Đảng Cộng sản ở Đông Đức đã bắt đầu nới lỏng sự kiểm soát quyền lực. Hàng chục ngàn người dân Đông Đức đã bắt đầu trốn chạy khỏi đất nước, và đến cuối năm 1989 Bức tường Berlin sụp đổ. Ngay sau đó, các cuộc đàm phán giữa giới chức hai miền Đông Đức và Tây Đức, với sự góp mặt của các đại diện đến từ Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô, đã bắt đầu tìm kiếm khả năng tái thống nhất. Hai tháng sau khi nước Đức chính thức tái thống nhất, một cuộc bầu cử đã được tổ chức và Helmut Kohl trở thành thủ tướng đầu tiên của nước Đức thống nhất.
Mặc dù động thái này diễn ra hơn một năm trước khi Liên Xô tan rã, đối với nhiều nhà quan sát, sự tái thống nhất của nước Đức về cơ bản đã đặt dấu chấm hết cho Chiến tranh Lạnh.

Tường thuật trực tiếp của CNN về việc nước Đức thống nhất, 3/10/1990. Nguồn: Youtube.

Kỳ công thống nhất nước Đức của Helmut Kohl

6 Thanh Niên
Cố Thủ tướng Đức Helmut Kohl, người qua đời ngày 16.6, được xem là kiến trúc sư cho quá trình tái thống nhất nước Đức.
Thủ tướng Helmut Kohl được hàng ngàn người Đông Đức tung hô trong cuộc bầu cử đầu tiên sau khi nước Đức thống nhất
AFP
Sau khi nhà lãnh đạo Erich Honecker bị lật đổ ở Đông Đức và những người kế nhiệm dỡ bỏ Bức tường Berlin vào đêm 9.11.1989, Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl được coi là người lĩnh xướng giúp dẹp bỏ những bất ổn trong cơn hỗn mang của lịch sử. Với 16 năm tại vị (1982 - 1998), ông Kohl là người giữ chức thủ tướng lâu năm nhất của Đức kể từ thời nhà lãnh đạo Otto von Bismarck (1871 - 1890).
Đường đến thống nhất
Thủ tướng Kohl, chính trị gia có “khả năng nhìn xa trông rộng” theo lời cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, nhận thức được rằng nước Đức chỉ có thể thống nhất với sự hỗ trợ của Mỹ và Liên Xô. Thực tế, từ những năm trước đó, ông đã có những động thái xích lại gần phương Tây và hòa dịu với chế độ ở Đông Đức dù từng vận động tranh cử thủ tướng năm 1982 với khẩu hiệu công kích nước này (Tự do hoặc Chủ nghĩa xã hội). Ngày 22.9.1984, ông Kohl và Tổng thống Pháp Francois Mitterrand có cái bắt tay lịch sử tại Verdun, chiến trường lớn giữa Pháp và Đức trong Thế chiến 1. Hơn ai hết, ông Kohl biết rõ rằng chỉ có hòa giải với Pháp mới là con đường sống giúp Đức khôi phục lại sự tôn trọng, theo The New York Times. Sau khi tái đắc cử năm 1987, ông Kohl trở thành nhà lãnh đạo Tây Đức đón tiếp chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo Honecker tại Bonn, thủ đô của Tây Đức khi đó. Tháng 10.1988, ông Kohl đến Moscow và có cuộc gặp đầu tiên với lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev nhằm làm tan băng mối quan hệ. Tại cuộc gặp, ông Kohl kêu gọi Liên Xô rút bớt lực lượng khỏi các vùng gần biên giới Đức và mong muốn có sự ủng hộ trong việc thống nhất đất nước.
Chỉ vài tuần sau sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ, ông Kohl gây ngạc nhiên cho các đồng minh ở châu Âu và một số thành viên nội các bằng bài phát biểu về bản kế hoạch 10 điểm trong khoảnh khắc được mô tả là vĩ đại nhất đời ông. Ban đầu, kế hoạch này khiến giới lãnh đạo Anh và Pháp trở nên hoang mang bởi những ký ức kinh khủng thời Đức Quốc xã và viễn cảnh về một nước Đức thống nhất thống trị châu Âu. Ông John Kornblum, Đại sứ Mỹ tại Đức làm việc trong những năm nắm quyền cuối cùng của ông Kohl, mô tả: “Tôi biết lúc đó Washington khá ngạc nhiên. Tôi chắc là vậy. Ông ấy (Kohl) có vẻ đã hiểu được rằng nếu như không có người đứng ra lãnh đạo và thống nhất thì tất cả sẽ rơi vào hỗn loạn. Khi đó, lợi ích của nước Đức sẽ bị tổn hại”.
Thỏa thuận của cuộc đời
Ông Kohl sau này mô tả về hội nghị thượng đỉnh Liên minh Châu Âu (EU) tại thành phố Strasbourg (Pháp) vào tháng 12.1989, hội nghị đầu tiên từ khi Bức tường Berlin sụp đổ, là sự kiện căng thẳng và thù địch nhất mà ông từng tham gia. Nhà lãnh đạo Tây Đức phải liên tục trấn an các nước cựu thù bằng lời cam kết về một “nước Đức của châu Âu” chứ không phải một “châu Âu của nước Đức”. Ông phải chấp nhận yêu cầu của Tổng thống Pháp Mitterrand rằng nước Đức cam kết liên minh về tiền tệ và kinh tế sâu rộng với châu Âu để làm xoa dịu các đồng minh phương Tây về việc thống nhất nước Đức. Bên cạnh đó, ông Kohl hứa công nhận giới tuyến Oder - Neisse, đường biên giới thời hậu chiến giữa Đức và Ba Lan, để làm an lòng Liên Xô. Tại hội nghị ở Dublin (Ireland) tháng 6.1990, Thủ tướng Kohl có được sự chuẩn thuận của châu Âu về việc thống nhất và 2 tháng sau đó, hiệp ước thống nhất được ký kết.
Vào tháng 7.1990, ông Kohl một lần nữa đến Moscow để tìm kiếm sự xác nhận. Một tuần trước chuyến đi, tạp chí The Economist giật tít: Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl sẽ đến Moscow để theo đuổi thỏa thuận của cuộc đời. Tuy nhiên, đó được coi là một sự cường điệu vì thực chất Liên Xô đã đồng ý về nguyên tắc với việc thống nhất nước Đức trong các cuộc trao đổi từ cuối năm 1989.



Kỳ công thống nhất nước Đức của Helmut Kohl - ảnh 2
Lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev (trái) đổi bút với ông Helmut Kohl sau khi ký một thỏa thuận ở Bonn vào tháng 11.1990
Reuters
Theo Đài Deutsche Welle, cảm xúc là yếu tố quyết định sự thành bại của thỏa thuận vào thời điểm đó. Trong cuộc đi dạo dọc bờ sông của phái đoàn hai bên tại khu nhà riêng của ông Gorbachev ở vùng Caucasus, vợ của lãnh đạo Liên Xô mang đến một bó hoa tặng ông Kohl. Và đó được coi là tín hiệu ngầm gửi đến thủ tướng Tây Đức. Tuy nhiên, cũng có những lý do thực tế hơn khiến ông Gorbachev đưa ra quyết định trên vì ông bị cho là đang ở trong thế khó. Cuộc gặp với thủ tướng Đức diễn ra giữa thời điểm Liên Xô đang ngập trong khoản nợ khổng lồ do hậu quả của cuộc chạy đua vũ khí những năm 1980 với Mỹ. Ngoài ra, Liên Xô khi đó cũng không còn vị thế ảnh hưởng lớn đến các nước vệ tinh tại khu vực Đông Âu.
“Không hề có sự bất hòa, cả hai phía đều muốn một kết quả tích cực”, ông Horst Teltschick, phụ tá thân cận của ông Kohl trong cuộc đàm phán với Liên Xô, nhớ lại. Cuối cùng, ông Kohl cũng đạt được mục đích của mình, sáp nhập vùng đất rộng hơn 108.000 km2 và 16 triệu dân vào một nước Đức duy nhất. Trong khi đó, ông Kohl cũng đồng ý trả chi phí cho binh lính Liên Xô rút khỏi Đông Đức và về quê định cư. Ngoài ra, ông còn hứa giúp đỡ ổn định tình hình tài chính của Liên Xô. Tổng số tiền mà Tây Đức phải bỏ ra không được tiết lộ, nhưng cũng có những đồn đoán cho là vào khoảng 31 - 50 tỉ USD. Bất kể là vì yếu tố tác động nào, quyết định của ông Gorbachev cuối cùng cũng giúp hai bên đạt thỏa thuận và góp phần tạo nên bản đồ chính trị hài hòa hơn cho châu Âu sau này.
Ngày 3.10.1990, ông Kohl chứng kiến nước Đức thống nhất, lần đầu tiên kể từ Thế chiến 2. Đó cũng là ngày đỉnh cao trong sự nghiệp chính trị của ông. Việc thống nhất đất nước giúp ông giành được sự ủng hộ lớn và tái đắc cử trong cuộc bầu cử sau đó 2 tháng, trở thành thủ tướng đầu tiên của một nước Đức thống nhất.
Lãnh đạo thế giới thương tiếc ông Helmut Kohl

Được tin cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl từ trần, ngày 17.6, thay mặt Chính phủ và nhân dân VN, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gửi điện chia buồn tới Thủ tướng Đức Angela Merkel và nhân dân Đức cùng gia quyến.

Trước đó, hàng loạt nhà lãnh đạo thế giới đã lên tiếng ca ngợi di sản của vị thủ tướng quá cố, theo AP. Thủ tướng Đức Merkel coi ông là người xuất hiện đúng lúc giữa thời điểm làn sóng thay đổi hình thành tại Đông Âu. Tổng thống Nga Vladimir Putin nói rằng ông Kohl "sẽ được nhớ đến tại Nga như người ủng hộ mạnh mẽ cho mối quan hệ hữu hảo giữa hai nước". Tổng thống Donald Trump ca ngợi ông Kohl là người bạn và đồng minh của Mỹ. "Ông không chỉ là cha đẻ của việc thống nhất nước Đức mà còn là người ủng hộ châu Âu và mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương", ông nói.

Ngày 14/8: Khởi đầu của Bức tường Berlin

TVD , Theo Trí Thức Trẻ 4 năm trước

Bức tường Berlin, từng được Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức gọi là "Tường thành bảo vệ chống phát xít" và bị người dân Cộng Hoà Liên Bang Đức gọi là "Bức tường ô nhục".

Bức tường Berlin, từng được Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức gọi là "Tường thành bảo vệ chống phát xít" và bị người dân Cộng Hoà Liên Bang Đức gọi là "Bức tường ô nhục". Nó là một phần của biên giới nội địa nước Đức , đã chia cắt phần Tây Berlin với phần phía đông của thành phố và với lãnh thổ của nước Cộng hòa Dân chủ Đức bao bọc xung quanh Tây Berlin, từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989.
Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của cuộc Chiến tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức. Khoảng 5000 người đã tìm cách vượt qua bức tường để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt tường nằm trong khoảng từ 86 đến 200 người.

Bức tường Berlin được dựng lên để chia cắt vùng Tây và Đông Đức.
Bức tường Berlin được dựng lên để chia cắt vùng Tây và Đông Đức.
Từ 1949 cho đến 1961 khoảng 2,6 triệu người đã rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin, trong số đó vẫn còn 47.433 người chạy trốn chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 8 năm 1961. Ngoài ra Tây Berlin cũng là cửa ngỏ đi đến phương Tây cho nhiều người Ba Lan và Tiệp Khắc . Vì những người này thường là những người trẻ tuổi và được đào tạo tốt nên việc di dân này là mối đe dọa cho sức mạnh kinh tế của Đông Đức và cuối cùng là cho sự tồn tại của quốc gia này.
Từ ngày 1 tháng 6 năm 1952 dân cư trong Tây Berlin không còn được phép tự do vào Đông Đức. Sau hơn 28 năm, bức tường sụp đổ trong đêm thứ Năm ngày 9 tháng 11, rạng sáng ngày thứ Sáu ngày 10 tháng 11 năm 1989. Dẫn đến việc mở cửa bức tường về một mặt là các cuộc biểu tình tuần hành rộng lớn và yêu cầu tự do đi lại trong Đông Đức trước kia.

Dấu vết của Bức tường Berlin còn sót lại.
Dấu vết của Bức tường Berlin còn sót lại.
Vào thời gian cuối, hệ thống bảo vệ biên giới bao gồm: Tường bê tông hay rào sắt cao khoảng từ 2 đến 3 mét. Dưới đất là hệ thống phát tín hiệu báo động khi chạm vào. Rào sắt cao hơn đầu người có gắn kẽm gai và dây báo động. Ngoài ra nhiều đoạn còn có chó đặc nhiệm, hào cản xe cơ giới và cản xe tăng, chỉ được hủy bỏ sau khi Tây Đức cho vay hằng tỉ đồng DM. Đường đi có chiếu sáng về đêm cho lực lượng biên phòng. Tháp canh (tổng cộng 302 tháp vào năm 1989).

Tham khảo: wikipedia

9/11/1989 - Bức tường Berlin sụp đổ, nước Đức thống nhất

Nova , Theo Trí Thức Trẻ 4 năm trước

Đông và Tây Đức chính thức hợp nhất vào ngày 3/10/1990, gần một năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, trở thành nước Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay.

Ngày 9/11/1989, Bức tường Berlin sụp đổ sau 28 năm được xây dựng, chấm dứt sự chia cắt nước Đức. Hiện nay, phần còn lại của bức tường được trang trí bằng nhiều tác phẩm nghệ thuật. Bức tường Berlin, ngăn cách phần Đông và Tây thành phố, là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của Chiến tranh Lạnh. Sự sụp đổ của nó dẫn đến thống nhất nước Đức và đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử thế giới hiện đại.
Vào ngày 13/8/1961, chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức (GDR hay Đông Đức) bắt đầu dựng hàng rào dây thép gai và "bức tường chống phát xít" (Antifascistischer Schutzwall), giữa Đông và Tây Berlin. Mục đích chính thức của Bức tường Berlin này là nhằm ngăn cái gọi là "những kẻ phát xít" phương Tây vào Đông Đức, nhưng nó cũng nhằm ngăn việc di tản quy mô lớn từ Đông sang Tây. Bức tường Berlin vẫn đứng sừng sững cho tới ngày 9/11/1989, khi lãnh đạo đảng Công nhân xã hội thống nhất cầm quyền thông báo công dân của GDR có thể vượt qua biên giới bất kỳ khi nào họ muốn.
Đêm đó, những đám đông hồ hởi đổ về bức tường. Một số tự do vượt qua để vào Tây Berlin, trong khi những người khác đem búa, dùi và bắt đầu đục đẽo tường. Đến nay, Bức tường Berlin vẫn là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất, lâu dài nhất của Chiến tranh Lạnh. Khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, hai hội nghị hòa bình của phe đồng minh tại Yalta và Potsdam quyết định số phận của những vùng lãnh thổ Đức. Họ chia nước bại trận thành 4 "vùng cai quản của đồng minh". Phần phía đông của đất nước thuộc về Liên Xô, trong khi phần phía tây thuộc về Mỹ, Anh và Pháp. Dù Berlin nằm hoàn toàn trong vùng Liên Xô kiểm soát (cách ranh giới giữa các vùng cai quản đông và tây hơn 160 km), các hiệp định Yalta và Potsdam chia thành phố thành những phần tương tự. Liên Xô cai quản nửa phía đông, còn các đồng minh khác kiểm soát phần phía tây. Việc chiếm đóng 4 bên ở Berlin bắt đầu vào tháng 6/1945.
Việc Tây Berlin, một thành phố tư bản chủ nghĩa, tồn tại sâu trong lòng Đông Đức theo xã hội chủ nghĩa, "như một cục xương hóc trong cổ họng Xô Viết", như lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev, từng nói. Năm 1948, một cuộc phong tỏa Tây Berlin của Liên Xô diễn ra nhằm buộc các đồng minh phương Tây chịu đói và phải rời khỏi thành phố. Tuy nhiên, thay vì rút lui, Mỹ và đồng minh tiếp viện từ trên không cho các vùng của họ ở thành phố. Nỗ lực này được biết đến với cái tên Cuộc Không vận Berlin và kéo dài hơn một năm, vận chuyển hơn 2,3 triệu tấn lương thực, chất đốt và hàng hóa khác tới Tây Berlin. Liên Xô dừng phong tỏa vào năm 1949.
Kể từ khi Liên Xô chấm dứt phong tỏa, gần ba triệu người đã di tản khỏi Đông Đức, trong số đó có nhiều người trẻ tuổi, có kỹ năng, như bác sĩ, giáo viên, kỹ sư. Sau một thập kỷ tương đối yên bình, căng thẳng bùng phát một lần nữa năm 1958. Những hội nghị và các cuộc đàm phán khác diễn ra mà không đem đến giải pháp nào, trong khi đó, người di tản vẫn tiếp tục. Vào tháng 6/1961, khoảng 19.000 người rời GDR qua Berlin. Tháng sau đó, 30.000 di tản. Trong 11 ngày tháng 8, có tới 16.000 người Đông Đức vượt qua ranh giới để vào Tây Berlin, và vào ngày 12/8, con số này vào khoảng 2.400 người, con số người di tản khỏi Đông Đức lớn nhất trong riêng một ngày. Đêm đó, chính quyền Đông Đức quyết định ngăn dòng người di tản bằng cách đóng cửa biên giới vĩnh viễn. Chỉ trong hai tuần, quân đội, cảnh sát và các công nhân xây dựng tình nguyện của Đông Đức đã hoàn tất hàng rào thép gai và bức tường bê tông, Bức tường Berlin, ngăn đôi thành phố.
Trước khi tường được xây dựng, người Berlin ở cả hai bên có thể di chuyển khá tự do. Họ vượt qua ranh giới Đông - Tây để đi làm, mua sắm, đi nhà hát và rạp phim. Các tuyến đường tàu và tàu điện ngầm đưa hành khách ngược xuôi. Sau khi tường được dựng lên, việc đi từ Đông sang Tây Berlin là điều không thể, trừ việc đi qua một trong ba trạm kiểm soát: trạm Alpha ở Helmstedt, trạm Bravo ở Dreilinden và trạm Charlie ở Friedrichstrasse, trung tâm Berlin. Cuối cùng, GDR xây dựng 12 trạm kiểm soát dọc bức tường. Tại mỗi trạm, binh sĩ Đông Đức kiểm tra các nhà ngoại giao và các quan chức khác trước khi họ được phép đi hoặc đến. Trừ trường hợp đặc biệt, những người đi từ Đông và Tây Berlin hiếm khi được vượt qua biên giới. Việc xây Bức tường Berlin đã không ngăn được dòng người di tản từ Đông sang Tây, nhưng đã xoa dịu cuộc khủng hoảng Berlin. Tổng thống Mỹ John F. Kennedy cũng thừa nhận "một bức tường thì tốt hơn rất nhiều một cuộc chiến tranh". Theo thời gian, các quan chức Đông Đức thay thế bức tường tạm bằng một bức tường kiên cố hơn, khó trèo hơn.
Một bức tường dựng bằng các tấm bê tông cốt thép cao 3,6 m, rộng 1,2 m có phần trên là một đường ống khổng lồ khiến việc trèo qua gần như bất khả thi. Đằng sau bức tường ở phía Đông Đức gồm một dải cát mềm (để cho thấy vết chân), đèn pha, chó dữ, những khẩu súng máy, vọng gác và lính canh với chỉ thị bắn những người bỏ trốn. Ít nhất 171 người thiệt mạng khi cố vượt qua, ở phía dưới hoặc xung quanh Bức tường Berlin. Tuy nhiên từ năm 1961 tới khi bức tường sụp đổ năm 1989, hơn 5.000 người Đông Đức (trong đó có khoảng 600 lính biên phòng) đã vượt qua được ranh giới bằng cách nhảy từ cửa sổ tòa nhà gần bức tường, trèo qua dây thép gai, bay bằng khinh khí cầu, bò qua cống và lái xe băng qua những phần bỏ ngỏ của bức tường.
Trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh bắt đầu "tan băng" ở Đông Âu, vào ngày 1/11/1989, ông Egon Krenz, lãnh đạo mới của Đông Đức đến Điện Kremlin đã gặp ông Mikhail Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Theo International Business Times, trong cuộc gặp mặt bí mật này, ông Krenz mang theo thông điệp ảm đạm: kinh tế Đông Đức đang trên bờ vực sụp đổ và GDR không thể trả lãi cho những món nợ khổng lồ, điều đã bị người tiền nhiệm của ông Krenz giấu kín trước những cố vấn hàng đầu của ông và các lãnh đạo Liên Xô. Ông Krenz nói với Gorbachev rằng nếu không được hỗ trợ về tài chính và quân sự từ Liên Xô, Đông Đức sẽ phải thông báo tình trạng khẩn cấp để ngăn các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn ở Leipzig lan tới Berlin. Tuy nhiên, Gorbachev tuyên bố trách nhiệm ngăn lượng người di tản quy mô lớn khỏi GDR thuộc về ông Krenz.
"Ngay sau đó, Gorbachev ban hành chỉ thị nhắc nhở các vị tướng quân sự rằng quân đội Xô Viết trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được tham gia vào cuộc xung đột giữa chính quyền ở Berlin và công dân Đông Đức", nhà sử học, nhà báo Victor Sebestyen kể về những sự kiện dẫn đến việc Bức tường Berlin sụp đổ, trong cuốn sách Revolution 1989 (tạm dịch: Cuộc Cách mạng 1989). Chính sách từ chối dùng vũ lực của Gorbachev đã ngăn chặn nguy cơ đổ máu khi GDR đổ vỡ.
Vào ngày 9/11/1989, phát ngôn viên đảng cầm quyền của Đông Berlin thông báo về sự thay đổi trong chính sách du lịch. Người này nói rằng ngay từ đêm hôm đó, các công dân GDR được tự do vượt qua ranh giới. Người Đông Berlin và Tây Berlin đổ về phía bức tường, uống bia và sâm panh, hô to "Tor auf!" (Mở cửa đi!). Vào nửa đêm, họ tràn qua những trạm kiểm soát. Hơn hai triệu người từ Đông Berlin thăm Tây Berlin vào cuối tuần đó để tham gia ăn mừng trong một sự kiện được mô tả là "lễ hội đường phố vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới". Những người dùng búa, dùi để đục đẽo tường được gọi là "chim gõ kiến trên tường", trong khi cần trục và xe ủi kéo sập từng phần của bức tường. Ngay sau đó, bức tường bị đánh sập và Berlin lần đầu tiên được thống nhất kể từ năm 1945.
Đông và Tây Đức chính thức hợp nhất vào ngày 3/10/1990, gần một năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, trở thành nước Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay.
Tham khảo History, WarHistoryOnline, BBC, NewYorkTimes

Ảnh độc: Khoảnh khắc khi Bức tường Berlin chính thức sụp đổ

Tồn tại trong gần 30 năm, Bức tường Berlin ngăn cách Đông Đức và Tây Đức là biểu tượng mạnh mẽ nhất của Chiến tranh Lạnh.
Được xây dựng năm 1961, Bức tường Berlin đã chia cắt Đông Đức và Tây Đức cho tới tận gần 30 năm sau, ngày 9/11/1989, bức tường này mới bị phá bỏ. Trong ảnh là những người lính Đông Đức đứng thành một hàng rào nhằm ngăn cản những người ở Tây Berlin đang chờ đón để gặp các công dân ở Đông Berlin tại trạm kiểm soát Charlie.
Khi chuông đồng hồ điểm nửa đêm, tất cả các trạm kiểm soát dọc Bức tường Berlin đều buộc phải mở ra.
Những người Berlin cầm búa và đục bắt đầu phá bỏ bức tường.
Các
công dân Đông Đức và Tây Đứcvui mừng trèo lên bức tường ăn mừng tại cổng Brandenburg.
Nếu như trong quá khứ, người ta phải đào những đường hầm hay nhảy qua những tòa nhà dọc biên giới để sang phía bên kia thì ngày 9/11/1989, những công dân Tây Đức có thể tự do trèo lên đỉnh Bức tường Berlin.
Những người dân Đông Đức trèo lên bức tường Berlin ở cổng Brandenburg ăn mừng.
Những người dân Tây Đức vỗ tay khi những công dân Đông Đức đi qua trạm kiểm soát Checkpoint Charlie ngày 10/11/1989.
Nhiều nơi tổ chức ăn mừng với các công dân Tây Đức chào đón những người Đông Đức khi họ đi qua các trạm kiểm soát biên giới.
Những lính gác biên giới ở Đông Berlin đứng trên đỉnh tường nhìn về phía biển người quanh bức tường lịch sử tại cổng Brandenburg ngày 11/11/1989.
Ngày 12/11/1989, người ta không chỉ dùng những dụng cụ như búa, đục nhỏ bé mà còn huy động cả những chiếc xe ủi và cần cẩu để phá đổ Bức tường Berlin.
Những người dân ở Đông Berlin vui mừng gặp lại những người ở Tây Berlin tại Potsdamer Platz sau khi Bức tường Berlin tại trạm kiểm soát này sập xuống ngày 12/11.
Các phần của Bức tường Berlin được chở đi trên những chiếc xe tải ở Potsdamer Platz ngày 14/11.
Hàng nghìn người đi bộ dọc Bức tường Berlin giữa Potsdamer Platz và cổng Brandenburg ngày 18/11.
Thậm chí cả trong những ngày sau đó, các công dân cũng muốn tham gia vào công việc phá hủy bức tường. Trong ảnh là một cô bé Tây Đức dùng búa đập lên Bức tường Berlin ngày 19/11.
Đông Đức dỡ bỏ một phần khác của Bức tường Berlin gần cổng Brandenburg ngày 22/12.
Lá cờ với từ "thống nhất" được vẫy cao khi những người Đức này vượt qua biên giới mới được mở ngày 22/12.
Một người đàn ông dùng búa đập bỏ phần còn lại của trạm kiểm soát Checkpoint Charlie ngày 2/6/1990./.
Theo Kiều Anh/VOV

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32