Chuyển đến nội dung chính

CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI 2/B

-Lịch sử là hiện thực quá khứ.
-Có những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng của người đời.
-"bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
                                  sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…"
                                             (Nguyễn Trọng Tạo)
---------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Phim tài liệu Huyền thoại TÀU KHÔNG SỐ Tập 2
 
Phim tài liệu: Huyền thoại Tàu không số (Tập 3)

Nơi xuất phát của những con tàu không số huyền thoại
Cập nhật ngày: 14/07/2015 08:36 (GMT +7)
 Cán bộ, phóng viên Báo Thái Nguyên thăm di tích Bến tàu K15,  nơi xuất phát của đoàn tàu không số huyền thoại.
Cán bộ, phóng viên Báo Thái Nguyên thăm di tích Bến tàu K15, nơi xuất phát của đoàn tàu không số huyền thoại.
Trong chuyến công tác mới đây tại quận Đồ Sơn, T.P Hải Phòng, chúng tôi may mắn có dịp được ghé thăm Bến tàu K15, nơi xuất phát của những con tàu không số trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đứng trước tượng đài tưởng niệm đường Hồ Chí Minh trên biển và di tích bến tàu không số K15 lồng lộng giữa mây trời, chúng tôi càng thêm trân trọng, tự hào trước những hy sinh, mất mát và lòng quả cảm của những cán bộ, chiến sĩ trên con tàu không số năm xưa.
Bến tàu K15 nằm ở dưới chân đồi Nghinh Phong, phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, T.P Hải Phòng. Nơi đây chính là điểm xuất phát của những con tàu không số chở hàng hóa, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Tên gọi Bến K15 xuất phát từ chữ “K” là ký hiệu quân sự chỉ cảng, “15” là số hiệu lấy từ số của Nghị quyết của Trung ương Đảng về đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15. Ngược dòng lịch sử vào năm 1959, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang trong giai đoạn ác liệt, Trung ương Đảng đã chỉ đạo cho lực lượng quân đội thành lập 2 tuyến đường vận chuyển chiến lược nhằm chi viện sức người, sức của cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam: Một tuyến đường trên bộ vượt dãy núi Trường Sơn và một tuyến xuyên biển Đông.

Ngày 11/10/1962, chiếc tàu vỏ gỗ không số đầu tiên mang mật danh “Phương Đông 1” đã rời bến K15 vận chuyển 30 tấn vũ khí cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn. Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển của những tàu trọng tải lớn, tháng 4/1963, ngay tại nơi con tàu “Phương Đông 1” xuất phát, lực lượng Công binh đã đóng chiếc cọc đầu tiên xuống biển, xây dựng cầu tàu K15 - Cột mốc số 0 của đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từ bến tàu K15 đã có gần 100 chiếc tàu với tổng số 168 chuyến hành trình mang theo hàng vạn tấn vũ khí, hàng hóa vượt sóng biển để chi viện cho chiến trường miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, góp phần quan trọng vào chiến thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Ngày nay, về thăm bến tàu K15, chúng tôi được nghe nhiều câu chuyện được coi là những huyền thoại của thế kỷ XX. Đó là câu chuyện về “kỷ luật sắt” trên các con tàu không số. Theo đó, những chiến sĩ khi được giao nhiệm vụ chỉ được biết là đi tham gia công tác đột xuất và phải thực hiện nghiêm lệnh “cấm trại” đặc biệt của chỉ huy các tàu, các bến cho đến tận ngày chiến tranh kết thúc. 

Với các chiến sĩ trên con tàu không số, mỗi lần nhận nhiệm vụ chở hàng thực sự là một lần “vào sinh ra tử”. Những con tàu phải luồn lách, ngụy trang để đi qua nhiều vùng kiểm soát của địch, luôn phải đặt trong nguy cơ bị phát hiện, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh bất cứ lúc nào. Trên mỗi con tàu không số luôn chuẩn bị sẵn  một khối thuốc nổ từ 500 kg - 1.000 kg. Nếu bị phát hiện và không thể chạy thoát, chỉ huy tàu nhất quyết phải đánh thuốc nổ phá tàu, để tàu và vũ khí không rơi vào tay kẻ địch, quan trọng hơn là để tiêu hủy toàn bộ mọi dấu vết, không để bị lộ bí mật vào tay giặc. Chính vì thế những con tàu này được gọi là tàu không số.

Trải qua những năm tháng chiến tranh, Bến tàu K15 hiện nay chỉ còn lại chứng tích là những trụ bê tông cầu cảng cách bờ biển khoảng 30 mét, phía trên bờ là một số nền móng kho hàng, bể nước… Để tưởng nhớ chiến công của những thủy thủ tàu không số, T.P Hải Phòng đã cho xây dựng tượng Đài tưởng niệm đường Hồ Chí Minh trên biển ngay cạnh di tích bến tàu K15. Đây là công trình được xây dựng và hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng Hải Phòng (năm 2005). Giữa màu xanh của núi đồi Đồ Sơn trong tiếng rì rào của sóng biển, di tích bến tàu K15 hùng dũng, uy nghiêm chính là biểu tượng anh hùng, ca ngợi lòng quả cảm, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc của cán bộ chiến sỹ trên những con tàu không số năm xưa. Năm 2008, bến tàu K15, điểm khởi đầu của con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia.

 Ngày nay, Bến tàu K15 còn trở thành một đầu mối quan trọng cho tuyến du lịch sinh thái, văn hóa kết hợp tín ngưỡng: Bến Nghiêng - Hòn Dấu. Từ đây, mất khoảng 20 phút đi tàu, du khách sẽ đặt chân lên đảo Hòn Dấu - con mắt ngọc của Hải Phòng. Hòn Dấu gây ấn tượng bởi vẻ hoang sơ, tĩnh lặng với thảm thực vật nguyên sinh độc đáo và nét huyền bí, linh thiêng bao phủ bởi sự tích về ngôi đền thờ Nam Hải Đại Vương - Vị thần bảo vệ che chở cho ngư dân trên biển. Dạo bước giữa thiên nhiên trong lành, hướng mắt nhìn ra phía biển, bất cứ ai cũng cảm thấy bồi hồi xúc động khi nghĩ về những đoàn tàu không số với biết bao sự hy sinh thầm lặng góp phần làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc

Được biết, trung bình mỗi năm, tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển và di tích bến tàu K15 Đồ Sơn đón hàng nghìn lượt du khách đến tham quan. Nơi đây không chỉ là  điểm tham quan du lịch hấp dẫn mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng bổ ích cho các thế hệ trẻ hôm nay nhớ về những chiến công chói lọi của quân và dân ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng.
Nguyên Ngọc

Tìm về huyền thoại tàu không số Vũng Rô

0 Anh Quân

ANTĐ Những con tàu không số vận chuyển vũ khí từ miền Bắc, vượt qua nghìn trùng vây quân địch, đã cập bến Vũng Rô, chi viện hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược cho chiến trường khu V và Tây Nguyên. Từ đó, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang mở chiến dịch Đông Xuân 1964-1965, giành thắng lợi.
2 tháng, tàu không số bí mật cập vào Vũng Rô 3 lần

Để đáp ứng việc cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ trang Quân khu V và quân dân tỉnh Phú Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cách đây 50 năm, Bộ Tư lệnh Quân khu V đã đề nghị Trung ương chi viện vũ khí qua đường biển.


Sau đó, Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Phân khu Nam và Tỉnh ủy Phú Yên chuẩn bị bến bãi để tiếp nhận hàng hoá, vũ khí để chi viện cho các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Đắk Lắk.
ảnh 1Tàu không số (tàu 41) chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam 
ảnh 2
Bến Vũng Rô



Bến Vũng Rô (xã Hoà Xuân Nam, huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên) đã được chọn là nơi tiếp nhận bốc dỡ hàng hóa, vũ khí vì có địa hình phù hợp.

Ngày 28/11/1964, tàu 41 của Đoàn tàu Không số do thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chỉ huy, xuất phát từ cảng Hải Phòng chở 60 tấn vũ khí, hàng hoá cập bến Vũng Rô an toàn.


Sau đó, trong vòng chưa đầy hai tháng, từ tháng 11/1964 đến đầu tháng 2/1965, tàu 41 liên tiếp ba lần cập bến Vũng Rô thành công vào các ngày 28/11/1964, 25/12/1964 và 01/2/1965, chi viện hàng trăm tấn vũ khí đạn dược cho chiến trường khu V và Tây Nguyên.


Chuyến tàu thứ tư...

Riêng chuyến tàu thứ tư cập bến đêm 15/02/1965, thì sáng hôm sau bị địch phát hiện. Trước đó 5 ngày, con tàu mang ký hiệu 143 do thuyền trưởng Lê Văn Thiêm và chính trị viên Phan Văn Bảng chỉ huy cùng 16 cán bộ chiến sĩ rời cảng K20, chở 63 tấn vũ khí vào Vũng Rô. Tàu đóng giả một tàu khai thác hải sản trên vùng biển quốc tế. Trên hành trình thì ban ngày, cứ vài tiếng lại có một chiếc máy bay của Mỹ bám theo tàu, có lúc sà xuống rất thấp. Ban đêm có hai tàu chiến địch đi kèm, chiếc phía trước, chiếc phía sau. Nhưng tàu 143 vẫn cứ đi.

23 giờ ngày 15/2/1965, tàu vào bến Vũng Rô. Bến đã tập trung lực lượng du kích xã Hòa Hiệp và cả tiểu đoàn 83, bộ đội chủ lực Quân khu 5 để bốc dỡ hàng vào các kho ở hang núi. Sau 4 tiếng đồng hồ số hàng trên tàu đã được bốc dỡ hết.
ảnh 3Di tích lịch sử Vũng Rô
 
3 giờ sáng, tàu nhổ neo ra biển, nhưng neo bị hỏng. Khi sửa xong neo thì trời đã sáng bạch nên không thể quay tàu ra biển được. Phía trên bến Vũng Rô là quốc lộ, xe quân sự địch qua lại rất nhiều. Đỉnh Đèo Cả có đồn địch đóng. Phía biển có đồn Mũi Điện. Tình thế rất nguy hiểm. Thuyền trưởng cho tàu ép sát vào vách núi, lợi dụng vách đá và tán cây để che giấu tàu. Các thủy thủ và du kích nhanh chóng chặt các cành cây để phủ lên ca-bin và boong tàu để ngụy trang. Hai người được bố trí trông tàu, còn tất cả sơ tán lên bờ.


Một tài liệu lưu tại phòng quân báo Hải quân Mỹ cho biết, lúc đó khoảng 10 giờ ngày 16/2, một chiếc máy bay tải thương HU1B của Mỹ bay dọc quốc lộ 1 từ Quy Nhơn về Nha Trang. Khi bay qua Vũng Rô, viên phi công JS. Bowra phát hiện “mỏm đá” nhô ra khác thường, đã báo về Bộ chỉ huy khu vực duyên hải Nam Trung Bộ ở Nha Trang của Mỹ.
ảnh 4
Bức phù điêu mô tả hoạt động tải vũ khí, đạn dược từ Bắc vào Vũng Rô của những con tàu không số



Sau đó địch điều một máy bay trinh sát bay tới Vũng Rô, ném xuống chỗ tàu của ta đang trú ẩn một quả pháo mù chỉ điểm mục tiêu. Tiếp đến, một tốp máy bay khu trục A-1 Skyraiders lao đến bắn một loạt tên lửa làm cho lá ngụy trang trên tàu bốc cháy. Cả con tàu phơi mình trước thanh thiên bạch nhật. Tàu 143 đã bị lộ.

Từ đó cuộc chiến đấu sinh tử đã xảy ra, kéo dài cả tuần lễ. Địch liên tục cho máy bay đến ném bom. Thuyền trưởng Lê Văn Thêm bị thương rất nặng. Không để tàu rơi vào tay địch, anh em quyết định bơi ra điểm hỏa bộc phá 500kg đã cài sẵn trong tàu. Nhưng vì bom nổ làm cho tàu bị nghiêng nên thủy thủ không sao chui vào khoang máy được.
ảnh 5
Nơi tàu 143 nằm xuống


Ngày 17/2/1965, địch cho tàu chiến, trực thăng đổ quân để bắt sống các thủy thủ, chiếm tàu. Đương đầu với mấy tiểu đoàn bộ binh, hàng chục chiếc máy bay của địch, bên ta chỉ có một trung đội du kích, 2 tiểu đội vũ trang địa phương và 18 anh em thủy thủ tàu 143. Thế mà địch không tài nào vào được khu vực bến Vũng Rô.

Tối 17/2, một tổ công binh được phái đến dùng bộc phá hỗ trợ để hủy tàu. Song bộc phá gài sẵn của tàu vẫn không nổ, nên tàu không phá hủy hoàn toàn được. Gần một tuần đánh nhau với lực lượng địch đông gấp nhiều lần, một số đồng chí của ta bị thương và hy sinh, sức lực anh em yếu dần, chỉ huy quyết định dùng mìn tiêu hủy số hàng mới đưa vào chưa kịp chuyển đi và phá vòng vây rút lên rừng.
ảnh 6Lời của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt ca ngợi những người đã làm lên kỳ tích
đường Hồ Chí Minh trên biển được viết bên lối đi tới nơi con tàu 143 nằm xuống



Sau sự kiện Vũng Rô, tuyến vận tải chiến lược trên biển bị lộ, việc chi viện cho chiến trường miền Nam gặp khó khăn. Nhưng với ý chí và quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đường Hồ Chí Minh trên biển chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, vượt qua mọi sự phong tỏa của kẻ thù tiếp tục đưa các con tàu không số cập vào các bến tiếp nhận vũ khí ở Nam Bộ và Nam Trung bộ.


Việc mở bến Vũng Rô thành công có ý nghĩa vô cùng to lớn, đã chi viện kịp thời, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang Quân khu mở chiến dịch Đông Xuân 1964-1965 giành thắng lợi, góp phần động viên tinh thần, ý chí quyết tâm của quân và dân ta, thúc đẩy phong trào cách mạng trong khu vực phát triển mạnh mẽ, tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Ghi nhận địa danh, dấu ấn lịch sử của bến Vũng Rô và tàu 41, bến Vũng Rô đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia; thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh đã được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Vũng Rô có diện tích mặt nước khoảng 1.640 ha, độ sâu trung bình từ 14 - 19m, có thể tiếp nhận tàu trọng tải trên 5.000 tấn, được các dãy núi cao Đèo Cả, Đá Bia, Hòn Bà che chắn cả 3 hướng: Bắc, Đông, Tây. Trong vịnh có nhiều bãi nhỏ gồm: Bãi Lách, Bãi Mù U, Bãi Ngà, Bãi Chùa, Bãi Chân Trâu, Bãi Hồ, Bãi Hàng, Bãi Nhỏ, Bãi Chính, Bãi Bàng, Bãi Lau, Bãi Nhãn. Đá Bia-Vũng Rô - Đèo Cả là những địa danh lịch sử, văn hóa và du lịch tiêu biểu ở tỉnh Phú Yên.

Tàu Không số - Những câu chuyện huyền thoại



(ĐCSVN) – Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày chiếc “Tàu Không số” đầu tiên rời bến, vận chuyển hàng hóa, vũ khí cho chiến trường miền Nam, nhưng những câu chuyện huyền thoại về lòng dũng cảm, mưu trí, về ý chí cách mạng của những người lính hải quân trên con đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn có sức thu hút mãnh liệt. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để trực tiếp chi viện vũ khí, hàng hóa và nhân lực cho cách mạng miền Nam, cùng với con đường vận tải dọc Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở đường vận chuyển chiến lược trên biển Đông. Trong suốt 15 năm làm nhiệm vụ vận tải chiến lược quân sự trên biển (1961-1975), Đoàn 125 đã huy động được gần 1.900 lượt tàu thuyền, vận chuyển hơn 152.000 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thuốc chữa bệnh và hơn 80.000 cán bộ, chiến sĩ từ Bắc vào Nam. Những con tàu ấy đã vượt hàng ngàn hải lý, khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi, chống chọi với hơn 20 cơn bão, chiến đấu hơn 30 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và bắn cháy nhiều tàu xuồng của địch. 15 năm ấy, những chuyến tàu lặng lẽ vượt sóng gió, vượt hiểm nguy và tai mắt kẻ thù, chở nặng vũ khí, hàng hóa cùng nghĩa tình miền Bắc đến với chiến trường miền Nam.
Đấu trí với địch để bảo vệ tàu
Khác với các chiến sĩ không quân, lục quân “tìm địch mà đánh”, nhiệm vụ của người chiến sĩ hải quân trên “Tàu Không số” ngày ấy là tìm cách tránh địch để bảo vệ hàng hóa. Vì phải giữ bí mật, tuyệt đối không để địch phát hiện ra tuyến vận tải đặc biệt này, mỗi tàu đều được cài sẵn những khối lớn thuốc nổ ở mũi, thân và đuôi tàu với các loại kíp nổ tức thì được khởi động bằng tay và bằng điện. Các thủy thủ đoàn đều được đơn vị tổ chức “Lễ truy điệu sống” trước khi khởi hành phòng khi bị địch phát hiện, các chiến sĩ trên tàu sẽ tự kích nổ tàu để giữ bí mật. “Tàu Không số” cũng chọn những lúc thời tiết xấu nhất để khởi hành, càng là giông tố, bão bùng, càng là lúc thuận lợi cho những nhiệm vụ bí mật. Bởi vậy, mỗi lần “Tàu Không số” xuất phát là mỗi lần thử thách ý chí và tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
 
 Một con tàu không số (Ảnh tư liệu)
 
 Ông Nguyễn Xuân Thơm luôn tự hào khi nhớ lại những ngày tháng
trên "Tàu không số" - Ảnh: Hồng Ngọc
 
Ông Trần Kim Trung nhớ lại những ngày tháng gian khổ mà hào hùng trên mỗi chuyến đi - Ảnh: Hồng Ngọc

Trong những tình huống khó khăn, vừa phải vượt sóng to, gió lớn, vừa phải đấu trí với địch để bảo vệ tàu, các cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, giữ vững quyết tâm chiến đấu, mưu trí, linh hoạt, kiên trì, bền bỉ vượt qua mọi nguy hiểm, thực hiện đúng ý định, chủ trương, phương châm chỉ đạo của cấp trên.

Ông Nguyễn Xuân Thơm, sinh ra và lớn lên ở xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau là một điển hình cho tinh thần chiến sĩ “Tàu Không số” ngày ấy. Căm thù giặc Mỹ, ông đi theo cách mạng, vào vùng giải phóng, gia nhập đội dân quân du kích Ấp 7 tại quê hương, sau đó được chuyển về trung đội du kích xã làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ căn cứ cách mạng, tính mạng và tài sản của nhân dân. Từ một du kích, ông bắt đầu tham gia Đoàn 962 từ tháng 6 năm 1962, từng bước trưởng thành thành một thuyền trưởng “Tàu Không số” dày dạn kinh nghiệm. Tuổi trẻ của ông gắn với những chuyến đi trên biển Đông, với hàng chục chuyến tàu chở vũ khí vào miền Nam đánh Mỹ. Ông đã tham gia 16 chuyến vượt biển, 12 chuyến thành công và 4 chuyến không thành công, mỗi chuyến đi lại là một câu chuyện, một kỷ niệm khó quên.

Với ông, “những chuyến đi thành công đương nhiên để lại nhiều ấn tượng, nhưng những chuyến đi không thành công cũng để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và từ đó còn là những bài học cho cuộc đời chiến đấu sau này”. Kỷ niệm đặc biệt của ông là chuyến đi năm 1972 (từ 1970 đến 1972 là những năm tháng khó khăn của các chuyến “Tàu Không số”). Khi ấy, ông làm thuyền trưởng Tàu 653, đi vào bến Vàm Lũng, Cà Mau.


Ông Thơm kể lại: Theo kế hoạch, ngày 12/2/1972, Tàu 653 xuất phát nhằm thẳng hướng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiếp tục hành trình theo kế hoạch, Tàu 653 hướng về phía Nam Côn Đảo. Nhưng đến ngày 18/2/1972,  nhận được một bức điện từ Sở chỉ huy Đoàn 125 cho biết: Tàu HQ 05 của Hải quân Sài Gòn đang tuần tra tuyến Hòn Khoai - Côn Sơn, đề nghị cho tàu ngụy trang và kiên trì đi theo hướng quay ra miền Bắc. Sau khi nhận lệnh, các chiến sĩ tăng cường ngụy trang tàu và triển khai công tác sẵn sàng chiến đấu. Tất cả các loại súng DKZ, B41, AK, 12,7 ly đều được lắp đạn và bố trí sẵn. Nhưng khi cho tàu quay ra, tàu địch vẫn bám sát, cố tiếp cận với mục đích bắt tàu ta phải đầu hàng. Chúng dùng mọi cách: O ép, kêu gọi đầu hàng, dùng vũ lực… nhưng không dám tấn công vì chúng biết tàu của ta là tàu “nguy hiểm”, nếu tấn công tàu sẽ nổ. Thấy tàu ta không động tĩnh gì mà cứ thẳng tiến ra Bắc, tàu HQ 05 thay đổi hướng đi bằng cách chặn đầu ép tàu ta đi theo chúng nhưng trong liên tục 5 ngày, các thủy thủ thay nhau lái, canh địch và tiếp tục đi theo kế hoạch: thẳng hướng ra Bắc. Khi ra tới vĩ tuyến 17, biết không thể thắng được ý chí chiến đấu của ta, địch mới cho tàu quay lại. Đến trưa ngày 25/2/1972, tàu của ta về cập cảng an toàn, kết thúc chuyến đi đầy cam go, thử thách. Đó là một chuyến đi để lại rất nhiều kinh nghiệm, dù bị địch phát hiện và áp sát trong nhiều ngày, nhưng nhờ ý chí, sự quyết tâm, tàu của ta vẫn cập bến an toàn.

Là một người con của vùng Giao Long, Giao Thủy (Nam Định), Trần Kim Trung nhập ngũ năm 1964, vào Hải quân và tham gia đi trên những chuyến “tàu không số”. Bây giờ, khi đã hơn 70 tuổi, ông còn nhớ y nguyên mỗi lần chuẩn bị cho một chuyến đi là mỗi lần chuẩn bị tinh thần có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Với ông, chuyến đi ấn tượng nhất lại là một chuyến đi tàu bị phá hủy, nhưng rất may là sau khi ta đã bốc dỡ hàng thành công. Ông nhớ lại: Vào đầu năm 1965, khi chuẩn bị ăn Tết thì được lệnh khẩn cấp, vận chuyển 1 chuyến hàng đặc biệt gồm hàng hóa và vũ khí vào Nam. Khi ấy, cán bộ chủ chốt trên Tàu 143 có thuyền trưởng Lê Văn Thiêm, thuyền phó hỏa lực Hồ Sành, thuyền phó hàng hải Hoàng Xuân Thu và chính trị viên Phan Văn Bảng chỉ huy, cùng 16 cán bộ, chiến sĩ rời cảng K20, chở 63 tấn vũ khí vào Vũng Rô (Phú Yên). Tàu đóng giả một tàu khai thác hải sản trên vùng biển quốc tế. Trên hành trình, ban ngày, cứ vài tiếng lại có một chiếc máy bay của Mỹ bám theo, ban đêm lại có hai tàu chiến địch đi kèm, chiếc phía trước, chiếc phía sau. Nhưng với ý chí sắt thép, Tàu 143 vẫn cứ đi. Tới 23h ngày 15/2/1965, tàu vào bến Vũng Rô để bốc dỡ hàng. Sau khi bốc dỡ, tàu nhổ neo ra biển thì neo bị hỏng. Sửa xong thì trời đã sáng bạch nên không thể quay tàu ra biển được mà phải ở lại, đợi đến tối sẽ rời bến. Bất ngờ, đến 12h trưa có một máy bay trinh sát của địch bay tới Vũng Rô, ném xuống chỗ tàu của ta đang trú ẩn một quả pháo mù chỉ điểm mục tiêu. Một tốp máy bay khu trục A-1 Skyraiders lao đến bắn một loạt tên lửa làm lá ngụy trang trên tàu bốc cháy. Tàu 143 đã bị lộ và bị phá hủy.

Suốt 15 năm làm nhiệm vụ vận tải quân sự trên biển, có những chuyến đi thành công, cũng có những chuyến đi không thành công, có nhiều con tàu bị phá hủy, nhưng chúng ta đã cho địch thấy ý chí sắt đá, lòng dũng cảm và niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của ta.

Thắm tình đồng đội, tình quân dân

Mỗi chuyến tàu không số ra khơi, các thủy thủ đoàn không chỉ đối phó với địch mà phải đối mặt với cả những cuộc chiến với sóng to, gió lớn, những lúc bệnh tật. Ông Trần Kim Trung vẫn nhớ: Thường mỗi chuyến đi kéo dài khoảng 20 ngày, chúng tôi phải thay nhau lái tàu, thay nhau nấu cơm, nhiều khi không có nước để tắm. Cũng có nhiều anh em không chịu được sóng nên cứ ăn vào lại nôn ra, mặt mày tái nhợt… Nhưng chính những ngày tháng khó khăn, vất vả ấy lại là lúc có thể cảm nhận rõ nhất tình cảm chân thành, thắm thiết giữa những người chiến sĩ. Những khi ấy, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, vất vả nhưng chỉ cần nghĩ về quê hương miền Bắc còn đói khổ, miền Nam còn chìm trong khói lửa chiến tranh và giữ vững niềm tin rằng, mỗi chuyến hàng thành công sẽ góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc là chúng tôi lại có động lực để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.

Trong những chuyến đi đầy gian khổ, không chỉ có tình đồng đội, đồng chí với nhau mà còn có cả tình cảm quân dân. Những chuyến đi bị địch phát hiện, tàu bị phá hủy, khi ấy, chính nhờ sự đùm bọc của người dân địa phương và của các bác sĩ mà các chiến sĩ “Tàu Không số” lại có thể trở lại miền Bắc tiếp tục làm nhiệm vụ.
Năm 1968, ông Nguyễn Xuân Thơm làm thuyền phó Tàu 143, tết Mậu Thân 1968 đi vào Quảng Ngãi nhưng chuyến đi bị lộ, phải tự phá hủy tàu và các thủy thủ bơi vào bờ. Chuyến tàu khi ấy có 17 đồng chí thì có 3 đồng chí hy sinh, những người còn lại đều bị thương. Đó là những ngày tháng đáng ghi nhớ với ông khi được người dân, các bác sĩ, y tá tận tình chăm sóc, chữa khỏi vết thương. Ông nhớ lại: Chúng tôi được đưa lên điều trị tại trạm xá Đặng Thùy Trâm. Khi ấy, Đặng Thùy Trâm là một cô gái Hà Nội, chúng tôi là các chiến sĩ chuẩn bị lên đường ra miền Bắc. Cô muốn gửi gắm tình cảm của mình là những cuốn nhật ký, một vài cuốn sổ ra cho mẹ ở miền Bắc. Hình ảnh người bác sĩ trẻ tuổi từ thủ đô Hà Nội lặn lội vào miền Nam sát cánh cùng nhân dân trong cuộc kháng chiến đã khiến các thủy thủ vô cùng cảm động. Hình ảnh ấy đã giúp chúng tôi có thêm động lực khắc phục khó khăn, khổ ải để 23 ngày sau, khi bình phục lại tiếp tục vượt Trường Sơn, trở ra miền Bắc, nhận lại tàu và tiếp tục con đường chiến đấu.
Chiến tranh lùi xa đã 36 năm, đất nước đã hòa bình, thống nhất, nhưng các thế hệ người Việt Nam sẽ không bao giờ quên, trong thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc, có phần đóng góp công sức, xương máu của rất nhiều cán bộ, chiến sĩ đoàn “Tàu Không số” - những người dù biết trước có thể sẽ hi sinh, nhưng vẫn giữ vững lòng tin, không hề sợ hãi, không hề do dự, “ngồi” trên hàng tấn thuốc nổ để làm nhiệm vụ. Những cán bộ, chiến sĩ trên “Tàu Không số” ngày ấy đã phát huy cao độ tinh thần của lớp thanh niên thời đại Hồ Chí Minh và là tấm gương sáng, là động lực thúc đẩy thế hệ trẻ ngày nay tiếp bước cha anh, góp công sức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Chuyến đi huyền thoại của con tàu sắt đầu tiên của Việt Nam





Thứ 7, 28/12/2013 | 21:03




Nhằm tăng cường khả năng vận chuyển hàng hóa, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam, Đoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay) đã được thành lập vào ngày 23/10/1965 với mật hiệu là Đoàn tàu không số.

Lúc bấy giờ, quân đội ta không chỉ sử dụng những tàu được viện trợ từ bên ngoài, mà còn chủ động tự đóng thêm tàu để vận chuyển hàng hóa chi viện. Tàu 68 là một  trong những con tàu như vậy.
Từ con tàu lịch sử
Sau khi Đoàn 759 được thành lập, nhu cầu về tàu vận chuyển hàng hóa vào miền Nam trở nên cấp thiết. Lúc đó, chỉ thị từ Trung ương cho các kỹ sư đóng tàu của Việt Nam là phải đóng những con tàu có tải trọng khoảng 100 tấn, chở được vũ khí hạng nặng và một tiểu đội 12 người. Điều quan trọng nhất là tàu phải nhỏ gọn, chống chịu được với sóng gió cấp 8 – 9. Các kỹ sư đã gấp rút hoàn thành và những chiếc tàu đầu tiên do Việt Nam sản xuất đã ra đời tại xưởng đóng tàu số 3 (Hải Phòng). Những chiếc tàu này được bàn giao lại cho Đoàn 759 sử dụng, trong đó có chiếc tàu mang số hiệu 68.
Xã hội - Chuyến đi huyền thoại của con tàu sắt đầu tiên của Việt Nam
Một con tàu không số do máy bay Mỹ chụp được trên biển (nguồn Internet)
Chúng tôi gặp ông Phạm Văn Bát (trú tại huyện Đông Hưng, Thái Bình) là chính trị viên tàu 68 và được ông kể cho nghe những hành trình sóng gió của con tàu huyền thoại này. Ông Bát kể: “Tháng 1 năm 1965, sau khi Đoàn 759 nhận được những chiếc tàu đầu tiên do Việt Nam tự đóng, chúng tôi được lệnh ra khơi. Lúc đó, thượng úy Nguyễn Ngọc Ẩn là thuyền trưởng, còn tôi làm chính trị viên. Tàu 68 của chúng tôi được giao nhiệm vụ chở hàng vào Trà Vinh để tiếp viện. Trên tàu, khi đó còn có cả một đoàn cán bộ gồm cán bộ chính trị, bác sỹ và một sỹ quan pháo binh đi cùng. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bắt được tín hiệu từ cơ quan của ta tại Côn Đảo và chuẩn bị cập bến. Những tưởng chuyến đi đầu tiên gặp nhiều thuận lợi, nhưng khi chuẩn bị cho tàu hướng về điểm đỗ thì bất ngờ, tàu nhận được tín hiệu là “bến động”. Ngay sau đó, tàu của chúng tôi đã bị bao vây của khu trục và tuần dương hạm của địch. Sau hồi trấn tĩnh, bàn bạc, chúng tôi quyết định cho tàu chạy ra khơi chứ không vào bến đỗ như ban đầu. Thế nhưng, hướng nào cũng thấy tàu địch bủa vây. Bên cạnh những ánh đèn pha chói lóa là những tiếng động cơ gầm rú của trực thăng trên đầu và tiếng loa dụ hàng của địch”.
Lặng một chút cho ký ức trào về, ông Bát tiếp câu chuyện: “Lúc đó một số anh em trên tàu rất lo lắng và có ý định chiến đấu tới cùng. Thế nhưng, tôi đã kịp thời trấn tĩnh anh em để nghe ngóng thêm tình hình. Trong khi đó, máy bay địch cứ sáp gần vào tàu tìm kiếm, bên cạnh là những tàu khu trục, tàu tuần dương bắn cảnh cáo. Tiếng đạn nổ đùng đoàng, tiếng trực thăng đinh tai nhức óc, đèn pha chiếu thẳng vào khoang tàu như muốn lật tung các kiện hàng đang được ngụy trang kỹ. Không những vậy, tiếng loa dụ hàng cứ vang lên, kêu gọi tên thật của cán bộ, chiến sỹ trên tàu quay về với chính quyền Việt Nam cộng hòa”.
Trước tình hình đó, để tránh bị phát hiện, ông Phạm Văn Bát cùng thuyền trưởng đã động viên đoàn cán bộ, chiến sỹ yên tâm “án binh bất động” chờ xử lý và nói như dứt khoát với báo vụ 1:  “Không được trả lời. Nếu trả lời thì chúng sẽ truy tận gốc, trốc tận rễ, rồi cuối cùng sẽ bị lộ. Cứ kệ cho chúng tiếp tục bắn uy hiếp và đánh tín hiệu hỏi tàu của ta mang quốc tịch nước nào? Chạy từ đâu tới? Chở hàng gì?... Các anh cứ cho tàu chạy thẳng ra khơi”.
“Thế nhưng, máy bay Mỹ và các tàu khu trục của Ngụy vẫn quyết bám theo đến cùng. Chúng bắn súng đe dọa, truy đuổi trong màn đêm đen kịt của biển khơi. Cuộc rượt đuổi cứ thế diễn ra cho tới khi trời tảng sáng. Theo sự chỉ đạo của căn cứ trên bờ và đối sách của cấp uỷ tàu, chúng tôi khẩn trương kéo những tấm lưới đánh cá phủ lên các khẩu pháo, phủ kín các hầm hàng, đồng thời cho thuỷ thủ lấy những con cá gỗ ra móc lên các mảng lưới để đánh lừa địch. Ấy vậy mà chúng cứ bám riết không buông. Sau cùng, khi ra đến gần hải phận quốc tế, chúng tôi mới thoát khỏi sự truy đuổi của tàu giặc” – ông Bát nhớ lại. Sau màn đấu trí và đấu súng căng thẳng, con tàu 68 cũng đã giao hàng an toàn tại căn cứ Bến Tre.
Cán bộ tàu 68 nhận nhiệm vụ thứ hai vào đầu năm 1966 khi đảm nhận việc chở vũ khí và hàng hóa vào tận đất mũi Cà Mau. Cũng như lần trước, hành trình ban đầu đều thuận lợi. Sau khi giao hàng an toàn, tàu 68 quay trở lại miền Bắc thì bị tàu của địch phát hiện và buộc phải quay trở lại. Lúc đó, dưới khoang tàu đang chứa 1 tấn thuốc nổ nên cán bộ tàu quyết định chọn giải pháp “im lặng là vàng”. Sau mấy ngày tàu địch theo dõi, cuối cùng chúng không còn đủ lòng kiên nhẫn nên đã phải rút lui. Vậy là cán bộ, thủy thủ tàu 68 đã có chuyến ăn Tết ý nghĩa nơi đất mũi Cà Mau.
Xã hội - Chuyến đi huyền thoại của con tàu sắt đầu tiên của Việt Nam (Hình 2).
Ông Phạm Văn Bát trong buổi trò chuyện với PV.
Người chiến sỹ trở về từ huyền thoại
Thành công của tàu 68 gắn liền với công sức của những cán bộ, chiến sỹ đã chiến đấu để bảo vệ con tàu. Người chính trị viên Phạm Văn Bát năm nào giờ đã có tuổi. Thế nhưng, những ký ức hào hùng về một thời hoa lửa vẫn là những câu chuyện thường ngày được ông kể với anh em, bè bạn. Ông cho biết: “Thời đó, khi vừa tốt nghiệp trường Lục quân I, tôi mang hàm thiếu úy và đang khấp khởi được vào Nam chiến đấu. Thế nhưng, tôi và 15 đồng chí khác được điều đi nhận nhiệm vụ mới mà không rõ nhiệm vụ gì. Đến khi gặp người mặc áo Hải quân thì ai cũng té ngửa và tha hồ đoán già, đoán non. Chúng tôi sau đó được chuyển về Hải Phòng tập huấn trong vòng 45 ngày về những kỹ, chiến thuật trên biển. Lúc này mọi người mới biết, đang mang trên mình nhiệm vụ bí mật”.
Thời đó, mọi nhiệm vụ đều diễn ra hết sức bí mật. Trước khi nhận nhiệm vụ, anh em trong đoàn đều coi như vô danh, không được phép gọi tên thực của mình mà chỉ được gọi nhau bằng ký hiệu. Mọi người cũng không được nhắn nhủ với gia đình, người thân dù là một mẩu thư nhỏ để đảm bảo công tác bí mật. Ông Bát năm đó 31 tuổi, đã lấy vợ nên tranh thủ biên thư về cho gia đình. Tuy nhiên, bức thư đó 3 năm sau người nhà mới nhận được. Ông còn kể thêm: “Chúng ta đều gọi là Đoàn tàu không số nhưng khi xuất phát từ Bến Nghiêng (Đồ Sơn – Hải Phòng) thì tàu nào cũng đều có mang số hiệu cả. Khi tàu tới địa phận biển do địch kiểm soát hoặc  cấm vận (lúc đó 40 hải lý trở vào bờ là do lính Ngụy kiểm soát và 100 hải lý trở vào bờ là do Mỹ chiếm đóng và kiểm soát chung) hoặc sang hải phận của nước khác thì tàu mới thay đổi số hiệu và màu sơn, đồng thời treo cờ nước bạn trên thân tàu”.
Cũng theo ông Bát, tên gọi những người trên Tàu đều gọi theo tên miền Nam để giả dạng là ngư dân. Giai đoạn từ năm 1963 -1968, hầu hết những chiến sỹ làm nhiệm vụ trên tàu đều là con em người miền Nam. Người miền Bắc như ông Bát rất ít và phải được kiểm tra lý lịch rất kỹ để đảm bảo tuyệt đối bí mật. Trong thời gian sống và chiến đấu với tàu 68, ông đã chứng kiến tình đồng chí, đồng đội keo sơn không chỉ của những người trên tàu và cả của ngư dân nước bạn. Những chiến sỹ của tàu không số thời đó trước khi đi không chỉ làm lễ “truy điệu sống” mà theo ông Bát, các chỉ huy còn phải chuẩn bị sẵn những túi nilon để làm quan tài cho những chiến sỹ ngã xuống. Tuy nhiên, việc này chỉ những cấp chỉ huy mới biết để tránh làm anh em hoang mang.
Tàu 68 đã thực hiện được 11 chuyến hàng thành côngÔng Phạm Văn Bát tiết lộ: “Trong hành trình của mình, tàu 68 thực hiện  được 11 chuyến đi thành công, kịp thời tiếp tế hàng nghìn tấn vũ khí, hàng hóa cùng các nhu yếu phẩm khác phục vụ cho cuộc chiến đấu của chiến sỹ, nhân dân miền Nam đi tới thắng lợi cuối cùng”. 
Phạm Thiệu


Thuyền trưởng chuyến tàu không số đầu tiên

TP - M14: 6.000kg, N5BT: 1.105 quả, LN: 105 hòm, N8: 213.000 viên… Tổng cộng 62.053kg là số lượng các mặt hàng quân sự chuyến tàu không số đầu tiên do trung úy, thuyền trưởng Trần Phong cùng 17 đồng đội vận chuyển vào Nam, xuất phát đêm 27/7/1963. Sau chiến thắng Ấp Bắc đầu năm 1963, lúc này quân dân miền Nam rất cần vũ khí.

Đại tá Trần Phong đang giải thích về 5 tuyến đường vượt biển Đông để vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Ảnh: T.Đ.
Đại tá Trần Phong đang giải thích về 5 tuyến đường vượt biển Đông để vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Ảnh: T.Đ.

Đối mặt hiểm nguy
Đại tá Trần Phong, quyền Đoàn trưởng (Lữ đoàn trưởng) Đoàn 125 tàu không số (nay là Lữ đoàn 125 Hải quân) cho phóng viên Tiền Phong xem những trang tư liệu thời chiến mà ông cẩn thận lưu giữ. Khi nhận hàng xuống tàu, ông và đồng đội cũng chỉ biết đó là vũ khí, đạn dược, thuốc nổ. Được lệnh cặp bờ tại Cồn Lợi, Thạnh Phú, Bến Tre. Để tránh tai mắt địch, thuyền cặp bờ trong đêm. “Gần đến nơi, qua ánh sáng đèn biển thì anh em xác định tàu đã bị dạt lên phía bắc. Lúc này trời đã gần sáng, bến đón chờ tàu cả đêm không thấy cũng đã rút. Tình thế rất nguy hiểm. Anh em ở trong thế tiến thoái lưỡng nan” - đại tá Trần Phong nhớ lại. Rút ra biển cũng dễ lộ, chưa kể mỗi lần xâm nhập là một lần khó, mà ở lại đồng nghĩa phơi tàu trước mắt kẻ thù, càng dễ lộ. Không đủ thời gian hội ý, họp cấp ủy trước mỗi quyết định quan trọng theo quy định, thuyền trưởng Trần Phong quyết định để thuyền phó Nguyễn Đức Dục đóng vai thương nhân, giả làm tàu buôn bị lạc, nhờ ngư dân dẫn vào Cồn Lợi. May mắn gặp người của bến đón còn nán lại chờ tàu, dẫn tàu vào nơi an toàn, nhanh chóng chuyển hết hàng và ngụy trang cho tàu.
Cuối năm, ông cùng đồng đội chở tiếp 60 tấn vũ khí vào Cà Mau, xuất phát lúc 22 giờ đêm 11/10/1963. Chuyến này từ lúc khởi hành đã không suôn sẻ. Đại tá Trần Phong cho phóng viên Tiền Phong xem hồ sơ chuyến đi ghi lại hải trình và việc tàu bị hải quân Trung Quốc bắt sáng 14/10/1963. Từ hải phận quốc tế, tàu cặp điểm “ăn hàng” thì gặp thủy triều xuống không vào được, bến đón chờ mãi không thấy đã rút. Lại gặp may, trời gần sáng nên anh em trên bờ nhìn thấy nên cho xuồng ra đón và chuyển hàng vào bờ. Đang dỡ hàng thì máy bay tuần biển của địch tới. Anh em lập tức treo cờ chính quyền Sài Gòn, giả làm tàu buôn, cùng lúc triển khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng nổ súng đánh địch, thậm chí tự đánh chìm tàu, chấp nhận hy sinh để bảo vệ bí mật tuyến đường vận tải trên biển đến lúc này chưa bị phát hiện. Đã có không ít tàu bị phát hiện trên biển, anh em đã chọn cách chiến đấu, hy sinh tới người cuối cùng khi tự đánh chìm tàu hoặc cài thuốc nổ trên tàu rồi lao thẳng vào tàu đối phương. Trên tàu, ngoài vũ khí chuyên chở, còn được trang bị đại liên 12ly7, súng chống tăng B40, AK47 và thuốc nổ các loại… “Chiếc máy bay tuần tiễu bay trên đầu chúng tôi ba vòng rồi đi, không hiểu sao chúng không phát hiện ra. Khi chúng nghi ngờ, quay trở lại thì chúng tôi đã dỡ hàng xong và ra tới vùng biển quốc tế, trở về căn cứ an toàn” - đại tá Trần Phong nhớ lại.
Thuyền trưởng chuyến tàu không số đầu tiên - ảnh 1 Tàu không số “ăn” hàng tại cảng Hải Phòng.
Nhưng không phải mọi chuyến đi đều suôn sẻ, nhất là sau khi quân đội Sài Gòn phát hiện trang bị của Quân giải phóng miền Nam đột nhiên tốt hơn hẳn, với nhiều vũ khí tối tân. Suốt cuộc chiến Đoàn 125 mất 18 tàu, trong đó 2 chiếc bị máy bay Mỹ đánh chìm tại miền Bắc, phải tự hủy để giữ bí mật 12 chiếc, bị địch bắt 2 chiếc, tàu mắc cạn phải bỏ 2 chiếc, số hàng bị phá hủy 700 tấn, hy sinh 76 người, bị thương 54, bị bắt 20 người. Cuộc chiến nào cũng phải chấp nhận mất mát, nhưng những đóng góp của người lính đoàn tàu không số vào sự nghiệp thống nhất đất nước thật không nhỏ. Trong vòng vây lửa đạn của hệ thống phòng thủ nhiều lớp trên biển, trên đất liền của đối phương, họ đã đi liên tục 2.047 chuyến, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí, 80.000 lượt cán bộ, chiến sĩ vào Nam ra Bắc. Đại tá Trần Phong cho phóng viên Tiền Phong xem những trang nhật ký ố vàng dấu ấn thời gian, ghi chép danh sách “hành khách”, sau này trở thành những vị lãnh đạo quan trọng của đất nước, như chủ tịch nước Lê Đức Anh, bà Bảy Vân (vợ cố Tổng bí thư Lê Duẩn), tướng Bùi Cát Vũ, bác sĩ Nguyễn Thiện Thành… Truy điệu sống
Vũ khí tàu không số chuyển vào Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre… tiếp tục được quân dân miền Nam chở bằng ghe chài vào Cần Giờ, ngụy trang dưới dạng thuyền buôn chở trái cây, gạo, thịt theo sông Sài Gòn, sông Đồng Nai… vượt qua đủ loại đồn bốt, xuyên qua trung tâm chỉ huy đầu não Sài Gòn của đối phương để đưa lên Củ Chi, rồi căn cứ địa của Quân giải phóng ở Tây Ninh.
Thuyền trưởng chuyến tàu không số đầu tiên - ảnh 2 Tàu không số cải trang làm tàu cá, tàu buôn trên đường vận chuyển vũ khí chi viện miền Nam năm 1966. Ảnh: Tư liệu.
Đại tá Trần Phong tự hào chia sẻ: “Vũ khí chuyển vào không chỉ giúp quân dân miền Nam vô hiệu hóa các chiến lược quân sự của địch mà còn góp phần đánh thắng những trận vang dội, ngay tại căn cứ đầu não. Chẳng hạn Biệt động Sài Gòn dùng 80kg thuốc nổ đánh chìm soái hạm - tàu sân bay trực thăng hộ tống của hải quân Mỹ USNS CARD tải trọng 16.500 tấn chở trực thăng, xe tăng ngay tại quân cảng Sài Gòn năm 1964. Hoặc dùng thủy lôi đánh chìm tàu chiến hải quân Mỹ Balon Ronghe Victory tải trọng 10.000 tấn chở 3 máy bay phản lực, hơn 100 thiết giáp M113 ngay trên sông Lòng Tàu, cửa ngõ Sài Gòn”… Có những hy sinh khác ngoài xương máu mà người lính tàu không số thường âm thầm chịu đựng như một phần đời lính trong chiến tranh. Với người lính tàu không số, mỗi chuyến đi là một lần làm lễ truy điệu nên chuyện tình duyên nhiều người thường gác lại. Trung úy thuyền trưởng trẻ tàu phóng lôi Trần Phong, sinh năm 1935, quen cô công nhân quốc phòng Trần Thị Tường, sinh năm 1942, quê Nghệ An. Đầu năm 1963 chàng được điều động sang làm thuyền trưởng tàu không số vận chuyển vũ khí, đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam. Chàng quyết định cắt đứt mối quan hệ sắp đến giai đoạn thăng hoa. Vì sao? “Vì ra đi là xác định hy sinh nên không muốn vương vấn. Hơn nữa, chẳng may mình hy sinh thì họ sẽ đau khổ nên không đành lòng. Hầu hết người lính tàu không số chúng tôi đều nghĩ và làm như vậy” - đại tá Trần Phong kể.
Như là duyên phận, sau này tình cờ gặp lại bà ở Hà Nội, khi đó trung úy Trần Phong được điều chuyển về làm sĩ quan tham mưu. Ông bà cưới nhau vào năm 1964 và sống với nhau hạnh phúc từ đó đến nay. Đại tá Trần Phong và bà Trần Thị Tường có hai con trai, đều theo nghiệp quân ngũ. Người con trai cả Trần Khánh Sinh, sinh năm 1965, hiện là thượng tá, làm việc tại Công ty Tân Cảng, Sài Gòn.
Thủy lôi Nga đánh đắm tàu chiến Mỹ
Để đặc công, biệt động đánh tàu chiến Mỹ chở máy bay, xe tăng…, năm 1965 tàu không số được lệnh chuyển vào Nam 4 quả thủy lôi sừng chạm của Nga, các “sừng” chĩa ra các hướng, neo lơ lửng trong nước. Khi va chạm vỏ tàu sẽ kích nổ thủy lôi đủ để phá vỡ thân tàu. Từ Cồn Nghêu (Bến Tre), hai quả thủy lôi kềnh càng, đường kính 2m, mỗi quả nặng hơn 1 tấn được chuyển bằng ghe chài lên Cần Giờ (TPHCM) giao cho đặc công Rừng Sác. Thuyền nhỏ, chỉ dùng sức người, di chuyển rất nhiều chặng trong điều kiện đối phương tuần tiễu, bắn phá liên tục trên không dưới nước đến nơi đánh tàu là cả sự nỗ lực, sáng tạo phi thường của quân dân miền Nam, đặc biệt là bộ đội đặc công nước Rừng Sác. Nhiều lần thủy lôi bị rớt xuống sông hoặc làm đắm thuyền vì cồng kềnh và quá nặng. Chiếc tàu chiến hải quân Mỹ Balon Ronghe Victory tải trọng 10.000 tấn trúng thủy lôi bị đắm ngay trên sông Lòng Tàu, cửa ngõ Sài Gòn. Toàn bộ 3 máy bay phản lực chiến đấu, hơn 100 thiết giáp M113 cùng vũ khí, lương thực cung cấp cả mùa khô cho Sư đoàn 4 Hoa Kỳ bị chìm xuống lòng sông.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32