CÂU CHUYỆN VỤ ÁN 182
-Mọi người đều mù quáng đi trên con đường đời của mình! Vì đố ai thấy chính xác con đường ấy!
-Đến chặng cuối đường đời, hình dáng nó mới hiện lên rõ nét với những nỗi niềm hối tiếc khó nói được thành lời!
-Và đời ta, ta không thể đánh giá đúng được mà phải để đời sau đánh giá!
- Hiền-ác là hai giá trị tùy thuộc vào nhận thức nên rất dễ chuyển hóa thành nhau. Tuy nhiên chân lý tuyệt đối chỉ có một!
-Cuộc sống chân-thiện-mỹ có vẻ như bản năng (!?), không thể bắt chước được!
--------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Theo sách Giai thoại lịch sử Việt Nam, vốn có hiềm khích với Võ Tánh -hổ tướng nổi tiếng khác của vua Gia Long nên Lê Văn Quân thường chủ động không phối hợp tác với Võ Tánh trên chiến trường, khiến quân Nguyễn nhiều phen thua Trận. Sau nhiều lần bị quân Tây Sơn đánh bại, Lê Văn Quân bắt đầu nhụt chí và thấy mình thua kém hẳn mọi người.
Khi quân Xiêm La quấy nhiễu biên thùy, vua Gia Long xuống chiếu triệu Lê Văn Quân về mang quân chống đỡ. Tuy nhiên, khi nhận được chiếu Lê Văn Quân không chịu tiến quân ngay mà còn dâng biểu tâu lên vua Gia Long nói xấu Võ Tánh, ý muốn vua giao Võ Tánh đánh trận thay mình.
Sau khi bị vua Gia Long nổi giận, quở trách, sợ bị trị tội nên Lê Văn Quân cáo bệnh không xuất quân, vua phải sai Cai cơ Nguyễn Văn Lợi đến thay. Dẹp xong giặc Xiêm La quấy nhiễu, năm Tân Hợi (1791), vua cùng đình thần bàn nghị tội của Lê Văn Quân.
Tất cả triều thần đều cho rằng Lê Văn Quân phải bị xử tử, nhưng vua
nghĩ ông ta cũng có công lao nên không nỡ giết, bèn sai tước hết chức
tước, bắt chờ lập công chuộc tội. Tuy nhiên, do không suy xét cẩn trọng
nên Lê Văn Quân sợ sệt, xấu hổ, uống thuốc độc tự tử.
Biết tin Lê Văn Quân tự tử, vua Gia Long vừa tiếc lại vừa tức, tới tận nhà thương khóc, sai người đánh vào quan tài 100 gậy, xong mới cấp cho tám người lính làm phu mộ, cho hai người lính khác làm phụ coi mộ cho cha đẻ của Lê Văn Quân, cho con ông đang làm lính được về phụng dưỡng mẹ.
Công lao lấn án triều thần, sau này, ông hai lần được giao giữ chức Tổng trấn Gia Định cho tới khi qua đời. Vốn là người tài năng, đức độ, Lê Văn Duyệt được người dân Nam Bộ rất tôn kính gọi ông là “ông Lớn Thượng”.
Tuy nhiên, bi kịch lại đến với Lê Văn Duyệt sau khi qua đời năm 1832. Ông bị vua Minh Mạng xét lại công tội lúc còn sống, bị bạc đãi với người thân. Quá bức xúc, người con nuôi Lê Văn Khôi của ông khởi binh chống lại triều đình ở Gia Định. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy nhanh chóng bị đánh bại.
Dẹp xong khởi nghĩa Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng ra chỉ dụ cho Tổng đốc
Gia Định đến mộ phần Lê Văn Duyệt san bằng mồ mả, xích khóa lại, dựng
bia đá ghi tám chữ “Nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội”.
Dù đã chết, Lê Văn Duyệt vẫn bị kết án bảy tội xử trảm (chém), hai tội xử giảo (thắt cổ), một tội phát quân. Người thân trong gia đình đều bị xử tội theo những khung hình phạt khác nhau.
Theo sách Đại Nam thực lục, Nguyễn Văn Thành có con trai Nguyễn Văn Thuyên, vốn hâm mộ văn chương nên đã làm một bài thơ tặng cho Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận ở Thanh Hóa. Nội dung bài thơ đó như sau:
“Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt / Dành để chiếu bên ta muốn chờ / Vô tâm ôm mãi ngọc Kim Sơn / Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc / Thơm nghìn dặm lan trong hang tối / Vang chín chằm phượng hót gò cao / Phen này nếu gặp Tể (tướng) trong núi / Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ”.
Khi nội dung bài thơ đến tai các quan trong triều, những người có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành đã dựa vào hai câu cuối của bài thơ lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, muốn truất ngôi vua của cha con ông. Hệ quả là, ông bị tước hết chức quan và tiếp tục chờ xử lý.
Trước sức ép của nhiều triều thần, vua Gia Long không thể bảo vệ được công thần của mình. Cuối cùng Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc tự tử, con trai Nguyễn Văn Thuyên bị tội trảm quyết (chém).
Sau khi Nguyễn Văn Thành chết, quân lính mới nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành trước lúc chết. Vua Gia Long cầm tờ trình khóc to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, chúng ta đã biết về
những vụ án liên quan đến các bậc công thần của vương triều. Triều hậu
Lê nổi tiếng với vụ án Lệ Chi Viên liên quan đến Nguyễn Thị Lộ (thiếp
của Nguyễn Trãi) dẫn đến cái chết của vua Lê Thái Tông để rồi một công
thần như Nguyễn Trãi đã phải nhận cái án tru di tam tộc. Đến vương triều
Nguyễn cũng có những vụ án lớn liên quan đến các bậc công thần của
vương triều. Hai vụ án nổi tiếng nhất là vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án
Tả Quận công Lê Văn Duyệt.
Nguyễn Văn Thành - Cái chết tức tưởi do nghi án thơ phản
Nguyễn Văn Thành (1758 – 1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn và là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên (vua Gia Long) của triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam (1802 – 1945). Ông là người đã bôn ba theo vua Gia Long từ lúc khó khăn nhất đến khi nhà Nguyễn thống nhất được giang sơn. Cùng với vua Gia Long, ông đã trải qua bao gian lao và hiểm nguy khi quân Tây Sơn truy đuổi tưởng như không vượt qua khó khăn, nhưng bằng trí thông minh và tài thao lược đã giúp Nguyễn Văn Thành vượt qua được tình thế hiểm nguy.
Dù là một công thần của triều đình nhưng Nguyễn Văn Thành đã liên quan đến một vụ án thời vua Gia Long để rồi ông đã phải chọn cái chết tức tưởi để kết thúc một cuộc đời đầy tự hào và oan trái. Điều đặc biệt ở chỗ Nguyễn Văn Thành là người soạn thảo Bộ luật Gia Long nhưng chính ông đã phải nhận cái án đầy khắc nghiệt mà mình đã soạn ra.
Vụ án của Nguyễn Văn Thành xuất phát từ một bài thơ và ông đã phải chịu trách nhiệm liên đới. Nguyễn Văn Thành có con trai Nguyễn Văn Thuyên. Vốn là người hâm mộ văn chương, Thuyên thường làm thơ, ngâm vịnh văn thơ với những kẻ sĩ. Bấy giờ nghe người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, ông Thuyên có làm một bài thơ tặng.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” (ghi chép lịch sử thời vua Gia Long) chép bài thơ có nội dung sau: “Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt/ Dành để chiếu bên ta muốn chờ/ Vô tâm ôm mãi ngọc Kim Sơn/ Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc/ Thơm nghìn dặm lan trong hang tối/ Vang chín chằm phượng hót gò cao/ Phen này nếu gặp Tể (tướng) trong núi/ Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ”.
Bài thơ đã đến tai nhiều vị quan triều đình trong đó có cả vua Gia Long. Do Nguyễn Văn Thành là một công thần của triều đình nên có một số người ghen tị với công trạng của ông. Những người có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành đã dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, truất ngôi vua của cha con ông. Vụ án đã lan rộng ra khắp nơi và trở thành vụ án lớn nhất thời bấy giờ. Vì là người có công trạng lớn trong triều đình nên việc xử lý Nguyễn Văn Thành rất khó khăn. Ông đã bị tước hết chức quan và tiếp tục chờ xử lý.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 53, năm Gia Long thứ 15 (1816) có chép: Vua nói: “Văn Thành là kẻ có tội nhưng cũng nên có cách xử trí”. Bèn thu quan phục và kiếm, Văn Thành mất chức. Vua bảo bầy tôi rằng: “Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách là hiếu danh ư? Hay ý muốn làm gì? Lật ngôi vua ư? Phản loạn ư?”
Dù là bậc thiên tử nhưng trước sức ép các quan khác, Gia Long cũng không bảo vệ được một trong những vị công thần có công lớn đưa mình lên ngôi hoàng đế là Nguyễn Văn Thành. Vụ án ngày càng trở nên căng thẳng trong triều đình, cuối cùng Nguyễn Văn Thành đã phải chịu cái án nặng nhất – cái chết.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 55, năm Gia Long thứ 16 (1817) có chép: Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được”. Bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị lang. Bầy tôi họp để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không? Có muốn lật ngôi không?”. Thành nói: “Không”.
Vài ngày sau, thống chế Hoàng Công Lý nói với Văn Thành rằng:
“Án đã xong rồi, vua bắt bầy tôi chết, bầy tôi không chết không phải là
trung”. Thành lặng im uống thuốc độc chết. Vua triệu Hoàng Công Lý hỏi
rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?” Công Lý nói: “Bẩm không”.
Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng
rõ rệt”. Đúng lúc đó, có quân lính lại nhặt được tờ di chiếu trần tình
của Văn Thành trước lúc chết ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ trình khóc
to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm
có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là
trẫm kém đức”.
Tượng Tiền Quân Nguyễn Văn Thành được tôn trí thờ vào tháng 5 năm Gia Long thứ 16 (1817) tại một ngôi miếu thuộc Đại Nội Huế
Vụ án Nguyễn Văn Thành khép lại để lại những dấu hỏi lớn trong triều đình. Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc tự tử, còn người con trai của ông là Nguyễn Văn Thuyên thì bị trảm quyết. Việc vì sao tờ di chiếu trần tình trước lúc chết của Nguyễn Văn Thành lại không đến được tay vua trước lúc ông chết vẫn là bí ẩn.
Lê Văn Duyệt – Kỳ án trên ngôi mộ
Tả Quận công Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông đã theo tòng chúa Nguyễn Phúc Ánh từ năm 17 tuổi, cùng với chúa Nguyễn Phúc Ánh và các tướng lĩnh khác lấy thành Bình Định, chiếm thành Phú Xuân, thu đất Bắc Hà về cho nhà Nguyễn, giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (triều vua Minh Mạng). Thế nhưng điều đáng nói trong cuộc đời của Lê Văn Duyệt chính là bản án mà triều đình đã giáng xuống ngôi mộ của ông.
Lê Văn Duyệt đã có nhiều công lao giúp vua Gia Long đánh đổ nhà Tây Sơn để lập ra nhà Nguyễn. Vì thế mà Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng ngũ khai quốc công thần của vương triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt sống và làm quan dưới hai đời vua nhà Nguyễn là Gia Long và Minh Mạng. Thế nhưng cuộc đời của ông đã gặp một chuyện hy hữu liên quan đến người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi để rồi trở thành một vụ án lớn mà lịch sử thường gọi là vụ án Lê Văn Duyệt.
Từ khi con nuôi ông là Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm thành Phiên
An (tức thành Gia Định) vào năm 1833, vua Minh Mạng thường ban trách Lê
Văn Duyệt. Năm 1835, dù Lê Văn Duyệt đã chết nhưng sau khi triều đình
dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, Phan Bá Đạt dâng sớ kể tội Duyệt xin
vua đưa người thân Lê Văn Duyệt về Hình bộ xét tội. Minh Mạng giao cho
đình thần nghị xử. Vài hôm sau có nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri
Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Lê Văn Duyệt, có bảy tội phải chém, hai
tội phải thắt cổ.
Trước khi có biến cố thành Phiên An do Lê Văn Khôi gây ra thì mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt vẫn rất bình thường, thậm chí Lê Văn Duyệt còn là một trong những vị quan được vua Minh Mạng nể trọng. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 64 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) có chép: Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt dâng sớ xin về Kinh thành chúc thọ. Vua dụ rằng: “Xem lời trong sớ đủ thấy tấm lòng thành của khanh. Nhưng nghĩ khanh nay tuổi đã già yếu lại vừa mới khỏi ốm, chính nên tĩnh tâm để điều dưỡng. Vả lại, Gia Định là trọng trấn của một phương, khanh nên lưu lại làm việc”.
Khi cuộc nổi loạn ở thành Phiên An của Lê Văn Khôi bị triều đình đàn áp thì cũng là lúc đỉnh điểm sự ghét bỏ của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt được phát ra. Cho dù Lê Văn Duyệt đã chết nhưng với những gì vua Minh Mạng còn ấp ủ trong lòng từ lúc con Lê Văn Duyệt nổi loạn thì việc kết tội Lê Văn Duyệt là khó tránh khỏi. Cuối cùng, sau nhiều biến cố đã xảy ra, Lê Văn Duyệt và gia đình ông đã phải nhận cái án không biết bên kia thế giới ông có biết hay không?
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 162 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) chép về tội án của Lê Văn Duyệt như sau: Duyệt vì lời nói và việc làm bội nghịch, có 7 tội đáng chém: 1- Sai người riêng của mình sang Diến Điện kết ngoại giao ngầm. 2- Xin đưa thuyền Anh Cát Lợi đến kinh thành để tỏ mình có quyền. 3- Xin giết Thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng người khác. 4- Dâng sớ chống lại mệnh vua. 5- Kết bè đảng. 6- Giấu riêng những giấy đóng sẵn ấn Ngự bảo. 7- Gọi mộ tiên nhân là “lăng”.
Vua dụ rằng: “Thế đủ thấy lẽ trời sáng tỏ công khai, đạo công tồn tại ở ta thực không thể bưng bít. Kẻ quyền gian gây vạ cả thiên hạ đều giận. Vả, Lê Văn Duyệt đếm tội cũng không kể hết, nói đến đau lòng, dù bổ áo quan mà phanh thây cũng không oan. Song nghĩ, hắn chết đã lâu, lại đã truy đoạt quan tước, nay nắm xương khô cũng không được để yên. Vậy sai Đốc phủ Gia Định lập tức phá tan mồ mả thành đất phẳng và dựng cái bia đá ở trên khắc 8 chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết) để nêu rõ tội danh sau khi chết mà làm sáng tỏ phép nước về sau này và để làm gương răn cho những kẻ quyền gian muôn đời, người nhà hắn thì trị nghiêm…”.
Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng. Các ngôi mộ cha mẹ ông bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia. Vụ án Lê Văn Duyệt khép lại để lại nhiều ẩn khuất. Có lẽ ở bên kia thế giới, Lê Văn Duyệt cũng không biết được rằng khi ông mất đi, đã có một bản án được thực hiện ngay trên ngôi mộ của mình. Cũng cần nói rằng, đây là vụ án có một không hai trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và lịch sử vương triều Nguyễn nói riêng
Hà Đạo – Khắc Niên
Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập) đã
dành trọn quyển thứ 21 để viết về Nguyễn Văn Thành, một trong nhưng đại
thần của triều Nguyễn thời Gia Long.
Tiên tổ của Nguyễn Văn Thành vốn.người Thừa Thiên, nhưng tính đến
Nguyễn Văn Thành thì dòng họ này đã di cư vào Gia Định được năm đời.
Nguyễn Văn Thành sinh năm Mậu Dần (1758), mất năm Đinh Sửu (1817), thọ
59 tuổi.
Thuở nhỏ, Nguyền Văn Thành được gia đình cho ăn học chu tất, bởi vậy, trong số các tướng lĩnh lúc bấy giờ, ông là người có kiến thức uyên bác hơn cả. Năm 1773 (15 tuổi), Nguyễn Văn Thành cùng cha là Nguyễn Văn Hiền theo phò chúa Nguyễn để chống lại Tây Sơn. Cha mất, ông tiếp tục theo phò Nguyễn Phúc Ánh và khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã là một trong những chỗ dựa tin cậy của Nguyễn Phúc Ánh. Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Nguyễn Văn Thành được bổ làm Tổng trấn Bắc Thành, thay mặt triều đình cai quản miền Bắc (tương đương với vùng Bắc Bộ ngày nay). Ông cũng là một trong những người được Hoàng đế Gia Long trao trách nhiệm soạn thảo bộ luật cho triều Nguyễn.
Điểm lại hành trạng của những người theo phò Nguyễn Phúc Ánh thì thấy quả thật ít ai cớ may mắn vươn tới cực đỉnh danh lợi như Nguyễn Văn Thành, song cũng ít ai phải chịu nhiều cay đắng tủi nhục và oan khuất như Nguyễn Văn Thành. Riêng nỗi cay đắng tủi nhục và oan khuất, xin được theo sách nói trên mà dẫn ra mấy sự kiện chính như sau :
- Sự kiện thứ nhất xảy ra năm Ất Tị (1785). Năm này, Nguyễn Văn Thành đang cùng Nguyễn Phúc Ánh bôn tẩu ở Xiêm La. "Tính Nguyễn Văn Thành rất thích cờ bạc, thường thua và mắc nợ, bị người ta đòi hoài. Một hôm đang theo Vua ở đất Xiêm La, Nguyễn Văn Thành được Vua sai đem 1000 lạng bạc đi Chiêm Kha (tên một vùng đất của Xiêm La) để mua thóc. Dọc đường (Nguyễn Văn Thành) gặp quan quân (của Vua) cũng vì đánh bạc mà mắc nợ với người Xiêm La, bị họ đến đòi nợ rất khổ, ông thấy thế mà thương, liền đổ hết bạc ra trả nợ cho quan quân (của Vua) rồi tay không mà về. Vua biết chuyện, tuy không bằng lòng nhưng cũng lấy làm lạ, không bắt tội ông".
- Sự kiện thứ hai xảy ra vào năm Đinh Mùi (1787): "Mùa thu, Hà Hỷ Văn (tướng của Tây Sơn - NKT) đóng quân ở đảo Côn Lôn, muốn được quy phục, Vua bèn sai (Nguyễn Văn) Thành cùng với Nguyễn Thái Nguyên đi đón, nhưng khi trở về, vì gặp gió chướng, thuyền không thể đến nơi Vua ở được, đành phải đóng tạm tại Hà Tiên. Bởi hết lương ăn, (Nguyễn Văn) Thành liền đóng giả thuyền giặc đi tuần để cướp lương. Khi Vua từ Xiêm La về đảo Cổ Cốt, (Nguyễn Văn) Thành dẫn Hà Hỷ Văn vào yết kiến và tâu việc đi cướp lương cho quân ăn. Vua giận lắm, sai giam Nguyễn Văn) Thành lại, nhưng sau lại thả ra, sai đi đánh giặc".
- Sự kiện thứ ba xảy ra vào năm Kỉ Mùi (1799). Năm này, Nguyễn Văn Thành được làm Tiết chế, chỉ huy trận đánh vào Quy Nhơn. Cùng ở trong bộ chỉ huy với Nguyễn Văn Thành, còn có Lê Văn Duyệt, Lê Chất và Tống Viết Phúc. Sách trên chép : "Trận này, (Nguyễn Văn) Thành cùng (Lê Văn) Duyệt, cắm cờ trên bành voi để chỉ huy các tướng. Tính (Nguyễn Văn) Thành thích uống rượu. Lúc sắp vào trận, lấy be rượu rót uống, nhân thể, rót mời (Lê Văn) Duyệt. (Lê Văn) Duyệt không uống. (Nguyễn Văn) Thành nói :
- Hôm nay trời rét, uống rượu cho thêm khí lực.
(Lê Văn) Duyệt cười mà nói rằng :
- Người nào nhút nhát mới phải mượn rượu để tăng khí lực. Trước mắt ta, nào có ai đáng mặt giỏi trận mạc để cùng đối địch, vậy thì cần gì phải dùng đến rượu ?
(Nguyễn Văn) Thành nghe vậy thì thẹn và cũng kể từ đó, bắt đầu để bụng nuôi giận đối với Lê Văn Duyệt.
- Sự kiện thứ tư xảy ra vào năm Tân Mùi (1811). Năm này, các quan là Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát phạm tội, Vua giao cho triều đình xử. Nguyễn Văn Thành cho rằng Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát quả đúng là có tội, nhưng lấy công bù tội thì cũng có thể được coi là thuộc hàng bát nghị. Lời ấy dâng lên, Vua cho là (Nguyễn Văn) Thành bênh vực cho kẻ có tội, bèn phạt ba con trâu !
- Sự kiện thứ năm xảy ra vào năm nào không rõ, nhưng tạm ước đoán là năm Nhâm Thân (1812) : "Vua đi coi đất để đặt Sơn Lăng (các vua triều Nguyễn thường tự chọn đất xây lăng cho mình ngay khi còn sống. Sơn Lăng là lăng của Gia Long - NKT). Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (tức vua Minh Mạng, lúc này chưa lên ngôi - NKT) và các đại thần cùng theo đi. Lúc đào huyệt, thấy đất có năm sắc, Vua lấy làm mừng, cho đó là điềm tốt, quần thần đều chúc tụng, riêng (Nguyễn Văn) Thành không nói gì. Vua hỏi thì ông tâu:
- Đất táng thân mẫu của tôi cũng có năm sắc như vậy, mà lại còn đẹp hơn.
Vua im lặng, quần thần thì tỏ vẻ không bằng lòng. (Nguyễn Văn) Thành lại nói :
- Gần đây, ở xứ Chiêm Ê có huyệt đất rất tốt.
Phạm Văn Nhân nói: - Đã biết là huyệt tốt như vậy, tại sao không tâu lên ?
Nguyễn Văn Thành nói : - Đất ấy tuy tốt nhưng không nên táng, vì hễ táng vào thì thế nào cùng bị sétđánh.
Vua nghe và chẳng lấy gì làm thích thú. Thánh Tổ Nhân Hoàng đế nói với (Nguyễn Văn) Thành rằng :
- Tây Sơn là lũ tiếm ngụy mới bị sét đánh vào mả, chớ đời thánh minh được trời giúp, làm gì có chuyện ấy. Trước mặt Vua, sao ngươi dám nói như vậy.
(Nguyễn Văn) Thành biết mình lỡ lời, bèn lui ra. Ông thường nói trước mặt Vua rằng :
- Phía Tây Bắc có cầu vồng bảy màu đấu nhau. Đó chính là điềm báo của trời.
Vua giận (Nguyễn Văn) Thành hay khích bác bằng những lời quái dị quá mức. Đến khi việc con của (Nguyễn Văn) Thành là (Nguyễn Văn) Thuyên bị phát giác ra, Vua liền đem những lời nói này để bảo quần thần buộc tội (Nguyễn Văn) Thành".
- Sự kiện thứ sáu xảy ra vào năm Ất Hợi (1815): "Bấy giờ, Vua ở ngôi tuổi đã cao nhưng vẫn chưa định người nối ngôi. Nhân tan buổi chầu, vua hỏi (Nguyễn Văn) Thành rằng : - Cháu ta là Đán (tức Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con trưởng của Hoàng Tử Cảnh - NKT) thì còn bé, vậy, trong các con ta, ai đáng được lập làm Thái tử. (Nguyễn Văn) Thành tâu :
- Đích tôn thừa trọng, theo đúng lễ này mới gọi là phải. Nay nếu bệ hạ muốn chọn người khác thì ở đời, biết con chẳng ai bằng cha, việc này tôi không dám can dự.
Một hôm. (Nguyễn Văn) Thành hội triều thần ở nhà riêng và nói :
- Hoàng Tôn Đán nên nối ngôi vua, tôi đã tâu Vua xin lập, các quan thấy thế nào ?
Trịnh Hoài Đức sợ phải tội lây, liền ngăn trở, nói rằng :
- Đấy là việc quốc gia đại sự, phải để Nhà vua quyết đoán, không phải là việc của quần thần. Nếu có ý riêng mà toan định đoạt, tội lớn lắm.
Nghe vậy, (Nguyễn Văn) Thành mới thôi. Từ đấy trở đi, mỗi khi vào chầu, (Nguyễn Văn) Thành thường xin lập Thái tử, Vua im lặng khiến (Nguyễn Văn) Thành càng ngờ và sợ hãi".
- Sự kiện thứ bảy bắt đầu xảy ra từ cuối năm Ất Hợi (1815) và kết thúc bi thảm vào mùa hè năm Đinh Sửu (1817):
"Con của (Nguyễn Văn) Thành là (Nguyễn Văn) Thuyên, đỗ Cử nhấn khoa Quý Dậu (1813), thường dùng thơ văn để giao thiệp với khách. Nghe nói ở Thanh Hóa có Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận là những người nức tiếng hay chữ, (Nguyễn Văn Thuyên) bèn sai môn hạ là Nguyễn Trương Hiệu đến mời. Trong bài thơ (gởi hai người nói trên - NKT), có câu :
Thử hồi nhược đắc sơn trung đế
Tả ngã kinh lu.ân chuyển hóa cơ.
(Nghĩa là : Thời nay, nếu mà có được vị chúa trong núi kia ở bên cạnh để ta lo sắp đặt thì có thể xoay chuyển được cơ trời).
Câu thơ này hàm ý bội nghịch, cho nên, Nguyễn Trương Hiệu liền đi báo với quan Thiêm sự của bộ Hình là Nguyễn Hữu Nghi. (Nguyễn) Hữu Nghi vốn có thù oán với (Nguyễn Văn) Thành, bèn sai (Nguyễn Trương) Hiệu đem lời thơ ấy mà tố cáo với Lê Văn Duyệt. ( Lê Văn) Duyệt và (Nguyễn Văn) Thành vốn không hòa hợp, nên (Lê Văn) Duyệt liền đem thơ ấy dâng Vua. Vua cho là sự trạng chưa rõ, sai trả lại (cho Nguyễn Văn Thuyên). Thấy tờ giấy có bài thơ rất đáng giá, (Nguyễn Trương) Hiệu bèn giữ lại để tống tiền (Nguyễn Văn) Thuyên. (Nguyễn Văn) Thuyên cho tiền nhưng (Nguyễn Trương) Hiệu vẫn chưa vừa lòng, bởi vậy hắn đợi (Nguyễn Văn) Thành đi chầu về, đón đường nắm áo mà đòi thêm. (Nguyễn Văn) Thành lập tức bắt cả (Nguyễn Trương) Hiệu và (con là Nguyễn Văn) Thuyên giam vào ngục Quảng Đức, rồi khi vào chầu thì đem việc ấy tâu Vua. Vua giao cho đình thần tra xét, nhưng lại nghĩ là chứng cớ chưa đủ, bèn tha cho (Nguyên Văn) Thuyên, còn (Nguyễn Văn) Thành thì vẫn được làm quan như cũ.
Năm (Gia Long) thứ mười lăm (tức năm Bính Tí, 1816 - NKT) quan Kí lục của Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa dâng sớ hạch tội (Nguyễn Văn) Thành làm việc trái phép, Vua giao cho triều thần bàn nghị. (Việc này đã có chép ở chuyện ( Nguyễn Duy Hòa). Tháng 2, Vua làm lễ tế dàn Nam Giao, các quan ở bộ Lễ nói rằng (Nguyễn Văn) Thành không nên dự. Vua nói :
- (Nguyễn Văn) Thành là trọng thần, tuy con của hắn có việc mờ ám, nhưng ta há lại nghe lời của một bên để rồi vội bỏ xa bậc huân cựu hay sao ?
Nói rồi, cho (Nguyễn Văn) Thành dự. Một hôm, Vua bãi chầu, đi vào nhà trong, (Nguyễn Văn) Thành chạy thẳng đến nắm áo Nhà vua, khóc lóc mà kêu rằng :
- Tôi từ thuở bé đến nay đi theo bệ hạ, vốn chẳng có tội gì, nay bị người ta bịa dặt để hãm vào tội lỗi, lẽ đâu bệ hạ nhìn chúng giết tôi mà không cứu giúp một chút ?
Nguyễn Đức Xuyên thấy thế, hét to lên rằng : - Ngươi có tội hay không có tội, việc đó đã có công nghị của triều đình sao lại dám vô lễ, xuống ngay !
Từ đấy, (Vua) cấm không cho (Nguyễn Văn) Thành vào chầu và sai Lê Văn Duyệt tra xét vụ án (Nguyễn Văn) Thuyên. Mới tra một lần, (Nguyễn Văn) Thuyên đã thú tội, (Nguyễn Văn) Thành cũng sợ hãi mà nhận. Vua đem tờ biểu của (Nguyễn Văn) Thành cho các quan xem. Quan Lễ bộ Thượng thư là Phạm Đăng Hưng tâu rằng :
- (Nguyễn Văn) Thành chỉ khéo nói úp mở, lấy khôn vặt để dối triều đình, xin nhận tội như thế này chưa phải là thực tâm đâu. Quần thần xin giam (Nguyễn Văn) Thành vào ngục, Vua nói :
- (Nguyễn Văn) Thành hiển nhiên là có tội, nhưng theo lễ, đối xử với đại thần cũng phải khác.
Nói rồi, Vua sai thu ấn của (Nguyễn Văn) Thành và cho về ở nhà riêng. Nghị án xong, quẩn thần tâu rằng, cha con (Nguyễn Văn) Thành đáng xử tử, chỉ có quan Tham tri của bộ Lại là Trần Văn Tuân nói rằng :
- (Nguyễn Văn) Thành không biết dạy con là tội nhẹ, còn (Nguyễn) Duy Hòa dám hạch cả đại thần là tội nặng.
Vua nói : - Thế thì khóa miệng người ta lại hay sao ? Đó không phải là chính danh đâu.
Nói rồi, sai đình thần bàn lại. Đúng lúc đó, Diên Tự Công của họ Lê là Lê Duy Hoán mưu phản, việc bị phát giác, các quan ở Bắc Thành bàn định đưa giải Lê Duy Hoán vào kinh. Vua nhân đó sai các quan ở bộ Hình xét hỏi. Lê Duy Hoán nói rằng (Nguyễn Văn) Thuyên gởi thư giục nó làm phản. Bộ Hình dâng lời khẩu cung lên, triều đình xin bắt (cha con Nguyễn Văn Thành) để trị tội.
Năm (Gia Long) thứ mười sáu (tức năm 1817 - NKT), mùa hạ, Vua ra lệnh bắt (Nguyễn Văn) Thành và các con giam hết ở Quân xá Thị trung để đình thắn xét hỏi lại. (Nguyễn Văn) Thành được đưa đến Vũ Công Thự. Hỏi:
- Tính làm. phản à ? Đáp : - Không ! Hỏi : - Có dự biết việc đó không ? Đáp : - Không !
Đối đáp xong, (Nguyễn Văn Thành) đi ra, mặt giận hằm hằm, về đến Quân xá, ông nói với quan Thị trung Thống chế Hoàng Công Lý rằng, án xét đã xong, vua bắt bề tôi phải chết mà bề tôi không chết là bề tôi bất trung. Giờ lâu, ông đi nằm, lấy thuốc độc tự tử. Năm ấy, (Nguyễn Văn Thành) sáu mươi tuổi (tính theo tuổi ta - NKT).
Quân lính của (Nguyễn Văn) Thành lấy được bản trần tình của ông, Hoàng Công Lý dâng vua. Lời trần tình có câu rằng :
- Sớm rèn tối đúc, tạo cho cha con tôi tội cực ác, không thể tố cáo vào đâu được, cho nên chỉ biết chết mà thôi.
Vua cầm tờ trần tình mà thương khóc rồi dụ rằng : - (Nguyễn Văn) Thành theo trẫm từ lúc còn ít tuổi, từng chịu gian nan và lập được công to, nay bỗng chốc mà ra thế này, trẫm không hay biết trước để bảo toàn sứ mạng tức là đức của trẫm đã bạc rồi vậy.
Vua hỏi Phạm Đăng Hưng rằng : - Nên táng (Nguyễn Văn) Thành theo lễ nào ?
(Phạm Đăng) Hưng tâu : - Táng theo lễ thứ nhân.
Vua im lặng, sau, sai một viên Cai đội ở Trung quân đem ba mươi người lính đi lo việc tang, cấp cho 500 quan (ngang với tiền trả mũ áo khi về hưu), lại cho thêm ba tấm gấm Tống và vải lụa cộng là mười tấm. Các con (của Nguyễn Văn Thành) đang giam đều tha cho ra khỏi tù cả".
Lời bàn :
Nguyễn Văn Thành một đời làm tướng, tài đủ để thắng được đối phương nhưng chưa đủ để chế ngự những suy nghĩ bột phát trong người, khiến bao lần phải thất thố, mất lòng đồng liêu và mất cả sự tin yêu của vua nữa. Xem việc ông để tâm chán ghét Lê Văn Duyệt khi Lê Văn Duyệt từ chối uống rượu, lại xem việc ông nói năng thiếu cẩn trọng khi đi chọn đất làm Sơn Lăng cho vua Gia Long, cũng như khi ông họp các quan bàn chuyện lập Thải tử, thì đủ biết ông là người khó bề tránh được đại họa.
Cha nào, con nấy, cái ngông nghênh của Nguyễn Văn Thuyên không thể nói là không có phần ảnh hưởng của cha. Xưa nay, ngông nghênh vô lối với khẩu khí của bậc có chí lớn rất biệt nhau, vậy mà nào ít kẻ cố tình trộn lẫn. Thương hại thay ! Vua Gia Long lúc đầu tha cho các con của Nguyễn Văn Thành, nhưng sau đó lại bắt giết Nguyễn Văn Thuyên. Dương thế thuở ấy bớt được một kẻ gàn, quả có vậy thật. Về sau, vua Minh Mạng còn bắt giết hết những người con còn lại của Nguyễn Văn Thành, gồm Nguyễn Văn Thần, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Chuân, Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Văn Hân, cùng với gia thuộc của họ. Vụ án mới thê thảm làm sao !
Ranh ma bơn cả trong toàn bộ chuyện này có lẽ là Nguyễn Trương Hiệu. Kẻ ăn hối lộ gian ngoan ấy đã đẩy gia đình Nguyễn Văn Thành vào chỗ khốn cùng. Bấy giờ, triều đình không xử tội hắn, thế cũng có nghĩa là triều đình tự xác định mức đọ xấu tốt của mình. Mới hay, kẻ ăn hối lộ và tống tiền thiên hạ, chẳng phải ngẫu nhiên mà có và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà được bình yên.
Một phần của “mả Ngụy” mà thời Pháp thường gọi là “cánh đồng mồ mả”. Ảnh tư liệu.
-Đến chặng cuối đường đời, hình dáng nó mới hiện lên rõ nét với những nỗi niềm hối tiếc khó nói được thành lời!
-Và đời ta, ta không thể đánh giá đúng được mà phải để đời sau đánh giá!
- Hiền-ác là hai giá trị tùy thuộc vào nhận thức nên rất dễ chuyển hóa thành nhau. Tuy nhiên chân lý tuyệt đối chỉ có một!
-Cuộc sống chân-thiện-mỹ có vẻ như bản năng (!?), không thể bắt chước được!
--------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Hai Vụ Án Nổi Tiếng Nhất Thời NHÀ NGUYỄN Trong Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam có nhiều vụ án liên quan đến
bậc công thần. Riêng vương triều Nguyễn có hai vụ án nổi tiếng là vụ
Nguyễn Văn Thành và Tả Quận công Lê Văn Duyệt.
Ba bản án lạ lùng dưới triều Nguyễn
Dù hàng trăm năm đã trôi qua
nhưng ba bản án dành cho những công thần như Lê Văn Quân, Lê Văn Duyệt,
Nguyễn Văn Thành của triều Nguyễn vẫn khiến hậu thế ngạc nhiên.
Dưới thời phong kiến, “thiên tử” là đấng tối cao trong thiên hạ,
phần lớn quy tắc, chuẩn mực trong xã hội, kể cả luật pháp đều do vua
quyết định, vậy nên, nhiều khi vẫn xuất hiện những những bản án vượt ra
khỏi quy định của luật pháp đương thời.Bị đánh 100 roi sau khi chết
Lê Văn Quân (?-1791) quê ở Định Tường (Tiền Giang ngày nay). Ngay từ trẻ, ông đã đi theo chúa Nguyễn Ánh, lúc xông trận rất dũng mãnh, nên được người đương thời đặt cho biệt hiệu là Dũng Nam Công.Theo sách Giai thoại lịch sử Việt Nam, vốn có hiềm khích với Võ Tánh -hổ tướng nổi tiếng khác của vua Gia Long nên Lê Văn Quân thường chủ động không phối hợp tác với Võ Tánh trên chiến trường, khiến quân Nguyễn nhiều phen thua Trận. Sau nhiều lần bị quân Tây Sơn đánh bại, Lê Văn Quân bắt đầu nhụt chí và thấy mình thua kém hẳn mọi người.
Khi quân Xiêm La quấy nhiễu biên thùy, vua Gia Long xuống chiếu triệu Lê Văn Quân về mang quân chống đỡ. Tuy nhiên, khi nhận được chiếu Lê Văn Quân không chịu tiến quân ngay mà còn dâng biểu tâu lên vua Gia Long nói xấu Võ Tánh, ý muốn vua giao Võ Tánh đánh trận thay mình.
Sau khi bị vua Gia Long nổi giận, quở trách, sợ bị trị tội nên Lê Văn Quân cáo bệnh không xuất quân, vua phải sai Cai cơ Nguyễn Văn Lợi đến thay. Dẹp xong giặc Xiêm La quấy nhiễu, năm Tân Hợi (1791), vua cùng đình thần bàn nghị tội của Lê Văn Quân.
![]() |
| Vua Gia Long. Ảnh: Tư liệu. |
Biết tin Lê Văn Quân tự tử, vua Gia Long vừa tiếc lại vừa tức, tới tận nhà thương khóc, sai người đánh vào quan tài 100 gậy, xong mới cấp cho tám người lính làm phu mộ, cho hai người lính khác làm phụ coi mộ cho cha đẻ của Lê Văn Quân, cho con ông đang làm lính được về phụng dưỡng mẹ.
Lê Văn Duyệt và bản án sau khi qua đời
Lê Văn Duyệt (?-1832) quê ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, ngay từ nhỏ đã thông minh, nhanh nhẹn, sức khỏe hơn người. Về sau, trở thành vị tướng giỏi phò trợ chúa Nguyễn Ánh giành nhiều thắng lợi trên mọi mặt, dựng nên triều Nguyễn.Công lao lấn án triều thần, sau này, ông hai lần được giao giữ chức Tổng trấn Gia Định cho tới khi qua đời. Vốn là người tài năng, đức độ, Lê Văn Duyệt được người dân Nam Bộ rất tôn kính gọi ông là “ông Lớn Thượng”.
Tuy nhiên, bi kịch lại đến với Lê Văn Duyệt sau khi qua đời năm 1832. Ông bị vua Minh Mạng xét lại công tội lúc còn sống, bị bạc đãi với người thân. Quá bức xúc, người con nuôi Lê Văn Khôi của ông khởi binh chống lại triều đình ở Gia Định. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy nhanh chóng bị đánh bại.
![]() |
| Chân dung Lê Văn Duyệt. Ảnh: Báo Pháp luật. |
Dù đã chết, Lê Văn Duyệt vẫn bị kết án bảy tội xử trảm (chém), hai tội xử giảo (thắt cổ), một tội phát quân. Người thân trong gia đình đều bị xử tội theo những khung hình phạt khác nhau.
Công thần chết bởi một bài thơ
Nguyễn Văn Thành (1758-1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn. Tuy nhiên, giống như Lê Văn Quân và Lê Văn Duyệt, về cuối đời, Nguyễn Văn Thành và con trai ông cũng phải đón nhận những bản án oan ức.Theo sách Đại Nam thực lục, Nguyễn Văn Thành có con trai Nguyễn Văn Thuyên, vốn hâm mộ văn chương nên đã làm một bài thơ tặng cho Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận ở Thanh Hóa. Nội dung bài thơ đó như sau:
“Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt / Dành để chiếu bên ta muốn chờ / Vô tâm ôm mãi ngọc Kim Sơn / Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc / Thơm nghìn dặm lan trong hang tối / Vang chín chằm phượng hót gò cao / Phen này nếu gặp Tể (tướng) trong núi / Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ”.
Khi nội dung bài thơ đến tai các quan trong triều, những người có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành đã dựa vào hai câu cuối của bài thơ lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, muốn truất ngôi vua của cha con ông. Hệ quả là, ông bị tước hết chức quan và tiếp tục chờ xử lý.
Trước sức ép của nhiều triều thần, vua Gia Long không thể bảo vệ được công thần của mình. Cuối cùng Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc tự tử, con trai Nguyễn Văn Thuyên bị tội trảm quyết (chém).
Sau khi Nguyễn Văn Thành chết, quân lính mới nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành trước lúc chết. Vua Gia Long cầm tờ trình khóc to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.
Những hé lộ bất ngờ về hai vụ án nổi tiếng của triều Nguyễn qua sách cổ
16:44 18/07/2013
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, chúng ta đã biết về
những vụ án liên quan đến các bậc công thần của vương triều. Triều hậu
Lê nổi tiếng với vụ án Lệ Chi Viên liên quan đến Nguyễn Thị Lộ (thiếp
của Nguyễn Trãi) dẫn đến cái chết của vua Lê Thái Tông để rồi một công
thần như Nguyễn Trãi đã phải nhận cái án tru di tam tộc. Đến vương triều
Nguyễn cũng có những vụ án lớn liên quan đến các bậc công thần của
vương triều. Hai vụ án nổi tiếng nhất là vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án
Tả Quận công Lê Văn Duyệt.
| Sách “Đại Nam thực lục” nói về việc Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc chết. |
Nguyễn Văn Thành (1758 – 1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn và là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên (vua Gia Long) của triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam (1802 – 1945). Ông là người đã bôn ba theo vua Gia Long từ lúc khó khăn nhất đến khi nhà Nguyễn thống nhất được giang sơn. Cùng với vua Gia Long, ông đã trải qua bao gian lao và hiểm nguy khi quân Tây Sơn truy đuổi tưởng như không vượt qua khó khăn, nhưng bằng trí thông minh và tài thao lược đã giúp Nguyễn Văn Thành vượt qua được tình thế hiểm nguy.
Dù là một công thần của triều đình nhưng Nguyễn Văn Thành đã liên quan đến một vụ án thời vua Gia Long để rồi ông đã phải chọn cái chết tức tưởi để kết thúc một cuộc đời đầy tự hào và oan trái. Điều đặc biệt ở chỗ Nguyễn Văn Thành là người soạn thảo Bộ luật Gia Long nhưng chính ông đã phải nhận cái án đầy khắc nghiệt mà mình đã soạn ra.
Vụ án của Nguyễn Văn Thành xuất phát từ một bài thơ và ông đã phải chịu trách nhiệm liên đới. Nguyễn Văn Thành có con trai Nguyễn Văn Thuyên. Vốn là người hâm mộ văn chương, Thuyên thường làm thơ, ngâm vịnh văn thơ với những kẻ sĩ. Bấy giờ nghe người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, ông Thuyên có làm một bài thơ tặng.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” (ghi chép lịch sử thời vua Gia Long) chép bài thơ có nội dung sau: “Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt/ Dành để chiếu bên ta muốn chờ/ Vô tâm ôm mãi ngọc Kim Sơn/ Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc/ Thơm nghìn dặm lan trong hang tối/ Vang chín chằm phượng hót gò cao/ Phen này nếu gặp Tể (tướng) trong núi/ Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ”.
Bài thơ đã đến tai nhiều vị quan triều đình trong đó có cả vua Gia Long. Do Nguyễn Văn Thành là một công thần của triều đình nên có một số người ghen tị với công trạng của ông. Những người có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành đã dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, truất ngôi vua của cha con ông. Vụ án đã lan rộng ra khắp nơi và trở thành vụ án lớn nhất thời bấy giờ. Vì là người có công trạng lớn trong triều đình nên việc xử lý Nguyễn Văn Thành rất khó khăn. Ông đã bị tước hết chức quan và tiếp tục chờ xử lý.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 53, năm Gia Long thứ 15 (1816) có chép: Vua nói: “Văn Thành là kẻ có tội nhưng cũng nên có cách xử trí”. Bèn thu quan phục và kiếm, Văn Thành mất chức. Vua bảo bầy tôi rằng: “Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách là hiếu danh ư? Hay ý muốn làm gì? Lật ngôi vua ư? Phản loạn ư?”
Dù là bậc thiên tử nhưng trước sức ép các quan khác, Gia Long cũng không bảo vệ được một trong những vị công thần có công lớn đưa mình lên ngôi hoàng đế là Nguyễn Văn Thành. Vụ án ngày càng trở nên căng thẳng trong triều đình, cuối cùng Nguyễn Văn Thành đã phải chịu cái án nặng nhất – cái chết.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 55, năm Gia Long thứ 16 (1817) có chép: Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được”. Bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị lang. Bầy tôi họp để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không? Có muốn lật ngôi không?”. Thành nói: “Không”.
| Khuê Văn Các – hồn văn của Tổng trấn Nguyễn Văn Thành. |
Tượng Tiền Quân Nguyễn Văn Thành được tôn trí thờ vào tháng 5 năm Gia Long thứ 16 (1817) tại một ngôi miếu thuộc Đại Nội Huế
Vụ án Nguyễn Văn Thành khép lại để lại những dấu hỏi lớn trong triều đình. Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc tự tử, còn người con trai của ông là Nguyễn Văn Thuyên thì bị trảm quyết. Việc vì sao tờ di chiếu trần tình trước lúc chết của Nguyễn Văn Thành lại không đến được tay vua trước lúc ông chết vẫn là bí ẩn.
Lê Văn Duyệt – Kỳ án trên ngôi mộ
Tả Quận công Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông đã theo tòng chúa Nguyễn Phúc Ánh từ năm 17 tuổi, cùng với chúa Nguyễn Phúc Ánh và các tướng lĩnh khác lấy thành Bình Định, chiếm thành Phú Xuân, thu đất Bắc Hà về cho nhà Nguyễn, giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (triều vua Minh Mạng). Thế nhưng điều đáng nói trong cuộc đời của Lê Văn Duyệt chính là bản án mà triều đình đã giáng xuống ngôi mộ của ông.
Lê Văn Duyệt đã có nhiều công lao giúp vua Gia Long đánh đổ nhà Tây Sơn để lập ra nhà Nguyễn. Vì thế mà Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng ngũ khai quốc công thần của vương triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt sống và làm quan dưới hai đời vua nhà Nguyễn là Gia Long và Minh Mạng. Thế nhưng cuộc đời của ông đã gặp một chuyện hy hữu liên quan đến người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi để rồi trở thành một vụ án lớn mà lịch sử thường gọi là vụ án Lê Văn Duyệt.
| Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập” nói về việc vua Gia Long phong cho Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành. |
Trước khi có biến cố thành Phiên An do Lê Văn Khôi gây ra thì mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt vẫn rất bình thường, thậm chí Lê Văn Duyệt còn là một trong những vị quan được vua Minh Mạng nể trọng. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 64 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) có chép: Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt dâng sớ xin về Kinh thành chúc thọ. Vua dụ rằng: “Xem lời trong sớ đủ thấy tấm lòng thành của khanh. Nhưng nghĩ khanh nay tuổi đã già yếu lại vừa mới khỏi ốm, chính nên tĩnh tâm để điều dưỡng. Vả lại, Gia Định là trọng trấn của một phương, khanh nên lưu lại làm việc”.
Khi cuộc nổi loạn ở thành Phiên An của Lê Văn Khôi bị triều đình đàn áp thì cũng là lúc đỉnh điểm sự ghét bỏ của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt được phát ra. Cho dù Lê Văn Duyệt đã chết nhưng với những gì vua Minh Mạng còn ấp ủ trong lòng từ lúc con Lê Văn Duyệt nổi loạn thì việc kết tội Lê Văn Duyệt là khó tránh khỏi. Cuối cùng, sau nhiều biến cố đã xảy ra, Lê Văn Duyệt và gia đình ông đã phải nhận cái án không biết bên kia thế giới ông có biết hay không?
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 162 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) chép về tội án của Lê Văn Duyệt như sau: Duyệt vì lời nói và việc làm bội nghịch, có 7 tội đáng chém: 1- Sai người riêng của mình sang Diến Điện kết ngoại giao ngầm. 2- Xin đưa thuyền Anh Cát Lợi đến kinh thành để tỏ mình có quyền. 3- Xin giết Thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng người khác. 4- Dâng sớ chống lại mệnh vua. 5- Kết bè đảng. 6- Giấu riêng những giấy đóng sẵn ấn Ngự bảo. 7- Gọi mộ tiên nhân là “lăng”.
Vua dụ rằng: “Thế đủ thấy lẽ trời sáng tỏ công khai, đạo công tồn tại ở ta thực không thể bưng bít. Kẻ quyền gian gây vạ cả thiên hạ đều giận. Vả, Lê Văn Duyệt đếm tội cũng không kể hết, nói đến đau lòng, dù bổ áo quan mà phanh thây cũng không oan. Song nghĩ, hắn chết đã lâu, lại đã truy đoạt quan tước, nay nắm xương khô cũng không được để yên. Vậy sai Đốc phủ Gia Định lập tức phá tan mồ mả thành đất phẳng và dựng cái bia đá ở trên khắc 8 chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết) để nêu rõ tội danh sau khi chết mà làm sáng tỏ phép nước về sau này và để làm gương răn cho những kẻ quyền gian muôn đời, người nhà hắn thì trị nghiêm…”.
Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng. Các ngôi mộ cha mẹ ông bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia. Vụ án Lê Văn Duyệt khép lại để lại nhiều ẩn khuất. Có lẽ ở bên kia thế giới, Lê Văn Duyệt cũng không biết được rằng khi ông mất đi, đã có một bản án được thực hiện ngay trên ngôi mộ của mình. Cũng cần nói rằng, đây là vụ án có một không hai trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và lịch sử vương triều Nguyễn nói riêng
Hà Đạo – Khắc Niên
Tướng Lê Văn Quân chết rồi vẫn bị đánh 100 gậy
Lê Văn Quân quê ở Định Tường (nay là Tiền
Giang), không rõ là sinh vào năm nào, chỉ biết là mất vào năm Tân Hợi
(1791). Ngay từ thời trai trẻ, ông đã theo phò Nguyễn Phúc Ánh, lúc xông
trận thì rất dũng mãnh, bởi vậy, người đương thời đặt cho ông biệt hiệu
là Dũng Nam Công.
Sinh
thời, Lê Văn Quân ít chữ nghĩa, tính khí hẹp hòi và nhỏ nhen. Ông đã
chết bởi tính khí ấy. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, quyển
27) nói rằng, Lê Văn Quân cho Võ Tánh chẳng qua là nhờ lấy được Công
chúa (Võ Tánh lấy Phúc Lộc Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du, chị của Nguyễn
Phúc Ánh) nên mới được tin dùng và may mắn đứng ngang hàng với ông chớ
tài cán thì chẳng đáng gì. Vì nghĩ như vậy, Lê Văn Quân vẫn để dạ hiềm
khích, không ưa gì Võ Tánh cả.
Năm Canh Tuất (1790), Nguyễn Phúc Ánh cho quân
đánh ra Bình Thuận, sai Lê Văn Quân làm tổng chỉ huy. Nguyễn Phúc Ánh
thấy rằng Lê Văn Quân tuy quả quyết và bạo dạn nhưng hay khinh suất còn
Võ Tánh thì hăng hái nhưng thường nóng vội, đã thế, hai người lại không
ưa nhau, nên cử Nguyễn Văn Thành cùng đi với Lê Văn Quân và Võ Tánh để
kiềm chế. Trận đầu, quân của Lê Văn Quân, Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành
thắng lớn, Lê Văn Quân nhân đó tự kể và đề cao công trạng của mình,
khiến Võ Tánh khinh Lê Văn Quân ra mặt. Cũng nhân đà thắng lợi, Lê Văn
Quân muốn tiến đánh ra tận Diên Khánh nhưng vì bị Nguyễn Văn Thành can
ngăn nên Lê Văn Quân đành phải đóng quân ở Phan Rang chờ thời. Đúng lúc
đó, Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành được lệnh rút quân về, còn Lê Văn Quân
thì phải ở lại. Lực lượng Tây Sơn nhân đó đánh thẳng vào dinh trại của
Lê Văn Quân. Lê Văn Quân không sao địch nổi, tướng sĩ bị chết quá nhiều,
buộc phải đưa thư cáo cấp. Nhận thư ấy, Nguyễn Văn Thành khuyên Võ Tánh
cùng nhau đem quân trở lại, nhưng Võ Tánh quyết không nghe, chỉ một
mình Nguyễn Văn Thành trở lại cứu Lê Văn Quân.
Mùa thu năm 1790, Lê Văn Quân đóng dinh trại ở
Phan Rí và lại bị Tây Sơn tấn công rất gấp. Một lần nữa, Lê Văn Quân
buộc phải xin quân đến cứu viện. Từ đó, ông bắt đầu nhụt chí và thấy
thua kém hẳn mọi người. Sách trên viết rằng :
"Vua (chỉ Nguyễn Phúc Ánh - NKT) nghe tin người
Xiêm La muốn gây hấn ở ngoài biên cõi, bèn xuống chiếu triệu (Lê Văn
Quân về. (Lê Văn) Quân tự cho mình là người thua trận luôn nên lấy làm
xấu hổ, đã thế lại còn bị (Võ) Tánh khinh khi, cho nên cứ dùng dằng
không chịu tiến quân ngay. ( Lê Văn) Quân còn dâng biểu, nói:
- Khi trước ở Bình Thuận, quan quân đến cứu viện
khiến giặc phải rút lui, nhưng quan quân phần nhiều làm việc càn rỡ,
cướp bóc dân đen, vậy, xin phái người tới xét hỏi để giữ nghiêm quân
lệnh.
Ý Lê Văn Quân là muốn nói xấu Võ Tánh. Vua giận, quở trách (Lê Văn Quân) rằng:
- Việc qua lâu rồi, hà cớ gì cứ phải xét lại để gây
thêm phiền nhiễu. Vả lại, triều đình đang có lắm việc phải lo, thế mà
không chịu nghĩ đến, toan tính việc nhỏ là sao?
(Lê Văn) Quân sợ bị trị tội, bèn cáo bệnh, Vua đành
phải sai Cai cơ là Nguyễn Văn Lợi đến thay cho (Lê Văn) Quân, (Lê Văn)
Quân cứ cáo bệnh nghỉ mãi, bởi vậy, Vua chia quân lính (của Lê. Văn
Quân) ra làm ba, giao cho Phùng Văn Nguyệt, Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Văn
Tính cai quản.
Mùa xuân năm Tân Hợi (1791), (Lê Văn) Quân từ Hưng
Phú trở về. Vua sai đình thần bàn nghị (tội lỗi) của (Lê Văn) Quân.
Đình thần đều cho rằng, Lê Văn Quân phải bị xử tử, nhưng Vua nghĩ (Lê
Văn) Quân cũng có chút công lao nên không nỡ giết, bèn sai tước hết quan
chức. (Lê Văn) Quân Quân. Đình thần đều cho rằng, Lê Văn Quân phải bị
xử tử, nhưng Vua nghĩ (Lê Văn) Quân cũng có chút công lao nên không nỡ
giết, bèn sai tước hết quan chức. (Lê Văn) Quân xấu hổ quá, uống thuốc
độc tự tử. Vua vừa tiếc lại vừa tức, tới tận nhà thương khóc, sai người
lấy gậy đánh vào quan tài (của Lê Văn Quân) 100 gậy, xong mới cấp cho
tám người lính làm phu mộ, lại còn cho hai người lính khác làm phụ coi
mộ cho cha đẻ của (Lê Văn) Quân. Mẹ (của Lê Văn Quân) là người họ Trần,
tuổi đã cao nên nhân vì có con nuôi của (Lê Văn) Quân là Lê Văn Khâm
cũng đang bị bệnh, Vua liền cho (Lê Văn Khâm) về phụng dưỡng".
Lời bàn:Tướng Lê Văn Quân có ba điều rất đáng sợ. Một là ngạo mạn một cách vô lối, tức là tự mình xua đuổi thân hữu của mình. Hai là hẹp hòi và hay để bụng thù oán đồng liêu, tức là tự mình cô lập chính mình. Ba là không thấy lỗi mình, chỉ mong kiếm cớ hãm hại kẻ mình không ưa, cốt sao cho bõ ghét, tức là ngầm nuôi tâm địa xấu xa. Gồm đủ ba điều dáng sợ đó, làm người thường còn khó nói chi chuyện làm tướng cầm quân. Lê Văn Quân nhận ra lỗi lầm quá trễ, vả cũng vì quá trễ nên xấu hổ đến nỗi phải uống thuốc độc mà tự tử. Thế là chậm vẫn còn hơn không, nếu chẳng như vậy, Nguyễn Phúc Ánh đâu phải chỉ sai người đánh vào quan tài của Lê Vãn Quân 100 gậy và hậu thế cũng khó bề tha thứ cho Lê Văn Quân được.Đánh 100 gậy vào quan tài của Lê Văn Quân, ai bảo chuyện đó chỉ là trò hão huyền, có biết đâu rằng, nhờ vậy mà sau đó khá lâu, dương thế chẳng có mấy ai dám xử sự như Lê Văn Quân nữa. Hữu ích đấy chớ, xin cứ nghĩ mà xem !(Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần )
Thương hại thay Nguyễn Văn Thành
Thuở nhỏ, Nguyền Văn Thành được gia đình cho ăn học chu tất, bởi vậy, trong số các tướng lĩnh lúc bấy giờ, ông là người có kiến thức uyên bác hơn cả. Năm 1773 (15 tuổi), Nguyễn Văn Thành cùng cha là Nguyễn Văn Hiền theo phò chúa Nguyễn để chống lại Tây Sơn. Cha mất, ông tiếp tục theo phò Nguyễn Phúc Ánh và khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã là một trong những chỗ dựa tin cậy của Nguyễn Phúc Ánh. Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Nguyễn Văn Thành được bổ làm Tổng trấn Bắc Thành, thay mặt triều đình cai quản miền Bắc (tương đương với vùng Bắc Bộ ngày nay). Ông cũng là một trong những người được Hoàng đế Gia Long trao trách nhiệm soạn thảo bộ luật cho triều Nguyễn.
Điểm lại hành trạng của những người theo phò Nguyễn Phúc Ánh thì thấy quả thật ít ai cớ may mắn vươn tới cực đỉnh danh lợi như Nguyễn Văn Thành, song cũng ít ai phải chịu nhiều cay đắng tủi nhục và oan khuất như Nguyễn Văn Thành. Riêng nỗi cay đắng tủi nhục và oan khuất, xin được theo sách nói trên mà dẫn ra mấy sự kiện chính như sau :
- Sự kiện thứ nhất xảy ra năm Ất Tị (1785). Năm này, Nguyễn Văn Thành đang cùng Nguyễn Phúc Ánh bôn tẩu ở Xiêm La. "Tính Nguyễn Văn Thành rất thích cờ bạc, thường thua và mắc nợ, bị người ta đòi hoài. Một hôm đang theo Vua ở đất Xiêm La, Nguyễn Văn Thành được Vua sai đem 1000 lạng bạc đi Chiêm Kha (tên một vùng đất của Xiêm La) để mua thóc. Dọc đường (Nguyễn Văn Thành) gặp quan quân (của Vua) cũng vì đánh bạc mà mắc nợ với người Xiêm La, bị họ đến đòi nợ rất khổ, ông thấy thế mà thương, liền đổ hết bạc ra trả nợ cho quan quân (của Vua) rồi tay không mà về. Vua biết chuyện, tuy không bằng lòng nhưng cũng lấy làm lạ, không bắt tội ông".
- Sự kiện thứ hai xảy ra vào năm Đinh Mùi (1787): "Mùa thu, Hà Hỷ Văn (tướng của Tây Sơn - NKT) đóng quân ở đảo Côn Lôn, muốn được quy phục, Vua bèn sai (Nguyễn Văn) Thành cùng với Nguyễn Thái Nguyên đi đón, nhưng khi trở về, vì gặp gió chướng, thuyền không thể đến nơi Vua ở được, đành phải đóng tạm tại Hà Tiên. Bởi hết lương ăn, (Nguyễn Văn) Thành liền đóng giả thuyền giặc đi tuần để cướp lương. Khi Vua từ Xiêm La về đảo Cổ Cốt, (Nguyễn Văn) Thành dẫn Hà Hỷ Văn vào yết kiến và tâu việc đi cướp lương cho quân ăn. Vua giận lắm, sai giam Nguyễn Văn) Thành lại, nhưng sau lại thả ra, sai đi đánh giặc".
- Sự kiện thứ ba xảy ra vào năm Kỉ Mùi (1799). Năm này, Nguyễn Văn Thành được làm Tiết chế, chỉ huy trận đánh vào Quy Nhơn. Cùng ở trong bộ chỉ huy với Nguyễn Văn Thành, còn có Lê Văn Duyệt, Lê Chất và Tống Viết Phúc. Sách trên chép : "Trận này, (Nguyễn Văn) Thành cùng (Lê Văn) Duyệt, cắm cờ trên bành voi để chỉ huy các tướng. Tính (Nguyễn Văn) Thành thích uống rượu. Lúc sắp vào trận, lấy be rượu rót uống, nhân thể, rót mời (Lê Văn) Duyệt. (Lê Văn) Duyệt không uống. (Nguyễn Văn) Thành nói :
- Hôm nay trời rét, uống rượu cho thêm khí lực.
(Lê Văn) Duyệt cười mà nói rằng :
- Người nào nhút nhát mới phải mượn rượu để tăng khí lực. Trước mắt ta, nào có ai đáng mặt giỏi trận mạc để cùng đối địch, vậy thì cần gì phải dùng đến rượu ?
(Nguyễn Văn) Thành nghe vậy thì thẹn và cũng kể từ đó, bắt đầu để bụng nuôi giận đối với Lê Văn Duyệt.
- Sự kiện thứ tư xảy ra vào năm Tân Mùi (1811). Năm này, các quan là Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát phạm tội, Vua giao cho triều đình xử. Nguyễn Văn Thành cho rằng Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát quả đúng là có tội, nhưng lấy công bù tội thì cũng có thể được coi là thuộc hàng bát nghị. Lời ấy dâng lên, Vua cho là (Nguyễn Văn) Thành bênh vực cho kẻ có tội, bèn phạt ba con trâu !
- Sự kiện thứ năm xảy ra vào năm nào không rõ, nhưng tạm ước đoán là năm Nhâm Thân (1812) : "Vua đi coi đất để đặt Sơn Lăng (các vua triều Nguyễn thường tự chọn đất xây lăng cho mình ngay khi còn sống. Sơn Lăng là lăng của Gia Long - NKT). Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (tức vua Minh Mạng, lúc này chưa lên ngôi - NKT) và các đại thần cùng theo đi. Lúc đào huyệt, thấy đất có năm sắc, Vua lấy làm mừng, cho đó là điềm tốt, quần thần đều chúc tụng, riêng (Nguyễn Văn) Thành không nói gì. Vua hỏi thì ông tâu:
- Đất táng thân mẫu của tôi cũng có năm sắc như vậy, mà lại còn đẹp hơn.
Vua im lặng, quần thần thì tỏ vẻ không bằng lòng. (Nguyễn Văn) Thành lại nói :
- Gần đây, ở xứ Chiêm Ê có huyệt đất rất tốt.
Phạm Văn Nhân nói: - Đã biết là huyệt tốt như vậy, tại sao không tâu lên ?
Nguyễn Văn Thành nói : - Đất ấy tuy tốt nhưng không nên táng, vì hễ táng vào thì thế nào cùng bị sétđánh.
Vua nghe và chẳng lấy gì làm thích thú. Thánh Tổ Nhân Hoàng đế nói với (Nguyễn Văn) Thành rằng :
- Tây Sơn là lũ tiếm ngụy mới bị sét đánh vào mả, chớ đời thánh minh được trời giúp, làm gì có chuyện ấy. Trước mặt Vua, sao ngươi dám nói như vậy.
(Nguyễn Văn) Thành biết mình lỡ lời, bèn lui ra. Ông thường nói trước mặt Vua rằng :
- Phía Tây Bắc có cầu vồng bảy màu đấu nhau. Đó chính là điềm báo của trời.
Vua giận (Nguyễn Văn) Thành hay khích bác bằng những lời quái dị quá mức. Đến khi việc con của (Nguyễn Văn) Thành là (Nguyễn Văn) Thuyên bị phát giác ra, Vua liền đem những lời nói này để bảo quần thần buộc tội (Nguyễn Văn) Thành".
- Sự kiện thứ sáu xảy ra vào năm Ất Hợi (1815): "Bấy giờ, Vua ở ngôi tuổi đã cao nhưng vẫn chưa định người nối ngôi. Nhân tan buổi chầu, vua hỏi (Nguyễn Văn) Thành rằng : - Cháu ta là Đán (tức Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con trưởng của Hoàng Tử Cảnh - NKT) thì còn bé, vậy, trong các con ta, ai đáng được lập làm Thái tử. (Nguyễn Văn) Thành tâu :
- Đích tôn thừa trọng, theo đúng lễ này mới gọi là phải. Nay nếu bệ hạ muốn chọn người khác thì ở đời, biết con chẳng ai bằng cha, việc này tôi không dám can dự.
Một hôm. (Nguyễn Văn) Thành hội triều thần ở nhà riêng và nói :
- Hoàng Tôn Đán nên nối ngôi vua, tôi đã tâu Vua xin lập, các quan thấy thế nào ?
Trịnh Hoài Đức sợ phải tội lây, liền ngăn trở, nói rằng :
- Đấy là việc quốc gia đại sự, phải để Nhà vua quyết đoán, không phải là việc của quần thần. Nếu có ý riêng mà toan định đoạt, tội lớn lắm.
Nghe vậy, (Nguyễn Văn) Thành mới thôi. Từ đấy trở đi, mỗi khi vào chầu, (Nguyễn Văn) Thành thường xin lập Thái tử, Vua im lặng khiến (Nguyễn Văn) Thành càng ngờ và sợ hãi".
- Sự kiện thứ bảy bắt đầu xảy ra từ cuối năm Ất Hợi (1815) và kết thúc bi thảm vào mùa hè năm Đinh Sửu (1817):
"Con của (Nguyễn Văn) Thành là (Nguyễn Văn) Thuyên, đỗ Cử nhấn khoa Quý Dậu (1813), thường dùng thơ văn để giao thiệp với khách. Nghe nói ở Thanh Hóa có Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận là những người nức tiếng hay chữ, (Nguyễn Văn Thuyên) bèn sai môn hạ là Nguyễn Trương Hiệu đến mời. Trong bài thơ (gởi hai người nói trên - NKT), có câu :
Thử hồi nhược đắc sơn trung đế
Tả ngã kinh lu.ân chuyển hóa cơ.
(Nghĩa là : Thời nay, nếu mà có được vị chúa trong núi kia ở bên cạnh để ta lo sắp đặt thì có thể xoay chuyển được cơ trời).
Câu thơ này hàm ý bội nghịch, cho nên, Nguyễn Trương Hiệu liền đi báo với quan Thiêm sự của bộ Hình là Nguyễn Hữu Nghi. (Nguyễn) Hữu Nghi vốn có thù oán với (Nguyễn Văn) Thành, bèn sai (Nguyễn Trương) Hiệu đem lời thơ ấy mà tố cáo với Lê Văn Duyệt. ( Lê Văn) Duyệt và (Nguyễn Văn) Thành vốn không hòa hợp, nên (Lê Văn) Duyệt liền đem thơ ấy dâng Vua. Vua cho là sự trạng chưa rõ, sai trả lại (cho Nguyễn Văn Thuyên). Thấy tờ giấy có bài thơ rất đáng giá, (Nguyễn Trương) Hiệu bèn giữ lại để tống tiền (Nguyễn Văn) Thuyên. (Nguyễn Văn) Thuyên cho tiền nhưng (Nguyễn Trương) Hiệu vẫn chưa vừa lòng, bởi vậy hắn đợi (Nguyễn Văn) Thành đi chầu về, đón đường nắm áo mà đòi thêm. (Nguyễn Văn) Thành lập tức bắt cả (Nguyễn Trương) Hiệu và (con là Nguyễn Văn) Thuyên giam vào ngục Quảng Đức, rồi khi vào chầu thì đem việc ấy tâu Vua. Vua giao cho đình thần tra xét, nhưng lại nghĩ là chứng cớ chưa đủ, bèn tha cho (Nguyên Văn) Thuyên, còn (Nguyễn Văn) Thành thì vẫn được làm quan như cũ.
Năm (Gia Long) thứ mười lăm (tức năm Bính Tí, 1816 - NKT) quan Kí lục của Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa dâng sớ hạch tội (Nguyễn Văn) Thành làm việc trái phép, Vua giao cho triều thần bàn nghị. (Việc này đã có chép ở chuyện ( Nguyễn Duy Hòa). Tháng 2, Vua làm lễ tế dàn Nam Giao, các quan ở bộ Lễ nói rằng (Nguyễn Văn) Thành không nên dự. Vua nói :
- (Nguyễn Văn) Thành là trọng thần, tuy con của hắn có việc mờ ám, nhưng ta há lại nghe lời của một bên để rồi vội bỏ xa bậc huân cựu hay sao ?
Nói rồi, cho (Nguyễn Văn) Thành dự. Một hôm, Vua bãi chầu, đi vào nhà trong, (Nguyễn Văn) Thành chạy thẳng đến nắm áo Nhà vua, khóc lóc mà kêu rằng :
- Tôi từ thuở bé đến nay đi theo bệ hạ, vốn chẳng có tội gì, nay bị người ta bịa dặt để hãm vào tội lỗi, lẽ đâu bệ hạ nhìn chúng giết tôi mà không cứu giúp một chút ?
Nguyễn Đức Xuyên thấy thế, hét to lên rằng : - Ngươi có tội hay không có tội, việc đó đã có công nghị của triều đình sao lại dám vô lễ, xuống ngay !
Từ đấy, (Vua) cấm không cho (Nguyễn Văn) Thành vào chầu và sai Lê Văn Duyệt tra xét vụ án (Nguyễn Văn) Thuyên. Mới tra một lần, (Nguyễn Văn) Thuyên đã thú tội, (Nguyễn Văn) Thành cũng sợ hãi mà nhận. Vua đem tờ biểu của (Nguyễn Văn) Thành cho các quan xem. Quan Lễ bộ Thượng thư là Phạm Đăng Hưng tâu rằng :
- (Nguyễn Văn) Thành chỉ khéo nói úp mở, lấy khôn vặt để dối triều đình, xin nhận tội như thế này chưa phải là thực tâm đâu. Quần thần xin giam (Nguyễn Văn) Thành vào ngục, Vua nói :
- (Nguyễn Văn) Thành hiển nhiên là có tội, nhưng theo lễ, đối xử với đại thần cũng phải khác.
Nói rồi, Vua sai thu ấn của (Nguyễn Văn) Thành và cho về ở nhà riêng. Nghị án xong, quẩn thần tâu rằng, cha con (Nguyễn Văn) Thành đáng xử tử, chỉ có quan Tham tri của bộ Lại là Trần Văn Tuân nói rằng :
- (Nguyễn Văn) Thành không biết dạy con là tội nhẹ, còn (Nguyễn) Duy Hòa dám hạch cả đại thần là tội nặng.
Vua nói : - Thế thì khóa miệng người ta lại hay sao ? Đó không phải là chính danh đâu.
Nói rồi, sai đình thần bàn lại. Đúng lúc đó, Diên Tự Công của họ Lê là Lê Duy Hoán mưu phản, việc bị phát giác, các quan ở Bắc Thành bàn định đưa giải Lê Duy Hoán vào kinh. Vua nhân đó sai các quan ở bộ Hình xét hỏi. Lê Duy Hoán nói rằng (Nguyễn Văn) Thuyên gởi thư giục nó làm phản. Bộ Hình dâng lời khẩu cung lên, triều đình xin bắt (cha con Nguyễn Văn Thành) để trị tội.
Năm (Gia Long) thứ mười sáu (tức năm 1817 - NKT), mùa hạ, Vua ra lệnh bắt (Nguyễn Văn) Thành và các con giam hết ở Quân xá Thị trung để đình thắn xét hỏi lại. (Nguyễn Văn) Thành được đưa đến Vũ Công Thự. Hỏi:
- Tính làm. phản à ? Đáp : - Không ! Hỏi : - Có dự biết việc đó không ? Đáp : - Không !
Đối đáp xong, (Nguyễn Văn Thành) đi ra, mặt giận hằm hằm, về đến Quân xá, ông nói với quan Thị trung Thống chế Hoàng Công Lý rằng, án xét đã xong, vua bắt bề tôi phải chết mà bề tôi không chết là bề tôi bất trung. Giờ lâu, ông đi nằm, lấy thuốc độc tự tử. Năm ấy, (Nguyễn Văn Thành) sáu mươi tuổi (tính theo tuổi ta - NKT).
Quân lính của (Nguyễn Văn) Thành lấy được bản trần tình của ông, Hoàng Công Lý dâng vua. Lời trần tình có câu rằng :
- Sớm rèn tối đúc, tạo cho cha con tôi tội cực ác, không thể tố cáo vào đâu được, cho nên chỉ biết chết mà thôi.
Vua cầm tờ trần tình mà thương khóc rồi dụ rằng : - (Nguyễn Văn) Thành theo trẫm từ lúc còn ít tuổi, từng chịu gian nan và lập được công to, nay bỗng chốc mà ra thế này, trẫm không hay biết trước để bảo toàn sứ mạng tức là đức của trẫm đã bạc rồi vậy.
Vua hỏi Phạm Đăng Hưng rằng : - Nên táng (Nguyễn Văn) Thành theo lễ nào ?
(Phạm Đăng) Hưng tâu : - Táng theo lễ thứ nhân.
Vua im lặng, sau, sai một viên Cai đội ở Trung quân đem ba mươi người lính đi lo việc tang, cấp cho 500 quan (ngang với tiền trả mũ áo khi về hưu), lại cho thêm ba tấm gấm Tống và vải lụa cộng là mười tấm. Các con (của Nguyễn Văn Thành) đang giam đều tha cho ra khỏi tù cả".
Lời bàn :
Nguyễn Văn Thành một đời làm tướng, tài đủ để thắng được đối phương nhưng chưa đủ để chế ngự những suy nghĩ bột phát trong người, khiến bao lần phải thất thố, mất lòng đồng liêu và mất cả sự tin yêu của vua nữa. Xem việc ông để tâm chán ghét Lê Văn Duyệt khi Lê Văn Duyệt từ chối uống rượu, lại xem việc ông nói năng thiếu cẩn trọng khi đi chọn đất làm Sơn Lăng cho vua Gia Long, cũng như khi ông họp các quan bàn chuyện lập Thải tử, thì đủ biết ông là người khó bề tránh được đại họa.
Cha nào, con nấy, cái ngông nghênh của Nguyễn Văn Thuyên không thể nói là không có phần ảnh hưởng của cha. Xưa nay, ngông nghênh vô lối với khẩu khí của bậc có chí lớn rất biệt nhau, vậy mà nào ít kẻ cố tình trộn lẫn. Thương hại thay ! Vua Gia Long lúc đầu tha cho các con của Nguyễn Văn Thành, nhưng sau đó lại bắt giết Nguyễn Văn Thuyên. Dương thế thuở ấy bớt được một kẻ gàn, quả có vậy thật. Về sau, vua Minh Mạng còn bắt giết hết những người con còn lại của Nguyễn Văn Thành, gồm Nguyễn Văn Thần, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Chuân, Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Văn Hân, cùng với gia thuộc của họ. Vụ án mới thê thảm làm sao !
Ranh ma bơn cả trong toàn bộ chuyện này có lẽ là Nguyễn Trương Hiệu. Kẻ ăn hối lộ gian ngoan ấy đã đẩy gia đình Nguyễn Văn Thành vào chỗ khốn cùng. Bấy giờ, triều đình không xử tội hắn, thế cũng có nghĩa là triều đình tự xác định mức đọ xấu tốt của mình. Mới hay, kẻ ăn hối lộ và tống tiền thiên hạ, chẳng phải ngẫu nhiên mà có và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà được bình yên.
(Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần )
Lê Văn Duyệt - nỗi oan khiên bị kết tội sau khi đã qua đời
Một phần của “mả Ngụy” mà thời Pháp thường gọi là “cánh đồng mồ mả”. Ảnh tư liệu.
Trong lịch sử phong kiến phương Đông nói
chung và Việt Nam nói riêng, các vụ án liên quan đến công thần không
phải là hiện tượng chính trị hiếm có, bởi tính tập trung quyền lực vào
tay hoàng đế không cho phép tồn tại các công thần có sức ảnh hưởng quá
lớn ở bên mình. Lê Văn Duyệt không may mắn khi nằm trong số các vụ án
đó. Bi đát hơn, ông bị kết tội sau khi đã qua đời.
Lê Văn Duyệt
黎文悅
黎文悅
Khuôn mặt tượng đồng Lê Văn Duyệt trong Thượng Công miếu (tức Lăng Ông). Khuôn mặt được chế tác dựa trên chân dung Lê Văn Duyệt trên tiền giấy 100 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa in năm 1966.[1]
Theo
sử sách, Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 trong một gia đình nông dân tại
làng Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ông sinh ra là người ái
nam ái nữ. Thuở nhỏ đã bộc lộ là cậu bé thông minh, khỏe mạnh nhưng ít
chịu học hành, thường lêu lổng và tụ tập trẻ con trong làng, chia phe
đánh trận giả.
Năm 17 tuổi, cuộc gặp gỡ định mệnh với
Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong
cuộc đời Lê Văn Duyệt. Ông trở thành vị tướng giỏi phò trợ chúa Nguyễn
trong vạn dặm chiến chinh, dành nhiều thắng lợi.
Gần như tất cả các trận chiến lớn chống
quân Tây Sơn ông đều tham gia chỉ huy, chiến công được coi lớn nhất là
trận đánh chiếm cửa biển Thị Nại đầu năm 1801. Nhờ lập nhiều công lao,
binh nghiệp thăng tiến nhanh chóng nên khi Nguyễn Ánh lên ngôi với hiệu
Gia Long, Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng đệ nhất khai quốc công thần
với nhiều đặc ân. Ông được giao giữ chức Tổng trấn Gia Định hai lần, vào
những năm 1812 - 1815 dưới triều Gia Long và 1830 - 1832 dưới triều
Minh Mạng.
Ông được ca ngợi là một Tổng trấn tài
năng đức độ, vừa trị an xứ sở vừa chăm lo đời sống nhân dân. Người dân
Nam Bộ khi đó thường kính phục gọi ông là Ông Lớn Thượng.
Không chỉ với người dân trong nước,
thương nhân nước ngoài sau khi tiếp xúc cũng hết lời khen ngợi vị Tả
quân này. John White, người Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam đã tỏ
ra kính phục Tả quân ngay sau lần hội diện đầu tiên. Ông ta đã ghi lại
ấn tượng của mình về Tả quân Lê Văn Duyệt như sau: Dáng điệu và phong độ
của ông này uy nghi lẫm liệt. Ông có vẻ một đại thần đầy kinh nghiệm
nhưng vẫn giữ được đức độ cương trực của con nhà tướng. Tính tò mò muốn
hiểu biết và cách thức ông lựa vấn đề đem bàn tỏ ra ông là người có đầu
óc phóng khoáng, luôn luôn muốn trau dồi kiến thức. Những lời bàn chính
đáng của ông trong nhiều vấn đề tỏ ra ông có tầm kiến thức rất rộng.
Chính sự, chính trị, tôn giáo và những phong tục tập quán của các nước
Âu tây là những vấn đề mà ông bàn cãi một cách
chăm chú…
chăm chú…
Lập nhiều công lao và từng được vua Gia Long ưu ái là thế nhưng sau khi qua đời được ba năm, ông vướng vào một án oan thảm khốc.
Năm 1832, Lê Văn Duyệt qua đời sau một
cơn bạo bệnh. Ngay sau khi ông vừa mất, một bi kịch khủng khiếp đã giáng
xuống cả gia tộc khi người con nuôi Lê Văn Khôi khởi binh chiếm thành
Phiên An, chống lại triều đình. Về sự biến Lê Văn Khôi, theo sử cũ thì
khi Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt vừa mất, quan Bố chính có
tiếng tham ác là Bạch Xuân Nguyên xưng phụng mật chỉ truy xét gia đình
Lê Văn Duyệt rồi khép ông vào tội tham nhũng, lạm quyền, có mưu đồ tạo
phản, đưa ra lệnh bắt giam con nuôi Lê Văn Khôi cùng nhiều thuộc hạ của
ông.
Lê Văn Khôi sau đó vượt ngục, tập hợp
lực lượng trả thù. Ngày 18.5.1833, ông cùng thuộc hạ vào dinh quan Bố
chính, giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên, chiếm luôn thành Phiên An và một số
tỉnh lân cận chỉ trong vòng một tháng.
Vua Minh Mạng vô cùng tức giận, cử các
tướng đem quân thủy, bộ, binh, tượng vào dẹp loạn. Cuộc nổi dậy bị dìm
trong biển máu. Hàng ngàn người theo Lê Văn Khôi bị lôi ra xử chém và
chôn chung một hầm, tạo nên ngôi “mả Ngụy” (giặc, phản loạn) trên đất
thành. Sáu người cầm đầu bị đóng cũi đưa về Kinh thành trị tội (án tùng
xẻo), trong đó có Lê Văn Khôi.
Chưa hết, Lê Văn Duyệt dù lúc này đã qua
đời vẫn bị lôi ra luận tội và một bản án vô tiền khoáng hậu cho phạm
nhân quá cố đã được lập ra với bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ.
Vua còn ra chỉ dụ san bằng mồ mả Lê Văn Duyệt, dựng bia đá sỉ nhục với
tám chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (Nơi hoạn quan Lê Văn
Duyệt chịu tội). Con cháu ông từ 15 tuổi trở lên bị xử trảm hàng loạt.
Thân sinh bị tước phẩm hàm, bia mộ bị đục xóa, ruộng đất bị tịch thu,
nhà thờ họ tộc bị triều đình đưa voi về tàn phá. Đây được coi là một
trong hai kỳ án lớn nhất dưới triều Nguyễn.
Nhiều ý kiến cho rằng, vua Minh Mạng vốn
đã “không ưa” gì Tả quân Lê Văn Duyệt từ việc sách lập hoàng tử Đảm làm
thái tử cho đến bản án Huỳnh Công Lý nhưng không thể làm gì vì công lao
quá lớn. Nay nhân sự biến Lê Văn Khôi, vua kết tội luôn cả Lê Văn
Duyệt, cho rằng khi còn sống, Lê Văn Duyệt đã dung dưỡng, chứa chấp bọn
phản tặc để lúc bấy giờ nổi loạn.
Trong một bản tấu của Nội các đã được
vua Minh Mạng duyệt có nội dung: Lê Văn Duyệt vốn là đại thần thống lĩnh
việc quân, ở ngôi cao mà ngầm nuôi lòng gây họa đến nỗi tạo thành vụ án
lớn. Tội của y không chỉ là mầm mống mà thôi. Việc này đáng phải xét
xử.
Một văn bản khác đề cập việc xử vụ án trọng đại Lê Văn Duyệt như sau:
Chúng thần là Hà Tông Quyền, Hoàng Quýnh
phụng thượng dụ: Nay căn cứ đình thần đem tội trạng gây họa của quá cố
Lê Văn Duyệt tuân dụ nghị xử. Tên tội phạm đó phóng túng thành nết, nuôi
phản nghịch, tụ tập vây cánh là bọn phỉ gây họa cho con cháu. Nguyên
các văn bằng phong tặng cho ông bà, cha mẹ xin nên truy thu. Con cháu,
thê thiếp của tên phạm đều phân biệt xét xử, định tội. Cháu của tên phạm
là Lê Văn Hán cùng tên cầm đầu nghịch đảng Lê Văn Khôi truyền lập tức
xử tử lăng trì, chém đầu bêu cọc 3 ngày. Nguyễn Thị Quang truyền chém
ngay. Bọn Lê Văn Yến gồm 9 tên phạm truyền đều giam chờ chém. Bọn Lê Thị
Sĩ gồm 6 tên dưới 15 tuổi truyền giam cầm nghiêm ngặt… Vua Minh Mạng đã
phê: Được.
Phải đến thời vua Thiệu Trị và Tự Đức,
nỗi oan của Tả quân mới được gột rửa. Năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi
ban lệnh tha tội cho các thân thuộc Lê Văn Duyệt. Năm Tự Đức 2 (1849),
nghĩ đến công lao của Tả quân nên vua cho nhổ cây bia khắc 8 chữ, đồng ý
cho thân nhân sửa sang xây đắp mộ phần. Năm Tự Đức 21 (1868), vua cho
khôi phục nguyên hàm Tả quân Lê Văn Duyệt.
Việc Lê Văn Duyệt được khôi phục danh dự sau bao năm xảy ra sự biến Lê Văn Khôi cũng được đề cập trong Châu bản triều Nguyễn.
Năm Tự Đức 18 (1865), Phan Thanh Giản làm bản tấu xin khôi phục nguyên hàm cho Lê Văn Duyệt đã quá cố: Thần Phan Thanh Giản tâu: Vâng xét, đình thần tuân lệnh đem công lao, tội trạng của lê Văn Duyệt đã quá cố làm tập tâu phúc trình lên. Xét thấy trong tờ phiếu nghĩ trình bày: Lê Văn Duyệt từ lâu bị xử tội nặng, nay nên chăng cho khôi phục nguyên hàm nhưng không được liệt kê vào hàng được thờ cúng, để tỏ rõ sự phân biệt.
Bản tấu của Nội các ngày 26 tháng 1 năm Tự Đức 21 cũng đề cập: Ngày 21 tháng chạp năm ngoái, Đình thần làm tập trình về công tội, xin khôi phục phẩm hàm cho các viên đã quá cố, Lê Văn Duyệt nên khôi phục chức cũ… Chúng thần nghĩ rằng các viên công thần đó đều có công lao, từ khi đắc tội đến nay đã qua nhiều năm, xin đợi chỉ làm phiếu.
Năm Tự Đức 18 (1865), Phan Thanh Giản làm bản tấu xin khôi phục nguyên hàm cho Lê Văn Duyệt đã quá cố: Thần Phan Thanh Giản tâu: Vâng xét, đình thần tuân lệnh đem công lao, tội trạng của lê Văn Duyệt đã quá cố làm tập tâu phúc trình lên. Xét thấy trong tờ phiếu nghĩ trình bày: Lê Văn Duyệt từ lâu bị xử tội nặng, nay nên chăng cho khôi phục nguyên hàm nhưng không được liệt kê vào hàng được thờ cúng, để tỏ rõ sự phân biệt.
Bản tấu của Nội các ngày 26 tháng 1 năm Tự Đức 21 cũng đề cập: Ngày 21 tháng chạp năm ngoái, Đình thần làm tập trình về công tội, xin khôi phục phẩm hàm cho các viên đã quá cố, Lê Văn Duyệt nên khôi phục chức cũ… Chúng thần nghĩ rằng các viên công thần đó đều có công lao, từ khi đắc tội đến nay đã qua nhiều năm, xin đợi chỉ làm phiếu.
Năm Tự Đức 32 (1879), Châu bản Tự Đức,
tờ 240, tập 322 có đoạn: Ngày 13 tháng này, quan Nội các dâng sách tâu
của ba bộ Lại, Lễ, Binh tâu trình việc xét cấp tự điền, lộc điền. Sách
này xin tuân nghĩ phụng chỉ, trong đó có khoản: Phan Sĩ Thục xin cấp
ruộng thờ cho Tả quân Lê Văn Duyệt… Điều này đã được vua Tự Đức chấp
thuận.
Như vậy, dù đã có lúc hàm oan bị coi là
tội đồ của lịch sử, song cuối cùng nỗi oan cũng đã được gột rửa và trên
hết, trong lòng dân, nhất là người dân vùng Nam Bộ, Lê Văn Duyệt vẫn
luôn là một vị danh tướng đáng kính, yêu nước, thương dân.
Gần đây, một số hội thảo khoa học lịch
sử và nhiều công trình nghiên cứu về Lê Văn Duyệt đã được thực hiện nhằm
đánh giá lại vai trò của nhân vật lịch sử này. Qua đó, các nhà nhà sử
học và học giả trong nước đều thống nhất nhận định: Lê Văn Duyệt là một
tài năng lớn về chính trị, kinh tế, quân sự.
theo Hồng Nhung (báo Lao Động)
Vì sao Vua Gia Long giết hại công thần bậc nhất?
(Người Việt) - Nguyễn Văn Thành sinh ngày 13 tháng 11 năm Mậu Dần (1758), là người Thừa Thiên, theo Nguyễn Ánh - Gia Long từ khi mới khởi binh đánh Tây Sơn, chịu bao đắng cay khổ sở; sau khi toàn thắng, lập được công lớn, đứng đầu hàng công thần của triều Nguyễn.
![]() |
Năm
1802, khi bình định Bắc Hà, Gia Long triệu Nguyễn Văn Thành làm Tổng
trấn Bắc thành, ban cho sắc ấn trong ngoài 11 trấn, có thẩm quyền truất
nhắc quan lại, xử quyết việc án; chỉ mấy năm, vùng đất này được yên
trị. Năm 1810, ông về kinh làm chức Trung quân, rồi được giao cử chức
Tổng tài trong việc soạn bộ Hoàng Việt Luật Lệ (tức Luật Gia Long).Kỳ án đình đámKỳ
án Nguyễn Văn Thành xuất phát từ một bài thơ hàm tư tưởng phản nghịch
của con trai và ông đã phải chịu trách nhiệm liên đới. Sách Kể chuyện
các vua Nguyễn viết: Nguyễn Văn Thành có người con trai là Nguyễn Văn
Thuyên, thi đỗ cử nhân, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn
sĩ. Bấy giờ nghe Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ,
Văn Thuyên bèn làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời hai vị
vào chơi. Bài thơ như sau: Văn dạo Á Châu da tuấn kiệt/ Hư hoài trắc dục
cầu ty/ Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác/ Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ/
U cốc hữu hương thiên lý viễn/ Cao cương minh phượng cửu thiên tri/ Thư
hồi nhược đắc sơn trung tế/ Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky.Dịch nôm là:
Ái Châu nghe nói lắm người hay/ Ao ước cầu hiền đã bấy nay/ Ngọc phát
Kinh Sơn tài sẵn đó/ Ngựa Kỳ kí bắc biết lâu thay/ Mùi hương hang tối xa
nghìn dặm/ Tiếng phượng gò cao suốt chín mây/ Sơn tể phen này dù gặp
gỡ/ Giúp nhau xoay đổi hội cơ này. Tưởng bài thơ là lời lẽ nói ngông,
không ngờ tên Hiệu đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem. Nghi là thuộc hạ của
Nguyễn Văn Thành, một lần lỗi nhẹ mà bị Thành khiển trách, quở mắng rất
nặng, chạy sang xin làm môn hạ cho tả quân Lê Văn Duyệt. Được trọng
dụng, Nguyễn Hữu Nghi vẫn không quên âm mưu trả thù Nguyễn Văn Thành.
Nhân bài thơ này, Nghi đem cho Lê Văn Duyệt xem. Lê Văn Duyệt lại có
hiềm khích với Nguyễn Văn Thành nên nắm lấy cơ hội, vào tâu vua. Nhưng
vua Gia Long cho là "Thuyên còn trẻ, ưa lối thơ nghông nghênh, chưa đủ
căn cứ để kết án". Nguyễn Hữu Nghi lại xúi Nguyễn Trương Hiệu đưa bài
thơ ra dọa Nguyễn Văn Thành. Thành liền bắt Hiệu và cả con mình giao cho
các quan dinh Quảng Đức điều tra. Bị tra tấn mấy ngày đêm, Nguyễn Văn
Thuyên thú nhận là có mưu phản. Thế là các triền thần ủng hộ Lê Văn
Duyệt thi nhau tố cáo Nguyễn Văn Thành, xin nhà vua nghiêm trị.Cái chết oan ứcSách
Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ ghi: Nguyễn Văn Thành đã bị tước
hết ấn, về ở nhà riêng và tiếp tục chờ xử lý. Vua bảo bầy tôi rằng:
“Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách là
hiếu danh ư? Hay ý muốn làm gì? Có bầy tôi như thế xử trí thực khó! Nếu
không bảo toàn được công thần thì cũng không phải là việc hay của trẫm,
thế mới khó chứ”.Về phía Nguyễn Văn Thành, theo Việt Nam sử lược và Quốc
triều chỉnh biên, vì quá uất ức, một hôm khi bãi triều, ông chạy theo
nắm lấy áo Gia Long mà khóc rằng: "Thần theo bệ hạ từ thuở nhỏ đến bây
giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé mà lại không cứu?". Gia
Long giật áo ra, bỏ vào cung, từ đó cấm Thành không được vào chầu và sai
Lê Văn Duyệt đem Nguyễn Văn Thuyên ra tra hỏi một lần nữa. Nguyễn Văn
Thuyên lại thú nhận tội của mình. Gia Long được tin, truyền bắt giam
Nguyễn Văn Thành để chờ đình thần xét án. Thành và mấy người con bị bắt
giam ở trong trại quân Thị Trung. Hôm đình thần tra án rồi, Thành ra nói
với Thị Trung Thống Chế là Hoàng Công Lý rằng: "Án xong rồi, vua khiến
tôi phải chết, nếu không chết thời không phải là tôi trung". Rồi ông
uống thuốc độc chết ở trại quân. Thông tin cái chết của Nguyễn Văn Thành
được tâu lên, Gia Long triệu Hoàng Công Lý hỏi: “Văn Thành khi chết có
nói gì không?”. Công Lý đem hết lời Thành nói thưa lên. Vua giận nói:
“Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Cùng lúc
đó, có người đem bài biểu trần tình của Thành dâng lên nhà vua. Gia
Long cầm tờ biểu khóc to đưa lên cho bầy tôi xem và dụ: “Văn Thành từ
lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không
bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.Gia Long đã sai một Chánh Đội Trung Quân
và 30 tên lính coi việc tang cho Thành, hoàn trả áo mão, lại ban cho
500 quan tiền, 3 cây gấm, 10 cây vải, 10 cây lụa, mấy người con bị giam
đều được tha cả.Nghi vấn đặt raXung quanh cái chết của
công thần bậc nhất Nguyễn Văn Thành có rất nhiều nghi vấn đặt ra. Có ý
kiến cho rằng, sau khi giành được quyền thống nhất, một nỗi lo ngại ngày
càng lớn trong lòng Vua Gia long. Thế lực của bầy tôi - công thần khai
quốc sẽ dần lấn át ngôi vua của dòng họ Nguyễn. Gia Long bèn tìm cách
trừ dần họ. Cái khó là "hại" thế nào cho phải đạo. Vua tôi cùng vào sống
ra chết, kẻo nữa mang tiếng "chim hết cung bị vứt, thú chết chó săn bị
giết".Nguyễn Văn Thành là công thần đầu tiên được "chú ý". Việc ông đang
làm Tổng trấn Bắc Hà bị Gia Long triệu hồi về kinh, bề ngoài giao trọng
trách lớn nhất, nhưng bên trong để dễ kiềm chế, kiểm soát. Khi nhà vua
ngỏ ý muốn lập hoàng tử thứ tư làm Thái tử, Nguyễn Văn Thành lại muốn
lập Hoàng tôn Đán, con Đông cung Cảnh đã chết vì cơ nghiệp. Lúc đó, Vua
Gia Long đã suy ra rằng: "Hắn muốn dựng vua nhỏ để sau này dễ khống chế.
Ta há tối tăm lầm lẫn"... Và cuối cùng thì cơ hội đã đến với nhà vua
nhân chuyện phản loạn của con trai Thành.Tuy nhiên, một số nhà nghiên
cứu không đồng tình với quan điểm trên. Việc Nguyễn Văn Thuyên có ý mưu
phản thì Nguyễn Văn Thành - là cha thì phải chịu liên đới. Đó là lẽ
thường trong cuộc sống.
Những tướng tài dưới trướng Nguyễn Ánh
1/ Các viên Chưởng Tiền phong dinh trong quân Nguyễn Ánh
Trước 1788 không thấy trong quân Nguyễn Ánh có dinh Tiên phong, nhưng giữa 1788, khi Ánh từ Xiêm về Gia Định, Võ Tánh đem quân Kiến Hòa về theo thì được Ánh phong làm Khâm sai Tổng nhung Chưởng cơ dinh Tiên phong, rõ ràng dinh Tiên phong đã hình thành trên cơ sở quân bản bộ của Võ Tánh. Năm 1790 Tánh bị giáng làm Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, nhưng vẫn quản dinh Tiên phong. Năm 1791 Nguyễn Ánh lấy Chưởng Hậu quân dinh Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân dinh, Cai cơ Tiên phong dinh Võ Tánh quản Hậu quân dinh, Hiệu úy Tiền chi Trung quân dinh Nguyễn Văn Thành quản Tiên phong dinh. Đến 1793, phong Chưởng Tiền quân dinh Tôn Thất Hội làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân, quản Hậu quân dinh Võ Tánh làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây Tham thặng tướng quân, quản Hữu quân dinh Nguyễn Huỳnh Đức làm Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân… Cuối 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân, lấy Phó tướng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh quản Tiên phong dinh. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tánh lần lượt giữ chức Chưởng Tiên phong dinh.
Nguyễn Văn Tánh người Long Thành Biên Hòa, lúc đầu theo Châu Văn Tiếp làm quan tới chức Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, theo Tiếp sang Bangkok. Khi Tánh về Tiếp đã chết, Ánh cho theo Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân, năm 1788 giữ đạo Đồng Môn, đến 1793 làm Lưu thủ Bình Thuận. Năm 1795 theo Nguyễn Ánh giải vây thành Diên Khánh, được thăng Phó tướng Tiên phong dinh, đến 1798 được thăng quản Tiên phong dinh. Năm 1803 được thăng làm Khâm sai Chưởng Tiên phong dinh, Án trấn thành Diên Khánh, thống quản các dinh Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, năm 1805 chết ở nơi làm quan.
Tánh là người can đảm nơi trận mạc nhưng nhút nhát trong triều đình, năm 1800 đóng quân ở Phú Yên giữ nhau với quân Tây Sơn, mắc bệnh thổ huyết không coi quân được, Nguyễn Văn Thành phải dâng biểu xin lấy Tôn Thọ Vinh (ông nội Tôn Thọ Tường) tạm lãnh quân để Tánh dưỡng bệnh. Gặp lúc Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa quân Chân Lạp từ Gia Định tới, ghé Phú Yên thăm Tánh rồi tới nói với Nguyễn Ánh là thấy Tánh đi đứng bình thường, không có vẻ gì là ốm nặng, nói thổ huyết có khi là dối, chỉ là uống tiết vịt thôi. Tánh nghe tin sợ lắm, vội gởi thư cho Lại bộ Nguyễn Bảo Trí nhờ biện bạch giúp, đến khi khỏi bệnh tới yết kiến Nguyễn Ánh vẫn còn sợ sệt, Ánh phải an ủi mãi mới yên tâm, xem ra con người này không phải kẻ tâm cơ sâu sắc đủ để đứng trong chính trường, mà chỉ có thể cúc cung tận tụy làm tròn chức phận võ thần thời loạn mà thôi.
2/ Các viên Chưởng Tiền quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Lê Văn Quân làm Chưởng Tiền quân. Đến 1792 Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, lấy Chưởng Hậu quân Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân. Cuối năm 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Chưởng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành lần lượt giữ chức Chưởng Tiền quân, trong đó Nguyễn Văn Thành là người nổi tiếng nhất.
Lê Văn Quân người Kiến Hưng Định Tường, dũng cảm đánh giỏi, buổi đầu theo Châu Văn Tiếp, được Tiếp gả em gái là Chu Muội nương cho, sau theo Đỗ Thanh Nhơn vào Gia Định, năm 1782 được phong làm Chưởng Tiền quân, nhiều lần lập công. Lúc theo Nguyễn Ánh qua Bangkok, từng được Ánh sai giúp vua Xiêm đánh quân Diến Điện, Đồ Bà đều thắng, người Xiêm rất phục. Năm 1787 theo Ánh về Gia Định, năm 1788 Ánh chiếm được Sài Gòn, phong Quân làm Bình Tây Đô đốc coi dinh Tiền quân, tước quận công. Nhưng Quân là người bất học vô thuật, trong khoảng vua tôi có khi thiếu lễ, lại thấy Võ Tánh mới về theo Ánh mà chức tước ngang mình, có ý ganh ghét, nhiều lần cãi cọ tới mức suýt ẩu đả với nhau, nên Ánh cũng không ưa. Năm 1789 Quân đem Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành đánh ra Nam Trung Bộ, chiếm được Bình Thuận, kế Quân bị Tây Sơn đánh bại ở Phan Rang, nhờ Nguyễn Văn Thành ra cứu mới rút về được Bà Rịa, từ đó xấu hổ xưng bệnh, Ánh gọi mấy lần, đến 1791 mới chịu về Sài Gòn. Ánh giao cho đình thần nghị xử, đều nói “Tội Quân nên giết”. Ánh không nỡ giết, chỉ cách hết quan chức, cũng có ý sẽ lại bổ dụng, nhưng Quân hổ thẹn uống thuốc độc tự tử. Ánh được tin tới tận nhà khóc lóc, đánh vào quan tài 100 roi, cấp cho 8 người phu giữ mộ, cho con Quân là Chính được miễn dao dịch trọn đời. Vợ Quân là em gái Châu Văn Tiếp sinh được một con gái bên Xiêm, nhân đặt tên là Xiêm. Sau Xiêm lấy chồng sinh ra được Nguyễn Văn Hóa, năm Tự Đức thứ 5 (1852) Hóa được ban hàm Tòng cửu phẩm Bá hộ để trông coi đền thờ Châu Văn Tiếp.
Tôn Thất Hội theo Đại Nam Chính biên Liệt truyện là con thứ ba của Cai đội Tôn Thất Thắng, trước 1787 thấy làm Chưởng cơ, theo Nguyễn Ánh bôn ba lưu lạc khắp nơi, có lẽ lúc Ánh từ Xiêm về Gia Định năm 1787 mới được phong làm Chưởng Hậu quân, đến 1792 đổi làm Chưởng Tiền quân, năm 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh, quận công, cầm quân ra đánh Tây Sơn ở miền Trung nhiều lần lập công. Năm 1797 Nguyễn Ánh cầm quân ra Quy Nhơn, để Hội ở lại giữ Gia Định, đến cuối 1798 Hội bệnh chết, được tặng Nguyên phụ công thần Đặc tiến Thượng trụ quốc Chưởng dinh, đến 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong Lạng Giang quận công. Hội tính nghiêm trang trì trọng, kính cẩn giữ lễ, lúc triều nghị thường ăn mặc như nhà nho, các tướng đều kính mà sợ. Nguyễn Ánh có lần cùng Lê Văn Duyệt bàn luận chỗ hay kém của các tướng, Duyệt nói Tống Viết Phước dũng mà ít mưu, Nguyễn Văn Thành mưu mà ít dũng, chỉ có Tôn Thất Hội trí dũng kiêm toàn, quả là bậc danh tướng.
Nguyễn Văn Thành tổ tiên người Quảng Điền Thừa Thiên, đời tằng tổ là Toán dời vào Gia Định, đến đời ông nội là Tính dời ra Phú Yên, đến đời cha là Hiền lại dời vào Gia Định. Hiền theo Tống Phước Hiệp làm quan tới chức Cai đội, đánh nhau với Tây Sơn chết trận. Thành thích đọc sách, giỏi võ nghệ, từ nhỏ theo cha đánh trận đã nhiều lần lập công, năm 1789 được Nguyễn Ánh phong làm Trung quân Tiền chi Tổng nhung Cai cơ, năm 1792 được thăng làm quản Tiên phong dinh, qua 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân, năm 1798 đổi làm Chưởng Tiền quân, đến 1801 được phong làm Khâm sai Chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh. Sau khi diệt nhà Tây Sơn, năm 1802 Gia Long sai Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, coi hết việc quân dân ở 11 trấn miền Bắc, thăng giáng quan lại, xử quyết hình án đều cho tùy nghi làm việc, đến 1811 được đổi làm Chưởng Trung quân thay Nguyễn Văn Trương ốm chết, vào tướng văn ra tướng võ, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đời Gia Long. Nhưng Thành cậy công ngạo nghễ, lại tâu xin lập hoàng tôn Đán (con Đông cung Cảnh) nối ngôi khiến Gia Long ngờ sợ là lập vua nhỏ để ngày sau dễ chuyên quyền nên bị cô lập trong triều đình, sau cùng vì vụ án bài thơ phản của con là Nguyễn Văn Thuyên nên đến 1816 bị cách hết chức tước, qua 1817 bị bắt giam để thẩm vấn, phẫn uất uống thuốc độc tự tử.
Thành là bậc nho tướng, dùng người hiền tài, lo việc tài chính, giao thiệp ngoại bang, biên soạn hình luật không gì không làm được, giỏi văn chương, chơi thân với Ngô Nhơn Tịnh, có thơ tặng đáp với Lê Quang Định, nhưng thơ văn phần nhiều không thấy hành thế, nay chỉ còn vài tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là bài Văn tế tướng sĩ Tiền quân viết bằng chữ Nôm.
3/ Các viên Chưởng Trung quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Tôn Thất Dụ làm Chưởng Trung quân, tiết chế chư đạo bộ binh. Năm 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, thăng Dụ làm Khâm sai Ngoại hữu Chưởng dinh lãnh Đại Tư nông, qua 1783 Dụ chết. Không rõ sau đó ai giữ chức Chưởng Trung quân, nhưng đến 1789 Ánh giao Nguyễn Huỳnh Đức làm Giám quân Trung dinh, đến 1790 thì đổi Đức qua quản Hữu quân dinh, giao cho Nguyễn Văn Trương giữ chức ấy. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Tôn Thất Dụ, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương lần lượt giữ chức Chưởng Trung quân, trong đó Nguyễn Văn Trương là người nổi tiếng nhất.
Nguyễn Văn Trương người Lễ Dương tỉnh Quảng Nam, sau dời vào Gia Định. Lúc nhỏ nhà nghèo, phải chăn trâu cho người ta, từng cùng bọn trẻ chăn trâu chơi đùa chia đội bày trận, tự xưng là đại tướng, ra hiệu lệnh chỉ huy bọn trẻ đánh nhau làm vui. Sau khi Tây Sơn vào Gia Định, Trương theo Tây Sơn làm quan tới chức Chưởng cơ giữ đạo Long Xuyên. Năm 1787 Nguyễn Ánh từ Xiêm về, Trương đón ở Long Xuyên xin hàng, Ánh mừng lắm, phong làm Khâm sai Chưởng cơ, quản đạo tiên phong Thủy dinh Trung quân. Từ đó đến 1789 Trương liên tiếp phá quân Tây Sơn ở Trà Ôn, Mỹ Lồng, Nước Xoáy, giúp Ánh tiến chiếm Sài Gòn, kế cùng Lê Văn Quân đánh ép bức Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Sâm chạy tới sông Cổ Cò, Hàm Luông, rồi cùng Tôn Thất Hội, Võ Tánh hội quân vây Sâm ở cù lao Hổ, Sâm phải đầu hàng. Năm 1790 được thăng làm Giám quân Trung dinh. Năm 1792 Nguyễn Ánh thử thuyền Tây dương, đóng ở Cần Giờ, Trương theo hộ giá, nhân lúc gió thuận tiến ra Thi Nại, lợi dụng lúc Tây Sơn không đề phòng, Trương đốc thúc Long thuyền, Nguyễn Văn Thành đốc thúc Phượng thuyền đi trước xông vào, các quân kế tiếp tiến tới, đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn, cướp được chiến thuyền rồi rút về, từ lúc ra quân đến lúc khải hoàn chưa đầy nửa tháng, đương thời có người xưng tụng là thần binh.
Trương giỏi thủy chiến, tới đâu là thủy quân Tây Sơn chạy tới đó, thường nói với nhau “Bộ chiến thì Tiên phong (Nguyễn Văn Thành) chậm, thủy chiến thì Trung quân (Nguyễn Văn Trương) hăng”, ý nói Thành mưu trí nhưng chậm, Trương hăng hái mà nhanh. Từ 1790 trở đi Trương tham dự tất cả các chiến dịch lớn của quân Nguyễn Ánh như trận Thi Nại 1792, trận Quy Nhơn 1797, trận Quy Nhơn 1799, trận Thi Nại 1801, trong trận Phú Xuân 1801 hộ giá Nguyễn Ánh vào cửa biển Tư Dung phá tan thủy đồn của quân Tây Sơn rồi theo sông Hương tiến vào chiếm Phú Xuân, được phong làm Khâm sai Chưởng Trung quân Bình Tây đại tướng quân quận công. Trong trận Trấn Ninh đầu năm 1802, Trương đánh tan thủy quân Tây Sơn ngoài biển rồi đổ bộ đánh tập hậu Đô đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân đang vây Nguyễn Ánh trên núi Đâu Mâu, khiến Bùi Thị Xuân sắp bắt được Ánh mà phải rút lui. Tháng 6 âl. năm ấy Nguyễn Ánh đánh ra Bắc, Trương đem thủy quân đi trước, phá tan thủy quân Tây Sơn ở cửa Ròn (Nghệ An), chiếm dinh Hà Trung, tiến vào cửa Hội Thống (Nam Định), đánh thẳng tới Sơn Nam Hạ. Năm 1802 quyền giữ ấn Tổng trấn Bắc Thành thay Nguyễn Văn Thành đi kinh lược các trấn, năm 1804 cùng Lê Chất coi việc xây thành Phú Xuân, đến 1805 vào Nam làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1808 theo lệnh Gia Long triệu về Phú Xuân, đến 1810 ốm chết, Gia Long rất thương tiếc, tặng Thái bảo quận công. Năm 1817 làm danh sách công thần Vọng Các, Gia Long nói với Phạm Đăng Hưng tuy Trương không tòng vong qua Xiêm nhưng có công lớn, nên cũng cho dự vào danh sách công thần Vọng Các. Năm 1831 truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo, phong Đoan Hùng quận công.
Trong các đại tướng của Nguyễn Ánh, chỉ có Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt là hai người cầm quân không thua trận nào. Nhưng Duyệt ra trận dũng mãnh, nhiều lần phải liều chết mà thắng, còn Trương tới đâu quân Tây Sơn cũng thường nghe tiếng là rút chạy, ít phải giết người mà cũng không hao binh tổn tướng. Có lần Nguyễn Ánh bình phẩm về các đại tướng dưới quyền, nói “Dũng tướng không bằng trí tướng, trí tướng không bằng phúc tướng”, dũng tướng là chỉ Lê Văn Duyệt, phúc tướng là chỉ Nguyễn Văn Trương. Sử thần triều Nguyễn cũng chép Trương tính nhân hậu, không muốn giết người, lúc còn làm tướng Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn Ánh, tàn quân Nguyễn Ánh lội qua sông chạy, quân Tây Sơn xúm lại đâm, Trương ngăn lại nói “Nhân lúc người ta gặp nguy mà đâm, không phải là dũng”. Trương lại cẩn thận giữ phép, không cậy công khoe tài, nên tuy xuất thân là hàng tướng mà trước sau được Gia Long tin cậy, ít người sánh bằng.
4/ Các viên Chưởng Tả quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Tống Phước Lương coi Tả quân, nhưng khi đánh dẹp bọn thuộc tướng Đông Sơn là Võ Nhàn làm phản, Phước Lương thua trận nên bị bãi chức. Chưa rõ sau đó ai giữ chức này, nhưng khi Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm năm 1784 thì Chưởng Tả quân là Tôn Thất Huy. Qua 1792 Huy chết, đến 1793 Ánh phong hoàng tử Cảnh làm Đông cung, cho Cảnh làm Nguyên soái lãnh dinh Tả quân. Đầu năm 1801 Cảnh mắc bệnh đậu mùa chết, chức Chưởng Tả quân để khuyết một thời gian, trước khi đem quân ra Bắc năm 1802 Nguyễn Ánh đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh, lấy Tả dinh quân Thần sách làm Tả quân, phong Đô Thống chế quản dinh này là Lê Văn Duyệt làm Chưởng Tả quân. Đây là viên Chưởng Tả quân nổi tiếng nhất trong quân đội Nguyễn Ánh đầu thế kỷ XIX.
Tôn Thất Huy là con thứ hai của Tôn Thất Dục, Dục là em cùng mẹ với Nguyễn Phước Luân cha Ánh, tức theo thế thứ Huy là em con chú của Ánh. Sử chép Huy giỏi thao lược, khéo dùng binh, từng theo Ánh bôn ba lưu lạc qua Xiêm, rất được Ánh tin dùng. Năm 1792 chết, được tặng Dực vận Tá mệnh tôn thần đặc tiến Thượng trụ quốc Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự Thái phó quận công, năm 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính Đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong An Tây công.
Lê Văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa Quảng Ngãi, cha là Toại dời tới ở dinh Vĩnh Trấn, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra không có ngọc hoàn, thân thể thấp nhỏ, có tài lực. Năm 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn mà không dựng được cờ đại tướng, chép công danh vào sách sử không phải là trượng phu. Năm 1780 Nguyễn Ánh xưng vương, Duyệt 17 tuổi được tuyển làm Thái giám, đổi bổ làm Thuộc nội Cai đội, theo đánh dẹp từng cùng các tướng bàn việc binh, Ánh thấy là người lạ bèn hỏi “Ngươi cầm quân được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh lại hỏi “Ngươi làm tướng được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh nói “Dùng binh là việc lớn, ngươi sao nói dễ thế?”. Duyệt nói “Tây Sơn vô đạo, không bao lâu sẽ tự diệt vong. Ta lấy nhân thay bạo, thế dễ như chẻ tre, quả thật tôi không thấy có gì là khó”, nhân xin mộ binh lệ thuộc theo Tả quân, Ánh ưng thuận. Năm 1797 thăng làm Vệ úy vệ Điều Vũ, kế đổi làm Chánh thống Tả đồn quân Thần sách, trấn thủ thành Diên Khánh. Năm 1801 Ánh định đánh thủy trại Tây Sơn ở Thi Nại, chọn tướng cầm quân. Tống Viết Phước xin đi, Ánh nghĩ Phước dũng mà vô mưu nên không cho, mật triệu Duyệt về. Kế sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đem thuyền nhỏ đi trước lẻn vào đốt thủy đồn Tây Sơn ở Tam Tòa, Duyệt cùng Vũ Di Nguy đem thuyền lớn xếp hàng một nối theo xông vào. Quân Tây Sơn giữ đồn trên núi bắn xuống, đạn bay như mưa, Di Nguy trúng đạn chết, Duyệt càng đánh hăng. Nguyễn Ánh xót vì tướng sĩ thương vong quá nhiều, sai thuyền tiểu sai tới truyền dụ tạm lui, Duyệt thề tử chiến, nói chỉ tiến chứ không lui, chỉ vào chứ không ra, thúc quân đánh gấp qua được cửa biển thuận gió phóng hỏa đốt hết chiến thuyền Tây Sơn, sử thần triều Nguyễn chép trận này là võ công đệ nhất thời trung hưng. Hôm ấy là ngày 16 tháng giêng âl., quân Nguyễn Ánh đánh từ giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng) đến giờ Dậu (từ 7 đến 9 giờ tối) mới vào được cửa Thi Nại, thương vong rất nhiều. Sau 1802, năm nào đến ngày ấy Duyệt cũng bày lễ cúng tế các tướng sĩ chết trận, đích thân vào tế, khóc lóc rất đau thương.
Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Duyệt làm Khâm sai Chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân cùng Chưởng Hậu quân Lê Chất thống lĩnh bộ binh đi trước, tới đâu quân Tây Sơn tan vỡ tới đó, tiến vào Thăng Long. Từ đó trở đi Duyệt cầm quân ra Bắc vào Nam, liên tiếp phá quân Đá Vách ở Quảng Ngãi, trấn áp Xiêm Lạp, kinh lược Thanh Nghệ, hai lần làm Tổng trấn Gia Định thành, oai vọng lừng lẫy, Xiêm La Diến Điện đều nghe danh, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đầu đời Minh Mạng, cả Minh Mạng cũng phải e dè. Đầu năm 1832 Duyệt nghe tin Bắc Thành đã chia hạt đặt quan thôi không đặt trấn, bèn xin nghỉ việc Gia Định thành để triều đình chia đặt tỉnh hạt theo lệ, Minh Mạng vẫn chưa dám nhận lời, ban chỉ sai Duyệt cứ giữ chức đợi lệnh sau. Cuối năm ấy Duyệt ốm chết, được tặng Thái bảo. Qua 1833 Minh Mạng giải thể Gia Định thành, nhưng vì trước đó Lê Văn Duyệt vuốt mặt không nể mũi thẳng tay chém đầu Phó Tổng trấn Gia Định thành Hoàng Công Lý vốn là cha vợ Minh Mạng, nên Minh Mạng để bụng căm hận sai Bố chánh Phiên An Bạch Xuân Nguyên bới móc những việc sai trái của Duyệt lúc sinh tiền, bắt giam các thuộc hạ thân tín cũ của Duyệt, dẫn tới việc Lê Văn Khôi làm binh biến ở thành Phiên An thời gian 1833 – 1835. Sau khi đàn áp được cuộc binh biến Lê Văn Khôi, Minh Mạng sai đình thần bàn định, kết án Lê Văn Duyệt có bảy tội đáng xử chém, hai tội đáng xử thắt cổ, một tội đáng xử sung quân, nhưng “còn cái xương khô trong mả không thèm gia hình” nên chỉ sai san phẳng nấm mộ, dựng bia đề tám chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Nơi tên hoạn quan chuyên quyền Lê Văn Duyệt chịu tội). Thật ra với tính khí của Minh Mạng thì khó mà độ lượng như vậy, nên đó chỉ là bắt không được tha làm phước, bởi ngôi mộ thật của Lê Văn Duyệt đã được vợ là Đỗ Thị Phẫn dời đi khỏi chỗ từ lâu…
5/ Các viên Chưởng Hữu quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Võ Doãn Triêm coi Hữu quân. Đến 1782 quân Tây Sơn vào đánh, Võ Doãn Triêm bị bắt giải về Quy Nhơn rồi bệnh chết, Nguyễn Ánh lấy Nguyễn Kim Phẩm làm Tổng đốc đạo Hữu quân. Năm 1783 Phẩm bị quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, chưa rõ sau đó người nào coi Hữu quân, nhưng đến 1790 Ánh lấy Chưởng cơ giám quân Trung dinh Nguyễn Huỳnh Đức quản Hữu quân dinh, đến giữa 1793 thăng làm Khâm sai Chưởng Hữu quân dinh, từ đó Nguyễn Huỳnh Đức liên tục giữ chức này đến 1802.
Nguyễn Kim Phẩm người huyện Thượng Nguyên trấn Sơn Nam Hạ. Cha là Tích làm Hiệu úy nhà Lê, lãnh chức Án trấn Sơn Tây. Phẩm có sức khỏe, giỏi võ nghệ, đầu tiên cùng Trần Xuân Trạch và ba người anh là Trân, An, Thắng họp bọn 300 người ngoài biển, sau khi Quang Trung phá quân Thanh năm 1789 thì vượt biển vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, Ánh sai huấn luyện võ nghệ cho quân sĩ các dinh, ra trận nhiều lần lập công, được phong Chưởng cơ Tổng đốc đạo Hữu quân đại tướng quân quận công. Năm 1782 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh chạy xuống giồng Lữ lập đồn chống cự, Đô đốc Tây Sơn là Học đem quân ùa tới, Phẩm đem quân đón đánh chém Học trước trận, Ánh rất khen ngợi, thưởng cho 30 lượng vàng. Qua 1793 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh thua trận chạy ra Phú Quốc, Phẩm cùng anh là Trân vào Hà Tiên thu lương, bị bọn Trần Hưng, Lâm Húc trong quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, đầu đời Gia Long được truy tặng Chưởng dinh quận công.
Nguyễn Huỳnh Đức người Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, nguyên họ Huỳnh, được ban quốc tính nên gọi là họ Nguyễn Huỳnh. Đức trạng mạo hùng dũng, khỏe mạnh hơn người, người ta gọi là hổ tướng. Đầu tiên theo Đỗ Thanh Nhơn, sau Thanh Nhơn bị giết, Đức riêng được Nguyễn Ánh tin dùng. Năm 1782, Tây Sơn vào đánh, trong trận đánh ở sông Ngã Tư quân Nguyễn thua chạy, ngựa Nguyễn Ánh sa xuống bãi lầy, Đức đưa Ánh lên bờ rồi kéo ngựa ra khỏi bãi lầy, ngựa không đi nổi, Đức chạy bộ bên cạnh nắm quyền đánh cho ngựa chạy, quân Tây Sơn đuổi theo không kịp. Có lần trốn tránh Tây Sơn, Ánh nằm trong thuyền mệt quá, gối đầu vào đùi Đức mà ngủ, Đức xua muỗi suốt đêm, không hề chợp mắt. Trong trận đánh ��� giồng Tuyên Tự, Đức cùng 500 thuộc hạ đều bị bắt, Nguyễn Huệ yêu vì khỏe mạnh nên không giết mà thu dùng. Đức muốn trốn về nhưng chưa có cơ hội, có đêm ngủ trong trại quân Tây Sơn nói mơ chửi Huệ, tướng Tây Sơn định giết, nhưng Huệ nói đó là lời ngủ mơ nên không bắt tội, lại hậu đãi để lấy lòng. Năm 1786 Đức theo Nguyễn Huệ ra Thăng Long, khi Huệ trở về lưu Đức lại ở Nghệ An, trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Duệ vốn là tướng của Nguyễn Nhạc nên không thích Huệ, Đức lừa xúi Duệ theo đường thượng đạo về Quy Nhơn theo Nhạc. Duệ theo lời đem 5.000 quân vào Nam, sai Đức đem 500 thuộc hạ đi trước, Đức nhân đó theo Lạc Hoàn vòng qua Vạn Tượng tới Xiêm, lúc hết lương chỉ hái lá cây mà ăn. Các bộ lạc Man nghe tiếng Đức, giúp cho lương khô, năm 1788 Đức tới được Xiêm thì Nguyễn Ánh đã về Gia Định. Vua Xiêm muốn lưu Đức lại, Đức lấy cái chết tự thề, kể lại nỗi gian nan tìm chúa, khí uất bốc lên thổ ra một cục máu, vua Xiêm thấy không ép được rất kính trọng, sau Ánh được tin bèn sai người nói với vua Xiêm cho mượn thuyền đưa Đức về Gia Định.
Năm 1789 Đức về tới vào yết kiến, Nguyễn Ánh khen ngợi yên ủi, phong làm Khâm sai Chưởng cơ giám quân Trung dinh. Năm 1790 đổi làm quản Hữu quân dinh, đến 1793 được phong là Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân dưới quyền Tôn Thất Hội, từ đó đến 1802 nhiều lần cầm quân qua lại giao chiến với Tây Sơn ở Quy Nhơn, Phú Yên. Năm 1794 Đức cùng Nguyễn Văn Thành và 17 người bọn Tôn Thất Thăng dâng biểu xin cắt đứt mối liên hệ giữa Pigneau và Đông cung Cảnh khiến Pigneau rất tức giận. Nhân dịp hai người đem quân ra Phan Rí bị Tư lệ Tây Sơn Lê Trung chống đánh không tiến được phải rút về Bà Rịa năm 1795, Ánh bèn kết tội hèn nhát bắt giam một tháng để xoa dịu Pigneau rồi tha, cho lãnh quân như cũ. Năm 1802 hạ được thành Quy Nhơn, Đức được phong quận công, trấn thủ Quy Nhơn. Năm 1808 được triệu về kinh, sai cùng Lê Chất coi đắp các đường quan lộ từ Quảng Nam tới Phú Yên. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Đức được lấy làm Tổng trấn Bắc Thành, hiệu lệnh nghiêm chỉnh, sĩ phu Bắc Hà đều sợ phục. Năm 1812 được triệu về kinh, đổi làm Khâm sai Chưởng Tiền quân lĩnh thành như cũ. Năm 1816 thay Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1819 chết, được tặng Suy trung Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc Thái phó quận công, ban cho gấm đoạn và tiền, sai quan trấn Định Tường dụ tế. Năm 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kiến Xương quận công. Phần mộ của ông hiện vẫn còn ở Thị xã Long An.
6/ Các viên Chưởng Hậu quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Trương Văn Bác coi Hậu quân. Sử sách không nói sau khi Tây Sơn vào Gia Định năm 1782 thì Trương Văn Bác kết cục ra sao, nhưng khoảng 1787 khi Nguyễn Ánh từ Xiêm trở về Gia Định thì người giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội. Đến 1792 Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, Ánh lấy Tôn Thất Hội thay làm Chưởng Tiền quân, quản Tiên phong dinh Võ Tánh làm Chưởng Hậu quân. Sau khi Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu hạ được thành Bình Định, Võ Tánh tự thiêu năm 1801, Hậu quân của Nguyễn Ánh về cơ bản đã hoàn toàn tan vỡ. Đầu năm 1802, Ánh dồn phần còn sót lại của dinh này làm Thần võ quân giao cho Phạm Văn Nhân quản lãnh, đổi Tả đồn quân Ngự lâm làm Hậu quân, phong Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người nối nhau giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội, Võ Tánh và Lê Chất.
Năm 1799 quân Nguyễn chiếm được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đổi tên là thành Bình Định, sai Võ Tánh cùng Ngô Tòng Châu đóng giữ. Cuối năm ấy tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đem hết quân thủy bộ vào vây, đánh lùi tất cả các cánh quân của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tới cứu viện. Đầu năm 1801 Nguyễn Ánh đem quân đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn dưới quyền Võ Văn Dũng ở Thi Nại, nhưng Dũng lại gom góp tàn quân kéo về giúp Diệu vây Tánh. Lúc bấy giờ Phú Xuân trống rỗng, Ánh dùng nước cờ thí xe bắt tướng, cuối tháng 4 âl. năm ấy không cứu Võ Tánh mà mang quân đánh úp chiếm được Phú Xuân. Cuối tháng 5 âl. thành Bình Định bị vây lâu hết lương, Tánh sai người đem khẩu súng của mình đưa Trần Quang Diệu để “gởi gắm tướng sĩ”, ý là nhắn Diệu đừng giết tướng sĩ của mình rồi phóng hỏa tự thiêu, qua 1802 được tặng Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân Thái úy quốc công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái sư, phong Hoài quốc công.
Lê Chất người Phù Mỹ Quy Nhơn, đầu tiên theo Tây Sơn làm Đô đốc dưới quyền Tư lệ Lê Trung. Trung yêu vì có tài nên gả con gái cho. Chất là người thiện chiến, các tướng của Nguyễn Ánh đánh nhau với Chất thường thua. Năm 1797, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh giữ Diên Khánh, Chất thấy Tây Sơn nội bộ chia lìa thế ắt bại vong, nhiều lần khuyên Trung hàng, Trung dùng dằng không quyết, Chất bèn sai người đưa thư cho Tánh xin làm nội ứng muốn bắt Trung. Tánh tâu lên, Ánh nói Chất là người giảo hoạt, lời xin ấy chưa chắc là thật, sau Trung biết mưu của Chất, trách hỏi tận mặt. Chất vì việc đã lộ, đành bỏ ý ấy. Năm 1798 nổ ra vụ Tiểu triều Nguyễn Bảo, Nguyễn Quang Toản ngờ Trung cũng dự mưu bắt Trung giết đi, sai bắt cả Chất. Chất đem người ở mặt giống mình cho uống thuốc độc, giả làm tự tử, Tây Sơn cũng tưởng Chất đã chết. Chất ngầm đem mẹ và vợ con vào ở trong núi Trà Đồng, sau có người bạn Chất nói với Tổng quản Tây Sơn Lê Văn Thanh rằng Chất có tài làm tướng sao không dùng, Thanh vốn trọng tài Chất, nói “Chất đã chết rồi, còn đâu mà dùng”, người ấy nói “Dùng thì Chất sống, không dùng thì Chất mới chết”, Thanh hỏi kỹ lại, người ấy nói thật rồi đưa Chất tới gặp, Thanh cầm tay dắt vào chỗ ngồi cùng uống rượu, lưu lại dưới trướng cho coi quân.
Năm 1799, quân Nguyễn Ánh đánh thành Quy Nhơn, Chất đem thuộc binh hơn 200 người tới quân Võ Tánh xin hàng, Nguyễn Ánh sai đưa mẹ và vợ con Chất về Gia Định nuôi dưỡng. Cuối năm ấy đặt năm đồn quân Ngự lâm, lấy các hàng tướng hàng binh Tây Sơn sung vào, phong Lê Chất làm Đô thống chế Chánh thống Tả đồn, theo Võ Tánh giữ thành. Sau đó Chất theo quân Nguyễn Ánh đánh ra Quảng Nam rồi Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc, Chất đuổi theo không kịp, các tướng cũ của Ánh nói Quang Toản chạy thoát được là bởi người chứ không phải bởi trời. Về sau khi Chất được phong làm Bình Tây tướng quân quận công thì Đặng Trần Thường cũng mỉa mai “Chất bình Tây thì ai bình Chất, Chất mà quận công thì ta phải mười quận công”. Chất vốn là hàng tướng mới về theo mà quan cao chức trọng nên bị nhiều người ganh ghét, đây là mầm mống của những tai họa sẽ xảy ra với ông về sau.
Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân cùng Lê Văn Duyệt thống lĩnh bộ binh đi trước, thế như chẻ tre, chiếm được Thăng Long. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Gia Long sai Nguyễn Huỳnh Đức thay làm Tổng trấn Bắc Thành, lấy Chất làm Phó Tổng trấn, đến 1813 đặt Cục Bảo Tuyền (đúc tiền) ở Bắc Thành, sai Chất kiêm chức Giám đốc. Năm 1819 Nguyễn Huỳnh Đức chết, Gia Long sai Chất làm Tổng trấn Bắc Thành, Chất dâng sớ từ chối nhưng Gia Long không cho. Đến 1826 Chất bệnh nặng, dâng sớ xin về quê chịu tang mẹ, Minh Mạng ưng thuận, lúc Chất về tới kinh ban thưởng cho rất hậu, kế Chất về tới Bình Định thì chết, được tặng Thiếu phó.
Chất lúc mới hàng Nguyễn Ánh chơi thân với Lê Văn Duyệt, về sau lúc làm Tổng trấn Bắc Thành thì Lê Văn Phong em Duyệt lại là Phó Tổng trấn Bắc Thành, giao tình càng thân thiết, nên sau khi Lê Văn Khôi con nuôi Duyệt làm vụ binh biến thành Phiên An, triều đình Minh Mạng trị tội Duyệt thì Chất cũng bị liên lụy. Theo lời bàn của đình thần, Minh Mạng sai truy thu hết cáo sắc phong tặng, đào mộ Chất phá quan tài chém xác bêu đầu, sung công tài sản, vợ Chất là Lê Thị Sa bị giải về nguyên quán làm nô tỳ, các con trai ngoài Lê Hậu lấy Trưởng công chúa Ngọc Cửu đã chết năm 1830 thì bốn người còn lại là Cận, Thương, Trường, Cơ đều bị xử chém năm 1838, con gái Chất tiến cung sinh ra Quỳ Châu quận công Miên Liêu thì bị giam đến chết đói.
7/ Các viên Chưởng Thần sách quân trong quân Nguyễn Ánh
Đầu năm 1789, Thần sách chỉ là một vệ thuộc dinh Trung quân, gồm bốn đội Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu, đến cuối năm ấy sau khi kén quân chiến tâm thấy đặt thêm hai đội Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu thuộc vệ Thần sách, xem ra lúc đầu là một loại cận vệ có chức năng bảo vệ Nguyễn Ánh, nhưng đến giữa 1790 sau khi sai Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân và Chưởng Tiên phong dinh Võ Tánh ra đánh Bình Thuận thì thấy hai đội Ban trực Tả Hữu do Phạm Văn Nhân và Tôn Thất Huyên được điều ra đóng giữ Bà Rịa, tức đã trở thành một loại thân quân do Nguyễn Ánh trực tiếp điều động. Theo thời gian, các đội thuộc vệ Thần sách cũng tăng lên, có đủ Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Đến cuối 1793 vệ Thần sách được đổi làm quân Thần sách, đổi đội làm vệ, đặt thêm vệ Hùng uy, nhưng chỉ thấy có các viên Vệ úy như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đức Xuyên chứ chưa thấy đặt chức Giám quân. Đến đầu 1798 mới bắt đầu đặt năm đồn quân Thần sách. Mỗi đồn đặt một Chánh thống và một Phó thống, Chánh thống thống quản bốn vệ, Phó thống quản vệ mình và kiêm ba vệ khác, theo Chánh thống sai khiến. Lấy Khâm sai Thuộc nội Cai cơ hành Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân làm Chưởng cơ giám quân Thần sách, quản tướng sĩ năm đồn kiêm Tri Tượng chính Mã chính và các đội Bả cái, Tiểu hầu. Đây là viên Chưởng Thần sách quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.
Phạm Văn Nhân tổ tiên là người Quý huyện Thanh Hoa theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Đời Thế tông Phước Hoạt đầu quân, làm quan tới chức Thuộc nội Cai đội. Năm 1774 quân Trịnh vào đánh, Nhân ra trận bị trúng đạn vào chân, không theo Duệ tông Phước Thuần được, đến 1778 mới lẻn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, được phong Phó Vệ úy vệ Đằng giao. Đến 1783 Ánh thua trận chạy qua Xiêm, giao con là hoàng tử Cảnh cho Pigneau de Béhaine đưa qua Pháp cầu viện, Nhân cũng đi theo nhưng chỉ tới Pondichéry thì ở lại, sau đó trở về Bangkok. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, Nhân nhiều lần lập công, năm 1793 được thăng Phó tướng Tả quân, năm 1795 lúc Ánh ra giải vây Diên Khánh được giao giúp đỡ Đông cung Cảnh giữ Gia Định. Đến 1798 được phong làm Khâm sai Chưởng cơ Giám quân Thần sách quân, đến tháng 3 âl. năm Nhâm tuất 1802 đem quân hạ thành Bình Định, đánh bại tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, được thăng làm Khâm sai Chưởng Thần võ quân (Hậu quân cũ) kiêm giám Thần sách quân, quận công. Năm 1811 đổi Thần võ quân làm Hữu quân, Nhân được phong làm Khâm sai Chưởng Hữu quân vẫn coi quân Thần sách. Năm 1815 Nhân ốm chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái phó quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Tiên Hưng quận công.
8/ Các viên Chưởng Chấn võ quân trong quân Nguyễn Ánh
Năm 1801 Nguyên soái lãnh dinh Tả quân Cảnh quận công tức Đông cung Cảnh chết, qua 1802 Gia Long chuẩn bị tiến quân ra Bắc, đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh. Đây là viên Chưởng Chấn võ quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.
Nguyễn Văn Nhơn người Vĩnh An (An Giang), năm 1774 quân Tây Sơn lấn tới Xích Lam (Trấn Biên), Lưu thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp mộ quân cần vương, năm ấy Nhơn 21 tuổi ra ứng mộ, được phong làm Đội trưởng, theo Hiệp ra Phú Yên, sau theo Cai cơ Tống Phước Hòa giữ Ô Cam, năm 1776 theo Hòa vào Gia Định cứu viện cho Duệ tông Phước Thuần, được phong chức Cai đội. Năm 1777 Hòa bị Tây Sơn bao vây tự tử chết ở Ba Vát, Nhơn trốn thoát, cuối năm ấy lại theo Dương Công Trừng dấy quân chống Tây Sơn ở Sa Đéc, qua 1778 được thăng Cai cơ giữ đạo Cường Thành. Đến 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, Nhơn theo Dương Công Trừng về đóng ở Thủ Thiêm, sau đó Tây Sơn vào đánh, Nhơn bị bắt, được Tây Sơn phong là Hữu Toán quân, đến 1785 trốn qua Xiêm theo Nguyễn Ánh. Năm 1787 Ánh từ Xiêm về lại Gia Định, Nhơn theo Tôn Thất Huy đánh trận, được thăng làm Khâm sai Thuộc nội Cai cơ vệ Thần sách theo Tôn Thất Hội sai phái. Qua 1788 Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, Nhơn được thăng Vệ úy, sau thăng làm Hiệu úy quản Hữu chi dinh Trung quân, Lưu thủ Trấn Biên, lúc ấy mới đón thầy dạy học, đến 1792 đổi làm Phó quản dinh Trung thủy Trung quân. Từ 1793 Nhơn nhiều lần theo quân Nguyễn Ánh ra miền Trung, qua lại đánh nhau với Tây Sơn ở Quảng Ngãi, Phú Yên, Diên Khánh. Năm 1799 Nguyễn Ánh đem quân ra Quy Nhơn, thăng Nhơn làm Chưởng cơ, sai giúp hoàng tử Hy ở lại giữ Gia Định, vỗ về quân dân, khuyến khích sản xuất, vận tải quân lương có nhiều công lao, qua 1802 được thăng Chưởng Chấn võ quân, quận công. Năm 1805 theo lệnh triệu về kinh, năm 1808 thay Nguyễn Văn Trương giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, đến 1812 theo lệnh triệu về kinh. Năm 1816 được điều bổ Chưởng Hữu quân thay Phạm Văn Nhân ốm chết rồi kiêm thự Trung quân ấn vụ thay Nguyễn Văn Thành bị giải chức, qua 1819 lại lãnh Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1821 sung Tổng tài Sử quán, qua 1822 chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái bảo quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kinh Môn quận công.
9/ Các viên Chưởng Tượng quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau 1788, quân đội của Nguyễn Ánh ở Gia Định tổ chức thành nhiều quân đoàn lớn mang tính chất hỗn hợp về binh chủng gồm bộ binh, thủy binh, pháo binh…, song vùng Nam Bộ ít voi nên căn bản không có tượng quân như Tây Sơn. Nhưng qua nhiều năm đánh nhau ở miền Trung, quân Gia Định buộc phải có sự thích ứng với Tây Sơn về kỹ thuật cũng như chiến thuật, điều này dẫn tới việc thành lập lực lượng tượng quân như một binh chủng trong quân Nguyễn Ánh. Năm 1789, thấy Nguyễn Ánh sai Cai cơ Tri Tượng chính Trương Văn Giao kiêm quản Trường đà, năm 1795 lại sai quản Tiểu sai đội Tri Tượng chính Trương Phước Luật kiêm quản ba vệ Ban trực tả, Ban trực hữu, Tuyển phong tiền quân Thần sách đem binh thuyền đi trước ra Bình Thuận đánh giặc. Tuy nhiên chức Tri Tượng chính này chỉ là quản lý về voi như một phương tiện đi lại của Nguyễn Ánh và một số tướng lãnh cao cấp, chứ chưa phải là người đứng đầu một binh chủng riêng. Đến cuối 1792 thấy sai Khâm sai Đốc chiến Cai cơ Vũ Công Bảo, Khâm sai Cai cơ Đoàn Văn Trí dinh Tả quân đem quân đi bắt voi ở Đồng Nai, Bà Rịa và Hỗn Thủy để nộp, có lẽ vào thời điểm này Nguyễn Ánh đã bắt đầu có ý định xây dựng Tượng quân.
Đầu năm 1795, Nguyễn Ánh đặt năm Tượng cơ Trung Tả Tiền Hữu Hậu, chính thức thành lập binh chủng tượng quân của quân đội Gia Định. Kế Xiêm sai sứ qua hiến 20 thớt voi đực, giữa năm ấy lại sai sứ qua hiến voi đực, Chân Lạp cũng hiến 2 thớt voi đực. Lại sai Chưởng cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào và Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn theo ngạch cũ lập cơ An tượng 20 người, sai bắt voi hiến nộp, qua 1796 hai người hiến 20 thớt voi. Sau đó lại sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi Phnom Penh và Bắc Tầm Bôn chọn mua voi đực. Đến 1799 trong tang lễ của Pigneau, chính quyền Gia Định đã huy động 120 voi bên cạnh 12.000 quân hộ tống, số lượng voi chiến xem ra đã rất khả quan. Cuối 1799 bổ ba vệ Hùng võ, Hùng uy, Phấn uy quân Thần sách làm Tượng đồn, do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Đầu 1800 lại biên các tướng sĩ mới hàng của năm tượng cơ dinh Quảng Nam làm năm Tượng chi Trung Tả Tiền Hữu Hậu, đều do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Binh chủng này được thành lập muộn, về cơ bản lại chỉ là một đồn đặc biệt trong quân Thần sách nên viên Chưởng Tượng quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước 1802 là Nguyễn Đức Xuyên.
Nguyễn Đức Xuyên người Phú Vang phủ Thừa Thiên, cha là Quảng dời vào ở Gia Định, làm quan tới chức Cai cơ, anh là Thái làm quan tới chức Khâm sai Cai cơ. Xuyên là người trí dũng, đầu tiên làm Đội trưởng quân Nội hầu. Sau trận Rạch Gầm năm 1784 Nguyễn Ánh chạy xuống Hà Tiên, Xuyên theo hầu. Ánh qua một ngày một đêm chưa được ăn, Xuyên vào nhà dân xin cơm, người dân hỏi Xuyên người đi cáng phía trước là vua cũ phải không? Xuyên nói dối rằng “Không phải”, người dân nói “Tôi nhìn trộm rồi, không giấu được đâu, thôi đi ra đi, lúc nào cơm chín tôi sẽ đem dâng”. Xuyên trở ra, người ấy lập tức bọc cơm đem dâng. Ánh sai hỏi họ tên người ấy, Xuyên đã lả đi không nói được. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, thăng Xuyên làm Thuộc nội Cai đội. Năm 1796, giặc Đồ Bà đóng ở biển Hà Tiên cướp bóc, làm trở ngại đường biển. Gặp khi sứ Xiêm về nước, Nguyễn Ánh sai Xuyên đem hơn mười chiến thuyền đưa ra khỏi địa phận. Xuyên tới Phú Quốc dò biết chỗ thuyền giặc đậu bèn chia quân làm ba đường tới đánh tan. Chợt gặp tướng Xiêm đang đem thủy quân đi bắt giặc, tới thì giặc đã tan, bèn đón sứ bộ về. Từ đấy giặc Đồ Bà trốn xa, người Xiêm cũng sợ tiếng Xuyên. Năm 1799 được sai kiêm quản năm Tượng cơ, theo Ánh ra đánh Quy Nhơn, trong trận Tháp Cát trúng đạn bị thương ở trán lại bọc vết thương lại đánh, phá tan quân Tây Sơn, bắt được hơn 20 thớt voi trận. Năm 1800 Xuyên được thăng Tri Tượng chính Đô Thống chế quân Thần sách, đem quân theo Nguyễn Ánh ra cứu Bình Định. Mùa đông năm ấy được cai quản mười Tượng cơ. Năm 1802 theo Nguyễn Ánh ra Bắc, tới Thanh Hoa được sai ở lại làm Đốc trấn, ban tước quận công. Năm 1803 lại giữ chức Chưởng Tượng chính kiêm việc Tào vận. Năm 1808 được phong là Khâm sai Chưởng Tượng quân vẫn lãnh Tượng chính Cai Tào vụ. Năm 1819 Xuyên tâu nói trong nước tuy yên nhưng không nên bỏ việc đánh trận, xin sai các thành dinh trấn hàng năm cứ tháng giêng tháng bảy diễn tập trận voi ba ngày, Gia Long theo lời.
Xuyên tính hào phóng, chi phí rất rộng, lập ra ban tuồng có bộ nam bộ nữ, vợ lẽ nàng hầu xen lẫn ở trong nữ bộ, có lần kẹt tiền vào tâu với Minh Mạng xin tạm ứng lương bổng năm sau. Minh Mạng ban cho 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo, dụ rằng “Nếu không đủ thì cứ lại vào tâu với trẫm, nhà nước đối với ngươi không tiếc gì đâu”, bấy nhiêu đủ cho thấy triều Nguyễn ưu ái viên Chưởng Tượng quân này tới mức nào. Năm 1824 Xuyên bệnh, Minh Mạng sai trung sứ tới thăm hỏi mỗi ngày vài lần, đến mùa đông thì chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tả trụ quốc Thái phó, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Khoái Châu quận công.
Hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802
Với việc chiếm lại được Gia Định lần cuối năm 1788, chính quyền Nguyễn Ánh dần dần trở thành hạt nhân quy tụ các lực lượng chống Tây Sơn trên toàn quốc, trong khi sau cái chết của Quang Trung năm 1792 thì chính quyền Tây Sơn ngày càng suy yếu.
1/ Các viên Chưởng Tiền phong dinh trong quân Nguyễn Ánh
Trước 1788 không thấy trong quân Nguyễn Ánh có dinh Tiên phong, nhưng giữa 1788, khi Ánh từ Xiêm về Gia Định, Võ Tánh đem quân Kiến Hòa về theo thì được Ánh phong làm Khâm sai Tổng nhung Chưởng cơ dinh Tiên phong, rõ ràng dinh Tiên phong đã hình thành trên cơ sở quân bản bộ của Võ Tánh. Năm 1790 Tánh bị giáng làm Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, nhưng vẫn quản dinh Tiên phong. Năm 1791 Nguyễn Ánh lấy Chưởng Hậu quân dinh Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân dinh, Cai cơ Tiên phong dinh Võ Tánh quản Hậu quân dinh, Hiệu úy Tiền chi Trung quân dinh Nguyễn Văn Thành quản Tiên phong dinh. Đến 1793, phong Chưởng Tiền quân dinh Tôn Thất Hội làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân, quản Hậu quân dinh Võ Tánh làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây Tham thặng tướng quân, quản Hữu quân dinh Nguyễn Huỳnh Đức làm Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân… Cuối 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân, lấy Phó tướng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh quản Tiên phong dinh. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tánh lần lượt giữ chức Chưởng Tiên phong dinh.
Nguyễn Văn Tánh người Long Thành Biên Hòa, lúc đầu theo Châu Văn Tiếp làm quan tới chức Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, theo Tiếp sang Bangkok. Khi Tánh về Tiếp đã chết, Ánh cho theo Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân, năm 1788 giữ đạo Đồng Môn, đến 1793 làm Lưu thủ Bình Thuận. Năm 1795 theo Nguyễn Ánh giải vây thành Diên Khánh, được thăng Phó tướng Tiên phong dinh, đến 1798 được thăng quản Tiên phong dinh. Năm 1803 được thăng làm Khâm sai Chưởng Tiên phong dinh, Án trấn thành Diên Khánh, thống quản các dinh Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, năm 1805 chết ở nơi làm quan.
Tánh là người can đảm nơi trận mạc nhưng nhút nhát trong triều đình, năm 1800 đóng quân ở Phú Yên giữ nhau với quân Tây Sơn, mắc bệnh thổ huyết không coi quân được, Nguyễn Văn Thành phải dâng biểu xin lấy Tôn Thọ Vinh (ông nội Tôn Thọ Tường) tạm lãnh quân để Tánh dưỡng bệnh. Gặp lúc Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa quân Chân Lạp từ Gia Định tới, ghé Phú Yên thăm Tánh rồi tới nói với Nguyễn Ánh là thấy Tánh đi đứng bình thường, không có vẻ gì là ốm nặng, nói thổ huyết có khi là dối, chỉ là uống tiết vịt thôi. Tánh nghe tin sợ lắm, vội gởi thư cho Lại bộ Nguyễn Bảo Trí nhờ biện bạch giúp, đến khi khỏi bệnh tới yết kiến Nguyễn Ánh vẫn còn sợ sệt, Ánh phải an ủi mãi mới yên tâm, xem ra con người này không phải kẻ tâm cơ sâu sắc đủ để đứng trong chính trường, mà chỉ có thể cúc cung tận tụy làm tròn chức phận võ thần thời loạn mà thôi.
2/ Các viên Chưởng Tiền quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Lê Văn Quân làm Chưởng Tiền quân. Đến 1792 Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, lấy Chưởng Hậu quân Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân. Cuối năm 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Chưởng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành lần lượt giữ chức Chưởng Tiền quân, trong đó Nguyễn Văn Thành là người nổi tiếng nhất.
Lê Văn Quân người Kiến Hưng Định Tường, dũng cảm đánh giỏi, buổi đầu theo Châu Văn Tiếp, được Tiếp gả em gái là Chu Muội nương cho, sau theo Đỗ Thanh Nhơn vào Gia Định, năm 1782 được phong làm Chưởng Tiền quân, nhiều lần lập công. Lúc theo Nguyễn Ánh qua Bangkok, từng được Ánh sai giúp vua Xiêm đánh quân Diến Điện, Đồ Bà đều thắng, người Xiêm rất phục. Năm 1787 theo Ánh về Gia Định, năm 1788 Ánh chiếm được Sài Gòn, phong Quân làm Bình Tây Đô đốc coi dinh Tiền quân, tước quận công. Nhưng Quân là người bất học vô thuật, trong khoảng vua tôi có khi thiếu lễ, lại thấy Võ Tánh mới về theo Ánh mà chức tước ngang mình, có ý ganh ghét, nhiều lần cãi cọ tới mức suýt ẩu đả với nhau, nên Ánh cũng không ưa. Năm 1789 Quân đem Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành đánh ra Nam Trung Bộ, chiếm được Bình Thuận, kế Quân bị Tây Sơn đánh bại ở Phan Rang, nhờ Nguyễn Văn Thành ra cứu mới rút về được Bà Rịa, từ đó xấu hổ xưng bệnh, Ánh gọi mấy lần, đến 1791 mới chịu về Sài Gòn. Ánh giao cho đình thần nghị xử, đều nói “Tội Quân nên giết”. Ánh không nỡ giết, chỉ cách hết quan chức, cũng có ý sẽ lại bổ dụng, nhưng Quân hổ thẹn uống thuốc độc tự tử. Ánh được tin tới tận nhà khóc lóc, đánh vào quan tài 100 roi, cấp cho 8 người phu giữ mộ, cho con Quân là Chính được miễn dao dịch trọn đời. Vợ Quân là em gái Châu Văn Tiếp sinh được một con gái bên Xiêm, nhân đặt tên là Xiêm. Sau Xiêm lấy chồng sinh ra được Nguyễn Văn Hóa, năm Tự Đức thứ 5 (1852) Hóa được ban hàm Tòng cửu phẩm Bá hộ để trông coi đền thờ Châu Văn Tiếp.
Tôn Thất Hội theo Đại Nam Chính biên Liệt truyện là con thứ ba của Cai đội Tôn Thất Thắng, trước 1787 thấy làm Chưởng cơ, theo Nguyễn Ánh bôn ba lưu lạc khắp nơi, có lẽ lúc Ánh từ Xiêm về Gia Định năm 1787 mới được phong làm Chưởng Hậu quân, đến 1792 đổi làm Chưởng Tiền quân, năm 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh, quận công, cầm quân ra đánh Tây Sơn ở miền Trung nhiều lần lập công. Năm 1797 Nguyễn Ánh cầm quân ra Quy Nhơn, để Hội ở lại giữ Gia Định, đến cuối 1798 Hội bệnh chết, được tặng Nguyên phụ công thần Đặc tiến Thượng trụ quốc Chưởng dinh, đến 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong Lạng Giang quận công. Hội tính nghiêm trang trì trọng, kính cẩn giữ lễ, lúc triều nghị thường ăn mặc như nhà nho, các tướng đều kính mà sợ. Nguyễn Ánh có lần cùng Lê Văn Duyệt bàn luận chỗ hay kém của các tướng, Duyệt nói Tống Viết Phước dũng mà ít mưu, Nguyễn Văn Thành mưu mà ít dũng, chỉ có Tôn Thất Hội trí dũng kiêm toàn, quả là bậc danh tướng.
Nguyễn Văn Thành tổ tiên người Quảng Điền Thừa Thiên, đời tằng tổ là Toán dời vào Gia Định, đến đời ông nội là Tính dời ra Phú Yên, đến đời cha là Hiền lại dời vào Gia Định. Hiền theo Tống Phước Hiệp làm quan tới chức Cai đội, đánh nhau với Tây Sơn chết trận. Thành thích đọc sách, giỏi võ nghệ, từ nhỏ theo cha đánh trận đã nhiều lần lập công, năm 1789 được Nguyễn Ánh phong làm Trung quân Tiền chi Tổng nhung Cai cơ, năm 1792 được thăng làm quản Tiên phong dinh, qua 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân, năm 1798 đổi làm Chưởng Tiền quân, đến 1801 được phong làm Khâm sai Chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh. Sau khi diệt nhà Tây Sơn, năm 1802 Gia Long sai Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, coi hết việc quân dân ở 11 trấn miền Bắc, thăng giáng quan lại, xử quyết hình án đều cho tùy nghi làm việc, đến 1811 được đổi làm Chưởng Trung quân thay Nguyễn Văn Trương ốm chết, vào tướng văn ra tướng võ, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đời Gia Long. Nhưng Thành cậy công ngạo nghễ, lại tâu xin lập hoàng tôn Đán (con Đông cung Cảnh) nối ngôi khiến Gia Long ngờ sợ là lập vua nhỏ để ngày sau dễ chuyên quyền nên bị cô lập trong triều đình, sau cùng vì vụ án bài thơ phản của con là Nguyễn Văn Thuyên nên đến 1816 bị cách hết chức tước, qua 1817 bị bắt giam để thẩm vấn, phẫn uất uống thuốc độc tự tử.
Thành là bậc nho tướng, dùng người hiền tài, lo việc tài chính, giao thiệp ngoại bang, biên soạn hình luật không gì không làm được, giỏi văn chương, chơi thân với Ngô Nhơn Tịnh, có thơ tặng đáp với Lê Quang Định, nhưng thơ văn phần nhiều không thấy hành thế, nay chỉ còn vài tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là bài Văn tế tướng sĩ Tiền quân viết bằng chữ Nôm.
3/ Các viên Chưởng Trung quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Tôn Thất Dụ làm Chưởng Trung quân, tiết chế chư đạo bộ binh. Năm 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, thăng Dụ làm Khâm sai Ngoại hữu Chưởng dinh lãnh Đại Tư nông, qua 1783 Dụ chết. Không rõ sau đó ai giữ chức Chưởng Trung quân, nhưng đến 1789 Ánh giao Nguyễn Huỳnh Đức làm Giám quân Trung dinh, đến 1790 thì đổi Đức qua quản Hữu quân dinh, giao cho Nguyễn Văn Trương giữ chức ấy. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Tôn Thất Dụ, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương lần lượt giữ chức Chưởng Trung quân, trong đó Nguyễn Văn Trương là người nổi tiếng nhất.
Nguyễn Văn Trương người Lễ Dương tỉnh Quảng Nam, sau dời vào Gia Định. Lúc nhỏ nhà nghèo, phải chăn trâu cho người ta, từng cùng bọn trẻ chăn trâu chơi đùa chia đội bày trận, tự xưng là đại tướng, ra hiệu lệnh chỉ huy bọn trẻ đánh nhau làm vui. Sau khi Tây Sơn vào Gia Định, Trương theo Tây Sơn làm quan tới chức Chưởng cơ giữ đạo Long Xuyên. Năm 1787 Nguyễn Ánh từ Xiêm về, Trương đón ở Long Xuyên xin hàng, Ánh mừng lắm, phong làm Khâm sai Chưởng cơ, quản đạo tiên phong Thủy dinh Trung quân. Từ đó đến 1789 Trương liên tiếp phá quân Tây Sơn ở Trà Ôn, Mỹ Lồng, Nước Xoáy, giúp Ánh tiến chiếm Sài Gòn, kế cùng Lê Văn Quân đánh ép bức Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Sâm chạy tới sông Cổ Cò, Hàm Luông, rồi cùng Tôn Thất Hội, Võ Tánh hội quân vây Sâm ở cù lao Hổ, Sâm phải đầu hàng. Năm 1790 được thăng làm Giám quân Trung dinh. Năm 1792 Nguyễn Ánh thử thuyền Tây dương, đóng ở Cần Giờ, Trương theo hộ giá, nhân lúc gió thuận tiến ra Thi Nại, lợi dụng lúc Tây Sơn không đề phòng, Trương đốc thúc Long thuyền, Nguyễn Văn Thành đốc thúc Phượng thuyền đi trước xông vào, các quân kế tiếp tiến tới, đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn, cướp được chiến thuyền rồi rút về, từ lúc ra quân đến lúc khải hoàn chưa đầy nửa tháng, đương thời có người xưng tụng là thần binh.
Trương giỏi thủy chiến, tới đâu là thủy quân Tây Sơn chạy tới đó, thường nói với nhau “Bộ chiến thì Tiên phong (Nguyễn Văn Thành) chậm, thủy chiến thì Trung quân (Nguyễn Văn Trương) hăng”, ý nói Thành mưu trí nhưng chậm, Trương hăng hái mà nhanh. Từ 1790 trở đi Trương tham dự tất cả các chiến dịch lớn của quân Nguyễn Ánh như trận Thi Nại 1792, trận Quy Nhơn 1797, trận Quy Nhơn 1799, trận Thi Nại 1801, trong trận Phú Xuân 1801 hộ giá Nguyễn Ánh vào cửa biển Tư Dung phá tan thủy đồn của quân Tây Sơn rồi theo sông Hương tiến vào chiếm Phú Xuân, được phong làm Khâm sai Chưởng Trung quân Bình Tây đại tướng quân quận công. Trong trận Trấn Ninh đầu năm 1802, Trương đánh tan thủy quân Tây Sơn ngoài biển rồi đổ bộ đánh tập hậu Đô đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân đang vây Nguyễn Ánh trên núi Đâu Mâu, khiến Bùi Thị Xuân sắp bắt được Ánh mà phải rút lui. Tháng 6 âl. năm ấy Nguyễn Ánh đánh ra Bắc, Trương đem thủy quân đi trước, phá tan thủy quân Tây Sơn ở cửa Ròn (Nghệ An), chiếm dinh Hà Trung, tiến vào cửa Hội Thống (Nam Định), đánh thẳng tới Sơn Nam Hạ. Năm 1802 quyền giữ ấn Tổng trấn Bắc Thành thay Nguyễn Văn Thành đi kinh lược các trấn, năm 1804 cùng Lê Chất coi việc xây thành Phú Xuân, đến 1805 vào Nam làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1808 theo lệnh Gia Long triệu về Phú Xuân, đến 1810 ốm chết, Gia Long rất thương tiếc, tặng Thái bảo quận công. Năm 1817 làm danh sách công thần Vọng Các, Gia Long nói với Phạm Đăng Hưng tuy Trương không tòng vong qua Xiêm nhưng có công lớn, nên cũng cho dự vào danh sách công thần Vọng Các. Năm 1831 truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo, phong Đoan Hùng quận công.
Trong các đại tướng của Nguyễn Ánh, chỉ có Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt là hai người cầm quân không thua trận nào. Nhưng Duyệt ra trận dũng mãnh, nhiều lần phải liều chết mà thắng, còn Trương tới đâu quân Tây Sơn cũng thường nghe tiếng là rút chạy, ít phải giết người mà cũng không hao binh tổn tướng. Có lần Nguyễn Ánh bình phẩm về các đại tướng dưới quyền, nói “Dũng tướng không bằng trí tướng, trí tướng không bằng phúc tướng”, dũng tướng là chỉ Lê Văn Duyệt, phúc tướng là chỉ Nguyễn Văn Trương. Sử thần triều Nguyễn cũng chép Trương tính nhân hậu, không muốn giết người, lúc còn làm tướng Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn Ánh, tàn quân Nguyễn Ánh lội qua sông chạy, quân Tây Sơn xúm lại đâm, Trương ngăn lại nói “Nhân lúc người ta gặp nguy mà đâm, không phải là dũng”. Trương lại cẩn thận giữ phép, không cậy công khoe tài, nên tuy xuất thân là hàng tướng mà trước sau được Gia Long tin cậy, ít người sánh bằng.
4/ Các viên Chưởng Tả quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Tống Phước Lương coi Tả quân, nhưng khi đánh dẹp bọn thuộc tướng Đông Sơn là Võ Nhàn làm phản, Phước Lương thua trận nên bị bãi chức. Chưa rõ sau đó ai giữ chức này, nhưng khi Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm năm 1784 thì Chưởng Tả quân là Tôn Thất Huy. Qua 1792 Huy chết, đến 1793 Ánh phong hoàng tử Cảnh làm Đông cung, cho Cảnh làm Nguyên soái lãnh dinh Tả quân. Đầu năm 1801 Cảnh mắc bệnh đậu mùa chết, chức Chưởng Tả quân để khuyết một thời gian, trước khi đem quân ra Bắc năm 1802 Nguyễn Ánh đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh, lấy Tả dinh quân Thần sách làm Tả quân, phong Đô Thống chế quản dinh này là Lê Văn Duyệt làm Chưởng Tả quân. Đây là viên Chưởng Tả quân nổi tiếng nhất trong quân đội Nguyễn Ánh đầu thế kỷ XIX.
Tôn Thất Huy là con thứ hai của Tôn Thất Dục, Dục là em cùng mẹ với Nguyễn Phước Luân cha Ánh, tức theo thế thứ Huy là em con chú của Ánh. Sử chép Huy giỏi thao lược, khéo dùng binh, từng theo Ánh bôn ba lưu lạc qua Xiêm, rất được Ánh tin dùng. Năm 1792 chết, được tặng Dực vận Tá mệnh tôn thần đặc tiến Thượng trụ quốc Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự Thái phó quận công, năm 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính Đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong An Tây công.
Lê Văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa Quảng Ngãi, cha là Toại dời tới ở dinh Vĩnh Trấn, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra không có ngọc hoàn, thân thể thấp nhỏ, có tài lực. Năm 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn mà không dựng được cờ đại tướng, chép công danh vào sách sử không phải là trượng phu. Năm 1780 Nguyễn Ánh xưng vương, Duyệt 17 tuổi được tuyển làm Thái giám, đổi bổ làm Thuộc nội Cai đội, theo đánh dẹp từng cùng các tướng bàn việc binh, Ánh thấy là người lạ bèn hỏi “Ngươi cầm quân được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh lại hỏi “Ngươi làm tướng được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh nói “Dùng binh là việc lớn, ngươi sao nói dễ thế?”. Duyệt nói “Tây Sơn vô đạo, không bao lâu sẽ tự diệt vong. Ta lấy nhân thay bạo, thế dễ như chẻ tre, quả thật tôi không thấy có gì là khó”, nhân xin mộ binh lệ thuộc theo Tả quân, Ánh ưng thuận. Năm 1797 thăng làm Vệ úy vệ Điều Vũ, kế đổi làm Chánh thống Tả đồn quân Thần sách, trấn thủ thành Diên Khánh. Năm 1801 Ánh định đánh thủy trại Tây Sơn ở Thi Nại, chọn tướng cầm quân. Tống Viết Phước xin đi, Ánh nghĩ Phước dũng mà vô mưu nên không cho, mật triệu Duyệt về. Kế sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đem thuyền nhỏ đi trước lẻn vào đốt thủy đồn Tây Sơn ở Tam Tòa, Duyệt cùng Vũ Di Nguy đem thuyền lớn xếp hàng một nối theo xông vào. Quân Tây Sơn giữ đồn trên núi bắn xuống, đạn bay như mưa, Di Nguy trúng đạn chết, Duyệt càng đánh hăng. Nguyễn Ánh xót vì tướng sĩ thương vong quá nhiều, sai thuyền tiểu sai tới truyền dụ tạm lui, Duyệt thề tử chiến, nói chỉ tiến chứ không lui, chỉ vào chứ không ra, thúc quân đánh gấp qua được cửa biển thuận gió phóng hỏa đốt hết chiến thuyền Tây Sơn, sử thần triều Nguyễn chép trận này là võ công đệ nhất thời trung hưng. Hôm ấy là ngày 16 tháng giêng âl., quân Nguyễn Ánh đánh từ giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng) đến giờ Dậu (từ 7 đến 9 giờ tối) mới vào được cửa Thi Nại, thương vong rất nhiều. Sau 1802, năm nào đến ngày ấy Duyệt cũng bày lễ cúng tế các tướng sĩ chết trận, đích thân vào tế, khóc lóc rất đau thương.
Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Duyệt làm Khâm sai Chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân cùng Chưởng Hậu quân Lê Chất thống lĩnh bộ binh đi trước, tới đâu quân Tây Sơn tan vỡ tới đó, tiến vào Thăng Long. Từ đó trở đi Duyệt cầm quân ra Bắc vào Nam, liên tiếp phá quân Đá Vách ở Quảng Ngãi, trấn áp Xiêm Lạp, kinh lược Thanh Nghệ, hai lần làm Tổng trấn Gia Định thành, oai vọng lừng lẫy, Xiêm La Diến Điện đều nghe danh, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đầu đời Minh Mạng, cả Minh Mạng cũng phải e dè. Đầu năm 1832 Duyệt nghe tin Bắc Thành đã chia hạt đặt quan thôi không đặt trấn, bèn xin nghỉ việc Gia Định thành để triều đình chia đặt tỉnh hạt theo lệ, Minh Mạng vẫn chưa dám nhận lời, ban chỉ sai Duyệt cứ giữ chức đợi lệnh sau. Cuối năm ấy Duyệt ốm chết, được tặng Thái bảo. Qua 1833 Minh Mạng giải thể Gia Định thành, nhưng vì trước đó Lê Văn Duyệt vuốt mặt không nể mũi thẳng tay chém đầu Phó Tổng trấn Gia Định thành Hoàng Công Lý vốn là cha vợ Minh Mạng, nên Minh Mạng để bụng căm hận sai Bố chánh Phiên An Bạch Xuân Nguyên bới móc những việc sai trái của Duyệt lúc sinh tiền, bắt giam các thuộc hạ thân tín cũ của Duyệt, dẫn tới việc Lê Văn Khôi làm binh biến ở thành Phiên An thời gian 1833 – 1835. Sau khi đàn áp được cuộc binh biến Lê Văn Khôi, Minh Mạng sai đình thần bàn định, kết án Lê Văn Duyệt có bảy tội đáng xử chém, hai tội đáng xử thắt cổ, một tội đáng xử sung quân, nhưng “còn cái xương khô trong mả không thèm gia hình” nên chỉ sai san phẳng nấm mộ, dựng bia đề tám chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Nơi tên hoạn quan chuyên quyền Lê Văn Duyệt chịu tội). Thật ra với tính khí của Minh Mạng thì khó mà độ lượng như vậy, nên đó chỉ là bắt không được tha làm phước, bởi ngôi mộ thật của Lê Văn Duyệt đã được vợ là Đỗ Thị Phẫn dời đi khỏi chỗ từ lâu…
5/ Các viên Chưởng Hữu quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Võ Doãn Triêm coi Hữu quân. Đến 1782 quân Tây Sơn vào đánh, Võ Doãn Triêm bị bắt giải về Quy Nhơn rồi bệnh chết, Nguyễn Ánh lấy Nguyễn Kim Phẩm làm Tổng đốc đạo Hữu quân. Năm 1783 Phẩm bị quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, chưa rõ sau đó người nào coi Hữu quân, nhưng đến 1790 Ánh lấy Chưởng cơ giám quân Trung dinh Nguyễn Huỳnh Đức quản Hữu quân dinh, đến giữa 1793 thăng làm Khâm sai Chưởng Hữu quân dinh, từ đó Nguyễn Huỳnh Đức liên tục giữ chức này đến 1802.
Nguyễn Kim Phẩm người huyện Thượng Nguyên trấn Sơn Nam Hạ. Cha là Tích làm Hiệu úy nhà Lê, lãnh chức Án trấn Sơn Tây. Phẩm có sức khỏe, giỏi võ nghệ, đầu tiên cùng Trần Xuân Trạch và ba người anh là Trân, An, Thắng họp bọn 300 người ngoài biển, sau khi Quang Trung phá quân Thanh năm 1789 thì vượt biển vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, Ánh sai huấn luyện võ nghệ cho quân sĩ các dinh, ra trận nhiều lần lập công, được phong Chưởng cơ Tổng đốc đạo Hữu quân đại tướng quân quận công. Năm 1782 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh chạy xuống giồng Lữ lập đồn chống cự, Đô đốc Tây Sơn là Học đem quân ùa tới, Phẩm đem quân đón đánh chém Học trước trận, Ánh rất khen ngợi, thưởng cho 30 lượng vàng. Qua 1793 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh thua trận chạy ra Phú Quốc, Phẩm cùng anh là Trân vào Hà Tiên thu lương, bị bọn Trần Hưng, Lâm Húc trong quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, đầu đời Gia Long được truy tặng Chưởng dinh quận công.
Nguyễn Huỳnh Đức người Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, nguyên họ Huỳnh, được ban quốc tính nên gọi là họ Nguyễn Huỳnh. Đức trạng mạo hùng dũng, khỏe mạnh hơn người, người ta gọi là hổ tướng. Đầu tiên theo Đỗ Thanh Nhơn, sau Thanh Nhơn bị giết, Đức riêng được Nguyễn Ánh tin dùng. Năm 1782, Tây Sơn vào đánh, trong trận đánh ở sông Ngã Tư quân Nguyễn thua chạy, ngựa Nguyễn Ánh sa xuống bãi lầy, Đức đưa Ánh lên bờ rồi kéo ngựa ra khỏi bãi lầy, ngựa không đi nổi, Đức chạy bộ bên cạnh nắm quyền đánh cho ngựa chạy, quân Tây Sơn đuổi theo không kịp. Có lần trốn tránh Tây Sơn, Ánh nằm trong thuyền mệt quá, gối đầu vào đùi Đức mà ngủ, Đức xua muỗi suốt đêm, không hề chợp mắt. Trong trận đánh ��� giồng Tuyên Tự, Đức cùng 500 thuộc hạ đều bị bắt, Nguyễn Huệ yêu vì khỏe mạnh nên không giết mà thu dùng. Đức muốn trốn về nhưng chưa có cơ hội, có đêm ngủ trong trại quân Tây Sơn nói mơ chửi Huệ, tướng Tây Sơn định giết, nhưng Huệ nói đó là lời ngủ mơ nên không bắt tội, lại hậu đãi để lấy lòng. Năm 1786 Đức theo Nguyễn Huệ ra Thăng Long, khi Huệ trở về lưu Đức lại ở Nghệ An, trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Duệ vốn là tướng của Nguyễn Nhạc nên không thích Huệ, Đức lừa xúi Duệ theo đường thượng đạo về Quy Nhơn theo Nhạc. Duệ theo lời đem 5.000 quân vào Nam, sai Đức đem 500 thuộc hạ đi trước, Đức nhân đó theo Lạc Hoàn vòng qua Vạn Tượng tới Xiêm, lúc hết lương chỉ hái lá cây mà ăn. Các bộ lạc Man nghe tiếng Đức, giúp cho lương khô, năm 1788 Đức tới được Xiêm thì Nguyễn Ánh đã về Gia Định. Vua Xiêm muốn lưu Đức lại, Đức lấy cái chết tự thề, kể lại nỗi gian nan tìm chúa, khí uất bốc lên thổ ra một cục máu, vua Xiêm thấy không ép được rất kính trọng, sau Ánh được tin bèn sai người nói với vua Xiêm cho mượn thuyền đưa Đức về Gia Định.
Năm 1789 Đức về tới vào yết kiến, Nguyễn Ánh khen ngợi yên ủi, phong làm Khâm sai Chưởng cơ giám quân Trung dinh. Năm 1790 đổi làm quản Hữu quân dinh, đến 1793 được phong là Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân dưới quyền Tôn Thất Hội, từ đó đến 1802 nhiều lần cầm quân qua lại giao chiến với Tây Sơn ở Quy Nhơn, Phú Yên. Năm 1794 Đức cùng Nguyễn Văn Thành và 17 người bọn Tôn Thất Thăng dâng biểu xin cắt đứt mối liên hệ giữa Pigneau và Đông cung Cảnh khiến Pigneau rất tức giận. Nhân dịp hai người đem quân ra Phan Rí bị Tư lệ Tây Sơn Lê Trung chống đánh không tiến được phải rút về Bà Rịa năm 1795, Ánh bèn kết tội hèn nhát bắt giam một tháng để xoa dịu Pigneau rồi tha, cho lãnh quân như cũ. Năm 1802 hạ được thành Quy Nhơn, Đức được phong quận công, trấn thủ Quy Nhơn. Năm 1808 được triệu về kinh, sai cùng Lê Chất coi đắp các đường quan lộ từ Quảng Nam tới Phú Yên. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Đức được lấy làm Tổng trấn Bắc Thành, hiệu lệnh nghiêm chỉnh, sĩ phu Bắc Hà đều sợ phục. Năm 1812 được triệu về kinh, đổi làm Khâm sai Chưởng Tiền quân lĩnh thành như cũ. Năm 1816 thay Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1819 chết, được tặng Suy trung Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc Thái phó quận công, ban cho gấm đoạn và tiền, sai quan trấn Định Tường dụ tế. Năm 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kiến Xương quận công. Phần mộ của ông hiện vẫn còn ở Thị xã Long An.
6/ Các viên Chưởng Hậu quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Trương Văn Bác coi Hậu quân. Sử sách không nói sau khi Tây Sơn vào Gia Định năm 1782 thì Trương Văn Bác kết cục ra sao, nhưng khoảng 1787 khi Nguyễn Ánh từ Xiêm trở về Gia Định thì người giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội. Đến 1792 Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, Ánh lấy Tôn Thất Hội thay làm Chưởng Tiền quân, quản Tiên phong dinh Võ Tánh làm Chưởng Hậu quân. Sau khi Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu hạ được thành Bình Định, Võ Tánh tự thiêu năm 1801, Hậu quân của Nguyễn Ánh về cơ bản đã hoàn toàn tan vỡ. Đầu năm 1802, Ánh dồn phần còn sót lại của dinh này làm Thần võ quân giao cho Phạm Văn Nhân quản lãnh, đổi Tả đồn quân Ngự lâm làm Hậu quân, phong Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người nối nhau giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội, Võ Tánh và Lê Chất.
Năm 1799 quân Nguyễn chiếm được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đổi tên là thành Bình Định, sai Võ Tánh cùng Ngô Tòng Châu đóng giữ. Cuối năm ấy tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đem hết quân thủy bộ vào vây, đánh lùi tất cả các cánh quân của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tới cứu viện. Đầu năm 1801 Nguyễn Ánh đem quân đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn dưới quyền Võ Văn Dũng ở Thi Nại, nhưng Dũng lại gom góp tàn quân kéo về giúp Diệu vây Tánh. Lúc bấy giờ Phú Xuân trống rỗng, Ánh dùng nước cờ thí xe bắt tướng, cuối tháng 4 âl. năm ấy không cứu Võ Tánh mà mang quân đánh úp chiếm được Phú Xuân. Cuối tháng 5 âl. thành Bình Định bị vây lâu hết lương, Tánh sai người đem khẩu súng của mình đưa Trần Quang Diệu để “gởi gắm tướng sĩ”, ý là nhắn Diệu đừng giết tướng sĩ của mình rồi phóng hỏa tự thiêu, qua 1802 được tặng Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân Thái úy quốc công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái sư, phong Hoài quốc công.
Lê Chất người Phù Mỹ Quy Nhơn, đầu tiên theo Tây Sơn làm Đô đốc dưới quyền Tư lệ Lê Trung. Trung yêu vì có tài nên gả con gái cho. Chất là người thiện chiến, các tướng của Nguyễn Ánh đánh nhau với Chất thường thua. Năm 1797, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh giữ Diên Khánh, Chất thấy Tây Sơn nội bộ chia lìa thế ắt bại vong, nhiều lần khuyên Trung hàng, Trung dùng dằng không quyết, Chất bèn sai người đưa thư cho Tánh xin làm nội ứng muốn bắt Trung. Tánh tâu lên, Ánh nói Chất là người giảo hoạt, lời xin ấy chưa chắc là thật, sau Trung biết mưu của Chất, trách hỏi tận mặt. Chất vì việc đã lộ, đành bỏ ý ấy. Năm 1798 nổ ra vụ Tiểu triều Nguyễn Bảo, Nguyễn Quang Toản ngờ Trung cũng dự mưu bắt Trung giết đi, sai bắt cả Chất. Chất đem người ở mặt giống mình cho uống thuốc độc, giả làm tự tử, Tây Sơn cũng tưởng Chất đã chết. Chất ngầm đem mẹ và vợ con vào ở trong núi Trà Đồng, sau có người bạn Chất nói với Tổng quản Tây Sơn Lê Văn Thanh rằng Chất có tài làm tướng sao không dùng, Thanh vốn trọng tài Chất, nói “Chất đã chết rồi, còn đâu mà dùng”, người ấy nói “Dùng thì Chất sống, không dùng thì Chất mới chết”, Thanh hỏi kỹ lại, người ấy nói thật rồi đưa Chất tới gặp, Thanh cầm tay dắt vào chỗ ngồi cùng uống rượu, lưu lại dưới trướng cho coi quân.
Năm 1799, quân Nguyễn Ánh đánh thành Quy Nhơn, Chất đem thuộc binh hơn 200 người tới quân Võ Tánh xin hàng, Nguyễn Ánh sai đưa mẹ và vợ con Chất về Gia Định nuôi dưỡng. Cuối năm ấy đặt năm đồn quân Ngự lâm, lấy các hàng tướng hàng binh Tây Sơn sung vào, phong Lê Chất làm Đô thống chế Chánh thống Tả đồn, theo Võ Tánh giữ thành. Sau đó Chất theo quân Nguyễn Ánh đánh ra Quảng Nam rồi Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc, Chất đuổi theo không kịp, các tướng cũ của Ánh nói Quang Toản chạy thoát được là bởi người chứ không phải bởi trời. Về sau khi Chất được phong làm Bình Tây tướng quân quận công thì Đặng Trần Thường cũng mỉa mai “Chất bình Tây thì ai bình Chất, Chất mà quận công thì ta phải mười quận công”. Chất vốn là hàng tướng mới về theo mà quan cao chức trọng nên bị nhiều người ganh ghét, đây là mầm mống của những tai họa sẽ xảy ra với ông về sau.
Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân cùng Lê Văn Duyệt thống lĩnh bộ binh đi trước, thế như chẻ tre, chiếm được Thăng Long. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Gia Long sai Nguyễn Huỳnh Đức thay làm Tổng trấn Bắc Thành, lấy Chất làm Phó Tổng trấn, đến 1813 đặt Cục Bảo Tuyền (đúc tiền) ở Bắc Thành, sai Chất kiêm chức Giám đốc. Năm 1819 Nguyễn Huỳnh Đức chết, Gia Long sai Chất làm Tổng trấn Bắc Thành, Chất dâng sớ từ chối nhưng Gia Long không cho. Đến 1826 Chất bệnh nặng, dâng sớ xin về quê chịu tang mẹ, Minh Mạng ưng thuận, lúc Chất về tới kinh ban thưởng cho rất hậu, kế Chất về tới Bình Định thì chết, được tặng Thiếu phó.
Chất lúc mới hàng Nguyễn Ánh chơi thân với Lê Văn Duyệt, về sau lúc làm Tổng trấn Bắc Thành thì Lê Văn Phong em Duyệt lại là Phó Tổng trấn Bắc Thành, giao tình càng thân thiết, nên sau khi Lê Văn Khôi con nuôi Duyệt làm vụ binh biến thành Phiên An, triều đình Minh Mạng trị tội Duyệt thì Chất cũng bị liên lụy. Theo lời bàn của đình thần, Minh Mạng sai truy thu hết cáo sắc phong tặng, đào mộ Chất phá quan tài chém xác bêu đầu, sung công tài sản, vợ Chất là Lê Thị Sa bị giải về nguyên quán làm nô tỳ, các con trai ngoài Lê Hậu lấy Trưởng công chúa Ngọc Cửu đã chết năm 1830 thì bốn người còn lại là Cận, Thương, Trường, Cơ đều bị xử chém năm 1838, con gái Chất tiến cung sinh ra Quỳ Châu quận công Miên Liêu thì bị giam đến chết đói.
7/ Các viên Chưởng Thần sách quân trong quân Nguyễn Ánh
Đầu năm 1789, Thần sách chỉ là một vệ thuộc dinh Trung quân, gồm bốn đội Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu, đến cuối năm ấy sau khi kén quân chiến tâm thấy đặt thêm hai đội Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu thuộc vệ Thần sách, xem ra lúc đầu là một loại cận vệ có chức năng bảo vệ Nguyễn Ánh, nhưng đến giữa 1790 sau khi sai Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân và Chưởng Tiên phong dinh Võ Tánh ra đánh Bình Thuận thì thấy hai đội Ban trực Tả Hữu do Phạm Văn Nhân và Tôn Thất Huyên được điều ra đóng giữ Bà Rịa, tức đã trở thành một loại thân quân do Nguyễn Ánh trực tiếp điều động. Theo thời gian, các đội thuộc vệ Thần sách cũng tăng lên, có đủ Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Đến cuối 1793 vệ Thần sách được đổi làm quân Thần sách, đổi đội làm vệ, đặt thêm vệ Hùng uy, nhưng chỉ thấy có các viên Vệ úy như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đức Xuyên chứ chưa thấy đặt chức Giám quân. Đến đầu 1798 mới bắt đầu đặt năm đồn quân Thần sách. Mỗi đồn đặt một Chánh thống và một Phó thống, Chánh thống thống quản bốn vệ, Phó thống quản vệ mình và kiêm ba vệ khác, theo Chánh thống sai khiến. Lấy Khâm sai Thuộc nội Cai cơ hành Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân làm Chưởng cơ giám quân Thần sách, quản tướng sĩ năm đồn kiêm Tri Tượng chính Mã chính và các đội Bả cái, Tiểu hầu. Đây là viên Chưởng Thần sách quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.
Phạm Văn Nhân tổ tiên là người Quý huyện Thanh Hoa theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Đời Thế tông Phước Hoạt đầu quân, làm quan tới chức Thuộc nội Cai đội. Năm 1774 quân Trịnh vào đánh, Nhân ra trận bị trúng đạn vào chân, không theo Duệ tông Phước Thuần được, đến 1778 mới lẻn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, được phong Phó Vệ úy vệ Đằng giao. Đến 1783 Ánh thua trận chạy qua Xiêm, giao con là hoàng tử Cảnh cho Pigneau de Béhaine đưa qua Pháp cầu viện, Nhân cũng đi theo nhưng chỉ tới Pondichéry thì ở lại, sau đó trở về Bangkok. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, Nhân nhiều lần lập công, năm 1793 được thăng Phó tướng Tả quân, năm 1795 lúc Ánh ra giải vây Diên Khánh được giao giúp đỡ Đông cung Cảnh giữ Gia Định. Đến 1798 được phong làm Khâm sai Chưởng cơ Giám quân Thần sách quân, đến tháng 3 âl. năm Nhâm tuất 1802 đem quân hạ thành Bình Định, đánh bại tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, được thăng làm Khâm sai Chưởng Thần võ quân (Hậu quân cũ) kiêm giám Thần sách quân, quận công. Năm 1811 đổi Thần võ quân làm Hữu quân, Nhân được phong làm Khâm sai Chưởng Hữu quân vẫn coi quân Thần sách. Năm 1815 Nhân ốm chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái phó quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Tiên Hưng quận công.
8/ Các viên Chưởng Chấn võ quân trong quân Nguyễn Ánh
Năm 1801 Nguyên soái lãnh dinh Tả quân Cảnh quận công tức Đông cung Cảnh chết, qua 1802 Gia Long chuẩn bị tiến quân ra Bắc, đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh. Đây là viên Chưởng Chấn võ quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.
Nguyễn Văn Nhơn người Vĩnh An (An Giang), năm 1774 quân Tây Sơn lấn tới Xích Lam (Trấn Biên), Lưu thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp mộ quân cần vương, năm ấy Nhơn 21 tuổi ra ứng mộ, được phong làm Đội trưởng, theo Hiệp ra Phú Yên, sau theo Cai cơ Tống Phước Hòa giữ Ô Cam, năm 1776 theo Hòa vào Gia Định cứu viện cho Duệ tông Phước Thuần, được phong chức Cai đội. Năm 1777 Hòa bị Tây Sơn bao vây tự tử chết ở Ba Vát, Nhơn trốn thoát, cuối năm ấy lại theo Dương Công Trừng dấy quân chống Tây Sơn ở Sa Đéc, qua 1778 được thăng Cai cơ giữ đạo Cường Thành. Đến 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, Nhơn theo Dương Công Trừng về đóng ở Thủ Thiêm, sau đó Tây Sơn vào đánh, Nhơn bị bắt, được Tây Sơn phong là Hữu Toán quân, đến 1785 trốn qua Xiêm theo Nguyễn Ánh. Năm 1787 Ánh từ Xiêm về lại Gia Định, Nhơn theo Tôn Thất Huy đánh trận, được thăng làm Khâm sai Thuộc nội Cai cơ vệ Thần sách theo Tôn Thất Hội sai phái. Qua 1788 Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, Nhơn được thăng Vệ úy, sau thăng làm Hiệu úy quản Hữu chi dinh Trung quân, Lưu thủ Trấn Biên, lúc ấy mới đón thầy dạy học, đến 1792 đổi làm Phó quản dinh Trung thủy Trung quân. Từ 1793 Nhơn nhiều lần theo quân Nguyễn Ánh ra miền Trung, qua lại đánh nhau với Tây Sơn ở Quảng Ngãi, Phú Yên, Diên Khánh. Năm 1799 Nguyễn Ánh đem quân ra Quy Nhơn, thăng Nhơn làm Chưởng cơ, sai giúp hoàng tử Hy ở lại giữ Gia Định, vỗ về quân dân, khuyến khích sản xuất, vận tải quân lương có nhiều công lao, qua 1802 được thăng Chưởng Chấn võ quân, quận công. Năm 1805 theo lệnh triệu về kinh, năm 1808 thay Nguyễn Văn Trương giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, đến 1812 theo lệnh triệu về kinh. Năm 1816 được điều bổ Chưởng Hữu quân thay Phạm Văn Nhân ốm chết rồi kiêm thự Trung quân ấn vụ thay Nguyễn Văn Thành bị giải chức, qua 1819 lại lãnh Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1821 sung Tổng tài Sử quán, qua 1822 chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái bảo quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kinh Môn quận công.
9/ Các viên Chưởng Tượng quân trong quân Nguyễn Ánh
Sau 1788, quân đội của Nguyễn Ánh ở Gia Định tổ chức thành nhiều quân đoàn lớn mang tính chất hỗn hợp về binh chủng gồm bộ binh, thủy binh, pháo binh…, song vùng Nam Bộ ít voi nên căn bản không có tượng quân như Tây Sơn. Nhưng qua nhiều năm đánh nhau ở miền Trung, quân Gia Định buộc phải có sự thích ứng với Tây Sơn về kỹ thuật cũng như chiến thuật, điều này dẫn tới việc thành lập lực lượng tượng quân như một binh chủng trong quân Nguyễn Ánh. Năm 1789, thấy Nguyễn Ánh sai Cai cơ Tri Tượng chính Trương Văn Giao kiêm quản Trường đà, năm 1795 lại sai quản Tiểu sai đội Tri Tượng chính Trương Phước Luật kiêm quản ba vệ Ban trực tả, Ban trực hữu, Tuyển phong tiền quân Thần sách đem binh thuyền đi trước ra Bình Thuận đánh giặc. Tuy nhiên chức Tri Tượng chính này chỉ là quản lý về voi như một phương tiện đi lại của Nguyễn Ánh và một số tướng lãnh cao cấp, chứ chưa phải là người đứng đầu một binh chủng riêng. Đến cuối 1792 thấy sai Khâm sai Đốc chiến Cai cơ Vũ Công Bảo, Khâm sai Cai cơ Đoàn Văn Trí dinh Tả quân đem quân đi bắt voi ở Đồng Nai, Bà Rịa và Hỗn Thủy để nộp, có lẽ vào thời điểm này Nguyễn Ánh đã bắt đầu có ý định xây dựng Tượng quân.
Đầu năm 1795, Nguyễn Ánh đặt năm Tượng cơ Trung Tả Tiền Hữu Hậu, chính thức thành lập binh chủng tượng quân của quân đội Gia Định. Kế Xiêm sai sứ qua hiến 20 thớt voi đực, giữa năm ấy lại sai sứ qua hiến voi đực, Chân Lạp cũng hiến 2 thớt voi đực. Lại sai Chưởng cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào và Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn theo ngạch cũ lập cơ An tượng 20 người, sai bắt voi hiến nộp, qua 1796 hai người hiến 20 thớt voi. Sau đó lại sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi Phnom Penh và Bắc Tầm Bôn chọn mua voi đực. Đến 1799 trong tang lễ của Pigneau, chính quyền Gia Định đã huy động 120 voi bên cạnh 12.000 quân hộ tống, số lượng voi chiến xem ra đã rất khả quan. Cuối 1799 bổ ba vệ Hùng võ, Hùng uy, Phấn uy quân Thần sách làm Tượng đồn, do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Đầu 1800 lại biên các tướng sĩ mới hàng của năm tượng cơ dinh Quảng Nam làm năm Tượng chi Trung Tả Tiền Hữu Hậu, đều do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Binh chủng này được thành lập muộn, về cơ bản lại chỉ là một đồn đặc biệt trong quân Thần sách nên viên Chưởng Tượng quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước 1802 là Nguyễn Đức Xuyên.
Nguyễn Đức Xuyên người Phú Vang phủ Thừa Thiên, cha là Quảng dời vào ở Gia Định, làm quan tới chức Cai cơ, anh là Thái làm quan tới chức Khâm sai Cai cơ. Xuyên là người trí dũng, đầu tiên làm Đội trưởng quân Nội hầu. Sau trận Rạch Gầm năm 1784 Nguyễn Ánh chạy xuống Hà Tiên, Xuyên theo hầu. Ánh qua một ngày một đêm chưa được ăn, Xuyên vào nhà dân xin cơm, người dân hỏi Xuyên người đi cáng phía trước là vua cũ phải không? Xuyên nói dối rằng “Không phải”, người dân nói “Tôi nhìn trộm rồi, không giấu được đâu, thôi đi ra đi, lúc nào cơm chín tôi sẽ đem dâng”. Xuyên trở ra, người ấy lập tức bọc cơm đem dâng. Ánh sai hỏi họ tên người ấy, Xuyên đã lả đi không nói được. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, thăng Xuyên làm Thuộc nội Cai đội. Năm 1796, giặc Đồ Bà đóng ở biển Hà Tiên cướp bóc, làm trở ngại đường biển. Gặp khi sứ Xiêm về nước, Nguyễn Ánh sai Xuyên đem hơn mười chiến thuyền đưa ra khỏi địa phận. Xuyên tới Phú Quốc dò biết chỗ thuyền giặc đậu bèn chia quân làm ba đường tới đánh tan. Chợt gặp tướng Xiêm đang đem thủy quân đi bắt giặc, tới thì giặc đã tan, bèn đón sứ bộ về. Từ đấy giặc Đồ Bà trốn xa, người Xiêm cũng sợ tiếng Xuyên. Năm 1799 được sai kiêm quản năm Tượng cơ, theo Ánh ra đánh Quy Nhơn, trong trận Tháp Cát trúng đạn bị thương ở trán lại bọc vết thương lại đánh, phá tan quân Tây Sơn, bắt được hơn 20 thớt voi trận. Năm 1800 Xuyên được thăng Tri Tượng chính Đô Thống chế quân Thần sách, đem quân theo Nguyễn Ánh ra cứu Bình Định. Mùa đông năm ấy được cai quản mười Tượng cơ. Năm 1802 theo Nguyễn Ánh ra Bắc, tới Thanh Hoa được sai ở lại làm Đốc trấn, ban tước quận công. Năm 1803 lại giữ chức Chưởng Tượng chính kiêm việc Tào vận. Năm 1808 được phong là Khâm sai Chưởng Tượng quân vẫn lãnh Tượng chính Cai Tào vụ. Năm 1819 Xuyên tâu nói trong nước tuy yên nhưng không nên bỏ việc đánh trận, xin sai các thành dinh trấn hàng năm cứ tháng giêng tháng bảy diễn tập trận voi ba ngày, Gia Long theo lời.
Xuyên tính hào phóng, chi phí rất rộng, lập ra ban tuồng có bộ nam bộ nữ, vợ lẽ nàng hầu xen lẫn ở trong nữ bộ, có lần kẹt tiền vào tâu với Minh Mạng xin tạm ứng lương bổng năm sau. Minh Mạng ban cho 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo, dụ rằng “Nếu không đủ thì cứ lại vào tâu với trẫm, nhà nước đối với ngươi không tiếc gì đâu”, bấy nhiêu đủ cho thấy triều Nguyễn ưu ái viên Chưởng Tượng quân này tới mức nào. Năm 1824 Xuyên bệnh, Minh Mạng sai trung sứ tới thăm hỏi mỗi ngày vài lần, đến mùa đông thì chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tả trụ quốc Thái phó, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Khoái Châu quận công.
Hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802
Với việc chiếm lại được Gia Định lần cuối năm 1788, chính quyền Nguyễn Ánh dần dần trở thành hạt nhân quy tụ các lực lượng chống Tây Sơn trên toàn quốc, trong khi sau cái chết của Quang Trung năm 1792 thì chính quyền Tây Sơn ngày càng suy yếu.




Nhận xét
Đăng nhận xét