Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI 1/B
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Lịch sử là hiện thực quá khứ. -Có
những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm
đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền
thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng
của người đời. -"Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang. Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng. Trường Sơn, vượt núi, băng sông Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa. Trường Sơn, đông nắng, tây mưa Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình." (Tố Hữu)
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Ðường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.
Một dãy núi mà hai màu mây Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác Như anh với em, như Nam với Bắc Như Ðông với Tây một dải rừng liền.
Trường Sơn tây anh đi, thương em Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo Muỗi bay rừng già cho dài tay áo Rau hết rồi, em có lấy măng không.
Em thương anh bên tây mùa đông Nước khe cạn bướm bay lèn đá Biết lòng anh say miền đất lạ Chắc em lo đường chắn bom thù
Anh lên xe, trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ Em xuống núi nắng về rực rỡ Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.
Ðông sang tây không phải đường thư Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.
Từ nơi em gửi đến nơi anh Những đoàn quân trùng trùng ra trận Như tình yêu nối lời vô tận Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn. Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm tre8n NET)
501. Đường mòn Hồ Chí Minh tên thật là Đường Trường Sơn. P1.
Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh là con đường thời chiến, cũng là con đường thơ bi hùng của văn học Việt Nam thời chống Mỹ.
Nhưng không có một nhà thơ, nhà văn nào
thành công như Phạm Tiến Duật khi viết về Trường Sơn. “Đường Trường Sơn -
đường mòn Hồ Chí Minh, bằng ý nghĩa vĩ đại của nó, bằng phẩm chất anh
hùng của nó, lại đẻ ra một con đường thơ mà nhà thơ hay nhất của con
đường ấy, là Phạm Tiến Duật (Đỗ Trung Lai).
Trường Sơn hiện lên trong mắt các nghệ sĩ khác là cái nhìn, cảm xúc của người quan sát về cuộc chiến. Nguyễn Đình Thi lưu nhớ bằng thơ hình ảnh bên đường quân đi trong bài thơ Lá đỏ, Lâm Thị Mĩ Dạ từ hình ảnh những hố bom trên đường Trường Sơn mà gợi nghĩ về những người con gái quả cảm trong tuyệt tác Khoảng trời - Hố bom…
Ngô Thế Oanh có một sáng tác xúc động với những câu thơ thấm thía về Trường Sơn từ cái nhìn của người trong cuộc:
Sâu thẳm những lối mòn chỉ vừa đặt bàn chân
Sâu thẳm những mùa mưa dai dẳng
Sâu thẳm khát khao đếm từng giọt nắng
Sâu thẳm những gì là thử thách hy sinh.
(Và những cánh rừng)
Nhưng Ngô Thế Oanh từ hòa bình
để ngẫm nghĩ và triết lý về Trường Sơn. Phạm Tiến Duật ghi nhật ký từng
ngày về đường Trường Sơn bằng thơ, anh viết về Trường Sơn từ điểm nhìn hiện tại chiến tranh của chính nó. Không ngoa khi ai đó nói rằng thơ Phạm Tiến Duật là cái bảo tàng về Trường Sơn.
Hầu hết những bài thơ hay nhất của Phạm Tiến Duật đều được thăng hoa cảm xúc từ con đường này: Gửi em, cô thanh niên xung phong; Bài thơ về tiểu đội xe không kính; Nhớ…
Trường Sơn trong thơ Phạm Tiến Duật trước hết là không gian thực của đời sống,
là không gian con đường 559 mà Phạm Tiến Duật là người trong cuộc. Nơi
đây, đời sống bi hùng của dân tộc đã kết đọng những trạng thái cảm xúc
dồn nén có thể đốt cháy mọi tâm trạng người. Thơ Phạm Tiến Duật có sức
sống vì đó là tiếng lòng của người Việt Nam trong hoàn cảnh nghiệt ngã -
hoàn cảnh chiến tranh ở nơi đỉnh điểm của chiến tranh.
Con đường trong thơ của Phạm Tiến Duật
là bức tranh bi tráng về chiến tranh ác liệt. Theo bước chân của những
người chiến sĩ lái xe và những cô thanh niên xung phong mở đường, nhân
vật trữ tình được chứng kiến những khoảnh khắc lịch sử bi hùng của đất
nước:
Phía trước mặt là ngã ba Đồng Lộc
hố bom dày như lỗ hà ăn chân
(Qua cầu Tùng Cốc)
Không thể tin là em đã qua
Nơi túi bom bay mù bụi đỏ
Đường gập ghềnh ngổn ngang cây đổ
Trời lô nhô thân gỗ cưa ngang.
(Niềm tin có thật)
Lấy bối cảnh đường Trường Sơn những năm
bảy mươi của thế kỷ trước, thơ Phạm Tiến Duật kịp ghi lại những ngày
tháng không thể nào quên của những lính trẻ, của những cô thanh niên
xung phong tuổi mười tám đôi mươi quên mình vì tổ quốc. Tuổi xuân đẹp và
những người con gái mong manh ở nơi khốc liệt nhất của cuộc chiến làm
nhói tim người đọc về khát khao hòa bình:
“ Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà…”
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em thương em biết mấy
(Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Trên từng cung đường mặt trận, tuổi xuân
của những người em gái đang từng ngày từng ngày trôi qua. Ánh mắt của
anh, tấm lòng của anh đang dõi theo tràn đầy thương cảm. Tình thương đó
rất mộc mạc, chân thành vì là tiếng lòng của người đồng đội, đồng chí,
và da diết khắc khoải vì nhân vật trữ tình cũng là người thương, người yêu của em.
Có thể nói không gian con đường mặt trận
- đường Trường Sơn trong chiến tranh hủy diệt - là khung cảnh điển hình
để Phạm Tiến Duật nói lên nỗi đau chiến tranh và sự hy sinh mất mát của
con người bởi cuộc chiến này.
Và hơn hết, không gian đường Trường Sơn, túi bom của thế kỷ, làm bật lên đời sống anh hùng của con người Việt Nam.
“Có lẽ không một tuyên bố nào về lòng quyết tâm đến thắng lợi, lại hùng
hồn bằng cái cách “tuyên bố” rằng : ta cứ quyết tâm sống, quyết tâm hồn
nhiên, quyết tâm yêu nhau, ngay trong cuộc chiến ác liệt này” (Đỗ Trung Lai). Chính nơi đây tâm hồn Việt Nam tỏa sáng “ Trường Sơn đông nắng tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”(Tố Hữu).
Trong thơ Phạm Tiến Duật, con đường ngoài ý nghĩa của một không gian thực, nó còn là biểu trưng mang nhiều thông điệp nghệ thuật xúc động lòng người.
Vì thế, thơ Phạm Tiến Duật không phải là thơ tả thực, hay loại thơ
tuyên truyền dễ dãi. Mặt khác biểu tượng nghệ thuật được anh lấy từ đời
thường bình dị gần với tư duy người Việt Nam khiến thơ anh đi vào lòng
người một cách tự nhiên, thấm thía.
Không gian con đường thể hiện sự cảm nhận hiện thực độc đáo của Phạm Tiến Duật. Conđường mặt trận, nhưng với anh cũng là con đường tình đặc biệt, con đường để anh đi tìm em giữa khói lửa chiến tranh, con đường dẫn anh và em hướng về tình yêu tổ quốc..
. Đường ra tiền tuyến hóa ra cũng là con đường nối những tình yêu :
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn tây
(Trường Sơn đông, Trường Sơn tây)
Đường Trường Sơn với thơ Phạm Tiến Duật còn là biểu tượng của con đường chân lý với trái tim yêu nước dẫn đường:
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
Con đường Trường Sơn là con đường của trái tim, con đường của tình yêu. Hình ảnh con đường và trái tim thường đi liền với nhau, có khi đó còn là còn là hình ảnh của đường tim. Đây là sáng tạo rất riêng của Phạm Tiến Duật:
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
Đường trong tim anh in những dấu chân
(Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Như tình yêu nối lời vô tận
Đông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.
(Trường Sơn đông, Trường Sơn tây)
Đường Trường Sơn trong thơ anh đẹp và
lãng mạn là cảm nhận chân thực của những con người trẻ tuổi với trái tim
nồng nàn khát vọng và phơi phới tin yêu ngày mai. Trường Sơn trong thơ
Phạm Tiến Duật thường thể hiện qua góc nhìn của một người lính trẻ là
anh chiến sĩ lái xe mới rời ghế nhà trường với tính cách ngang tàng, hóm
hỉnh, tinh nghịch nên có giọng riêng không lẫn với những bài thơ Trường
Sơn khác.
Đường Trường Sơn trong thơ Phạm Tiến Duật vừa cụ thể, sống động nhưng vẫn có tính khái quát cao. Từ con đường huyền thoại Trường Sơn, Phạm Tiến Duật đã ít nhiều dựng thành biểu tượng về hành trình giải phóng dân tộc gian lao nhưng tất yếu chiến thắng:
Hun hút đường khuya rì rầm
Tiếng mạch đất hai miền hòa làm một
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Mọc qua quầng lửa mọc trên cao.
(Vầng trăng và những quầng lửa)
Tuy nhiên sức mạnh thơ Phạm Tiến Duật là
sự bình dị, chân thực, không ôm đồm to tát. Sự triết lý của anh bao giờ
cũng bắt đầu bằng những điều giản dị, rất đời thường, dễ thấy, dễ cảm
nhận.
Tóm lại, không gian con đường là điểm nhấn nổi bật trong thơ Phạm Tiến Duật.
Đó là những đường nét bi hùng và mạnh mẽ trên bức tranh Trường Sơn
trong không gian thực của chiến tranh. Đi vào thơ Phạm Tiến Duật, nó vừa
thực, vừa là biểu trưng mang những ẩn dụ nghệ thuật đầy ám ảnh, gợi mở.
Không gian con đường toát lên hồn riêng của thơ Phạm Tiến Duật: đời
thường chân thật trần trụi nhưng có sức khai mở những biểu tượng, những
cảm xúc nhân văn trong lòng người đọc.
Kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn - Hồ Chí
Minh, huyền thoại con đường, huyền thoại giữ nước càng gợi nhắc sâu xa
những ký ức thiêng liêng, những bài học sâu xa về cuộc đời, về thơ ca.
“Con người, vì tin ở tương lai, biết cách bù đắp những thiếu hụt do hoàn
cảnh mang lại, để sống một cách dũng cảm cao thượng, mà đã trở thành
lớn lao. Thơ cũng phải biết phát hiện cái từ ấy của cuộc sống, và phải
tham gia vào quá trình bù đắp ấy” (Đỗ Trung Lai).
Thơ Phạm Tiến Duật đã cùng với đất nước
và con người Việt Nam vượt qua thử thách khủng khiếp nhất của dân tộc ở
thế kỷ XX, để sống một cách mạnh mẽ và cao thượng như một huyền thoại.
Lê Nga (Tổ Văn)
Đường Trường Sơn trong thi ca
Trường
Sơn hùng vĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh cũng như trong
hòa bình, là một đề tài rộng lớn, nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sỹ
Việt Nam. Với tình cảm chân thành, những giây phút thăng hoa bất tận của
người nghệ sĩ đã để lại cho kho tàng âm nhạc nước ta một số lượng tác
phẩm đồ sộ, in đậm dấu ấn, cảnh vật thiên nhiên và hình ảnh người lính
Trường Sơn. Trường Sơn xa xanh
Trong
lịch sử nước ta, chưa có địa danh nào để lại số lượng lớn tác phẩm văn
học, nghệ thuật bất hủ như đường Trường Sơn. Từ những vật giản dị như
chiếc gậy Trường Sơn đôi dép cao su, chiếc điếu cày đến các cuộc hành
quân, hình ảnh quả cảm của người lính, sự khốc liệt của chiến tranh, đều
đã đi vào văn, thơ, phim, ảnh, nhạc, họa. Những sáng tác về Trường Sơn
đã khảm khắc vào người yêu thơ, yêu nhạc ấn tượng sâu đậm về một thời
binh lửa hào hùng, về những con người không tiếc tuổi thanh xuân cho sự
nghiệp giải phóng đất nước.
Bộ
đội công binh, dân công hỏa tuyến sửa chữa đường Quyết Thắng (Quảng
Bình), đoạn đường thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt, đảm bảo thông
xe. Ảnh: Hữu Ngôi - TTXVN
Tác
phẩm, khúc ca về Trường Sơn là nguồn động viên khích lệ to lớn đến sức
mạnh thần tốc của toàn quân, toàn dân ta dồn sức cho cuộc kháng chiến,
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nhiều sáng tác vừa ra đời đã
tạo cảm hứng cùng chung nhiệm vụ “Tiếng hát át tiếng bom”, đặc biệt các
nhạc sĩ, thi sĩ đã chắp cánh lịch sử cách mạng bằng ca khúc, trở thành
tiếng nói đồng điệu của hàng triệu con tim nhiều thế hệ. Những ca khúc
ấy đã góp phần động viên, xốc dậy tinh thần và làm nức lòng nhân dân hai
miền Nam - Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đến nay, những
bài hát như: “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” (thơ Phạm Tiến Duật,
nhạc Hoàng Hiệp), “Lá đỏ” (thơ Nguyễn Đình Thi, nhạc Hoàng Hiệp), “Đêm
Trường Sơn nhớ Bác” (thơ Nguyễn Trung Thu, nhạc Huy Du)… vẫn là những
bài ca về Trường Sơn hay nhất, sống mãi với thời gian.
Góp sức
cho kháng chiến, nhà thơ Phạm Tiến Duật có 14 năm tại ngũ, trong đó có 8
năm gắn bó với Trường Sơn, với Đoàn 559. Phạm Tiến Duật đã từng nói
rằng, việc ông có mặt trên tuyến đường Trường Sơn máu lửa, cuốn vào cuộc
chiến ác liệt của quân và dân ta là một cuộc phiêu bạt lớn của số phận.
Bài thơ “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” của ông được sáng tác cuối
năm 1969, tại làng Cổ Giang, bên bờ sông Son, tỉnh Quảng Bình. Ngay từ
khi mới ra mắt bạn đọc, bài thơ đã luôn có mặt trong túi áo của nhiều
người lính trên chiến trường. Khi bài thơ được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ
nhạc thì chất thơ, chất nhạc quyện chặt với nhau, nâng cánh cho nhau
vang vọng khắp các chiến trường, thôi thúc hàng triệu trái tim xông pha
nơi tiền tuyến, giết giặc lập công… Khắp các mặt trận, bộ đội ta hát
vang bài hát “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây”. Bài hát đã trở thành
một bản tình ca trong chiến tranh.
Lung linh hình ảnh bộ đội cụ Hồ
Trường
Sơn hùng vĩ và con đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã đi vào lịch sử Việt
Nam như một bản hùng ca rất đáng tự hào trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Những địa danh lịch sử, những chiến công hào hùng xuất phát từ lòng
yêu nước thiết tha của những chiến sỹ cách mạng đã làm nên một trang sử
oanh liệt. Sự hy sinh cao cả, những mối tình trong sáng, nồng nàn của
người chiến sĩ tuổi thanh xuân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã được
các thi sĩ, nhạc sĩ tái hiện thành một bức tranh vô cùng sinh động từ
thế giới huyền ảo của âm thanh.
Qua lăng kính người nghệ sĩ,
hình ảnh cao đẹp, thế giới nội tâm của người chiến sỹ cách mạng được
hiện lên muôn màu muôn vẻ, đầy cảm xúc trữ tình, lung linh cùng với dải
Trường Sơn trùng điệp. Từ “Bài ca Trường Sơn” (Trần Chung phổ thơ Gia
Dũng), “Chiếc gậy Trường Sơn” (Phạm Tuyên), cho đến “Bước chân trên dải
Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối) hay “Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn” (Hoàng
Hà), “Tiếng đàn Ta lư” (Huy Thục), đến “Tôi người lái xe” (An Chung),
“Vui mở đường” (Đỗ Nhuận)... Và nhiều, rất nhiều bài hát nữa của nhiều
nhạc sỹ còn ghi đậm dấu ấn với người nghe, những nét đẹp về người lính
một thời binh lửa, đã trở thành những “Bài ca không quên” mà nhạc sỹ
Phạm Minh Tuấn đã từng viết.
Những giai điệu tuyệt đẹp về
Trường Sơn vang lên, như gợi lên cho chúng ta một bức tranh hoàn mỹ của
một Trường Sơn hùng vĩ, mà hình ảnh người chiến sỹ giải phóng như một
nét chấm phá nổi bật nhất. Người chiến sỹ như hòa quyện cùng thiên
nhiên, cây cỏ, như trải rộng tấm lòng mình với Trường Sơn yêu dấu: “Dừng
chân bên Trường Sơn, nghe con suối hát, nhìn phong lan đua nở, vách núi
cheo leo”, hay “Mùa xuân qua Trường Sơn, vui náo nức quá đoàn quân đang
băng nhanh ra chiến trường xa, mùa xuân rung hoa tươi đón chào...”.
Nguyễn
Hữu Quý - một nhà thơ của Trường Sơn hôm nay, năm 2009, đã xuất bản Tập
trường ca “Vạn lý Trường Sơn”, viết bằng tình cảm, tâm thức về hàng
chục nghìn đồng đội đã ngã xuống. Những người lính bước vào đời sống
trận mạc giản dị, mộc mạc và thầm lặng như chính con người họ: “Làm
chiến sĩ/họ lẫn vào chiến sĩ/làm nhân dân/họ lẫn vào nhân dân/mở đường
trận/họ lẫn vào đất đá/lẫn vào mây/vào gió/vào rừng…”. Những người lính
đến với Trường Sơn đã vượt qua mọi nỗi sợ hãi bom đạn kẻ thù, kể cả là
cái chết, tất cả vì tuyến đường, tất cả vì Tổ quốc thiêng liêng.
Năm
mươi lăm năm đường Trường Sơn cũng là chẵn 55 năm có một đề tài Trường
Sơn hiện hữu sáng ngời trong văn học, với một đội ngũ các nhà văn áo
lính thế hệ sau nối thế hệ trước tâm huyết với đất và người Trường Sơn,
gắn bó máu thịt với những trang viết về chiến tranh cách mạng và người
lính. Đội ngũ nhà văn ấy, những trang viết ấy không chỉ góp phần làm
phong phú thêm mà còn tạo nên nét độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại.
Trần Tiến Duẩn
Ðôi chi tiết về bài thơ Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây
Bài viết này được cố Nhà thơ Phạm Tiến
Duật viết khi ông còn sống, với những kỷ niệm nhỏ xung quanh bài thơ nổi
tiếng “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây”. Xin trân trọng giới thiệu lại
cùng bạn đọc.
LTS:
Bài viết này được cố Nhà thơ Phạm Tiến Duật viết khi ông còn sống, với
những kỷ niệm nhỏ xung quanh bài thơ nổi tiếng “Trường Sơn Đông - Trường
Sơn Tây”. Xin trân trọng giới thiệu lại cùng bạn đọc.
Bài thơ Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây
tôi sáng tác hồi cuối năm 1969 tại một làng nhỏ bên bờ sông Son của
tỉnh Quảng Bình, làng Cổ Giang, một làng nghèo khó mà nền nếp. Cái làng
ấy ở không xa nơi cổng đường 20 xe ngang dãy núi Trường Sơn. Thấm thoát
đã gần ba mươi năm rồi. Tuổi đất, tuổi người dài ra cũng ối chuyện mà
tuổi tác phẩm - của bất kỳ ai - dài ra cũng không ít chuyện.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật (thứ hai bên phải) tại Hội nghị mừng công của Bộ đội Trường Sơn mùa khô 1970-1971. Ảnh: VNEXPRESS
Từ nhiều năm nay, trong các băng nhạc karaoke có chạy bài hát cùng tên phổ thơ tôi do Nhạc sĩ Hoàng Hiệp làm nhạc. Câu thơ “Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ” của bài thơ ấy được băng hình đánh chữ là “Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ”.
“Xua tan” như thế thì còn gì là tình yêu. Băng hình không chỉ “xua tan”
nỗi nhớ mà còn “xua tan” cả thơ ca nữa. Lỗi ấy của người làm băng chứ
không phải của nhạc sĩ. Cũng phải nói thêm rằng, những người làm băng ấy
vi phạm bản quyền, phớt lờ tác giả. Câu chuyện ấy chỉ làm tôi buồn cười
chứ lạ sao không thấy bực mình. Thì văn hoá tới đâu thì làm tới đó, chứ
biết làm sao. Mà họ có làm văn hoá đâu, họ làm kinh tế đấy chứ. Một
thời ngỡ tưởng gần mà đã hoá ra xa.
Ở bài hát, Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây
là một bản tình ca trong chiến tranh. Một anh, một chị yêu nhau trong
xa cách. Còn ở tác phẩm thơ, yếu tố tình ca trộn lẫn với quân ca. Có tám
dòng thơ nhạc sĩ không phổ. Ở khổ thứ hai từ trên xuống:
“Một dãy núi mà hai màu mây
Bên nắng bên mưa khí trời cũng khác
Như anh với em như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền”.
Và ở khổ thứ hai từ dưới lên:
“Ðông sang Tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn cô gái ba sẵn sàng xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh”.
Như vậy, trong thơ không chỉ có hai người
mà còn có hai “lực lượng”. Ba chữ như ở đoạn trên nói rằng đây chỉ là ví
dụ mà thôi. Âm nhạc viết theo thể hát nói trữ tình đã cộng hưởng rất
đẹp với thơ.
Cả bài thơ, như đã nói, làm xong cuối năm
1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm. Bây giờ, nhân
vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một hoạ sĩ đã thành danh. Hồi
ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía Ðông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin
xe đi sang phía Tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của
anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa,
cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên:
“Anh lên xe trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”
Bài thơ được viết sau nhiều chặng đường
vượt rừng gian nan. Cho đến nỗi, nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó
bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy. Chẳng hạn như câu này: “Nước khe cạn, bướm bay lèn đá”
không phải là một câu thơ tả đẹp mà là một quan sát đáng run sợ của
lính trinh sát. Nếu thấy cảnh ấy vào lúc chập chiều thì cầm chắc là đói
vì không thể có nước nấu cơm. Mười cây số vuông quanh đi không thể có
nguồn nước. Hay là câu này: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo”, một bạn Việt kiều và một nhà thơ Pháp đã dịch là “Muỗi bay, mọi người mặc áo măng tô vào” thì thật buồn cười. Họ không đi lính thì trách sao được.
Bây giờ, đọc lại, nghe lại, như một người
ngoài cuộc vô cảm tôi vẫn thấy trong lòng bồi hồi. Từ nhiều năm nay,
thật nhiều bài thơ người ta gọi là thơ tình, nhiều ca khúc người ta gọi
là tình ca, nhưng sao nghe chỉ thấy tán tỉnh, có lúc tán tỉnh đến thô
lỗ. Thấy quá nhiều sự ích kỷ nhuộm vào các câu chữ. Nhớ lại thời ấy,
không phải để tự khen mình và đồng đội của mình mà rưng rưng cảm động.
Hình như, không yêu được số đông người thì cũng khó mà yêu lấy một
người. Sự ích kỷ với thiên hạ có chứa lực phản.
Không, không chỉ một tôi viết Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây mà cả con muỗi, con bướm, cái gạt nước, ngọn măng rừng và đồng đội của chúng ta cùng viết./.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật
Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây - Thu Hiền, Trung Đức
Người mở đầu một trường phái thơ viết về chiến tranh
Ngày 4/12/2017, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức kỷ niệm 10 năm
ngày mất nhà thơ Phạm Tiến Duật. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ
thuật 2012 đã vinh danh một số nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của đất nước,
trong đó có cố nhà thơ Phạm Tiến Duật, người đã có 8 năm sống và viết
trên đường mòn Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn thời kháng chiến chống
Mỹ.
Tôi muốn dùng hình ảnh “Con đại bàng”
của thi ca Trường Sơn để nói về nhà thơ Phạm Tiến Duật vì vào thời điểm
khó khăn nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (năm 1969), những
bài thơ của ông viết trên đường mòn Hồ Chí Minh giữa những đợt bom rải
thảm đã vượt bay lên trên bầu trời thi ca yêu nước, làm xúc động hàng
triệu trái tim thanh niên đang ra trận và thơ của ông như cánh chim đại
bàng kiêu hãnh dự báo ngày toàn thắng đang đến gần.
Sau
này, khi nhìn lại chặng đường văn học của đất nước qua mấy chục năm
chiến tranh, nhà phê bình văn học Lê Đình Kỵ có viết trên Báo Văn nghệ,
đại ý rằng, trong thời kỳ chống Mỹ, có hai trường phái thơ: Trường phái
Chế Lan Viên và trường phái Phạm Tiến Duật; Trường phái thứ nhất, tìm
cái đẹp từ bên trong sự ngưng đọng của lý trí; Trường phái thứ hai chủ
yếu tìm cái đẹp từ trong các diễn biến sôi động của cuộc sống.
Nhà
thơ Phạm Tiến Duật rất tâm đắc với nhận định này, ông cho rằng: “Lê
Đình Kỵ đã gọi đúng về tôi. Nếu không có cuộc sống với những con người
đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút, từng
giờ, thì hình như tôi không có thơ. Tài liệu của văn chương phải là cái
thiện. Cái ác lấy sự sắp đặt lý trí làm trọng, còn cái thiện lấy sự uẩn
xúc của tình đời làm trọng.
Có
nền văn học lớn nào trên thế giới lại thiếu cái tình uẩn xúc ấy? Cứ
ngẫm một hồi về thơ Đường và thơ Tống, cũng rõ. Nhưng muốn làm cái ác đã
khó mà muốn làm cái thiện còn khó hơn nhiều. Muốn có cái thiện của thời
này phải học kỹ lưỡng lắm. Chẳng hạn, muốn trung thực mà không hiểu
biết cũng không thể trung thực được. Vậy trước mặt nhà văn luôn luôn là
một biển đời”.
Phạm Tiến Duật sinh ngày
14/1/1941, quê gốc thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Cha ông là nhà giáo,
dạy chữ Hán và chữ Pháp. Mẹ ông làm ruộng, không biết chữ. Từ bé Phạm
Tiến Duật đã đi học xa nhà. Ông học qua bậc phổ thông, đến hết Đại học
Sư phạm Văn khoa Hà Nội rồi gia nhập quân đội. Phạm Tiến Duật sống và
viết trong chiến tranh trên đường mòn Hồ Chí Minh ở Trường Sơn (8 năm
trong tổng số 14 năm quân ngũ). Sau khi được trao giải nhất cuộc thi thơ
Báo Văn nghệ năm 1969-1970, ông về làm biên tập thơ rồi làm Phó trưởng
Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn
nghệ Việt Nam.
Có thể nói, thời điểm đầu những
năm bảy mươi của thế kỷ trước, thơ của Phạm Tiến Duật đã mở ra một cái
nhìn mới rất hiện đại và rất sống động về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước với những bài thơ như: “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Lửa
đèn”, “Tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”,
“Nhớ”, “Tiếng bom ở Seng Phan”…Thơ của ông những năm tháng ấy đã có mặt
trong hành trang tinh thần của những người lính ra trận để động viên,
chia sẻ và cổ vũ tinh thần chiến đấu của họ, thơ ông được phổ nhạc và
hát khắp các nẻo đường chiến tranh:
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.
Trường Sơn Tây anh đi, thương em Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo Muỗi bay rừng già cho dài tay áo Hết rau rồi, em có lấy măng không.
Còn em thương anh bên Tây mùa đông Nước khe cạn bướm bay lèn đá Biết lòng anh say miền đất lạ Chắc em lo đường chắn bom thù
Thơ
của Phạm Tiến Duật (nhất là thơ viết về chiến tranh) có một giọng điệu
riêng và khác biệt, không thể lẫn với thơ của người khác và ông đã có
công mở đầu cho một trường phái thơ chiến tranh hằn in dấu ấn nhọc nhằn,
lấm láp và hồn nhiên của người lính trận mạc thủa ấy.
Thời
điểm chiến tranh ấy, Phạm Tiến Duật kể lại, có dịp ở Trường Sơn ra Hà
Nội, ông tìm ngay đến các ông thầy lớn về văn chương để học hỏi. Ông đến
thăm nhà thơ Chế Lan Viên để tìm hiểu cung cách làm việc. Hỏi thẳng thì
cụ Chế không nói, nhưng bằng cách này cách khác, Phạm Tiến Duật đã học
được một số kỹ năng trong sáng tạo thi ca của cụ Chế và ông nhận xét:
“Thì ra ngoài việc Làm bài, Chế Lan Viên còn Làm câu nữa. Nghĩa là trong
ánh chớp, thấy hiện ra một vài câu thơ thì chép ngay vào sổ tay.
Cái
câu có vẻ vô nghĩa “Tò vè cái tỏ vẻ” là câu nói mớ của đứa con gái nhỏ
của nhà thơ Chế Lan Viên, ít lâu sau, câu ấy rơi vào một bài thơ của
ông. Tôi thử học tập làm cách ấy và đôi khi cũng kiếm được một đôi dòng.
Câu thơ trong bài “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”: “Anh lên xe trời đổ cơn mưa/ Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ” là câu ghi chép trong buồng lái của một chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn.
Mãi mấy tháng sau bài thơ có câu thơ kia mới được sáng tác. Câu thơ trong trường ca “Những vùng rừng không dân của tôi” “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay” cũng là câu ghi chép trong sổ tay. Dường như Làm câu cũng là một tận dụng thời khắc sinh học chăng?”.
Đi
qua những năm tháng trận mạc gian lao, bài thơ “Vòng trắng” của Phạm
Tiến Duật luôn nhắc ta về nỗi đau chiến tranh luôn khắc khoải trong trái
tim mỗi người:
Bom nổ trên trời hiện lên những vòng đen Nhưng mặt đất lại sinh bao vòng trắng Tôi với bạn tôi đi trong im lặng Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.
Cái mất mát nào lớn bằng cái chết Khăn tang vòng tròn như một số không Nhưng bạn ơi ở bên trong vòng trắng Là cái đầu, bốc lửa ở bên trong.
Cuối
năm 1973, Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Tiến
Duật ra miền Bắc làm công tác sưu tầm tài liệu để chuẩn bị soạn thảo Văn
bia Trường Sơn… Vì vậy, Phạm Tiến Duật đã tận mắt chứng kiến hậu quả
tàn khốc của chiến tranh hủy diệt do không lực Hoa Kỳ gây ra, sau đó
viết bài thơ “Viết về số 0”, thường được gọi là “Vòng trắng”, đăng trên
Tạp chí Thanh niên như một nén nhang viếng những người dân tử nạn vì bom
B52 triệt phá phố Khâm Thiên, Hà Nội. Số báo dự kiến đăng tháng 12 năm
1973 nhưng bị lùi lại thành số tháng 1 năm 1974.
Bài
thơ không ngờ là một "tai họa" giáng xuống đầu nhà thơ. Ngay sau khi
bài thơ được in trên Tạp chí Thanh niên thì lập tức Tạp chí Học tập số 9
năm 1974 đã phê phán gay gắt rằng: “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung
sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương
và than thở...”.
Có lẽ vì vậy mà bài thơ này
không được in trong bất kỳ tập thơ nào của Phạm Tiến Duật sau này. Cho
đến trước khi anh qua đời, nhà văn Nguyễn Khắc Phục mới đưa vào “Tuyển
tập Phạm Tiến Duật” bài “Viết về số 0” do nhà thơ Trần Nhương sưu tầm và
giới thiệu. “Tuyển tập Phạm Tiến Duật” in xong chưa đầy 20 ngày trước
khi nhà thơ Phạm Tiến Duật qua đời năm 2007.
Bạn
bè và những người yêu mến thơ Phạm Tiến Duật thường nhắc đến một trong
những bài thơ cuối cùng ông viết tại Hà Nội vào trưa 27/7/2005, tặng
người bạn thân là nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Bài thơ có cái tựa đề nghe
khá chấn động nhưng đầy cảm xúc “Hỏa thiêu cho một người đang sống” với
những câu thơ đầy day dứt, trăn trở như không phải nhà thơ chỉ viết cho
bạn mà ngỡ ông đang viết cho chính mình:
Trong bóng tối bùa mê, anh ấy tự làm ma Tự thiêu cái bóng mình giữa thanh thiên bạch nhật
Thân xác ngỡ còn mà biến mất: Đã cháy rồi những ngày tháng bơ vơ Chàng thủy thủ không tàu, không biển Túi không tiền, đầu không ý nghĩ Ngủ lang với một sợi tóc rụng của đàn bà Đã cháy rồi những hào quang huyễn hoặc Những năm tháng làm vua mà không có triều đình
Đã cháy rồi những vướng bận linh tinh Những xuẩn ngốc, tham lam cùng dối trá Những thân thể lưu manh mặc áo trịnh trọng Những phản bội ngọt ngào đòi được mang ơn
Đã cháy rồi những trống rỗng đầy ắp Với rượu với bia và trăm thứ bà rằn Không cô đơn ồn ào không chỗ nấp Những con đường nhựa bị rải đinh 5 phân
Đã cháy cả rồi những thành công đích thực Những ân nghĩa của dân và của lính Thành công nào cũng chỉ là quá khứ mà thôi Anh tự thiêu cái bóng và gia tài của mình Tất cả đều cháy tàn cháy rụi
Từ đám tang trở về, tôi quay trở lại Thấy một trái tim không cháy Những trang giấy không cháy Và những giọt nước mắt đàn bà hóa ngọc giữa tàn tro…
Cách
đây mười lăm năm (năm 2002), với cái nhìn tiên tri của một nhà thơ từng
trải nghiệm chiến tranh, Phạm Tiến Duật trong bài viết “Đất nước và
trang văn” đã nêu vấn đề độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia như sau:
“Nghĩ rằng đất nước yên hàn rồi là một ý nghĩ thiển cận. Vào đầu thế kỷ
XXI này, vấn đề quốc gia và chủ quyền quốc gia lại nổi lên thành một vấn
đề lớn. Lớn đến mức chưa bao giờ lớn đến thế.
Những
thế kỷ trước, chỉ khi gót giày của quân xâm lăng xéo lên giang sơn thì
Tổ quốc mới lâm nguy. Nay thì chưa cần đến thế. Đội quân xâm lăng chưa
thấy hiện ra mà xem chừng nhiều quốc gia đã mất chủ quyền. Xâm lược từ
xa là nét mới của thế kỷ XXI. Thế thì chủ đề độc lập tự chủ, chủ đề đất
nước đâu có thể coi là của thời kỳ kháng chiến.
Một
trong những lý do thành công của trùng điệp các thế hệ nhà văn Việt Nam
là nhiệt độ của lòng yêu nước đã làm nên sự nồng nàn trên mỗi trang
văn”. Giờ thì cố nhà thơ Phạm Tiến Duật đã ở cách chúng ta cả một thế
giới, nhưng những nhận định trên của ông cho ta thấy tâm thế của một nhà
thơ yêu nước vẫn tỏa sáng mãi, nhất là trong những tháng năm nhiều biến
động này.
Nguyễn Việt Chiến
Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Phạm Tiến Duật
05-11-2018 10 245 0 0
Nhà
thơ Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941,
mất năm 2007. Ông tốt nghiệp khoa Văn, Đại học sư phạm, nhưng chưa đi
dạy ngày nào. Ông nhập ngũ năm 1965 có mười bốn năm trong quân đội thêm
tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói Trường
Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang
được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ,
người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất
cũng ở chặng Trường Sơn. Sau khi chiến tranh đã qua, tâm hồn thơ Phạm
Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết vẫn còn
vang ngân lắm hình bóng của Trường Sơn. Phạm Tiến Duật có giọng thơ
không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đã thấy vài
người mô phỏng. Khó vì giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại
đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người. Giọng ấy là của một
chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa.
Toplist.vn xin giới thiệu những bài thơ hay của ông.
1
2018-11-05 19:30:25
Bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
1969
Bài
thơ này trong chùm thơ Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơ
của báo Văn nghệ năm 1969 và được tác giả đưa vào tập thơ Vầng trăng
quầng lửa.
Nguồn: Vầng trăng quầng lửa, NXB Văn học, 1970
NSUT Linh Nhâm ngâm thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật
2
2018-11-05 19:33:41
Bài thơ: Trường Sơn đông, Trường Sơn tây
Trường Sơn đông, Trường Sơn tây
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.
Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.
Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.
Em thương anh bên tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù
Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.
Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.
Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.
Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG, TRƯỜNG SƠN TÂY (THƠ PHAM TIẾN DUẬT - NHẠC HOÀNG HIỆP)
3
2018-11-05 19:36:23
Bài thơ: Gửi em, cô thanh niên xung phong
Gửi em, cô thanh niên xung phong
Có lẽ nào anh lại mê em
Một cô gái không nhìn rõ mặt
Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất
Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là “Thạch Nhọn”
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.
Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đoạn đường này các em làm đâu
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.
Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Ðất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim
Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Ðường trong tim anh in những dấu chân.
Chiếc võng bạc trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?
Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Ðêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường
Cạnh giếng nước có bom từ trường
En không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm
Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy...
Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường xá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.
Bài thơ viết tại Đức Thọ năm 1968.
Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
Bài thơ: GỬI EM, CÔ THANH NIÊN XUNG PHONG (Phạm Tiến Duật)
4
2018-11-05 19:36:24
Bài thơ: Cái cầu
Cái cầu
Cha gửi cho con chiếc ảnh cái cầu
Cha vừa bắc xong qua dòng sông sâu
Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế,
Con cho mẹ xem - cho xem hơi lâu
Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê,
Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ,
Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió.
Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre.
Yêu cái cầu vồng khi trời nổi gió
Bắc giữa trời cao, vệt xanh vệt đỏ,
Dưới gầm cầu vồng nhà máy mới xây
Trời sắp mưa khói trắng hơn mây.
Yêu cái cầu tre bắc qua sông máng
Mùa gặt con đi đón mẹ bên cầu:
Lúa hợp tác từng đoàn nặng gánh
Qua cầu tre, vàng cả dòng sâu
Yêu cái cầu treo lối sang bà ngoại
Như võng trên sông ru người qua lại,
Dưới cầu nhiều thuyền chở đá chở vôi;
Thuyền buồm đi ngược, thuyền thoi đi xuôi.
Yêu hơn, cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này ảnh chụp xa xa;
Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mã
Con cứ gọi: cái cầu của cha
5-1964
Bài thơ: CÁI CẦU (Phạm Tiến Duật)
5
2018-11-05 19:41:45
Bài thơ: Nhớ
Nhớ
Lời một chiến sỹ lái xe
Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
1969
Ảnh minh họa (nguồn internet)
6
2018-11-05 19:44:05
Bài thơ: Lửa đèn
Lửa đèn
I - ĐÈN
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Quả cây chín đỏ hoe
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè,
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu,
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng...
Mạch đất ta dồi dào sức sống
Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương
Chúng nó đến từ bên kia biển
Rủ nhau bay như lũ ma trơi
Từ trên trời bảy trăm mét
Thấy que diêm sáng mặt người
Một nghìn mét từ trên trời
Nhìn thấy ngọn đèn dầu nhỏ bé
Tám nghìn mét
Thấy ánh lửa đèn hàn chớp loé
Mà có cần đâu khoảng cách thấp cao
Chúng lao xuống nơi nao
Loé ánh lửa,
Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa.
Trên đất nước đêm đêm
Sáng những ngọn đèn
Mang lửa từ nghìn năm về trước,
Lấy từ thuở hoang sơ,
Giữ qua đời này đời khác
Vùi trong tro trấu nhà ta.
Ôi ngọn lửa đèn
Có nửa cuộc đời ta trong ấy!
Giặc muốn cướp đi
Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy
II - TẮT LỬA
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
Không nhìn thấy gì đâu
Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
Bông hoa làm duyên phải luỵ hương bay...
Bóng tối phủ dày
Che mắt địch
Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích
Kéo pháo lên trận địa đồng cao
Tiếng khẩu đội trưởng ở đâu
Đấy là đuôi khẩu pháo
Tiếng anh đo xa điểm đều
Vang ở đâu, đấy là giữa điểm đồ
Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ôtô,
Những đoàn xe đi như không bao giờ hết,
chiếc sau nối chiếc trước ì ầm
Như đàn con trẻ chơi u chơi âm
Đứa này nối hơi đứa khác.
Nơi tắt lửa là nơi dài tiêng hát
Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường;
Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi khét
Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương
Đêm tắt lửa trên đường
Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
Là tiếng những đoàn quân xung kích
Đi qua.
Từ trong hốc mắt quầng đen bóng tối tràn ra
Từ dưới đáy hố bom sâu hun hút
Bóng tối dâng đầy toả ngợp bao la,
Thành những màn đen che những bào thai chiến dịch
Bóng đêm ở Việt Nam
Là khoảng tối giữa hai màn kịch
Chứa bao điều thay đổi lớn lao,
Bóng đêm che rồi không nhìn thấy gì đâu
Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ.
III - THẮP ĐÈN
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi đêm ngày giặc điên cuồng bắn phá
Những ngọn đèn vẫn cứ thắp lên
Chiếc đèn chui vào ống nứa
Cho em thơ đi học ban đêm,
chiếc đèn chui vao lòng trái núi
Cho xưởng máy thay ca vời vợi,
Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn
Cho những tốp trai làng đọc lá thư thăm
Ta Thắp đèn lên trên đỉnh núi
Gọi quân thù đem bom đến dội
Cho đá lở đá lăn
Lấy đá xây cầu, lấy đá sửa đường tàu
Ta bật đèn pha ôtô trong chớp loè ánh đạn
Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi...
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng
Anh dắt tay em, trời chi chit sao giăng
"Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm"
Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh
Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
Nơi ấy là phòng cưới chúng mình
Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp
Mang hình những người những cảnh hôm nay
Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối
Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay.
1967
Ghi
chú của tác giả: Hồi cuối năm 1966 tại Tây Bắc, tôi (PTD) đã có mấy
tháng là pháo thủ pháo cao xạ (tiểu đoàn 24 trực thuộc Quân khu). Ấy thế
mà còn viết nhầm. Do khi viết cứ mê đi, mụ đi mà nhầm. Ấy là dòng này
"Tiếng anh đo xa điểm đều như đếm nhịp chày giã gạo". Những dòng trên đã
cho thấy pháo đây là pháo tầm thấp. Ban đêm làm sao dùng được máy đo xa
bằng mắt thường. Nhưng thôi, không sửa. Đã là cuộc đời thì hẳn có tì
vết.
Nguồn: Thơ Phạm Tiến Duật, NXB Hội nhà văn, 2007
Ảnh minh họa (nguồn internet)
7
2018-11-05 19:46:31
Bài thơ: Đèo Ngang
Đèo Ngang
Pháo tàu địch đêm đêm nhằm bắn
Đèo vẫn nguyên lành nằm với biển reo
Nhà như lá đa rơi lưng chừng dốc
Sông suối từ đâu đổ xuống lưng đèo.
Đường nhằm hướng Nam,
Người nhằm hướng Nam,
Xe đạn nhằm hướng Nam
vượt dốc.
Bao nhiêu người làm thơ Đèo Ngang
Mà quên mất con đèo chạy dọc.
Ảnh minh họa (nguồn internet)
8
2018-11-05 19:49:10
Bài thơ: Khúc hát thanh xuân
Khúc hát thanh xuân
Sẽ đến lúc ta trở về già
Nhưng tới đó hãy hay, giờ ta còn trẻ chán
Bắt chước dáng cụ già không khó lắm
Đến khi già, muốn trẻ, khó làm sao
Lúc còn trẻ ra biển dễ hơn khi già ra ao
Lúc trẻ ta lội rừng dễ hơn là khi già thăm vườn mà mỏi gối
Với tuổi trẻ không có đêm nào gọi là đêm tối
Mưa đã là bạn ta, nắng cũng là bạn ta
Ta cày mặt đất lên trong ánh nắng chói loà
Ta gieo mạ theo đường chân trời cho lúa mọc
Cười cái cần câu, ta huơ cần trục
Lấy cân tạ ta cân và thước cây số ta đo
Nhưng ta lấy phút giây để tính thì giờ
TÌnh yêu sẵn trong ta đến bồn chồn biết mấy
Thân thể ta là toà lầu lộng lẫy
Ánh sáng chứa bên trong và tiếng hát tràn đầy
Ta nguyện là đầu rễ, ta nguyện là ngọn cây
Nơi ta tựa ấy thân cành vững chãi
Tuổi già vui cùng ta mà trẻ lại
Trẻ em nhìn sức vóc ta mà lớn lên
Nhưng có một điều xin bè bạn đừng quên
Là chính khúc hát thanh xuân này các cụ già đã hát
Ta nhẩm lại, bỗng thấy lòng dào dạt
Nên lại hát tuổi mình ở chính bàn tay
1978
Nguồn: Báo Tiền phong, số ngày 30-1-1979
Ảnh minh họa (nguồn internet)
9
2018-11-05 19:51:12
Bài thơ: Hương trầm Đức Phổ
Hương trầm Đức Phổ
Hương trầm bay trên đất quê hương
Đặng Thuỳ Trâm nơi này em nằm lại
Tôi ao ước dù trong tưởng tượng
Nâng mái tóc em mãi mãi tuổi hai mươi
Ơi! Đặng Thuỳ Trâm, Đặng Thuỳ Trâm ơi
Em là trầm thơm nơi đất lành Đức Phổ
Dù trong lửa bom rơi vẫn hiện lên rạng rỡ
Gương mặt người bác sĩ đoan trang
Đây những dòng ghi từ nơi em nằm lại
Nói với bao người thắp sáng niềm tin
Để ngàn năm lớp lớp tuổi hai mươi
Mang trái tim Đặng Thuỳ Trâm và tình yêu đất nước
Từ Đức Phổ nơi dấu chân bao người đi trước
Hương Trầm bay, thơm ngát trời xanh.
Theo
bài báo “Một bài thơ chưa in của nhà thơ Phạm Tiến Duật” (Báo Văn nghệ
công an, ngày 19-8-2013), bài thơ này được Phạm Tiến Duật viết khoảng
tháng 6-2017, trước khi biết mình bị bệnh và qua đời, được đưa cho nhạc
sĩ Lê Gia Hiếu để phổ nhạc biểu diễn trong chương trình hát về Đặng Thuỳ
Trâm nhân dịp tỉnh Quảng Ngãi hoàn thành một bệnh xá mang tên chị ở
huyện Đức Phổ. Ca khúc cùng tên đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam
những ngày sau đó.
Nguồn: Lê Gia Hiếu, “Một bài thơ chưa in của nhà thơ Phạm Tiến Duật”, Báo Văn nghệ công an, ngày 19-8-2013
Ảnh minh họa (nguồn internet)
10
2018-11-05 19:55:25
Bài thơ: Một giờ và mười phút
Một giờ và mười phút
Tặng T.V
Cứ một giờ lại nghỉ mười phút
Trong buổi hành quân đi bộ sáng nay
Anh bỗng nhớ em lên lớp mỗi ngày
Cứ một giờ lại nghỉ mười phút
Chẳng phải điều gì cũng lặp lại nhau đâu
Giữa năm tháng hào hùng và biến động
Em của anh, quanh ta là cuộc sống
Chẳng phải điều gì cũng lặp lại nhau đâu
Khi em ngồi nhớ anh ngày chủ nhật thẳm sâu
Anh đang lội bùn, trong rừng đầy lá mục
Lúc em ngồi với học sinh là lúc
Anh đứng đỉnh đèo gió thổi mênh mông
Giấy bạc thuốc lá để lại đầy phòng
Khi em cắt làm hoa cho học sinh đem múa
Là khi anh đi những nơi bom nổ
Nào sắt nào nhôm phơi bạc vùng rừng
Tấm bảng đen em vẽ những đường cong
Tấm bảng đêm anh vạch lên đường đạn
Vết phấn trắng và vệt đồng cháy sáng
Ở hai đầu trận địa em ơi
Không trùng lặp nhau đâu giữa dài rộng cuộc đời
Nhưng có điều này giấu nỗi riêng chi chút
Cứ một giờ lại nghỉ mười phút
Tiếng trống trường đã điểm chưa em?
Mười phút cho chung hay mười phút cho riêng
Mà lúc nhớ nhau lại nghĩ về đất nước
Ngày thắng giặc đang tới gần phía trước
Tình yêu nào không nhắc đến ngày mai
Như hai bánh xe hiện tại với tương lai
Cuồn cuộn lăn đi vùn vụt
Rạo rực những giờ sau mười phút
Thời gian đi như một vệt sao dài
Nguồn: Ở hai đầu núi (thơ), Phạm Tiến Duật, NXB Tác phẩm mới, 1981
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét