Chuyển đến nội dung chính

NỖI NIỀM OAN KHUẤT 39

-Cách mạng Việt Nam gồm hai cuộc cách mạng hợp thành: Cách mạng giải phóng dân tộc và Cách mạng vô sản
-Cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn thành một cách vẻ vang và đầy tự hào.
-Thực tế xã hội đã phơi bày: Cách mạng vô sản đã không những bên bờ thất bại không thể cứu vãn, mà còn có "thành tựu" làm hình thành tầng lớp "tư sản đỏ" từ những người cộng sản lứa hậu duệ do chính cách mạng đào tạo, không những không tạo ra được những nét ưu việt nổi bật của hình thái kinh tế xã hội mới (chủ nghĩa cộng sản),mà còn phải duy trì hình thái kinh tế xã hội cũ (chủ nghĩa tư bản) để mưu cầu tồn tại.
-Mục đích của định hướng XHCN là làm cho dân chúng có cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Nhưng giải tỏa qui hoạch Thủ Thiêm lại có hiệu ứng ngược lại. Như thế có phải là phản cách mạng và những kẻ chủ mưu (gồm các đảng viên cộng sản) có phải là bè lũ phản động?
-Tội lỗi lớn nhất của những kẻ cộng sản thoái hóa là bản thân chúng không những không tin, mà còn phá vỡ không thể phục hồi được lòng tin phải tốn biết bao xương máu mới bồi đắp nên được của quần chúng cần lao đối với Đảng cộng sản. 
-Điều đó gợi ý cho những người cộng sản chân chính phải xét lại nền tảng lý luận của triết học Mác - Lênin và tìm con đường khác để đến với chủ nghĩa cộng sản.
-Muốn thế, điều trước tiên là phải để trí não thoáng đãng, tâm hồn rộng mở, suy tư trên tinh thần tất cả là của dân, do dân và vì dân.
-Trong khi chưa tìm được con đường nào khác, vẫn đi trên con đường này để tiến lên CNXH, thì điều cấm kỵ không được làm số một là không được để sự uất ức, hận thù của họ dâng cao. Không được để xảy ra thêm những vụ tương tự Tiên lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm...Phải tích cực, nỗ lực xây dựng lại lòng tin của quần chúng.
-Phải nghiêm trị những kẻ phản dân, hại nước, những kẻ đã thành "tư sản đỏ" làm suy đồi đạo đức xã hội, những kẻ gây tội ác trong thời bình. 
-Phải loại bỏ khỏi đội ngũ những kẻ mà lòng tham đã nhấn chìm hoàn toàn đức tính thiêng liêng nhất của một con người: lòng nhân ái, và lời thề số một của một đảng viên cộng sản: "Vì Nhân dân quên mình"!
-Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
 
----------------------------------------------------------------------

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Đại Tá Phan Tương Tôi Không Còn Tin Vào Đảng CS

Những tình tiết mới, cụ Phan Tương đề nghị tái thẩm Bản án Hình sự của Tòa án Quân sự cấp cao

Cụ Phan Tương vừa gửi đến Báo điện tử Ngày mới (Báo Người cao tuổi), đơn đề nghị Tái thẩm bản án hình sự số 03/ST, ngày 10/8/1989 của Tòa án Quân sự cấp cao. Bản án đã có hiệu lực 29 năm, 3 bị cáo có liên quan thì 2 người đã chết chỉ còn cụ Phan Tương (nguyên Đại tá, Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất), năm nay 92 tuổi (2018) vẫn kiên trì kêu oan. Hành trình kêu oan của cụ Tương có tới cả trăm lá đơn gửi các cấp, các bộ ngành, báo chí của đã viết nhiều bài, nhưng chưa đi đúng trình tự tố tụng. Tháng 12/2017 cụ Phan Tương có đơn đề nghị Tái thẩm bản án hình sự số 03/ST ngày 10/8/1989 của Tòa án Quân sự cấp cao. Ngày 9/4/2018  Tòa án Quân sự Trung ương có Văn bản số 207/TA-GĐKT chuyển đơn của cụ Phan Tương tới TAND tối cao …  

Các căn cứ pháp luật để cụ Phan Tương đề nghị tái thẩm.
Căn cứ Luật Tố tụng Hình sự (TTHS) năm 2015, tại Điều 398; Điều 399; Điều 401 Mục m khoản 2 Điều 61; Điều 119; Điều 145; Điều 176; Điều 178; Căn cứ Biên bản điều tra - Báo cáo kết quả điều tra số 05/KS5 ngày 27/5/1989 của Viện Kiểm sát Quân sự và nhiều căn cứ khác, theo quy định của Bộ Luật TTHS năm 2015.

 

Cụ Phan Tương

Cụ Phan Tương làm đơn đề nghị Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Tòa án Quân sự Trung ương, ra kháng nghị theo thủ tụng Tái thẩm, căn cứ 11 chứng cứ mới về việc vi phạm tố tụng trong điều tra xét xử Bản án Hình sự số 03/ST ngày 10/8/1989 của Tòa án Quân sự cấp cao, xét xử  bị cáo Phan Tương vi phạm Luật TTHS năm 1988.
Những tình tiết mới vi phạm Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, trong quá trình điều tra xét xử Bản án  Hình sự số 03/TA xét xử  cụ Phan Tương.
 1) Theo Bản án số 03/ST ngày 10/8/1989 tại trang 3 nêu: “Bị can Phan Tương khởi tố ngày 8/10/1987” không có số của Quyết định khởi tố, họ tên chức vụ của người ra quyết định khởi tố, bị can không được giao nhận và kí vào Quyết định khởi tố,  là vi phạm khoản 2, 3 và 4 Điều 103.
2) Theo bản án số 03/ST ngày 10/8/1989 tại trang 3 nêu: Phan Tương “Bị bắt giam ngày 17/10/1987” không nêu rõ lệnh bắt tạm giam số  bao nhiêu do ai kí ra lệnh và đóng dấu. Hành vi  này vi phạm khoản 2 Điều 62: Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
3) Đại tá Phan Tương, Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất, người vừa nhận quyết định chờ nghỉ hưu 3 tháng, bị bắt khẩn cấp ngày 17/10/1987. Quy chiếu theo pháp luật Đại tá Phan Tương không  nằm trong 3 trường hợp bắt khẩn cấp quy định tại điều 63 Bộ luật TTHS. Như vậy là bắt người khẩn cấp trái pháp luật. Vi phạm Điều 63 BLTTHS: Bắt người không nằm trong các trường hợp bắt khẩn cấp
4) Tại trang 27 Bản án số 03/ST ngày 10/8/1989 nêu: “Xử phạt Phan Tương 18 tháng tù giam về tội “cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 174 BLHS năm 1985, thời gian tạm giam 15 tháng 11 ngày”. Quy chiếu theo khoản 1 Điều 71 Bộ luật TTHS, thời hạn tạm giam không quá 4 tháng đối với tội nghiêm trọng. Trong vụ án này  bị can Phan Tương bị bị giam 15 tháng 11 ngày là trái khoản 1 Điều 71 Bộ luật TTHS, vượt quá gần 4 lần thời hạn quy định tạm giam.
    5) Căn cứ Điều 398: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; Điều 401: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Bộ luật TTHS năm 2015.
Tình tiết mới vi phạm tố tụng: Theo Bộ Luật TTHS năm 1988 bản án Hình sự số 03/ST ngày 10/8/1989 của Tòa án Quân sự cấp cao, xét xử bị cáo Phan Tương, án sơ thẩm đồng thời là chung thẩm. Do đó bị cáo Phan Tương mất quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Sau khi bản án có hiệu lực, bị cáo phải chấp hành hình phạt18 tháng tù giam  (đã tạm giam  trước khi xét xử 15 tháng 11 ngày).
 Sau khi chấp hành xong hình phạt, ra tù ngày 30/9/1989, theo lệnh tha giam, cụ Phan Tương có  đơn kêu oan đề nghị Giám đốc Bản án sơ chung thẩm số 03/ST  ngày 10/8/1989 theo trình tự Giám đốc thẩm. Viện KSND Tối cao và Viện KSQS Trung ương , TAND Tối cao đã trả lời tại các Công văn số 3206/VKSTC-V3  ngày 21/11/2003; Công văn số 23/VKS –P3 ngày 5/9/2007; Công văn số 03/HS-TA  ngày 5/12/2007; Công văn số 42/VKS-P3 ngày 09/12/2015, Công văn số 05/TA-QS ngày 11/10/2016 và Phiếu chuyển đơn số 86/TANDTC-VP ngày 15/02/2017, đều có nội dung chuyển đơn đến TAQS Trung ương và Đơn không có tình tiết mới.
6). Ngày 27/3/1989 Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương có Báo cáo số 05/KS5, báo cáo kết thúc điều tra vụ án Phan Tương, Đại tá, nguyên Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Tại phần 2 của báo cáo này  (trang 43) Nhận xét, kết luận, đề nghị “ Thời gian sự việc phạm tội xẩy ra từ năm 1981 đến nay, tình hình cơ chế về kinh tế xã hội cũng có sự vận động và biến đổi. Để giữ nguyên kỉ luật của quân đội, pháp luật của Nhà nước, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật có tác dụng phòng ngừa và ngăn chặn những hành vi tương tự, Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự Trung ương  đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho các bị can”.
 Như vậy, trong vụ án này chính Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương đã đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho các bị can có bị can Phan Tương.

 Thế nhưng, tại Bản án số 03/ST ngày 10/8/1989 TAQS cấp cao lại tuyên án, bị cáo Phan Tương phạm tội “cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 174 BLHS năm 1985 tuyên 18 tháng tù giam” là trái với kết luận của Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương tại báo cáo số 05/KS5 ngày 27/3/1998. Phải chăng vì đã trót bắt tạm giam đã 15 tháng 11 ngày nên Tòa án Quân sự cấp cao cố tình ghép tội cho bị cáo Phan Tương?
    7). Tại trang 27 và 28 Bản án số 03/ST, quy chụp bị cáo Phan Tương “cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”  vi phạm 1Điều 174 Bộ luật TTHS, nhưng lại không dẫn ra được hậu quả nghiêm trọng, mà chỉ liệt kê Phan Tương phải trả  Nhà nước 1 khẩu súng (do ở trong kho sân bay không có người nhận, ông Trường, Trạm  trưởng hàng hóa đưa cho ông Tương): bồi thường cho Nhà nước 800.000 đồng tiền chênh lệch giá  giữa chiếc ti vi màu  6 hệ lấy chiếc ti vi màu 9 hệ, liên đới bồi thường 117.000 đồng do mua vải thiều xuất đi Malaixia và phải trả Nhà nước giá trị 2,6kg trầm hương thu của tư nhân, trị giá 358.000 đồng chưa thu được tiền (nhưng đến ngày phiên tòa xét xử thì tư nhân đã trả cho Vụ Thanh toán quốc tế của Tổng cục Hàng không dân dụng) không có thiệt hại về khoản tiền này.
Tòa tạm giữ 7 chỉ 9 phân vàng, 1 ti vi JVC màu 9 hệ, 1 quạt đứng, 1 quạt bàn của bị cáo Phan Tương để thi hành án, và phải nộp án phí hình sự 15.000 đồng, án phí dân sự 274.115 đồng.
Các tang chứng, vật chứng trên không thể gây ra “hậu quả kinh tế nghiêm trọng” như kết luận của tòa
 (Còn nữa)

Nghiêm Thị Hằng

Cử tri đề nghị thu hồi sân golf mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất

TPO - Đại tá Phan Tương, nguyên giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất cho rằng vị trí khu đất hơn 20 ha Bộ Quốc phòng bàn giao làm sân đỗ máy bay không phù hợp và chỉ có thu hồi sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất để làm sân đỗ, nhà ga mới giải quyết được tình trạng ùn tắc giao thông.


Đại tá Phan Tương, nguyên giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất sử dụng sơ đồ sân bay để trình bày ý kiến.
Đại tá Phan Tương, nguyên giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất sử dụng sơ đồ sân bay để trình bày ý kiến.

Ngày 9/5, Tổ đại biểu Quốc hội đơn vị 5 (TPHCM) đã có buổi tiếp xúc cử tri quận Tân Bình trước kỳ họp thứ 3 của Quốc hội.
Tại buổi tiếp xúc, đại tá Phan Tương, nguyên giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất kể sau giải phóng, trung đoàn của ông tiếp quản sân bay và với vai trò là tham mưu trưởng, ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu địa hình, địa thế từng vị trí, khu đất trong sân bay.
Theo đại tá Phan Tương, khu đất hơn 20 ha mà Bộ Quốc phòng vừa bàn giao nếu làm sân đỗ máy bay, đường lăn không những không giải quyết được mà có thể khiến tình trạng kẹt xe trầm trọng hơn vì tạo ra nút thắt cổ chai gần vị trí đài chỉ huy.
Giải pháp tối ưu vừa giải quyết được vấn đề quá tải dưới mặt đất và trên trời là nhanh chóng thu hồi sân golf xây sân đỗ máy bay, đường lăn và nhà ga hành khách.
Ads by AdAsia
Play
“Trước giải phóng, chính quyền Sài Gòn đã từng có đề án làm nhà ga ở vị trí này. Những năm 1980, nhà nước cũng có chủ trương nhưng vì không có tiền nên chưa làm được”, vị đại tá già cho biết.
Theo trung tá Lê Trọng Sành, Nguyên Cục phó cục tác chiến Quân chủng Phòng không không quân, nguyên trưởng phòng quản lý bay sân bay Tân Sơn Nhất cho rằng sân bay đang thiếu sân đỗ máy bay, việc dành 157 ha đất làm sân golf là không phù hợp và lãng phí tài nguyên đất đai.
Ông Sành đề xuất thu hồi khu đất sân golf để làm 4 sân đỗ máy bay và nhà ga lưỡng dụng có cổng hướng ra đường Trường Chinh để giảm áp lực giao thông cho trục đường Trường Sơn.
Nhiều cử tri cũng chỉ ra kể từ khi có sân golf, sân bay Tân Sơn Nhất thường xuyên bị ngập nặng, uy hiếp an toàn bay vì nhiều ao hồ, chỗ trũng và các hướng thoát nước tự nhiên bị san lấp, trong khi các kênh, cống thoát nước chính của sân bay bị lấn chiếm, ngập rác gây nghẽn dòng chảy…
TSKH Nguyễn Đăng Diệp nói chưa có nước nào như Việt Nam cho xây sân golf trong sân bay vì để duy trì sự phát triển của các loại cỏ, sân golf phải sử dụng hàng tấn thuốc bảo vệ thực vật, trong đó nhiều chất rất nguy hại.
“Việc thu hồi sân golf không chỉ giải quyết tình trạng quá tải hạ tầng mà còn bảo đảm sức khoẻ cho người dân”, ông Diệp nói.
Thay mặt tổ đại biểu Quốc hội, thiếu tướng Nguyễn Văn Chương, phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam ghi nhận và cam kết sẽ chuyển ý kiến các cử tri đến kỳ họp Quốc hội sắp tới để xem xét theo thẩm quyền.
  
ĐẠI TÁ PHAN TƯƠNG ,NGUYÊN GIÁM ĐỐC SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT BỊ OAN SAI 34 NĂM

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32