Trong
bài “Kính gửi ông Tạ Đức và ông Nguyễn Dư” đăng trên Văn hóa Nghệ An,
tác giả Phan Lan Hoa có viết: “Thiết nghĩ, khi mà sử sách, địa danh và
di chỉ chứng tích đã trùng khớp, cớ sao lại có người còn muốn đẩy đưa
thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa là vì cớ chi? (Đoạn này, xin được gửi cả đến ông Hà Văn Thùy, người khẳng định Kinh Dương Vương và nước Xích Quỷ ở bên Trung Hoa?).”*
Từ
lâu, tôi tâm niệm sẽ làm một khảo cứu nghiêm túc xác định nơi sinh
thành của thủy tổ người Việt nhưng vì chưa đủ duyên nên chưa thành. Nay
nhân có người “đòi”, xin được trả món nợ.
Tìm ra chính xác tổ tiên
người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao
công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc
tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu
từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian
như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn! Sự thực là, muốn
biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử,
để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai? I. Khởi đầu từ lịch sử
Rất
nhiều người tin rằng nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời năm Nhâm
Tuất 2879 TCN. Nhưng nếu hỏi: từ đâu có con số đó thì không ai trả lời
được! Con số ấy tồn tại như một niềm tin, như cái mốc “quy ước” mà người
Việt bám vào để tạo dựng cội nguồn. Dẫu biết rằng niềm tin không đủ làm
nên lịch sử thì cũng không ai nỡ cật vấn cái niềm tin ấy! Bởi lẽ, sau
cật vấn là sự sụp đổ! Rồi cả Đế Minh cháu ba đời Thần Nông nữa, lấy gì
làm chắc? Mà sao người Trung Hoa cũng tự nhận là con cháu Thần Nông?
Những hoài nghi ấy, nếu không hóa giải được thì mọi chuyện bàn về tổ
tiên chỉ là câu chuyện phiếm! Vì vậy, muốn tìm chính xác tổ tiên, cần
phải đi xa hơn cái cột mốc 2879. May mắn là sang thế kỷ này, khoa học
thực sự giúp soi sáng cội nguồn.
Thưa rằng, không phải chỉ từ
những mẩu xương và những hòn đá – hiện vật khảo cổ - mà chính từ vết
tích được lưu giữ trong máu của toàn dân châu Á, một nhóm nhà khoa học
gốc Hán của nhiều đại học nước Mỹ, vào năm 1998 phát hiện rằng: 70.000
năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân tới
nước ta. Sau khi chung sống 30.000 năm trên đất Việt Nam, người Việt đã
đi lên khai phá Trung Hoa. Từ Hòa Bình, tổ tiên chúng ta mang chiếc rìu,
chiếc việt đá mới lên nam Dương Tử và gọi mình bằng danh xưng đầy tự
hào NGƯỜI VIỆT với tư cách chủ nhân chiếc việt đá mới, công cụ ưu việt
của loài người thời đó(Việt bộ Qua -戈).20.000
năm trước, tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây, tổ tiên chúng ta làm ra
đồ gốm sớm nhất thế giới và 12400 năm cách nay trồng ra hạt lúa đầu tiên
của loài người. Lúc này tổ tiên ta tự gọi mình là NGƯỜI VIỆT, chủ nhân
cây lúa(Việt bộ Mễ -粤)!Rồi
từ đây, người Việt mang cây lúa, cây kê, con gà, con chó làm nên văn
hóa Giả Hồ 9000 năm trước, văn hóa Hà Mẫu Độ 7000 năm trước… Theo đà Bắc
tiến, người Việt vượt Dương Tử lên lưu vực Hoàng Hà, xây dựng nền nông
nghiệp trồng kê trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tại đây, người Việt hòa huyết
với người sống du mục trên đồng cỏ bờ Bắc, sinh ra chủng người Việt
mới, sau này được khoa học gọi là chủng Mongoloid phương Nam, là chủ
nhân văn hóa Ngưỡng Thiều suốt từ Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc.
Một con sông dài 1500 km từ Thiểm Tây tới Hà Nam, đổ vào Dương Tử ở Vũ
Hán, được đặt tên là sông Nguồn. Cùng với chi lưu của nó là Sông Đen,
tạo nên đồng bằng Trong Nguồn, là trung tâm lớn của người Việt, nối với
Thái Sơn. Đấy là nơi phát tích của người Việt hiện đại chủng Mongoloid
phương Nam.
Vào khoảng 4000 năm TCN, người Việt chiếm hơn 60% nhân
số thế giới và xây dựng ở Đông Á nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Để có
được thành quả như vậy, người Việt phải chung lưng đấu cật trị thủy hai
dòng sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử. Từ những dấu vết mong manh trong
truyền thuyết, ta nhận ra, thời gian này người Việt luôn phải đối mặt
với những cuộc xâm lăng của người du mục phương Bắc. Trong điều kiện như
vậy, những thị tộc phải liên minh với nhau, vừa để trị thủy vừa chống
trả quân xâm lăng. Cuộc liên minh dưới sự lãnh đạo của những thị tộc lớn
mạnh do những vị anh hùng bán thần dẫn dắt. Một cách tự nhiên nhà nước
nguyên thủy ra đời. Đó là nhà nước phương Đông, khác với nhà nước theo
định nghĩa kinh điển phương Tây, sản sinh từ chiếm hữu nô lệ và thặng dư
lương thực. Điều kiện cho nhà nước nguyên thủy phương Đông ra đời càng
thuận lợi hơn khi toàn bộ dân cư khu vực lúc đó cùng cội nguồn, văn hóa
và tiếng nói. Kinh Dịch viết “Phục Hy thị một, Thần Nông thị xuất” chính
là mô tả thời kỳ này. Truyền thuyết cho hay, vua thần Phục Hy xuất hiện
khoảng 4000 năm TCN. Tiếp theo là Thần Nông khoảng 3080 năm TCN. Truyền
thuyết nói Đế Minh, cháu đời thứ ba của Thần Nông, chia đất, phong
vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương, lập nước Xích Quỷ năm 2879
TCN... Trong bối cảnh như vậy, ta thấy, dù không biết xuất xứ từ đâu
nhưng cái mốc thời gian ra đời nước Xích Quỷ là hợp lý. Một câu hỏi cần
được nêu ra: phải chăng có điều gì đó sâu thẳm trong ký ức mà tổ tiên ta
ghi nhớ được một cách tường minh? Từ nhiều tư liệu, có thể suy ra, thời
kỳ này trên lục địa Đông Á có ba nhà nước: Thần Nông Bắc của Đế Lai
thuộc lưu vực Hoàng Hà, Thần Nông Nam (Xích Quỷ) thuộc lưu vực Dương Tử
tới Việt Nam và quốc gia Ba Thục ở phía Tây, gồm vùng Ba Thục qua Thái
Lan và Miến Điện.
Thời gian này, cuộc tranh chấp giữa hai bờ Hoàng
Hà trở nên khốc liệt mà bằng chứng là trận Phản Tuyền. Truyền thuyết
Trung Hoa nói Hoàng Đế và Viêm Đế là hai thị tộc anh em, lúc đầu Viêm Đế
đứng chủ. Sau đó Hoàng Đế mạnh lên, đánh thắng Viêm Đế ở Phản Tuyền,
chiếm ngôi thống soái. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Đây chỉ là
uyển ngữ do người Hoa Hạ bày đặt để che lấp cuộc xâm lăng, với mục đích
gắn Hoàng Đế với Viêm Đế vào cùng chủng tộc để rồi cho ra đời thuyết Hoa
Hạ là Viêm Hoàng tử tôn, trong đó Hoàng Đế là chủ soái! Nhưng thực ra
đó là cuộc xâm lăng của người bờ Bắc. Ta có thể hình dung, chỉ hình dung
thôi vì không bao giờ tìm ra chứng cứ xác thực, rằng trước tình thế
nguy cấp sau trận Phản Tuyền, Đế Lai liên minh với Lạc Long Quân cùng
chống giặc. Nhưng tại trận Trác Lộc năm 2698 TCN, quân Việt thất bại. Đế
Lai tử trận, (sau này vì căm hờn Đế Lai, người Hoa Hạ gọi ông là Si Vưu
với nghĩa xấu), Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân vùng Núi Thái-Trong
Nguồn dùng thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống xứ
Nghệ. Gợi cho chúng tôi ý tưởng này là đoạn chép trong Ngọc phả Hùng
Vương: “Đoàn người từ biển vào. Họ rất hiền lành tốt bụng, đã giúp dân
nhiều việc tốt. Dân bầu người giỏi nhất trong số họ làm vua, hiệu là
Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Rào Rum-Ngàn Hống, sau chuyển lên vùng Ao
Việt.” (Chính cái niên đại xảy ra trận Trác Lộc 2698 TCN cũng giúp cho
thời điểm năm 2879 lập nước Xích Quỷ trở nên khả tín. Nó cho thấy, một
điều hợp lý là những quốc gia của người Việt được lập ra trước cuộc xâm
lăng, vì chỉ như vậy mới phù hợp với lịch sử.)
Về Việt Nam, người
Núi Thái-Trong Nguồn hòa huyết với người Việt bản địa da đen Australoid,
sinh ra người Mongoloid phương Nam Phùng Nguyên. Việc khảo cổ học phát
hiện di cốt người Mongoloid phương Nam tại văn hóa Phùng Nguyên khoảng
4500 năm TCN là bằng chứng xác nhận cuộc di cư này.
Nếu những điều trình bày trên chưa hài lòng quý vị thì xin dùng chứng lý theo lối quy nạp sau:
Khoa
học xác định mã di truyền của người Việt hôm nay thuộc chủng Mongoloid
phương Nam. Vì vậy, nếu là thủy tổ của dân tộc Việt, các ngài Kinh Dương
Vương, Lạc Long Quân… cũng phải là người Mongoloid phương Nam. Một câu
hỏi được đặt ra: người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất Việt Nam vào thời gian nào?
Khảo sát 70 sọ cổ phát hiện ở nước ta, cổ nhân chủng học cho biết:
“Suốt Thời Đá Mới, chủng Australoid là dân cư duy nhất sống trên đất
nước ta cũng như toàn Đông Nam Á. Sang Thời Kim khí, người Mongoloid
phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư khu vực. Người
Austrtaloid biến mất dần, không hiểu do di cư hay đồng hóa.” Khảo cổ học
cũng cho thấy, người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất nước ta vào
thời Phùng Nguyên, khoảng 4500 năm trước.
Một câu hỏi khác: họ từ đâu tới?
Ta thấy, suốt Thời Đồ Đá, trên toàn bộ Đông Nam Á kể cả Việt Nam không
có người Mongoloid. Trong khi đó, như phân tích ở trên, người Mongoloid
phương Nam xuất hiện tại văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ (cửa sông
Chiết Giang) từ 7000 năm trước. Lẽ đương nhiên, họ chỉ có thể từ hai nơi
này xuống Việt Nam. Nhưng do di ngôn của tổ tiên “Công cha như núi Thái
Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra,” ta hiểu, là từ Núi
Thái-Trong Nguồn các vị di cư tới Việt Nam.
Như vậy, có hai giai
đoạn hình thành người Việt: giai đoạn đầu, người Australoid từ Việt Nam
đi lên khai phá Trung Hoa. Tại Núi Thái-Trong Nguồn, khoảng 7000 năm
trước, người Việt hỗn hòa với người Mông Cổ phương Bắc, sinh ra chủng
người Việt mới mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, đó là tổ tiên của
các vị Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân.
Khoảng năm 2698 TCN, do thua trận Trác Lộc, người Việt của Lạc Long Quân
chạy xuống Việt Nam, lai giống với người Việt tại chỗ, sinh ra người
văn hóa Phùng Nguyên, tổ tiên trực tiếp của chúng ta.
Vào nam
Hoàng Hà, người Mông Cổ chiếm đất và dân Việt, lập vương triều Hoàng Đế.
Họ cũng hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ, được coi là tổ
tiên người Trung Hoa. Nhận được ưu thế từ hai nền văn minh, người Hoa Hạ
trở nên lớp người ưu tú của các vương triều Hoàng Đế, góp phần quan
trọng làm nên thời Hoàng Kim của văn hóa phương Đông. Nhưng sau thời
Chiến quốc, với sự bành trướng của nhà Tần, nhà Hán người Việt thì người
Hoa Hạ bị đồng hóa, tan biến trong cộng đồng Việt đông đảo. Hoa Hạ chỉ
còn là một danh xưng, bị các vương triều Trung Hoa chiếm dụng làm phương
tiện thống trị các tộc người khác. Người Hoa đổi đồng bằng Trong Nguồn
thành Trung Nguyên. Sông nguồn thành sông Hòn, sông Hớn rồi thành Hán
Thủy. Do mất đất mất tên nên hơn 2000 năm nay, người Việt ngơ ngác không
biết Trong Nguồn là đâu?! Họa tiết trên trống đồng Đông Sơn II.Quá trình hình thành di tích, tài liệu về cội nguồn tổ tiên trên đất Việt. 1.Quá trình hình thành
Lớp
di dân đầu tiên đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống. Theo đà xâm lăng của kẻ
thù, nhiều thế hệ người Núi Thái-Trong Nguồn di cư tiếp, tiến vào những
khoảng đất cao của đồng bằng sông Hồng vừa được tạo lập là Sơn Tây, Hà
Đông, Bắc Ninh... Chạy giặc, bỏ quê hương tới nơi xa lạ là nỗi đau của
người biệt xứ. Có thể, sau hàng vạn năm cách biệt, người Núi Thái-Trong
Nguồn không thể ngờ rằng nơi dung dưỡng mình hôm nay lại là đất gốc của
tổ tiên xưa. Vì vậy, mặc cảm mất nước luôn nặng nề, dai dẳng. Hướng về
nguồn cội là nỗi khắc khoải khôn nguôi. Nỗi nhớ thương đã kết đọng thành
câu ca Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra.
Có lẽ câu ca lúc đầu chỉ là nỗi lòng của người dân mất nước vọng cố
hương nhưng rồi nó thành tấm bia ghi nguồn cội để muôn đời con cháu tìm
về. Không dừng lại đó, những người tâm huyết nhất, theo tục xưa, đắp
những ngôi mộ gió để từ xa bái vọng tổ tiên Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông,
Kinh Dương Vương… Đó là công việc mà ngày nay người dân đảo Lý Sơn vẫn
làm để không quên người không trở về sau những chuyến đi! Khi khá giả
hơn, những ngôi đền thờ được dựng lên. Khi có chữ, những vị lão thành
lục trong trí nhớ những gì “được nghe ông bà kể” về tổ tiên xưa, ghi
thành tộc phả, ngọc phả. Sự thật được “thêm mắm dặm muối” cùng những yếu
tố huyền ảo để thêm phần linh thiêng, cao cả và đáng tin. Đọc một số
thần phả, ngọc phả do Đại học sĩ Nguyễn Bính chép, tôi bất giác nghĩ tới
chuyện “chạy di tích” thời nay. Lâu ngày mới về quê, gặp dịp làng xã
đình đám rước “Bằng công nhận di tích”. Thấy trên giấy vinh danh một vị
còn văn tế ở đình tế vị thần khác, tôi hỏi ông chú họ, đầu trò câu
chuyện này. Gạn hỏi mãi, ông thú thực: “Lúc đầu viết theo thần tích ông
thánh trong đình. Nhưng mấy ông văn hóa tỉnh nói: “Tra mãi không thấy
ông nào tên như vậy để làm giúp các bác. Chỉ có ông trạng X hơi gần với
hồ sơ của các vị. Nếu đồng ý thì chúng tôi giúp.” Anh tính, mất bao
nhiêu tiền rồi chả nhẽ xôi hỏng bỏng không, đành gật đầu chấp nhận cho
họ làm!” Phải chăng, ngày trước, cũng nghe ông bà kể lại, rồi với thứ
chữ Nho của thày đồ quê, các vị tiên chỉ trong làng mang đơn lên phủ cậy
quan. Sau khi nhận đồng lớn đồng nhỏ vi thiềng, quan phủ đưa hồ sơ lên
triều đình. Rồi dựa vào văn bản của địa phương, Đại học sĩ Nguyễn Bính
sáng tác hàng loạt ngọc phả, như người vẽ truyền thần. Đó là cái chắc,
chỉ có điều ngờ là không biết đại học sĩ có nhận tiền thù lao như hôm
nay không?
Hàng trăm năm qua đi, đám hậu sinh chúng ta có tất cả:
những ngôi mộ cổ, những ngôi đền với những pho tượng sơn son thiếp vàng
linh thiêng mà cha ông từng đời đời tế tự. Những thần phả, ngọc phả chữ
Nho với giấy bản xỉn màu thời gian, gáy mòn, góc vẹt, loáng thoáng lỗ
mọt… Và hơn cả là tấm lòng chúng ta hướng về tổ tiên cộng với sự ganh
đua của những họ tộc tranh nhau xem họ nào xuất hiện sớm nhất? Thế rồi,
với tiền của bá tánh, tiền thuế dân nhận từ dự án, những nấm mộ, những
ngôi đền được phục dựng khang trang hoành tráng, cùng với những hội thảo
trưng ra vô vàn “bằng chứng lịch sử”… 2. Đôi lời nhận định
Người
viết bài này có lúc hăm hở theo dõi những “phát hiện mới” với hy vọng
tìm được dấu vết khả tín của tổ tiên. Nhưng rồi sớm thất vọng! Cổ Lôi
Ngọc Phả chỉ mới ra đời vài trăm năm ghi Phục Hy, Thần Nông vùng Phong
Châu làm sao có thể phản bác Kinh Dịch 2500 năm trước viết “Phục Hy thị
một, thần Nông thị xuất”? Mấy ngôi đền Phục Hy, Thần Nông… trên đất
Phong Châu làm sao phủ định bài vị các ngài được thờ trên lăng mộ ở Thái
Sơn? Làm sao có thể tin Phục Hy họ Nguyễn, trong khi cả truyền thuyết
lẫn cổ thư đều ghi rõ: Phục Hy thị, Thần Nông thị, Hồng Bàng thị… “Thị”
cũng là họ, nhưng đấy là họ theo mẹ của thời mẫu hệ. Qua mẫu hệ hàng
nghìn năm mới sang phụ hệ, để “tính” - cách gọi họ theo dòng cha ra đời!
Thời đó, con người chỉ được đánh dấu bằng một từ duy nhất chỉ tên hoặc
thêm tước “đế” phía trước như Đế Minh, Đế Nghi… Vậy thì làm sao có ông
Phục Hy tên là Nguyễn Thận? Làm sao tin những bức tượng sơn son thiếp
vàng lòe loẹt trong đền là Phục Hy, Kinh Dương Vương khi trang phục trên
người các ngài là của quan lại triều Minh, triều Thanh?! Vì sao sống
cách nhau nhiều nghìn năm mà các vị tổ lại tụ họp trong khoảnh đất hẹp
vậy? Vì sao, chỉ là tổ người Việt mà truyền thuyết về các vị lan ra rộng
khắp từ Quảng Đông tới Ba Thục? Chỉ là tổ của người Việt với lãnh thổ
từ Bắc Bộ tới miền Trung mà sao lại có đền thờ Kinh Dương Vương trên Ngũ
Lĩnh? Nhiều, nhiều lắm những câu hỏi không thể trả lời!
Khi không
trả lời được những thắc mắc trên, trong trí tôi nảy sinh câu hỏi: Vì
sao lại có sự tình như vậy? Phải rất lâu sau, cùng với sự trưởng thành
của nhận thức, tôi nhận ra, những ngôi mộ được đắp, những ngôi đền được
xây chỉ là việc thu nhỏ một lịch sử từng diễn ra trên địa bàn rộng lớn.
Đó chỉ là sự sa bàn hóa một thực tế lịch sử vĩ đại! Tôi bỗng
hiểu và thông cảm với tiền nhân. Từ ký ức và tâm nguyện của mình, các vị
đã tạo những mộ gió, những ngôi đền bái vọng. Tấm lòng thành của bao
kiếp người đã tạo nên một tín ngưỡng dân gian vô cùng nhân văn nhớ về
nguồn cội, thờ kính tổ tiên... Nhưng rồi đám cháu con không hiểu cha
ông, u mê biến tín ngưỡng dân gian trở thành chính sử, để tự sướng và
lừa thiên hạ thì đã là tai họa!
Những người chủ trương việc này
nghĩ rằng mình đã sáng suốt, khám phá lại lịch sử là vì dân tộc, vì kính
ngưỡng tổ tiên. Không ai phủ nhận nhiệt huyết, tấm lòng của họ. Nhưng
thực tế cuộc sống đã bày ra trước mắt: yêu nhau như thế bằng mười phụ
nhau!
Trước hết, là xuyên tạc lịch sử:
Do chủ quan, do ít
hiểu biết, họ không hiểu rằng, giang sơn xưa của tổ tiên Việt là khoảng
trời, khoảng đất mênh mông toàn cõi Đông Á. Từng hàng chục nghìn năm
thống lĩnh hai con sông Đông Á (Hoàng Hà, Dương Tử) và xây dựng trên đó
nền văn hóa kỳ vĩ. Việc “quy tập,” co cụm tổ tiên về dải đất hẹp Phong
Châu chính là phủ định cả cội nguồn lẫn giang sơn vĩ đại của giống nòi!
Đó chính là cái tội chối bỏ lịch sử, cũng đồng thời chối bỏ nguồn cội!
Không
chỉ vậy, khi làm việc này, họ tự tước đi của mình vũ khí mạnh mẽ chống
lại những mưu toan xuyên tạc sử Việt. Họ từng biết, người Trung Hoa có
cuốn sách “Thông sử thế giới vạn năm” hơn 5000 trang, phủ định toàn bộ
lịch sử Việt Nam với những dòng ngạo mạn: “Khoảng 2000 năm TCN, bán đảo
Đông Dương bước vào thời kỳ đồ Đá Mới… 1000 năm TCN, những bộ lạc cư trú
quanh vùng sông Hồng Hà bắt đầu định cư..” Họ cũng biết, ông giáo sư
người Mỹ Liam Kelley chống báng tới cùng sự hiện hữu của Kinh Dương
Vương. Ông ta chỉ coi thủy tổ tộc Việt là do đám trí thức Hán hóa thời
Trung đại dựa vào cổ thư Trung Hoa bịa tạc ra. Một trong những lý cứ
khiến ông ta nghĩ vậy, chính là ở chỗ, truyền thuyết về Kinh Dương Vương
phổ biến khắp Trung Hoa. Nếu cứ theo “sa bàn” như quý vị hoạch định hôm
nay thì làm sao phản bác được vị giáo sư thông thái nọ? Nhưng nếu nắm
được lịch sử trọn vẹn của tổ tiên thì ta có thể nói, chính chứng cứ ông
học giả người Mỹ đưa ra đã chống lại ông ta! Đó là do, cộng đồng Việt
vốn là khối thống nhất trên toàn đông Á, cùng chung máu mủ, ngôn ngữ và
văn hóa. Từ thời Chiến quốc, bị tan đàn xẻ nghé, người Việt mang theo
truyền thuyết nguồn đi khắp nơi… III. Kết luận
Có
một thời tăm tối, chúng ta được cổ thư Trung Hoa và những vị thầy Tây
dạy rằng, người từ Trung Hoa xuống đồng hóa dân Annam mông muội. Dân
Việt là lũ Tàu lai. Tất cả văn hóa Việt là sự bắt chước Trung Hoa chưa
trọn vẹn. Người Việt không có chữ, phải mượn chữ Trung Hoa, tiếng Việt
mượn 70% từ tiếng Hán… Hàng nghìn năm ta tin như thế!
Trong cái
thời tăm tối ấy, chúng ta tìm mọi cách “thoát Trung” bằng việc viết ra
lịch sử riêng của mình. Trong đó có những ý tưởng “quy tụ” tổ tiên về
đất Phong Châu để tạo ra một cội nguồn, một lịch sử hoàn toàn độc lập
với phương Bắc. Ý tưởng như vậy được nuôi bởi bằng chứng là những ngôi
mộ, ngôi đền, những cuốn ngọc phả… khiến không ít người tin vì có nguồn
cội “thoát Trung”!
Nhưng sang thế kỷ này, nhờ khám phá khoa học,
ta biết rằng, lịch sử đã diễn ra theo con đường ngược lại: tổ tiên ta từ
xa xưa đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng trên toàn bộ Đông Á một
nền văn hóa vĩ đại! Không những tiếng Việt, chữ Việt là chủ thể tạo nên
tiếng nói và chữ viết Trung Hoa mà nền văn hóa Trung Hoa cũng được xây
dựng trên nền tảng văn hóa Việt! Chính đó là cơ sở của ý tưởng từ lâu in
sâu trong tâm cảm dân Việt: Trong khi các nhánh khác bị Hán hóa thì
người Lạc Việt ở Việt Nam vẫn giữ được giang sơn, đất hương hỏa cuối
cùng của tổ tiên.
Vì vậy, trong những “đồ án phục dựng lịch sử
Việt” ra đời lâu nay thì việc sa bàn hóa, quy tập tổ tiên về đất hẹp
Phong Châu là sai lầm tai hại nhất. Trong khi những phương án khác chỉ
là những ý tưởng trên giấy thì “đồ án” này tác động sâu rộng không chỉ
tới lịch sử, tâm linh mà tới cả cuộc sống dân tộc.
Thưa ông Phan
Lan Hoa, thời trẻ làm báo, tôi chỉ viết sự thực cho dù có rước lấy tai
họa. Nay vào tuổi cổ lai hy, tôi chỉ viết sử theo sự thật vì biết rằng,
chỉ sự thật là còn lại. Vì vậy, tôi không hề dám làm cái việc bạo thiên
nghịch địa là “đẩy đưa thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa” như ông
ghép tội. Phải đâu là chuyện cá ao ai nấy được? Tôi chỉ làm cái việc
trung thực là phát hiện sự việc của quá khứ rồi đặt nó vào đúng chỗ,
thưa ông! Theo thiển ý, nếu như có ngôi mộ nào sớm nhất của tổ tiên trên
đất Việt thì chỉ có thể là mộ Lạc Long Quân ở Rào Rum-Ngàn Hống hay tại
kinh đô Ao Việt!
Đáng buồn và đáng sợ là, những người “quy tập”
tổ tiên về đất hẹp Phong Châu không ngờ rằng mình đang làm cái việc nguy
hại tham bát bỏ mâm. Trong khi hất đi cái mâm thật, không chỉ đầy của
cải quý giá mà còn có cả văn tự ghi quyền sở hữu giang sơn vĩ đại của tổ
tiên xưa thì quý vị ôm lấy cái bát ảo! Cái mâm quẳng đi rồi, một khi
cái bát được chứng minh là giả, không hiểu quý vị tính sao?!
Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn
người Việt của nhà nước và cả giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm
nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn lặng lẽ và
đang ngày càng tỏ ra quyết liệt với những quan điểm mới, nhiều khi cực
đoan nhưng không phải không có lý. Tất cả cho thấy quả thật rất có vấn
đề trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt.
Truy
tìm nguồn gốc người Việt ngỡ như đã xong bỗng gần đây được xới lên,
nhất là trên mạng, nơi có điều kiện bày tỏ quan điểm một cách khá bình
đẳng. Theo dõi những cuộc trao đổi này, chúng tôi chợt nhận ra vẫn còn
những câu hỏi vô cùng lớn về nguồn gốc người Việt chưa được giải đáp.
Tóm tắt vấn đề như sau (xin chỉ nêu tên tác giả mà không dẫn nguồn, cho gọn):
- Theo quan điểm chính thống của giới sử học hiện nay thì người Việt
là người bản địa, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn và phát triển xuyên
suốt từ đó đến nay trên địa bàn nước Việt Nam, đã nhận nhiều tác động từ
bên ngoài, đã có nhiều biến đổi, đã tập hợp thêm nhiều nhóm dân tộc
khác vào cộng đồng nói tiếng Việt và đã trở thành một khối thống nhất
không thể tách rời, với một lịch sử đã được nghiên cứu hầu như đã đầy đủ
và rõ nét.
Tuy vậy, sự mạnh mẽ và quan phương của quan điểm này vẫn không ngăn
nhiều người nêu ra những nghi hoặc về cội nguồn nếu không thể kết nối
được nó với dân tộc anh em nào khác nữa, xa hơn về trước. Tại sao các
dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, H’Mông, Mèo, Dao... đều tìm thấy người
anh em của họ ở ngoài biên giới của bất kể nước nào trong khu vực, cớ
sao người Việt lại không tìm thấy anh em nào của mình ở trên các nước
khác? Liệu đó có phải là hệ quả của một sự hình thành cộng đồng Việt rất
muộn, tức Việt mới, do tổng hợp từ nhiều nguồn dân tộc khác nhau. Và
điều này xảy ra trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc hoặc thậm chí muộn
hơn nữa, thế kỷ XIII, XIV? (Các nhóm người Việt, gọi là người Kinh, ở
Quảng Đông và Quảng Tây - Trung Quốc nay đều là những di dân Việt vào
các thế kỷ gần đây).
- Từ giữa thế kỷ XX về trước, dựa trên các tư liệu huyền sử như Lạc
Long Quân - Âu Cơ, Triệu Đà, An Dương Vương và nhất là 18 đời vua Hùng,
nhiều tác giả cho rằng người Việt có nguồn gốc từ phương Bắc, gốc từ các
tộc người Hán di cư về châu thổ sông Hồng và tạo nên tộc người Việt như
ta thấy trong sử liệu chính thức. Đại diện cho quan điểm này là nhà
nghiên cứu Nguyễn Phương, học giả Đào Duy Anh...
- Gần với quan niệm này thì cho rằng người Việt nay là cùng trong
nhóm cộng đồng Bách Việt vốn phát triển khá rực rỡ ở phía Nam sông Hoàng
Hà (Trung Quốc). Người Hán khi tiến vào Hoa Hạ đã tiếp thu rồi nâng cao
rất nhiều từ nền văn minh này. Trong thời nhà Đường, nhiều nhóm người
Việt (thuộc Bách Việt) đã hoàn toàn nhập vào với văn hóa Hán và trở
thành một phần của nước Trung Hoa 1,4 tỉ dân hiện nay. Riêng nhóm Việt ở
Phú Thọ - Mê Linh tuy cũng bị 1.000 năm cai trị của các triều đại Trung
Hoa nhưng vì một lý do nào đó vẫn giữ được ý thức dân tộc và đến thời
Ngô Quyền thì giành được độc lập, giữ được nền độc lập đó cho đến tận
nay. Và có thể nói cộng đồng Việt thuộc An Nam là đại diện xuất sắc và
điển hình nhất của cộng đồng Bách Việt này. Đại diện cho quan điểm này
là Lê Mạnh Thát, Hà Văn Thùy, Nguyễn Đức Tố Lưu...
- Tác giả Phan Duy Kha và các bạn hữu nêu ra cội nguồn người Việt nào
đó ở về phía Nam, vùng núi Khu 4 cũ, từ Vinh (Nghệ An) đến Hà Tĩnh, đã
tiến ra vùng Việt Trì (Phú Thọ) để tạo nên văn hóa Đông Sơn rồi sau đó
trở lại nâng cao và sáp nhập vùng Khu 4 vào Việt (hậu).
- Bình Nguyên Lộc một mình vạch ra một
hướng tiếp cận khác. Ông đưa ra nhiều bằng chứng và quan trọng nhất là
với vốn từ vựng đang có thì người Việt phải có nguồn gốc từ Mã Lai Đa
Đảo, tức cộng đồng các tộc người hiện đang sống ở các nước như Malaysia,
Indonesia, Philippines, Thái Lan và dĩ nhiên: Việt Nam. Chỉ vì tiếp thu
một phần ngôn ngữ văn hóa của người Hán trong ngàn năm Bắc thuộc mà
người Việt đã trở thành xa cách với cội nguồn Mã Lai của mình. Quan điểm
của Bình Nguyên Lộc dù đã được giới nghiên cứu chỉ ra nhiều thiếu sót
nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ về lý do vốn từ vựng to lớn có
nguồn gốc Mã Lai trong vốn từ của người Việt (việc cùng nguồn gốc ngữ hệ
Nam Á không trả lời được hết các ví dụ Bình Nguyên Lộc nêu ra).
- Gần đây, GS Liam Kelley (Đại học Hawaii, Mỹ) đã xới lại vấn đề nghi
ngờ cội nguồn phương Bắc và cả cội nguồn bản địa của người Việt, cũng
không thiên về cội nguồn Mã Lai như Bình Nguyên Lộc. Người Việt là ai
thì Liam Kelley chưa nêu câu trả lời nhưng ông đang chứng minh ngày càng
rõ nét rằng những thứ mà ta tự hào và tin rằng nó vốn của người Việt từ
lâu nay thì thật ra đều là của người Thái. Vài ví dụ: Người Thái ở phía
Nam Trung Quốc vẫn đang dùng trống đồng và cái khèn nhạc cụ - thứ có
trên trống đồng, trong khi người Việt thì hoàn toàn không còn biết đến 2
loại nhạc cụ này từ rất lâu rồi. Người Việt là người Thái quên gốc gác
hay thực sự là một dân cư khác đến chiếm lĩnh vùng đất này? Hay sự hình
thành do tổng hòa văn hóa và ngôn ngữ của các cư dân cùng chung sống ở
châu thổ sông Hồng?
Vậy thì người Việt từ đâu mà có? Câu trả lời chưa rõ song vấn đề đang
được đặt lại một cách lý thú và khoa học hơn. Nếu sự hình dung nguồn
gốc của người Việt thời Pháp thuộc là cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt
lần thứ nhất và vẫn được kế thừa, phát triển đến hiện nay thì cuộc truy
tìm lần thứ hai của những nhà nghiên cứu sử học nghiệp dư như Bình
Nguyên Lộc, Nguyễn Phương, Công Đình Thanh, Hà Văn Thùy đã cho thấy vấn
đề cần phải được nhìn rộng hơn ở ngoài biên giới nước Việt nay; thậm chí
phương pháp nhân chủng, đo sọ, di truyền cũng đã được sử dụng để tìm
nguồn gốc người Việt. Và đến nay, cuộc đặt lại vấn đề nguồn gốc người
Việt lần thứ ba đã hình như được bắt đầu, thuận lợi của lần này là sự
công bố và các ý kiến phản biện đều được thể hiện rất nhanh chóng, như
tất cả đều đang ở trong một nhà và mọi ý kiến đều có thể trao đổi và
được tranh luận ngay khi được phát biểu. Đặc điểm của lần này chính là
sự tham gia của các quan điểm nhân học hiện đại, nhắm đến mục tiêu sự
dịch chuyển của các tộc người chứ không hề còn là cuộc tìm kiếm một cội
gốc đơn tuyến nào. Việc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến thuần nhất, xuyên
suốt từ cổ đại đến nay như Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt -
người Mường vừa xuất bản năm 2014 ngay lập tức đã tỏ ra không thuyết
phục mặc dù công trình khá dày dặn.
Đây là cuộc thảo luận khoa học rõ ràng là lý thú và khá hấp dẫn.
Nhiều tranh luận gay gắt đã được thể hiện. Tác giả bài viết này cùng bạn
hữu cũng đang ấp ủ những hướng tìm kiếm mới, hy vọng cuộc tìm kiếm này
sẽ mở vấn đề ra đa diện, nhiều chiều với những phương pháp tiếp cận mới,
thỏa mãn được mọi băn khoăn về cội nguồn.
Là sắc tộc đa số, giữ vị trí
trung tâm của cộng dồng dân cư Việt Nam nên từ cuối thế kỷ XIX, nguồn
gốc, văn hóa, lịch sử người Kinh được các học giả nổi tiếng phương Tây
bỏ nhiều công sức tìm hiểu. Sau khi giành được độc lập, các học giả
người Việt trên cơ bản tiếp tục đường hướng nghiên cứu này. Hơn thế kỷ
khảo cứu của nhiều lớp nhà Việt học đem lại kết quả nhất định, tạo nên
cái nhìn như hôm nay. Tuy nhiên, với những khám phá mới về nguồn gốc dân
tộc Việt, nhiều vấn đề về người Kinh cần được xem xét lại. Bài viết này
trình bày một lý giải mới về nguồn gốc người Kinh.
Cho đến nay phần lớn các học giả đồng thuận cho rằng: Người
Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách
thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết
khoảng thế kỷ thứ XI trở về sau.
Ý tưởng này được nhà ngữ học người Pháp H. Maspéro [1] đề xuất đầu tiên.
Tiếp đó là V. Goloubew [2]. Sau năm 1954, các học giả Việt Nam kế tục
quan điểm của trường phái Viễn Đông Bác cổ với Nguyễn Thế Phương [3], Hà
Văn Tấn, Phạm Đức Dương [4] rồi Nguyễn Tài Cẩn [5]. Dựa trên ngôn ngữ học so sánh, giới ngữ học cho rằng: thoạt kỳ thủy, từ
ngôn ngữ Tiền Việt-Mường chia thành nhánh Chứt-Pọong và nhánh
Việt-Mường chung. Sau đó Việt-Mường chung tách ra Việt và Mường.
Cũng thời gian này, giới nhân học vào cuộc. Trong Nhân chủng học Đông Nam Á,[6]
từ tư liệu “Hình thái nhân chủng một số nhóm nam giới Việt, Mường,
Chứt” và “Tần xuất nhóm máu ABO ở người Việt và người Mường,” Nguyễn
Đình Khoa nhận định: “Ngôn ngữ Việt – Mường hiện nay và trước đây là
ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loaị hình nhân
chủng Anhđônêdiên và Nam Á.” (t.128) Đồng thời tác giả cũng lưu ý
rằng, “Ở Việt Nam (có thể đại bộ phận bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á),
thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (thời đại đồ Đồng), thành phần
Anhđônêdiên thì hình thành sớm (thời đá mới). Như vậy phải đặt câu hỏi: Ngôn
ngữ Việt – Mường cũng có một cội nguồn cổ xưa như những người
indonesian nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt – Mường hình thành muộn
hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người có thể khác
nhau về tiếng nói, về nguồn gốc?(t.128)
Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương viết: “Tiếng Việt và
tiếng Mường có nguồn gốc Nam Á, nhưng do sự tiếp xúc lâu dài với các
ngôn ngữ Tày cổ nên nhóm Việt-Mường đã tách khỏi khối Tiền Việt-Mường.”
Về mốc thời gian, hai tác giả cho rằng: “Ngôn ngữ Tiền Việt-Mường đã
xuất hiện ở vùng lưu vực sông Hồng cách đây khoảng 4000 năm. Tại đây,
ngôn ngữ này đã tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ nhóm Tày cổ để hình thành
ngôn ngữ Việt-Mường chung.” Do khám phá việc xuất hiện loại hình Nam Á ở
Việt Nam và bán đảo Đông Dương vào thời đại đồ đồng từ quá trình chuyển
hóa của người Indonesian nguyên thủy nên Nguyễn Đình Khoa cho là có sự
liên quan giữa quá trình chuyển biến Indonesian thành Nam Á và giả thuyết về hình thành ngôn ngữ Việt-Mường.
Nguyễn Đình Khoa lưu ý tới vai trò của những tộc
người ngôn ngữ Môn-Khmer. Họ được nhất trí xếp vào dòng ngôn ngữ Nam Á,
là một trong những thành phần bản địa lâu đời nhất ở bán đảo Đông Dương,
là con cháu của người Indonesian nguyên thủy. Do vậy, tiếng nói và tổ
tiên họ phải là một dạng Nam Á cổ, trong đó theo Hà Văn Tấn và Phạm Đức
Dương, có yếu tố Tiền Việt-Mường. Tiếp xúc với ngôn ngữ Tày cổ thì tách
ra ngôn ngữ Việt-Mường chung. Giai đoạn này có thể tương ứng với quá
trình chuyển biến nhân chủng từ Indonesian thành Nam Á.
Có thể nhận ra rằng, sự đồng thuận này không dễ dàng mà là việc nhượng bộ của những quan niệm rất khác nhau thậm chí trái ngược:
Trong tài liệu đã dẫn, Maspéro coi tiếng Việt là một
nhóm trong dòng Hán-Tạng vì về cú pháp và thanh điệu tiếng Việt gần với
tiếng Thái. Nhưng trước đó người ta đã phát hiện trong tiếng Thái có yếu
tố ngôn ngữ Môn-Khmer và cả ngôn ngữ Mã Lai. Năm 1924, Przyluxki viết:
“…tuy trong tiếng Thái có nhiều từ Hán nhưng nó lại có nhiều yếu tố
chung với các ngôn ngữ Môn-Khmer…Có thể trong tương lai, cứ liệu thực tế
buộc chúng ta phải đặt tiếng Thái vào ngữ hệ Nam Á.” [7]
Như vậy là, tiếng Việt được sắp xếp trong một biên độ
rất rộng, từ Hán Tạng tới Môn-Khmer rồi Nam Á. Điều này chứng tỏ, có gì
đó chung cho các ngôn ngữ của cộng đồng dân cư Việt Nam nên việc chia
tách chúng một cách rành rẽ là điều khiên cưỡng. Từ những trích dẫn
trên, có thể đưa tới nhận xét rằng, dù ra đời hơn trăm năm trước và
không ngừng được củng cố thì ý tưởng người Mường chuyển hóa thành người Việt cũng chưa thực sự thuyết phục. Những thắc mắc nảy sinh:
1. Nhận định: “Ngôn ngữ Tiền Việt-Mường đã xuất
hiện ở vùng lưu vực sông Hồng cách đây khoảng 4000 năm. Tại đây, ngôn
ngữ này đã tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ nhóm Tày cổ để hình thành ngôn
ngữ Việt-Mường chung,” phải chăng là hữu lý? Bởi lẽ, 4000 năm cách
nay, đồng bằng sông Hồng còn chưa được tạo lập, nên sự tiếp xúc của ngôn
ngữ Tiền Việt-Mường với nhóm Tày cổ chỉ diễn ra tại miền núi, trung du
Bắc Bộ và vùng đất cao của châu thổ sông Hồng. Do vậy, người nói ngôn
ngữ Việt phải xuất hiện tại khu vực này trước chứ không phải ở đồng bằng
sông Hồng! Trong khi trên thực tế, người Việt là chủ thể của đồng bằng?
2. Thực tế lịch sử cho thấy, những nhóm gọi là Tày cổ hiện nay cũng chỉ từ Trung Quốc di cư về vào thời Nguyên. 4000 năm trước, thứ ngôn ngữ Tày cổ đó chưa xuất hiện. Vì vậy không thể có chuyện nó “tiếp xúc với Tiền Việt Mường để sinh ra người Việt.”
3. Nếu: “ngôn ngữ Việt – Mường hiện nay và trước
đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình
nhân chủng Anhđônêdiên và Nam Á,” có nghĩa là, từ 2000 năm TCN, dân
cư trên đất Việt Nam chỉ một chủng duy nhất Mongoloid phương Nam và ngôn
ngữ Nam Á thì vì lẽ gì chỉ có người Mường chuyển thành người Việt?
4. Được tách ra từ Tiền Việt-Mường vì sao mà số lượng
người Việt cực lớn, còn số lượng người Mường quá nhỏ, chỉ hơn 600.000
người?
5. Câu hỏi quan trọng: “Ngôn ngữ Việt – Mường cũng
có một cội nguồn cổ xưa như những người Anhđônêdiên nguyên thủy nhất
hay ngôn ngữ Việt – Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và
giao lưu giữa các cộng đồng người có thể khác nhau về tiếng nói, về
nguồn gốc”,vẫn chưa có lời đáp!
Đánh giá một cách công bằng, có thể cho rằng, là nhà
ngữ học uyên bác, khi phát hiện sự tương đồng khá cao về tiếng nói giữa
người Mường và người Việt đồng thời cũng nhận ra những yếu tố của ngôn
ngữ Tày trong tiếng Việt, H. Maspéro đã đề xuất ý tưởng trên. Sau này,
cảm nhận sự “hợp lý” của nó, các tác giả khác đã tiếp thu và phát triển,
góp phần đưa tới một cách nhìn nhận về con người và tiếng nói Việt Nam
hiện nay.
Tuy nhiên ngôn ngữ cũng như tư liệu metric (số đo)
sọ, không phải là chứng cứ đáng tin cậy giúp phân định chủng người. Như
nhà nhân học lớn nước Mỹ Jared Diamond khẳng định: “Những gì thuộc về
con người mà chưa được di truyền học xác nhận, đều không đáng tin cậy.”
Sang thế kỷ này, để giải quyết bài toán nguồn gốc người Việt, cần một
công trình độ sộ vẽ bản đồ gen người Việt. Trong khi chờ đợi kết luận cuối cùng từ công trình như vậy, tôi xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc người Kinh.
II. Nguồn gốc người Kinh theo cách nhìn mới.
Trước hết cần xác định lại một số thuật ngữ. Các tài liệu hành chính hiện nay viết rằng, Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Đây là cách dùng từ không chuẩn do không phân biệt hai khái niệmtộc người hay sắc tộc (race) và dân tộc
(nation). Dân tộc là cộng đồng người cùng một chủng tộc trong một quốc
gia. Trong một quốc gia có một hay nhiều dân tộc với ý nghĩa chủng
người.Tộc người là những sắc dân trong một chủng người. Sau năm 1954, ảnh hưởng của tài liệu dân cư học Trung Quốc cho rằng ở “Trung Quốc có 56 dân tộc anh em”,
các nhà làm chính sách của Việt Nam cũng ghi trong hiến pháp: Việt Nam
có 54 dân tộc anh em. Tuy nhiên sau đó, phát hiện sai lầm, người Trung
Quốc đã sửa: Trung Quốc có 56 tộc người thuộc năm dân tộc là Hán, Hồi,
Mông, Mãn, Tạng. Trong khi đó, do chưa có sự phân định rõ ràng, Việt Nam
vẫn giữ 54 dân tộc trong các văn bản hành chính.
Các tài liệu nhân chủng học cho thấy, từ 2000 năm TCN, dân cư Việt Nam gồm duy nhất chủng người Mongoloid phương Nam. Đến
nay nước Việt Nam bao gồm một dân tộc duy nhất là dân tộc Việt. Kinh,
Mường, Mán, Tày, Thổ, H’Mông, Dao, Khmer, Chăm, Bana, Êdê, Giarai… là
những tộc người hay sắc tộc trong dân tộc Việt. Vì vậy,
thuật ngữ NGƯỜI VIỆT dùng chỉ chung mọi tộc người bản địa Việt Nam.
Người Kinh là một tộc người hay sắc tộc trong 54 sắc tộc Việt. Việc gọi
người Kinh là người Việt là sai lầm, là sự tiếm xưng, đưa tới nhận thức
lệch lạc: chỉ người Kinh mới là người Việt, còn các sắc tộc khác không
phải là người Việt. Trước đây, do cách nhìn kỳ thị của chính quyền quân
chủ, các sắc dân Việt này bị gọi miệt thị là man, mọi!
Vì vậy, từ đây, tôi dùng thuật ngữ người Kinh thay cho người Việt trong thảo luận.
Người Kinh là một tộc người (race) trong cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Do vậy, muốn tìm nguồn gốc người Kinh cần phải biết
quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Tri thức của thế kỷ mới cho thấy,
70000 năm trước, hai đại chủng người Khôn ngoan Australoid và Mongoloid
từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây họ hòa
huyết sinh ra hai chủng người Việt cổ là Indonesian và Melanesian. Trong
đó người Indonesian (Lạc Việt) giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn
ngữ. Ngôn ngữ Lạc Việt là tiếng nói chủ thể của cộng đồng. Khoảng 40000
năm trước, người Việt đi lên khai phá đất Trung Hoa và xây dựng nơi đây
nền nông nghiệp phát triển. Khoảng 7000 năm trước, tại trung lưu Hoàng
Hà, người Việt tiếp xúc với người Mongoloid phương Bắc, sinh ra chủng
người Việt mới Mongoloid phương Nam. Khoảng 5000 năm trước, người
Mongoloid phương Nam tăng nhân số, trở thành chủ thể dân cư lưu vực
Hoàng Hà mà trung tâm là đồng bằng Trong Nguồn. Khoảng năm 2698 TCN,
người Mông Cổ du mục do Hiên Viên lãnh đạo tấn công vào Trác Lộc, xâm
chiếm đất của người Việt phía Nam Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế. Do
cuộc xâm lăng này, người Việt từ lưu vực Hoàng Hà di cư xuống phía Nam,
mang nguồn gen Mongoloid chuyển hóa di truyền dân cư Đông Nam Á sang
Mongoloid phương Nam. Khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận dân cư Đông Nam Á
trong đó có bán đảo Đông Dương được chuyển hóa thành người Mongoloid
phương Nam. Chủng Lạc Việt Indonesian chuyển thành dạng Mongoloid phương
Nam điển hình. Chủng Melanesian chuyển thành loại hình Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. Tiếng Lạc Việt là ngôn ngữ chung. Như vậy, câu hỏi 5 ở trên được giải đáp: người
Nam Á ra đời sau nhưng ngôn ngữ Nam Á (Lạc Việt) xuất hiện đồng thời
với hai chủng người Indonesian và Melanesian trên đất Việt Nam.[8]
Thời kỳ này đồng bằng sông Hồng và đồng bằng miền
Trung chưa hình thành nên người Việt cư trú trên vùng trung du và rừng
núi miền Bắc và miền Trung. Khoảng vài ba trăm năm trước Công nguyên,
đồng bằng sông Hồng được bồi tụ cơ bản đồng thời nhờ nước biển rút, một
châu thổ phù sa phì nhiêu xuất hiện [9]. Người Việt từ khắp nơi dồn về
vùng đất mới: từ Thanh Nghệ ra, từ Hòa Bình, từ trung du và miền núi Bắc
Bộ xuống và từ Trung Quốc trở về… Việt Nam bước vào văn hóa Đông Sơn
muộn, lưỡi cày đồng ra đời, khiến năng suất nông nghiệp tăng, lương thực
dồi dào. Nhờ vậy nhân số đồng bằng sông Hồng tăng nhanh. Do từ lâu
người Việt đã cùng một chủng tộc nên tại đồng bằng, dân cư không có
chuyển biến lớn về di truyền mà chỉ người Indonesian nhận thêm nguồn gen
Mongolic để chuyển hóa thành dạng Mongoloid phương Nam điển hình.
Cũng do sự tập trung này mà tại đồng bằng, ngôn ngữ
Lạc Việt được củng cố. Tuy nhiên về sau do tiếp xúc rộng với nhiều nguồn
dân cư nên ngôn ngữ có những yếu tố mới. Trong những người di cư về từ
Trung Quốc, có nhóm Tày-Thái, người Hakka, người Hán… Họ là con cháu
người Lạc Việt ra đi từ hàng vạn năm trước, sống và tạo lập văn hóa nông
nghiệp trên lưu vực Hoàng Hà. Do biến động của lịch sử, họ trở thành
dân cư của các vương triều Trung Hoa cũng như các tiểu quốc Việt còn độc
lập với triều đình Hoa Hạ tại lưu vực Hoàng Hà.
Từ thời Thương, Chu, chữ tượng hình được sử dụng
khiến cho ngôn ngữ vùng Trung Nguyên trở nên đơn âm và hữu thanh hóa.
Quá trình như sau. Chữ tượng hình từ 6000 năm trước được người Lạc Việt ở
Nam Dương Tử chế ra để ghi âm những tiếng dùng trong bói toán, bùa chú,
cúng tế. Tiếng Việt vốn đa âm nhưng chữ hình vẽ thì đơn lập, không thể
ghép với nhau. Vì vậy, những tiếng muốn được ký âm buộc phải chuyển
thành đơn âm như blời trời thiên; tlủ sủ trâu; krong sông, rồng,
long… Trong dân gian người Việt, từ lâu quá trình đơn âm hóa ngôn ngữ
đã xảy ra. Khi nhà Ân chiếm đất An Dương của người Việt ở Hà Nam, phát
hiện chữ Giáp cốt, đã tập trung phát triển loại chữ này. Sang thời Chu,
chữ được phổ biến hơn và được sử dụng rộng rãi vào thời Chiến Quốc. Nhà
Tần đã quy chuẩn hóa chữ vuông. Nhờ vậy, tiếng nói dân cư Trung Nguyên
đơn âm hóa mạnh. Khi tiếng nói đơn âm thì cũng tự nhiên xuất hiện thanh
điệu: chỉ cần đổi dấu thanh sẽ được tiếng mới với nghĩa mới. Thí dụ
Thanh Thành Thánh Thạnh…
Khi di cư về Việt Nam, người Thái, người Hẹ (Hakka),
người Hán… mang theo tiếng nói đơn âm và hữu thanh về, góp phần làm biến
đổi tiếng nói của cộng đồng, khiến cho tiếng Việt trở nên đơn âm và có
thanh điệu. Khi sáp nhập Âu Lạc
với Nam Việt, nhà Triệu đem chữ Nho vào dạy và sử dụng ở nước ta. Nhất
là từ sau cuộc xâm lăng của người Hán, chữ Nho thành quốc ngữ, được dùng
trong hành chính và giáo dục, quá trình chuyển hóa tiếng Việt sang đơn
âm và hữu thanh được tăng cường.
Cùng với việc đô thị hóa, giao lưu thương nghiệp, văn
hóa của đồng bằng mở rộng với khu vực nên dần dần hình thành một dạng
dân cư mới sống ở đồng bằng, được gọi là người Kinh với nghĩa dân cư
vùng kinh đô. Theo thời gian, người Kinh phân biệt với dân cư các
vùng khác bởi tiếng nói, văn hóa, cách sinh hoạt, phong tục tập quán mà
thành một sắc tộc riêng.
Như vậy, người Kinh là sản phẩm của quá trình khai
phá đồng bằng sông Hồng. Khi biển rút, đồng bằng mở ra, những phần tử ưu
tú, năng động nhất trong các bộ lạc người Việt từ các vùng khác nhau
kéo xuống khai thác đất mới. Mỗi nhóm người đóng góp phần tốt đẹp nhất
của mình tạo nên một cộng đồng dân cư mới. Đồng thời mỗi sắc dân cũng
hòa lẫn trong cộng đồng. Thí dụ tiêu biểu của việc này là sự kiện 40.000
tù binh người Chăm được đưa tới đồng bằng Bắc Bộ vào thời Lý. Nay con
cháu họ là ai? Một thí dụ khác: Quảng Nam là địa bàn phân bố từ xa xưa
của người Chăm. Nhưng vì nằm trên đường mở nước nên hơn 500 năm điễn ra
cuộc tiếp xúc liên tục với người Kinh. Kết quả là phần lớn dân cư nơi
đây được Kinh hóa, trở thành người Quảng Nam hôm nay…
Vì thế, về mặt di truyền, không có chuyện chỉ riêng
người Mường phân hóa thành người Kinh mà do tiếng Mường giữ được nhiều
nhất yếu tố ngôn ngữ Lạc Việt nên khi so sánh ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ
học ngộ nhận cho rằng chỉ có người Mường phân hóa thành người Kinh.
Cũng vậy, hiện tượng đơn âm và hữu thanh của tiếng Kinh được ảnh hưởng
từ nhiều nguồn: người Tày-Thái, người Hẹ, người Hán… từng có mặt tại
đồng bằng nhưng rồi những dòng người này bị đồng hóa, hòa tan trong dân
cư đồng bằng, không để lại dấu vết. Trong khi đó một số nhóm Tày-Thái
Tây Bắc, di cư về muộn hơn nhưng do sống khá biệt lập, đã bảo lưu được
phong tục tập quán và tiếng nói hình thành trên đất Trung Hoa nên khi
phát hiện ra, các học giả cho rằng,người Mường tiếp thu ngôn ngữ của nhóm Tày cổ để biến thành người Kinh. Trong khi thực tế không phải vậy.
Quá trình tương tự cũng diễn ra tại đồng bằng
Thanh-Nghệ-Tĩnh. Vùng đồi núi Thanh-Nghệ là nơi cư trú sớm nhất của
người Việt cổ từ thềm lục địa đi lên, nên là nơi phát tích của dân cư
Việt Nam. Khi đồng bằng miền Trung hình thành từ phù sa sông Cả, sông
Mã, sông Chu, các dòng người cũng tập trung về đây, hòa huyết và hòa
nhập văn hóa sinh ra cộng đồng người Kinh miền Trung. Do sinh ra từ miền
đất cổ nên phương ngữ miền Trung là phương ngữ cổ xưa nhất của Việt
Nam. Phương ngữ miền Trung được chia cho phương ngữ đồng bằng sông Hồng
và phương ngữ miền Nam.
III. Kết luận
“Người Tiền Việt-Mường tiếp xúc với nhóm Tày cổ sinh ra người Kinh…” là câu chuyện hư cấu kéo dài hơn thế kỷ. Tiền Việt-Mường chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng. Ngay cả chuyện ngôn ngữ Tày cổ góp phần làm nên tiếng Việt cũng không có thực.
Từ quá trình hình thành dân cư Đông Á với những bằng
chứng khảo cổ học, văn hóa học, ngôn ngữ học, cổ nhân chủng học, di
truyền học và toàn bộ lịch sử Đông Á, ta có thể chắc rằng, người Kinh là
tổng hòa những dòng di cư người Việt tới chiếm lĩnh đồng bằng sông Hồng
bắt đầu từ khoảng 500 – 300 năm TCN. Sau nhiều vạn năm sống trên dải
đất hẹp của trung du và rừng núi, đồng bằng sông Hồng khi nước rút, trở
thành đất hứa thu hút những con người năng động quả cảm nhất trong các
bộ tộc Lạc Việt kéo về khai phá. Trong những người di cư này, người Việt
từ Trung Quốc trở về có vai trò đặc biệt. Cùng với tiếng nói đơn âm và
thanh điệu, họ mang về đất tổ những con người tài năng với kinh nghiệm
quý giá của cuộc sống năng động phía Bắc. Ta còn nhớ, năm 43 sau khi
diệt cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện đã thi hành cuộc diệt chủng
tàn khốc. Ông bắt 300 gia đình quý tộc hàng đầu của Âu Lạc (khoảng 3000
tới 4000 người) đi đày ở huyện Linh Lăng Nam Dương Tử. Mất tầng lớp ưu
tú nhất, Âu Lạc như rắn mất đầu, hầu như không còn năng lực để vươn dậy.
Phải 200 năm sau mới có cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh. Cũng
phải 200 năm nữa mới có cuộc vùng dậy của Lý Bí, là hậu duệ đời thứ bảy
của một người Giang Nam di tản
thời Tây Hán. Đinh Bộ Lĩnh là con Đinh Công Trứ, Quyền Thứ sử Hoan châu
kiêm Ngự Phiên Đô Đốc, một vị quan từ Giang Nam tới. Rồi tổ tiên những
dòng vua rực rỡ nhất trong sử Việt như Lý, Trần cũng thuộc những lớp
người di tản này…
Là lứa con út của đại tộc Việt, người Kinh không chỉ
thụ hưởng phần đất hương hỏa trù phú nhất của tổ tiên mà còn nhận được
phẩm chất di truyền cùng văn hóa ưu việt từ giống nòi. Cũng như nước từ
các sông suối tạo thành biển, các tộc người Việt gặp nhau ở đồng bằng
sông Hồng và đồng bằng miền Trung hình thành người Kinh. Nhờ vậy, người
Kinh trở thành tộc người tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Giả thuyết trên có thể phù hợp nhất với sự thực lịch
sử. Tuy nhiên, như lời của Jared Diamond: “chỉ khi được di truyền học
kiểm chứng mới đáng tin.” Mong rằng ngày sự thực được chứng minh không
còn xa.
Tài liệu tham khảo:
H. Maspéro. Etude sue la phonétique historique de la langue annamite. BEFEO, T.XII Hanoi 1912 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
V. Goloubew. Le peuple de Dong Son et les Muongs. Catrier de I’Ecole frse, No 10 -1937 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
Nguyễn Thế Phương. Tiếng Mường và mối liên quan về nguồn gốc giữa người Mường và người Kinh Tập san Văn Sử Địa, số 42 năm 1958.
Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương. Về ngôn ngữ tiền Việt-Mường. Dân tộc học, số 1-1978.
Nguyễn Tài Cẩn – Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt. Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần I Hà Nội 1988.
Nguyễn Đình Khoa – Nhân chủng học Đông Nam Á. (NXB DH&THCN, H. 1983)
Przyluxki R – Les Langues sino-tibetanes. Les Langues du monde,1924 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
Hà Văn Thùy – Tiến trình lịch sử văn hóa Việt. SG xuất bản. Amazon.com
Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam. Khảo cổ học đồng bằng sông Hồng.
Đặt vấn đề
Thường có nhiều khẳng định về nguồn gốc người Việt, khá nhiều trong số đó mâu thuẫn lẫn nhau: "Người Việt là dân tộc cổ xưa nhất châu Á", "người Việt là tổ tiên của người Tàu", "người phương Bắc tới đã thay thế hết người Việt bản xứ" ... Trả lời những câu hỏi này không hề dễ. Phương pháp cổ điển là nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa, tuy nhiên ngôn ngữ và văn hóa không đáng tin cậy trong việc xác định tổ tiên. Văn hóa có thể được lan truyền thông qua một tầng lớp quý tộc chiếm một phần nhỏ trong dân số, mà không cần tới một cuộc di dân đại quy mô. Từ cuối thế kỉ 20, những tiến bộ trong di truyền học giúp người ta phân tích bộ gene tốt hơn, giúp trả lời phần nào những câu hỏi "tổ tiên của tôi là ai?"
Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể giới tính Y
Cặp nhiễm sắc thể giới tính ở nam là XY, ở nữ là XX. Nếu một người nam có con trai, thì đứa con chắc chắn mang nhiễm sắc thể Y giống hệt cha mình. Điều này có nghĩa, nếu một người sống dưới thời Hùng Vương vẫn còn hậu duệ cho tới ngày nay, thì con trai của con trai của con trai .... của ông ta đang mang trong người nhiễm sắc thể Y giống hệt ông tổ của mình. Không có nhiễm sắc thể nào khác được di truyền ổn định như vậy. Nếu so sánh nhiễm sắc thể Y của tất cả đàn ông trong một khu vực, ta có thể biết được họ có cùng một tổ tiên hay không, và tổ tiên của họ đến từ nơi nào.
Trong suốt 60.000 năm lịch sử, nhiễm sắc thể Y nhiều lần bị đột biến. Nếu đột biến này xảy ra với một người, thì con cháu ( nam giới) của ông ta sẽ mang nhiễm sắc thể Y khác với con cháu của những người khác, bất kể là những dòng con cháu này có cưới lẫn nhau hay không. Nếu như trong một cộng đồng tìm thấy nhiều nhiễm sắc thể Y khác nhau, thì có nghĩa là cộng đồng được tạo thành bởi con cháu của những "ông tổ" khác nhau. Lần theo dấu vết những "ông tổ" này có thể kể lại câu chuyện chi tiết về lịch sử hình thành của các dân tộc.
"Cây tiến hóa" của nhiễm sắc thể Y về sơ lược là như sau:
Sự phân nhánh của nhiễm sắc thể Y trùng hợp với sự phân nhánh các chủng tộc. Nghiên cứu quá trình tiến hóa của nhiễm sắc thể Y giúp hiểu được quá trình phân hóa của loài người.
Từ một tổ tiên chung ở châu Phi đã xuất hiện những đột biến. Một số người mang đột biến ( thuộc nhánh CT) rời khỏi châu Phi, con cháu của họ định cư trên khắp thế giới: ngày nay nhánh C và D được tìm thấy ở những vùng hải đảo, nhánh F G H I J được tìm thấy ở châu Âu, nhánh N và O là người da vàng, cùng với những người bà con gần là nhánh Q và R ở châu Mỹ.
Sự phân nhánh của chủng Đông Á
Nhánh O da vàng được gọi là "chủng Đông Á" vì nó chiếm tỉ lệ cao nhất trong dân cư khu vực này. Trong quá trình di cư, những người thuộc nhánh O cũng có những đột biến, phân thành O1, O2 và O3. Sự phân bố của các nhóm này giúp chúng ta đoán được con đường di cư của những người cổ.
Nhánh O2: những người miền duyên hải. Chiếm 40% dân số Việt Nam ngày nay, đồng thời xuất hiện với cường độ cao ở các khu vực ven biển khác: Campuchia, Malaysia, Nhật Bản ... Nhánh O2 chỉ chiếm 10% ở Trung Quốc. Đặc biệt nhánh O2 có xuất hiện ở một hòn đảo gần châu Phi, cho thấy đây là những người giỏi đi biển.
Nhánh O3: những người trồng lúa nước. 55% dân số Trung Quốc và Myanmar, 30% dân số Việt Nam, 20% dân Nhật Bản ... Sự lan tỏa rộng của nhánh O3 có thể chính là nhờ nền văn minh lúa nước.
Sự khác biệt trong phân bố giữa O2 và O3 gợi ý rằng hai nhóm này đã tách khỏi nhau từ rất sớm. Nhóm O2 men theo bờ biển và lên tới Nhật Bản. Nhóm O3 đi sâu vào lục địa. Myanmar hoặc một nơi nào đó trong vùng Trung Á có thể là nơi phát tích của cả 2 nhóm này. Việt Nam có thể là nơi 2 nhóm này gặp lại nhau, giống như truyền thuyết "con Rồng cháu Tiên".
Trong cộng đồng người Kinh còn có 11% thuộc nhóm C, là gene của những người cổ đã định cư từ lâu trước khi những người da vàng nhóm O tới. Để hiểu được điều này, chúng ta phải quay ngược thời gian thêm tí nữa.
Câu chuyện tổng thể: 2 đợt di cư vào châu Á
Mặc dù con người đã xuất hiện cách đây hơn 200.000 năm, nhưng có một giai đoạn họ đã đi tới bờ vực tuyệt chủng: bộ gene của toàn thế giới ngày nay có thể được chứa trong 2.000 người, có nghĩa là đã có một thời điểm trong quá khứ dân số loài người chỉ còn không quá 10.000. Một số dấu tích của người cổ được tìm thấy trên các châu lục khác cách đây hơn 100.000 năm, nhưng toàn bộ dân số hiện nay là con cháu của những người mới chỉ rời khỏi châu Phi cách đây 60.000 năm. Như vậy đã có một giai đoạn thay đổi khí hậu khiến cho những người cổ ở các châu lục khác tuyệt chủng hết, và châu Phi là "con tàu Noah" cứu sống khoảng vài ngàn người trước khi họ sinh sôi trở lại.
Biểu đồ sự phân nhánh của các gene trên nhiễm sắc thể Y
Khoảng 60.000 năm trước, một nhóm người mang đột biến M168 ( nhóm CT) rời khỏi châu Phi tới vùng Trung Đông. Một số ở lại đây định cư. Một số khác lần theo bờ biển tiến xuống Ấn Độ, tới vùng Đông Nam Á, rồi tiến xuống châu Úc. Trên đường đi họ sinh ra đột biến nhóm C và D, để lại dấu tích trong gene của thổ dân Úc, 50% dân Mông Cổ, và 30% dân Nhật Bản, 10% số dân Việt Nam ngày nay.
Con đường di chuyển của nhóm C. Họ là những người cổ của Úc, Việt Nam, Nhật Bản.
Khoảng 40.000 năm trước, những người còn ở lại Trung Đông lại bắt đầu di chuyển. Ở biển Caspian, họ tách ra một lần, một nhóm đi vào châu Âu một nhóm đi vào châu Á. Khi gặp dãy Himalaya họ lại tách ra lần nữa, một nhóm đi lên phía Bắc vào vùng Trung Á, một nhóm đi về phía Đông. Đột biến M175 xuất hiện, đánh dấu sự hình thành của nhóm O ( người da vàng).
Con đường di chuyển của nhóm O. Họ đến sau, và bắt đầu chung sống với những người nhóm C đã sinh sống từ trước. Do mực nước biển dâng lên, người nhánh O không đến được châu Úc, cho nên những thổ dân châu Úc có gene chủ đạo là C, D.
Sau khi băng qua Ấn Độ, nhóm O lại tách ra. Nhóm O1 và O2 men theo bờ biển, đến sống tại vùng Đông Nam Á và Nhật Bản. Nhóm O3 đi vào lục địa, một số rẽ ngang đến phía Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở đây họ gặp lại những người bà con nhóm O2, hình thành người Việt. Số khác gặp nhóm N và Q ở phía Bắc Trung Quốc, hình thành người Hán ngày nay.
http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=35558
Thờ kính ông bà tổ tiên – văn hóa Việt – truyền giáo
1 Tháng Tư, 2011921 Lượt xem
THỜ KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN, GIÁ TRỊ VĂN HÓA, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI VIỆT LIÊN HỆ VỚI VIỆC TRUYỀN GIÁO
Lm. Giuse Vũ Kim Chính, S.J.
Ðề
cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức
tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy
tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh
vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những
nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của người Việt cũng thế,
là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của
biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn
tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở
đây khi chọn đề tài “Ông bà tổ tiên” liên hệ với việc truyền giáo,
chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và
Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới
vấn đề “lễ nghi” đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý
do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý
do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn
khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình.
Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử
này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính
ông bà tổ tiên?
1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên
Tuy
ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng
nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm
tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã
chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam.
Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau
thảo luận những tranh chấp về “lễ nghi” thì những tài liệu của các quốc
gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.
Việt
ngữ dùng danh từ “tôn giáo” để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ “tôn” cũng
còn một âm nữa là “Tông” nguyên ủy chỉ ông “thứ tổ” (ông tổ thứ hai),
rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo
phái, học phái. Như vậy, “tôn giáo” theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu
kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na
theo lối bình dân như:
“ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn”, hoặc:
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con”.
Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:
“Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân”.
hay ở đoạn khác:
“Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời”.
Như
vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn
kính “Thần Thánh” theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã
chép: “Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư
hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa
nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ
tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa
chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn
Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế.
Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên
có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua
quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định
có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì “vạn vật bản
hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ” (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở
Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì
các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như
Kinh Thi chép: “Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di,
hiếu thị ý đức” (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường,
mới có đức tốt).
“Ông Trời” là nguyên
ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai
cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp
hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi
vui khi buồn đều có thể gọi “Trời ơi” được, nhưng họ không được phép
trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu
thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: “Việc thờ Trời, thờ quỉ
thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả,
và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở
Á đông”. Dù được trực tiếp tế tự “Trời” hay chỉ gián tiếp qua Thần
Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới “Thiên nhân
tương dữ”. Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý,
để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với
Thiên đạo. Nói cách khác: “Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy
tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc
họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả,
cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng
trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ”.
Nho
gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa
mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm
và dưỡng tính của bậc quân tử”. “Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã” (Luận
Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm
quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức
là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ
lòng chân thành: “tế thần như thần tại” (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch:
tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời “kính quỉ thần nhi viễn chi”
(Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo
Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu
có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường
cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ
lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống
Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. “Quân tử thể nhân túc
dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh
cố túc dĩ sự” (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân
làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm
cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái
trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? “là
Cung, khoan, tín, mẫn, huệ”. Khổng tử giải thích thêm: “Cung thì không
khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được,
mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người” (Luận Ngữ: Dương Hóa,
XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm
ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này,
mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng
riêng, một người coi trọng “Nhân” là bảo tồn tính bản thiện của con
người, một người trọng “Lễ” để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất
cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh
Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ
trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm
mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.
Ðạo
hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính
đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng
hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha
mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: “sống thì lấy lễ
mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế” (Luận Ngữ: Vi chính II).
Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu
những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là
nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: “Thận chung,
truy viễn, đức qui hậu hĩ” (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc
cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).
Tư
tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần
quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và
hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả
sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả
chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn
gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số
quần chúng Việt Nam được coi là theo “đạo Ông Bà” thường có phong tục
làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có
việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan
trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên,
như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu
đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con… hay nhiều khi
chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại.
Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như
việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một… Ngoài những
biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan
trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh
loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,… Tất cả những kính cáo, trình
khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui
cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn
lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa
xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: “Con
cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo
của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu
hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng”.
Nói
tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này
mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương,
nến sáp… Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có
bàn thờ riêng thờ ông “Thủy Tổ” của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông,
biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày
ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi
nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn
thờ Thủy Tổ.
Quần chúng tuy một đàng
muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân
biệt rõ ràng như những nho sĩ “vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn
chi”, nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì
muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá.
Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay
Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh… để bảo vệ
che chở mình hay giúp phát tài,… Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo
Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao
thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần “lễ nghi” tôn kính ông bà tổ
tiên.
2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:
Lịch
sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước
dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu
tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt
tới việc “bản vị hóa” chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo
tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô
giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus
Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo
va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng
cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một
nghĩa khác trong ngôn ngữ là “Deusu” làm trò cười cho nhiều Phật đồ
Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là “daiuso”, có nghĩa là “Nói
dối đại tài”. Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo
kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de
Rhodes v.v… đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo
được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này
đã xảy ra cuộc tranh chấp về “lễ nghi”. Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu
tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng
Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ
trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn
giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính
chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở
Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu
mà thôi.
Trước tiên chúng ta bàn về
vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, “Deus”, các
nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ “Thiên Chúa”. Nhưng dùng cách thế
nào để giải thích chữ “Thiên Chúa” thì hai phe có những lập trường khác
nhau. Một bên cho rằng dùng chữ “Thiên Chúa” để chỉ Deus thì phải hiểu
hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như
“Thiên”, “Thượng Ðế” để diễn giải được, vì “Thiên” theo ý họ “chỉ có
nghĩa là bầu trời” (ciel materiel et visible), còn quan niệm “Thượng Ðế”
là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới “vô
thần” như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ “Thiên Chúa” mặc dù là
chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong
kinh điển Trung Hoa xưa như “Thiên”, “Thượng Ðế” để người Trung Hoa có
một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của
“Thiên Chúa” được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ
điển vẫn dùng là: phương pháp “phủ nhận” (via negotiva) và phương pháp
“sánh loại” (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng
bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên
thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan
trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles
Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo
tuyên bố: từ ngữ “Thiên Chúa” phải được dùng để chỉ chữ “Deus” còn những
tiếng khác như “Thiên” và “Thượng Ðế” thì không được dùng.
Ðối
với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ “Thiên Chúa” trong
văn chương, nhưng cũna dùng chữ “Ðức Chúa Trời” theo nghĩa bình dân để
chữ “Deus”. Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng “Ông
Trời” (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan
niệm “Trời” không phải chỉ là “bầu trời”, nhưng cũng là “Hóa Công”, đấng
sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan
niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới
để giải thích một quan niệm chí ư “trừu tượng”, đối với họ hoàn toàn mới
lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như “Thượng
Thiên”, “Hiển Thiên”, “Hoàng Thiên”, “Thượng Ðế” để giải thích chữ
“Thiên Chúa”, vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không
hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo
đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa?
Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: “Quan niệm một
Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người
Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ
kính đều qui hướng vào đó”. Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài
thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù
“Thượng Ðế” theo người Trung Hoa hiểu có “ngôi vị” hay không, cũng không
thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để “giải thích”
tiếng “Thiên Chúa” được.
Như vậy ta
thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo
luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường
hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di
sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay
không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm
dùng như vậy?
Bây giờ chúng ta trực
tiếp đề cập tới cuộc tranh luận “lễ nghi”. Vấn đề chính của cuộc tranh
chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là “tôn thờ” tổ tiên vì
nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo
“đạo Ông Bà”. Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong
những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn
thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối
tượng của đạo này là “tôn thờ Bài Vị” của những người quá cố, Bài Vị này
là chỗ của các Hồn người quá cố “cư ngụ”. Khi hành lễ gia trưởng chắp
vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có
đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu… lễ nghi này cũng
giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ.
Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính
cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi
xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử
hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ
đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như
vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu
hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ
khắc “Thần Chủ” không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng
những “mô tả” hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn
nữa, coi việc “Tôn thờ tổ tiên” ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ
phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: “Theo lịch xưa của người La
Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là
“Feralia”, bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp
tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố
để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà
những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong
tư thất trước bài vị tổ tiên”. Sự so sánh này đặt người hữu trách trước
một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong
tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở
trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó
không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.
Trong
khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự “tôn kính”
bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống
hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa
chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách
tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái
độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được
giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với “chùa
miếu” là nơi tôn thờ các thần thánh, “đường” nơi có tính cách “trung
tính” (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, “chủ đường”
hay “tông đường” (hay nói nôm na là “chỗ dành cho tổ tiên”) là “nơi”
kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng
như phong tục tập quán địa phương có những “nơi” riêng trọng kính các vị
tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là “bàn thờ”
thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có
ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị “là biểu
tượng” cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ “cư ngụ” của
hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có
thói quen tìm một người “thay thế” cho một người thân quá cố. Phong tục
này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người
quá cố ở giữa con cái. “Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự
hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài
vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng
này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác”. Trong khi đó, việc
“hóa” vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là
những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy
hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng
tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời.
Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng
thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng
Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: “Nói là
Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức
hay thêm bổng lộc là không đúng… Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có
nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ
này… Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một
dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên
cho đến muôn đời”. Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người
có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không
được tòa thánh thời đó lưu ý tới.
Trên
đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối
với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp “lễ nghi”
này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704
đã quyết định:
– Cấm dùng chữ “Thiên”
hay “Thượng Ðế” để giải nghĩa “Thiên Chúa”. Theo đó không được dùng
“mensa seu altare” (bàn thờ) để “kính Thiên” trong nhà thờ.
–
Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo
như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không
được phép lập “chủ đường”, miếu đường”, cũng không được phép dâng lễ vật
trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín
(“tamquam superstitione inseparabilia”). Tông huấn (Ex illa die) đã
được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang
Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang
Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715
mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban
hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn
“Ex illa die” được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau,
nhưng khi phải quyết định phát thệ “chống lễ nghi” theo chỉ thị của tòa
thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận
tông huấn “Ex illa die”. Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối
lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ
từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì
chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose
Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720.
Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được
tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức
thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền
giáo, đồng thời đã liệt kê “Tám điều được phép” để dễ dàng thực hành mục
vụ. “8 điều được phép này” đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng
những điều cấm ngặt của tông huấn “Ex illa die”. Tỉ dụ: được lập “bài
vị” trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung
Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách “dân
sự” (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép
dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người
quá cố… “8 điều được phép này” đã làm sống lại cuộc tranh chấp “lễ nghi”
một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu.
Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị
trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình
trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn “Ex Quo
Singulari” do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này
là tông huấn cuối cùng cấm ngặt “lễ nghi” đối với tổ tiên và rút lại tất
cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định:
“không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu”.
3. Bàn Về Việc Tranh Chấp “Lễ Nghi”
Trong
quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được “bị
cấm vì xấu” hay “xâu vì bị cấm”. Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực
tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau
gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ
việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ “lễ nghi” mà tông
huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà
truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam… đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ
tiên cần có một cái nhìn “mới”. Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô
II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học
bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được
khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp
chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.
Trước
tiên chúng ta nhận định “mạch sống” của hai phe. Một bên đứng trên quan
điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa
của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính
hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo.
Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường
của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng
ta thấy hiện nay những “lễ nghi” tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế
đã mang một ý nghĩa hoàn toàn “dân sự”. Các nhà trí thức Việt Nam như
Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v… cũng
cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối
với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì
thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của
“niềm tin”, nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự
sống và sự chết, cũng không phải là hành động “phi lý” nhưng là những
củ chỉ “tự nhiên” (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm
lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả,
tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật
chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái
cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi
trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ
hiền, một người con thảo… để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan
niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng
trên bổn phận luân lý.
Trong khi đó
các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi
việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ
rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo,
làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu.
Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây
ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu
minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng,
vì nếu không dùng chữ “Thiên” để giải thích “Thiên Chúa” thì khi dùng
chữ “Thiên Chúa” người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống
văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là “Thần nhân” thì ý nghĩa
của chữ “Thần” này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ
như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những
hạn ngữ như “Altare”, “Sacrificium”, genuflectio, templum… là những từ
ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý
nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán
những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện,
hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó
quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những
ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn
đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?
Tóm
lại, cuộc tranh chấp “lễ nghi” nói lên những khó khăn mà một thần học
bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua.
Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm
vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến
tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự
tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở
Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó,
nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những
nhu cầu sống của giáo hội địa phương.
Như
vậy, đề cập tới vấn đề “Ông Bà Tổ Tiên” có liên quan tới việc truyền
giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có
nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó,
nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa
của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ
tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý,
thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành
luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh
(self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc
chủ trương thuyết “vô tri thức” (agnosticsm) như khuynh hướng của một số
nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né
tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành
bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng
Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin
rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này,
họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài
và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm
tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh “lễ nghi” này thuộc phạm vi
luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi
niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể
dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin “Thiên nhân
tương dữ” và “vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ” để giải thích. Theo
đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng
không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt
ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của
vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính
ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ
được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời
qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo,
chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình
thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì
Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ
“Trời”. “Thượng Ðế”… những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus
absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và
hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn
hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.
4. Kết luận
Thảo
luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp
may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị
hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của
một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và
bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch
này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn
hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu
uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền
nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu
nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của
những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu
thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn
kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung
Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là
tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của
chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá
trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được
những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi,
chúng ta có thể thực hiện những hình thức, “lễ nghi” nào để biểu tỏ lòng
thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi
vào trạng thái “vụ hình thức” “cố chấp” chiếu lệ. điều quan trọng nhất
là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là “Tâm Việt”.
Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt.
Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được,
nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi
đó Tâm Việt là nguồn sống của “Việt tính”. Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có
thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay
Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt
như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề
của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại
này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ
túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này
không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực
Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.
Việt Nam có 54 Dân tộc, 54 dòng máu Việt mang nhiều phong tục, tập
quán và đậm đà sắc thái trang phục, tôi hằng ước ao được du lịch quanh
vùng đất nước để ghi lại những nét văn hóa của 54 Dân tộc Việt mình,
nhưng thật sự không đơn giản và dễ dàng!
Bộ sưu tập "Một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam" là Hình ảnh và là
các tác phẩm của nhiều Tác giả trên khắp đất nước Việt Nam, đã bỏ nhiều
công sức, thời gian và tiền bạc; đã đi và đã đến “ăn mật, nằm gai” để
ghi lại từng khoảnh khắc của cộng động 54 dân tộc Việt, tôi chỉ là người
đam mê cái đẹp và say đắm cái tinh túy hồn Việt qua mỗi bức ảnh. Sưu
tầm được một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam, ban đầu chỉ vì nhận
thấy hồn Việt mình sao mà đẹp, đẹp lung linh như ánh trăng quê và đẹp
man dại như sắc màu 54 dân tộc! Trong bộ sưu tập, còn có nhiều tác phẩm
của các Tác giả người nước ngoài, họ đã đến và ghé lại Việt Nam để ăn ở,
sinh hoạt cùng người Việt chúng ta và say đắm cùng “Phượt”…
Diễn đàn chúng ta phát triển theo xu hướng thiên về Photo! Từ thiết bị,
sản phẩm, phần mềm, kỹ thuật... và tác phẩm, đều nhấn mạnh Nhiếp ảnh,
cho nên Bộ sưu tập cũng thiên về Nhiếp ảnh, mượn Hình ảnh để khái quát
54 Dân tộc Việt Nam, không nặng nề, bề bộn về "Dân tộc học" làm người
xem khi thưởng lãm "du lịch" cảm thấy "mỏi mắt" khi phải đọc ngồn ngộn
thông tin như "Khảo cứu Dân tộc học". Bộ sưu tập chưa phải là công trình
nghiên cứu gì to tác về Dân tộc học, cũng chưa phải là công trình Biên
khảo… bởi vì những hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam là do tôi sưu tầm,
trong quá trình biên tập nôi dung, truy tìm nguồn gốc của từng hình ảnh
để đảm bảo tính chân thực về Dân tộc học tôi đã gặp không ít những trở
ngại, khó khăn… Xin các bạn ghé trang: http://www.vnphoto.net/forums/showthread.php?t=180653 để có thể hiểu được phần nào những vấn đề nan giải trong quá trình biên tập!
Với thời gian quá ít ỏi so với phạm trù Dân tộc học, để có thể trình
làng Bộ sưu tập tôi đã hết sức cố gắng, nhưng có thể còn nhiều thiếu
xót, kính xin tất cả Quý vị, các bạn chân tình góp ý và đóng góp cụ thể
từng chuyên mục để hy vọng Bộ sưu tâp sẽ hoàn thiện hơn!
Xin các Tác giả, các Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, cùng tất cả các Anh, chị và các
bạn cho phép tôi được phép dùng những tác phẩm Nhiếp ảnh của Qúy vị để
minh họa một phần nào về 54 Dân tộc Việt Nam! Tôi thực sự trân trọng
những công sức, tài năng và tấm lòng “vàng” của tất cả Qúy vị!
Từ Topic "Bộ sưu tập một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam" tôi xin
kính mời mọi người cùng chung tay tham gia Nhiếp ảnh về Hình ảnh của 54
Dân tộc Việt Nam! Để từ đó, Diễn đàn chúng ta, trong Topic này sẽ là
điều thú vị cho ai muốn tìm hiểu về 54 Dân tộc Việt Nam thông qua Hình
ảnh (Có thể, người nào ở vùng miền nào thì đăng tải Hình ảnh của mình về
Dân tộc của vùng miền đó...)
Xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị, các bạn "Bộ sưu tập một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam"!
Design: Nguyên Hoàn (Hình ảnh cộng đồng 54 Dân tộc Việt Nam, của nhiều Tác giả)
Bộ tem "Cộng đồng các dân tộc Việt Nam" phát hành ngày 30/08/2005.
Bộ tem phát hành ngay trước dịp quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, năm 2000.
Bộ tem này được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam là bộ tem lớn nhất (54 mẫu),
có số họa sĩ thiết kế đông nhất (22 họa sĩ) và thời gian triển khai lâu nhất (gần 01 năm).
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam_Theo: xalo.vn
Trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam_Theo: (baomoi.com)
54 Dân tộc Việt Nam_Theo: (dulichgo.blogspot.com)
Các chàng trai, cô gái Tày, Nùng, Giáy…_Theo: (baogialai.com)
54 Dân tộc Việt Nam_Theo: (dulichgo.blogspot.com)
54 Dân tộc Việt Nam:
01. Ba Na, 02. Bố Y, 03. Brau, 04. Bru Vân Kiều, 05. Chăm, 06. Chơ Ro,
07. Chu Ru, 08. Chứt, 09. Co, 10. Cơ Ho, 11. Cơ Lao, 12. Cơ Tu, 13.
Cống, 14. Dao, 15. Ê Đê, 16. Gia Rai, 17. Giáy, 18. Giẻ Triêng, 19. Hà
Nhì, 20. H'Mông, 21. Hrê, 22. Hoa, 23. Kháng, 24. Khmer, 25. Khơ Mú, 26.
Kinh (Việt), 27. La Chí, 28. La Ha, 29. La Hủ, 30. Lào, 31. Lô Lô, 32.
Lự, 33. M’nông, 34. Mạ, 35. Mảng, 36. Mường, 37. Ngái, 38. Nùng, 39. Ơ
Đu, 40. Pà Thẻn, 41. Phù Lá, 42. Pu Péo, 43. Ra Glai, 44. Rơ Măm, 45.
Sán Chay, 46. Sán Dìu, 47. Si La, 48. Tà Ôi, 49. Tày, 50. Thái, 51. Thổ,
52. Xinh Mun, 53. Xơ Đăng, 54. Xtiêng.
Lạ lùng tộc người giống người Việt cổ trên đảo Borneo
Dân tộc này cũng dùng mũ lông chim, xăm mình, ở nhà sàn, thờ rồng và chim thần… như các cư dân Việt cổ thời Hùng Vương.
Đảo Borneo, hòn đảo lớn
nhất Đông Nam Á thuộc lãnh thổ các quốc gia Brunei, Malaysia và
Indonesia là nơi sinh sống của dân tộc Dayak – một cộng đồng người có
nền văn hóa cổ xưa và độc đáo. Theo nghiên cứu lịch sử, Dayak là nhóm cư dân bản địa Borneo lâu đời.
Tổ tiên của họ đã di cư từ lục địa châu Á ra đảo từ hơn 3.000 năm
trước. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến
hòn đảo này cách nay khoảng 2.450 năm, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương ở
Việt Nam.
Cộng đồng Dayak gồm hàng trăm sắc tộc
khác nhau cư trú rải rác khắp đảo Borneo bao gồm hơn 200 nhóm bộ tộc nhỏ
khác như bộ tộc Dayak Ngaju, Dayak Iban, Dayak Baritos, Dayak Kayan,
Dayak Benuaqs, Dayak Embaloh (Maloh)… Mỗi bộ tộc nhỏ lại có một ngôn
ngữ, một nền văn hóa, luật lệ, phong tục khác nhau và dễ phân biệt. Họ
nói hàng trăm phương ngữ khác nhau nhưng tất cả đều thuộc ngữ hệ Nam Đảo
(Austronesien). Ở Việt Nam có nhiều dân tộc sử dụng ngữ hệ này, như dân
tộc Chăm, Êđê, Gia Rai, Ra Glai và Churu.
Người Dayak bắt đầu có mặt trên đảo
khoảng 3.000 năm trước và sở hữu một trong những ngôn ngữ cổ nhất hành
tinh. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến
hòn đảo Borneo cách nay khoảng 2.450 năm. Hai tộc người Dayak lớn là Bakumpai và Bukit cư trú chủ yếu ở miền Nam đảo Borneo.
Phần lớn người Dayak sống bằng nghề làm
ruộng lúa nước ven sông, làm rẫy, trồng cọ trên những ngọn đồi thấp...
Họ cũng làm các nghề thủ công, nghề gốm, nghề dệt thổ cẩm, nghề đúc, săn
bắt, chài lưới.
Tôn giáo của người Dayak là đạo Kaharingan,
một dạng Hindu giáo đã bản địa hóa theo thuyết đa thần ở Borneo. Họ đặc
biệt tôn thờ hình tượng rồng và chim thần, hai linh vật trong truyền
thuyết về sự ra đời của dân tộc Dayak. Đặc điểm này khá giống với các cư
dân Việt cổ thời Hùng Vương, những người coi mình là “con Rồng, cháu Tiên” và tôn vinh hình tượng chim lạc như biểu tượng của đất nước.
Người Dayak cũng có nhiều phong tục dân
gian giống người Việt cổ như tục dựng cây nêu, cưới hỏi, cải táng, tín
ngưỡng phồn thực. Một phong tục tương đồng của người Việt cổ và người
Dayak, ít thấy có ở các dân tộc khác trong khu vực, đó là tục xăm mình.
Với người Dayak, hình xăm thể hiện mối
liên hệ với các linh hồn, thần linh hoặc tổ tiên và nhằm xua đuổi bệnh
tật, tai họa, đồng thời cũng là nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành, nhận
biết đẳng cấp, địa vị trong bộ tộc hoặc phân biệt bạn với thù. Cách ăn
mặc của người Dayak cũng có đặc điểm rất giống với các cư dân Hùng
Vương, đó là việc họ sử dụng loại mũ được trang trí bằng những chiếc
lông chim dài, giống như những hình người trên hoa văn trống đồng Đông
Sơn.
Những thanh niên trước khi trở thành một
chiến binh phải trải qua nghi lễ xăm mình tại ngôi nhà truyền thống,
sau đó họ sẽ được đi săn.
Theo truyền thống, xăm mình của người Dayak được tiến hành dưới dạng
một nghi lễ long trọng trước sự có mặt của đông đảo các thành viên trong
bộ tộc.
Trong buổi lễ, nghệ sĩ xăm mình bắt đầu bằng việc giết gà, chim rồi
rắc máu của nó để hiến tế linh hồn tổ tiên. Thông thường, người phụ nữ
trong bộ tộc đảm nhiệm công việc xăm mình. Việc xăm mình kéo dài từ 6 - 8
giờ và rất đau đớn.
Trang phục của phụ nữ Dayak thay đổi tùy
theo vùng, nhưng đều là những bộ váy làm từ thổ cẩm được trang hoàng
bằng những hoa văn rực rỡ. Họ đeo cả những chiếc mũ trang trí cầu kỳ vào
những dịp đặc biệt. Phụ nữ Dayak thường căng dái tai mình bằng những
chiếc vòng kim loại nặng. Đây là cách làm đẹp tương tự các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên của Việt Nam như Ê đê, Bana, M'nông, Mạ, Stiêng…
Theo truyền thống, nhiều thế hệ người
Dayak cùng sinh sống trong những căn nhà sàn có chiều dài hơn 50m, có
sức chứa từ 30 - 40 gia đình và được chạm khắc hoa văn tỉ mỉ. Những ngôi
nhà dài cũng là nơi người Dayak tụ họp, bày lễ vật dâng cúng, đánh
trống khua chiêng, nhảy múa trong các lễ hội truyền thống. Màu sắc ở các
hình vẽ, hoa văn chạm khắc trong ngôi nhà này có ý nghĩa riêng của nó.
Đáng tiếc rằng các ngôi nhà này đang biến mất dần theo nhịp sống hiện
đại.
Người Dayak có một tập tục được cả thế giới biết đến, đó là tục săn đầu người giữa các bộ tộc.
Đây là cách để bảo vệ lãnh địa sinh sống và khẳng định sức mạnh của các
chiến binh và bộ tộc. Vũ khí chính trong các cuộc săn đầu người là giáo
và khiên. Những chiếc sọ người sẽ được cất giữ trong nhà và sử dụng
trong nhiều nghi lễ khác nhau. Ít ai biết rằng dân tộc Cơ tu ở khu vực
miền Trung Việt Nam cũng từng có một tục săn đầu người tương tự. Điều
này được ghi nhận bởi các học giả Pháp, theo đó, săn máu và lấy đầu
người của làng khác là một nhiệm vụ trọng đại để tế thần linh nhằm cầu
xin mùa màng tươi tốt, không bị dịch bệnh và tai ương.
Vũ khí quan trọng nhất của các chiến binh Dayak là thanh đao mandaus
(mandau) bằng kim loại có cán làm bằng sừng hươu và chiếc khiên thameo
bằng gỗ bọc da hươu. Khi ra trận, họ mang những chiếc mặt nạ quỷ và hò
hét để kẻ thù sợ hãi.
Vũ khí quan trọng nhất của các chiến binh Dayak là thanh đao mandaus.
Ở tộc người Dayak Iban, họ tin rằng linh hồn nằm ở đầu. Do vậy, lấy
đầu của kẻ thù có nghĩa là lấy được linh hồn, tài năng và sức mạnh của
nạn nhân. Tài năng và sức mạnh đó đảm bảo sự thành công trong trồng trọt
và sinh sản của bộ tộc. Người Iban thường tổ chức các cuộc săn đầu
người và sau mỗi chuyến săn, họ lại xăm lên mình một hình xăm mới làm
“kỷ niệm”.
Tục lấy đầu người của người Dayak kéo
dài cho đến những năm 1970, đến bây giờ đã chấm dứt hoàn toàn. Về mặt
nghệ thuật, người Dayak nổi tiếng với vũ điệu ngajat, lấy cảm hứng từ
cuộc chiến của các chiến binh. Họ cũng sáng tạo ra nhiều loại nhạc cụ
truyền thống khác nhau.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét