CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI 1/C

-Lịch sử là hiện thực quá khứ.
-Có những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng của người đời.
-"Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang.
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng.
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa.
Trường Sơn, đông nắng, tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình."

                                                                           (Tố Hữu) 
-"Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn."

                                                                         (Tố Hữu) 


Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.


1969

Bài thơ này trong chùm thơ Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969 và được tác giả đưa vào tập thơ Vầng trăng quầng lửa.
 
-------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Có một con đường (Phim tài liệu Đường Mòn Hồ Chí Minh của Xưởng Phim Quân Đội)

Bài giảng về con đường Trường Sơn huyền thoại xúc động qua những vần thơ

Là một người yêu lịch sử dân tộc nên sáng tác của tác giả Trần Thanh Hương thường hay hướng tới việc giáo dục các thế hệ học sinh phải luôn ghi nhớ và trân trọng quá khứ. Bài thơ: Bài giảng về con đườ
Đời người phải đi qua rất nhiều con đường
Đường đến trường của các em sẽ mãi là con đường hạnh phúc
Nhưng con đường đời lại nhiều uốn khúc, lắm chông gai
Đường bộ, đường thủy, đường hàng không sẽ nối trái tim nhân loại
Là người Việt Nam còn phải biết đến cả con đường huyền thoại Trường Sơn

Đường còn mang tên 559 hay Hồ Chí Minh đường mòn
Mạch máu của Việt Nam, vết thương nhức nhối của quân cướp nước
Con đường quyết giành sự sống và con đường quyết gieo cái chết
Con đường gắn kết hai miền Bắc - Nam ruột thịt
Như nước về với biển khơi không thể tách rời

Đường Trường Sơn đi qua hai mươi tỉnh thành đất nước
Qua hạ Lào và Tiến cả vào Campuchia nước bạn
Con đường này được Việt Minh sử dụng từ trước những năm 1958
Để di chuyển cán bộ chống Pháp từ Bắc vào Nam
Muốn đánh tan Mĩ- Ngụy phải đảm bảo quân lương
Quân đội Việt Nam quyết định mở con đường Trường Sơn huyền thoại
Năm 1959 đoàn 559 vinh dự nhận nhiệm vụ mới
Sẻ dọc dãy Trường Sơn tiến vào miền Nam bằng bất cứ giá nào
Thượng tá Võ Bẩm cùng 440 chiến sĩ là con số ban đầu
Năm 1960 lên 6.000 người chuyển sang sườn tây Trường Sơn hoạt động
Đường chuyển quân cũng thành đường chuyển súng
Đây cũng là thánh địa của quân giải phóng miền Nam
Chúng ta có năm căn cứ trong vùng Cán xoong (1)
Vận chuyển hàng bằng xe đạp thồ, xe bò và xe cơ giới
Đến 1965 đoàn 559 tăng thêm nhiều lính mới
Tướng  Phan Trọng Tuệ nắm quân với 24.000 người
Với khả năng lao động và sáng tạo tuyệt vời
Hệ thống đường Trường Sơn được dựng xây thành mạng lưới
Nhiều doanh trại, bệnh viện, kho bãi mọc lên như nấm khắp nơi
Tất cả được ngụy trang nhằm bịt mắt bọn ác điểu(2) đang rình rập trên trời
Để đảm bảo cho tuyến đường thông suốt không ngơi
Tướng Tuệ cùng các đại tá Hoàng Văn Thái, Vũ Xuân Chiêm, Đổng Sĩ Nguyên đảm nhận thêm nhiệm vụ
Họ nắm chặt tay thề quyết cùng nhau làm nên con đường lịch sử


Huyền thoại đường Trường Sơn - Ảnh 1Những chuyến xe chở lương thực, đạn dược chi viện cho miền Nam

Ý chí mở đường của ta trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp với quân thù
Tổng thống B. Johnson(3) điên cuồng ra lệnh cho ném bom như trút lửa
Các chiến dịch Barrel Roll, Steel Tiger, Tiger hound, Sấm Rền(4) đều dần đưa nhau xuống hố
Quân cướp nước liền quay sang dùng thí nghiệm Popeye(5) kéo dài vô hạn mùa mưa
Cả dự án Commando Lava(6) tạo bùn của chúng cũng như thừa
Tiếp đến CIA, thám báo Lào, bí mật SOG(7) cùng nhau giải thể
Không chịu bó tay, chúng chuyển sang pháo đài bay B- 52 ném bom công nghệ
Quyết đưa đường Trường Sơn đến ngày tận thế
Nhưng sự thực không giản đơn như chúng nghĩ
Đoàn 559 vẫn đêm ngày bám đường không ngừng nghỉ
Từ phòng thủ chuyển sang chủ động tiến công
Mở thêm nhiều tuyến đường phụ, đường vòng
Năm 1967 lên 2.959 km đường ô tô thẳng tiến
Mặc kệ mưa bom xe vẫn nối nhau chạy ra tiền tuyến
Dưới lòng đất đường dẫn xăng dầu nhiều như nước biển
Từ Vinh, đến A Sầu(8) sang Lào đưa thẳng vào trận chiến


Tất cả vì miền Nam thân yêuta đồng lòng quyết tiến
Năm 1970 quân khu 559 chính thức được lịch sử ghi tên
Năm bộ tư lệnh khu vực với đủ loại quân thiện chiến
Chuyển dầu, chuyển hàng, mở đường và sẵn sàng đánh giặc
Kẻ thù lại điên cuồng mở nhiều chiến dịch
Commando Hunt, Igloo White(9) bắn phá bằng máy bay tiêm kích
Quần đảo bầu trời cùng chiến đấu B- 52
Dùng cả máy bay AC - 130 với kính ngắm hồng ngoại bên ngoài
Cả súng 40mm nhằm xe vận tải ban đêm phá hoại
Nhưng quân đội Việt Nam từ lâu đã đợi
Đáp trả kẻ thù bằng lực lượng pháo phòng không
Từ súng 37, 57 đến 100mm và tên lửa đất đối không SAM 2, SAM 7(10)
Máy bay quân thù thay nhau lộn nhào rực cháy
Giặc lái hoảng sợ bỏ chạy về phía Nam Lào
Tuyến giao thông mới được mở toang mà cứ ngỡ chiêm bao
800km “đường kín”(11) Trường Sơn ta đưa vào sử dụng
Xe ban đêm chuyển sang ung dung chạy ban ngày
Lính lái xe hả hê cười giòn như tiếng máy
Mặc kệ  tuyến “đường hở”(12) đêm ngày chúng vẫn dội bom như trút lửa
Bởi bị lừa toàn xe không, xe hỏng chạy nghi binh
Kẻ thù vẫn quyết tìm mọi cách chia cắt đội hình Việt Cộng
Bằng chiến dịch Lam Sơn 719 với 20.000 quân
Tiến đánh Sê Pôn và chặn đường Hồ Chí Minh
Nhưng người Việt Nam đã chuẩn bị kĩ đội hình
Chủ động tiến công với nhiều gọng kìm khép chặt
Đánh cho Mĩ, Ngụy thảm bại nặng nề, chúng oán hận nhìn về nhà trắng
Bởi ngày ra quân hung hăng nhưng không có ngày về
Kế hoạch thử nghiệmViệt Nam hóa chiến tranh biến thành trò hề đế quốc
 
Bộ đội vượt Tây Trường Sơn vào Nam chiến đấu qua sông Xê Băng Hiêng
trên đất bạn Lào lắm thác nhiều ghềnh

 
Xe của ta cứ băng băng tiến về phía trước
Hàng hóa ùn ùn nhằm thẳng hướng năm cửa ô
Bởi không chỉ có tây Trường Sơn mà đông Trường sơn được mở
Đường bốn làn, xe ầm ầm chạy như giông tố
Đường dẫn dầu cũng mở tiếp đến Lộc Ninh
Cung cấp nhiên liệu cho quân ta đang khát khao chờ ngày xung kích
Năm 1973 Bộ Tư Lệnh Trường Sơn tăng lên tám sư đoàn chính
Và một số trung đoàn trực thuộc thông minh
Cơ giới hóa từ đây và ta luôn luôn giữ vững đội hình
Xe nối xe mỗi tháng đưa 50.000 anh lính
Năm 1974 đông và tây Trường Sơn đã thành một hệ thống
Cộng thêm 130.000km2 hành lang đông - tây chiến lược
Nối liền hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường phía trước
Nhân tố chính góp phần thống nhất đất nước ngày một gần hơn

Gần 6000 ngày đêm bão lửa mưa bom
Đường vẫn thông bởi mười hai vạn người con
Hai mươi sáu trục đường hướng tới khắp các ngõ ngách Sài Gòn
Gần hai vạn km đường ô tô chạy bon bon không ngừng nghỉ
1.400km đường ống dẫn xăng dầu tìm về vị trí
Và 3.140 km “đường kín” rộng thênh thang cho xe đi
Cả hàng ngàn cầu cống ngầm cũng nhằm miền Nam hướng về
Quân ta chuyển được hơn một triệu tấn hàng và vũ khí
Đảm bảo hơn hai triệu lượt người hành quân không ngừng nghỉ
Vận chuyển 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn và 90 đơn vị

Để giải phóng miền Nam ta cũng chấp nhận thiệt hại nặng nề
Đường mòn Hồ Chí Minh phải hứng chịu khoảng 733.000 chuyến máy bay lao về đánh phá
Gần bốn triệu tấn đạn bom làm rừng Trường Sơn nghiêng ngả
Hơn hai vạn bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông hi sinh để quyết giữ vững con đường
Hơn ba vạn người làm nhiệm vụ bị thương
Hơn 700 khẩu pháo bảo vệ đường mòn hư hỏng
Gần 14.500 xe - máy các loại bị phá không còn hoạt động
Hơn 90.000 tấn hàng bốc cháy vì đạn bom…

Nhưng kẻ thù vẫn bất lực trước con đường huyền thoại Trường sơn
Vẫn cúi đầu trước đất nước Việt Nam nhỏ bé
Vẫn lủi thủi mang xác nhau trở về quê mẹ
Vẫn đêm đêm kinh hãi kể về người Việt Nam cho con cháu mình nghe
Trung đoàn 6 công binh anh hùng Bộ đội Trường Sơn trong nhiệm vụ mở đường lớn bằng phương tiện cơ giới chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng công kích mùa Xuân 1975.Trung đoàn 6 công binh anh hùng Bộ đội Trường Sơn trong nhiệm vụ mở đường lớn bằng phương tiện cơ giới chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng công kích mùa Xuân 1975.

Chiến tranh đã xa chúng ta hơn nửa thế kỉ
Đất nước bình yên áo trắng đến trường
Các em mới hiểu Tổ quốc mình qua sách báo, văn chương
Được nghe thầy, cô giảng về mười cô gái ngã ba Đồng Lộc
Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Những ngôi sao xa xôi
Mảnh trăng cuối rừng, Khoảng trời hố bom… và còn nhiều hơn thế nữa
Tất cả các chàng trai, cô gái chỉ hơn các em vài tuổi
Vai khoác súng miệng cười tươi rạng rỡ
Hồn nhiên, lãng mạn mà cũng vô cùng nghịch ngợm
Tình yêu gửi vào những cái nhìn lúng liếng
Chưa một lần chạm đến những nụ hôn
Nhưng già dặn và tỉnh táo trước đạn bom
Họ là những vị thần bảo vệ con đường mòn bất tử
Khiến cho quân thù kinh hồn bạt vía
Luôn sát cánh bên nhau, nặng sâu tình đồng chí
Ở lại Trường Sơn mãi mãi không về

Đường mòn Hồ Chí Minh ngày nay đã khác ngày xưa
Đại ngàn Trường Sơn chưa bao giờ xanh hơn thế
Nhiều địa điểm đã hóa thân thành lịch sử
Nhiều tuyến đường xuyên Việt, nhiều công trình thủy điện nối tiếp mọc lên
Nhiều loài hoa lại nở trên những hố bom…

Huyền thoại Trường sơn - Ơi lịch sử con đường mòn!
Đã giúp ta thấu hiểu cái giá của tự do - độc lập
Những người được sống và những người đã khuất
Vẫn một hướng đồng hành… tất cả vì cuộc sống trẻ thơ
Dù ngồi trên ghế nhà trường hay bước vào đời thường các em hãy nhớ
Dân tộc Việt Nam một thời sống cùng mưa bom bão lửa
Có thể những người làm nên dáng hình xứ sở sẽ dần dần không còn nữa
Nhưng các em đừng bao giờ lãng quyên lịch sử những ngày xưa.
CHÚ THÍCH:
 (1): Cán xoong(1): 5 khu căn cứ lớn trong vùng Cán xoong của Lào.    
 (2): ác điểu(2):   chỉ các loại máy bay của Mĩ
 (3): B. Johnson(3): Tổng thống Mĩ:  Lyndon B. Johnson.
 (4): Barrel Roll, Steel Tiger, Tiger hound, Sấm Rền(4): Các chiến dịch ném bom của Mĩ nhằm phá hoại tuyến đường Trường Sơn.
 (5): Popeye(5): Dự án Popeye là một cố gắng nhằm kéo dài vô hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây.
 (6): Commando Lava(6): Các nhà khoa học ở công ty Dow Chemical đã chế tạo một dung dịch hóa học mà khi trộn với nước mưa sẽ phá hủy tính ổn định của các thành phần của đất và tạo ra bùntrên tuyến đường Trường Sơn.
 (7) CIA, thám báo Lào, bí mật SOG(7): Các tổ chức tình báo, thám báo của Mĩ.
 (8): A Sầu(8): thung lũng A Sầu, thuộc địa phận tỉnh Thừa ThiênNam Việt Nam.
 (9): Commando Hunt, Igloo White(9): Chiến dịch ném bom và do thám, đặt máy nghe trộm, và đánh giá thiệt hại do bomcủa Mĩ.
 (10): SAM 2, SAM 7(10):Tổ hợp tên lửa phòng khôngđược quân đội Việt Nam sử dụng để tiêu diệt máy bay của Mĩ.
 (11): “đường kín”(11): Để đối phó với máy bay AC-130, tháng 2 năm 1972, một tuyến "đường kín" dài 800 km hoàn thành và bắt đầu đưa vào sử dụng. Trên tuyến này, xe chạy dưới tán rừng già, chạy hoàn toàn vào ban ngày để tránh bị máy bay phát hiện.
 (12): “đường hở”(12): Tuyến đường Trường Sơn bị Mĩ phát hiện từ trước và thực hiện việc ném bom phá hoại.
Tác giả: Trần Thanh Hương/THCS Sông Lô 
hung xe truong son lai xe duoi mua bom bao dan hinh 1
GIỚI THIỆU TẢN MẠN VĂN
VỀ CÁC VĂN NGHỆ SỸ TRƯỜNG SƠN
         “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, Bộ đội Trường Sơn đã đóng góp to lớn, quan trọng góp phần kết thúc vẻ vang sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đóng góp vào chiến công to lớn và vẻ vang ấy của Bộ đội Trường Sơn – một đơn vị binh chủng hợp thành đặc biệt của quân đội ta - có đóng góp đầy ý nghĩa của đội ngũ hùng hậu những chiến sĩ hoạt động văn học nghệ thuật Trường Sơn. Đó là các chiến sĩ nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các họa sĩ, các chiến sĩ văn công, tuyên văn…công tác tại các binh trạm, sư đoàn, các đơn vị  binh chủng của Trường Sơn. Các tác phẩm của họ, những hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật của họ đã trực tiếp cổ vũ, động viên tinh thần quyết chiến, quyết thắng cho cán bộ chiến sĩ; góp phần hun đúc, xây dựng nên phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Trường Sơn, giúp họ vượt qua mưa bom, bão đạn, vượt qua muôn vàn thủ đoạn tàn độc của kẻ thù, vượt qua sự khắc nghiệt của đại ngàn Trường Sơn, để xây dựng nên một Trường Sơn anh hùng và huyền thoại, hoàn thành xuất sắc chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam và cách mạng của 3 nước Đông Dương.
         Lực lượng hoạt động văn học nghệ thuật của Hội Trường Sơn Việt Nam sau năm 1975 và hôm nay đã và đang kế thừa, phát huy mạnh mẽ sức mạnh của một “binh chủng” đặc biệt này của Trường Sơn. Để tập hợp lực lượng hội viên làm công tác văn học nghệ thuật trong một tổ chức chuyên ngành nhằm phát huy sức mạnh trong công tác tuyên truyền, giáo dục; đáp ứng nguyện vọng của những chiến sĩ Trường Sơn làm văn học nghệ thuật, Ban Thường vụ Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam đã quyết định thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn. Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn là một tổ chức chuyên ngành trực thuộc, chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Hội Trường Sơn Việt Nam.
         Việc thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn không chỉ đáp ứng nguyện vọng của những chiến sĩ - văn nghệ sĩ Trường Sơn mà còn thể hiện tầm nhìn và sự phát triển về tổ chức của Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam. Việc ra đời của Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn hôm nay không chỉ là một bước phát triển mới tập hợp và phát triển lực lượng hội viên đặc thù của Hội Trường Sơn Việt Nam, mà còn mở ra những điều kiện mới cho các hội viên làm công tác văn học nghệ thuật phát huy tiềm năng, trí tuệ, tiếp tục có những sáng tạo mới, góp phần tôn vinh hình ảnh Trường Sơn, hình ảnh xây dựng và phát triển Hội trong cuộc sống hôm nay.”.
         Trước thềm Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn - Một sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa này. Ngược dòng Lịch sử - Ban biên tập Trang Thông tin và Bản tin Trường Sơn xin trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí và bạn đọc bài tản mạn văn, lược về những văn nghệ sỹ một thời “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” - Bài viết có tựa đề “ Tản mạn về các văn nghệ sỹ Trường Sơn” của tác giả Phùng Văn Khai. Xin trân trọng
         Ban Biên tập
Ảnh 
Nữ Thanh niên xung phong san lấp hố bom

Tản mạn về các văn nghệ sĩ Trường Sơn
Phùng Văn Khai
         Đã 50 năm kể từ ngày thượng tá Võ Bẩm được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn đánh Mỹ. Từ con đường giao liên gùi thồ, mang vác ban đầu đã dần dần hình thành Tuyến đường vận tải chiến lược ngang dọc hàng chục nghìn ki lô mét với hàng chục vạn con người, phương tiện cơ giới vừa đánh địch, vừa mở đường và hôm nay đã trở thành “Đại lộ Hồ Chí Minh” xuyên suốt Bắc – Nam, cùng đất nước hướng tới một tương lai giàu mạnh.
         Trong trùng trùng đội ngũ Bộ đội Trường Sơn, có một binh chủng đặc biệt, đó là binh chủng Văn nghệ sĩ. Trong một bài viết, chúng tôi không thể thống kê hết những con người và tác phẩm của binh chủng đặc biệt ấy mà chỉ điểm xuyết phần nào những thành tựu, kỷ niệm, suy tư ngẫm ngợi của một số nhà thơ, nhà văn trong đội ngũ văn nghệ sĩ Trường Sơn.

         Mãi còn “Dấu chân người lính”

         Một trong những nhà văn sáng tác thành công, có nhiều tác phẩm về Trường Sơn là Nguyễn Minh Châu (ảnh trên). Cũng phải khẳng định ngay rằng, ngòi bút Nguyễn Minh Châu là ngòi bút hiện thực. Những sáng tác đặc sắc của Nguyễn Minh Châu phải là ở thời kỳ sau này với những: “Khách ở quê ra”, “Phiên chợ Giát”, “Bức tranh”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” mới biểu hiện rõ ràng nhất tài năng văn chương của ông, nhưng mảng sáng tác về Trường Sơn cũng là một mảng lớn trong sự nghiệp của nhà văn. Ông luôn tâm niệm: Không có đời sống thì không có tác phẩm văn học.

          Không ồn ã như các nhà văn cùng thời. Lặng lẽ có phần khiêm cung, người con của làng Thơi, của những chợ Ngò, chợ Giát hóa ra lại là người sớm có mặt ở Trường Sơn. Thậm chí chỉ bằng vào truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng đã đủ thấy tài năng và tâm huyết của Nguyễn Minh Châu với con đường huyền thoại. Lứa tuổi học trò nhiều thế hệ, các sinh viên hôm nay và mai sau hẳn trong tâm hồn luôn thấm đẫm một mảnh trăng cuối rừng ngân nga như một sợi chỉ xanh đọng lại trong tâm hồn mình. Cái cách đi thực tế, cái cách đến với bộ đội Trường Sơn của Nguyễn Minh Châu cũng rất lạ lùng. Và cuối cùng là tác phẩm, cái căn cốt làm nên một nhà văn ở Nguyễn Minh Châu cũng không giống bất cứ ai. Ông là một nhà văn Trường Sơn đặc biệt với những Dấu chân người lính, Những người đi từ trong rừng ra, Những cánh rừng đầy giấy bay đã ăn sâu bám rễ đối với mỗi cán bộ chiến sĩ và nhân dân khi nhắc về kháng chiến chống Mỹ.
Chỉ có Nguyễn Minh Châu mới có những ứng xử vẻ ngoài lặng lẽ đến ngu ngơ nhưng vô cùng sắc sảo trong văn chương và cũng ông, với mẫn cảm nghề nghiệp đặc biệt của mình, đã có những dòng viết đầy tâm trạng về những người lính, trong đó có những người lính Trường Sơn:

         … Những người đồng đội từ trong các cánh rừng chiến tranh gần trong gang tấc bước ra và đến ngồi bên tôi kia bao giờ cũng mang một dáng vẻ vừa hư vừa thực. Họ đứng một chân ngoài cuộc đời và một chân đứng trên trang giấy. Các đồng chí có biết cái ngỡ ngàng này mà bất cứ một nhà văn nào đã từng nhiều lần cảm thấy khi đọc một bài phê bình nhận xét nhân vật của mình: anh sực nhớ ra những ai ngoài đời, những ai bằng xương bằng thịt đã làm nên cái cốt lõi, cái bắt đầu cho trí tưởng tượng và sự phóng đại.
         Nhưng đời sống trong những khu rừng mà cả nhân dân ta đến làm tổ, từ đó trong hàng chục năm làm chỗ đi và về cho việc đánh giặc, lại có những người lính chỉ biết im lặng, cứ lùi lụi phát rẫy, đào hầm làm lán và đánh giặc, không hay nói, không thạo nói, chỉ biết đỏ mặt và ngượng, họ quen im lặng như đất cát, họ là số đông các anh em bộ đội mình ra đi từ các làng quê bình dị và khiêm tốn. Họ từ đồng ruộng quê hương đến với rừng như một kẻ xa lạ và ra đi như một người thân thuộc, sau khi để lại cả một thời trai tuổi trẻ.

         Địa dư nước ta hình thành nên một hình thể như thế nào đó, mà mỗi lúc Tổ quốc đứng trước nạn ngoại xâm là nhân dân ta nghĩ ngay đến con cái đang lặn lội trên rừng.

         Vạt áo nhà văn làm sao đựng hết chữ nghĩa trong cái lẽ sống quên mình mà bộ đội ta đã viết nên trong các cánh rừng Trường Sơn trước đây và cả các miền rừng Tây Nam và biên giới phía Bắc bây giờ?

         Mỗi lúc nhớ đến đời sống của bộ đội ta, trong những năm chiến tranh, tôi lại suy nghĩ đến ở đâu đó trên một chặng đường miền tây Trường Sơn. Sau một trận bom, chúng tôi đi qua một cánh rừng toàn cây cà boong, một loại cây có dầu, đang cháy rừng rực giữa trưa nắng và trong nắng, lửa và khói cứ bay cuộn lên những tờ giấy trắng. Hình như bom địch vừa đánh trúng một kho giấy giữa rừng. Cứ đi qua khu rừng cháy, mãi đến sẩm chiều ngày hôm sau, vẫn thấy những tờ giấy như đang bay đuổi theo, có những tờ đã cháy mất nửa. Những tờ giấy phơi cái mặt trắng giữa trời xanh hoặc đang nằm lẫn trong cỏ, trên nền rừng. Tất cả các tờ giấy ấy chỉ nằm chờ chúng tôi, những nhà văn viết về chiến tranh, đến nhặt lấy...

         Tản mạn cùng các nhà thơ, nhà văn trong đội ngũ văn nghệ sĩ Trường Sơn luôn cho thế hệ trẻ chúng tôi, đặc biệt là những người cầm bút một niềm tin và bản lĩnh. 55 năm Bộ đội Trường Sơn cũng đang hình thành những người viết trẻ tiếp bước thế hệ đi trước viết về Trường Sơn, tiếp tục góp vào dòng chảy mạnh mẽ của văn học Việt Nam hiện đại 

          Gặp “Người mở rừng”

         Một nhà văn chính hiệu Trường Sơn – 559 là nhà văn Lê Lựu với cuốn sách viết trực diện về những người lính mở đường Trường Sơn thời ấy, đó là tiểu thuyết Mở rừng. Cũng ít ai biết rằng thời gian đó, ông đã có lần tháp tùng nhà văn đàn anh Nguyễn Minh Châu đi thực tế ở Trường Sơn, đi cắp tráp học thầy. Vào Trường Sơn, đi bám sát các trận đánh, bám sát dân công, bộ đội hành quân. Lê Lựu hớn hở ghi ghi chép chép đặc kín các quyển sổ mà chẳng thấy ông anh động tĩnh gì. Nhiều ngày, nhiều chuyến đi diễn ra liên miên ở Trường Sơn như thế. Lê Lựu ngạc nhiên thắc mắc nhưng không dám hỏi, lại càng không dám giục ông anh ghi chép. Không ít lúc, ông anh cứ khìn khịt ngủ trên võng, mặc kệ những ồn ào náo nhiệt đang diễn ra ở xung quanh. Thế mà thật lạ lùng, khi trở về, những gì Lê Lựu ghi chép cẩn thận lại không đưa được vào các tác phẩm một cách sống động. Nó rời rông rổng, nhăn nhở cười gã phù thuỷ non tay quyết và còn lạ lùng hơn nữa khi những gì ghi chép tỉ mỉ ở trong sổ của mình không biết bằng cách nào lại vào những trang văn của bậc đàn anh nhuần nhuỵ, sâu sắc và ám ảnh.

         Bây giờ, mỗi khi nhắc đến những ngày tháng sống ở Trường Sơn cùng với các chiến sĩ công binh mở đường, những cô gái thanh niên xung phong tinh nghịch, những anh bộ đội lái xe vui tính và đặc biệt là những cô văn công Trường Sơn, Lê Lựu luôn hấp háy cặp mắt, tay vò vò những lọn tóc xoăn vô tổ chức trên đầu. Trong sáng tác của Lê Lựu về Trường Sơn có không ít cảnh mô tả đầy hăm hở về những nhân vật ấy, thậm chí còn đậm đặc hơn cả bom đạn, thứ vốn nhiều như châu chấu không ngày nào không trút xuống như mưa ở những cánh rừng. Dường như bây giờ, Lê Lựu vẫn chưa thoát ra khỏi những cánh rừng đầy bom đạn. Trong tất cả các cuộc tôn vinh doanh nhân gần đây do Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam, nơi ông làm giám đốc tổ chức thì ưu tiên số một của những tiết mục diễn trên sân khấu luôn mang đậm những dấu ấn về Trường Sơn. Thậm trí có chương trình không liên quan một mảy lính tráng nào vẫn cứ ăm ắp không khí Trường Sơn khói lửa. Đã có người cho rằng Lê Lựu đang Trường Sơn hóa các chương trình do ông tổ chức.

         Anh em văn nghệ sĩ từng một thời chiến đấu hoặc đang sáng tác về Trường Sơn luôn tìm tới Lê Lựu, đặc biệt mỗi khi có các trại sáng tác văn học về Trường Sơn bao giờ ông cũng xung phong tiến lên hàng đầu. Trong trái tim ông, những gì của Trường Sơn hôm qua và hôm nay, huyền thoại và hiện thực luôn luôn thôi thúc và hình thành một lẽ ứng xử trong đời sống. Lê Lựu là người sống rất nội tâm, có không ít lúc ông cũng rơi vào những hố thẳm thị phi của cuộc mưu sinh thường nhật, nhưng những cái níu ông trở lại, cân bằng đời sống nội tâm của ông bao giờ cũng là những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn. Trong tiểu thuyết Mở rừng, những điểm chính cuốn sách đặt ra đã phần nào bao quát và giải quyết những vấn đề nội sinh của công cuộc Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Cuốn sách không phải đặc sản của Lê Lựu nhưng rõ ràng nó không thể thiếu trong đời văn của ông hay nói cách khác là không có Mở rừng thì bất thành Lê Lựu.

         Trong thực tế đời sống, những lúc còn lại một mình trong im lặng, thường Lê Lựu nhớ và nghĩ nhiều đến những cánh rừng, điều này, chỉ những ai thật tinh ý và gần gũi ông mới thấy rõ. Có những lúc ông như dõi nhìn về nơi nào xa lắm, phía những đồng đội đã khuất, đã mãi mãi nằm trong bạt ngàn rừng thẳm, đã như không biết rằng nơi xa kia, nơi vùng biển vùng đồi, những người mẹ chờ con, những người vợ chờ chồng đang dần dần già đi, nhiều người đã mất, đã trở về với đất, đến với cuộc đoàn tụ những không phải ở cõi dương gian. Những lúc ấy, nhà văn Mở rừng không còn cái tính hăm hở, băm bổ thường ngày, ông như đang đánh mất một cái gì lớn lắm. Những mất mát ấy dường như ông đã biết khi còn ở trong rừng nhưng không tài nào cưỡng được điều ghê gớm ấy. Điều này giải thích tại sao nhà văn Lê Lựu ngày càng thâm trầm, im lặng trong chính cuộc sống của mình.

          Nhớ “ Con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”

         Nhắc đến đội ngũ văn nghệ sĩ Trường Sơn không thể không nhắc đến nhà thơ Phạm Tiến Duật, con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại, một nhà thơ của bộ đội Trường Sơn mà ai cũng biết. Ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức năm  1969 với chùm thơ viết về Trường Sơn: Gửi em cô thanh niên xung phong, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Lửa đèn, Nhớ, sau đó là các tập thơ: Vầng trăng quầng lửa (1970), Thơ một chặng đường (1971). Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi với nhà thơ Đỗ Trung Lai, người được Hội Nhà văn Việt Nam và gia đình tín nhiệm giao cho làm Toàn tập Phạm Tiến Duật vừa hoàn thành, ông cho biết: Có nhà thơ gọi anh Duật là Người lĩnh xướng của dàn thơ chống Mỹ (Vương Trọng). Nhiều người viết: Đường Trường Sơn - Đường thơ Phạm Tiến Duật (Thiếu Mai, Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Suyền…). Có người bảo, anh là một Danh nhân Trường Sơn, bên cạnh các danh nhân - anh hùng khác của Trường Sơn. Có những chuyện về anh, về thơ anh đã trở thành huyền thoại: Một đơn vị nhỏ bị vây lấn trên đồi, chịu bao nhiêu ác liệt và thiếu thốn, khi được vô tuyến cấp trên hỏi, các anh cần gì nữa để giữ chốt, họ đã trả lời: “Chúng tôi chỉ cần thêm thơ Phạm Tiến Duật!”. Và đồng đội bên ngoài đã nhồi thơ Phạm Tiến Duật vào đạn cối để bắn lên chốt cho họ!

         Có những người vào Trường Sơn công tác, giữa bốn bề thiếu thốn, nhưng chỉ vì biết anh Duật và nhớ được mấy câu thơ, mấy bài thơ của anh mà lập tức trở thành khách quý, thành người nhà của bộ đội, của thanh niên xung phong Trường Sơn và được chăm sóc, nuôi nấng đặc biệt!

         Hầu như không một cán bộ, chiến sĩ quân đội hay một người thanh niên xung phong nào không thuộc ít dòng thơ, ít bài thơ của Phạm Tiến Duật. Rất nhiều người làm thơ thời ấy đã làm thơ theo “kiểu Phạm Tiến Duật” và chỉ những người có bản lĩnh thơ cao, sau này mới “thoát” ra được!

         Rồi từ “tâm chấn” Trường Sơn, những Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong, Nhớ, Tiếng bom ở Seng Phan, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Trường Sơn đông – Trường Sơn tây, Nghe hò đêm bốc vác, Qua cầu Tùng Cốc, Nghe em hát trong rừng, Tiếng cười của đồng chí coi kho, Đèo Ngang, Ngãng thân yêu, Vầng trăng và những quầng lửa, Những mảnh tàn lá, Người ơi người ở, Đi giữa vùng giải phóng Lào, Theo bước chân của trẻ em Lào, Rừng tre và tiếng kẹt cửa, Nhớ lại những trận gió di dân v.v… đã làm nên làn “sóng chấn động” thứ nhất trong lòng người đọc.

         Những Áo của hôm nào người của hôm nay, Nhớ đồng ca hát đồng ca, Chuyện tình, những trích đoạn bài thơ dài Những vùng rừng không dân v.v… lại là làn “sóng chấn động” thứ hai.

         Những Luật chơi, Cây tháp nước bỏ hoang, Chợ lao động ở Giảng Võ, Tôi mơ một con đường cao tốc, Tiễn các cháu đánh giầy về quê ăn Tết, Có mùa xuân cho tất thảy không,… và đặc biệt, trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa, lại là làn “sóng chấn động” thứ ba của anh.

         Có thể khẳng định, trong làn sóng thứ ba của anh, lòng người thơ Trường Sơn, tình người thơ Trường Sơn, trí người thơ Trường Sơn luôn bùng dậy, xuyên suốt những bối rối, ân hận, đau đớn, cay đắng, thương cảm, xót xa như “đoạn trường”, như ai cắt cứa thân thể và trái tim mình vậy: Nhưng tại sao, tại sao họ lại đi tu?- Những đồng đội của anh, của tôi tại sao lại thế?- Chẳng lẽ trong trái tim chúng ta, chẳng lẽ- Không còn chỗ nào cho đồng đội nữa hay sao… - Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm- Sao quá nửa đêm rồi vẫn chưa đi ngủ- Sao sư thầy không gõ mõ- Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình- Có thể nào những day dứt thời bình- Cũng làm cho vết thương ngày xưa tái phát?

         Viết hàng ngàn dòng một cách tư biện, sao bằng dùng ngòi bút mà xướng lên từng niềm vui trên gương mặt và trong tâm hồn đồng đội, đồng bào, đồng chí một cách trong cuộc, trực tiếp, trực diện như thế? sao bằng dùng ngòi bút để chìm xuống, thâm tím cả đi, để đớn đau cùng số phận đồng đội, đồng bào, đồng chí một cách trong cuộc, trực tiếp, trực diện từ “hiện thực gốc”, như thế?

         Đó cũng là bản lĩnh và tài năng của con chim lửa Trường Sơn huyền thoại trong thời bình. Anh không chỉ là gương soi của tuổi trẻ Trường Sơn, tuổi trẻ chống Mỹ, mà càng đọc anh càng rõ, còn là lương tâm và tình bạn, tình yêu của những người viết trong thời đại mình.

         Gặp “Người làm ra cổ tích”

         Trả lời các một số câu hỏi của chúng tôi, họa sĩ, nhà thơ Trần Nhương cho biết: Hồi chiến tranh ở quân binh chủng nào cũng hình thành một đội ngũ tác giả trẻ. Thí dụ như quân chủng Phòng không - Không quân có Lưu Quang Vũ, Đỗ Chu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trí Huân, Dương Duy Ngữ, Nguyễn Đình Ảnh… Ở Trường Sơn cũng vậy. Rất nhiều tân binh có học vào Trường Sơn và chính họ đã thấm đẫm trong thực tế chiến đấu mà viết văn. Đội ngũ từ Trường Sơn sinh ra có Phạm Tiến Duật, Lê Lựu, Lê Minh Khuê, Khuất Quang Thụy, Phạm Hoa, Nguyễn Duy, Trần Nhương, Nguyễn Thụy Kha, Quang Chuyền, Trọng Khoát (văn chương), Hoàng Đình Tài, Đức Dụ, Bùi Quang Ánh… (họa sĩ), Hoàng Kim Đáng, Vương Hồng… (nhiếp ảnh). Một số lớn tác giả vào Trương Sơn và đã cho ra đời nhiều tác phẩm như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Như Trang, Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Xuân Sách, Phạm Ngọc Cảnh, Ngô Văn Phú… các nhạc sĩ Huy Du, Huy Thục, Vũ Trọng Hối, Trọng Loan, Tân Huyền, Hoàng Hiệp, Trần Chung, Nguyên Nhung… Nhiều tác phẩm về Trường Sơn đến bây giờ vẫn được người đọc yêu mến. Có thể nói chính họ đã làm nên diện mạo văn chương chống Mỹ.

          Đường Trường Sơn không chỉ của những người chiến sĩ Trường Sơn, đó là con đường giải phóng dân tộc, của tất cả mọi người nên được các văn nghệ sĩ sáng tác khá nhiều. Ai vào chiến trường mà không qua Trường Sơn. Con đường đi có khi đến hai, ba tháng đã là một cuộc thử thách, một thực tế sinh động và gian nan. Nhiều tác phẩm như Dấu chân người lính, Đường trong mây, Mở rừng, Khoảng sáng trong rừng, Vầng trăng quầng lửa, Mảnh trăng cuối rừng, Cao điểm mùa hạ… là một phần diện mạo của văn chương Việt Nam hiện đại. Văn học về chiến tranh, về người lính là nét riêng của văn chương Việt Nam. Tôi tin rằng mảng đề tài này các thế hệ cầm bút sẽ còn viết tiếp. Biết đâu những người không tham gia chiến tranh lại viết về chiến tranh, về Trường Sơn hay hơn.

         Trong chiến tranh và thời gian sau tôi vẫn viết về Trường Sơn. Năm 2008, tôi xuất bản trường ca Người làm ra cổ tích viết về Trường Sơn. Nhưng phải thú thật rằng trong thời buổi kinh tế thị trường thì khó lòng ngồi viết về chiến tranh mãi. Việc này tôi nghĩ cần có chính sách đầu tư hợp lý. Vừa qua, Bộ Quốc phòng có chương trình Đầu tư sáng tác văn học về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng là một việc làm rất cần thiết và động viên kịp thời người cầm bút. Tôi viết được trường ca ấy chính cũng nhờ sự giúp đỡ quý báu của chương trình.

         Chúng tôi vừa trở lại Trường Sơn nhưng chưa đi được nhiều. Chuyến đi như một động tác đánh thức những cảm xúc về thời chiến tranh, về con đường huyền thoại. Chúng tôi ai cũng có những ấp ủ sáng tác về Trường Sơn đợt này. Theo thông lệ, mỗi khi đến dịp kỷ niệm, lễ trọng các cơ quan chức năng thường tổ chức đi thực tế. Kiểu làm này cũng mang tính thời vụ. Cần có một kế hoạch lâu dài và tập trung cho một số văn nghệ sĩ có nhu cầu tập trung sáng tác về Trường Sơn.

         Tôi ước ao những người lính, thanh niên xung phong, những người nhiễm chất độc màu da cam đang chịu rất nhiều thiệt thòi được xã hội chăm sóc họ tốt hơn. Nhiều người chưa được hưởng một quyền lợi gì. Trên con đường Trường Sơn bây giờ đã mở rộng to đẹp mất dần dấu tích Trường Sơn năm xưa. Phải chăng ta nên xây dựng một số tượng đài, bia kỷ niệm phục dựng lại hình ảnh đường ống xăng dầu từng chạy suốt từ Lạng Sơn đến Bù Gia Mập (Tây Ninh) là một kỳ tích mà bây giờ gần như không còn dấu vết gì. Hãy bảo tồn những giá trị của Trường Sơn. Nếu có một dự án nào đó đầu tư, mua lại những tác phẩm về Trường Sơn, thì chúng ta sẽ có một “ngân hàng” các tác phẩm về chiến tranh, về Trường Sơn. Còn nếu cứ manh mún, cứ thả nổi thì càng ngày càng khó có tác phẩm lớn. Những người qua chiến tranh dần dần vắng bóng và họ mang sang những trăn trở sang thế giới bên kia. Hãy dành sự ưu ái cho việc khai thác vỉa quặng lớn này./.
Ảnh
Các đội viên Thanh niên xung phong Hà Nội N43 đang mở đường tại Trường Sơn năm 1967

Đường Trường Sơn - Con đường huyền thoại và thi ca

Thứ 5, 29/05/2014 | 14:36:31
10,526 lượt xem
Cách đây 55 năm, nhằm chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự. Từ đó, Đoàn 559 ra đời cùng với con đường mòn dọc rừng Trường Sơn mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đường Trường Sơn năm xưa. Ảnh tư liệu
Từ một cái nhìn khái quát, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định rằng: “Đường Trường Sơn đến mùa Xuân năm 1975 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi huy hoàng, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu” (Lời  Cố Thủ tướng nói với Bộ đội Trường Sơn 2/9/1975).
Đường Trường Sơn và núi rừng Trường Sơn trở thành nơi hội tụ của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí và là nơi thử thách cao nhất của phẩm chất con người: “Trường Sơn vượt núi băng rừng/ Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa/ Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu).
Các thế hệ người lính, các văn nghệ sĩ cùng lên đường đi qua Trường Sơn vào Nam đánh giặc. Bên cạnh những nhà thơ thuộc thế hệ thời kỳ chống Pháp như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Giang Nam…, xuất hiện một thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong chống Mỹ như Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Vương Linh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh… Những người cầm bút hai thế hệ này đã từng đến Trường Sơn hoặc là những người sống, bám trụ nơi ác liệt này suốt thời kỳ đánh Mỹ và họ đã có những bài thơ về Trường Sơn. Đồng thời với tư cách là những nhà lãnh đạo chính trị quân sự, một số người như Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Đặng Tính cũng đã thể hiện những tình cảm của mình với núi rừng Trường Sơn và những con người chiến đấu bảo vệ đường Trường Sơn. Trường Sơn là một đề tài, một đối tượng thẩm mỹ để các văn nghệ sĩ hướng đến sáng tác.
Đường Trường Sơn là đường ra trận, là con đường rất gian khổ, khốc liệt mà chúng ta từng đổi từng thước đường, cung đường bằng biết bao nhiêu xương máu của những người ngã xuống. Nơi này, đế quốc Mỹ rải thảm B52, phun chất độc điôxin để hủy diệt màu xanh, bom đạn dày đặc, chi chít: “Vết đạn cày lên vết đạn/ Hố bom chồng lên hố bom/ Đất nào đất đỏ hơn/ Cây nào cây sống nổi/ Tưởng con chim cũng không bay qua khỏi/ Cá chết trôi nổi, trắng cả dòng” (Nơi đây là túi bom - Vương Linh).
Cát bụi đường Trường Sơn cũng là một thử thách đối với con người. Mỗi làn xe qua, quân qua là đỏ rực bụi đường: “Ai qua đèo Trường Sơn/ Không nếm mùi cát bụi/ Cứ mỗi chiếc xe qua/ Bụi tung lên từng khối/ Mù mịt một góc trời” (Bụi Trường Sơn - Lê Đức Thọ). Bụi làm đỏ cả lá rừng cũng là hiện thực nhưng rất nên thơ. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã mô tả cái chất thơ của “lá đỏ”: “Gặp em trên cao lộng gió/ Rừng lạ ào ào lá đỏ… Đoàn quân vẫn đi vội vã/ Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa” (Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi).
Nhà thơ Tố Hữu vẽ nên bức tranh đường Trường Sơn thật hiện thực: “Xe lao qua dốc đồi/ Gió tây giội lửa ồi ồi sau lưng/ Bụi bay, bụi đổ lá rừng/ Mịt mù lối cát, kín bưng đường hầm” (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu).
Ở Trường Sơn, sự sống chỉ được tính từng phút, từng giây, nhưng những người bám trụ ở đây vẫn thanh thản, hồn nhiên trong điếu thuốc, tiếng cười: “Ở đây sống tính từng giây/ Vẫn say từng giấc ngủ ngày bom rơi/ Ngủ rồi, thức dậy, thêm vui/ Rít say điếu thuốc, tiếng cười giòn tan. (Nơi đây là túi bom - Vương Linh).
Đường Trường Sơn - đường ra trận, không chỉ có máu và nước mắt mà còn có cả niềm vui và tiếng hát, tiếng cười của những người: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu).
Từ Ngọn đèn đứng gác đơn sơ, Chính Hữu đã nâng lên tầm khái quát lịch sử: “Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt/ Như những tâm hồn không bao giờ tắt... Như cả nước/ Với miền Nam/ Đêm nào cũng thức…” (Ngọn đèn đứng gác). Và, Trường Sơn thuở ấy đâu chỉ có đạn bom, chết chóc, tro bụi mà còn có những thời khắc nên thơ, như là những minh chứng đẹp đẽ cho tâm hồn người lính: “Cả một mùa xuân theo bóng xe/ Cánh trắng cánh vàng đậu vào tay lái/ Nhớ quê hương đâu có thể quay đầu lại/ Ép một con bướm Trường Sơn mà gửi thư về” (Bướm Trường Sơn - Chế Lan Viên). Cũng như, giữa sục sôi bom lửa chiến trường, dưới mái tăng (được ví là bầu trời vuông) người lính chợt trở nên mơ mộng: “Mặt trời là trái tim anh/ Mặt trăng vành vạnh là tình của em/ Thức là ngày, ngủ là đêm/ Nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa” (Bầu trời vuông - Nguyễn Duy).
Đồng thời, tình yêu lứa đôi cũng hòa vào trong tình yêu Tổ quốc, đất nước và tình cảm quốc tế. Những câu thơ Phạm Tiến Duật chan chứa chất trữ tình lãng mạn: “Từ bên em đưa sang bên nơi anh/ Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận/ Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn (Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây - Phạm Tiến Duật).
Chúng ta mở đường Trường Sơn từ thuở “con nai vàng ngơ ngác” và mở “theo dấu voi đi” (Thép Mới). Đó là con đường huyết mạch, con đường niềm tin và chiến thắng: “Ôi con đường vĩ đại của niềm tin/ Một lối nhỏ xuyên  rừng thành đại lộ/ Trên trái đất, trên trăm ngàn biến cố/ Những thế hệ Việt Nam lớp lớp lên đường” (Hành quân trên đường Hồ Chí Minh - Bùi Minh Quốc).
Trên con đường Trường Sơn, lớp lớp các thế hệ con người Việt Nam ra trận, hướng về miền Nam với niềm tin sắt đá là giải phóng quê hương. Đến Trường Sơn là để hiểu được mình và sức mạnh của dân tộc. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh cũng là con đường dẫn đến tương lai: “Con đường dẫn đến/ Những miền yêu thương (Trong đời đẹp nhất - Nguyễn Bao).
Và đi trên đường Trường Sơn như đi vào trẩy hội. Đó là nơi gặp gỡ, hội tụ niềm tin và sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam. Con đường tỏa đi trăm ngả, nhưng đích đến cuối cùng là miền Nam: “Lớp trước qua rồi để lại lối cho em/ Cả nước ra quân, Trường Sơn mở hội/ Gặp ngã ba, em cứ đi không cần phải hỏi/ Đường Trường Sơn trăm lối dẫn em về Nam (Đường lên Trường Sơn - Vũ Thuộc).
Những chiến sĩ trên đường Trường Sơn; bộ đội công binh, pháo binh, bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, lái xe..., tất cả giữ vững con đường góp phần làm nên chiến thắng mùa xuân 1975 lịch sử. Đánh giá sự đóng góp của Bộ đội Trường Sơn vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc, đồng chí Lê Duẩn viết: “Vinh quang thay Bộ đội Trường Sơn anh hùng đã chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại” (Trích trong lời ghi Sổ vàng truyền thống Bộ đội Trường Sơn).
Đó là những người dũng cảm trên sông nước: “Những dũng sĩ Trường Sơn/ Làm chủ dòng nước bạc/ Bốn mùa thuyền xuôi ngược/ Mang sức sống Bạch Đằng” (Thuyền chiến trên Cao nguyên - Đặng Tính).
Người lính xe với phong thái ung dung, tự tại, xem thường hiểm nguy: “Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi/ Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” (Tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật).
Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong làm cọc tiêu cho xe qua ngầm, qua suối, qua trọng điểm trên đường Trường Sơn là một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: “Mấy năm rồi chạy trên tuyến Trường Sơn/ Có đêm nào như đêm nay nhớ mãi/ Những cọc tiêu là những cô em gái/ Thanh thản đứng bên đường trọng điểm xe lên” (Cái điểm sáng ấy - Trần Nhật Thu).
Những con người ấy không run sợ trước kẻ thù, không chùn bước trước khó khăn và cái chết, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ: “Xông vào nơi khói/ Để làm một cây chông nhỏ diệt thù/ Em đã vượt qua thử thách bước đầu/ Để làm người chiến thắng” (Hơi ấm đường rừng - Nguyễn Mỹ). Và biết bao người đã ngã xuống trên con đường này để làm nên mùa xuân chiến thắng. Tên tuổi và chiến công của họ vẫn được khắc ghi trên các tấm bia mộ trong các trang văn, trang thơ mà cao hơn là trong tâm khảm con người Việt Nam qua bao thế hệ.
Chiến tranh đã lùi xa ngót 40 năm, con đường Trường Sơn gắn với “Câu chuyện thần thoại Đông Dương” là “con rồng nghìn cây, chặt xong lại mọc”, “con đường thần thánh biến hóa y như được đức Phật chí tôn phù hộ độ trì” (Báo chí phương Tây) ngày xưa trong chống Mỹ, ngày nay đã trở thành Đại lộ Hồ Chí Minh nối liền Nam Bắc. Con đường và con người Trường Sơn năm ấy, bây giờ đã trở thành huyền thoại và sống mãi với dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Văn Thanh(10/ 24 - ĐăngTất - Đông Hà- Quảng  Trị)

Ảnh
Tiểu đội 4, Đại đội TNXP 552 trong đó có mười cô gái anh hùng hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh


HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN VÀ NHỮNG CÔ GÁI MỞ ĐƯỜNG -NGUYỄN THỊ THU THỦY
--------------------------------------------------

" Trường Sơn đông nắng, tây mưa- Ai chưa đến đó như chưa rõ mình ”
Trường Sơn- một thời hoa lửa, từ lâu đã trở thành một đề tài không vơi cạn trong thơ ca chống Mĩ cứu nước. Nhắc đến tuyến đường Trường Sơn huyền thoại nối liền Bắc-Nam, ta không thể bỏ qua sự góp mặt của một " binh chủng ” đặc biệt: thanh niên xung phong. Trong những năm khói bom rực trời ấy, lực lượng thanh niên xung phong có vai trò hết sức quan trọng tham gia mở đường, phá bom, san lấp hố bom, bảo đảm con đường huyết mạch ấy luôn được thông suốt cho những đoàn quân, đoàn xe ra trận. Nhớ về Trường Sơn, không thể nào quên hình ảnh các cô thanh niên xung phong và hình tượng các cô đã đi vào không ít các trang thơ, trang văn. Thơ ca những năm chống Mĩ đã dành một phần lớn sự ưu ái cho hình tượng người nữ thanh niên xung phong. Đặc biệt, hình ảnh các cô xuất hiện như những ngôi sao lấp lánh không rực rỡ mà sáng trong, tưởng như xa mà lại gần trong các bải thơ: Lá đỏ ( Nguyễn Đình Thi ), Khoảng trời-hố bom ( Lâm Thị Mĩ Dạ ), Gửi em, cô thanh niên xung phong ( Phạm Tiến Duật ).
Lực lượng thanh niên xung phong vốn đã xuất hiện trong thơ ca thời kháng chiến chống Pháp và thường được gọi là dân quân, dân công. Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã từng viết về họ với khí phách oai hùng, đạp bằng gian khổ góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ: " Dân công đỏ đuốc từng đoàn- Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay ”. Thơ ca chống Mĩ cứu nước ghi lại tập trung hơn với nhiều hình ảnh đẹp, chân thực, cao cả về những cô gái thanh niên xung phong- nhân vật của thời đại, nhân vật của văn chương.
Trước hết, các nữ thanh niên xung phong bước vào trang thơ là những cô gái vô danh, được gọi tên chung là Em. Tuy không tên gọi thậm chí không một lần rõ mặt nhưng các cô mãi là những ấn tượng khó quên. Nhà thơ Lâm Thị Mĩ Dạ tưởng niệm cô gái không tên, không tuổi hi sinh để cứu con đường cho đoàn xe kịp giờ ra trận qua những dòng thơ dạt dào xúc động:
Tên con đường là tên em gửi lại
Cái chết em xanh khoảng trời con gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em
….
Gương mặt em bạn bè tôi không biết
Nên mỗi người có gương mặt em riêng
( Khoảng trời- hố bom)
Với Lá đỏ, Nguyễn Đình Thi đã thân mật gọi tên các nữ thanh niên trong một lần gặp mặt vội vã, trên con đường hành quân xa là em gái tiền phương:
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ

Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp em nhé giữa Sài Gòn
Viết về hiện thực Trường Sơn và những cô gái thanh niên xung phong, ta không thể bỏ qua thi sĩ Phạm Tiến Duật. Anh được mệnh danh là con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại, cây săng lẻ của rừng già. Hình tượng nữ thanh niên xung phong xuất hiện xuyên suốt trong thơ anh, nhưng hầu hết đều không có tên gọi. Họ đại diện cho vẻ đẹp chung của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời chống Mĩ:
Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi
Em là cô thanh niên xung phong
( Gửi em, cô thanh niên xung phong )
Phải chăng, các nhà thơ thời chống Mĩ đã cố ý mờ hóa tên tuổi của các cô để tô đậm phẩm chất cao đẹp của người nữ thanh niên xung phong? Các cô, các chị đã hóa thân thành tên gọi chung của đất nước để đất Việt hôm nay được bay lên trong bát ngát mùa xuân.
Hình tượng các chị xuất hiện với nhiều dáng vẻ khác nhau bởi sự cảm nhận và phong cách của mỗi nhà thơ là riêng biệt. Đó là một Lâm Thị Mĩ Dạ cảm xúc lắng sâu, một Nguyễn Đình Thi triết lí suy ngẫm, một Phạm Tiến Duật tếu táo, đùa nghịch ... Nếu Khoảng trời-hố bom là khúc tưởng niệm, là nén tâm nhang cho cô gái phá bom cứu lấy con đường thì Lá đỏ, Gửi em-cô thanh niên xung phong là những vần thơ giàu chất sống về ý chí ngoan cường của người nữ thanh niên ở đại đội làm đường.
Dù xuất thân từ những vùng quê khác nhau, giọng nói và lối sống mỗi người mỗi vẻ nhưng các chị lại gặp nhau trong tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, ở lí tưởng xả thân và vẻ đẹp tâm hồn bình dị, sáng trong. Ta bắt gặp cô thanh niên xung phong tinh nghịch hồn nhiên trong thơ Phạm Tiến Duật:
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn”
Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
( Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Chất giọng Hà Tĩnh chua ngoa đanh đá của các cô thanh niên xung phong gợi ta nhớ đến nét hồn nhiên trong sáng của mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh năm nào. Mười khuôn mặt trẻ trung bình dị ấy mãi là điểm nhấn trong kí ức mỗi người khi đến thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Gian khổ đe dọa, cái chết rình rập không ngăn được nét lạc quan, trong trẻo trong tâm hồn của người con gái Việt Nam. Ta không khỏi bật cười khi đọc những dòng thơ sau của Phạm Tiến Duật: Đại đội thanh niên đi lấp hố bom- Áo em hình như trắng nhất. Là con gái, cô nào không thích chưng diện. Hoàn cảnh làm việc ban đêm giữa chiến trường nhà ngoái cũng như nhà tranh, nhưng các cô vẫn tranh thủ cơ hội để diện áo trắng. Ý thơ vừa gợi lên cái khốc liệt của hoàn cảnh khiến chúng ta cảm thấy xót xa, vừa tô đậm nét nữ tính, đời thường của người nữ thanh niên xung phong.
Chất bình dị, đời thường, chân quê của các chị, các cô chính là hình ảnh của quê hương trong lòng người ra trận. Hình ảnh cô gái với chiếc áo bạc màu sương gió mãi là nguồn động viên, thôi thúc người chiến sĩ trên chặng đường hành quân gian nan:
Em đứng bên đường, như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
( Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi)
Và đến khi nằm xuống, tâm hồn của các cô là khoảng trời, vì sao mãi ngời chói soi đường, dẫn lối cho những đoàn xe ra mặt trận:
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói lung linh
( Khoảng trời – hố bom )
Có cái chết hóa thành bất tử và cái chết của cô gái mở đường trong ý thơ của Lâm Thị Mĩ Dạ là những vì sao, những ngọn lửa sáng ngời. Sự hi sinh của người thanh niên xung phong năm nào trên tuyến đường Trường Sơn rực lửa như hình ảnh của dũng sĩ Đankô đã bứt quả tim mình biến thành ngọn lửa dẫn lối những người cùng khổ đi tìm miền đất hứa:
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom
( Khoảng trời – hố bom )
Đó cũng chính là vẻ đẹp phi thường của người nữ thanh niên xung phong mà không hiếm trang viết của những nhà văn, nhà thơ đã từng đề cập. Nét quả cảm bất chấp hiểm nguy của các cô đã được Phạm Tiến Duật khắc họa qua giọng thơ sôi nổi, trẻ trung trong Gửi em, cô thanh niên xung phong:
Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Thật đúng là: anh hùng đâu cứ phải mày râu. Các cô gái vóc dáng nhỏ nhắn tưởng như chân yếu tay mềm ấy lại táo bạo và đầy bản lĩnh. Hành động nằm ngủ thản nhiên giữa ban ngày, bên cạnh một giếng nước có bom từ trường của cô gái trong ý thơ, khiến chúng ta bàng hoàng, sửng sốt. Các cô gan dạ, táo tợn chẳng khác nào một Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, một chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức…
Hình ảnh các cô, các chị mãi là chiếc cọc tiền tiêu dẫn đường cho đoàn quân Nam tiến. Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi đã chụp lại tấm ảnh về tư thế hiên ngang của người nữ thanh niên xung phong trong không gian Trường Sơn với bụi lửa nhạt nhòa. Dáng đứng của ” em” trên con đường Trường Sơn năm ấy như tạc vào trang sử một dáng đứng Việt Nam:
Em đứng bên đường, như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa
Có thể nói: Lá đỏ là hiện thực Trường Sơn gian khó và hào hùng, lá màu đỏ là máu của các anh, các chị đổ ra thấm đẫm màu cờ Tổ quốc.
Sống trong cát, chết vùi trong cát – Những trái tim như ngọc sáng ngời (Tố Hữu). Vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của hành động xả thân ở cô gái thanh niên xung phong muôn đời ngời sáng. Sự hi sinh cao cả của người thanh niên năm nào sẽ là tấm gương trong vắt để thế hệ mai sau soi mình và tìm ở đó những "chất ngọc” quý giá:
Hỡi mặt trời hay chính trái tim em trong ngực
Soi cho tôi ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài.
( Khoảng trời – hố bom )
Thời đại mới chắp cho ta đôi cánh – đôi cánh thiên thần để đưa đất nước lên tầm cao mới. Song sự vươn mình kì lạ của Tổ quốc hôm nay không thể có nếu như thiếu đi sự hi sinh quên mình của những thế hệ cha ông. Nhắc đến sự cống hiến thầm lặng đó, ta mãi mãi không quên công lao của những người mẹ, người chị - những người nữ thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn. Họ là cô gái " hăm bảy tuổi chuyện chồng con chưa nói – Cả một thời trẻ trung sôi nổi - Ở bên nhau bếp lửa giữa rừng xa…”( Phạm Tiến Duật )
Gương mặt của họ rất lạ nhưng cũng rất quen. Họ không chỉ xuất hiện trong những dòng thơ mà ta đã đọc mà còn là hình ảnh đầy ấn tượng trong những trang văn của Lê Minh Khuê với Những ngôi sao xa xôi, Nguyễn Minh Châu với Mảnh trăng cuối rừng hay Ráng đỏ của Đỗ Chu… Sau này, trong những trang viết sau 1975 ta lại gặp họ tái hiện trong Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)… Trong âm nhạc, giai điệu thân quen của Xuân Giao về Cô gái mở đường Trường Sơn năm nào khiến chúng ta không thể nào quên: "Đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh, tiếng hát ai vang động núi rừng. Phải chăng em, cô gái mở đường, không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát… Ôi biết bao cô gái đang ngày đêm mở đường, hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường…”
Có thể nói hình ảnh người nữ thanh niên xung phong năm xưa đã góp phần dệt nên những trang sử hào hùng cho dân tộc Việt Nam hôm nay sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Trở về với đời thường, các cô là những người vợ, người mẹ gần gũi thân thương. Nhưng cũng không hiếm người đã cống hiến cả tuổi xuân cho trận chiến để đến khi trở về, tóc không còn xanh nữa. Sự hi sinh thầm lặng của các cô đáng được ghi công và kính nể.
Xã hội thời mở cửa, một bộ phận trong giới trẻ điên cuồng chạy theo lợi nhuận kinh tế, liệu trong số họ có còn ai khao khát cống hiến và sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng như thế hệ thanh niên thời chống Pháp, chống Mĩ?
Đọc lại những dòng thơ viết về những người nữ thanh niên xung phong năm xưa, ta xúc động, tự hào và cảm phục biết bao. Hãy nghĩ nhiều về những ngày đã qua để sống tốt hơn trong hiện tại. Đó phải chăng là thông điệp mà Nguyễn Đình Thi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Tiến Duật gởi lại cho đời từ hình ảnh của những cô thanh niên xung phong chỉ biết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.
http://m.youtube.com/watch?v=7zPT3rR3HAs
Kết quả hình ảnh cho hình ảnh gian khổ của bộ đội trường sơn

Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Từ đó em có suy nghĩ gì về người lính trong kháng chiến chống Mĩ?

Bình chọn:

Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh những người lính trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hình ảnh ấy tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.

       Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước, hình ảnh những chiến sĩ lái xe vận tải đã “để thương để nhớ” cho tâm tưởng nhà thơ tài hoa Phạm Tiến Duật. Bởi vậy nên dẫu chẳng một ngày làm lính lái xe nhưng những trang thơ Phạm Tiến Duật luôn ầm ì tiếng động cơ chạy máy và giòn tan tiếng cười nói của những chàng lính lái xe “trẻ măng tơ” Người đọc khó có thể quên những chàng trai ngang tàng, tinh nghịch nhưng đầy lí tưởng ấy trong bài thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính".
        Bài thơ ra đời năm 1969, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang bước vào những năm tháng khốc liệt nhất. Con đường Trường Sơn đã được khai phá để từng dòng người, dòng xe ngày đêm chi viện cho miền Nam ruột thịt. Trên những dặm đường loang lổ hố bom, trên những đèo cao trập trùng, hiểm trở,... dù ở đâu trên con đường huyền thoại ấy cũng hiện lên hình ảnh những anh lính lái xe vững vàng tay lái. Họ đến với chiến trường từ những giảng đường đại học, từ những mái trường phổ thông còn vương những cánh phượng rơi. Tâm hồn họ phơi phới tuổi xuân và những lí tưởng đẹp đẽ của tuổi trẻ. Trở thành những anh lính lái xe, họ đã làm vui, làm đẹp, làm vững chắc hơn cho con đường huyết mạch của cuộc kháng chiến.
Các anh tự giới thiệu về những người bạn đường thủy chung gắn bó của mình:
              “Không có kính không phải vì xe không có kính
              Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”…
         Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc một hình ảnh lạ lùng: Những chiếc xe không kính. Mặt khác, lời giải thích của tác giả về những chiếc xe đặc biệt ấy cũng rất đỗi chân thực đến gần như là lột trần ra một chiếc xe đã bị phá huỷ bởi "bom giật, bom rung" - những động từ mạnh làm nổi bật hình ảnh và ý thơ. Hai câu thơ thật tự nhiên, không có hình ảnh hoa mĩ, tráng lệ, không có hình ảnh tượng trưng, giọng thơ có chút gì đó ngang tàng tạo nên điểm khởi đầu đầy ấn tượng cho bài thơ. Càng lạ lùng hơn nữa là hình ảnh chủ nhân những chiếc xe kì lạ ấy:
                   “Ung dung buồng lái ta ngồi
                   Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”…
         Với các anh, sự lạ đối với mọi người lại trở thành sự thường trong đời sống. “Bom giật, bom rung” để lại thương tích loang lổ trên xe nhưng lại chẳng mảy may nhìn thấy dấu hiệu của tàn phá trên dáng hình người chiến sĩ. Họ "ung dung" ngồi, “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Sự khốc liệt của chiến tranh không khiến con người bị đui chột về tâm hồn và ý chí. Là những con người như lời đề trên bức tường kỉ niệm chiến thắng phát xít Đức của Hồng quân Liên Xô: “Nơi đây mọi sắt thép đều tan chảy chỉ con người là vững vàng đi qua”. Câu thơ ngắn, nhanh, điệp từ "nhìn" lặp lại tạo nên tiết tấu hết sức sinh động.
       Rồi trên con đường thần thánh ấy, các anh còn “nhìn thấy” bao điều khác nữa:
          “Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng
           Thấy con đường chạy thẳng vào tim
           Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
           Như sa, như ùa vào buồng lái”…
         Bởi xe “không có kính” nên có quá nhiều bất tiện: “gió xoa vào mắt đắng” nhưng cũng bởi không có kính nên nhiều khi ngồi trong ca bin người lính được đón nhận những cảm giác thật lạ lùng: “Thấy con đường chạy thẳng vào tim /Thấy sao trời và đột ngột cánh chim / Như sa, như ùa vào buồng lái”. Hình ảnh thơ rất táo bạo và khỏe khoắn thể hiện tâm hồn trẻ trung, mạnh mẽ nhưng không kém phần mơ mộng của những chàng lính lái xe.
       Khi chiếc xe đã bị phá huỷ, nát tan đến như vậy thì biết bao khó khăn đã nảy sinh cũng chỉ vì "không có kính"
                  Không có kính, ừ thì có bụi
                 Bụi phun tóc trắng như người già
Và:
                 Không có kính, ừ thì ướt áo
                Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời.
      Thế nhưng, "không có kính" thì tác giả lại "có bụi” rồi có "mưa tuôn, mưa xối". Cấu trúc thơ lặp đi lặp lại - "ừ thì" - đã làm toát lên thái độ bất chấp, không hề run sợ, coi thường mọi khó khăn. Câu thơ như vang lên tiếng cười vui vẻ, các anh cười để lạc quan yêu đời, để phớt lờ mọi khó khăn, cười để động viên mình, và động viên đồng đội. Và niềm lạc quan ấy còn được thể hiện bằng hành động.
               Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
              Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Và :
              Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
             Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
       Giọng thơ âm vang rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nổi của tuổi mười tám, đôi mươi. Những người lính trẻ ấy thật kiên cường và trẻ trung, hóm hỉnh. Không chỉ vậy, họ còn là những người đồng chí gắn bó keo sơn, khăng khít:
            Những chiếc xe từ trong bom rơi
            Đã về đây họp thành tiểu đội
            Bạn bè gặp nhau suốt đường đi tới
            Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
        Những con người ấy vốn dĩ không hề quen biết! Vậy mà giờ đây, trong gian khổ, họ thân thiết gắn bó, chào nhau như những người bạn đã quen. Và rồi, kỉ niệm như ùa về trong tâm trí nhà thơ. Có lẽ vì ông cũng là một người lính nên ông thấu hiểu, đồng cảm tình đồng đội, đồng chí:
            Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
            Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
 "Gia đình" - hai tiếng thân thương gợi hình ảnh những con người cùng huyết thống. Họ, những người lính Trường Sơn ấy, cũng mang trong mình dòng máu nóng - dòng máu sôi sục khát vọng giải phóng miền Nam, giải phóng đất nước.
         Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
         Chỉ cần trong xe có một trái tim
         Tuy chiếc xe có bị phá huỷ, nát tan đến mức nào, dù gian khổ khó khăn bao nhiêu, nhưng "chỉ cần trong xe có một trái tim" - Đúng vậy! Chính tình yêu Tổ quốc đã cầm lái, đã là động lực thúc đẩy, giúp những người lính có thêm sức mạnh trước mỗi khó khăn. Lời thơ nhẹ nhàng như một lời khẳng định chắc nịch, gọn ghẽ. Câu thơ kết của bài thơ có lẽ là câu thơ hay nhất, vừa kết lại sức mạnh của con người chính là ở tình yêu, tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào và tình yêu hoá thành ý chí - kiên cường và vững bền. Nhưng đồng thời, nó cũng mở ra, gợi ra cánh cửa ánh sáng: Miền Nam, nơi mà đồng bào đang trông ngóng cách mạng trong từng khoảnh khắc.
      Bài thơ có giọng điệu phóng khoáng, ngang tàng như tâm hồn chàng trai tuổi đôi mươi. Phạm Tiến Duật đã không phải dụng công gọt giũa ngôn từ, nhiều câu thơ trong bài thơ như lời nói hàng ngày nhưng chính sự giản dị, chân thành của cảm xúc đã làm nên những câu thơ lôi cuốn người đọc. Ngoài ra còn phải kể đến nhiều hình ảnh thơ táo bạo, giàu sức gợi tả cùng các điệp từ, điệp ngữ.
       “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh những người lính trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hình ảnh ấy tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Chiến trường ác liệt, hiểm nguy mà tâm hồn các anh, các chị vẫn ngời ngời sự lạc quan, trẻ trung, yêu đời. Nhưng trên hết vẫn là tấm lòng yêu mến, thiết tha với đồng đội, với đất nước, vẻ đẹp tâm hồn cao quý gieo vào lòng người đọc niềm tin yêu, sự trân trọng, cảm phục và lời nguyện cầu tiếp bước. Khi xưa các anh các chị “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thì hôm nay thế hệ trẻ sẽ “chuẩn bị hành trang” đầy đủ để đưa đất nước tiến “vào thế kỉ mới” phát triển, sôi động và đầy thách thức.
Trích: loigiaihay.com
Dưới đây là một số hình ảnh trên tuyến đường huyền thoại này:
a11-1348816734_480x0.jpg
Vào những năm đầu, việc vận chuyển hàng chi viện được thực hiện bằng hình thức đi bộ, gùi thồ.
a12-1348816734_480x0.jpg
Tuy giữ được bí mật nhưng hiệu quả không đáng kể do quãng đường vận tải dài tới 2.000 km
a9-1348816734_480x0.jpg
Sau 2 năm như vậy, chúng ta bắt đầu thực hiện vận tải cơ giới. Hiệu quả vận chuyển tăng lên rõ rệt nhưng nhiều cung đường đã trở thành mục tiêu không kích của quân đội Mỹ.
a5-1348816734_480x0.jpg
Kẻ địch liên tục dùng máy bay, bộ binh, chất độc hóa học... ngăn chặn khiến việc chi viện trở nên vô cùng nan giải. Đến năm 1967, với bước phát triển mới của hợp đồng binh chủng bảo vệ các đoàn xe, xây dựng các tuyến đường tránh, đường nghi binh, vấn đề này mới được giải quyết. Tuyến đường từ đây hoạt động ngày càng thông suốt, hiệu quả.
img8278-1348816734_480x0.jpg
Trong thời gian này, vai trò của lực lượng thanh niên xung phong thể hiện rõ hơn bao giờ hết. Trong ảnh là chị La Thị Tám, tiểu đội trưởng TNXP làm nhiệm vụ tại Ngã ba Đồng Lộc. Trong 7 tháng chị đánh dấu được 1.039 quả bom chưa nổ, chỉ dẫn cho người và xe qua tọa độ lửa này an toàn.
a6-1348816734_480x0.jpg
Xuyên dãy Trường Sơn, bộ đội ta được đồng bào các dân tộc thiểu số dốc lòng giúp đỡ. Trong ảnh là đồng bào Vân Kiều (Quảng Bình) cung cấp lương thực dọc đường.
a1-1348816734_480x0.jpg
Trọng điểm Tha Mé tan hoang vì bom đạn. Trên toàn tuyến đường có tới 2.500 trọng điểm đánh phá của địch. Suốt 16 năm, chiến trường Trường Sơn hứng chịu hơn 4 triệu tấn bom mìn đủ loại.
img8308-1348816734_480x0.jpg
Tuy nhiên, với sự phát triển của thế trận phòng ngự chủ động, ta ngày càng làm chủ chiến trường. Với tổng chiều dài hàng chục ngàn km trải dài trên 5 trục dọc, 21 trục ngang... các đoàn xe vận tải có thể dễ dàng xuyên dãy Trường Sơn từ Bắc vào Nam. Trong ảnh là một xưởng sửa chữa xe quy mô ngay dưới tán rừng.
a8-1348816734_480x0.jpg
Năm 1968, Mỹ phát hiện ta có tuyến đường ống dẫn xăng dầu ở Tây Nam thành phố Vinh (Nghệ An). Đến 1969, hệ thống này đã vượt qua biên giới với Lào, 1970 vươn tới thung lũng A Sầu (Thừa Thiên Huế)...
img8314-1348816735_480x0.jpg
Mặc dù ra sức đánh phá, nhưng đến cuối cuộc chiến, hệ thống này đã được nối dài tới 2.000 km, đến tận cụm cuối tuyến đường tại Lộc Ninh (Bình Phước), tiếp "máu" cho các đoàn xe vận tải.
a4-1348816735_480x0.jpg
Thông tin liên lạc trên toàn tuyến lúc phát triển cao nhất lên tới 1.600 km đường dây, giúp nối thông giữa tổng hành dinh chỉ huy tới các chiến dịch.
a2-1348816735_480x0.jpg
Dũng sĩ diệt máy bay Mỹ cấp ưu tú Khơth (người cầm súng) đã bắn rơi 3 trực thăng Mỹ khi mới 15 tuổi (1969). Chiến trường đường Trường Sơn ghi dấu vô số tấm gương anh hùng song cũng để lại những mất mát khó có thể bù đắp, 22.000 chiến sĩ đã ngã xuống tại đây, 30.000 người nhiễm chất độc da cam...
img8218-1348816735_480x0.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào 1971 - chiến dịch đem lại quyền kiểm soát hoàn toàn trên mặt đất cho bộ đội ta trên chiến trường Trường Sơn.
a10-1348816735_480x0.jpg
Đội tuyên truyền văn hóa xung kích E515 công binh phục vụ bộ đội mở đường Đông Trường Sơn, mùa khô 1973-1974. Đây là thời kỳ ta hoàn toàn làm chủ chiến trường Trường Sơn cả trên không lẫn mặt đất.
img8313-1348816735_480x0.jpg
 img8309-1348816736_480x0.jpg

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32