Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 227
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trên mặt trận tình báo
Kể từ mùa thu năm 1940, ngày càng có nhiều báo cáo cảnh báo về việc
phát-xít Đức tập trung quân dọc biên giới với Liên Xô. Tình báo quân sự
Xô-viết nỗ lực tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu Hít-le có tấn công và
nếu có thì khi nào? Các báo cáo tới tấp cung cấp những thời điểm khác
nhau về cuộc xâm lược Liên Xô của phát-xít Đức. Ban đầu họ cho rằng, nó
sẽ diễn ra vào tháng 3 hay tháng 4/1941. Sau đó có báo cáo nói rằng,
cuộc tấn công được hoãn đến mùa hè và tùy thuộc vào việc nước Anh có đầu
hàng hay không. Rồi lại có tin mới toanh rằng sẽ hoãn đến năm 1942.
Tình hình còn phức tạp thêm bởi trên thực tế, người duy nhất biết chính
xác dự tính của Hít-le chỉ có… chính Hít-le. Ông ta chỉ ký lệnh thông
qua chiến dịch Barbarossa xâm lược Liên Xô ngày 10/6/1941, 12 ngày trước
giờ thực hiện.
Giải mật cuộc chiến điệp viên trong thế chiến thứ hai
Tháng 6/1941, cơ quan Tình báo Quân sự Trung ương của Liên Xô đã tuyển
dụng được 914 người ở nước ngoài, 316 trong số đó làm cộng tác viên với
các mạng lưới điệp viên hợp pháp, còn 598 người là hoạt động bất hợp
pháp.
Chiến sĩ Hồng quân Liên Xô báo cáo kết quả trinh sát tại mặt trận năm 1941. Ảnh: Corbis.
Kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đã
có nhiều tài liệu về cuộc chiến khốc liệt này được giải mật và công bố.
Một trong số đó là bộ phim tài liệu Bão táp Xô-viết (Soviet Storm),
được công chiếu trên truyền hình Nga năm 2011. Không chỉ mô tả chân thực
chặng đường dài của quân và dân Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa phát-xít, bộ phim còn có một tập mô tả kỹ lưỡng một thế hệ điệp
viên Xô-viết dũng cảm và mưu trí -những người đã góp công không nhỏ vào
chiến thắng của “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại”. Kỳ 1: Vạn sự khởi đầu nan
Khi An-đóp Hít-le (Adolf Hitler) xua quân xâm lược Liên Xô vào tháng
6/1941, mạng lưới điệp viên Xô-viết ít nhiều bị xáo trộn. Thực tế cho
thấy, phát-xít Đức đã có bước khởi đầu lấn lướt hơn trên mặt trận tình
báo. Tuy nhiên, lực lượng tình báo Liên Xô đã nhanh chóng phản công. Chiếc va-li của Tùy viên hải quân Liên Xô
Ngày 21/6/1941, một đoàn tàu tốc hành từ Béc-lin cập ga Belorussia ở
Mát-xcơ-va. Trên tàu có Mi-khai-in Vô-rôn-xốp (Mikhail Vorontsov), Tùy
viên hải quân của Đại sứ quán Liên Xô ở Béc-lin, với một chiếc va-li cột
chặt vào tay. Hai ngày trước đó, M.Vô-rôn-xốp nhận được điện tín khẩn
lệnh cho anh phải trở về Mát-xcơ-va ngay lập tức. Một toán hộ tống đón
anh trên sân ga, gồm một cán bộ của Bộ Dân ủy nội vụ đi cùng hai sĩ quan
an ninh.
Bên ngoài sân ga, một chiếc ô tô đang đợi sẵn. M. Vô-rôn-xốp nhanh
chóng được đưa vào ghế sau ngồi giữa hai sĩ quan an ninh. Đó cũng là lần
đầu tiên M. Vô-rôn-xốp được thư giãn kể từ khi rời Béc-lin. Chiếc va-li
của anh giờ cũng đã thuộc trách nhiệm quản lý của người khác.
Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, M. Vô-rôn-xốp được điều động về
vùng Viễn Đông và tại đó anh phát triển lên làm Phó tham mưu trưởng Hạm
đội Thái Bình Dương. Năm 1939, anh được điều chuyển tới Béc-lin làm Tùy
viên hải quân Liên Xô.
Chiếc xe dừng lại bên ngoài lối vào Điện Crem-li. 10 phút sau,
M.Vô-rôn-xốp bước vào văn phòng của nhà lãnh đạo Xta-lin (Stalin). Trong
số các tài liệu anh đem về từ Béc-lin, có bản sao một điện tín mà anh
được Tùy viên hải quân Thụy Điển tại Béc-lin đưa cho. Điện tín có nội
dung: “Đề nghị chính thức của Béc-lin đề cập tới tuyến di chuyển của tàu
chiến và máy bay Thụy Điển ở biển Ban-tích sau ngày 22/61941, để tránh
va chạm trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô”.
Thời đó, công tác tình báo nước ngoài của Liên Xô được thực hiện bởi
mạng lưới các điệp viên nằm vùng. Hoạt động tình báo Xô-viết được tiến
hành cả kênh hợp pháp thông qua các điệp viên có hộ chiếu Xô-viết, làm
nhiệm vụ "kép" tại các cơ quan đại diện của Liên Xô ở nước ngoài với vỏ
bọc là một quan chức ngoại giao, lái xe hay chuyên viên kỹ thuật, lẫn
bất hợp pháp qua các điệp viên dùng giấy tờ giả.
Mỗi thành viên của một mạng lưới điệp viên nằm vùng đều có nhiệm vụ
riêng biệt. Một điệp viên chuyên tuyển dụng và điều hành các điệp viên
địa phương, một điệp viên khác chịu trách nhiệm về điện đài, một người
nữa làm liên lạc viên chuyển tài liệu và một người điều phối toàn bộ các
hoạt động của nhóm.
Sau khi Hít-le lên nắm quyền ở Đức, Liên bang Xô-viết đã thấy rõ
quốc gia nào là mối đe dọa lớn nhất với mình. Do đó, nhiều điệp viên
Xô-viết được đưa vào Đức để thu thập thông tin về tiềm năng quân sự và
mưu đồ của phát-xít Đức. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra năm
1939, số mạng lưới điệp viên nằm vùng của Liên Xô ở Đức tăng tới 50%.
Những mạng lưới tương tự cũng hoạt động ở Bỉ, Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ,
Pháp, Nhật, Bun-ga-ri và Nam Tư.
Tháng 6/1941, cơ quan Tình báo Quân sự Trung ương của Liên Xô đã
tuyển dụng được 914 người ở nước ngoài, 316 trong số đó làm cộng tác
viên với các mạng lưới điệp viên hợp pháp, còn 598 người là hoạt động
bất hợp pháp. Thậm chí, ngay cả nhà lãnh đạo Xta-lin cũng chỉ biết phần
lớn những người này qua mật danh. Bản thân ông cũng có quá đủ kinh
nghiệm về hoạt động bí mật để hiểu rằng, tên của một điệp viên bị đề cập
càng nhiều lần thì anh ta càng gặp nhiều nguy hiểm. Mất liên lạc
Kể từ mùa thu năm 1940, ngày càng có nhiều báo cáo cảnh báo về việc
phát-xít Đức tập trung quân dọc biên giới với Liên Xô. Tình báo quân sự
Xô-viết nỗ lực tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu Hít-le có tấn công và
nếu có thì khi nào? Các báo cáo tới tấp cung cấp những thời điểm khác
nhau về cuộc xâm lược Liên Xô của phát-xít Đức. Ban đầu họ cho rằng, nó
sẽ diễn ra vào tháng 3 hay tháng 4/1941. Sau đó có báo cáo nói rằng,
cuộc tấn công được hoãn đến mùa hè và tùy thuộc vào việc nước Anh có đầu
hàng hay không. Rồi lại có tin mới toanh rằng sẽ hoãn đến năm 1942.
Tình hình còn phức tạp thêm bởi trên thực tế, người duy nhất biết chính
xác dự tính của Hít-le chỉ có… chính Hít-le. Ông ta chỉ ký lệnh thông
qua chiến dịch Barbarossa xâm lược Liên Xô ngày 10/6/1941, 12 ngày trước
giờ thực hiện. Đến ngày 18/6, Mát-xcơ-va mới bắt đầu nhận được báo cáo
từ điệp viên K: “Các đơn vị lục quân Đức đang chuẩn bị chuyện gì đó rất
lớn. Rõ ràng không phải chuyện vài tháng hay vài tuần mà là vài ngày nữa
thôi”.
Nhưng dù có cảnh báo, tình báo Xô-viết vẫn không thể khẳng định chính
xác điều gì, kể cả bức điện tín mà M.Vô-rôn-xốp mang về Mát-xcơ-va.
Chiến dịch Barbarossa đã bắt đầu, nhưng Liên Xô vẫn chưa thực sự chuẩn
bị sẵn sàng.
Trong những ngày đầu của chiến tranh, mọi mạng lưới điệp viên hợp
pháp của Liên Xô tại Đức, các đồng minh của Đức và tại những nước bị phe
Trục chiếm đóng đều bị chấm dứt hoạt động và tất cả nhân viên đại sứ
quán đều bị trục xuất về Liên Xô. Tình báo quân sự Xô-viết mất liên lạc
với các điệp viên ở 11 nước châu Âu. Số điệp viên còn lại không ít,
nhưng nếu không thể liên hệ được với Mát-xcơ-va, xem ra họ chẳng còn hữu
ích là mấy.
Các điệp viên Liên Xô hoạt động ở nước ngoài không có đủ điện đài hay
điện đài viên giỏi. Máy điện đài của họ cũng rất cồng kềnh và thiếu tin
cậy, thậm chí thiếu cả ắc quy. Tầm hoạt động của các điện đài này là
không quá 1000km, tức là tín hiệu chỉ truyền đến được miền Tây Liên Xô
và không đủ mạnh để truyền tới Mát-xcơ-va, chứ đừng nói tới Cui-bi-sép
(Kuibyshev), nơi Tổng hành dinh của Cơ quan tình báo quân sự trung ương
được sơ tán tới.
Hơn nữa, mật mã và bảng mã khóa tình báo Xô-viết sử dụng hồi đầu
chiến tranh rất phức tạp và khó dùng. Ngay cả những tin nhắn đơn giản
nhất cũng phải mất khá nhiều thời gian để mã hóa và giải mã. Tín hiệu
chuyển đi cũng dễ bị đối phương bắt được. Phản gián Đức tuần tiễu khắp
thành phố với thiết bị dò hướng để định vị điện đài. Ngay khi xác định
được nơi đặt điện đài, lực lượng mật vụ sẽ bao vây và xông vào bắt điện
đài viên.
Và thế là phản gián Đức đã khiến các điệp viên Xô-viết gần như không
thể liên lạc trực tiếp với Mát-xcơ-va. Nhưng tình thế đã dần thay đổi
nhờ sự đáp trả kịp thời của tình báo Xô-viết. (Còn tiếp)
Theo Quân Đội Nhân Dân
Hé lộ bí mật chấn động về Thế chiến II của Liên Xô
(VTC News) -
Bộ Quốc phòng Nga mới công bố các tài liệu lưu trữ bí mật, tiết lộ về
những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô
chống Phát xít Đức.Những tài liệu bí
mật bao gồm báo cáo tình báo, mệnh lệnh do các chỉ huy tối cao của Liên
Xô đưa ra trong Thế chiến II được Bộ Quốc phòng Nga công bố, làm sáng tỏ
thêm về các sự kiện trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh vệ quốc
vĩ đại chống Phát xít Đức 1941-1945.
Trong số đó, có nhiều bản
tài liệu được chỉnh sửa bằng tay, cho thấy những tranh cãi xung quanh
thời điểm đầu cuộc chiến, Spunik nhận định.
Hình ảnh tư liệu trong Thế chiến II
Những
nhà lãnh đạo Liên Xô khi đó không tin Đức Quốc xã phát động cuộc chiến
tranh tổng lực và họ cố gắng ngăn chặn các lực lượng của đối phương ở
biên giới nhằm ngăn chặn xung đột leo thang.
Theo các tài liệu
đó, bất chấp những hành động hiếu chiến của Đức Quốc xã, điện Kremlin ra
lệnh cho Hồng quân không được phép chủ động tiến qua biên giới Đức, bên
cạnh đó, các cuộc không kích chỉ được thực hiện ở khoảng cách tối đa
150km tính từ biên giới Liên Xô.
Yêu cầu này đã được gửi đến 5 quân khu của Liên Xô khi đó, bao gồm cả khu vực Kiev và Quân khu Viễn Đông.
Tuy
nhiên, chỉ sau khi đưa ra yêu cầu vài giờ, các nhà lãnh đạo Liên Xô
nhận ra họ phải đối đầu cuộc tấn công tổng lực từ Đức Quốc xã và không
thể ngăn chặn từ các địa phương. Ngày
22/6/1941, Phát xít Đức và đồng minh phát động cuộc tấn công quy mô lớn
nhằm vào Liên Xô với sự tham gia của 190 sư đoàn bao gồm hơn 4.000 xe
tăng, 47.000 súng cối và vũ khí hạng nặng, 4.500 máy bay quân sự, 200
tàu chiến và 5 triệu binh sỹ.
Các lực lượng của Đức Quốc xã nằm
dọc biên giới Liên Xô đồng loạt tấn công, vượt qua biên giới, từ biển
Baltic đến Biển Đen. Hàng trăm máy bay Đức Quốc xã tấn công các nước
thuộc liên bang, Lithuania, Latvia, Estonia, Belarus, Ukraine và
Moldova.
Cũng trong ngày 22/6, Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao, một
cơ quan thuộc Chính phủ Liên Xô đã ban hành mệnh lệnh, chuyển cả nước
thành một doanh trại tự cung, tự cấp khổng lồ, sẵn sàng chiến đấu chống
lại quân Phát xít xâm lược.
Kể từ đó, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại là một dấu mốc lịch sử vinh quang của Liên Xô trước đây và nước Nga ngày nay bắt đầu. Tùng Đinh (theo Sputnik)
Chân dung điệp viên đào hoa giúp Liên Xô đánh bại phát xít Đức
VOV.VN - Một điệp viên Xô
viết mang 2 dòng máu Nga và Đức đã lập chiến công lớn trong Thế chiến 2:
Thông báo chính xác việc Đức sẽ tấn công Liên Xô.
LTS:Trong
Cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của mình, Liên Xô đã giành chiến thắng
không chỉ nhờ vào nhân dân anh hùng và quân đội quả cảm, mà còn cả mạng
lưới tình báo hết sức hiệu quả. Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức,
VOV.VN xin giới thiệu với độc giả loạt bài về một điệp viên tầm cỡ của
Liên Xô đã có đóng góp lớn vào chiến công chung của Liên Xô trong việc
đánh bại chủ nghĩa phát xít.
Vào
các năm 1939-1940, Liên Xô đã nhận định phát xít Đức sớm muộn gì cũng
sẽ tấn công mình. Nhưng họ không biết chính xác thời điểm. Và ban đầu họ
còn phán đoán lầm rằng thời điểm tấn công sẽ chưa đến ngay. Thế nhưng
một điệp viên Liên Xô đã phát hiện sớm kế hoạch tấn công của Đức. Đáng
tiếc ban đầu ban lãnh đạo Liên Xô không tin vào thông tin do điệp viên
đó cung cấp. Và quân đội Xô viết đã thực sự bị bất ngờ và chịu nhiều tổn
thất trong giai đoạn đầu của cuộc chiến chống phát xít Đức.
*****
Richard
Sorge vừa quay trở lại Tokyo (Nhật Bản) vào ngày 22/6/1941. Lúc đó anh
nghe thấy các cậu bé bán báo trên phố rao tin tức nước Đức đã xâm lược Liên Xô.
Richard
Sorge – nguồn cảm hứng cho tác giả Ian Flemming sáng tạo ra nhân vật
James Bond trong loạt tiểu thuyết lừng danh của mình. Ảnh: Ullstein
Bild.
Sorge
vốn là một nhà báo có tiếng của Đức, đồng thời là một người nghiện rượu
nặng nổi tiếng với tính trăng hoa. Trước khi nghe được tin tức mới này,
anh đang lái ô tô ở vùng nông thôn bên người tình mới nhất của mình -
một nhạc công piano xinh đẹp người Đức.
Giờ đây, ngồi tại quán bar trong khách sạn Imperial, anh đắm chìm vào tâm trạng u ám và liên tục nốc rượu.
Anh ta hét to lên
và chửi thề bằng tiếng Anh: “Hitler đúng là tên tội phạm. Một kẻ sát
nhân. Rồi Stalin sẽ dạy cho gã khốn đó một bài học. Các vị cứ đợi đó!”.
Cả nhân viên
người Nhật của quán bar và bạn rượu của Sorge đều không thể làm cho anh
bình tâm lại được. Nhấc máy điện thoại đặt tại sảnh, anh quay số cho đại
sứ Đức. “Cuộc chiến này nhất định sẽ thất bại đó!” anh ta hét vào tai
vị đại sứ [Đức] – một người bạn lâu năm của Sorge.
Sĩ quan tình báo quân đội Liên Xô
Cơn thịnh nộ của
Sorge một phần là do anh rất căm ghét chiến tranh. Anh từng phục vụ
trong lục quân Đức trong Thế chiến thứ 1 và bị thương nặng. Anh tin rằng
cuộc tấn công do Hitler phát động sẽ dẫn tới thảm họa.
Nhưng còn một lý
do nữa, quan trọng hơn, khiến Sorge nổi đóa. Đó là vì Richard Sorge, bên
cạnh việc là nhà báo Đức, đảng viên Quốc xã, và nhân viên báo chí bán
thời gian cho Đại sứ quán Đức, anh còn là một sĩ quan trong cơ quan tình
báo quân sự Xô viết
(GRU). Sorge chính là điệp viên quan trọng nhất của Liên Xô ở châu Á.
Mà chỉ vài tuần trước đó, Moscow đã phớt lờ những cảnh báo mà anh gửi về
trung tâm liên quan đến cuộc tấn công sắp tới của Đức!
Bức điện anh gửi
về tổng hành dinh GRU vào ngày 1/6 có đoạn: “Cuộc chiến Đức-Xô dự kiến
diễn ra bắt đầu vào tầm ngày 15/6 – điều này dựa trên thông tin mà Trung
tá Scholl mang từ Berlin đến cho Đại sứ Ott”. Thế nhưng các thượng cấp
của Sorge ở Moscow đã phê vào bức điện như sau: “Nghi ngờ. Liệt bức điện
này vào nhóm các bức điện mang tính khiêu khích”.
Cảnh báo sớm này của Sorge đã bị lãnh tụ Liên Xô khi đó là Stalin coi là thứ vớ vẩn “đến từ một gã hay vào nhà thổ ở Nhật Bản”.
VOV.VN - Nguyên soái
Tukhachevsky là một nhà chỉ huy thiên tài, một lý luận gia xuất chúng có
đóng góp to lớn vào nền quân sự Liên Xô và thế giới.
Bất chấp điều đó,
Sorge vẫn tiếp tục công tác tình báo. Sau khi bị sốc từ cuộc tấn công
do Đức thực hiện, Moscow bắt đầu chú ý đến các báo cáo do Sorge gửi về.
Trong vài tháng sau đó, các hoạt động tích cực của viên sĩ quan tình báo
này đã mang lại các thông tin quý báu giúp Liên Xô chặn đứng cuộc chiến
chớp nhoáng của Đức ở cửa ngõ thủ đô Moscow và đảo ngược tình thế chiến
tranh Xô-Đức.
Dường như ông
trời sinh ra Sorge là để thực hiện vai trò này. Sorge được nhiều người
coi là điệp viên quan trọng nhất trong Thế chiến thứ 2.
Richard Sorge
chào đời vào năm 1895 ở miền nam nước Nga. Mẹ Sorge là người Nga, còn
cha là một kỹ sư Đức. Gia đình Sorge chuyển về Đức một vài năm sau đó.
Tại đây cậu bé Sorge được nuôi dưỡng trong môi trường của một gia đình
trung-thượng lưu. Thế nhưng gốc gác Nga của Sorge đã ảnh hưởng đến anh
ta suốt cuộc đời.
Học giỏi, đẹp trai, đa tình
Năm 1914 Sorge
nhập ngũ vào lục quân Đức. Sau đó anh bị thương nặng với di chứng là đi
cà nhắc. Trong thời gian dưỡng thương, anh ta đã cưa cẩm (và bị cưa cẩm
bởi) một y tá chăm sóc cho mình.
Cô y tá này cùng
với cha mình – một thầy thuốc theo chủ nghĩa Marx, đã giác ngộ anh bằng
các tư tưởng cấp tiến. Vài năm sau đó, anh dành thời gian chuyên tâm
nghiên cứu về kinh tế học và chính trị học, đặc biệt là chủ nghĩa Marx.
Vào cuối cuộc
Chiến tranh Thế giới thứ 1, tư tưởng cấp tiến thuộc đủ màu sắc ngập tràn
trong đất nước Đức. Trong bối cảnh ấy, Sorge nghiêng dần về phái tả.
Anh có được học vị tiến sĩ vào năm 1919. Cùng năm này, anh gia nhập Đảng
Cộng sản Đức.
Sorge lao vào
hoạt động tuyên truyền cánh tả trong các công nhân mỏ ở Đức. Và đồng
thời, anh lại sa vào chuyện tình ái với vợ của một trong các giáo sư
từng dạy mình trước đây.
Sorge vừa điển trai vừa toát lên vẻ lôi cuốn khó cưỡng đối với phụ nữ. Cánh đàn ông cũng rất ngưỡng mộ Sorge.
Christiane
Gerlach - một người làm nội trợ, đã vướng vào lưới tình của Sorge. Những
năm sau này, Gerlach kể lại ấn tượng của mình khi lần đầu thấy Sorge:
“Cứ như có một tia sét chạy dọc người tôi vậy. Chỉ trong giây lát, nó
xuất hiện rồi cứ theo tôi suốt đến tận bây giờ. Một thứ gì đó thật u mê,
khó thoát được...”
Sorge cũng giành
được cảm tình của chồng Gerlach – một vị giáo sư đã nhất trí ly dị vợ
một cách nhẹ nhàng. Sau đó Sorge và Gerlach kết hôn vào năm 1922. Nhưng
cuộc hôn nhân này cũng chỉ kéo dài được vài năm.
Sĩ quan lục quân Đức Eugen Ott năm 1934. Ảnh: Ullstein Bild.
Các
tuyên truyền cánh tả của Sorge khiến anh gặp rắc rối với cảnh sát. Năm
1924 anh rời bỏ nước Đức để sang miền đất hứa mới – nước Nga Xô viết.
Tại đó, anh gia nhập tổ chức quốc tế mới của những người Xô viết – tổ
chức Quốc tế Cộng sản. Anh phụ trách công tác liên lạc với các đảng cộng sản nước ngoài.
VOV.VN - Mật vụ KGB đã tỉ mỉ tìm
ra các dấu hiệu này và dựa vào đó để “nhổ” hàng loạt điệp viên của cơ
quan tình báo CIA (Mỹ) cài cắm ở Liên Xô.
Đến năm 1929, anh
trở thành sĩ quan tình báo quân sự của Liên Xô (viết tắt là GRU). Cơ
quan này cử anh đi làm nhiệm vụ ở Trung Quốc. Người ta đã dạy anh các kỹ
thuật căn bản của nghề tình báo và trang bị cho anh kiến thức về chính
trị và quân sự.
Vốn là “thỏi nam
châm” thu hút phái đẹp, Sorge đã nhanh chóng chiếm được tình cảm của một
sinh viên ngành kịch trẻ đẹp, tên là Katya Maximova. Sau ba năm làm
công tác tình báo đầy hiệu quả ở Trung Quốc, Sorge quay trở lại Moscow
vào năm 1933. Tại đây, anh cưới Maximova làm vợ.
Sau khi Nhật Bản
xâm chiếm Mãn Châu trong các năm 1931-1932, Moscow lo ngại đòn xâm lược
của Nhật có thể sẽ quay sang cả vùng Viễn Đông của Liên Xô.
Để tạo vỏ bọc nhà
báo, Sorge tới Nhật thông qua ngả Đức - ở đây một chủ bút nhận các bài
viết của anh đã trao cho anh một bức thư giới thiệu gửi tới một viên sĩ
quan lục quân Đức, Đại tá Eugen Ott – tùy viên quân sự mới của Đức ở
Tokyo.
Sorge tới Tokyo
vào tháng 9/1933. Các bài báo của Sorge giúp anh tạo dựng uy tín của một
chuyên gia về Nhật Bản. Anh cũng đã gia nhập Đảng Quốc xã. Bằng cách
này, anh tiếp cận được Đại sứ quán Đức, nơi các nhà ngoại giao (gồm cả
Đại sứ Đức tại Nhật Herbert von Dirksen) đánh giá cao các nhận định và
phân tích của anh./.
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ History.net
Điệp viên siêu hạng “quan trọng nhất” của Liên Xô trong Thế chiến 2
VOV.VN - Đam mê tửu sắc
nhưng am hiểu chính trị khu vực, điệp viên Liên Xô Sorge đã lấy được
nhiều thông tin cơ mật về quan hệ Đức-Nhật rồi gửi về trung tâm.
VOV.VN
tiếp tục giới thiệu với độc giả kỳ 2 trong loạt bài của nhà nghiên cứu
Stuart D. Goldman về nhân vật lịch sử - sĩ quan tình báo quân đội Liên
Xô Richard Sorge:
Tiến sĩ Sorge
không giả vờ làm một gã Đức Quốc xã cuồng tín. Anh thường bày tỏ sự
khinh miệt đối với những hành vi thái quá của bọn Quốc xã cũng như sự
ngu xuẩn của một số lãnh đạo đảng này. Bất ngờ là điều này lại càng làm
gia tăng thay vì hủy hoại uy tín của Sorge. Chắc chắn, một người dám nói
lên suy nghĩ của mình chỉ có thể là một học giả tâm huyết, một người
yêu nước nói thẳng nói thật, hay một cựu chiến binh với thương tích trận
mạc đầy mình.
Chân dung Tiến sĩ Sorge thời trẻ. Điệp viên này sinh ra ở Baku (thời còn thuộc Đế chế Nga) vào năm 1895. Ảnh: spymuseum.com.
Một khía cạnh
“thật” khác giúp tạo nên vỏ bọc hiệu quả cho Sorge: Anh ta đam mê cả tửu
lẫn sắc. Từng đi nhậu nhẹt với Sorge, một nhà báo Mỹ sau này viết rằng
Sorge “tạo cho người khác ấn tượng về một khách làng chơi, một gã vô
công rồi nghề - hình ảnh hoàn toàn đối lập với một gián điệp sắc sảo và
nguy hiểm”.
Cố vấn tin cẩn
Vào tháng
10/1934, Đại tá Ott – tùy viên quân sự Đức, mời Sorge hộ tống ông ta
trong chuyến thăm Mãn Châu. Sorge viết báo cáo về chuyến đi. Bản báo cáo
này được Ott gửi về bộ tư lệnh tối cao ở Berlin và nhận được sự khen
ngợi ở đây.
Sorge trở thành
cố vấn tin cẩn nhất của Ott về chính trị Nhật Bản và hay được mời về nhà
Ott chơi. Chả mấy chốc Sorge... leo luôn lên giường với vợ của viên Đại
tá Đức – cô Helma Ott.
Những chuyện khó
tin nhất đã xảy ra. Sorge dám mạo hiểm phá hỏng quan hệ tốt đẹp của mình
với Đại tá Ott. Đến lượt mình, viên tùy viên quân sự này lại sẵn sàng
lờ qua chuyện dan díu giữa vợ và Sorge chỉ vì ông đánh giá quá cao trình
độ am hiểu Nhật Bản của Sorge cũng như yêu mến viên cố vấn. Đại tá Ott
tin rằng mọi chuyện rồi sẽ sớm qua đi (sự thực cũng đúng như vậy).
Mạng lưới tình
báo của Sorge ở Tokyo bao gồm 2 điệp viên nữa do Moscow cử đến. Đó là
Branko Vukelic, một đảng viên cộng sản Nam Tư, trong vai trò nhà báo cho
một hãng thông tấn Pháp và xử lý vi phim cho Sorge. Người thứ 2 là Max
Clausen, đảng viên cộng sản Đức, phụ trách liên lạc điện đài cho cả cụm
tình báo này.
Clausen gửi các
bức điện sử dụng bộ mã số đặc biệt – một hệ thống mã hóa tuy cồng kềnh
nhưng gần như không thể phá được vì dựa vào duy nhất một khóa mật mã
hoàn toàn ngẫu nhiên. Giới chức Nhật Bản phát hiện ra tín hiệu điện đài
trái phép nhưng không định vị được nơi phát sóng cũng như không tài nào
giải mã được các bức điện mật mà họ bắt được qua làn sóng điện.
Thành viên quan trọng nhất của cụm tình báo này, ngoài bản thân Sorge, chính là Hotsumi Ozaki, một nhà báo Nhật Bản thiên tả. Ozaki là một chuyên gia uy tín về Trung Quốc. Anh có mối quan hệ với các nhân vật chính trị đầy ảnh hưởng.
Điệp viên người Nhật Ozaki trong lưới tình báo của Sorge. Ảnh: history.net.
Một trong những
người bạn của Ozaki là chánh văn phòng Thủ tướng Nhật Bản, Hoàng tử
Fumimaro Konoye. Vị hoàng tử này về sau đã dùng Ozaki làm tư vấn viên
cho nội các. Ozaki chuyển sang làm tại một văn phòng trong khu nhà công
vụ của Thủ tướng. Tại đây anh được tiếp cận các tài liệu mật và chuẩn bị
các báo cáo chính sách đối ngoại cùng khuyến nghị cho chính phủ. Các
thông tin và đánh giá của Ozaki trở thành các yếu tố chủ chốt trong các
báo cáo mà Sorge gửi về Moscow. Trong các cuộc thảo luận với cán bộ của
Đại sứ quán Đức, Sorge đều khôn khéo trình bày các ý kiến của Ozaki như
thể là ý tưởng của riêng mình – điều này càng làm tôn thêm vị thế
“chuyên gia” của Sorge.
Khéo léo che giấu thân phận
Sorge thuê một
ngôi nhà nhỏ trong một khu dân cư yên tĩnh nằm trong tầm quan sát của
đồn cảnh sát địa phương. Đây có thể là cách của Sorge – “ trú ẩn ở chính
mắt bão”. Anh không hề tỏ vẻ giấu giếm. Anh thường phóng xe máy qua các
con phố đông đúc của Tokyo trong tình trạng “tây tây say say”.
Mùa hè năm 1936,
Sorge lại ve vãn một cô gái Nhật xinh đẹp 26 tuổi tên là Hanako Iishi.
Cô này làm phục vụ tại một trong những nơi Sorge thường lui tới. Chẳng
bao lâu, Iishi dọn sang sống trong nhà của Sorge. Mối tình với Iishi là
mối quan hệ bền vững nhất trong đời Sorge.
Mùa xuân năm 1936, quá trình công tác của Sorge trong 3 năm ở Tokyo bắt đầu mang lại kết quả.
Thông qua các mối
liên hệ với quân đội Nhật Bản, Eugen Ott biết được các cuộc đàm phán bí
mật giữa Đức và Nhật về một hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản
– thực chất là hiệp ước chống Liên Xô. Các cuộc thương thảo này được
thực hiện ở Berlin, và người ta chủ định giấu Đại sứ quán Đức ở Tokyo
các thông tin liên quan đến vụ này. Nhờ tiết lộ của Ott mà Sorge và tất
nhiên cả GRU ở Moscow được cập nhật thông tin về tiến trình thương
lượng. Moscow lo lắng liên minh Nhật-Đức có thể sẽ tạo thế 2 gọng kìm
tiến đánh Liên Xô từ hai hướng.
Lính phát xít Nhật thời Thế chiến 2. Ảnh: pinterest.
Năm 1938, Ott
được thăng lên hàm thiếu tướng, trở thành Đại sứ Đức ở Nhật Bản. Điều
này củng cố thêm thế đứng của Sorge trong Đại sứ quán Đức. Ott cho Sorge
xem bản thảo các bức điện và báo cáo, đồng thời hỏi ý kiến Sorge về
việc gửi điện về Berlin.
Các nhân viên
trong sứ quán thường tìm đến Sorge để nắm ý đồ của vị Đại sứ. Sorge
viết: “Họ thường đến gặp tôi và nói - chúng tôi nghe có chuyện này
chuyện này, thế anh đã biết chuyện đó chưa và ý kiến anh thế nào?”
Tùy viên cảnh sát
của Đại sứ quán Đức tại Nhật, Đại tá mật vụ Gestapo Joseph Meisinger,
xác nhận mối quan hệ giữa Ott và Sorge “gần gũi đến mức mà mọi báo cáo
bình thường từ các vị tùy viên gửi về Berlin đều trở thành các phụ lục
gắn vào bản báo cáo tổng thể do Sorge viết và Đại sứ ký tên”.
Nắm rõ ý đồ của Nhật muốn cấu kết với Đức
Tháng 6/1938,
Tướng Genrikh Lyushkov - trưởng bộ phận NKVD (tức Bộ Dân ủy Nội vụ -
tiền thân của cơ quan tình báo KGB sau này) ở vùng Viễn Đông Liên Xô, đã
vượt biên sang Mãn Châu và xin tị nạn chính trị ở Nhật Bản để tránh một
cuộc thanh trừng do NKVD tiến hành nhằm vào ban lãnh đạo Hồng quân khi
đó. Moscow rất lo lắng muốn biết viên tướng đào tẩu này sẽ nói những gì
với phía Nhật Bản.
Berlin đã phái
một sĩ quan tình báo tới Tokyo để hỗ trợ việc thẩm vấn viên tướng
Lyushkov. Sorge nhận được bản sao báo cáo tuyệt mật của Đại sứ quán Đức
về vụ này. Theo đó, Lyushkov cho biết trong Liên Xô khi ấy có sự bất mãn
với Stalin và nếu Nhật Bản tấn công, Hồng quân sẽ “sụp đổ chỉ trong một
ngày”. Ngoài ra có dấu hiệu Lyushkov đã tiết lộ cho Nhật Bản các khóa
mật mã và thông tin về thế bố trí các đơn vị quân đội Liên Xô. Tất
nhiên, Moscow đã thay đổi mật mã để phòng hậu họa.
Sáu tuần sau đó,
một cuộc đụng độ biên giới giữa Liên Xô và Nhật Bản đã bùng phát ở đúng
địa điểm Lyushkov đào tẩu. Thông tin tình báo từ mạng lưới của Sorge góp
phần hình thành cách phản ứng cứng rắn của Liên Xô.
Hotsumi Ozaki
nhận thấy các lãnh đạo Nhật Bản, do bận bịu với cuộc chiến ở Trung Quốc,
quyết tâm không để cho đụng độ này trở thành một xung đột trên quy mô
lớn. Thế là Moscow tung liền vài ngàn binh sĩ cùng xe tăng và phi cơ yểm
trợ vào trận chiến này. Sau 2 tuần giao tranh, trận đánh Hồ Khasan kết
thúc với việc Nhật Bản chấp nhận các điều khoản của Moscow.
Mô típ tương tự
diễn ra một năm sau đó trong một cuộc chiến tranh không tuyên bố trên
tuyến biên giới Mông Cổ-Mãn Châu. Quy mô trận chiến này lớn hơn nhiều
nhưng kết quả không thay đổi so với trước.
VOV.VN - Chiến thuật phi công
cảm tử Thần Phong (kamikaze) của người Nhật vào cuối Thế chiến 2 đã
khiến quân đội Anh phải căng óc đối phó.
Một lần nữa,
Sorge lại có điều kiện thông báo với độ chắc chắn cao rằng chính phủ
Nhật Bản quyết không để xung đột này leo thang thành một cuộc chiến
tranh toàn diện. Điều đó giúp Stalin hạ quyết tâm tung đòn dứt điểm nhằm
vào Nhật Bản vào tháng 8/1939 trong trận đánh Khalkhin Gol.
Đồng thời, Sorge
tiếp tục thông tin cho Moscow về nỗ lực của Nhật Bản lôi kéo Đức vào
liên minh quân sự chống Liên Xô. Chính thông tin này tạo cơ sở quan
trọng để lãnh tụ Stalin quyết định sử dụng đòn “tương kế tựu kế” bằng
việc ký với Hitler vào cuối tháng 8 năm đó Hiệp ước Không Xâm lược lẫn
nhau giữa Đức và Liên Xô. Chỉ một tuần sau khi hiệp ước này được ký kết,
Thế chiến thứ 2 bùng nổ.
Như vậy, chỉ bằng
một mũi tên, Stalin đã bắn trúng nhiều đích: Vừa tạo xung đột giữa Đức,
Anh và Pháp, vừa đẩy Nhật ra khỏi liên minh chống Quốc tế Cộng sản với
Đức.
Nhờ thắng lợi ngoại giao ngoạn
mục này, Liên Xô có thể rảnh tay xử lý mối đe dọa quân sự từ phía Nhật
Bản. Chúng ta phải nhớ rằng các báo cáo tình báo của Sorge đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành nên chiến lược nói trên của Liên Xô.
Thế nhưng, đấy vẫn chưa phải là chiến công vĩ đại nhất của Sorge đối với
Liên Xô./.
VOV.VN - Một điệp viên Xô viết
mang 2 dòng máu Nga và Đức đã lập chiến công lớn trong Thế chiến 2:
Thông báo chính xác việc Đức sẽ tấn công Liên Xô.
VOV.VN - Năm 1941 Hồng quân chưa
thực sự mạnh, lại bị Đức tấn công bất ngờ. Lúc đó nếu bị Nhật Bản tấn
công từ phía đông, Liên Xô sẽ khó bề trụ được.
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ History.net
Đế quốc Nhật bị giằng xé giữa tấn công Liên Xô và tấn công Đông Nam Á
VOV.VN - Năm 1941 Hồng quân
chưa thực sự mạnh, lại bị Đức tấn công bất ngờ. Lúc đó nếu bị Nhật Bản
tấn công từ phía đông, Liên Xô sẽ khó bề trụ được.
Trong
kỳ 3 này, học giả Goldman tiếp tục cung cấp cho chúng ta thông tin về
vai trò của điệp viên siêu đẳng Sorge trong việc thu thập thông tin và
nhận định về ý đồ cụ thể của đế quốc Nhật Bản đối với Liên Xô trong giai
đoạn nước sôi lửa bỏng năm 1941:
Cuối năm 1940,
điệp viên Sorge bắt đầu nhận thấy các dấu hiệu quân Đức tập kết quy mô
lớn gần biên giới với Liên Xô. Vào ngày 28/12, anh bắt đầu gửi cảnh báo
nghiêm trọng đầu tiên cho Moscow về khả năng Đức tấn công Liên Xô.
Xe thiết giáp Đức chuẩn bị cho một cuộc tiến công Liên Xô vào ngày 21/7/1941. Ảnh: AP.
Vào
đầu tháng 5/1941, Sorge bắt đầu tin rằng chiến tranh đã cận kề. Anh tóm
tắt các mối quan ngại của mình trong một bức điện gửi vào ngày 6/5:
“Khả năng nổ ra chiến tranh bất cứ lúc nào là rất cao... Các tướng Đức
đánh giá rất thấp sức mạnh của Hồng quân. Chúng tin rằng Hồng quân sẽ bị
đánh tan chỉ trong vài tuần.”
Một bức điện
khác, gửi cho GRU (tình báo quân đội Liên Xô) vào ngày 30/5 mở đầu như
sau: “Berlin đã thông báo cho Ott rằng cuộc tấn công của Đức sẽ mở màn
vào nửa sau của tháng 6. Ott chắc chắn tới 95% rằng cuộc chiến sẽ bắt
đầu”.
Sau đó vào ngày
31/5 Trung tá Edwin Scholl rỉ tai với với Sorge rằng có 170-190 sư đoàn
Đức tập trung ở biên giới với Liên Xô và cuộc xâm lăng sẽ khởi sự vào
ngày 15/6. Vào ngày 1/6, Sorge gửi bức điện quan trọng nói trên tới
Moscow. Đây có lẽ là bức điện quan trọng nhất trong sự nghiệp tình báo
của Sorge. Đây là bức điện mà cấp trên của anh đánh dấu “nghi ngờ” và “khiêu khích”.
Biết thượng cấp
xem nhẹ các cảnh báo của mình, Sorge đã cố công thêm một lần nữa. Vào
ngày 20/6, anh soạn thêm bức điện cảnh báo sau: “Ott nói với tôi rằng
chiến tranh giữa Đức và Liên Xô là không tránh khỏi... Invest (mật danh
của điệp viên Ozaki) bảo tôi là Bộ Tổng tham mưu Nhật Bản đã thảo luận
nên lựa chọn quan điểm nào trong trường hợp nổ ra chiến tranh”.
Ngày 21/6, Max
Clausen gửi bức điện trên. Quân Đức bắt đầu xâm lược Liên Xô vào đúng
ngày hôm sau - 22/6. Khi đó, Hồng quân Liên Xô hoàn toàn bị bất ngờ ( và
bị đẩy lui liên tục trên chiến trường – ND). Quãng thời gian 5 tháng
tiếp theo là cả một thời kỳ đầy những thử thách nặng nề đối với Liên Xô.
Tranh luận nội bộ giữa 2 phe ở Tokyo
Ngay sau khi Đức
nổ súng tấn công đất nước Xô viết, Moscow đã gọi cho Sorge để tìm kiếm
sự trợ giúp khẩn cấp. Một bức điện ngắn cụt lủn chỉ thị cho anh phải báo
cáo về chính sách của chính phủ Nhật đối với cuộc chiến tranh Xô-Đức.
Mấu chốt là: Liệu Nhật Bản có quyết định tiến công vùng Viễn Đông của
Nga hay không. Tình hình rất cam go, có thể đe dọa sự sinh tồn của Liên
Xô. Lúc đó, Berlin đang chỉ đạo Đại sứ Ott sử dụng mọi phương tiện có
thể để thuyết phục Nhật Bản tấn công Liên bang Xô viết. Trước một cuộc
chiến khốc liệt tiến hành từ cả 2 phía, Liên Xô sẽ khó bề trụ vững được.
Tài tử Iain Glen vào vai Richard Sorge trong bộ phim “Spy Sorge”. Ảnh: Tumblr.
Trong
lúc đó, ở Tokyo diễn ra một cuộc tranh luận sôi nổi về chính sách đối
ngoại. Nhật Bản đang chìm sâu vào cuộc chinh chiến ở Trung Quốc, mà
Trung Quốc thì lại có chiều sâu chiến lược - phát xít Nhật không biết
khi nào mới kết thúc được hoàn toàn cuộc chiến tại đó. Giờ đây tình hình
ở châu Âu lại tạo ra các khả năng mới. Chiến thắng của quân Đức ở Tây
Âu mở ra cánh cửa cho Nhật xâm nhập vào các thuộc địa giàu tài nguyên
của Pháp, Hà Lan và Anh ở Đông Nam Á. Mặt khác, việc Hitler xâm lược
Liên Xô lại tạo cơ hội tốt cho Nhật tiến đánh ngược lên phía bắc, vào
vùng Siberia và Viễn Đông
của Nga. Mỗi phương án đều có rủi ro tương ứng. Nhật Bản hiện đang sa
lầy ở Trung Quốc, không thể đồng thời chinh phạt cả bắc lẫn nam. Họ phải
lựa chọn một trong hai.
Chưa đầy một tuần
sau cuộc tấn công của Đức, Sorge đã tóm lược cho Moscow một cách chính
xác tình hình đang diễn ra. Anh báo cáo như sau: Nhật đã quyết định đưa
quân vào Đông Dương thuộc Pháp, và Ozaki thì tin rằng Nhật sẽ phải nghe
ngóng diễn biến cuộc chiến Đức-Xô. Cụ thể, Nhật sẽ “Bắc phạt” nếu Hồng
quân nhanh chóng bị đánh bại. Nhưng Ott lại tin rằng hiện nay Nhật sẽ
không tiến đánh phía bắc ngay.
Chữ ký của lãnh
tụ Stalin ở phía dưới cùng của tài liệu này cho thấy vị Tổng tư lệnh
Liên Xô đã đọc bức điện của Sorge chứ không chỉ bản tóm tắt bức điện của
anh.
Giải bài toán Nhật Bản
Vào ngày 2/7, một
“Hội nghị Đế quốc” – của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị chóp bu
Nhật Bản với sự có mặt của Nhật hoàng, đã định ra chính sách đối ngoại
của Nhật. Theo thông báo của Sorge gửi về tổng hành dinh ở Moscow, Nhật
Bản sẽ đưa quân vào Đông Dương, nhưng cũng đồng thời tập hợp lực lượng ở
miền bắc Nhật Bản và vùng Mãn Châu để chuẩn bị đánh ngược lên phía bắc
nếu Hồng quân tan rã trước các đòn đánh của phát xít Đức.
Ở cuối tài liệu nói trên, Cục phó Cục Quân báo (GRU) thuộc Bộ Tổng tham mưu Hồng quân Liên Xô đã
viết: “Thông tin này là đáng tin cậy, dựa trên mức độ tin cậy cao và độ
chính xác của các thông tin trước đó, và tầm của các nguồn tin”.
Lính phát xít Nhật hành quân ở Philippines. Ảnh: Tàng thư quốc gia Mỹ.
Sau
khi các cảnh báo của Sorge được chứng minh là đúng bằng cuộc tấn công
mở màn của Đức vào ngày 22/6, Moscow đã tin tưởng các thông tin do anh
gửi về.
Cuối tháng 7,
tình hình Tokyo càng trở nên phức tạp khi Mỹ và Anh áp đặt lệnh cấm vận
dầu đối với Nhật Bản. Hầu như toàn bộ lượng dầu nhập khẩu của Nhật đều
bị Anh, Mỹ và các đồng minh của họ kiểm soát. Tuy nhiên thuộc địa Đông
Ấn Hà Lan (tức Indonesia ngày nay) rất nhiều dầu lại nằm trong tầm với
của Nhật Bản. Điều này củng cố lập trường của phe ủng hộ bành trường
xuống phương nam. Nhưng mặt khác mức độ thắng lợi ấn tượng của quân Đức
trong giai đoạn đầu xâm lược Liên Xô lại khuyến khích phe ủng hộ Bắc phạt.
Tháng 7/1941,
quân Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cùng lúc, Nhật Bản điều hàng trăm ngàn
quân bổ sung vào Mãn Châu gần biên giới với Liên Xô.
Sorge không chắc Nhật sẽ di chuyển tiếp quân theo hướng nào nhưng trong vài tuần tiếp theo, anh và Ozaki đã giải được bài toán.
Vào các ngày
25-26/8, Sorge soạn một bức điện gửi về Moscow: “Thông qua thông tin thu
được từ các giới thân cận nhất với [Thủ tướng Nhật] Konoye, Invest (tức
Ozaki) biết được rằng Bộ Tổng tư lệnh (quân đội Nhật) đã bàn thảo việc
có tiến hành đánh Liên Xô hay không. Chúng đã quyết định sẽ không mở
cuộc chiến đó trong năm nay, xin được nhắc lại, không phát động chiến
tranh [chống Liên Xô] trong năm nay”./.
VOV.VN - Một điệp viên Xô viết
mang 2 dòng máu Nga và Đức đã lập chiến công lớn trong Thế chiến 2:
Thông báo chính xác việc Đức sẽ tấn công Liên Xô.
VOV.VN - Đam mê tửu sắc nhưng am
hiểu chính trị khu vực, điệp viên Liên Xô Sorge đã lấy được nhiều thông
tin cơ mật về quan hệ Đức-Nhật rồi gửi về trung tâm.
>> Đón đọc Kỳ 4: Số phận bi thảm của điệp viên cung cấp thông tin chiến lược cho Liên Xô
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ History.net
Số phận bi thảm của điệp viên cung cấp tin chiến lược cho Liên Xô
VOV.VN - Điệp viên Liên Xô
Sorge – “điệp viên đáng sợ nhất trong lịch sử”, với công lao lớn trong
cuộc chiến chống phát xít, cuối cùng đã bị bắt và treo cổ.
Trong
kỳ cuối này, tác giả Goldman cho chúng ta biết điệp viên huyền thoại
Richard Sorge đã hy sinh ra sao vì sự nghiệp tình báo Liên Xô:
Vào ngày
6/9/1941, một Hội nghị Đế quốc nữa của Nhật xác nhận quyết định bành
trướng xuống phía nam và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chống lại nước Mỹ
và Anh. Điệp viên Ozaki biết được điều này. Ott tâm sự với Sorge rằng
ông ta hoàn toàn thất bại trong nỗ lực thuyết phục người Nhật tấn công
Nga. Vào ngày 14/9 Sorge thông báo về Moscow và nhấn mạnh “Dựa vào sự
xem xét cẩn trọng của tất cả nhóm chúng tôi ở đây thì khả năng Nhật Bản
mở một cuộc tấn công – vốn tồn tại gần đây thì nay đã biến mất...”.
Con
tem bưu chính của Đông Đức (Cộng hòa Dân chủ Đức) tưởng niệm Tiến sĩ
Richard Sorge - sĩ quan quân báo của Liên Xô. Ảnh: Alchetron.
Liên Xô tự tin điều quân lật ngược thế cờ
Bây giờ thì nguyên soái Liên Xô Stalin
tự tin đưa ra quyết định quan trọng là đưa một bộ phận lớn quân dự bị
từ vùng Viễn Đông sang phía tây. Trong hai tháng tiếp theo, 15 sư đoàn
bộ binh, 3 sư đoàn kỵ binh, 1.700 xe tăng và 1.500 máy bay đã di chuyển
từ Viễn Đông Xô viết sang mặt trận châu Âu (để đối phó với phát xít
Đức). Chính các đợt tăng viện quy mô lớn này đã lật ngược thế cờ trong
trận Moscow vào tuần đầu tiên của tháng 12/1941 - cùng thời điểm Nhật Bản tấn công Trân Châu cảng.
Tất nhiên công
lao phát hiện ý đồ của Nhật không hoàn toàn thuộc về tổ điệp báo của
Sorge. Nhưng Sorge đóng một vai trò quan trọng trong chiến công này.
Mặc dù vậy lưới tình báo của Sorge không được hưởng dư vị chiến thắng này lâu. Bão tố đã ập xuống đầu họ.
Theo RBTH.com, mật vụ Nhật đã nhờ một sĩ quan Gestapo trong sứ quán Đức tại Nhật theo dõi anh.
Vào tháng
10/1941, cảnh sát Nhật nghi vấn và bắt giữ một người may quần áo được
cấp dưới của Ozaki (tên là Yotoku Miyagi) tuyển dụng.
Người may quần áo
đã tiết lộ tên của Miyagi. Khi cảnh sát truy bắt Miyagi, anh đã cố gắng
cứu các đồng nghiệp của mình bằng cách nhảy lầu tự tử. Nhưng anh không
chết sau khi nhảy. Cảnh sát lôi anh ta – trong tình trạng gãy xương –
tới phòng thẩm vấn. Bị đau đớn, anh ta đã phun ra với cảnh sát rằng
Ozaki và Sorge là các điệp viên cộng sản. Vào ngày 18/10, Sorge đã bị
bắt.
Các cảnh trong bộ phim "Spy Sorge" nói về hoạt động của tình báo viên Richard Sorge ở Nhật Bản. Ảnh: lifo.gr.
Sau một tuần phủ
nhận các cáo buộc, Sorge chấp nhận trình bày lại tất cả các hoạt động
của mình ở Nhật Bản với điều kiện giới chức Nhật không được làm gì người
tình của anh – cô Hanako Iishi, cũng như các bà vợ của một số đồng
nghiệp của anh. Sorge khẳng định họ vô tội.
Lên giá treo cổ
Trong 3 năm tiếp
theo Sorge bị giam trong nhà tù Sugamo ở Tokyo. Sau nhiều tháng bị thẩm
vấn, anh bị đưa ra xét xử và bị kết tội làm điệp viên cộng sản, thực
hiện các hoạt động gián điệp với mục đích lật đổ chế độ Nhật hoàng và
quyền tư hữu. Vào tháng 9/1943, anh bị khép tội chết.
Tuy nhiên Sorge
tin rằng mình sẽ không phải đối mặt với giá treo cổ. Anh tin là Tokyo sẽ
đổi anh để lấy một tù nhân Nhật bị Moscow giam giữ. Giới chức Nhật cùng
suy nghĩ với anh. Họ cũng muốn đánh đổi anh với tù nhân đó.
Thế nhưng Moscow đã hồi đáp “Họ không biết người đàn ông tên là Richard Sorge”.
Nhiều nước không
thừa nhận các điệp viên của họ. Liên Xô trong trường hợp này không phải
là một ngoại lệ. Nhưng vụ Sorge có lẽ còn có những nguyên nhân bí hiểm khác nữa.
Sau khi phía Nhật
không thành công trong việc đổi tù nhân với Liên Xô, số phận của Sorge
đã được định đoạt. Vào ngày 7/11/1944, chính phủ Nhật đã treo cổ Sorge
tại nhà tù Sugamo.
Theo RBTH.com, đồng đội của Sorge là Ozaki cũng bị hành quyết.
Con tem sau này của Liên Xô tôn vinh điệp viên Richard Sorge. Ảnh: ExecutedToday.
Tại thời điểm đó, Sorge không hay biết người vợ Katya Maximova của mình đã chết cách đó hơn một năm.
Trong khi đó,
người tình yêu dấu Iishi của Sorge khá may mắn. Giới chức Nhật tôn trọng
lời cam kết của mình với Sorge là không truy tố cô này. Iishi được phép
sống yên lặng phần còn lại của đời mình ở Tokyo. Di hài của Sorge vào
năm 1949 đã được đưa từ nghĩa trang nhà tù tới một nghĩa trang mọc đầy
cỏ ở ngoại ô Tokyo.
Truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô
Năm 1961, bộ phim
Pháp có tựa đề “Anh là ai, hả ngài Sorge?” trở thành một bộ phim được
chiếu nhiều ở Liên Xô. Lãnh tụ Liên Xô khi ấy là Nikita Khrushchev đã
xem bộ phim này và hỏi cơ quan tình báo KGB là liệu cốt truyện có đúng
không. Khi người ta xác nhận câu chuyện này là thật, ông Krushchev đã
truy tặng Sorge danh hiệu Anh hùng Liên Xô – danh hiệu cao quý nhất của
quốc gia này. Còn Iishi – qua đời vào năm 2000 ở tuổi 89, khi đó được
nhận tiền hưu trí của Liên Xô. Ngày nay, danh hiệu Anh hùng Liên Xô được
khắc trên bia mộ cẩm thạch màu đen của Sorge. Một con phố ở Moscow mang
tên anh. Người ta cũng đã phát hành các con tem tôn vinh anh.
Trong phim ảnh
cũng như trong đời thường, Sorge không phải là nhân vật James Bond. Mặc
dù vậy, Ian Flemming – tác giả sáng tạo ra James Bond và bản thân là một
sĩ quan tình báo Anh trong Thế chiến 2, vẫn coi Sorge là “điệp viên
đáng sợ nhất trong lịch sử”. Có thể coi thông tin tình báo của Sorge về
quyết định của Nhật Bản tiến đánh phương nam là điều đã góp phần cứu
Liên Xô khỏi thất bại trước các thế lực phát xít./.
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ History.net, RBTH.com
Những trang sử vàng của tình báo Xô viết trong Chiến tranh Thế giới thứ hai
Bài 1: Chiến dịch Monastyr - trò chơi hai mặt thành công nhất
Mùa
hè năm 1941, cơ quan tình báo Xô viết bắt đầu một chiến dịch mà đến tận
ngày nay vẫn được coi là một “vận dụng thành công nhất” và được đưa vào
sách giáo khoa về nghệ thuật tình báo. Chiến dịch này kéo dài suốt
chiến tranh và theo từng giai đoạn có những mật danh khác nhau như
“Monastyr”, “Curery” và sau đó là “Berezino”. Nguồn tin bên cạnh Nguyên soái Saposnikov
Cuốn
sách Stalin’s Secret War của phương Tây viết về các chiến dịch phản
gián của tình báo Xô viết chống lại phát xít Đức, trong đó có chiến dịch
Monastyr
Cơ quan an ninh Xô viết
từ lâu đã để mắt tới Boris Sadovski, một nhân vật có dòng dõi quý tộc
của nước Nga trước cách mạng. Sau khi chính quyền Xô viết được thành
lập, ông ta mất hết địa vị, tài sản của mình và luôn tỏ thái độ hằn học
với cách mạng. Cơ quan phản gián Xô viết qua quá trình theo dõi nhân vật
này đã nảy ra một sáng kiến sử dụng Sadovski như một nhân vật đứng đầu
một tổ chức được bịa ra có tên “Prestol”, tìm cách cho Sadovski có được
khả năng liên lạc với quân Đức.
Để “giúp đỡ” ông ta, phía
Xô viết tung vào trò chơi này chiến sĩ tình báo Aleksandr Demianov có
mật danh “Geine”. Trước năm 1941, Demianov sống ở nước ngoài và được Cục
Chính trị đặc biệt (OGPU) tuyển mộ vào năm 1929. Do có đặc điểm xuất
thân cùng với tính cách, ngoại hình dễ ưa, Demianov thường xuyên đi lại
với các thành phần văn nghệ sĩ trong giới thượng lưu của Nga trước đây.
Trước chiến tranh, anh được sử dụng chủ yếu với mục đích ngăn chặn các
hoạt động phá hoại chính quyền cách mạng, tập trung vào mối quan hệ của
các nhân vật quý tộc còn lại ở Liên Xô với những kẻ đang sống lưu vong ở
nước ngoài. Một điệp viên kinh nghiệm với những mối quan hệ như vậy đã
nhanh chóng chiếm được sự tin cậy của Boris Sadovski.
Ngày
17-2-1942, Demianov vượt qua chiến tuyến, tìm cách đầu hàng quân Đức và
tuyên bố mình là đại diện của một tổ chức bí mật chống Liên Xô. Anh kể
cho viên sĩ quan tình báo Đức về tổ chức “Prestol” và về việc mình được
các chỉ huy của tổ chức này phái đi bắt liên lạc với bộ chỉ huy quân
Đức. Sau một thời gian áp dụng mọi biện pháp kiểm tra, phản gián Đức
cuối cùng đã hoàn toàn tin tưởng Demianov. Anh được tuyển mộ vào bộ phận
tình báo quân đội của Đức tại Moscow với mật danh “Max”. Sau 3 tuần lễ
huấn luyện các kỹ năng hoạt động tình báo, ngày 15-3-1942, Demianov được
đưa lên máy bay nhảy dù vào hậu phương của Liên Xô.
Nhằm củng cố
vai trò của Demianov trong cơ quan tình báo Đức đồng thời qua anh để
chuyển cho chúng các thông tin có tầm quan trọng chiến lược giả, bộ chỉ
huy chiến dịch đã sắp xếp cho anh làm sĩ quan liên lạc của chỉ huy Bộ
Tổng tham mưu quân đội - Nguyên soái Saposnikov. Đô đốc Canaris, chỉ huy
cơ quan tình báo quân đội Đức, cho đây là một thành công lớn của mình.
Trong các tài liệu của Đức do phía Anh thu được sau chiến tranh có phần
ghi nhận: Cơ quan tình báo quân đội đã cài được “người của mình” ngay
cạnh Nguyên soái Saposnikov và đã nhận được nhiều thông tin có giá trị. Gặt hái thành quả
Đầu
tháng 8-1942, Max thông báo cho quân Đức, chiếc máy phát vô tuyến của
tổ chức đang gặp trục trặc và đề nghị thay cái mới. Chẳng bao lâu, tại
một căn hộ bí mật của NKVD (Cơ quan an ninh tiền thân của KGB) ở Moscow
xuất hiện 2 liên lạc viên của tình báo quân đội Đức mang theo một số đồ
dùng và 10.000 rúp. Nhóm điệp viên đầu tiên của Đức được các chiến sĩ
phản gián Liên Xô để tự do trong khoảng 10 ngày nhằm kiểm tra các cuộc
gặp bí mật, xác định rõ chúng có còn liên lạc với ai không. Sau đó,
chúng nhanh chóng bị bắt giữ và thu hồi chiếc máy phát.
Hai tháng
sau, hai điệp viên Đức khác bí mật vượt chiến tuyến mang theo 2 máy
phát vô tuyến cùng nhiều trang thiết bị hoạt động tình báo khác. Họ có
nhiệm vụ không chỉ giúp đỡ Max mà còn phải tự mình hoạt động tại Moscow,
thu thập và truyền thông tin tình báo về qua chiếc máy phát thứ hai. Cả
hai điệp viên này đều được cơ quan an ninh Xô viết tuyển mộ lại.
Họ
nhanh chóng báo về bộ chỉ huy “Valley” - trung tâm chỉ đạo của tình báo
quân đội Đức - rằng đã đến nơi an toàn và bắt tay vào thực hiện nhiệm
vụ. Từ thời điểm này, chiến dịch được phát triển theo hai hướng: Một là
theo tổ chức Prestol với điệp viên Max, hướng thứ hai dựa vào các điệp
viên được tuyển mộ lại có mật danh “Ziubina” và “Alaeva” theo một kênh
liên lạc riêng tại Moscow. Khi bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc đấu
tay đôi bí mật, chiến dịch được đổi tên thành “Curery”.
Berlin
rất hài lòng với công việc của Max cùng với hệ thống tình báo do anh
giúp đỡ gây dựng. Ngày 20-12, Đô đốc Canaris quyết định tặng điệp viên
tại Moscow của mình Huân chương Thập tự sắt hạng I, trong khi Mikhail
Kalinin (chỉ huy cơ quan tình báo Xô viết) cũng ký chỉ thị phong tặng
Demianov Huân chương Sao đỏ. Kết quả tổng cộng của hai chiến dịch
“Monastyr” và “Kurery” là 23 gián điệp của Đức cùng tay chân của chúng
bị bắt, tịch thu hơn 2 triệu rúp tiền Liên Xô khi đó, một vài máy phát
vô tuyến, một số lượng lớn tài liệu, vũ khí và đạn dược.
Việc cung
cấp thông tin giả đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào thắng lợi của
Hồng quân Liên Xô trong các chiến dịch tại ngoại ô Stalingrad và vòng
cung Kursk. Phía Đức vẫn hoàn toàn tin tưởng cho đến giờ phút cuối cùng
của chiến tranh. Điều này thể hiện qua bức điện cuối cùng của đơn vị
tình báo 103 gửi cho mạng lưới của Max vào ngày 5-5-1945, ngay sau khi
Berlin đầu hàng: “Chúng tôi rất buồn khi buộc phải ngừng giúp đỡ cho các
bạn. Trên cơ sở tình hình hiện nay, chúng tôi cũng không thể đảm bảo
việc liên lạc qua vô tuyến với các bạn được nữa. Cho dù bất cứ điều gì
xảy ra trong tương lai đối với mình, chúng tôi vẫn luôn nghĩ về các
bạn”. Bài 2: Những chiến công thầm lặng của điệp viên Harry
Ngay
sau khi quân phát xít bị đánh tan tác ngay tại ngoại ô Moscow vào tháng
12-1941, Hitler đã lập tức ra chỉ thị thành lập một đơn vị phản gián
đặc biệt để chống lại mạng lưới “Kapella đỏ” của tình báo Xô viết. Nhiệm
vụ chính của đơn vị này là phát hiện và tiêu diệt tất cả các nhóm tình
báo Xô viết đang hoạt động tại Đức cũng như trên lãnh thổ của các nước
Tây Âu đang bị quân phát xít chiếm đóng. Sau một thời gian hoạt động ráo
riết, bọn phát xít đã phát hiện và bắt giữ được không ít các điệp viên
Xô viết. Phần lớn những chiến sĩ này đều bị xử bắn, trong đó có một điệp
viên của Cơ quan Tình báo quân đội (GRU) với mật danh Harry, người chỉ
mới được tiết lộ trong thời gian gần đây. Phong anh hùng sau nửa thế kỷ
Đã
hơn nửa thế kỷ kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc nhưng
nhiều chi tiết về Harry, điệp viên lãnh đạo bộ phận tình báo của GRU tại
Pháp hồi đó vẫn chưa được làm sáng tỏ. Ngay cả tên họ thực sự của ông
vẫn còn là đề tài tranh luận của các sử gia.
Người ta chỉ biết
ông là một công dân Pháp, biết tiếng Nga, yêu thơ Puskin, cộng tác lâu
năm với GRU vì những lý tưởng truyền thống của một người cộng sản. Ông
đã bị một kẻ phản bội khai ra và bị Gestapo bắt. Sau một thời gian dài
bị thẩm vấn và tra khảo, Harry đã bị bọn phát xít xử bắn.
Việc
tìm hiểu những tài liệu về Harry cho thấy, bộ phận tình báo do ông lãnh
đạo trong giai đoạn những năm 1930-1940 là một trong những mạng lưới
hoạt động hiệu quả nhất của GRU tại nước ngoài.
Harry trong một
thời gian dài đã tập trung vào hoạt động trong lĩnh vực tình báo kỹ
thuật quân sự. Harry rất tích cực hợp tác với nhiều nhà bác học nổi
tiếng, tiếp nhận những thành quả nghiên cứu của họ và gửi về Moscow. Năm
1997, Bộ chỉ huy Tổng cục Tình báo đã thuyết phục tổng tham mưu trưởng
quân đội Nga về việc khôi phục lại những sự thực của lịch sử và truy
tặng cho Harry danh hiệu Anh hùng nước Nga.
Harry (có tên khai
sinh là Henry Robinson) sinh ngày 8-5-1897 tại Brussel, trong một gia
đình thương gia có mẹ là người gốc Ba Lan. Đầu thế kỷ XX, gia đình
Robinson chuyển sang sống tại Đức và Henry đã thi vào khoa ngữ văn của
Trường Đại học tổng hợp Geidenberg. Ông tới Thụy Sĩ để chữa bệnh lao
phổi và tham gia vào phong trào cách mạng tại đây. Năm 1920, Henry gia
nhập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một thành viên tích cực của Quốc tế
cộng sản.
Dù tham gia hoạt động cách mạng rất xông xáo, Henry
vẫn kịp tốt nghiệp chuyên khoa luật ở Trường Đại học tổng hợp Zurich.
Năm 1924, Henry Robinson có mặt tại Berlin và làm quen với điệp viên
Oscar Stigga của GRU. Là một điệp viên có kinh nghiệm, Stigga dần dần
lôi cuốn Henry vào những hoạt động tình báo cụ thể và chuyển về trung
tâm những đánh giá tích cực về nhân vật mới này.
Từ năm 1935,
Harry tới Moscow để tham gia một lớp đào tạo về nghiệp vụ tình báo. Đến
năm 1937, ông được cử làm chỉ huy bộ phận tình báo bí mật của GRU tại
Anh. Mạng lưới của Harry bao gồm nhiều thành viên đáng tin cậy, có khả
năng khai thác những thông tin quan trọng về kỹ thuật quân sự. Tính ra,
họ đã khai thác được một số lượng thông tin đáng kể về kỹ thuật hàng
không, về vô tuyến định vị và những lĩnh vực mà Hồng quân đang quan tâm.
Theo đánh giá của cơ quan công nghiệp quốc phòng, những tài liệu
do Harry cung cấp đã đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết nhất, giúp
tiết kiệm hàng triệu rúp thời bấy giờ. Đứng vững cho đến phút cuối cùng
Harry
không chỉ lãnh đạo hoạt động tình báo một cách có hiệu quả, mà bản thân
còn tham gia rất tích cực vào việc tuyển mộ. Trong giai đoạn từ
1937-1940, ông đã tuyển mộ được tất cả 8 điệp viên có giá trị tại Pháp,
Bỉ và Thụy Sĩ. Tháng 10-1940, trung tâm chỉ thị cho Harry phải tập trung
nỗ lực chính vào việc thu thập thông tin về nước Đức phát xít, về các
lực lượng vũ trang của chúng cũng như các kế hoạch quân sự-chính trị của
giới lãnh đạo Đức.
Chỉ vài tháng trước khi Đức tấn công Liên Xô,
Harry bắt đầu báo về trung tâm một thông tin giá trị về việc điều
chuyển các đơn vị quân Đức cùng phương tiện kỹ thuật quân sự từ Pháp
sang Romania. Trên cơ sở của hiện tượng này, có thể khẳng định về việc
quân Đức đang chuẩn bị tấn công Liên Xô. Thông tin của Harry còn được
khẳng định từ nhiều nguồn dữ liệu khác đến từ Ilza Stebe, Richard Zorge,
cũng như nhiều nguồn tin khác của GRU. Đến cuốn tháng 6-1941, Harry đã
hoàn tất một đường dây liên lạc bằng vô tuyến điện riêng với trung tâm.
Ông đích thân tuyển mộ một nhân viên điện đài và chủ nhân của căn hộ nơi
đặt máy.
Sau một thời gian gián đoạn do nhân viên điện đài gặp
tai nạn, trung tâm đã tìm mọi cách liên hệ với Harry bằng cách cử
L.Trepper tiếp xúc trực tiếp với ông. Cho đến cuối năm 1942, mạng lưới
tình báo của Trepper gần như đã bị tan vỡ. Trong tay của Gestapo còn có
được mật mã của bộ phận này, cho phép chúng dễ dàng đọc được các bức
điện gửi từ trung tâm từ ngày 30-6-1941, trong đó có nêu rõ tên họ và
địa chỉ nhà của Harry. Ngày 21-12-1942, chúng bắt giữ Harry cùng gia
đình công dân Italia là Griotti, vốn là chủ căn phòng bí mật nơi có chứa
điện đàm. Cùng chung số phận với ông còn có nữ điệp viên Ilza Stebe ở
Berlin.
Cho tới ngày toàn thắng, các tài liệu nói về thời gian
hay việc hành hình của Harry không được tìm thấy. Nhưng có một điều chắc
chắn, người điệp viên cộng sản này vẫn đứng vững cho đến giờ phút cuối
cùng. Một số nguồn tin của ông - tên tuổi của họ đã được ông mang theo
xuống mồ, nhờ vậy mà họ vẫn tiếp tục cộng tác tích cực với tình báo Xô
viết. Bài 3: Người lãnh đạo cụm tình báo “Capella đỏ”
(SGGP-12G).-
Trong lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ hai, Anatoli Gurevic được đánh
giá là một trong những điệp viên mật hàng đầu, trong khi cách đây không
lâu tại chính nước Nga, người ta lại không biết gì về ông. Chàng trai
Anatoli Gurevic xuất thân từ Leningrad lại còn bị coi là kẻ phản bội tổ
quốc, trước khi được phục hồi danh dự vào năm 1991. Anatoli Markovic
Gurevic với mật danh Kent, từng là một trong những nhân vật lãnh đạo
mạng lưới tình báo “Capella đỏ”nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới thứ
hai. Trưởng thành từ cuộc nội chiến Tây Ban Nha
Anatoli
Gurevic đã quen với ý nghĩa của từ “hoạt động bí mật” ngay từ khi còn
nhỏ: Căn hộ của cha ông - một dược sĩ tại Kharkov - từ trước cách mạng
đã là một cơ sở của các đảng viên cộng sản hoạt động bí mật. Bước ngoặt
trong cuộc đời của ông được bắt đầu từ khi cuộc nội chiến Tây Ban Nha nổ
ra.
Gurevic cùng bạn bè quyết định tổ chức một nhóm học tiếng
Tây Ban Nha và bày tỏ ý định được tới đất nước này trong vai trò các
phiên dịch viên tình nguyện và ông đã được chọn cử tới Tây Ban Nha.
Tháng 9-1939, Gurevic trở về Moscow. Ông nhận được lời đề nghị tham gia
hoạt động tình báo tại Cục Tình báo quân đội (GRU). Ông được đào tạo tại
một ngôi trường ở ngoại ô Moscow trong vai trò một nhân viên mật mã và
liên lạc điện đài, trước khi được cử ra nước ngoài. Thành công dưới vỏ bọc mới
Gurevic
được giao nhiệm vụ hoạt động dưới vỏ bọc quý tử có tên Vincent Sierra
trong một gia đình Uruguay giàu có. Tại Brussels, Gurevic (lúc này với
mật danh là Kent) đã gặp gỡ với người lãnh đạo nhóm tình báo Xô viết tại
Bỉ là Leopold Trepper, đồng thời bắt liên lạc với các nhân viên có vỏ
bọc hợp pháp từ cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô.
Cũng
trong thời gian này, Kent làm quen với gia đình triệu phú Do Thái
Zinger. Cô con gái Margaret của họ mới bị góa chồng trước đó không lâu.
Cha Margaret đã đề nghị Kent đỡ đầu cho Margaret khi Đức đánh chiếm Bỉ
và đổi lại đã bàn giao thêm một số quan hệ làm ăn. Thế là Kent có cơ hội
để tạo thêm vỏ bọc cho mình.
Vào thời điểm đó, Trepper (hoạt
động với giấy tờ của một công dân Canada) cũng buộc phải rời khỏi đây,
do Canada là quốc gia công khai đứng về phe đồng minh. Kent phải nhận
trọng trách chỉ đạo cả mạng lưới tình báo tại Bỉ, một bộ phận quan trọng
hàng đầu của mạng lưới tình báo “Capella đỏ” chuyên hoạt động tại các
khu vực do Đức kiểm soát cũng như các quốc gia trung lập.
Việc
kết hôn với Margaret sau đó càng giúp cho Kent dễ dàng xâm nhập hơn vào
giới quan chức cao cấp của Bỉ cũng như những nhân vật thân cận với bọn
phát xít - chủ yếu là các thương gia cộng tác với bộ phận quân nhu của
chính quyền phát xít.
Đây là một kênh quan trọng để thu thập
thông tin về các kế hoạch phát triển chiến sự trong tương lai và tất
nhiên những thông tin trên đã được nhanh chóng chuyển về Moscow, còn
trước cả những lời cảnh báo của điệp viên Richard Zorge. Đến năm 1942,
Kent lại thông báo về Moscow: Bộ chỉ huy của Hitler đã từ bỏ kế hoạch
tấn công vào Moscow, thay vào đó sẽ tập trung quân để đánh chiếm vùng
Kavkaz.
Mục đích chính là chiếm khu vực có tài nguyên dầu rất lớn
này. Nhờ thông tin trên, Hồng quân đã kịp thời bố trí lại lực lượng,
đập tan mũi tấn công của kẻ thù. Kent đã nhận được lời cảm ơn của chính
Stalin sau chiến công này. Cuộc đấu trí với cơ quan phản gián phát xít
Sau
vô số tổn thất xuất phát từ hoạt động của cụm tình báo “Capella đỏ”,
mật vụ phát xít Đức đã tập trung điều tra ráo riết và phát hiện ra dấu
vết của Kent tại Brussels. Gestapo bắt giữ Kent và Margaret vào tháng
11-1942. Tại Berlin, ông được coi là một nguồn tin đặc biệt nên không bị
tra tấn mà chỉ thẩm vấn.
Gestapo đã thành lập ra một ban đặc
biệt gọi là “SS-Zondercommando Rota capelle” chuyên đảm trách việc điều
tra về mạng lưới “Capella đỏ”. Kent được đề nghị tham gia vào một trò
chơi hai mặt chống lại Liên Xô để đổi lấy mạng sống của mình và ông đã
đồng ý.
Về sau, Kent cho biết: “Tôi quyết định “thừa nhận” những
gì mà Gestapo đã biết. Ngoài ra, khi chuẩn bị báo cáo về trung tâm, tôi
đã cố tình thay đổi phong cách viết, cách soạn thảo tài liệu cũng như
nhiều đặc điểm khác, với hy vọng các nhân viên GRU sẽ đoán ra công việc
của tôi đang bị kiểm soát”.
Trong biên bản kết luận về việc phục
hồi danh dự của Gurevic sau này có đoạn: “Từ các biên bản thẩm vấn
Gurevic, có thể nhận thấy ông luôn né tránh đưa ra những lời khai cụ thể
về hoạt động của tình báo Xô viết, viện cớ quên hay không được cung cấp
thông tin đầy đủ. Chỉ xác nhận những sự kiện đã được quân Đức biết từ
các nguồn tin khác… Tính ra trong thời gian trên, Gurevic đã giúp bảo
toàn mạng sống cho 15 điệp viên khác tại Tiệp Khắc, Bỉ và Pháp”.
Còn
phải kể đến một chiến công có vẻ như “không tưởng” nữa của Gurevic, khi
ông tuyển mộ lại được tên chỉ huy của Zondercommando là Hainz Pannvis
cùng với hai nhân viên Gestapo khác. Gurevic đã lợi dụng sự sợ hãi của
Pannvis do sau khi để Leopold Trepper chạy thoát, anh ta có nguy cơ bị
kỷ luật bằng cách đẩy ra mặt trận phía Đông hoặc phải vào tù. Kết quả là
Pannvis đã đồng ý hợp tác với Kent, cũng có nghĩa là với cơ quan tình
báo Xô viết. Số phận chìm nổi sau khi chiến tranh kết thúc
Tháng
5-1945, Gurevic trở về Moscow cùng với những người Đức đã được mình
tuyển mộ. Nhưng ngay khi bước xuống chân máy bay, ông đã bị bắt giữ vì
nghi ngờ phản bội tổ quốc. Cuộc điều tra kéo dài trong suốt 16 tháng và
kết thúc với một bản án 20 năm tù.
Đến năm 1955, ông mới được thả
theo chỉ thị “Ân xá cho các công dân Xô viết từng cộng tác với quân
chiếm đóng trong giai đoạn chiến tranh giữ nước vĩ đại” nhưng lại bị bắt
giữ lại chỉ một thời gian ngắn sau đó. Mãi tới năm 1960, Gurevic mới
được ra tù trước thời hạn. Dù vậy phải đến 45 năm sau, Anatoli Gurevic
mới được chính thức phục hồi danh dự, sau một quyết định được ký vào
ngày 9-8-1991. Bài 4: Chiến dịch tiêu diệt toàn quyền phát xít tại Belarus
(SGGP-12G).-
Tháng 9-1941, tại Minsk xuất hiện trùm phát xít Wilhem Cube, mới được
chỉ định làm tổng ủy viên quân vụ của Đức tại Belarus. Nhân vật này được
cử tới Minsk nhằm thiết lập một “trật tự mới”. Trên các đường phố liên
tục xảy ra những vụ bắt bớ và bắn giết, trong khi các giá treo cổ được
dựng lên khắp các quảng trường. Sự tàn bạo của Cube gần như không có
giới hạn. Theo chỉ thị của hắn, quân Đức thành lập ra các xóm Do Thái
tại Minsk cùng với trại tập trung “Trostenes” là nơi đã tàn sát hơn
260.000 công dân Xô viết và nước ngoài. Từ một đầu mối bất ngờ
Wilhem Cube
Trước
tình hình này, bộ phận tình báo Xô viết tại Minsk nhận được lệnh phải
nghiên cứu khả năng tiêu diệt Cube. Vào thời gian đó, nhóm điệp báo mang
mật danh “Màu đen” (nằm trong thành phần lữ đoàn du kích đặc biệt do
thiếu tá Fedorov chỉ huy) còn móc nối được với hai nguồn thông tin quan
trọng là người Đức: Emil Schulz và Hendrich Trippel.
Theo báo cáo
của Schulz, Cube vừa được triệu hồi về Berlin. Tại đó, Hitler đã ra
lệnh cho hắn phải đẩy mạnh những hoạt động đàn áp chống lại người dân
Belarus. Làn sóng bắt giữ và xử bắn mới sẽ bắt đầu từ ngày 30-9-1943.
Biết được thông tin này, các chiến sĩ tình báo đưa ra kết luận: Cần phải
tiêu diệt Cube trước ngày 30-9.
Trong khi việc nghiên cứu mọi
phương án khả thi đang gặp bế tắc thì một thành viên trong nhóm là
Georgi Culikov nói với trưởng nhóm Maria Osipova về việc có quen biết
Nicolai Pokhlebaev - giám đốc một rạp chiếu phim tại Minsk - có quen
biết với nhiều quan chức có thế lực của Đức phát xít. Nếu thuyết phục
được Pokhlebaev hợp tác, có thể thông qua nhân vật này để triển khai kế
hoạch tiêu diệt Cube.
Elena Mazanic
Georgi
Culikov cuối cùng cũng sắp xếp được một cuộc gặp giữa Osipova và
Pokhlebaev. Do đây là lần gặp đầu, Maria đã không tiết lộ quá nhiều,
nhất là về kế hoạch tiêu diệt Cube. Cô chỉ tìm hiểu liệu Pokhlebaev có
sẵn sàng giúp đỡ các chiến sĩ tình báo trong cuộc đấu tranh chống lại
bọn phát xít hay không. Pokhlebaev cuối cùng đã đồng ý hợp tác với một
điều kiện - ngay lập tức sắp xếp cho anh ta gặp gỡ với chỉ huy lực lượng
kháng chiến.
Trong lần tiếp xúc thứ hai, Thiếu tá Fedorov và một
điệp viên nữa được cử đi. Khi Fedorov trực tiếp đề nghị Pokhlebaev giúp
đỡ tiêu diệt Cube, anh ta hứa sẽ giúp Osipova làm quen với Valentina
Suska, người có cô chị gái là Elena Mazanic đang làm việc trong nhà của
tên trùm phát xít.
Những thông tin về hai chị em Elena và
Valentina nhanh chóng được thu thập. Trong đó có sự kiện đáng chú ý là
chồng Valentina đã bị bọn phát xít bắn chết do có liên hệ với quân du
kích. Trong lần tiếp xúc đầu tiên, Osipova đã trực tiếp đề nghị Elena
giúp đỡ tiêu diệt Cube.
Trong cuộc gặp gỡ diễn ra tại làng
Yanuskovich, Fedorov đã trao cho Valentina một ống thuốc độc để Elena
có thể đầu độc Cube. Tuy nhiên, ống thuốc độc được Valentina mang về đã
không thể sử dụng. Elena không có quyền bước chân vào trong bếp, nơi
chuẩn bị đồ ăn cho cả gia đình Cube. Cô chỉ có nhiệm vụ dọn dẹp các
phòng ngủ ở trên tầng 3.
Cũng trong thời gian này, Cube đã ra
lệnh xử bắn thêm vài trăm tù nhân ngay tại Minsk. Trước những hành động
tàn sát của hắn, yêu cầu loại bỏ tên trùm phát xít ngày càng trở nên cấp
thiết hơn. Sau khi kế hoạch đầu độc Cube không thành, Maria Osipova và
Elena Mazanic đi đến kết luận: Họ còn một khả năng cuối cùng nữa là đặt
mìn trong phòng ngủ của tên trùm phát xít. Maria hứa sẽ báo cáo kế hoạch
này lên cấp trên và nếu được chuẩn y, “món quà” đặc biệt này sẽ nhanh
chóng được chuyển tới cho Elena. Đền tội
Sau
khi được báo cáo, Fedorov chỉ thị mang tới cho Maria hai quả mìn mới
được trung tâm gửi vào từ tháng 8-1943. Đây là loại mìn đặc biệt nhỏ gọn
nhưng lại có sức công phá rất mạnh. Trong buổi gặp kế tiếp vào ngày
21-9, Maria hướng dẫn cho Elena về cách lắp đặt và mở ngòi nổ của mìn.
Họ còn bàn bạc về các phương án mang mìn an toàn vào nhà của Cube cũng
như việc rút lui sau đó. Mọi chuyện sau đó đều diễn ra theo đúng kế
hoạch. Elena nhanh chóng hoàn tất những công việc thường ngày của mình
như dọn dẹp phòng, lau cầu thang và đánh giày.
Khi Cube rời khỏi
nhà, cô yêu cầu bà Anita cho phép ra ngoài một lúc để tới gặp bác sĩ nha
khoa. Ngay sau đó, lựa chọn thời điểm thích hợp, Elena lẻn vào phòng
ngủ của Cube, đặt mìn xuống dưới tấm nệm trên giường của hắn.
10g
sáng, Elena đã có mặt tại vườn hoa nhỏ gần nhà hát Yanki Cupal, nơi có
Maria Osipova và một chiếc xe tải đợi sẵn. Được chở tới Paperni, hai chị
em nhà Elena phải đi bộ vài tiếng ở trong rừng trước khi tới được căn
cứ của du kích. Và ngay rạng sáng, họ đã nhận được tin tên Cube đã bị
tiêu diệt. Chiến dịch “Trừng phạt” đã thành công tốt đẹp.
Vụ tiêu
diệt tên toàn quyền của Hitler tại Belarus có một ý nghĩa chính trị rất
lớn, là một đòn nặng nữa giáng vào tâm lý của quân phát xít kể từ sau
thắng lợi của Hồng quân tại vòng cung Kursk. Trung tâm hết sức quan tâm
đến sự kiện này và đã yêu cầu phải báo cáo cụ thể công trạng và lý lịch
của những người đã trực tiếp tham gia chiến dịch. Ngoài ra, lữ đoàn du
kích còn được giao nhiệm vụ bảo vệ an toàn khu căn cứ và cả tính mạng
những cô gái trực tiếp tham gia chiến dịch trước bất kỳ âm mưu trả đũa
nào của quân phát xít.
Đến ngày 12-10, chị em nhà Elena và các
thành viên khác trong chiến dịch tiêu diệt Cube đã được máy bay đón về
trung tâm an toàn. Ngày 29-10, sau khi có chỉ thị trực tiếp của Stalin,
Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô Kalinin đã ký sắc lệnh phong tặng
danh hiệu Anh hùng cho Elena Mazanic và Maria Osipova. Ngoài ra, Fedorov
và Valentina cũng được tặng thưởng Huân chương Lenin. Về sau Thiếu tá
tình báo Fedorov cũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô sau khi
hy sinh trong một nhiệm vụ mới của tình báo quân sự. NHƯ QUỲNH (tổng hợp)
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét