Chuyển đến nội dung chính

HƯƠNG VỊ QUÊ HƯƠNG 48

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Nghề ''Bà Cậu'' ở miền tây tuy không giàu nhưng ăn thì không thiếu
Ở quê là vậy bà con nông dân không có ruộng đất thì vẫn cứ bám trụ với nghề bà cậu làm thì không dư dả nhưng ăn thì không thiếu. hễ cứ tới mùa thu hoạch lúa là không thiếu đồ ăn cơm chỉ cần đi ra ruộng chút vô là Chuột, Ếch ,Lương, Cá, Rắn ăn không hết. Nếu có dư chút đỉnh thì đem bán kiếm tiền mua mắm mua muối trang trải cuộc sống hàng ngày.

Nghề “Bà cậu”

06/06/2017 - 08:37
(TTMT) - Dân đi ghe, làm nghề trên sông nước không ai là không thờ “Bà cậu” để được an lòng. Dẫu vất vả nhưng không ít người vẫn ngày đêm “bám” nghề vì mưu sinh. 

Niềm tin
 
Trong câu chuyện với một số người theo nghề sông nước trên sông Tiền, hầu như không ai biết tục thờ “Bà cậu” khởi nguồn từ khi nào, chỉ biết rằng, cha ông họ thờ thế nào thì họ học và làm theo thế ấy. Mùng 2 và 16 (âm lịch) hàng tháng, họ sẽ làm lễ cúng “Bà cậu”. Lễ vật cúng tùy vào gia cảnh từng người. Khá giả thì cúng cặp vịt luộc, kèm nắm muối và gạo với ngụ ý xin phù hộ cho công việc “xuôi chèo mát mái”, gặp sóng gió luôn hóa dữ thành lành. Đơn giản hơn có thể cúng bà vài ba miếng bánh ngọt hay dĩa trái cây, miễn sao có lòng thành là được. Bàn thờ “Bà cậu” ở ngay mũi ghe, thuyền. Ở đó, người ta sẽ cấm một cột trụ (nhỏ lớn tùy vào kích cỡ của ghe). Mỗi khi cúng lạy, họ đều thành tâm cầu khẩn. Và với họ, đó là nơi “bất khả xâm phạm”, không cho phép bất cứ ai hay điều gì làm ô huế, quấy nhiễu sự tôn nghiêm. 
 
“Mỗi lần chuẩn bị nhổ neo hạ bạc, hay lặn tôi luôn khấn “Bà cậu” cho được một chuyến đi thuận lợi. Trước khi tiến hành, tôi sẽ vệ sinh mũi ghe thật sạch. Với tôi, nơi thờ “Bà cậu” cũng quan trọng như bàn thờ tổ tiên. Vì thế, tôi không cho phép bất kỳ ai quấy nhiễu. Với người không biết, tôi có thể bỏ qua nếu họ lỡ chân bước ngang qua chỗ thờ nhưng những ai biết mà cố tình làm, tôi sẽ không tha thứ. Chuyện được hay thất tôi luôn quan niệm nếu “Bà cậu” thương thì cho, không thì thôi chứ không trách hờn, miễn sao cuộc sống của tôi không rơi vào túng quẩn là mừng rồi”- anh Ngô Văn Tâm (52 tuổi, ngụ ấp Long Định, xã Long Điền A, Chợ Mới, An Giang) bộc trực nói. Không riêng gì 2 ngày cúng bà cố định kể trên, mỗi khi may mắn được “trúng” ghe, ngoài việc ăn mừng, người ta cũng không quên trả lễ. Dẫu có đơn giản nhưng miễn sao thể hiện được lòng thành kính là được. Sở dĩ người theo nghề sông nước phải thờ và có niềm tin tuyệt đối, vì nghề này còn lắm những khó khăn, hiểm nguy rình rập. Và, “Bà cậu” được dân gian ví như vị thủy thần cai quản khúc sông, có thể cứu nguy và phù hộ cho ai đang đặt trọn niềm tin. 
 
gt3.jpg
 
Dù vất vả, nhưng người làm nghề hạ bạc luôn tin sẽ được “Bà cậu” đãi
 
Vất vả mưu sinh
 
Qua lời giới thiệu của người dân, chúng tôi gặp người được cho là “lão làng” trong nghề lặn ở ấp Long Định (Chợ Mới), đó là anh Ngô Văn Tâm. “Nghề này của tôi là do cha truyền. Năm mười mấy tuổi, tôi có thể lặn hụp một cách thành thạo! Nhưng ban đầu, tôi học lặn chủ yếu là để phục vụ cho việc đi ghe, đánh bắt cá để mỗi khi mắc lưới còn biết đường lặn xuống sông tìm cách tháo gỡ. Lắm lúc, bà con trong xóm bị chìm xuồng, rơi xe hay vật dụng gì quan trọng xuống lòng sông cũng nhờ tôi tìm hộ. Vậy là ngoài những lúc làm nghề hạ bạc, tôi còn nhận lặn tìm đồ. Rồi nghề sinh nghiệp hồi nào không hay, không chỉ nhận tìm đồ vật, tôi còn nhận luôn việc tìm xác bị đuối nước. Công việc tuy nguy hiểm nhưng không bỏ được, có lẽ “tổ nghiệp” đã chọn thì mình phải theo!”- anh Tâm chia sẻ. 
 
Kể lại những lần lặn hụp dưới đáy sông lạnh tìm đồ vật, xác người, chúng tôi thật sự nể phục về “độ gan” của người đàn ông ấy. Dưới đáy sông lạnh, chỉ mỗi việc nhắm mắt và đưa tay tìm đã làm nhiều người không dám. Vậy mà với một ống hơi, không một vật dụng bảo hộ, anh Tâm có thể lặn và trục vớt rất nhiều vật dụng quan trọng tưởng chừng như đã bị dòng nước cuốn trôi mất hút. Còn xác người, chỉ cần chưa bị nước xiết cuốn trôi đi thì cỡ nào anh Tâm “mò” cũng gặp. Anh tâm sự, mỗi lần gần với được xác chết đuối, linh cảm cho anh biết nước ở nơi đó rất lạnh. Và, cái chạm tay đầu tiên với cái xác lúc nào cũng làm anh lạnh thót người. Chưa kể những lần lặn, anh bị mắc lưới của đồng nghiệp tưởng chừng như không thể thoát thân. “Gian nan nguy hiểm vậy sao anh vẫn theo nghề?”- chúng tôi hỏi. “Mình không chịu lặn thì bà con mất đồ, mất người thân sẽ làm sao. Với lại làm việc khác trên  bờ, chưa chắc tôi đã đủ sức khỏe! Những mùa gió bấc, để chịu được cái lạnh dưới đáy sông, tôi phải uống 2-3 chén nước mắm, nước gừng để giữ ấm cơ thể rồi mới bắt đầu lặn. Khó nuốt lắm nhưng vì công việc nên phải chịu thôi!”- anh Tâm bộc bạch. 
 
Cũng theo nghề “Bà cậu” nhưng việc hạ bạc của anh Nguyễn Minh Hải (40 tuổi, ngụ thị trấn Mỹ Luông, Chợ Mới) cũng lắm nỗi buồn vui. “Hơn 20 năm theo nghề đánh bắt cá, mỗi lần chuẩn bị ra khơi, tôi đều không quên việc cúng, vái “Bà cậu”. Việc làm này giúp tôi có niềm tin hơn trong mỗi chuyến đi. Tờ mờ sáng, vợ tôi đã chuẩn bị cơm nước mang theo ghe. Vì mỗi lần đi phải mất cả ngày trời, ăn vậy cho tiết kiệm. Tầm 14 giờ, chúng tôi về, phân loại cá để kịp mang ra bán chợ chiều. Trừ hết tiền dầu, chúng tôi kiếm được 200.000 đồng - 300.000 đồng/ngày. Không dư giả nhưng cũng chắt góp qua ngày và lo cho 2 con ăn học. Nhiều khi lưới bị mắc cạn không kéo lên được, chúng tôi phải thuê người lặn xuống gỡ, thế là lỗ vốn cả ngày. Còn mùa mưa coi như thua, chúng tôi chỉ biết ở nhà đắp đỗi qua ngày bằng nghề “ai kêu gì làm đó” vì nếu có ra khơi cũng không bắt được con cá nào”- anh Hải cho biết.  
 
Nghề “Bà cậu” gồm việc đưa rước khách qua sông, buôn bán đò giang, nghề lặn trục vớt đồ đạc hay hạ bạc... Theo dân gian, “Bà cậu” tức 7 bà và 3 cậu mà theo họ đó là những đấng đầy quyền năng. Và việc thờ cúng “Bà cậu” là điều rất thiêng liêng, cực kỳ quan trọng giúp họ an lòng hơn trong những chuyến ra khơi. 
 
Bài, ảnh: PHƯƠNG LAN

Tìm hiểu về tục thờ “Bà, Cậu” ở Nam Bộ

Ở Nam Bộ, người chủ các phương tiện giao thông đường thủy nội địa lẫn các tàu, ghe đánh bắt thủy sản ngoài biển cho rằng có một đấng siêu nhiên luôn kề cận, giúp đỡ họ thoát khỏi phong ba, sóng cả và những tai nạn đến bất ngờ.

Tùy theo tập quán tín ngưỡng từng vùng miền, hầu hết ngư dân, chủ phương tiện đưa rước hành khách, mua bán trên sông rạch ở các tỉnh Nam Bộ đều tin tưởng vào sự hiển linh của “Bà, Cậu”.

Đến nay có nhiều giai thoại nói về danh xưng “Bà, Cậu” với nhiều nguồn gốc, điển tích khác nhau. Có người cho rằng Bà và Cậu chỉ là một người phụ nữ tên Cậu rất linh thiêng và sống ở trên sông, biển.

Làm thuyền giấy rước “Bà, Cậu”.
Một giả thiết khác được nhiều người tán đồng là “Bà” ở đây mang tên Thiên Hậu, vị “nữ thần” này cai quản sông nước để giúp đỡ người dân khi gặp hoạn nạn, không gây bão lũ để người dân yên ổn làm ăn. Cạnh đó còn trừ khử những loại người hung ác, gian tà. Còn “Cậu” ở đây là nói về hai người con của bà tên Tài và Quý, những người luôn ở bên bà để cứu nạn những người không may gặp nạn trên sông, biển. 

Có ý kiến cho rằng:  Bà, Cậu được thờ trên tàu, ghe của những người làm nghề liên quan đến sông nước là đức Phật Bồ Tát, vì đây là vị thần linh gần gũi nhất với đời sống cư dân Nam Bộ. Và còn khá nhiều giả thiết về nguồn gốc của “Bà, Cậu” trong suy nghĩ người dân.

Dù hình tượng, quan niệm về “Bà, Cậu” chưa thống nhất nhưng hầu hết những người thờ cúng đều rất tin tưởng và duy trì lệ cúng rất thường xuyên. Thông thường, bàn thờ “Bà, Cậu” trên ghe, tàu luôn được đặt ở nơi trang trọng trong khoang sinh hoạt. Trên bàn thờ luôn có nhang, hoa tươi, trái cây các loại. Trước mỗi chuyến khởi hành chủ phương tiện đều thắp nhang khấn vái để được mua may, bán đắt, đi đường suôn sẻ, không gặp xui xẻo, ma quỷ đeo bám… 

Một ngôi miếu thờ ở Cái Răng (TP Cần Thơ).
Nhiều người sau mỗi chuyến đi mua bán, đánh bắt có lời to còn tổ chức cúng vái “Bà, Cậu” rất trang trọng. Riêng về ngày cúng thường xuyên thường tổ chức vào ngày 16 âm lịch hàng năm với hai mục đích: cúng vái “Bà, Cậu” phù hộ cho gặp được những điều may mắn. Cạnh đó còn cúng vái những oan hồn “cô hồn cát đản” không theo quấy rối.

Về lễ vật để cúng kiến, thông thường chủ nhà sẽ cúng vịt luộc cùng các món ăn phụ khác. Lý giải vì sao phải cúng vịt mà không là loại gia súc, gia cầm khác, ông Võ Văn Tám, 67 tuổi ngụ thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cho biết “…Sở dĩ dân miền sông nước miền Tây thường cúng Bà Cậu bằng vịt vì quan niệm con vịt luôn luôn nổi và bơi lướt nhanh trên mặt nước. “Bà, Cậu” không ăn vịt mà dùng vịt để cưỡi đi giúp các ghe, tàu mỗi khi gặp sóng to, gió lớn, vượt qua các chướng ngại để đi đến nơi về đến chốn an toàn…”.

Làm Lân trong lễ hội cúng “Bà, Cậu”.
Tùy theo đặc điểm riêng, chủ ghe, tàu ngoài việc cúng “Bà, Cậu” tại phương tiện của mình, họ còn tham gia cúng tại các cơ sở thờ tự khác như: lăng, miễu, am thờ… do chính quyền địa phương tổ chức cúng “Bà, Cậu” kết hợp với các lễ hội khác như lễ nghinh Ông ở Sông Đốc (Cà Mau); Gành Hào (Bạc Liêu); Thạnh Hải (Bến Tre); Cái Răng (TP Cần Thơ)… về ngày cúng thì mỗi nơi mỗi khác nhưng về nghi thức cúng bái thì có rất nhiều nét tương đồng. Nhiều địa phương còn tổ chức lễ cúng hàng năm rất hoành tráng thu hút rất nhiều du khách đến tham quan, thưởng lãm.

Ông Lê Quang Trinh, 88 tuổi, trưởng ban tế tự Miễu bà phường Hưng Phú, quận Cái Răng, TP Cần Thơ cho biết “…Lễ hội cúng “Bà, Cậu” tại đây tổ chức rất qui mô, kéo dài 2 đến 3 ngày với nhiều hoạt động lễ, hội và các trò chơi dân gian, tuy rầm rộ nhưng luôn tiết kiệm và không xảy ra nạn mê tín dị đoan…”.
Tập quán tôn sùng, thờ cúng “Bà, Cậu” đã trở thành nét văn hóa tâm linh vốn có tự lâu đời đã và đang được người dân vùng nước Nam Bộ duy trì cho đến nay bằng sự thành kính chân tâm.
Tô Phục Hưng

Hình tượng “Bà Cậu” và tục cúng Ghe ở Miền Tây

Xuồng, ghe gắn chặt và rất thân thiết với đời sống cư dân Miền Tây do địa hình sông rạch đan xen. Những người buôn bán trên ghe duy trì tục lệ cúng ghe theo tập quán lưu truyền từ ngàn xưa với sự tin tưởng có một đấng thiêng liêng luôn chở che cho họ buôn may bán đắt, không gặp tai nạn trên sông biển, kênh rạch.

   
Đại đa số ghe buôn, ghe hàng đều thờ “Bà Cậu” trên ghe và tổ chức cúng ghe vào các ngày 16 và 29 âm lịch mỗi tháng. Về lễ vật, nếu các phương tiện vận tải trên bộ thường cúng gà (tượng trưng cho hoạt động chạy nhảy mau mắn) thì cúng ghe phải cúng vịt (tượng trưng cho sự bơi lội, di chuyển thuận lợi trên sông).
Mâm cúng gồm vịt luộc với ba chén cháo, một bình trà, một bình rượu và bánh ngọt, có nơi cúng thêm đầu heo tùy theo kinh tế gia đình. Mâm cúng đặt trước mũi ghe, khi bắt đầu cúng, chủ ghe đốt nhang cầu nguyện việc mua bán, may mắn, sức khỏe…
 hinh tuong “ba cau” va tuc cung ghe o mien tay hinh anh 1

Về hình tượng “Bà Cậu” có nhiều giả thuyết, nhưng đa số chủ nghe thường truyền tụng đó là một bà già và hai người con trai chuyên cứu giúp người trên sông nước khi gặp nạn. Để tỏ lòng tri ân, các bạn hàng xưa tổ chức cúng vái cầu nguyện Bà và hai cậu con trai phò hộ, giúp đỡ. Hình tượng “Bà Cậu” còn được người đi ghe xuồng đem ra cảnh báo trừng phạt đối với những hành vi, lời nói sai trái, không trung thực.

Có những “điềm báo” chẳng biết dựa trên nền tảng tâm linh nào, chẳng hạn việc mua bán sẽ thành đạt nếu trong khi di chuyển bắt gặp chó lội ngang sông và ở trước mũi ghe hoặc ban đêm trong khoang ghe xuất hiện đom đóm; việc mua bán sẽ khó khăn khi gặp rắn hay ngỗng lội ngang…

Tục cúng ghe ở Miền Tây khá phong phú, mặt khác lại có một số nét tương đồng. Để chuẩn bị đóng ghe mới, bao giờ chủ nhà cũng cúng vái miếng ván gỗ đầu tiên, gọi là tục cúng “gim lô”. Trên đó là mâm đồ cúng tương tự mâm cúng hàng tháng của chủ ghe nhưng có kèm theo một tấm vải đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Miếng ván gỗ “gim lô” phải dày hơn các miếng gỗ tiếp theo.
Sau khi hoàn thành chiếc ghe, chủ nhà phải thu hồi các cây đinh đã đóng trên miếng “gim lô”, thợ đóng ghe phải “xảm” vào đó các cọc gỗ khác tương ứng. Tục truyền rằng nếu mất mấy cây đinh ấy thì sẽ bị nhiều điều xui xẻo.
Khi kéo ghe lên bờ để sửa chữa hoặc đại tu, người dân cúng “lên nề”, nghi thức cũng tương tự lễ nghi cúng hàng tháng. Cúng ghe để xuất hành buôn bán đầu năm, chủ ghe phải chọn ngày. Nếu đã chọn được ngày tốt nhưng vì một nguyên nhân nào đó chưa xuất hành được thì bày lễ vật trên bờ, sau đó cho ghe chạy qua chạy lại nơi đặt mâm cúng ba lần, rồi xuất hành ngày nào thì tùy ý.

Sau nghi thức cúng ghe, chủ nghe mời các ghe đậu lân cận sang uống rựơu, đờn ca tài tử, bàn bạc chuyện buôn bán làm ăn cho chuyến đi tới. Tục cúng ghe ở đồng bằng sông Cửu Long được xem là một tập tục văn hóa tâm linh, gắn chặt trong đời sống dân gian truyền thống đã vài trăm năm.
Theo (Theo mekongculture)

Nghề ‘bà cậu’ ở xứ Vàm Nao

Nghề ‘bà cậu’ ở xứ Vàm Nao
(PL)- Một trong những chương trình đặc sắc của tour đến Vàm Nao là săn cá bông lau với người dân ở đây lúc 7 giờ tối. Mùa săn cá kéo dài từ tháng 11 tới tháng 2 âm lịch hằng năm.
Chúng tôi tới ấp Vàm Nao (xã Tân Trung, huyện Phú Tân, An Giang) theo chân đoàn khảo sát du lịch về nông nghiệp. Khúc sông Vàm Nao là nơi nối sông Tiền với sông Hậu. Đây là địa danh nổi tiếng miền Tây về cá bông lau. Mùa này đang là mùa săn cá bông lau của người dân miệt sông nước này. Đã gọi là săn thì có khi trúng khi trật, người xứ này gọi đó là nghề “bà cậu”. “Bà cậu” cho thì được, không thì thôi nhưng vì giá trị mang lại của con cá khi được “bà cậu” cho là khá lớn nên cứ đến mùa là xứ Vàm Nao lại rộn ràng đèn, lưới, xuồng máy đi săn cá bông lau. Chỉ riêng xã này, mỗi đêm có khoảng 20 hộ đi săn.
Luật bất thành văn trong nghề
… 6 giờ chiều, chúng tôi ghé qua nhà ông Nguyễn Văn Ư thì thấy các con ông đang tranh thủ ăn bữa cơm chiều để chuẩn bị chuyến đi săn vào buổi tối. Đồ nghề đã chất gọn gàng trên ghe neo ở con kênh sau nhà. Sau khi cơm nước xong, mọi người nghỉ ngơi trò chuyện chút xíu rồi chuẩn bị nước uống và đồ ăn nhẹ, mền, chiếu cho một đêm dài lênh đênh sông nước.
Ông Ư là người có thâm niên hơn 15 năm săn cá bông lau và đến giờ thì hoàn toàn nghỉ ngơi, chuyển giao nghề cho các con vì sức ông không thể kéo lưới suốt đêm được nữa. Ban ngày các con ông dành khoảng bốn tiếng khi nước ròng để thả lưới, còn ban đêm thì thả sáng đêm, cứ khoảng một tiếng kéo lưới một lần. Tính ra một đêm mỗi xuồng thả và kéo lưới không dưới tám lần. Theo ông Ư, vào ban đêm thì cá dễ dính hơn nên nước lớn hay nước ròng gì người ta cũng thả lưới.
Nghề ‘bà cậu’ ở xứ Vàm Nao - ảnh 1
Các nông dân sẵn sàng cho một chuyến đi săn đêm. Ảnh: N.NAM

Có một luật bất thành văn mà bất cứ thợ săn nào ở đây cũng biết và triệt để tuân theo. Đó là xuồng từ nhà phải chạy ra bến xếp hàng chờ đến lượt mới được đi. Cánh thợ săn gọi vui là chờ tài. Tài trước xuất phát được khoảng 10-15 phút thì tài sau có thể đi. Gọi là bến cho sang nhưng thực chất chỉ là khu vực cắm hàng chục cây sào tre để các ghe neo vào đó. “Có người nào nghĩ rằng hôm đó cá nhiều rồi tự phá luật không chờ đến lượt không?” - chúng tôi hỏi. Các thợ săn đều khẳng định không ai làm vậy vì nếu có chắc chắn sẽ bị mọi người chê cười và không hợp tác nữa.
Đi “săn” trong đêm
… Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi tới bến, anh Văn và nhiều người khác đang cắm sào chờ tài. Khác với nhiều nhà thường đi săn mỗi xuồng có hai người gồm cha - con, vợ - chồng hoặc anh - em, anh Văn đi săn có một mình. Hỏi anh mấy hôm nay có săn được con nào lớn không, anh cười toe đáp 10 đêm rồi về tay không. Hỏi anh có thấy nản không, anh lại cười đáp: Nghề “bà cậu” mà, “bà cậu” cho thì mình được, không thì thôi, bữa sau lại đi tiếp chứ không nản. Với lại giá trị con cá này cao nên khi mới bắt được cũng đủ bù đắp chuyện bõ công chờ đợi.
Thời điểm này, giá cá bán tại bến khoảng 170.000 đồng/kg, dịp tết là 250.000 đồng/kg. Chỉ cần một đêm săn được một con 3 kg cũng đã được nửa triệu đồng, trừ chi phí xăng dầu, ăn uống nhẹ một đêm như anh Văn khoảng 30.000 đồng thì vẫn lời lớn nên nhiều n vẫn theo.
… 11 giờ tối, mặt sông lấp loáng ánh trăng pha với màu sắc đủ loại của đèn lưới giăng nhìn lung linh, huyền ảo như lễ hội thả hoa đăng. Gió sông lồng lộng. Xuồng của các thợ săn bồng bềnh, uyển chuyển theo nhịp của nước. Vẳng xa xa có tiếng ai buông câu hò ngọt lịm làm nao lòng khách phương xa. 11 giờ tối cũng là thời điểm nước bắt đầu ròng nên nhà nhà đều tay thả lưới.
… 12 giờ đêm, có hai con cá bông lau (mỗi con khoảng 7 kg) dính vào lưới hai nhà, tiếng í ới vui nhộn trên sông. Thương lái đến chờ sẵn ở bến mua ngay. Khách ra về vẫn còn lưu luyến khung cảnh thơ mộng của đêm đi săn trên bến Vàm Nao.
Nông dân tham gia làm du lịch
Khách du lịch sau khi tham gia tour này họ rất thích vì nó đậm chất nông dân. Có người đi rồi quay trở lại đi tiếp. Ngoài săn cá, du khách còn được bắt ốc, bẻ ấu, tắm đồng… Tour săn cá bông lau chỉ có vào mùa khô, thời gian kéo dài từ tháng 11 âm lịch năm trước đến tháng 4 âm lịch năm sau. Chúng tôi đang xúc tiến thành lập hợp tác xã du lịch nông nghiệp hỗ trợ nông dân tham gia làm du lịch. Qua đó, giúp người dân tăng tính đoàn kết trong làm du lịch và ký kết hợp đồng tour với các công ty hiệu quả hơn.
Ông NGUYỄN THANH TÙNG, Trưởng bộ phận Marketing Trung tâm Du lịch nông dân An Giang
(Hội Nông dân An Giang)
Nghề ‘bà cậu’ ở xứ Vàm Nao - ảnh 2
400 khách tham gia tour săn cá bông lau (ảnh) là mục tiêu đặt ra trong năm nay của Trung tâm Du lịch nông dân An Giang. Tour du lịch săn cá bông lau trên sông Vàm Nao được đưa vào khai thác ba năm nay. Năm đầu tiên có 60 khách, năm thứ hai có 200 khách và từ đầu mùa khô đến nay đã có 200 khách tham gia tour này. Du khách chủ yếu đến từ TP.HCM và miền Đông Nam Bộ, thỉnh thoảng cũng có khách ngoài Hà Nội và khách nước ngoài tham gia.
NHẪN NAM

Tín ngưỡng thờ cúng và điều cấm kỵ trên sông nước

Tác giả: Hoài Phương
Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có sông ngòi chằng chịt, mà có 7 tỉnh nằm ven biển gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với tổng chiều dài bờ biển trên 600 km và nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Nơi nào có đánh bắt, có người làm nghề hạ bạc, nơi đó có thờ cúng.
cung-ba-cau-mekongculture
Cúng Bà – Cậu
Ngư dân và người đi sông đi biển ĐBSCL thờ cúng Cá Ông, Bà Cậu và các nữ thần có liên quan đến vùng biển như Thủy Long Thánh Mẫu, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Hòn, Thiên Hậu Thánh mẫu, tức nữ thần biển. Ngoài ra, bà con ở vùng biển đảo và sông rạch còn thờ cúng các vị thần linh vô hình hoặc hữu hình mà ông cha ta đã từng tế lễ; có thể là hiền thần từng cứu mạng con người như Rái Cá, Ông Nược, cũng có thể là hung thần ác quỷ như Ông Hèo (loài đẻn lớn), Thần Xà… Ở một số nơi ngư dân còn thờ cúng cả những người tử nạn vì nghề nghiệp hoặc chết bất đắc kỳ tử ở ngoài khơi.
Trước kia, tại ĐBSCL, một số nơi như Đồng Tháp cứ sau mùa tát đìa, mùa khai thác cá, các chủ đìa đều long trọng tổ chức cúng cầu ngư tại Gò Tháp, có rước bóng rỗi về múa bóng thật linh đình. Tại xã An Thủy, Ba Tri – Bến Tre hiện nay vẫn còn miếu thờ Bà Thủy, tên là miếu Bà An Thạnh, được dân làng tôn kính và sùng bái.
Đối với ngư dân và những người làm nghề sông nước, tuy không phải là người trực tiếp đánh bắt nhưng những người “lấy ghe làm nhà”, lấy “sông nước làm quê hương”, đều coi ghe thuyền là người bạn thân thiết. Do đó, những người đi ghe thuyền, tàu bè đều có chung một tín ngưỡng là thờ Thủy Thần, cụ thể như Cá Ông, Bà – Cậu, Quan Âm Nam Hải…cũng giống như ngư dân.
-Thờ cúng Cá Ông: Thờ Cá Ông là một tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của ngư dân vùng ven biển và các đảo. Hầu hết các làng chài đều có lăng miếu thờ cá ông, hay cá voi, còn gọi là “Nam hải đại tướng quân”. Tương truyền khi tàu ghe bị nạn, sắp chìm, cá Ông thường xuất hiện nâng đỡ, đưa tàu thuyền và người vào bờ thoát nạn. Truyền thuyết dân gian cũng kể rằng trên đường bôn tẩu, đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh đã nhiều lần được cá Ông, cá sấu và 2 con rái cá cứu thoát nạn nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong cho cá Ông tước hiệu Nam Hải đại tướng quân; phong cho đàn cá sấu là “Tân Ngạc ngư long” và hai con rái cá là “Lang lại nhị tướng quân”. Nghi thức Nghinh Ông giống như nghi thức cúng đình thần, cũng long trọng rước linh vị và sắc thần, chỉ khác nhau ở chỗ lễ hội Nghinh Ông diễn ra trên tàu ghe. Ý nghĩa của lễ hội Nghinh Ông thể hiện lòng tri ân và cầu mong cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, xóm làng sung túc, người ra khơi bình yên trở về, đánh bắt được nhiều cá tôm.
-Thờ cúng Bà – Cậu: Đây là tín ngưỡng phổ biến nhất của những người làm nghề hạ bạc và giới thương hồ ở Nam bộ. Hầu hết các ghe xuồng, tàu bè đều có bàn thờ Bà – Cậu với những kiêng kỵ, cúng kiếng thật chu đáo. Theo tín ngưỡng thờ Bà – Cậu, cư dân miền Trung vào Nam bộ đã chịu ảnh hưởng văn hóa của người Chăm, họ đồng hóa Bà Thiên y Ana với nữ thần sóng gió, tức Thủy Long. Nơi ở của Bà là Lục Cung Thủy Triều. Còn Cậu là cậu Trài (Tài) và cậu Quý “nhị vị công tử”, con trai của Bà, hóa thân từ Thiên y Ana.
-Thờ cúng Quan Âm Nam Hải: Quan Âm Nam Hải là điểm tựa tâm linh của ngư dân, của những người đi sông đi biển. Theo tín ngưỡng dân gian, Phật Quan Âm, mặt nhìn ra khơi luôn ứng hiện để cứu độ dân lành và giúp mọi người hướng thiện, có lòng thành vượt qua những khổ ải trầm luân. Có khi ngài hóa thành nghìn thân để cứu vớt chúng sinh, có khi hóa thành vị Phật nhiều tay, nhiều mắt để quan sát và lắng nghe lời khẩn cầu của thế gian.
Ngoài các tín ngưỡng trên, ngư dân còn thờ cúng cô hồn và cúng người tử nạn trên sông nước. Đặc biệt tại Đồng Tháp ngoài việc thờ Thành hoàng bổn cảnh, bà con còn thờ Đại Càn Quốc gia Nam hải và thường cúng vào tháng Chạp khi mùa đánh bắt vào vụ.
-Đối với thợ đóng ghe xuồng: Việc thờ cúng của thợ đóng ghe xuồng được coi là một nghi thức nhằm biểu hiện lòng tri ân đối với người khuất mặt và các vị thần hộ mạng. Các lễ cúng gồm có: Cúng ghim lô diễn ra khi đặt miếng ván dài đầu tiên từ đầu tới cuối mũi ghe; cúng lên nề khi chuẩn bị sửa chữa ghe xuồng (đại tu); cúng khai nhãn: sau khi đóng xong phần vỏ ghe, chủ và trại ghe làm lễ cúng cầu mong cho ghe thuyền đi đúng hướng, tránh được rủi ro và tai nạn; cúng hạ nề: sau khi đóng ghe xong, rút nề, thay bằng con lăn; cúng hạ thủy khi hoàn tất, đẩy ghe xuống nước; cúng xuất hành: sau Tết, chủ ghe chọn ngày lành tháng tốt cho ghe xuất hành bằng cách chạy một vòng qua khỏi bến cũ rồi quay lại. Sau đó, khởi hành lúc nào cũng được.
Hàng năm, thợ đóng ghe xuồng thường cúng Tổ vào ngày ngày 13 tháng 6 và 20 tháng Chạp. Đối với các chủ ghe thì cúng Bà Cậu vào ngày 14 và 23 hàng tháng. Trong khi đó người đi xe thường cúng cô hồn vào ngày mùng 2 và 16.
-Những điều kiêng kỵ: Ngư dân và người làm nghề sông nước rất tin tưởng vào Bà – Cậu, nơi trang thờ dưới ghe lúc nào cũng có dĩa trái cây, ba chung nước và thường xuyên nhang khói. Những người trên ghe không bao giờ dám xúc phạm, thậm chí không được nói những điều xui xẻo, nhảm nhí.
Những người đi sông, đi biển rất kiêng cử những lời độc địa chua cay, quái gở, đồng thời tránh dùng những tiếng úp, lật, rơi, rớt, đổ, ngã, sẩy, trở, lăn, té, nhào… Chủ ghe cũng tin vào các cổ lệ như ghe thuyền đóng xong, muốn xuất hành hay khởi công đều tránh giờ Mẹo vì đó là giờ sinh cùa Bà Cậu. Các chủ ghe và trại đóng ghe xuồng rất kỵ những ai sờ vào mắt ghe, nhất là người lạ mặt. Khi bán ghe, chủ ghe không bao giờ bán đòn dài và máng tát nước. Nếu bỏ nghề, có thể đem tặng cho người khác.
cung-ba-cau
Trên đường đi, người ngồi trên ghe xuồng kỵ gặp rắn và ngỗng lội trước mũi ghe, kỵ chở mèo và rùa (thậm chí tài công và chủ ghe cũng không ăn thịt mèo và rắn). Trái lại khi gặp chó lội ngang sông là điềm hên, gặp đom đóm bay nhiều là điềm tốt lành. Ngoài ra, khi ngồi trên thuyền làm cá lỡ để rơi con dao xuống nước, phải lặn mò cho được vì việc mất dao dưới đáy nước là điều cấm kỵ.
Một vài nơi còn giữ tục nhuộm lưới, xông lưới, dọn rửa ghe thuyền hoặc cúng vái để giải trừ xui xẻo mỗi khi gặp chuyện không may hoặc lỡ phạm vào điều cấm kỵ.
-Con mắt ghe – Một nét văn hóa độc đáo: Ghe thuyền vừa là phương tiện đi lại, làm ăn, vừa là công cụ gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống của cư dân vùng sông nước. Người đi sông đi biển lúc nào cũng coi ghe thuyền là vật linh và quan tâm đến việc trang trí con mắt ghe sao cho thật sinh động, giống như truyền linh hồn cho ghe. Tuy nhiên, mỗi vùng miền đều có một quan niệm khác nhau về con mắt ghe.
Có truyền thuyết cho rằng vẽ giống mắt thuồng luồng sẽ xua các loài thủy quái. Lại có truyền thuyết nên vẽ giống mắt chim ó, khiến thủy quái không dám lại gần. Người sống bằng nghề sông nước lâu năm chỉ cần nhìn vào hình dáng, màu sắc của con mắt ghe là biết được xuất xứ của ghe thuyền từ đâu đến. Chẳng hạn như ghe thuyền ở ĐBSCL thường vẽ mắt tròn, tròng đen, nhãn trắng, toát lên thần thái hiền hòa.
Ngoài con mắt ghe, thợ đóng ghe thuyền còn tôn trọng những quy định thật nghiêm ngặt dù bất thành văn. Chẳng hạn như sau khi cúng ghim lô, miếng ván chuẩn đầu tiên đóng vào sườn ghe phải buộc vải đỏ, tuyệt đối không ai được nằm, ngồi trên miếng ván lô. Sau khi xong, chủ ghe thu lại những cây đinh hoặc bù lon đóng trên miếng ván lô cất kỹ, hoặc ném ra giữa sông rồi trám lại lỗ đinh bằng cây. Làm như thế sẽ không bị kẻ xấu hại. Có người nghĩ rằng nếu dùng đinh đóng lên miếng ván lô sẽ khiến cho thuyền dễ đụng, húc vào thuyền khác.
Mỗi người thợ đóng ghe thuyền đều có những kinh nghiệm và bí quyết riêng trong nghề. Bởi thế dân gian mới có câu “Làm ruộng ăn theo mùa. Làm ghe ăn theo mẹo”.
Tín ngưỡng và những kiêng kỵ trên tựu chung thể hiện tấm lòng cầu mong bình an đến với những người sống ở đầu sóng ngọn gió.

GHE XUỒNG VÀ NHỮNG TÍN NGƯỠNG VÙNG SÔNG NƯỚC NAM BỘ

Ghe xuồng vừa là phương tiện di chuyển chủ yếu vừa là nét văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ. Nói đến du lịch Nam Bộ nói chung và du lịch miền Tây nói riêng nếu đi du lịch mà không một lần tận hưởng cảm giác đi ghe xuồng trên sông thì chưa thực sự hiểu về Nam Bộ
GHE XUỒNG VÀ NHỮNG TÍN NGƯỠNG VÙNG SÔNG NƯỚC NAM BỘ

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GHE XUỒNG NAM BỘ
 

1.1    Khái niệm
  
 Ghe xuồng là phương tiện đi lại và vận chuyển chủ yếu của cư dân Nam Bộ do đặc tính sông ngồi chằng chịt ở đây. Nếu ai đã đến Nam Bộ thì sẽ thấy ở đâu có sông rạch là ở đó lại có mặt của ghe xuồng. Vậy ghe, xuồng là gì? Nó có từ bao giờ?
    Hiện nay, không có tài liệu nào cho biết ghe xuồng có từ năm nào, dáng dóc khởi thủy của nó ra sao nhưng nếu quan sát thực tế ta có thể thấy sự khác biệt của ghe xuồng như sau:
    Ghe là tất cả những phương tiện di chuyển trên sông, thường có mui và thường có trọng tải lớn trên 25 giạ lúa trở lên (khoảng từ 500 kg đến hằng trăm tấn), thường di chuyển ở cự li xa. Trước mũi ghe được thợ đóng ghe làm 2 con mắt và sơn phếch giống như loài kình ngư dưới nước.
    Theo Huỳnh Tịnh Của (trích trong Ghe xuồng ở Nam Bộ của Nguyễn Thanh Lợi, tạp chí văn hóa dân gian, số 1, 2005) định nghĩa về xuồng như sau: “Ghe nhỏ, ghe làm chơn, thường dòng theo ghe lớn”. Xuồng là loại phương tiện chuyên chở nhẹ, có trọng tải nhỏ hơn từ 5 giạ lúa tới dưới 25 giạ lúa (khoảng 100 kg đến gần 500 kg), không có mui và thường di chuyển ở cự li gần.
    Từ “Ghe” theo giọng Hoa Nam, Quan Thoại là khả hoặc kha, ca, cưa. Thuyền khả là thuyền lớn. Biến âm thành ghe có nghĩa là thuyền lớn. Xuồng: xung (đồng) là thuyền nhỏ dùng để xung trận. Người Việt nói xuồng là loại thuyền nhỏ (xuồng ba lá). (Nguồn: TS. Đào NGọc Cảnh – Văn hóa, dân cư, môi trường Đồng Bằng Sông Cửu Long, 2014)

1.2    Phân loại
Ghe xuồng ở Nam Bộ rất đa dạng, phong phú với nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau.
Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, chức năng sử dụng và phương thức hoạt động mà ta có thể tạm phân chia ghe xuồng thành những loại khác nhau:
    Xuồng thường có các loại sau: xuồng ba lá, xuồng tam bản, xuồng vở gòn, xuồng độc mộc, xuồng câu tôm, xuồng bơi, xuồng máy, …Sau đây là đặc điểm của các loại xuồng phổ biến:
-    Xuồng ba lá: là tên gọi dựa trên cấu tạo của loại xuồng được ghép bởi ba tấm ván. Gồm có hai tấm ván be và một tấm ván đáy. Để xuồng được cứng chắc, người ta dùng những chiếc “cong” tạo thành bộ khung mô phỏng bộ xương sườn của cá. Mũi và lái xuồng ba lá có hình dạng không khác gì nhau. Trọng tải của xuồng ba lá được tính bằng kích cỡ của bộ ván be. Phổ biến là xuồng các cỡ từ khoảng be sáu đến be mười. Xuồng có số đo be càng thấp thì càng nhỏ, càng nhẹ, khả năng di chuyển cao, nhưng sức chở thấp, thích hợp làm phương tiện đi lại. Xuồng lớn có thể chở nhiều, nhưng di chuyển chậm nên thường được dùng để vận chuyển hàng hóa. Thường có chiều dài trung bình 4m, rộng 1m, sức chở từ 4-6 người.
-    Xuồng tam bản: Đây là tên gọi dựa trên đặc điểm cấu tạo.Tam bản xuất xứ từ tiếng Hoa “xam pản”, người Pháp phiên âm thành “sampan”. Giống như ghe câu nhưng lớn hơn, có 4 bơi chèo, dùng để chuyên chở nhẹ. Có loại thon dài, lại thêm mui ống, dáng đẹp. Số lượng tấm ván be không chỉ có 3 mà có thể là 5, 7, hoặc 9 tấm.
-    Xuồng vở gòn: Tên gọi “vở gòn” dựa trên hình dáng của xuồng trông giống với vỏ của trái gòn, kích thước nhỏ, kết cấu đơn giản (giàn đà, cong và ván be), kiểu dáng gọn nhẹ, chủ yếu để đi lại, chuyên chở, trao đổi, buôn bán.
-    Xuồng độc mộc: Tên gọi “độc mộc” xuất phát từ vật liệu làm ra chiếc xuồng chỉ bằng 1 loại cây than gỗ to, thuyền độc mộc của người Khmer được làm bằng cách chẻ dọc thân cây thốt nốt, khoét rỗng ruột. Một số được làm bằng gỗ sao, sến mua ở Campuchia, Lào.
-    Xuồng câu tôm: Được gọi theo chức năng dung để câu tôm, câu cá. Giống xuồng độc mộc của người Khmer, dùng giăng câu thả lưới ven sông rạch nhỏ.
-    Xuồng bơi: Được phân loại theo cách thức hoạt động, loại này có 2 mái chèo, lớn hơn xuồng tam bản.
-    Xuồng máy: được phân loại theo cách thức hoạt động, loại này có gắn máy nổ và chân vịt như xuồng máy đuôi tôm là loại phương tiện rất “cơ động”, phổ biến ở vùng sông nước này, nhất là trong giới thương hồ.
    Ghe thường có các loại sau: ghe bầu, ghe cửa, ghe lồng, ghe hàng bổ, ghe giàn, ghe be, ghe chài, ghe cà vom, ghe cá, ghe bè, ghe lưới, ghe cào tôm, ghe mỏ vạch, ghe cui, ghe ngo, ghe điệu, ghe hầu, ghe sai, ghe quyển, ghe lệ (ghe ô), ghe trẹt, ghe vợi, vỏ lãi, tắc rang,…Sau đây là đặc điểm của một số loại ghe phổ biến:
-    Ghe bầu: Tên ghe bầu bắt nguồn từ chữ “Prau” trong ngôn ngữ Mã Lai có nghĩa là thuyền buồm sau đó người Việt tiếp thu được từ người Chăm và đọc trại thành “ Bàu” hay “Bầu”. Ghe bầu là loại ghe lớn nhất, có mũi và lái nhọn, bụng bầu, độ ngấn nước sâu nên có khả năng ra khơi xa, có tải trọng tương đối lớn, chạy buồm (từ 1 đến 3 buồm), lướt sóng tốt và đi nhanh, có nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày, thường dùng đi đường biển. Bánh lái (kiểu lái cối, lái ống, lái âm dương...) đều có cấu tạo là sỏ lái xuyên trực tiếp vào bánh lái, mắt thuyền khắc hình dài, trước tròn, đuôi mắt dài nhọn... Trong “Địa chí Long An” có viết về ghe bầu như sau: “Loại ghe có tải trọng lớn, chạy buồm, có nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày. Trước đây, những nhà buôn lớn thường dùng ghe bầu chở gạo thóc từ miền Trung và mua vải vóc, hàng  hóa, lâm thổ sản từ miền Trung đưa vào Nam Bộ”. Trước năm 1945, hàng năm các lái buôn lớn từ miền Trung chở cá, mắm cá mòi, chủ yếu là nước mắm cá cơm của vùng Phan Thiết vào bán trong Nam, rồi mua gạo thóc chở ra bằng loại ghe này. Loại  ghe bầu lớn thường gọi là ghe trường đà…
-    Ghe cửa: Theo Nguyễn Thanh Lợi, Ghe xuồng ở Nam Bộ, tạp chí văn hóa dân gian, số 1,2005 có viết “nhỏ, mũi nhọn, nhảy sóng tốt, chạy buồm vững vàng; có thể ra vào các cửa sông dễ dàng, hay chở hàng đi men theo bờ biển.”. Vậy ta có thể nói “ghe cửa” là tên gọi được đặc theo đặc điểm vận chuyển là men theo các cửa sông, cửa biển của loại ghe này.
-    Ghe bản lồng:Là loại ghe lớn, đầu mũi dài, có mui vuông che mưa nắng, lòng ghe được ngăn thành từng khoang nhỏ để chứa các loại hàng hóa khác nhau. Loại ghe này dùng vận chuyển hàng hóa đi trên sông.
-    Ghe hàng bổ: Là loại ghe bản lồng nhỏ, sở dĩ có tên là  “hàng bổ” bởi vì nó có công dụng chở các loại hàng hóa đi bán rong tại các chợ nhỏ. Và những người buôn bán trong chợ thường gọi giai đoạn mua hàng từ đại lí là “bổ hàng” nên “ ghe hàng bổ” là ghe chở hàng đi bổ lại cho các chợ nhỏ.
-    Ghe giàn: Là loại ghe có kích thước khá lớn, hai bên hông ghe có đâm thêm cái giàn cao lên để chở được nhiều hàng hóa hơn và gọn hơn. Chính vì đặc điểm này nên có tên là “ghe giàn”.
-    Ghe be: Thuộc loại ghe lườn, có mui hoặc không mui, có thêm hai be bên sườn để tăng sức chở hàng hóa. Tên được đặt theo đặc điểm cấu tạo là có be ở hai bên sườn nên gọi là “ghe be”
-    Ghe chài: Là loại ghe lớn có sức chở nhiều nhất,  gồm nhiều mảnh gỗ ghép lại, có hai tầng. Ghe được chia làm hai phần, phần đầu chứa hàng hóa, phần sau là chỗ nghỉ cho người đi ghe. Một mui rời phía sau phòng lái dùng làm nơi tắm rửa, nấu cơm. Ghe có sức chở từ 150-200 tấn, xưa kia ghe chài thường có cả chục người chèo với kiểu chèo “neo” ngược chứ không như kiểu chèo ghe bình thường. Về sau, người ta dùng tàu kéo ghe chài và hiện tại máy móc đã thay thế hoàn toàn sức người. Tên gọi “ghe chài” bắt nguồn từ chữ “tuk pokchay” của người Khmer, “tuk” có nghĩa là ghe thuyền, còn “pokchay” nghĩa là chở nhiều trong tiếng Tàu giọng Triều Châu. Ta Việt hóa thành "ghe chài".
-    Ghe cà vom: Là loại ghe nhỏ, dài nhưng bề ngang hẹp, thường có chèo ở sau lái.
-    Ghe cá: Đặt tên theo chức năng chở cá đi bán, là loại ghe chuyên chở cá đồng đi bán. Trong ghe người ta luôn giữ mực nước trong ghe cân bằng với mực nước sông bên ngoài để giữ cá luôn sống và ghe cũng luôn vững.
-    Ghe bè: Là loại ghe lớn giống với xà lan nhưng đóng theo kiểu nhà ở, tải trọng lớn chở được nhiều hàng hóa, có mui vững chắc, người chèo chống đi được trên mui ấy như đi trên đất bằng và thường tụ tập nhau lại thành đoàn và từ đó hình thành nên một số cái tên như: Cái Bè, Nhà Bè.
-    Ghe lưới: Là loại ghe dùng để đi đánh lưới của người Khmer, nhìn khá giống với xuồng độc mộc, thân dài, thon, mũi nhọn.
-    Ghe cào tôm: Là loại ghe được người dân dung để cào tôm vào ban đêm có đầu mũi và lái bằng phẳng, có bánh lái cặp bên hông ghe, thuộc loại ghe nhỏ.
-    Ghe mỏ vạch: Tên là “mỏ vạch” vì hình dáng của mũi của ghe vớt cao lên giống với cái vạch của máy may quần áo. Dáng ghe cao ráo.
-    Ghe cui: Là loại ghe thô sơ, ngắn, mũi và lái bằng, thường dùng để chở lá lợp nhà, chở củi.
-    Ghe ngo: Ghe ngo ngày xưa là một chiếc thuyền độc mộc, làm từ một thân cây, khoét ruột. Ngày nay, việc tìm thân cây sao vừa to vừa dài để đóng ghe rất khó khăn nên người Khmer làm ghe ngo bằng cách ghép những mảnh ván với nhau. Ghe ngo có chiều dài từ 10m trở lên. Ghe không mui, ở đầu mũi chạm hình rồng, rắn, phụng, lân hoặc voi, sư tử, ó biển. Ở giữa chỗ rộng nhất là 1,1m. Đầu được uốn cong lên, như hình đầu rắn. Ở đuôi (sau lái) cũng được uốn cong lên nhưng cao hơn phía đầu một chút. Người ta đóng từ 24 đến 27 cây thanh ngang trên chiếc ghe, để vừa cho hai người ngồi. Mỗi ghe làm phải đảm bảo cho từ 40 đến 60 người ngồi bơi và chỉ huy. Ghe ngo là loại ghe của người Khmer được dùng để thi tài đua trong các dịp lễ hội, cái tên bắt nguồn từ chữ “tuk ngua” trong tiếng Khmer và được Việt hóa thành “ghe ngo”.
-    Ghe điệu:  Mũi lái chạm trổ, kèo mui thường sơn son thếp vàng, bên trong lót ván trơn bóng, có chỗ nấu nướng, đủ tiện nghi được sử dụng bởi tầng lớp giàu có khi xưa.
-    Ghe hầu: Là loại sang trọng của các quan lại (cai tổng, tri phủ, tri huyện,..) xưa kia dùng để đi chơi, thưởng ngoạn, ghe được sơn son thếp vàng, đầu rồng đuôi phụng, trước mũi có hai chèo, mui ghe lộng lẫy, bên trong trang trí rất đẹp như một phòng khách trên nhà, bố trí chiếu bông nẹp điều, gối dựa bằng vải màu sặc sỡ, đồ lệ bộ, ống điếu bình, văn án thấp…Ban đầu chỉ có loại quan chức mới đi loại ghe này, về sau các nhà giàu có, dư dả cũng đua nhau sắm ghe hầu.
-    Ghe sai: còn gọi là ghe khoái, nhỏ, chèo nhẹ, dùng vào việc quan. Được các quan sai sử dụng.
-    Ghe quyển: Có mui che từ đầu đến cuối ghe, dùng để chở quân lính xưa kia.
-    Ghe lệ: Là loại ghe của nhà nước thời xưa, dùng chở quan binh, quân cụ và dùng cho việc binh. Những chiếc dành cho chỉ huy thường được chạm trổ toàn thân rất tinh xảo. Loại này thường được sơn đỏ nên cũng gọi là ghe son hay ghe vẹm.
-    Ghe trẹt: Là loại phương tiện di chuyển trong các kinh rạch cạn, ít có sóng gió, rộng bề ngang và bề dài không dài lắm, đáy cạn, bề ngang mũi và lái bằng nhau cũng vì đặc điểm này mà có tên là “trẹt” nghĩa là bằng phẳng, dùng để chở trâu, bò hay làm đò đưa khách qua sông,…

-    Ghe vợi: Là loại  ghe nhỏ, cột theo sau những chiếc ghe lớn để chuyển hàng hóa vào bờ.  Dân gian gợi là ghe dợi, thường có từ một đến ba cánh buồm. Các ghe vợi này ngày xưa tụ tập quanh các ghe bầu, thuyền buôn lớn để nhận hàng, xuất hàng.
-    Vỏ lãi: Vỏ lãi hay còn gọi là vỏ tắc ráng hay vỏ vọt, là tên một loại thuyền máy, hoặc xuồng, ghe nhỏ và dài hình thoi, thường làm bằng gỗ và gắn thêm máy, là phương tiện di chuyển chủ yếu và phổ biến ở Nam Bộ, được ví như xe gắn máy chạy trên sông. Với đặc tính chạy nhanh với tốc độ cao như cano, thân hình thon, dài, dễ luồng lách trong những kênh rạch nhỏ vỏ lãi được sử dụng để chở người, hàng hóa buôn bán, rước dâu, du lịch tham quan,… Tên gọi Tắc Ráng đã được dùng làm tên gọi cho chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm (máy Kholer 7) đầu tiên xuất hiện tại miền Nam vào năm 1960 tương truyền là do ông Năm Cải hay ông Chín Sum thực hiện đầu tiên tại xóm Tắc Ráng, thuộc khóm Vĩnh Viễn, xã Vĩnh Hiệp, Rạch Giá. Từ đó, “tắc ráng” được đặt là tên của loại phương tiện này.
    Ngoài ra, tuỳ vào mục đích sử dụng mà ghe xuồng ở Nam Bộ có những tên gọi khác nhau, như dùng để giăng câu thì gọi là xuồng câu ; đánh bắt thì có ghe lưới, ghe đáy; đưa khách trên sông thì gọi ghe đò (đò ngang, đò dọc; đò chèo, đò đạp, đò máy) ; dùng buôn bán hàng hóa thì có ghe hàng…

1.3    Phương thức hoạt động
  
 Từ xưa luật lệ lưu thông của ghe xuồng trên sông đã được đặt ra. Theo Ghe xuồng ở Nam Bộ của Nguyễn Thanh Lợi, tạp chí văn hóa dân gian, số 1, 2005 có đoạn viết “phàm ghe thuyền đi bất luận gặp gió nước thuận hay nghịch, khi đi gần gặp nhau thì phải hô là “bát” (tục thường ghe đi phía tả gọi là “cạy”, đi phía hữu gọi là “bát”) thì ghe mình đi qua phía hữu, để cho thuận lái, thuận sào để điều khiển mà tránh nhau. Nếu ghe nay đã hô “bát” mà ghe kia còn đi tới phía tả không tránh để cho đụng nhau hư hỏng, thì lỗi ấy về ghe không tránh kia. Lại trong trường hợp ấy có kẻ biện chiết chưa chịu khuất phục, thì phải xét ghe nào chở nhẹ hơn và đi thuận dòng nước, thừa thế ấy chạy mau phải đụng ghe kia, thì ghe ấy bị lỗi”. Như vậy, khi lưu thông trên sông ghe xuồng sẽ đi bên phải của mình, nếu muốn vượt phải vượt bên trái khi đi cùng chiều. Khi va phải nhau họ sẽ căn cứ vào sức chở, hướng của dòng nước để xét đúng, sai.
    Vào thời Nguyễn Cư Trinh, “áp dụng quy chế vận hành đường sông đương thời quy định rất chặt chẽ, những chiếc ghe thương hồ nhất thiết phải tô màu và khắc địa danh vào mũi để tiện bề kiểm soát” ( Trích TS. Đào Ngọc Cảnh – Văn hóa, dân cư, môi trường Đồng Bằng Sông Cửu Long, 2014).
Ghe ai đỏ mũi, xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?
Tàu Nam Vang mũi đỏ,
Ghe Sa Đéc mũi đen,
Em ở chi nước rẫy, nước phèn,
Theo anh về chợ đốt đèn măng xông.
    Cũng theo Nguyễn Thanh Lợi vào khoảng năm 1920, chính quyền thuộc địa đã quy định về cách đánh số ghe như sau:
“Gia, Châu, Hà,
Rạch, Trà, Sa, Bến,
Long, Tân, Sóc, Thủ, Tây, Biên,
Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc”
    Theo đó tương ứng Gia Định số 1 và kết thúc là Bạc Liêu số 20. Hoặc sơn màu ở mũi ghe để phân biệt.
    Trước năm 1954, ở Nam Bộ ghe xuồng chủ yếu hoạt động nhờ sức người chèo chống. Để chèo và bơi thì người ta sử dụng một dụng cụ được gọi là “dầm”, đây là dụng cụ được làm bằng cây, đầu trên tay cầm nhỏ và đầu dưới to, dẹp để đẩy nước giúp xuồng, ghe đi nhanh. Bơi là khi người ta sử dụng một dầm để lái và giúp xuồng di chuyển, người lái ở tư thế ngồi tuy nhiên chỉ di chuyển với tốc độ chậm để tăng tốc người ta đã kết hợp bắt chéo 2 chiếc dầm lại với nhau tạo thành cái “chèo” người lái chỉ cần dùng tay đẩy ra trước sau đó kéo ra sau là xuồng, ghe sẽ lướt nhanh chóng, người lái sẽ ở tư thế đứng. Chống ghe xuồng người ta sử dụng một dụng cụ là “sào” được làm bằng cây tre thẳng, dài đã chặt hết nhánh. Tư thế chống là ở thế đứng, giúp ghe xuồng đi nhanh hơn nhưng chủ yếu sử dụng ở kênh rạch, sông ở độ sâu thấp, vừa phải.
    Hiện nay, để kiểm soát lưu thông đường thủy nước ta đã ban hành luật giao thông đường thủy nội địa như sau:
    Theo Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-VPQH năm 2014 hợp nhất Luật giao thông đường thủy nội địa do Văn phòng Quốc hội ban hành có định nghĩa: “Hoạt động giao thông đường thủy nội địa gồm hoạt động của người, phương tiện tham gia giao thông vận tải trên đường thủy nội địa; quy hoạch phát triển, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ giao thông đường thủy nội địa và quản lí nhà nước về giao thông đường thủy nội địa.”. Và để hoạt động trên đường thủy thì phương tiện tức ghe, xuồng phải đảm bảo thân chắc chắn, không bị rò nước vào bên trong; phương tiện cần phải thắp 1 đèn có ánh sang trắng để ở nơi dễ nhìn nếu hoạt động vào ban đêm, phương tiện chở người phải có đủ chỗ ngồi, áo phao, dụng cụ cứu sinh; nếu có lấp máy thì máy lắp trên phương tiện phải chắc chắn, an toàn, dễ khởi động và hoạt động ổn định; phương tiện phải được kẻ hoặc gắn số đăng kí, ghi số lượng người được phép chở trên phương tiện; phương tiện phải được sơn vạch mớn nước an toàn và khi chở hàng chở người không được ngập qua vạch mớn nước an toàn.
    Khác với trước kia, việc kiểm soát phương tiện được thực hiện bằng cách đăng kiểm, số đăng ký sẽ được vẽ trên ghe, số đăng ký gồm 2 nhóm: nhóm chữ và nhóm số. Trong đó, nhóm chữ là tên viết tắt của tỉnh thành nơi chủ phương tiện đăng ký thường trú; nhóm số gồm 4 số được đánh từ 0001 đến 9999 nếu trường hợp số lượng phương tiện đăng kí ở tỉnh đó lớn hơn vượt qua 4 chữ số thì được đánh đến 5 số. Ví dụ như: AG-9999 có nghĩa đây là ghe ở An Giang.
    Theo Luật đường thủy nội địa 2004 số 23/2004/QH11 quy định:
Người lái phương tiện phải phải đủ 18 tuổi trở lên và không vượt qá 55 đối với nữ và 60 đối với nam; có chứng nhận đủ sức khỏe của cơ quan y tế và biết bơi; có chứng chỉ lái phương tiện. (Các quy định này không áp dụng đối với xuồng và phương tiện thô sơ)
    Về cách thức di chuyển trên sông như sau:
-    Phương tiện đi ngược nước phải tránh và nhường đường cho phương tiện đi xuôi nước. Trường hợp nước đứng thì phương tiện nào phát tín hiệu xin đường trước thì phương tiện kkia phải tránh và nhường đường.
-    Phương tiện thô sơ phải tránh và nhường đường cho phương tiện có động cơ, phương tiện có động cơ công suất nhỏ phải nhường đường động cơ có công sức lớn.
-    Mọi phương tiện phải tránh bè, các phương tiện có tín hiệu mất chủ động, phương tiện bị tai nạn.
-    Phương tiện có động cơ nào nhìn thấy phương tiện có động cơ bên mạn phải của mình thì phải tránh và nhường đường cho phương tiện đó.
    Hiện nay, máy móc dần thay thế sức người ghe xuồng hầu hết chạy bằng máy, nhanh, tiện lợi và đi được xa hơn.

1.4    Ghe xuồng trong đời sống của văn hóa của người dân Nam Bộ
    
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.”. Vì vậy, giá trị của ghe xuồng trong đời sống văn hóa của người dân Nam Bộ thể hiện ở hai khía cạnh vật chất và tinh thần.
1.4.1Ghe xuồng trong đời sống văn hóa vật chất
    
Theo Từ điển Khoa học xã hội (Anh - Pháp - Việt) (2002), NXB TP. HCM, thì văn hóa vật chất (material culture) bao gồm toàn bộ các vật thể hay đồ tạo tác của một xã hội. Vậy vai trò ghe xuồng trong đời sống văn hóa vật chất là đề cập đến những công dụng thiết thực của ghe xuồng trong đời sống.
    Để thích nghi với điều kiện địa hình vùng sông nước từ xưa ghe xuồng đã là là phương tiện đi lại sinh hoạt và mua bán của cư dân Nam bộ dù hiện nay quá trình hiện đại hóa diễn ra, hệ thống đường bộ được xây dựng khang trang, nhiều loại xe đường bộ ra đời nhưng vẫn không thể nào thay thế được sự tồn tại của ghe xuồng ở đây. Trong sinh hoạt hằng ngày ghe xuồng là phương tiện đi lại của người dân, họ có thể sử dụng ghe xuồng để đi chợ, đi thăm hỏi người thân, bạn bè, đưa bọn trẻ đến trường hay đưa cô dâu về nhà chồng trong đám cưới đám hỏi thế nên mới có câu “ Phận gái thuyền quyên” đời người con gái được ví như chiếc thuyền xuôi ngược đi tìm bến đỗ cho đời mình, dù bến đục, bến trong vẫn một lòng một dạ, thủy chung son sắc hay dùng cụm từ “ sang sông”, “ván đã đóng thuyền” để chỉ người phụ nữ đã lấy chồng, không những trong đám cưới, đám ma ghe là phương tiện chở người chết đi an táng nếu chỗ an toán không gần nhà,…Trịnh Hoài Đức ghi nhận: “ Ở Gia Định, chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền để làm nhà ở, hoặc để đi chợ, hoặc để đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo củi đi buôn bán rất tiện lợi. Ghe thuyền chật sông, ngày đêm đi lại không ngớt, cho nên nhiều khi đụng chạm nhau, bị hư hại rồi sinh ra kiện cáo” (Trích TS. Đào Ngọc Cảnh, Văn hóa, dân cư, môi trường Đồng Bằng Sông Cửu Long, 2014)
Nước ngược anh bỏ sào xuôi,
Khúc sông bỏ vắng có người sầu riêng.
Chiều chiều con nước lên cao,
Thuyền anh cập bến, cắm sào thăm em.
Hay
Chưa chồng ở vậy cho yên,
Đặng anh dọn chiếc thuyền quyên cưới về.
Đưa dâu thì đưa bằng ghe,
Đừng đưa bằng bè ướt áo cô dâu.
    Ghe xuồng cũng là công cụ phục vụ cho đời sống lao động sản xuất, người dân Nam Bộ sử dụng ghe xuồng để đánh bắt thủy hải sản phục vụ cho bữa ăn hằng ngày hoặc đem ra chợ bán do Nam Bộ có nhiều sông rạch với nguồn cá tôm dồi dào nên người dân dùng chiếc ghe, chiếc xuồng của mình để đánh bắt cá tôm: câu tôm, câu cá, giăng lưới, cất vó, đặt lọp, xây nò, đóng đáy cọc, chài lưới, thả câu...hoặc đi thăm đồng ruộng ở xa, chở đất đấp đê,…
Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Thằng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò.
Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Bà Lữ đi xúc con dâu đi mò.
    Ghe xuồng không chỉ là phương tiện đi lại, công cụ để lao động sản xuất mà những chiếc ghe, chiếc xuồng còn là nơi cư trú hằng ngày của một số cư dân ở đây. Họ sử dụng ghe xuồng vừa là phương tiện buôn bán mưu sinh, vừa là nhà ở có thể di chuyển. Một hình thức mưu sinh khác chính là nhà bè, bè được sử dụng để nuôi cá và làm nhà để ở nhưng thường cố định không di chuyển. Những cư dân sống trên ghe xuồng, trên bè tập trung lại thành những làng ghe, làng bè và họ xem nhau như hàng xóm giống với xóm làng trên bờ.
Nhà bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.
Ai về Gia Định thì về,
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
    Hoạt động thương nghiệp, từ xưa nơi đây đã sử dụng ghe, thuyền làm phương tiện buôn bán. Khi xưa, thuyền được đóng với kích thước lớn, có cánh buồm, vượt đại dương đi buôn bán hình thành nên các thương cảng sầm uất. Trước năm 1776, Thương cảng Cù Lao Phố (Nông Nại đại phố) ở Biên Hòa là thương cảng lớn nhất vùng Đồng Nai – Gia Định do những thương nhân người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào gây dựng nên. Trong Gia Định thành thông chí (1820) có đoạn mô tả “Đại phố nằm trên bờ sông là một đô hội lớn, liền lạc 5 dặm, phân ra ba nhai lộ: nhai lộ giữa phố lát đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lát đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết”. Ngoài ra, còn một số thương cảng hình thành vào thế kỷ XVIII như Batsac ở Bãi Xàu (Mỹ Xuyên, Sóc Trăng ngày nay), Hà Tiên, Mỹ Tho đại phố,…Cuối thế kỷ XVIII, Sài Gòn trở thành trung tâm thương mại lớn nhất nước ta, tàu buôn, ghe thuyền lớn nhỏ đều hội tụi đông đúc ở đây “ Gia Định là chỗ đô hội thương thuyền của các nước, cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội ở đây”.(Trích Gia Định thành thông chí, 1820). Hiện nay, loại hình giao thương chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ là chợ nổi toàn bộ hoạt động đều diễn ra trên sông nước, một số chợ nổi nổi tiếng như: Cái Răng (Cần Thơ), Phụng Hiệp (Hậu Giang), Cái Bè (Tiền Giang), Long Xuyên (An Giang),…là nơi hàng trăm ghe xuồng tụ tập buôn bán hàng hóa nông sản, các món ăn , thức uống, quần áo,…Chợ nổi là nơi dân thương hồ lui tới mưu sinh và ghe hàng là phương kế mưu sinh phổ biến ở đây.
    Ngoài ra ghe xuồng còn là phương tiện giao thông phục vụ trong hoạt động du lịch, một số loại hình du lịch có sử dụng ghe xuồng để chở khách du lịch như: du lịch tham quan chợ nổi (chợ nổi Cái Bè, Trà Ôn, Cái Răng, Phong Điền, Phụng Hiệp,Ngã Năm, Cà Mau,…), du lịch mùa nước nổi, du lịch khám phá miệt vườn sông nước Cửu Long, tham quan các rừng ngập mặn, các bãi bồi ven sông, khám phá các cù lao, cồn, homestay tìm hiểu văn hóa ghe xuồng trong đời sống cư dân Nam Bộ, tham quan làng nghề đóng ghe xuồng,…

1.4.1Ghe xuồng trong đời sống văn hóa tinh thần
    
Theo Từ điển Khoa học xã hội (Anh - Pháp - Việt) (2002), NXB TP. HCM, “văn hóa tinh thần (intellectual culture) hay còn gọi là văn hóa phi vật chất, bao gồm những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục tập quán, các giá trị về văn học, nghệ thuật, ẩm thực, chuẩn mực đạo đức”. Về giá trị của ghe xuồng trong đời sống tinh thần có thể đề cập đến một số giá trị sau đây:
    Trong tín ngưỡng dân gian, những người thợ đóng ghe xuồng có lễ cúng Tổ được vào ngày ngày 13 tháng 6 và 20 tháng Chạp; Lễ ghim lô được diễn ra khi đặt miếng ván dài đầu tiên từ đầu tới cuối mũi ghe; Cúng lên nề khi chuẩn bị sửa chữa ghe xuồng (đại tu); Cúng khai nhãn diễn ra sau khi đóng xong phần vỏ ghe, chủ và trại ghe làm lễ cúng cầu mong cho ghe thuyền đi đúng hướng, tránh được rủi ro và tai nạn; Cúng hạ nề: sau khi đóng ghe xong, rút nề, thay bằng con lăn; Cúng hạ thủy khi hoàn tất, đẩy ghe xuống nước; Cúng xuất hành: sau Tết, chủ ghe chọn ngày lành tháng tốt cho ghe xuất hành bằng cách chạy một vòng qua khỏi bến cũ rồi quay lại,…Những người làm nghề hạ bạc hoặc dân thương hồ họ có tục thờ cúng Bà Cậu trên sông rạch và Quan  Âm Nam Hải trên biển với niềm tin là Bà Cậu, Quan Âm Nam Hải sẽ giúp họ mua mai bán đắt và bình an trên sông nước hoặc trên biển, họ còn cúng cô hồn, những người tử nạn trên sông để những linh hồn này không quấy nhiễu họ trong lúc đi đường và làm ăn. Ngoài ra, những người đi ghe xuồng còn có một số điều kiên kỵ khi lưu thông trên sông nước.
    Trong văn học dân gian, người dân Nam bộ thường có thói quen dùng lối nói ví von, mượn các hình ảnh quen thuộc của đời thường gần gũi để thông qua đó nêu lên chủ đề mình định nói vì thế chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh ghe xuồng trong các câu ca dao, câu đố, câu hò (hò chèo ghe, hò mái đoản, hò mái nhì, hò mái trường, hò khoan, hò mái ố, hò Đồng Tháp, hò Sông Hậu…),vè (Vè đánh lưới, Vè đi biển, Vè lái rỗi, Vè đường sông Lục Tỉnh, Vè thương hồ…)…nói về những hoạt động sản xuất hằng ngày, tình cảm gia đình hay những chàng trai, cô gái thường mượn hình ảnh ghe, xuồng để trêu ghẹo, bày tỏ nỗi lòng của mình cho đối phương. Ví dụ như:
Ca dao:
Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.

Bớ chú lái ghe, đừng ve cô bán cá
Để cô đi về, tía má cô trông.

Bước xuống ghe, lòng buồn khắc khoải
Thương em ở nhà dầu dãi nắng mưa.

Chồng chèo thì vợ cũng chèo,
Hai đằng đã nghèo lại đụng lấy nhau.
Hay           
            Chèo ghe sợ sấu cắn chưn (chân),
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.
Câu đố:
Làm bằng gỗ, nổi trên sông, có buồm giăng, nhanh tới bến?
Đường gì tàu chạy sóng xô
Mênh mông xa tít không bờ bạn ơi?
Thơ ca, câu hò:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay.(Hàn Mặc Tử)

Hò ơi…Từ xóm chợ xuôi dòng nước biếc,
Ngồi một mình trên chiếc xuồng con.
Anh nhìn hoài trên đám mạ non,
Sao không đi sớm, anh còn đợi ai?.
    Trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, định danh sự vật, hiện tượng, con người Nam Bộ cũng sáng tạo vô số từ ngữ liên quan đến ghe xuồng. Việc đi nhờ phương tiện của người khác dù không phải bằng ghe xuồng trên sông cũng dùng từ “quá giang”, từ “chèo, chống” là hoạt động khi sử dụng ghe xuồng nhưng cũng được hiểu là sự vất vả khi đối phó với những khó khăn trong cuộc sống, “ sang sông, ván đã đóng thuyền” chỉ người con gái đã lấy chồng, “chìm xuồng” thể hiện một sự việc bị giấu nhẹm, “ thuận buồm xuôi gió” để chỉ mọi chuyện thuận lợi,…Ghe xuồng cũng gắn với các địa danh như: Cái Bè, Nhà Bè.
    Ngoài ra, “ Mắt ghe” là một biểu tượng văn hóa độc đáo. Tục vẽ mắt ghe không chỉ ở Nam Bộ mà ở cả Việt Nam và trên thế giới đều có tục lệ này. Theo tương truyền tục vẽ mắt ghe xuất phát từ quan niệm dân gian xem ghe, thuyền là những sinh vật dưới sông, dưới biển có truyền thuyết cho rằng vẽ giống mắt thuồng luồng sẽ xua đuổi được các loài thủy quái. Lại có truyền thuyết nên vẽ giống mắt chim ó, khiến thủy quái không dám lại gần. Người sống bằng nghề sông nước lâu năm chỉ cần nhìn vào hình dáng, màu sắc của con mắt ghe là biết được xuất xứ của ghe thuyền từ đâu đến vì mỗi địa phương sẽ có cách vẽ mắt ghe, thuyền khác nhau. Riêng ghe, thuyền Nam Bộ nhìn chung mắt ghe thường là mắt tròn hoặc hơi oval, tròng đen, nhìn thẳng, tròng đen to, trông hiền hòa, như tính cách của người dân vùng này.

1.5    Nghề đóng ghe xuồng
    
Từ cuối thế kỉ thứ 18, ở đất Gia Định – Đồng Nai, ngành đóng và sửa chữa tàu thuyền đã ra đời, phục vụ cho nhu cầu vận chuyển đường thủy ngày càng lớn ở vùng đất này. Theo sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tr.239 có đoạn viết “ Ở ngã ba sông Nhà Bè thuộc huyện Phước Long, tục gọi là Thương Đà, trước kia tàu thuyền ở phương Bắc đến buôn bán mà bị rò rỉ, hư hỏng cần phải sửa sang hoặc đóng thuyền mới đều phải đến đây”. Nghề đóng và sửa chữa ghe xuồng là nghề rất quan trọng và được chuyên môn hóa cao, các thợ giỏi quy tụ vào các trại làm ghe hoặc trại sửa chữa ghe có nhiều nơi còn hình thành nên các làng nghề đóng ghe xuồng. Các làng nghề đóng ghe xuồng có thể kể đến như: Ngã Bảy, Phụng Hiệp (Hậu Giang), Cái Răng (Cần Thơ), Long Hậu, Lai Vung (Đồng Tháp), Cần Đước (Long An), Mỹ Hiệp (An Giang),…đã và đang tạo việc làm cho hàng trăm người lao động, tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ và góp phần gìn giữ nghề truyền thống không bị mai một.
    Nghề đóng ghe xuồng đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, sự khéo léo, cũng như kỹ thuật riêng, để tạo nên những chiếc ghe, chiếc xuồng vừa đẹp, vừa chắc, vừa cân bằng tuyệt đối…  để hoàn thiện một chiếc ghe, chiếc xuồng, người thợ phải làm qua các công đoạn nghiêm ngặt. Mùa đóng xuồng cao điểm nhất là từ đầu tháng 4 âm lịch đến khoảng rằm tháng 5 trở đi. Và khoảng cuối tháng 8 âm lịch, nhịp độ đóng xuồng chậm lại. Ngay từ tháng 2, tháng 3 âm lịch, các cơ sở đã chuẩn bị mua cây, mua gỗ, vật liệu sẵn. Xuồng được làm từ loại gỗ tạp như xoài, gáo, sầu riêng... cũng được cưa xẻ ra ván đóng xuồng. Tuy nhiên, ghe vẫn được đóng bằng sao sông lớn, kiền kiền, gỗ tạp trên rừng hoặc các loại gỗ khác theo yêu cầu của người đặt hàng. Từ việc cung cấp gỗ nguyên liệu để đóng xuồng, ghe đã hình thành nhóm chợ chuyên mua cây đứng, cưa hạ gỗ và móc gốc.Gốc cây, nhất là loại cây sao vườn, thịt chắc dùng để làm cong xuồng hoặc làm đùi, đà. Cây được mua về để ngăm dưới sông cho chắc gỗ, tránh bị mọt hư hại sau đó đem lên cưa lườn, rọc be.
    Qui trình đóng xuồng bao gồm các bước như sau: Sau khi chọn được gỗ người thợ sẽ tiến hành cưa gỗ ra thành nhiều kích cỡ khác nhau sao cho phù hợp với dáng xuồng cần đóng sau đó bào nhẵn sao cho mặt gỗ trơn bong, góc cạnh phù hợp, tiếp theo người thợ sẽ đo cắt theo gập để tạo thành những tấm be của chiếc xuồng, các mẫu gập đã ấn định hình dáng và kích thước của chiếc xuồng người thợ khi đó chỉ cần vạch mực để lấy đường cong cho chuẩn trên mặt ván. Sau khi kẻ gập người thợ sẽ cắt gập theo mẫu tạo thành những tấm be cong, có kích thước phù hợp, có nơi người thợ hông gỗ trên lửa để tạo độ cong chứ không dùng gập. Công đoạn kế tiếp là bỏ mực tấm tiếp, be, uốn lô rồi chặt mẫu lô; ghim lô (dính vô 2 đầu tấm tiếp), đóng chốt (tức chặt đầu dù của loại đinh dài khoảng 4 phân). Xong, ghim chốt vô tấm tiếp (khoảng 2/3 đinh); vô vỏ dưa tức vô be xuồng, thường có 3 đôi gồm 6 lá be: đôi be đáy (cặp 2 bên tấm tiếp), đôi be kềm (kế be đáy), đôi be vành (trên cùng); ngán 2 đầu vỏ dưa; dằn cong – câu miệng; rọc cong, khóec lỗ dù, chặt góc; sắp cong vào lòng vỏ dưa, phân đoạn cho đều khoảng từ mũi tới lái (12 dây cong hoặc 14 dây cong tùy theo xuồng nhỏ hoặc lớn căn cứ theo bề hoành của xuồng) đóng đinh; ráp bửng, then, kỷ (còn gọi la trỉ) ở mũi và lái; đóng sạp; đẻo mũi, đẻo lái, cắt đầu cong; dọn thành phẩm bằng cách lật  úp xuống rồi dậm đinh (đóng đinh bổ sung thêm); lăng lưng xuồng (bào theo đường hèm cho êm, khích, bóng và đẹp); dẫy mỏ be (cả 2 đầu mũi, lái); trét chai; lấy loại chai bả bằng bố tời, bằng bả cho bong ra, nhuyền nhừ. Đoạn, trộn bả với chai bột (như bột xi măng), trộn đều, chế dầu trong cho loãng hoặc sền sệt rồi nấu sôi, trộn đều cho tới khi nở chai, mới nhắc nồi chai xuống để nguội, … Vít chai nấu ra, rắc thêm chai bột vào rồi đập đến khi chai nhừ kéo được thành sợi vừa dai mà không còn bả… thì mới đạt yêu cầu. Người ta trét chai theo đường hèm, theo dây cong (cả trong lẫn ngoài xuồng). Cuối cùng, còn phải lấp vò, nghĩa là lấy chai bột ngâm với dầu trong, đem phơi nắng hoặc nấu cho nở chai (nhưng nấu không tốt bằng phơi nắng). Xong, đem chai lấp vò xuồng bằng cách lấy sơ dừa phết phía trong và phía ngoài chiếc xuồng. Như vậy, lấp vò là dùng chai áo bên ngoài, có tác dụng không để nước thấm vào be.
    Qui trình đóng ghe cũng tương tự bao gồm các công đoạn: Gác tiếp, ghim lô, xây mê, lên giàn đà, làm con lươn, vô be vành, đóng giàn cong, gác then, ấp khẩu, xây chậu mũi, xây chậu lái, làm mũi, làm lái, làm mui, làm hầm, sau cùng làm xảm trét. Tuy nhiên, còn một công việc khá quan trọng trong đóng ghe đó là vẽ mắt ghe, người ta sẽ chọn người thợ nhanh nhẹn, mai mắn, phúc hậu,… để vẽ mắt ghe với quan niệm sẽ giúp cho chủ ghe mai mắn, mua mai bán đắc.
    Ngày nay, từ việc đóng những chiếc ghe, xuồng đơn giản đến quy trình đóng những loại tàu trọng tải lớn đều được hỗ trợ bởi các loại máy móc và phương tiện kỹ thuật hiện đại, có quy trình sản xuất và kiểm tra chất lượng theo các tiêu chuẩn phù hợp. Chất liệu cũng được dần dần thay thế từ các loại gỗ sang sử dụng chất liệu composite để những chiếc ghe, xuồng có thể nhẹ nhàng lướt trên sông rạch với tốc độ nhanh hơn, kiểu dáng cũng đẹp mắt hơn.

 
Chương 2: TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VÙNG SÔNG NƯỚC NAM BỘ

2.1 Khái niệm tín ngưỡng và lễ hội dân gian
    
Hầu hết các lễ hội đều bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
    Về tín ngưỡng, trong từ điển Hán-Việt, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó.
    Theo pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, số: 21/2004/PL-UBTVQH11 có định nghĩa “hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”.
    Vậy ta có thể hiểu rằng tín ngưỡng là niềm tin đến mức ngưỡng mộ của con người vào một đối tượng nào đó có thể là một tôn giáo hay một nhân vật lịch sử nào đó với mong muốn sẽ đem lại những điều tốt đẹp nhất đến với họ. Tín ngưỡng có một số đặc điểm như sau:
- Tín ngưỡng được hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở lý luận chưa chặt chẽ, thiếu tính hệ thống. Cho nên tín ngưỡng phần lớn mang tính dân gian, gần gũi với đời thường và phần nghi lễ được thể hiện đơn giản, không bắt buộc đối với người theo.
- Niềm tin không trở thành đức tin mà niềm tin ấy mang tính huyễn hoặc, mờ ảo, không rõ ràng mà dựa vào sự cảm nhận của chủ thể tín ngưỡng.
- Mang tính mờ nhạt và sơ khai, không có các yếu tố như: Đấng sáng tạo, kinh sách, giáo chủ, hệ thống giáo lý, tổ chức giáo hội.
    Về lễ hội, lễ hội được hiểu là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. Bao gồm 2 phần: phần lễ và phần hội:
- Phần lễ: mang tính lễ nghi thể hiện sự sung bái tôn kính. Lễ hay nghi lễ trong thờ cúng là những nghi thức được con người tổ chức theo những quy tắc, luật tục nhất định, mang tính biểu trưng nhằm kỉ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mong muốn sẽ nhận được những điều tốt đẹp nhất.
- Phần hội: thể hiện tính cộng đồng, phần cộng cảm, đây là phần chủ yếu tổ chức các trò chơi dân gian.

Lễ hội dân gian chiếm 88,37 % và chiếm đa số trong các lễ hội tại Việt Nam.
    Theo TS. Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ, 2003 định nghĩa như sau: “Lễ hội dân gian hoặc hội lễ dân gian là thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến có thể tổng hợp nhiều loại hình văn hóa dân gian khác nhau (tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật dân gian,…) qua hình thức cảnh diễn hóa tại một địa điểm, một thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trượng đặc trưng xoay quanh hai nội dung cơ bản: lễ và hội”. Lễ hội dân gian là một phần của lễ hội Việt Nam và nó có đặc trưng riêng như sau:
- Phần lễ: Đối tượng linh thiêng được sùng bái là những vị anh hung chống ngoại xâm, những người có công truyền nghề, chống thiên tai, những vị thánh thần, Phật, Mẫu…
- Phần hội: Các trò chơi dân gian (bắn nỏ, đấu vật, ném còn, đâm trâu, thi hát, thi thổi cơm, chọi trâu, đua bò, đua ghe,…)

2.2 Tín ngưỡng dân gian sông nước Nam Bộ
  
 Do đặc điểm sông ngòi chằng chịt, ba mặt giáp biển nên từ lâu yếu tố sông nước đã có tác động mạnh mẽ không những trong đời sống vật chất mà ngay cả trong đời sống văn hóa tinh thần, trong các tín ngưỡng của người dân Nam Bộ. Dưới đây sẽ đề cập một số tín ngưỡng liên quan đến yếu tố sông nước và ghe xuồng ở Nam Bộ.
2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng
2.2.1.1 Thờ Bà Cậu

    
Đối với cư dân thương hồ hay những cư dân làm nghề hạ bạc họ đều tin và thờ Bà Cậu với niềm tin sẽ được phù hộ tay qua nạn khỏi, được che chở và bình an khi đi trên sông nước. Theo như danh xưng, Bà Cậu bao gồm Bà và Cậu. Đây là những nhân vật cai quản vùng sông nước.
    Tín ngưỡng thờ Bà Cậu có nguồn gốc ở miền Trung, được các ngư dân mang vào Nam Bộ từ khoảng xuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Có nhiều ý kiến cho rằng đây là tín ngưỡng xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là thần Nước, Mẫu Thủy, Mẫu Thoải. Trong dân gian, Mẫu Thoải là hóa thân lần thứ ba của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được gọi là Mẫu Đệ Tam. Mẫu Đệ Tam cai quản vùng sông nước, biển cả và luôn luôn cứu độ cho dân cư khu vực này. Binh tướng của bà là các thần dưới dạng rắn, thuồng luồng- có sức mạnh dẹp yên sóng gió, có khả năng làm mưa, chống lũ lụt, hồng thủy… Ngư dân tin rằng khi đi biển, nếu gặp bão thì Bà sẽ cứu giúp. Tín ngưỡng Mẫu Thoải rất phổ biến ở khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và khi vào đến Nam Bộ thì việc phối thờ Thiên Y A Na Bà Chúa Ngọc cùng hai người con Cậu Tài và Cậu Quí tạo thành tục thờ đặc trưng của cư dân biển đảo là thờ Bà Cậu. Ở Tây Nam Bộ, Thiên Y A Na còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: “Thủy Long Thần Nữ là thần Giếng, thần Sông Rạch, thần Cù Lao, thần Hải Đảo cai quản vùng sông nước, phù hộ giới đánh cá sông, giới thương hồ, là hóa thân nữ thần Thiên Yana. Tín ngưỡng Thủy Long Thần Nữ đậm nét ở vùng ven biển ven sông lớn” (Trích Nguyễn Bình Phương Thảo, Sự thờ cúng ở Dinh Cậu – Huyện đảo Phú Quốc , tỉnh Kiên Giang, Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 2 (15) – 2014). Cũng có ý kiến cho rằng, hình tượng Bà Cậu được thờ trên ghe của những người làm nghề liên quan đến sông nước là đức Bồ Tát. Tất cả các ghe xuồng ở Nam Bộ đều có bố trí bàn thờ Bà Cậu trên ghe, bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng trong khoang sinh hoạt, bàn thờ có thể lớn hoặc bé tùy theo hoàn cảnh của chủ ghe, diện tích ghe và trên bàn thờ luôn có hương, hoa, trái cây. Trước mỗi chuyến khởi hành chủ phương tiện đều thắp nhang; ngày 16 âm lịch hằng tháng, đặc biệt tháng Giêng, tháng tư, tháng bảy, đều cúng Bà long trọng. Nếu như trên bờ cúng xe thường cúng gà tượng trưng cho sự chạy nhảy, nhanh nhẹn thì dưới nước để cúng Bà người ta thường cúng vịt vì vịt luôn nổi và bơi nhanh trên mặt nước. Đối với những người quan niệm Bà là Bồ Tát là vị Phật không thể ăn mặn, ăn thịt thế nhưng họ lí giải rằng vịt cúng để Bà làm vật cưỡi đi giúp các ghe, tàu mỗi khi gặp sóng to, gió lớn, vượt qua các chướng ngại trên luồng để đi đến nơi về đến chốn an toàn. Ngoài vịt mâm cúng ngoài vịt còn có hoa quả. Mâm cúng được đặt trước mũi ghe, sau đó chủ ghe sẽ thắp hương cầu nguyện Bà phù hộ luôn bình an, mua mai bán đắc.
    Với người dân vùng sông nước Thủy thần là vị thần bảo hộ cho những người sống nghề sông nước. Có hai loại thủy thần: tốt, thân thiện thì là Bà Cậu; còn xấu, gây tai họa cho người là Hà Bá và Bà Thủy. Thế nên ngoài cúng cho Bà Cậu họ còn cúng cho những oan hồn chết trên sông để họ tránh xa không đến quấy nhiễu.
    Bà Cậu không chỉ được thờ cúng trên ghe mà người dân còn lập miếu thờ Bà trên bờ. Có rất nhiều miếu thờ Bà ở ven biển, xóm chài trong đó lớn nhất phải kể đến Dinh Cậu ở Phú Quốc, Kiên Giang.

2.2.1.2 Thờ Quan Âm Nam Hải
    
Nếu người dân đi trên sông thường thờ Bà Cậu thì trên biển sẽ thờ Quan Âm Nam Hải hay còn được người dân gọi với cái tên triều mến “Mẹ Nam Hải” với niềm tin Bồ-tát sẽ phù hộ, cứu khổ cứu nạn cho người dân ở đây mỗi khi ghe thuyền ra khơi, lênh đênh trên biển cả.
    Bồ-tát Quán Thế Âm, dân gian hay gọi Quan Âm, là vị Bồ-tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa, biểu hiện tinh thần từ bi của nhà Phật. Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Đức Phật Thích Ca đã ca ngợi nhiều công hạnh của Bồ-tát, trong đó đặc biệt nhắc đến việc nếu ai bị giông bão trôi dạt trên biển mà một lòng cầu nguyện Ngài thì sẽ được Ngài đến cứu thoát. Theo hình tượng ban đầu thì Bồ Tát Quán Âm vốn có thân là nam nhưng khi du nhập vào Trung Quốc hay Việt Nam lại là thân nữ. Sự tích Quan Âm Nam Hải lưu truyền trong dân gian gắn liền với câu chuyện công chúa Diệu Thiện, vốn hiếu thảo, một lòng học Phật nhưng lại bị vua cha cản trở, qua nhiều thử thách cuối cùng đắc đạo thành Phật. Có câu:
“Gió đông đi biển chìm thuyền
Niệm danh Bồ-tát sóng tan hết liền”.
    Hầu hết các ghe, tàu đều có thờ Quan Âm Nam Hải và thắp hương cầu nguyện mỗi ngày, trên bàn thờ Quán Âm người dân cúng các loại trái cây, hoa, nước và hương. Quan Âm Nam Hải không chỉ được thờ trên ghe, tàu mà còn được người dân tạc tượng thờ trên bờ. Tượng Bồ-tát được đặt theo hướng Đông Nam và đồng thời cũng là hướng cửa Sông Đốc - nơi ra vào của ghe thuyền, với mong muốn Bồ-tát Quan Âm sẽ hộ trì cho họ. Ở Nam Bộ tượng Quan Âm Nam Hải nổi tiếng nhất là Quan Âm Phật Đài tại Bạc Liêu, tượng cao 49m, ngự trên tòa sen hình bát giác cao 11 mét, đứng uy nghi giữa một không gian thoáng đãng hướng nhìn ra biển Đông. Lễ hội Quán Âm Nam Hải Bạc Liêu mang sắc màu văn hóa Phật giáo, là một trong những lễ hội văn hóa tâm linh nổi bật nhất khu vực Nam sông Hậu được tổ chức hàng năm, trong ba ngày lễ vía Bà từ 22 đến 24 tháng 03 (âm lịch). Ngoài ra, chùa còn tổ chức các ngày lễ khác, như lễ vía Quán Thế Âm trong ba ngày 19 tháng Hai (giáng sanh), 19 tháng Sáu (thành đạo), 19 tháng Chín âm lịch (xuất gia)…

2.2.1.3 Thờ Cá Ông
    
Hầu hết các làng ven biển Nam bộ đều có tín ngưỡng thờ cá Ông, tức cá Voi hay "Nam Hải Đại tướng quân". Tục truyền rằng cá Voi (cá Ông) là tiền thân của Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Ông Nam Hải để cứu khổ cứu nạn cho con người ngoài biển khơi. Do đó, mỗi lần sóng to gió lớn, thuyền bè gặp nguy hiểm, ngư dân đều cầu nguyện cá Ông phù trợ. Tùy theo hình dáng và nơi xuất hiện mà ngư dân gọi cá Ông bằng nhiều tên khác nhau như Ông Khơi là loại cá to xuất hiện ở ngoài khơi; Ông Lộng là cá nhỏ xuất hiện gần bờ; ngoài ra còn có Ông Chuông, Ông Kèn, Ông Sứa…
    Tục truyền trong lúc đối đầu với quân Tây Sơn tại Vàm Láng, Gò Công, thuyền của Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu đến Soài Rạp, phía sau thuyền của quân Tây Sơn đuổi theo ráo riết. Tình thế nguy khốn bỗng có một đôi cá Ông kẹp mạn thuyền của Nguyễn Ánh, đưa tới nơi an toàn. Sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã phong cho cá Ông tước vị "Nam hải cự tộc, Ngọc Lân Thượng đảng thần" và truyền dụ cho các làng chài, mà thuyền của ông từng cập bến, lập lăng, dựng miếu để phụng thờ. Sau đó, vua Minh Mạng phong cho cá Ông là "Đại Càng Nam Hải Đại tướng quân" và đặt tên cho cá Ông là Nhân Ngư vào ngày 27-11-1845. Kể từ thế kỷ XVIII, nghề khai thác biển và cá sông cá đồng đã mang lại một nguồn lợi lớn cho ngư dân ĐBSCL nên triều đình nhà Nguyễn đã sắc phong "Đại Càng Quốc gia Nam Hải" cho các thôn làng để đưa vào miếu, đình thờ như một thần Thành Hoàng. Người ta quan niệm người đầu tiên nhìn thấy cá Ông lỵ được xem là con trai Thần Nam Hải, người này sẽ có trách nhiệm làm đám tang cho Ông. Tục thờ cúng cá Ông được thể hiện dưới dạng Nghinh Ông và thường gắn liền với lễ Cầu Ngư. Nghi thức cúng Ông Nam Hải cũng giống như cúng Đình, nhưng khác nhau ở chỗ lễ hội Nghinh Ông bao giờ cũng diễn ra trên ghe, thuyền, tàu bè. Cho nên nơi nào có làng chài, có bến cá là nơi đó có lăng miếu thờ Ông Nam Hải. Cụ thể như tại Ba Tri – Bến Tre, bà con ngư dân đã lập miễu thờ cá Ông, mỗi khi ra khơi họ đều đến cúng vái. Tại xã đảo Hòn Tre thuộc huyện đảo Kiên Hải, Kiên Giang, ngư dân có lập một Lăng thờ bộ xương cá Voi mắc cạn, chết trôi giạt vào bờ vào ngày 26-4-2006, hằng năm dân làng đều tụ tập về làm lễ Nghinh Ông. Tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu có Lăng Ông Nam Hải tại thị trấn Gành Hào được thờ phụng rất tôn nghiêm. Nơi đây, ngoài thờ Thủy tổ Ngư nghiệp còn lưu giữ trên 20 xương cá Ông và một bộ da cá Ông dài 9 mét, nặng 13 tấn, được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục "Bộ da cá nhám Voi lớn nhất". Cũng tại Bạc Liêu, Lăng Ông Duyên Hải có thờ một bộ xương cá Ông Bạch dài 16 mét, nặng 15 tấn. Các làng ven biển Trà Vinh cũng có nhiều Lăng Ông, nổi tiếng nhất là lăng Ông Long Hòa với bộ xương Đức Ông được coi là lớn nhất ở Nam kỳ lục tỉnh. Theo nhà văn Sơn Nam, tục thờ cá Ông và thờ Bà Cậu bắt nguồn từ các làng chài Bình Định, Phú Yên được đưa vào đất Đồng Nai. Từ đó lan truyền đến miền Tây Nam bộ. Có thể nói Kiên Giang là tỉnh có lăng miếu thờ cá Ông nhiều nhất. Chỉ riêng Phú Quốc có tới 6 điểm thờ. Ngoài ra, Tây Nam bộ có ba địa phương tuy không giáp biển nhưng cũng có lăng miếu thờ cá Ông, là: Cần Thơ, Long An và Vĩnh Long. Mỗi Lăng Ông thường có bàn thờ Ông Nam Hải tại Chánh điện. Hai bên bố trí nhiều bộ xương cá Voi được bọc bằng vải đỏ. Ngoài ra còn có bàn thờ Tả ban và Hữu ban liệt vị với nghi thức cúng bái trang nghiêm. Có Lăng còn thờ Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền, Ngũ hành, Lang Lại đại tướng quân (rái cá).

2.2.2 Tục vẽ mắt ghe
    
Những người trên sông nước quan niệm: Ghe giống như sinh vật dưới biển nên phải vẽ mắt để thấy đường đi và tránh nguy hiểm. Một truyền thuyết khác ở Nha Trang (Khánh Hoà) cho rằng, vẽ mắt “thuồng luồng” trên mũi thuyền sẽ tránh cho thuyền bị các loài thuỷ quái dưới biển làm hại. Một câu chuyện khác kể rằng “ông vua Việt Nam đầu tiên là người vẽ mắt trên thuyền của mình, do có một vài hạ thần của ông  bị các kình ngư ăn thịt. Ông ra lệnh cho các hạ thần của ông phải xăm mình và trang trí vỏ thuyền sao cho có hình dạng dữ tợn để xua đuổi các quái vật dưới biển. Một trong những cách trang trí đó là vẽ cặp mắt trên thuyền” (Trích Nguyễn Thanh Lợi, Tục vẽ mắt thuyền, tạp chí văn hóa học). Căn cứ theo thuyết “Nhứt điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng” có người quan niệm mắt ghe là mắt chim ó là một loại chim hung hăng săn cá ở biển, thường xuất hiện khi sóng to gió lớn khiến cho các loại thủy quái sợ và tránh xa. Cũng theo Nguyễn Thanh Lợi “tục vẽ mắt thuyền cũng liên quan đến tục xăm mình của người Đông Sơn trong việc chống chọi lại các loài thuỷ quái dưới biển. Nhiều bộ sử Trung Quốc đã ghi lại:”Người Việt vẽ mình, cắt tóc để tránh cái hại giao long”(Hán thư, Địa lý chí hạ). Trong Lĩnh Nam chích quái cũng đã đề cập:”dân miền chân núi làm nghề chài cá, thường bị giao long làm hại, mới kêu Hùng Vương. Hùng Vương nói:loài ở chân núi với loại thuỷ tộc khác nhau. Loài kia ưa đồng loại mà ghét dị loại cho nên làm hại. Bèn khiến người ta lấy mực mà xăm mình thành hình thuỷ quái, từ đó không còn nạn giao xà làm hại nữa. Cái tục xăm mình bắt đầu từ đó”(Vũ Quỳnh, Kiều Phú 1960)”. Mắt ghe được vẽ ở hai bên mũi ghe, hình dáng mắt ghe tùy thuộc vào vùng miền hay xưởng đóng ghe tàu tuy nhiên dù có nhiều cách vẽ khác nhau nhưng nhìn chung mắt ghe ở Nam Bộ là dạng mắt tròn, tròng đen, nhãn trắng trông rất hiền lành. Nổi tiếng nhất ở miền Tây Nam Bộ là trường phái đóng ghe Cần Đước (Long An), hoạt động từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Ghe Cần Đước có mũi nhọn dựng cao, sơn màu đỏ tươi, lườn sơn màu xanh, mắt vẽ tròn xoe, tròng đen to choán gần hết con mắt. Mắt ghe ở Cần Thơ cũng thuộc loại này. Ghe ở Cà Mau nhãn và tròng hình thoi dẹp, đầu mắt nhọn, thường được vẽ hơn là chạm gỗ, một số mắt có tròng gần như hình tam giác đều có góc tròn, nhất là ở những chiếc vỏ lãi bằng nhựa composit.
Ghe của vùng Trà Vinh mắt có độ lớn vừa phải, tròng đen với hình ôval nằm ngay tâm mắt. Mắt ghe vùng An Giang có hình elip, tròng rất nhỏ, nằm gần về đầu mắt, mang ghe sơn màu xanh dương. Ghe vùng Rạch Giá, Phú Quốc (Kiên Giang), vịnh Thái Lan thường có mắt tròn, sơn đen và đỏ trên nền xanh, nhưng lại nhìn cúi xuống như ghe câu Phú Quốc chẳng hạn. Các loại ghe hàng, thường gọi là “ghe Kiên Giang” gốc Rạch Giá, hoạt động từ Rạch Giá đến Vũng Tàu, mắt tròn lớn và gần nhau, nằm sát lô mũi (stem). Ghe cửa miền Tây có mũi nhọn, mắt tròn to, có ghe vẽ hình âm dương nơi vị trí mắt thuyền. Ghe vùng Mỹ Tho (Tiền Giang) hai con mắt chạy sát về trước mũi thuyền. Sau khi vẽ mắt ghe xông người ta sẽ tiến hành lễ khai nhãn, đây là lễ cúng mang ý nghĩa làm cho mắt thuyền sáng sủa, lanh lợi, ghe đi đúng hướng, tránh được tai nạn, con đường tài lợi của chủ ghe được hanh thông. Người vẽ mắt ghe và người khai nhãn phải là người lanh lẹ, khéo léo, kháo vát và được nhiều người yêu mến để chủ ghe làm ăn mai mắn, thuận lợi.


2.2.3 Những điều cấm kỵ trên sông nước
    
Không được xúc phạm các đấng linh thiêng, Thủy thần (Bà Cậu, Ông, Bà Thủy, Hà Bá,…), tránh trù rủa nhau như: “Bà Thủy bắt” hay “Hà Bá giật” vì người dân quan niệm họ là đấng cai quản sông nước, rất linh thiêng sẽ hiển linh và nhấn chìm những ai dám xúc phạm đến họ.
    Những người đi sông, đi biển rất kiêng cử những lời độc địa chua cay, quái gở, đồng thời tránh dùng những tiếng úp, lật, rơi, rớt, đổ, ngã, sẩy, trở, lăn, té, nhào…vì những từ này mang ý nghĩa tai nạn trên sông, điềm xấu.
    Theo tục lệ dân gian, tránh xuất hành hay khởi công vào giờ Mẹo vì đây là giờ sinh của Bà Cậu.
    Các chủ ghe và trại đóng ghe xuồng rất kỵ những ai sờ vào mắt ghe, nhất là người lạ mặt. Khi bán ghe, chủ ghe không bao giờ bán đòn dài và máng tát nước. Nếu bỏ nghề, có thể đem tặng cho người khác.
    Trên đường đi, người ngồi trên ghe xuồng kỵ gặp rắn và ngỗng lội trước mũi ghe, kỵ chở mèo và rùa (thậm chí tài công và chủ ghe cũng không ăn thịt mèo và rắn). Trái lại khi gặp chó lội ngang sông là điềm hên, gặp đom đóm bay nhiều là điềm tốt lành. Ngoài ra, khi ngồi trên thuyền làm cá lỡ để rơi con dao xuống nước, phải lặn mò cho được vì việc mất dao dưới đáy nước là điều cấm kỵ.
    Người ngư dân khi đi biển kỵ nhất là lật cá khi ăn cơm vì nó đồng nghĩa với lật tàu thuyền, lật ghe ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản.
    Tác giả Lê Quang Nghiêm trong cuốn Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa (tác giả xuất bản, Sài Gòn, 1970) có ghi một số điều kiêng kỵ của ngư dân. Khi bưng thúng đựng lưới hay dây câu, không được chui qua võng, dây phơi quần áo, không cho ai bước qua thúng, để tránh sự ô uế. Khi mới ra ngõ đi biển, tránh gặp người đầu tiên là đàn bà, nhất là đàn bà có chửa. Không bao giờ đi thăm đàn bà đẻ còn non tháng, sợ mắc phong long; không cho đàn bà có kinh nguyệt bước lên thuyền. Không được gọi đích danh những thần linh biển cả… Nếu vì xui xẻo do vi phạm những điều kiêng cữ mà không đánh bắt được nhiều cá, họ phải nhuộm lại lưới hay làm phép xông hơi, dọn rửa ghe thuyền và bày lễ vật giải trừ...
“Đi biển mà gặp đàn bà
Một là nóc cắn hai là về không”.
    Đàn ông trước khi ra biển đánh cá tránh gần gũi phụ nữ, kể cả vợ của mình vì sợ bị ô uế. Còn nhiều điều kiên kỵ khác nhưng nhìn chung những kiên kỵ trên sông nước của cư dân Nam Bộ cũng khá giống nhau với cư dân miền Trung.



2.3 Những lễ hội trên sông nước Nam Bộ
2.3.1 Lễ đua ghe ngo

    
Diễn ra vào các ngày 14, 15 tháng Kă-đấth tương ứng vào khoảng Rằm tháng 10 Âm lịch của Việt Nam. Hằng năm cứ vào tháng 10 âm lịch, là các phum sóc của đồng bào Khmer lại rộn ràng hẳn lên. Người ta tu chỉnh lại chùa chiền, tượng Phật, sơn phết lại ghe và làm đèn gió, đèn nước để chuẩn bị cho lễ hội Ok-ombok.
    Truyền thuyết về đua ghe Ngo theo tương truyền thì có nhiều giả thuyết. Nhưng trong đó có 3 giả thuyết đáng được chú ý nhất, đó là: Thứ nhất, theo dân gian kể rằng ngày xưa có công chúa Neng Chanh (Nàng Chanh) có tài sắc vẹn toàn được nhà vua rất yêu chuộng. Từ lòng ganh ghét ti tiện nên một tên quan đại thần đã vu cho nàng tội bỏ chất cáu bẩn ở móng tay vào nồi canh của vua. Biết mình không còn cách nào minh oan, Neng Chanh vội vã xuống thuyền xuôi theo sông Ba Sắc chạy trốn. Nhà vua cho quân lính đuổi theo hạ sát nàng. Biết không thể thoát thân, định mạng đã đến, nên Neng Chanh vội vã ném chiếc ống nhổ (người Khmer gọi là Kon thô) là kỷ vật được Nhà vua ban tặng trước đó xuống vàm sông và nơi đó sau này người Khmer gọi là “Peam Kon thô” (Peam là vàm, Kon Thô là ống nhổ; người Việt gọi vàm Ống Nhổ - nay gọi vàm Dù Tho) và kết cục nàng bị vua xử trãm một cách thương tâm. Từ truyền thuyết đó, nên trong dân gian Khmer tương truyền: để tưởng nhớ Neng Chanh tài hoa bạc mệnh, hàng năm cư dân Khmer quanh vùng tổ chức đua ghe Ngo để diễn lại cảnh Neng Chanh chạy trốn khỏi hoàng cung đến vùng đất Ba sắc – nay là Sóc Trăng.
           Thứ hai, tục đua ghe Ngo theo dân gian tương truyền thì xuất phát từ đặc điểm cuộc sống của cộng đồng cư dân lúc bấy giờ ở vùng sông nước cho nên khởi đầu họ đã làm nên chiếc ghe độc mộc dùng để làm phương tiện đi lại, đồng thời chiếc ghe Ngo cũng là vật linh thiên dùng ghe Ngo để đưa nước từ ruộng đồng ra biển cả, đánh dấu sự kết thúc của một năm đồng áng. Những cuộc mưu sinh để chống chọi với thiên nhiên và đàn thú dữ thường được tổ chức đi thành từng đoàn, do đó chiếc ghe độc mộc lúc bấy giờ có phần bất tiện, không khả năng đáp ứng được sức tải nhiều người theo yêu cầu, nên họ phải sáng kiến đóng chiếc ghe dài ra để chở được nhiều người, phục vụ cho cuộc sống mưu sinh của cộng đồng.
            Thứ ba, có thuyền thuyết cho rằng tục đua ghe Ngo của đồng bào Khmer là nhằm ôn lại kỳ tích của lực lượng chủ lực hải quân và chiếc thuyền chiến (ghe Ngo). Theo tài liệu được viết gần đây bằng tiếng Khmer, về “Nguồn gốc lễ hội đua ghe Ngo, thả đèn nước và cúng trăng” của nhà sư Thạch Sô Tưm xuất bản năm 2009 cũng đáng ngẫm nghĩ về lịch sử của lễ hội truyền thống này. Trong đó đã nêu về nguồn gốc của lễ hội đua ghe Ngo ở Sóc Trăng rằng: Hội đua ghe Ngo đã có từ lâu và trở thành một tập tục của những cư dân ở xứ sở Ba Sắc xưa (nay là Sóc Trăng) vào khoảng năm 2071 tính theo Phật lịch và năm 1528 tính theo Dương lịch, tương ứng với thời đại Nhà vua Ăng Chanh thứ nhất, vương triều Long wêk của Campuchia (Trang 4 và 5).
    Lễ hội thường được bắt đầu bằng cuộc đua ghe Ngo (Um-Tuk-Ngua) diễn ra vào khoảng 12 giờ trưa trên sông Long Bình ở Trà Vinh, sông Sung Đinh (Maspero) ở Sóc Trăng, hay trên sông Xà No, đoạn chảy qua Thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), hoặc sông Cái Lớn ở Gò Quao (Kien Giang)…Ghe Ngo (tiếng Khmer là Tuk-ngo), mỗi địa phương đầu tư mỗi năm từ 20 đến 80 triệu đồng (kể cả một phần kinh phí nhà nước hỗ trợ) để đóng mới, tu sửa và bồi dưỡng đội đua. Ghe được làm bằng loại gỗ cây “sao” rất cứng và dẻo, chịu nước tốt.  Theo nguyên tắc, chiếc ghe Ngo dài 27 mét, hình tựa con rắn, mình thon thon, thoai thoải về phía trước, đầu uốn cong và hơi thấp hơn sau lái lái một chút. Ghe Ngo có nhiều khoang, trên mỗi khoang đóng nhiều thanh cây ngang dài 1,2m làm băng ngồi vừa đủ 2 người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song gồm 24 đôi. Ghe Ngo có dầm riêng, làm theo nhiều kích cỡ tùy theo từng vị trí người bơi. Đặc biệt, nghe Ngo có hai cây kềm chịu lực, thường là thân cây tràm vì cây này có độ dẻo, hai cây kềm chịu lực này giúp cho ghe nhún nhảy và phóng nhanh đồng thời giúp giữ chặt ghe không bị gãy đôi. Hai cây này có đường kính 0,2m. Một cây kềm dài suốt lòng ghe, một cây kềm lái (từ giữa thân thân ghe về phía sau) gọi là Đon Sonh-Tuôch (cây cần câu).
            Thân ghe được chà đi chà lại cho thật trơn bóng và sơn màu đen. Trên be sơn một lằn trắng hoặc vàng tùy ý thích của sư cả trụ trì. Hai bên be vẽ hình các con vật, như Rồng, Cọp, Hỗ… hay hoa lá cách điệu. Ở hai bên mũi ghe vẻ hình biểu tượng của ghe và ghi tên chùa. Khi xây chùa, người ta chọn một con vật làm biểu tượng và khi đóng ghe, con vật này cũng là biểu tượng của chiếc ghe. Ngày nay, những thân cây sao bằng 2 người ôm hầu như không còn nữa nên ghe Ngo hiện đại được đóng bằng ván cây sao. Có lẽ do kết cấu của ghe ngày nay mỏng và nhẹ hơn ghe truyền thống nên nhiều người nhận định rằng ghe ngày nay lướt nhanh hơn ghe độc mộc ngày xưa. Ghe Ngo bao giờ cũng được bảo quản tại chùa trong một mái nhà để ghe dựng trong khuôn viên chùa. Mái che, dàn đà cao chắc chắn để che mưa nắng, phòng mối mọt. Nhà ghe là nơi thiêng liêng, ngày xưa phụ nữ không được đến gần, đây là điều cấm kỵ.
    Trước mũi ghe đôi khi có một cây lộng nhỏ sặc sỡ che cho một tượng Phật nhỏ uy nghiêm. Người chỉ huy (con gọi la người cầm “trịch” hay đội trưởng) đầu đội khăn đỏ, tay cầm cái dầm ngồi trước mũi ghe múa may, la hét điều khiển. Giữa ghe có một người cầm một cái chiêng nhỏ đánh nhịp và một người hoá trang tay hề chọc cho các tay chèo cười vui. Cuối ghe là người cầm lái giỏi, đã có nhiều kinh nghiệm. Các tay chèo là những thanh niên khoẻ mạnh, mặc đồng phục, ngồi thành hai dãy song song trong tư thế chèo. Tất cả đều phối hợp nhịp nhàng, đồng loạt để tạo nên sức mạnh. Mũi và lái ghe có treo cờ phướn, cắm bùa, cắm nhang để cúng cô hồn trước khi tranh tài. Mỗi ghe đua có thể chứa được một đội từ 40 đến 60 người. Khi tiếng trống của trọng tài báo hiệu cuộc đua bắt đầu, các đội đưa ghe vào vị trí cờ xuất phát. Đường đua dài chừng 3 km tính tới vạch phao quy định. Khi ghe tới vạch phao rồi, liền quay ngay lại, phóng về điểm xuất phát ban đầu. Khi trọng tài phất cờ, các ghe bắt đầu tranh tài. Hai hàng tay chèo trên ghe chèo rất điệu nghệ, nhịp nhàng theo tiếng người cầm “trịch”. Cứ thế tốc độ tăng dần theo tiếng hô “Muôn ơi muôn” (nghĩa là “Một ơi một”) của người đội trưởng. Hai bên bờ, người coi đứng đông nghịt hô la, đập trống, chiêng, đập thùng hay một vật liệu gì có thể phát ra âm thanh để cổ vũ. Người hô cứ hô, người coi cứ hét, không khí như sôi lên cho tới khi kết thúc cuộc thi.
“Hay dơ! dơ! Hay dơ! môn. (Hò đệm theo nhịp ghe)
Si bai leai đom-lôn, tâu mơl um tuk. (Ăn cơm độn khoai, đi coi đua ghe)
Hay dơ! dơ! Hay dơ! môn! (Hò đệm theo nhịp ghe)
Muôi căt, đăt muôi công co tâu mơl đe! (Một cắc, cố một công lúa cũng đi coi đua ghe).”
    Tỉnh Sóc Trăng là nơi có nhiều ghe đua đẹp nhất và phum sóc thường xuyên luyện tập và nhiều năm dẫn đầu các cuộc đua ghe Ngo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài cuộc đua chính diễn ra ở lễ hội Ok-om-bok, đua ghe Ngo còn được tổ chức vào một số ngày lễ lớn như ngày Quốc Khánh 2- 9, ngày giải phóng miền Nam 30- 4. Đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Nam Bộ là một môn thể thao có nhiều ý nghĩa văn hóa, tâm linh. Nó trở thành nét đẹp truyền thống không những của đồng bào Khmer Nam Bộ mà còn của các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Chăm cộng cư ở vùng sông nước này. Bên cạnh việc vui chơi trong những ngày lễ hội, nhiều đơn vị kinh doanh còn tổ chức bán hàng khuyến mãi phục vụ bà con các dân tộc. Ngoài ra còn có nhiều hoạt động phục vụ đồng bào Khmer như: Triển lãm chuyên đề tranh ảnh nghệ thuật về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của đồng bào Khmer tại Bảo tàng tỉnh; triển lãm hình ảnh các dân tộc thiểu số Việt
Nam và thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, tổ chức Hội diễn nghệ thuật quần chúng và trình diễn trang phục của người Khmer.
     Năm 2013, lễ hội tổ chức với quy mô khác hơn mọi năm, được Thủ tướng Chính phủ cho phép Sóc Trăng đứng ra tổ chức “Festival Đua ghe Ngo đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long – tỉnh Sóc Trăng lần thứ nhất năm 2013”. Đây là một sự kiện đáng mừng gắng kết các dân tộc đồng bằng Sông Cửu Long và mang lễ hội độc đáo này phát triển rộng khắp.

2.3.2 Lễ hội Nghinh Ông
    
Lễ hội nghinh Ông là lễ hội cúng cá Ông của ngư dân các tỉnh miền ven biển Việt Nam từ Quảng Bình trở vào Nam (gồm cả Phú Quốc). Có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá "Ông", lễ cúng "Ông", lễ nghinh "Ông", lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên. Ở mỗi địa phương, lễ hội nghinh Ông diễn ra vào một thời điểm khác nhau.
    Lễ gồm 3 phần: Túc yết, nghinh Ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại hội.
    Trước ngày lễ ghe thuyền đánh cá dù xa hay gần đều phải về tựu hợp tại bến điều này đã trở thành quy ước bắt buộc của cư dân biển. Vào những ngày này các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở mũi thuyền chủ nhân chiếc thuyền có bài mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, đầu heo cùng với hương và hoa.
    Khởi đầu là lễ túc yết với nghi thức đơn giản được tiến hành tại Lăng. Mọi người dân vào những ngày trước đó đã góp tiền để làm lễ cúng Ông. Tùy theo hoàn cảnh của mỗi ngư dân mà đóng góp ít hay nhiều và không bắt buộc. Đêm đầu tiên của lễ hội này là nghi thức không bắt buộc tùy và ban tổ chức đó là lễ hội cầu an. Ông Chánh Bái và Phó Chánh Bái quay mặt vào điện thờ khấn vái, xin sự chứng kiến của Nam Hải Ngọc Tôn Thần, ông Phó Chánh Bái đội tờ sớ xin cầu an ở trên đầu, quỳ lạy. Tám nhà sư quỳ thành hai hàng ở phía sau, rồi đứng lên tiến hành lễ cầu an cho người dân. Lá sớ cầu an sẽ được đem đốt vào cuối buổi lễ.
    Sáng sớm hôm sau là nghi thức Nghinh Ông. Nghi thức này được diễn ra dưới sự tham gia đông đảo của ngư dân. Dẫn đầu đoàn ra ngoài khơi Nghinh Ông gồm có: Ông Chánh Bái và Phó Chánh Bái, theo sau là 4 học trò lễ, 4 đào thài (2 nam hoặc 2 nữ), 8 người mang bát bửu, chấp kích, một người vác cờ có chữ Nam Hải, 4 người khiêng long đình, 2 người cầm lộng, 1 người vác cờ lớn, cùng với phường bát âm. Tất cả các người này khiêng long đình cùng tất cả đồ lễ từ lăng thờ Cá Ông tiến ra cửa sông để xuống một ghe riêng đã được chọn sẵn gọi là ghe lễ. Ghe lễ thường là ghe an toàn nhất, không vướng mắc gì, làm ăn phát đạt và phải là ghe số chẵn, trên ghe này có một bàn bày các lễ vật gồm 1 con heo quay, 2 dĩa lòng heo(1 sống, 1 chín), 1 dĩa bánh hỏi cùng hoa quả, 2 bên cạnh con heo quay bày 12 cái chén và 12 đôi đũa. Xuất phát ra biển theo thứ tự: Ghe lễ sau đó là 2 ghe chở đoàn múa lân rồi đến một đoàn ghe gồm hàng trăm chiếc của ngư dân trên ghe đều có bày lễ cúng tất cả đều tiến ra khơi để làm lễ rước Ông. Cả ghe lễ, ghe chở đoàn múa lân, ghe của ngư dân đều thả một sợi dây xuống nước, cuối sợi dây có cột chùm vải ngũ sắc. Khi cả đoàn tiến đến chỗ giáp nước, sẽ lượn quanh nhiều vòng, Ông Chánh Bái bắt đầu đợi “Ông lên vọi”. Ngư dân tin rằng, năm này ra nghinh Ông mà gặp “Ông lên vọi” có nghĩa là năm đó gặp nhiều mai mắn, làm ăn phát tài. Trường hợp không thấy “Ông lên vọi” sau khi lượn vài vòng thì Ông Chánh Bái sẽ xin keo âm dương, tung 2 đồng tiền lên nếu 1 mặt úp, 1 mặt mở tức là Ông Nam Hải đã chứng cho lòng thành của ngư dân. Liền sau đó một hồi tù vang lên, tiếng trống vang dội, pháo bắt đầu được đốt vang dội một vùng biển, sau một lúc ồn ào, náo nhiệt đoàn ghe bắt đầu khởi hành về bến theo thứ tự như khi xuất bến. Khi về đến bến, Người ta khiêng long đình, hương án và tất cả các đồ lễ lên bờ, rước về lăng. Tới lăng Ông Chánh Bái cùng Phó Chánh Bái khiêng bát hương vừa mang ra khơi nghinh Ông đặt lại bàn thờ. Sau đó làm các nghi thức an vị và các thủ tục khấn vái. Lễ Nghinh Ông kết thúc người ngư dân tin rằng Ông Nam Hải đã về ngự ở điện thần chứng dám cho lòng thành của họ.
    Sau đó là lễ tế tiền hiền và hậu hiền,. Lễ vật là những món ăn mặn gồm 4 mâm xôi (3 mâm xôi trắng, 1 mâm xôi đỏ). Sau một hồi chiêng, một hồi trống và nhạc lễ Ông Chánh Bái , Phó Chánh Bái cùng các bồi tế dâng lễ nến và hoa sau đó là thức ăn, rượu, đọc văn tế tiền hiền xin vong hồn tổ tiên cùng các cô hồn về chung hưởng.
    Nghi thức xây chầu đại hội là nghi thức không cố định, không phụ thuộc vào năm đó ban tổ chức có mời đoàn hát bội về hay không. Trước khi xây chầu các đào thài lạy trước điện thờ Ông Nam Hải. Lễ vật trước điện thờ là con heo trắng đã mổ, cạo sạch long, được đặt quay đầu về phía điện thờ Ông, chén huyết đặt bên cạnh. Người cầm chầu là Ông Chánh Bái, người dân ngồi xem hát bội, các đào thài hát cho dân chúng xem cùng nghĩa với hát cho Ông Nam Hải vui lòng.
    Nghi thức chánh tế được tiến hành vào giữa đêm, giao điểm giữa 2 ngày. Sau khi tiến hành các nghi thức thông thường như củ soát tế vật, tựu vị, chỉnh y, ban tổ chức chọn ra người có tuổi, đức độ trong làng làm nhiệm vụ khai mõ, khai chiêng rồi khai trống. ban nhạc cụ được đánh theo hồi, theo nhịp đã quy định. Dứt nhịp trống, sàn nhạc lễ nổi lên, Ông Bồi Tế dâng nến hoa cho Ông Chánh Bái để tiến hành khấn vái, thắp nhanh lên bàn thờ. Theo sau học trò lễ và các đào thài đi từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ quanh điện thần, hát những câu hát chúc thần. Sau tuần rượu thứ nhất vị Chánh Tế bắt đầu đọc tế văn Ông Nam Hải sau đó dâng rượu tuần thứ hai rồi thứ ba cùng lời khấn. Tất cả vái lạy Ông lần cuối, nghi thức chánh tế kết thúc cũng kết thúc lễ hội Nghinh Ông.
    Ta có thể thấy lễ hội được diễn ra với quy mô lớn, với những nghi thức độc đáo mang nét văn hóa đặc trưng, độc đáo của người dân xứ biển.    

2.3.3 Lễ hội Dinh Cậu, Phú Quốc
  
 Lễ hội Dinh Cậu được tổ chức một lần vào ngày 15-16 tháng 10 Âm lịch hàng năm. Đây là một lễ hội được hình thành rất sớm của cộng đồng ngư dân Phú Quốc, nhằm thể hiện lòng tôn kính với thần linh. Vào ngày lễ hội, không chỉ ngư phủ mà đông đảo người dân tụ hội về đây để thắp hương cầu mong mưa hòa gió thuận, trời yên biển lặng, được mùa tôm cá và mọi nhà có cuộc sống an vui, hạnh phúc.
    Khởi đầu của lễ hội Dinh Cậu là lễ tế thần biển (Long Vương, thần Nam Hải) thực chất là lễ Cầu Ngư. Nhưng phần chính là lễ tế Cậu Tài – Cậu Quý và Bà Chúa Ngọc. Hiện nay Hội tế Dinh Cậu có trên 200 hội viên. Trong đó đứng đầu là ông hội trưởng, một hội phó, một vị "thủ chỉ" (ông Từ) trông coi việc cúng tế, hương kiểm trông giữ đồ đạc cơ sở vật chất.

    Thành phần Ban Tế tự gồm có: một Chánh Bái (chức vụ danh dự thường do hội trưởng đảm trách), một Bồi Bái ( thường là phó hội trưởng đảm nhiệm), một Chánh Tế (điều khiển các nghi lễ tế như: tấu nhạc lễ, dâng rượu, dâng trà, dâng hương, bày lễ vật,…), Bồi Tế (quỳ sau Chánh Tế), đội nhạc lễ bốn người (chơi các nhạc cụ trống, đờn, phách,…), học trò lễ 12 người (một cặp đăng bưng đèn, một cặp đài bưng đài, một cặp xướng đọc các mục nghi lễ, một đông xướng, một tây xướng,…), Ông Từ ( ngồi cạnh bàn thờ thần trong suốt thời gian làm lễ, để gõ chuông cho khách lễ bái, trong lúc tế Ông Từ có nhiệm vụ nhận lễ do học trò lễ dâng để xếp lên bàn thờ thần.
    Lễ Dinh Cậu gồm 4 lễ chính như sau:
- Lễ Nghinh Thần: Lễ Nghinh Thần bắt đầu lúc 9 giờ ngày 15 tháng 10 Âm lịch đây là lễ cúng thỉnh các vị thần linh và mời họ về chứng giám để hưởng những hương quả và cầu mong các vị thần tiếp tục việc bảo hộ cho ngư dân trên đảo. Nghi lễ được thực hiện dưới sự chịu trách nhiệm của ông hội trưởng với vai trò là chánh bái, ông hội phó là bồi bái để thực hiện các hương lễ sau: nguyện hương (bốn lạy), tiếp đến là dâng một tuần rượu (hai lạy) và đọc văn tế để cung thỉnh thần. Sau phần đọc văn tế là phần “xả khói” diễn ra trong khoảng thời gian là 15 phút để người dân trên đảo vào thắp hương. Nghi lễ
tiếp tục với hai tuần dâng rượu (bốn lạy) và kết thúc bằng một tuần dâng trà (một ly trà, một bình trà và hai lạy). Vật phẩm cúng chính lễ Nghinh Thần là xôi, chè, hoa quả, cháo và heo sống nguyên con.
- Lễ Túc Yết: Buổi chiều cử hành lễ Túc Yết bắt đầu lúc 16 giờ ngày 15/10 Âm lịch, đây là lễ thông báo cho các thần biết về các nghi lễ tiếp theo và xin phép hạ sát tam sanh (ba con vật tế) gồm: trâu, bò, dê hoặc heo. Lễ vật chính dâng cúng trong buổi lễ Túc Yết gồm có một con heo trắng (heo đã mổ xong, cạo sạch, chưa nấu chín), một chén đựng huyết, một ít lông heo gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa muối, gạo. Các nghi thức cúng giống như lễ Nghinh Thần và chịu trách nhiệm chính trong lễ Túc Yết là hai ông Chánh tế – là phó ban quản trị Dinh. Dứt bài văn tế, hai Chánh tế nghỉ cúng, đốt văn bản này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ Túc Yết coi như đã xong.
- Lễ Chánh Tế: Lễ Chánh tế bắt đầu 8 giờ ngày 16/10 âm lịch. Lễ Chánh tế nghi thức diễn lại như lễ Túc Yết, sau phần dâng trà là phần ẩm thực. Lễ Chánh Tế có điểm khác biệt với hai buổi tế lễ Nghinh Thần và lễ Túc Yết là cuối buổi Chánh Tế có phần “ẩm phước thọ tự” tức là phần thưởng của Cậu (gồm hai đĩa thịt heo và hai ly rượu) ban cho hai ông chánh tế để ghi nhận công đức của Ban Tế Lễ đã chăm lo chu đáo việc hương khói, cúng các vị thần linh. Vật phẩm chính của lễ Chánh Tế là heo quay, hai con gà cúng Cậu, hai con vịt cúng Bà và tuyệt đối không cúng tế hải sản.
- Lễ cúng binh tướng của Cậu và cúng vong: Cúng Vong hay vong hồn (lúc 10 giờ
ngày 16/10 âm lịch) đó là cúng những cái chết không bình thường, chết mất xác dưới biển đã trở thành “binh lính” của Bà-Cậu và có khả năng chi phối đến đời sống của con người. Để cầu mong sự che chở, phù hộ và tránh sự trừng phạt do chính các âm linh, Cô Bác gây ra nên cộng đồng ngư dân, cư dân ven biển Phú Quốc thường thắp hương cúng bái tại các Miếu cô hồn ven biển hoặc ở các đình chùa. Mâm cúng bày ngoài sân và phẩm vật cúng tế là: cơm canh đồ mặn, muối, gạo, vàng mã, áo giấy để các vong hồn bơ vơ, không nơi nương tựa lấy đó làm đồ dùng, giảm bớt sự khổ sở, bất hạnh. Thể hiện tính nhân đạo của người Việt không chỉ đối với những người còn sống mà người chết cũng vậy.
    Lễ hội Dinh Cậu được chia làm hai phần là phần lễ gồm các nghi thức, thủ tục cúng tế thần linh và phần hội bao gồm đờn ca, múa bóng.
    Người dân Nam Bộ rất tín ngưỡng thần linh họ quan niệm “Có thờ, có thiêng, có kiên mới có lành”. Vì thế, các lễ hội dân gian ở Nam Bộ luôn được coi trọng và thực hiện nghiêm túc.

Chương 3: GHE XUỒNG VÀ NHỮNG TÍN NGƯỠNG VÙNG SÔNG NƯỚC NAM BỘ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

3.1 Ghe xuồng trong phát triển du lịch
  
 Hiện nay, ghe xuồng đang là phương tiện vận chuyển phục vụ đắc lực cho lĩnh vực du lịch, tiêu biểu là một số loại hình du lịch như du lịch chợ nổi, du lịch sông nước miệt vườn, tham quan các vùng đất ngập nước, các khu rừng ngập mặn, khám phá các cồn, vịnh,…Và được sử dụng ở các địa phương phát triển du lịch sông nước như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang,…Một số loại phương tiện ghe xuồng phục vụ trong du lịch như: Tàu, thuyền, ghe ngo, ghe bầu, võ lãi, xuồng ba lá, …có sử dụng động cơ hoặc tay chèo. Hiện nay, các tỉnh đã tăng cường cải tiến ghe xuồng để phục vụ cho du lịch, thu hút các công ty du lịch tham gia đầu tư như: du thuyền trên sông, đầu tư trang thiết bị an toàn trên ghe xuồng, sửa chữa bến bãi, quy hoạch lại hệ thống sông ngòi,…
    Theo điều tra của TS. Nguyễn Thị Bé Ba, Giá trị của ghe xuồng trong phát triển du lịch ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thì có 90%  du khách đến Đồng bằng Sông Cửu Long du lịch đều có sử dụng ghe xuồng làm phương tiện vận chuyển, 83% các tour du lịch ở Đồng bằng Sông Cửu Long đều có sử dụng ghe xuồng, 70% du khách có dự định đi các tour du lịch có sử dụng ghe xuồng trong tương lai. Nguyên nhân làm cho ghe xuồng ít phổ biến trong đời sống có 56% du khách cho rằng do sự cạnh tranh của giao thông vận tải ô tô, 47% không có người đóng ghe xuồng, 54% ghe xuồng di chuyển chậm, tốn nhiều thời gian, 6% không biết điều khiển ghe xuồng, 27% là các nguyên nhân khác như không an toàn, không biết bơi, sợ sông nước,…Qua số liệu trên ta thấy, ghe xuồng có giá trị phục vụ cao trong du lịch ở Đồng bằng Sông Cửu Long và sẽ phát triển hơn trong tương lai, tuy nhiên để phát triển thì đòi hỏi phải có các biện pháp khắc phục những nhược điểm của ghe xuồng và biết cách phối hợp giá trị ghe xuồng với những nét văn hóa độc đáo ở Nam Bộ.
    Hiện nay, việc phát triển du lịch các làng nghề đóng ghe xuồng cũng rất được chú trọng. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long có khá nhiều các trại đóng ghe xuồng được truyền từ đời này sang đời khác như: Ngã Bảy – Phụng Hiệp (Hậu Giang), Cái Răng (Cần Thơ), Long Hậu – Lai Vung (Đồng Tháp), Cần Đước (Long An),…Chính quyền địa phương đang tiến hành các biện pháp như khai thông đường đi đến các làng nghề, quảng bá hình ảnh làng nghề qua báo chí, ấn phẩm du lịch, tổ chức khuyến khích các chủ trại ghe làm du lịch, tạo ra các món quà lưu niệm về mô hình ghe xuồng,…Tuy nhiên, việc thu hút khách đến đây tham quan, tìm hiểu về làng nghề chưa cao, chủ yếu là tham quan nghiên cứu. Vì thế, bên cạnh các biện pháp trên chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ với chủ trại ghe và công ty du lịch đa dạng hơn về các sản phẩm du lịch, thay vì tham quan rồi về thì có thể tổ chức loại hình homestay ngủ trên ghe chẳng hạn.
    Ngoài ra giá trị du lịch của ghe xuồng còn thể hiện ở chỗ thu hút du khách đến với các lễ hội đua ghe, đua xuồng ba lá, võ lãi,…Đặc biệt, đáng chú ý là lễ đua ghe ngo của người Khmer thu hút hàng ngàn du khách trong và ngoài nước tham quan hằng năm vào ngày 15 tháng 10 âm lịch ở các địa phương như: Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ,…

3.2 Tín ngưỡng vùng sông nước trong phát triển du lịch
    
Nam Bộ là nơi có sự phong phú về các tôn giáo tín ngưỡng. Tín ngưỡng dân gian của người đi mở đất và của cư dân bản địa khá đậm đặc. Đó là tín ngưỡng về các vị thần như Bà Chúa Xứ, bà Thủy Long, bà Hà Dương, ông Bổn, Thành Hoàng, Neak Tà v.v.. Các tôn giáo như Phật giáo của người Kh’me, người Kinh, Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa, Tin Lành... Mỗi tôn giáo đều có những di tích kiến trúc kèm theo với sự đa dạng về kiểu cách, loại hình, trang trí cũng như hệ thống thần điện và kèm theo nó là cả một hệ thống nghi lễ, sinh hoạt vô cùng phong phú. Có thể nói đây là mảnh đất màu mỡ của du lịch khi biết tận dụng triệt để. Hiện nay, các lễ hội dân gian Nam Bộ luôn được Ban tổ chức lễ hội xây dựng kế hoạch tổ chức và triển khai thực hiện nghiêm túc nên kế quả đạt được khá tốt, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó còn được chỉ đạo về nội dung, hình thức của cơ quan có thẩm quyền (Ban Tôn giáo, ngành VHTTDL, Ban Tuyên giáo) nên đạt được những thành công vượt bậc, nhân dân phấn khởi đi dự lễ hội và thu hút hàng nghìn khách du lịch nước ngoài. Tín ngưỡng mang tính sông nước cũng đang rất thu hút khách du lịch khi đến Đồng bằng Sông Cửu Long có thể kể đến như: Lễ đua ghe ngo, Lễ Nghinh Ông, Lễ Dinh Cậu, Lễ rước nước,…Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại một số hạn chế như tình trạng thách giá trong dịp lễ, ăn xin, chèo kéo, cơ sở hạ tầng chưa tốt,…

KẾT LUẬN

    Do đặc tính sông ngòi chằng chịt, ba mặt giáp biển, nguồn lợi thủy hải sản dồi dào từ lâu ghe xuồng đã gắn bó như người bạn đường đối với người dân Nam Bộ và cũng từ đó hình thành nên  các tín ngưỡng dân gian về sông nước, ăn sâu và tâm thức, trong thói quen và nếp sinh hoạt văn hóa thường ngày của người dân nơi đây góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa ở Nam Bộ, tạo nét riêng cho việc phát triển du lịch ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
    Để khai thác có hiệu quả ghe xuồng và những tín ngưỡng dân gian trên sông nước vào du lịch cũng như khắc phục những bất cập còn tồn tại tôi xin đề xuất một số biện pháp sau đây:
- Đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch bằng ghe xuồng trên sông, mở rộng thêm các tuyến, tour du lịch bằng ghe xuồng.
- Đảm bảo trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn trên ghe xuồng khi chở khách tham quan trên sông, đào tạo nghiệp vụ du lịch, các kỹ năng bơi lội, sơ cứu cho thuyền viên và các nhân viên phục vụ du lịch trên sông.
- Tạo các tour du lịch đặc sắc như dạy khách bơi xuồng, cách đua xuồng, hình thức du lịch homestay trên ghe, tham quan làng bè kết hợp giao lưu đờn ca tài tử,…
- Trong phát triển du lịch làng nghề đóng ghe xuồng, cần tập huấn cách làm du lịch cho người dân làng nghề, mở rộng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tại chỗ theo hình thức vừa tham quan, tìm hiểu vừa giao lưu văn hóa.
- Kết hợp du lịch ghe xuồng với giới thiệu các tín ngưỡng độc đáo để khách du lịch hiểu hơn về con người, về văn hóa vùng sông nước này.
- Tiến hành niêm yết giá, quy định trật tự nơi đứng, giáo dục thái độ, ý thức của những người ăn xin khi hành nghề trong khu vực lễ hội.
Tác giả: Lê Thị Mỹ Huyền

Nhận xét