CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI 2/A

-Lịch sử là hiện thực quá khứ.
-Có những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng của người đời.
-"bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
                                  sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…"
                                             (Nguyễn Trọng Tạo)
 
--------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Đường HỒ CHÍ MINH Trên Biển – Trận Đồ Bát Quái Trên Biển Đông, Xuyên Suốt Từ Thời Pháp Tới VNCH
  
Những người lính cảm tử của đoàn tàu không số

Đường Hồ Chí Minh trên biển – tuyến vận tải chiến lược huyền thoại
Kỷ niệm 42 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (304/1975 – 30/4/2017) và Chào mừng 52 năm Ngày truyền thống ngành Hàng hải Việt Nam (5/5/1965 – 5/5/2017), Vinalines xin giới thiệu bài viết về tuyến vận tải chiến lược trên biển hoạt động liên tục trong suốt 14 năm (1961 – 1975), với hành trình hàng vạn hải lý, bằng nhiều phương án đi và đến, chi viện kịp thời sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra một trang sử vẻ vang mới cho dân tộc Việt Nam.

Tàu không số vận chuyển hàng hóa, vũ khí trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển

Cách đây 56 năm, thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, ngày 23/10/1961, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay. Với tên gọi “Đoàn tàu Không số”, trong một điều kiện vô cùng gian khổ và thiếu thốn, với sự sáng tạo tài tình, mưu trí, các chiến sỹ  đã vận dụng nhiều cách thức đi biển rất linh hoạt, kết hợp cả các yếu tố vừa công khai vừa bí mật để có thể vận chuyển hàng hóa một cách an toàn mà vô cùng hiệu quả, nhằm chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam.
Trong suốt 14 năm liên tục (từ năm 1961 cho đến ngày toàn thắng lịch sử 30/4/1975), Đoàn tàu Không số đã dệt nên huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển, tạo ra một hướng tiếp tế chiến lược hết sức quan trọng, đưa hàng trăm ngàn tấn vũ khí, hàng hóa vào các chiến trường xa – nơi mà tuyến vận tải chiến lược đường bộ chưa với tới, với một số lượng vũ khí còn lớn hơn cả số đưa vào bằng đường bộ trong cùng một thời gian.
Tổng cộng, Đoàn tàu Không số đã vận chuyển được hơn 150.000 tấn vũ khí, trang thiết bị và đưa hàng chục ngàn lượt cán bộ từ miền Bắc vào chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Trong các chuyến đi, Đoàn tàu Không số đã phải khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi; chống chọi với nhiều cơn bão; đánh trả hơn 30 lần tàu địch bao vây; chiến đấu với hơn 1.200 lần máy bay địch tập kích; bắn rơi 5 chiếc máy bay và bắn cháy nhiều tàu thuyền của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong giai đoạn từ năm 1962- 1972, các báo cáo của cơ quan tình báo Mỹ và các chuyên gia quân sự Mỹ về tình hình Việt Nam đã nhiều lần đề cập đến con đường vận chuyển vũ khí trên biển, trong đó, có những ghi nhận, đánh giá về tuyến vận tải quân sự chiến lược huyền thoại này.
Ngày 11/10/1962, chiếc tàu vỏ gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí mang mật danh: “Phương Đông I” rời Đồ Sơn lên đường vào Nam. Tiếp theo, trong những năm 1963, 1964, các con tàu bé nhỏ, đầy ắp vũ khí liên tục rời Đồ Sơn và một số bến khác (Bính Động, Bãi Cháy), vượt qua hàng ngàn hải lý và hàng rào ngăn chặn phong tỏa gắt gao của máy bay, tàu chiến địch, đưa hàng vào chiến trường Nam bộ và Nam Trung bộ. Có thêm lực lượng, có vũ khí trang bị tốt, quân và dân miền Nam đẩy mạnh hoạt động tác chiến và hoạt động mạnh mẽ ấy khiến cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn càng thêm nghi ngờ về con đường vận chuyển vũ khí của ta trên biển, song chúng vẫn chưa tìm ra manh mối.
Trong giai đoạn này, tuyến chi viện chiến lược – đường Hồ Chí Minh trên bộ (559) đã được mở qua Bình – Trị – Thiên, Khu V, Tây Nguyên. Còn các chiến trường xa như Nam bộ, Trung Nam bộ chỉ có thể dùng đường biển. Với các chiến trường này, một viên đạn, một khẩu súng là rất quý giá. Vài chục tấn vũ khí từ miền Bắc đưa vào có thể trang bị cho một sư đoàn. Như vậy, với hàng ngàn tấn vũ khí được chuyển bằng đường biển đến chiến trường có tầm quan trọng đặc biệt, mang ý nghĩa sống còn đối với cuộc chiến đấu của quân, dân ta ở các chiến trường Nam bộ và Nam Trung bộ. Đặc biệt, sự chi viện kịp thời những loại vũ khí mới, tương đối hiện đại, có tính năng chiến đấu cao đã làm thay đổi cách đánh, thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội như: Ấp Bắc, Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là, Bình Giã…
Sau trận Ấp Bắc, báo The Washington post, số ra ngày 7/1/1963 viết: “…Những người Cộng sản coi đây là chiến thắng lớn đầu tiên… Quan trọng hơn, họ đã mới phát triển thành công những kỹ thuật đương đầu được với những công nghệ của Mỹ cung cấp cho miền Nam Việt Nam…”. Từ khi quân ta ở Nam Bộ có tiểu liên AK, súng chống tăng B41, DKZ 57, DKZ 75 cối 81, cối 120… thì việc hạ máy bay, đánh các loại tàu chiến, các loại xe, nhổ đồn bốt diễn ra liên tục, khiến đối phương từ chủ quan, hung hăng đến khiếp sợ, né tránh rồi chùn bước. Báo cáo ngày 15/9/1963 của Nguyễn Thành Hoàng, Tỉnh trưởng An Xuyên (Cà Mau), ghi rõ: “Vũ khí của Việt cộng vượt ra ngoài tất cả các ước tính của chúng ta. Việt cộng đã dùng cối 81, Đại liên 12,7mm, DKZ75… là những thứ mà Quân đội Việt Nam Cộng hòa chưa có. Đạn của chúng rất dồi dào, điều mà trước đây chúng chưa bao giờ làm được”…
Khi phát hiện ra và thu được vũ khí của ta ở Vũng Rô, địch hết sức bất ngờ. Một loạt kế hoạch nhằm đánh phá miền Bắc, ngăn chặn mọi sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, kiểm soát chặt vùng biển lập tức được đối phương thực hiện. Trọng điểm là kế hoạch mang mật danh “Desoto”, đưa Hạm đội 7 vào Biển Đông để đánh phá miền Bắc và ngăn chặn sự thâm nhập của “Bắc Việt” vào Nam bằng đường biển.
Mặc dù Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa ra nhiều phương án, nhiều biện pháp và giả thiết hòng xóa sổ tuyến chi viện bằng đường biển của ta nhưng đều thất bại. Nhiều nhà chiến lược quân sự sừng sỏ của Mỹ vẫn không thể giải thích nổi vì nguyên cớ gì, bằng chiến thuật, bằng kỹ thuật gì, bằng sự màu nhiệm nào mà những con tàu bé nhỏ của đối phương có thể vượt qua bão tố, biển cả, vượt qua sự kiểm soát chặt chẽ của một hạm đội hùng mạnh với kỹ thuật tối tân, trang bị hiện đại, gần như rào kín trên biển, để tới được các bến bờ miền Nam.
Phía đối phương đã mất rất nhiều công sức và tiền bạc để lần tìm con đường trên biển của ta. Họ cho rằng: “Đường Hồ Chí Minh trên biển” là một hiện tượng kỳ lạ, vượt qua cả sự tưởng tượng thông thường. Trong cuốn sách: “Một số quan điểm chiến lược để bảo vệ duyên hải Việt Nam Cộng hòa”, Phó Đô đốc Hải quân Sài Gòn Nguyễn Hữu Chí viết: “…Trên thực tế, đối phương sử dụng biển khơi một cách thành thạo, mà việc di hành vào điểm đến càng tỏ ra đặc sắc hơn, làm kinh ngạc không ít chuyên viên đi biển… Trên phương diện quân sự, Bắc Việt đã biết khai thác biển khơi một cách thực tiễn hơn ta (Mỹ – ngụy)… giá trị của Hải quân Bắc Việt đã nói lên trước dư luận quốc tế”.
Có thể khẳng định, con đường Hồ Chí Minh trên biển của ta đã được đối phương dày công tìm kiếm, hòng hủy diệt nhưng chúng không thể thắng nổi ta, con đường vẫn vươn ra biển, mang theo những con tàu chở đầy vũ khí trang bị cung cấp cho chiến trường miền Nam đánh to, thắng lớn. Sự ra đời của Đường Hồ Chí Minh trên biển cùng với những chiến công của lực lượng Hải quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chứng minh về tầm quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nơi khởi nguồn đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại
Cập nhật lúc 09:45, Thứ Ba, 27/09/2016 (GMT+7)
Đến Đồ Sơn, TP. Hải Phòng, địa danh đầu tiên mà ai cũng muốn thăm đó là Bến tàu không số K15, nơi khởi nguồn con đường huyền thoại - đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây là địa danh lịch sử nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam.
Nằm dưới chân đồi Nghinh Phong - một trong những thắng cảnh đẹp nhất khu du lịch Đồ Sơn - di tích Bến tàu không số K15 là biểu tượng anh hùng ca ngợi lòng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ trên những con tàu không số năm xưa. Ngược dòng lịch sử, cuối năm 1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân (với tên gọi “Đoàn tàu không số”) để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Ngày 11-10-1962, chiếc tàu gỗ gắn máy không số đầu tiên mang tên Phương Đông 1 chở vũ khí dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Văn Một và Bông Văn Dĩa rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng), thẳng tiến về phương Nam, đến ngày 16-10 tàu cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn, khai thông tuyến đường vận chuyển vũ khí trên biển nối liền hai miền Nam - Bắc. Từ đây, hàng trăm chuyến tàu đã xuất phát, chở vũ khí, phương tiện và người chi viện đắc lực cho nhiều hướng chiến trường, nhiều chiến dịch lớn, địa bàn trọng yếu mà đường bộ chưa với tới được. Khai thông con đường đã khó, việc giữ bí mật con đường càng khó khăn hơn, bởi phải trải qua những chặng hành trình trong khu vực biển địch kiểm soát, lùng sục gắt gao. Thế nhưng bằng tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì miền Nam ruột thịt, cán bộ, chiến sĩ của trên những con tàu không số đã vượt qua mọi kìm kẹp, truy quét, đánh phá ác liệt suốt đêm ngày của địch, góp phần vào thắng lợi của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Bia tưởng niệm di tích Bến tàu không số được xây dựng đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm  giải phóng TP. Hải Phòng.
Bia tưởng niệm di tích Bến tàu không số được xây dựng đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng TP. Hải Phòng.
Dấu tích nơi đây còn lại là những chân cọc làm cầu tàu năm xưa neo vào lòng biển cả như khắc ghi sự hy sinh thầm lặng góp phần làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc. Để tưởng nhớ chiến công của những thủy thủ tàu không số, TP. Hải Phòng đã cho xây dựng tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển ngay cạnh di tích Bến tàu K15.  Năm 2005, bến tàu này được công nhận là di tích cấp thành phố. Năm 2008, Bến tàu không số được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia.
Bến tàu Không số K15 nhìn từ  Khu du lịch Hòn Dấu Resort.
Bến tàu Không số K15 nhìn từ Khu du lịch Hòn Dấu Resort.
 Đường Hồ Chí Minh trên biển đã đi vào lịch sử, những bến tàu trên tuyến đường này như Bến tàu không số K15 Đồ Sơn (Hải Phòng), Bến tàu không số Lộc An (Bà Rịa – Vũng Tàu), Bến tàu không số Vũng Rô (Phú Yên), Bến Vàm Lũng (Cà Mau) đã trở thành những khu di tích lịch sử thu hút nhiều du khách và là một trong những địa chỉ giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho các thế hệ trẻ hôm nay.          
 Lê Hương

Những chứng tích của Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông

Ngày nay, những dấu tích còn lại trên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển là những bến cảng, những lạch sông … đều đang “Vươn mình” khi đất nước đổi mới. Dù đổi mới từng ngày nhưng nơi đây không thể quên được những ngày tháng oanh liệt năm xưa và nhắc lớp cháu con về tầm chiến lược, an ninh, chính trị của Biển Đông với đất Việt yêu dấu

Bia di tích “Đoàn tàu không số” tại Đồ Sơn, Hải Phòng

Tại khu Lũng Xanh dưới chân núi Vạn Hoa thuộc bán đảo Đồ Sơn là một nơi mà từ nửa thế kỷ trước, những con tàu không số đầu tiên và những con tàu tiếp theo đã xuất phát để chở vũ khí vượt biển chi viện cho miền Nam. Đó chính là Bến K15 – quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; nơi đây chính là điểm đầu –km số 0 của tuyến Đường Hồ Chí Minh trên biển. Cụ thể: Đêm 11/10/1962, chiếc thuyền gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn an toàn. Ngày 16/10/1962, đội tàu số 2 cũng xuất phát từ đây để về Cà Mau một cách an toàn. Ngày 14/11/1962, chuyến tàu thứ 3 cũng xuất phát tại đây. Một tháng sau, chuyến thứ 4 lên đường. Tất cả những chuyến đó đều vào bến Cà Mau. Bốn chuyến vận chuyển trong 2 tháng đã đưa được 111 tấn vũ khí cho khu 9 an toàn. Ngày 17/3/1963 chiếc tàu sắt đầu tiên chở 44 tấn vũ khí lên đường đã vào bến an toàn. Sau đó nhiều chiếc tàu sắt được hạ thủy và lên đường. Tại đây đã dựng bia di tích Đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây là công trình văn hóa- lịch sử được đặt đúng điểm xuất phát của những con tàu không số năm xưa, ngay trong khu du lịch tầm cỡ quốc gia. Công trình được thiết kế với qui mô lớn, phù hợp với không gian địa điểm xây dựng và ý nghĩa quan trọng của tuyến Đường Hồ Chí Minh trên biển. Nơi đây cảnh quan tuyệt đẹp, gần khách sạn 4 sao, gần bãi tắm và là một trong những điểm du lịch thú vị hấp dẫn du khách bốn phương.

Sông Gianh  

Sông Gianh là một trong năm con sông lớn nhất ở tỉnh Quảng Bình. Sông bắt nguồn từ núi Mụ Giạ ở Trường Sơn, dài hơn 150km, chảy vắt ngang từ Tây sang Đông, được hội tụ từ bốn nguồn chính: nguồn Nậy, nguồn Trổ, nguồn Nan và nguồn Son, đổ ra biển ở cửa Gianh rộng 800 m. Tên chữ là Linh Giang, gọi tắt là sông Thọ Ninh, tên Nôm là Rào Nậy. Trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập, sông Gianh là đầu mối của những mũi giao thông thủy bộ lợi hại: Một ngả qua sông Son lên phà Xuân Sơn trên biển, một ngả ra Biển Đông theo đường Hồ Chí Minh trên biển, một ngả đường bộ vào Nam theo quốc lộ 1A… cảng sông Gianh trở thành “tọa độ lửa”- trọng điểm địch tập trung bắn phá, còn với ta là nơi tập kết lực lượng, hàng hóa trước khi ra chiến trường, cần được bảo vệ bằng mọi giá.

Các đại biểu hành trình đường Hồ Chí Minh trên biển dâng hương tại bia di tích đường mòn Hồ Chí Minh đông Trường Sơn (ngã ba quốc lộ 1 và cảng Gianh). Đây (cảng Gianh) cũng là nơi xuất phát chuyến tàu không số đầu tiên (30 Tết Canh Tý, 1960) chở 5 tấn vũ khí, thuốc men do trung úy Nguyễn Bất làm thuyền trưởng

Bến Phổ An Quảng Ngãi

Cách đây 48 năm, vào tối 29-2-1968, tàu 43B (Đoàn 125 Quân chủng Hải quân) có nhiệm vụ vận chuyển 37 tấn vũ khí phục vụ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta. Khi đang trên đường vận chuyển vũ khí vào bến Phổ An, huyện Đức Phổ bị địch phát hiện vây đuổi quyết bắt sống, tàu 43B buộc phải chạy về phía nam để lao tàu vào bờ, đến địa phận thôn Quy Thiện, xã Phổ Khánh lúc 0 giờ 50 phút ngày 1-3-1968. Bị tàu chiến và máy bay địch bắn ngăn chặn, không thể cắt vòng vây, tàu 43B buộc phải bắn trả, vừa tránh đạn. Suốt mấy giờ đọ súng quyết liệt với địch, thân tàu bị đạn địch găm thủng nhiều chỗ, nhiều đồng chí bị thương nặng. Trước tình thế địch có khả năng cướp được tàu, Chỉ huy tàu đã quyết định cho một số chiến sỹ rút lên bờ, tổ cảm tử ở lại hủy tàu. Ba đảng viên Vũ Văn Ruệ, Võ Nho Tòng và Phan Văn Kiểm đã anh dũng hy sinh khi chiến đấu với địch, 14 đồng chí còn lại đều bị thương. Các đồng chí bơi vào bờ thuộc bãi biển Quy Thiện, được du kích và nhân dân cấp cứu, bảo vệ tránh được sự truy lùng của địch. Sau hơn 1 tháng điều trị và dưỡng thương tại Bệnh xá Đức Phổ, các đồng chí theo đường Trường Sơn trở về miền Bắc tiếp tục nhiệm vụ mới. Để ghi nhớ chiến công oanh liệt trong kháng chiến chống Mỹ của đoàn tàu không số, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho Điểm cập bến tàu không số (C43B) tại bãi biển Quy Thiện, thuộc xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ.

Huyện Đức Phổ đón nhận bằng Di tích lịch sử cấp tỉnh Điểm cập bến tàu không số (C43B).

Bến Vũng Rô

                 Bia di tích đương Hồ Chí Minh trên biển (Vũng Rô)

Bến Vũng Rô (xã Hoà Xuân Nam, huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên) đã được chọn là nơi tiếp nhận bốc dỡ hàng hóa, vũ khí vì có địa hình phù hợp. Ngày 28/11/1964, tàu 41 của Đoàn tàu Không số do thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chỉ huy, xuất phát từ cảng Hải Phòng chở 60 tấn vũ khí, hàng hoá cập bến Vũng Rô an toàn. Sau đó, trong vòng chưa đầy hai tháng, từ tháng 11/1964 đến đầu tháng 2/1965, tàu 41 liên tiếp ba lần cập bến Vũng Rô thành công vào các ngày 28/11/1964, 25/12/1964 và 01/2/1965, chi viện hàng trăm tấn vũ khí đạn dược cho chiến trường khu V và Tây Nguyên.

Bến Hòn Hèo (Khánh Hòa)

Di tích Hòn Hèo ở xã Ninh Vân, Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa

Để chi viện cho các vùng ven biển Khu 5 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tàu C235 thuộc đoàn tàu không số gồm 20 người, do thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chỉ huy được giao chở vũ khí, phương tiện chiến đấu, đồ quân dụng… đến bến Hòn Hèo ở xã Ninh Vân. Đêm 29/2/1968 rạng sáng 1/3/1968, khi vào thả hàng tại khu vực Hòn Hèo, tàu C235 bị địch phát hiện và cho 8 tàu đến bao vây, tấn công. Đơn vị đã dũng cảm chiến đấu, thả vũ khí và hàng xuống biển, nổ mìn hủy tàu để bảo vệ bí mật Đường Hồ Chí Minh trên biển. Trong số 20 thủy thủ của tàu C235, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và 13 đồng đội đã hy sinh anh dũng. Ngày 25/8/1970, liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đến tháng 4/1978 đảo Hòn Sập thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa được đổi tên thành đảo Phan Vinh.

Bến Lộc An ( Bà Rịa- Vũng Tàu)

Cửa biển Lộc An thuộc địa phận xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh BR-V. Đây được xem là vùng ven biển Xuyên Mộc dân cư thưa thớt nhưng có ưu thế là biển liền rừng, địa hình rừng núi ngăn cách. Cửa biển trải dài 15km thuộc hạ lưu Sông Ray, con sông bắt nguồn từ suối Gia Liên. Dọc hai bên sông Ray là màu xanh bạt ngàn của khu rừng nguyên sinh nhiệt đới ngập mặn. Trong thời kỳ chiến tranh, cửa biển Lộc An chính là điểm hẹn của đường Hồ Chí Minh trên biển. việc mở bến Lộc An, tỉnh BR-VT từ tháng 9/1963 là bước đột phá trong việc mở đường mới trên con đường Hồ Chí Minh Bến Lộc An đường mới trên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Với vị trí chiến lược quan trọng, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa Miền Bắc là miền Đông Nam Bộ và đã bao lần chứng kiến nghệ thuật tài tình , khéo léo của các chiến sĩ cách mạng chuyển vũ khí cho mặt trận Miền Đông Nam Bộ. Vào tháng 9/1946 tại của biển Hồ Tràm, xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc cách Lộc An 5km về phía Bắc, chuyến hàng của Trung ương chở vũ khí đã cập bến an toàn góp phần quan trọng giúp quân và dân tỉnh BR-VT gây dựng, phát triển lực lượng vũ trang đánh thực dân Pháp. Từ 1952 vùng biển này là địa bàn hoạt động của tiểu đoàn 230- tiểu đoàn vận chuyển hàng chiến lược cho miền Đông Nam Bộ. Di tích bến Lộc An được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1995. Đài lưu niệm Đoàn tàu không số bến Lộc An được dựng lên để kỷ niệm những ngày hoạt động oai hùng của đoàn tàu không số đã được dựng lên để tưởng nhớ đến chiến công vang dội của những chiến sỹ đoàn tàu không số năm xưa . Đây là một di tích đầy thú vị, nằm ở một vị thế đẹp, thu hút khách du lịch khi đến Xuyên Mộc. Những cây xanh được cựu chiến binh tàu không số, cán bộ Đoàn trồng xung quanh di tích. Trên đài lưu niệm khắc ghi: “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bến Lộc An là một trong những nơi tiếp nhận vũ khí của đoàn 125 Hải quân. Nơi đây, cán bộ chiến sỹ tàu 41 và tàu 56 đoàn 125 hải quân phối hợp với đoàn 1.500 cùng quân dân BR-VT đã dùng đã dũng cảm, thành công, vận chuyển được 109 tấn vũ khí. Góp phần làm nên chiến thắng Bình Giã vang dội năm 1965, phá tan hàng loạt “ẤP chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – Ngụy và nhiều chiến thắng khác của quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Tượng đài – Bến tiếp nhận vũ khí Lộc An,Xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, Tinh Bà Rịa Vũng Tàu

Cồn Lợi

Cồn trên sông Hàm Luông, thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, nằm ở phía Nam cửa Hàm Luông. Trước đây, cồn nằm cách bờ khoảng 3km, nay đã được nối dính với đất liền. Đây là nơi xuất phát và là nơi tiếp nhận của tuyến Đường Hồ Chí Minh trên biển. Hiện trên cồn có bia lưu niệm ghi lại sự kiện này. Theo nội dung được ghi lại, cuối tháng 03/1946, một đoàn cán bộ của tỉnh Bến Tre do bà Nguyễn Thị Định dẫn đầu xuất phát từ Cồn Lợi đã vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho chiến trường khu 8, Nam Bộ. Tháng 07-1961, chuyến vượt biển lần thứ hai với yêu cầu tương tự như lần trước cũng đã xuất phát từ Cồn Lợi.

Tượng đài – Bến tiếp nhận vũ khí Cồn Lợi, Xà Thạnh Phong, Huyện Thạnh Phú, Tinh Bến Tre

Rừng ngập mặn Khâu Băng

Đây là khu rừng ngập mặn ven biển tại xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đầu tháng 03-1963, nơi đây đã đón chuyến tàu chi viện vũ khí đầu tiên cho chiến trường miền Nam, sau đó trở thành đầu cầu tiếp nhận vũ khí và hàng hóa chi viện từ miền Bắc vào theo tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển của Đoàn vận tải A100 Hậu cần miền Nam. Tại Khâu Băng, ngày 25-02-1969, lực lượng biệt kích SEAL của quân đội Mỹ, do Bob Kerrey chỉ huy, đã giết hại 21 thường dân gồm người già, phụ nữ và trẻ em trong khi truy tìm một cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Cửa Khâu Băng đã được Bộ Văn hóa- Thông tin (nay là Bộ Văn hóa- Thể thao – Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định ngày 23-12-1995. Ngày nay, Khâu Băng được đầu tư xây dựng thành khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng của tỉnh Bến Tre. Với khẳng 1.000 ha các loại đước, mắm, rừng ngập mặn, Khâu Băng có giá trị rất lớn về sinh thái và bảo vệ bờ biển, làm trong sạch môi trường, gia tăng nguồn lợi thủy sản. Đồng thời, trong tương lai đây sẽ là điểm du lịch sinh thái và trung tâm nghiên cứu của tỉnh.

Bền Trà Vinh

Tháng 3/1963, chiếc tàu vỏ sắt đầu tiên chở hơn 40 tấn vũ khí đã cập bến Trà Vinh an toàn… Phát huy những thắng lợi bước đầu ấy, nhiều chuyến tàu sau đó đã chở vũ khí thẳng vào miền Đông Nam Bộ, góp phần to lớn vào chiến công và dân ta ở miền Đông đánh thắng Mỹ- Ngụy.

                Tượng đài – Bến tiếp nhận vũ khí Cồn Tàu Trà Vinh

Bến Vàm Lũng (Cà Mau) 

  Đây là nơi chuyến tàu gỗ đầu tiên xuất phát từ Đồ Sơn (Hải Phòng) chở 30 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam cập bến (tháng 10/1962). Sau đó 3 chuyến tàu tiếp theo cũng đã cập bến an toàn tại đậy. Ngày nay, tượng đài chiến thắng Đường Hồ Chí Minh trên biển, nhà trưng bày truyền thống lịch sử đã được xây dựng ngay Bến Vàm Lũng, góp phần lưu trữ những giá trị truyền thống cho các thế hệ sau.

Tượng đài tại di tích Vàm Lũng (Cà Mau)

Đoàn tàu không số và đường Hồ Chí Minh trên biển: Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Cập nhật: 22-10-2016 | 08:45:13
Cùng với xẻ dọc Trường Sơn, mở đường mòn Hồ Chí Minh, một con đường Bắc - Nam bí mật trên biển - Đường Hồ Chí Minh trên biển đã được mở vào ngày 23-10-1961. Đoàn 759 - Đoàn tàu không số (Lữ đoàn 125) là lực lượng vận tải chiến lược trên con đường biển này, đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Đường Hồ Chí Minh trên biển và Đoàn tàu không số với bao kỳ tích, đã đi vào lịch sử dân tộc như một chiến công huyền thoại, là một biểu tượng của bản lĩnh chính trị và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh.
 Đoàn tàu không số vận chuyển vũ khí trên Đường Hồ Chí Minh trên biển để chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh: T.L
 Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, một đơn vị đặc nhiệm được thành lập vào tháng 7-1959, có biệt danh là Đoàn 759, lúc đầu là đơn vị nhỏ cỡ tiểu đoàn được tổ chức dưới hình thức “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” thuộc Tổng cục Hậu cần; đến ngày 23-10-1961, trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tháng 8-1963, Trung ương quyết định giao Đoàn 759 cho Bộ Tư lệnh Hải quân, đổi tên thành Lữ đoàn 125. Đường Hồ Chí Minh trên biển gồm 5 tuyến đi có tổng chiều dài gần 12.000 hải lý (hơn 22.000km) là chiếc cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, chi viện trực tiếp cho những chiến trường xa nhất, khó khăn nhất là Nam bộ, Nam Trung bộ và vùng ven biển Khu 5, trở thành con đường huyền thoại với biết bao kỳ tích anh hùng.
Sau chuyến tàu đầu tiên thất bại, Đoàn 759 đã tổ chức rút kinh nghiệm, tính toán cách tổ chức chặt chẽ và thông minh hơn. Qua 14 năm ròng rã (1961-1975), những chuyến tàu không số của Đoàn 759 đã lập công xuất sắc, đưa 152.876 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thuốc chữa bệnh cho miền Nam; đưa đón 80.026 lượt cán bộ, chiến sĩ (trong đó có hàng trăm cán bộ cao cấp của Đảng, của quân đội) vào miền Nam và từ miền Nam ra miền Bắc, vượt qua gần 4 triệu hải lý an toàn. Những lúc tàu thuyền ta bị địch bao vây, không thể thoát khỏi sự truy lùng của địch, những con tàu không số đã biến thành những khối thuốc nổ vào tàu địch. Cán bộ, chiến sĩ trên các con tàu đã chiến đấu 300 lần với địch và bị hơn 1.200 lần máy bay địch bắn phá nhưng vẫn bảo đảm được nhiệm vụ. Trong 168 con tàu ra đi từ năm 1966 đến năm 1972, có 8 trường hợp phải phá tàu. “Trong trường hợp đấu trí không nổi, đọ sức không thắng, hết đường quay về thì phải bằng lòng can đảm và ý chí quật cường phá tàu để xóa hết tang vật. Không có một con tàu nào đầu hàng”.
Để đối đầu với quân địch, không chỉ cần có sự quyết tâm, tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, mưu trí, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, mà còn cần phải có trang bị khí tài chất lượng. Nhờ có vũ khí từ các chuyến tàu không số chuyển vào, ta đã liên tiếp có nhiều trận chiến thắng lớn, như trận Bá Gia - Vạn Tường (tháng 7-1965 ở tỉnh Quảng Ngãi), quân giải phóng Quân khu 5 đã tiêu diệt gọn 1 chiến đoàn, 2 tiểu đoàn, phá hủy 15 xe, bắn rơi 18 máy bay địch. Trận Vạn Tường, trận đánh trực diện với quân Mỹ, hạ 916 lính Mỹ, tiêu diệt 18 xe tăng, bắn rơi 22 máy bay Mỹ. Trận Bàu Bàng (ngày 12-11-1965 tại Bình Dương), Đoàn 759 (Lữ đoàn 125) đã tổ chức gấp rút 4 tàu chở 187 tấn vũ khí vào miền Tây Nam bộ, đặc biệt có 3 quả thủy lôi lớn, súng tự động AKA, kính ngắm và súng bắn tỉa để kịp thời trang bị cho các sư đoàn chủ lực, trong đó một số trung đoàn được trang bị vũ khí hiện đại của Liên Xô, đã bao vây, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 lính Mỹ, Sư đoàn Bình Dã (F9), đã nhanh chóng diệt 1 tiểu đoàn Mỹ (Lữ đoàn 173). Trận đánh chìm tàu chiến Mỹ Ballon Rouge Victory trên sông Lòng Tàu (huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh) bằng những quả thủy lôi khổng lồ KB của Liên Xô, chở từ miền Bắc vào (mỗi quả nặng 1.075kg), do bộ đội Rừng Sác thực hiện đã làm hoảng loạn tinh thần của quân lính Mỹ. Các chiến thắng đó đã khẳng định quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “Không sợ quân Mỹ, có thể đương đầu với quân Mỹ và có thể chiến đấu giành thắng lợi trong chiến tranh cục bộ”.
Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, để thực hiện Chỉ thị “thần tốc và thần tốc hơn nữa” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, phải kịp thời chuyển thật nhanh những vũ khí hạng nặng và hàng chục ngàn chiến sĩ vào miền Tây, kịp thời hợp đồng tác chiến với cánh quân đường bộ, Đoàn 759 đã vận chuyển thần tốc 130 lần với 143 chuyến tàu chở 8.721 tấn vũ khí hạng nặng, 50 xe tăng và đại pháo, đưa 18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 6.572 hải lý để kịp thời tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đường Hồ Chí Minh trên biển cũng “muôn hình vạn trạng” như Đường Hồ Chí Minh trên bộ. Đoàn 759 đã sáng tạo nhiều phương thức khác nhau mà có lẽ cũng khó tìm thấy một tiền lệ nào trong lịch sử vận tải đường biển của loài người. Có những phương tiện thông thường như tàu biển, vận chuyển đột xuất những khối lượng lớn đi ra ngoài khơi xa, ban đêm tìm cơ hội thuận lợi đột nhập vào một bãi nào đó đã được hẹn trước. Lại có những thuyền đánh cá với những chiến sĩ trút bỏ áo lính để làm thường dân với thuyền hai đáy, sử dụng cho những cự ly xuất phát từ những bến phía Bắc vĩ tuyến 17 (Quảng Bình) rồi đi gấp trong đêm vào các tỉnh phía Nam, có những chặng phải đi hai hoặc ba đêm. Cứ gần sáng, những chiếc thuyền đánh cá này phải tạm thời vào gần bờ để lẩn tránh tại những cơ sở đã được chuẩn bị sẵn sàng, trời tối lại lên đường. Một cơ hội tốt nữa là trong dịp Tết Nguyên đán, rất nhiều chuyến đi bắt đầu từ ngày 30, thậm chí mồng 1 tết. Nhưng tết chỉ là một thời gian ngắn ngủi trong năm. Phần lớn thời gian vận chuyển ngoài tết là thời gian có gió bão, tàu tuần tiễu của địch không đi được, máy bay trinh sát của địch không nhìn thấy. Đó là cơ hội lên đường. Tất cả các bến phà có chung một tính chất là tạo bất ngờ, theo khí phách “vào hang hùm thì không sợ cọp” đòi hỏi con người phải gan dạ, đối diện tình hình khó khăn, nguy hiểm không được bối rối và manh động.
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng Ðường Hồ Chí Minh trên biển mãi mãi là niềm tự hào của quân đội ta, nhân dân ta; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của trí thông minh, lòng dũng cảm, ý chí sắt đá, quyết tâm giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước của dân tộc ta… Ðó cũng là biểu hiện sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta, đặc biệt là của cán bộ, chiến sĩ Ðoàn 759 (Lữ đoàn 125), Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng; ròng rã 14 năm đã bền bỉ, mưu trí, dũng cảm. Trong đó, nhiều đồng chí cùng với những con tàu không số đã mãi mãi ở lại với biển cả, với non sông đất nước, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đoàn 759 (Lữ đoàn 125) với những chiếc tàu không số - những ngôi sao sáng chói trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã đi vào những trang sử đặc biệt chiến tranh nhân dân huyền thoại của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Riêng năm 1963, Đoàn 759 đã tổ chức được 28 chuyến tàu chở 1.318 tấn vũ khí vào chiến trường miền Nam. Số vũ khí này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo ra những chiến thắng có ý nghĩa bước ngoặt ở miền Nam, trong đó có trận Ấp Bắc vang dội (ngày 2-1- 1963), tạo đà cho việc liên tiếp đánh thắng nhiều trận, diệt Mỹ trên chiến trường miền Nam với tinh thần “Bám lưng Mỹ mà diệt”. Ta phá tan 1.891 đồn bót, phá dỡ 623 đồn bót ở miền Trung Nam bộ và Tây Nam bộ, mở ra khả năng đánh bại “Chiến thuật trực thăng vận”, “Thiết xa vận” của Mỹ. Chiến thắng đó đã làm cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn dao động. Tỉnh trưởng An Xuyên (nay là Cà Mau) đã báo cáo khẩn cấp về Phủ Tổng thống ngụy (ngày 15-9-1963): “Vũ khí của Việt Cộng đã vượt ra ngoài ước tính của chúng tôi. Việt Cộng đã dùng cối 81mm, đại liên 12,7mm, DK 275, là những thứ mà quân đội Việt Nam Cộng hòa chưa có”.
P.V (tổng hợp)
Người anh hùng với huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển
Thứ Bảy, 12/05/2018 14:00 CH
Hình ảnh trung tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) Hồ Đắc Thạnh ở TP Tuy Hòa đã đi vào đời sống tinh thần nhiều thế hệ qua những trang sử về con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển, “Đoàn tàu Không số”, những bài thơ, trang phóng sự, truyện ký và cả bộ phim 5 tập “Những người lính biển”. Những chiến công mà ông và đồng đội đạt được là sự kết tinh truyền thống yêu quê hương, đất nước; của ý chí khao khát độc lập, tự do.

Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đắc Thạnh đọc Báo Phú Yên, cập nhật tin tức thời sự - Ảnh: NGUYỄN BÁ THUYẾT

Những kỳ tích

Lần nào đến gặp trung tá Hồ Đắc Thạnh, tôi đều được tiếp đón niềm nở, tự nhiên, đậm chất người lính và phát hiện thêm ở ông những điều mới lạ, khiến tôi kính phục. Lần này cũng vậy, một chiều cuối xuân, trong cái gió Tuy Hòa xôn xao phóng khoáng, tôi đến nhà gặp ông, hai chú cháu tâm sự suốt mấy giờ đồng hồ.

Trung tá Hồ Đắc Thạnh nói: Mình sắp đi dự lễ công bố quyết định công nhận tàu 671 (tiền thân là tàu 41, tàu 641) là “Bảo vật quốc gia” rồi. Con tàu này mình làm thuyền trưởng mấy năm, tàu được tuyên dương anh hùng LLVT hai lần với tám cá nhân anh hùng LLVT khác.

Tôi hỏi: Trong cuộc đời quân ngũ của chú, chắc còn nhiều kỷ niệm mang dấu ấn chiến công phải không?

Ông trả lời: Chiến công là chiến công chung của đồng đội, có mình trong đó; kỷ niệm mang dấu ấn thì khá nhiều nhưng mình nhớ nhất một số thời khắc không thể nào phai. Ông kể về thời đánh thực dân Pháp, ông là chiến sĩ, rồi tiểu đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 375; là thanh niên được tham gia chiến đấu trên chính mảnh đất quê hương của mình nên rất tự hào. Chiến đấu dũng cảm, mưu trí, nhiều trận ta quân ít, vũ khí thô sơ nhưng đánh thắng lớn, diệt nhiều quân địch. Trận phục kích trên đường Chí Thạnh - La Hai, tiêu diệt 34 xe của quân Pháp. Những trận quần nhau với giặc ở làng Quan Quang, Minh Đức trong chiến dịch Át - Lăng, nhiều đêm không ngủ. Đặc biệt, trận diễn ra đêm 25/2/1954, Tiểu đoàn 375 do Tiểu đoàn trưởng Phạm Dưng và Chính trị viên phó Nguyễn Lầu chỉ huy, tấn công làm tan rã trung đoàn địch, ta bắt sống tên Nguyễn Khánh, Trung đoàn trưởng Ngự Lâm Quân. Nhưng do sơ suất, Khánh trốn thoát, sau này tên này leo lên giữ chức Thủ tướng Chính phủ chính quyền ngụy ở Sài Gòn. Trong điện khen toàn thể cán bộ, chiến sĩ và công dân Liên khu 5 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 2/2/1954 viết: “Tôi… khen ngợi cán bộ, chiến sĩ ở Tuy Hòa và địch hậu Liên khu 5 đã tích cực hoạt động, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân…”. Thời gian sau đó, ông tham gia bảo vệ tập kết 300 ngày ở Bình Định rồi tập kết ra miền Bắc vào năm 1955.

Thời chống Mỹ, trung tá Hồ Đắc Thạnh tham gia đoàn tàu Không số trong 12 chuyến chỉ huy tàu chi viện miền Nam, có ba chuyến ông là thuyền trưởng chỉ huy tàu vào Vũng Rô. Chuyến thứ nhất, đêm 28/11/1964, tàu vào đến vịnh, cảm xúc quê hương trào dâng; gặp được người của ta, chọn bãi Chùa để bốc dỡ vũ khí, nhưng khối lượng lớn nên tàu không kịp rời bến trước 3 giờ sáng, quyết định để tàu ở lại. Đây là quyết định hết sức táo bạo, nếu để lộ thì bến Vũng Rô không thể vào, cả con đường cũng trở nên

vô vàn khó khăn. Trung tá Hồ Đắc Thạnh chỉ huy dùng lưới và cành cây ngụy trang tàu thành một khối liền từ núi Vũng Chùa xuống tàu như một dải tự nhiên, nhờ đó mà các chiến sĩ của ta bốc hết vũ khí, tàu rời bến an toàn. Hai chuyến sau vào Vũng Rô ngày 25/12/1964 và 1/2/1965 với kỳ tích là vòng quay nhanh nhất. Cả ba chuyến vào bến Vũng Rô chưa đầy hai tháng, trong khi đó với cung đường tương tự các tàu khác phải mất ba tháng mới vào bến.

Một kỷ niệm khác đối với trung tá Hồ Đắc Thạnh là cứu tàu mắc cạn. Trong chuyến vào Nam, tàu 41 bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Đây là lần thứ ba tàu của đoàn mắc cạn. Những lần trước đều phải dỡ hàng phá tàu, bảo đảm bí mật. Nhưng lần này, ông quyết định bằng mọi cách phải khắc phục sự cố. Hai ngày dãi nắng, dầm nước, da cháy sém, bong tróc, đến ngày thứ ba thì cứu được tàu thoát cạn. Kiểm tra lại, thấy đủ điều kiện, ông cho tàu tiếp tục hành trình đưa hàng vào Nam Bộ đúng kế hoạch.

Còn với kỷ niệm phá tàu - vượt Trường Sơn ra miền Bắc, chuyến vào bến Phổ An, Đức Phổ (Quảng Ngãi) vào đêm 27/11/1966, khi bỏ hết hàng xuống biển thì tàu của đơn vị ông bị hỏng chân vịt. Địch phát hiện, bao vây hòng bắt sống thủy thủ ta. Ông cho anh em bơi vào bờ trước, còn ông và máy trưởng dùng bộc phá phá tàu, bơi vào sau. Quá trình bơi vào thuyền phó Dương Văn Lộc và thủy thủ Trần Văn Nhợ trúng đạn địch và hy sinh, còn lại 18 cán bộ chiến sĩ tàu 41 lên bờ, vượt Trường Sơn ra miền Bắc.

Đến đây, tôi nhớ đến lời dạy của lãnh tụ Lênin: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” và “lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng, cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”. Hồ Đắc Thạnh và những chiến sĩ của đơn vị ông chính là những người như vậy.

Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đắc Thạnh kể chuyện vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam trên biển cho thế hệ trẻ trong tỉnh nghe - Ảnh: D.T.X

Món nợ cuộc đời

Trong hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho trung tá Hồ Đắc Thạnh có ghi: “Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ở cương vị nào đồng chí cũng luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Là thuyền trưởng trong đoàn tàu Không số, đồng chí đã đi được 12 chuyến, một trong những thuyền trưởng tham gia nhiều chuyến nhất. Khi chỉ huy thì bình tĩnh, sáng suốt, mưu trí, sáng tạo, đã nêu tấm gương sáng mẫu mực về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đức hy sinh, sự tài giỏi và vững vàng trong mọi tình huống, để đưa hàng đến bến an toàn…”.

Nhưng theo ông, khi chúng ta được vinh danh trên những tượng đài thì dưới tượng đài không biết bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống để chúng ta có cuộc sống hôm nay. Nhiều đồng chí, đồng đội đã hy sinh, bị thương, thậm chí bị rối loạn thần kinh… Họ thiệt thòi nhiều lắm. Hy sinh rồi thân thể không nguyên vẹn, nằm lại ở biển khơi, rừng sâu… họ chẳng được gì, còn để lại sự đau thương, mất mát cho người thân. Có đồng chí còn phải chịu hậu quả chất độc da cam/dioxin, sinh con, đẻ cháu tật nguyền… Nghe lời tâm sự của ông, tôi xúc động, nước mắt cứ chực trào, cố giữ nhưng không thể nào cản nổi. Ông nói tiếp: Mình nợ họ: “Những người anh em, đồng chí, đồng đội đã hết lòng vì nhiệm vụ, vì mình mà giờ họ đã đi xa mãi mãi, không thể nào trả ơn được…”.

Ông kể nhiều về tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, nhường cơm sẻ áo cho nhau trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. “Chuyến vượt Trường Sơn đầy gian khổ, đoàn của tôi đến Quảng Trị thì hết lương thực, sốt rét, ốm yếu lắm. Chúng tôi được giao liên hướng dẫn vào trạm xá tiền phương nghỉ ngơi, điều trị bệnh. Cuộc sống của các bác sĩ, y tá ở đây hết sức khó khăn, nhưng biết chúng tôi là thủy thủ tàu chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam nên các bác sĩ, y tá hết lòng chăm sóc, phục vụ. Ra đi vì chiến trường đang đợi, hẹn ngày chiến thắng gặp lại… Nhưng sau này mình hay tin cái bệnh xá đó trúng bom và tất cả đã hy sinh”, trung tá Hồ Đắc Thạnh nghẹn ngào kể.

Trung tá Hồ Đắc Thạnh đã nghỉ hưu, sống cùng vợ là bà Lê Thị Bích Anh. Cả hai đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, họ sống bình an tuổi già, hạnh phúc cùng con cháu và bà con lối xóm; tích cực rèn luyện sức khỏe, chăm lo dạy bảo, giáo dục con cháu. Gia đình ông là gia đình văn hóa tiêu biểu, con cháu hiền ngoan, hiếu thảo. Ông thường xuyên tham gia nói chuyện truyền thống với các thế hệ trẻ, với mong muốn được góp phần nhỏ để tiếp lửa, khơi dậy tinh thần yêu nước cho con cháu hôm nay và mai sau.

Thiếu tá Ngô Văn Định, cựu chiến sĩ Đại đội K60 bến Vũng Rô, nhận xét: “Bác Hồ Đắc Thạnh là người đức độ, sống có tình thương sâu sắc với đồng chí, đồng đội; trách nhiệm, nhiệt tình với công việc. Bác là tấm gương để tuổi trẻ noi theo”.

Còn ông Huỳnh Văn Phúc, Chủ tịch UBND phường 5, TP Tuy Hòa thì nói: “Bác Hồ Đắc Thạnh luôn giữ vững và phát huy phẩm chất trong sáng của “Bộ đội Cụ Hồ”, được tuyên dương anh hùng LLVT trong chiến đấu, tiêu biểu xuất sắc trong thời bình. Bản thân và gia đình bác luôn chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào do địa phương phát động.

NGUYỄN BÁ THUYẾT

'Đường Hồ Chí Minh trên biển, kỳ công của dân tộc'

Khẳng định trong chiến tranh đường Hồ Chí Minh trên biển góp phần quan trọng để giải phóng miền Nam, TS Vũ Tang Bồng (Viện Lịch sử quân sự VN) cho rằng rất cần có một chuyên đề phát triển kinh tế biển gắn liền với Hải quân nhằm khai thác thế mạnh của biển.



ongbong-1349432242_480x0.jpg
Đại tá, TS Vũ Tang Bồng.
- Là người nghiên cứu lâu năm về lịch sử quân sự Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của đường Hồ Chí Minh trên biển?
- Nhiều tài liệu cho rằng đường Hồ Chí Minh trên biển là sáng tạo chiến lược của Đảng và Nhà nước, còn tôi thấy rằng đây là một kỳ công chiến lược của dân tộc trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Bởi chúng ta có lãnh đạo, chỉ huy giỏi, cán bộ chiến sĩ sẵn sàng hy sinh, nhân dân bến bãi sẵn sàng giúp đỡ.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển đã trực tiếp và gián tiếp vận chuyển hơn 96.000 tấn vũ khí đạn dược, hơn 170.000 lượt cán bộ, chiến sĩ chi viện cho chiến trường miền Nam.
Vào thời điểm 1959-1972 tuyến chi viện chiến lược trên bộ mới vào được đến chiến trường Trị - Thiên, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên. Việc vận chuyển bằng đường bộ vào các chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ rất khó khăn. Đúng lúc này, đường Hồ Chí Minh trên biển hình thành, giải quyết được những khó khăn đó.
Chính hiệu quả vận chuyển của tuyến đường này đã tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp các vùng chiến lược ở miền Nam, tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của nhân dân ta. Đặc biệt, sự xuất hiện kịp thời của những vũ khí tương đối hiện đại, có tính năng chiến đấu cao đã làm thay đổi cách đánh của quân và dân ta, thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch. Các loại ngoại tệ mạnh, thiết bị máy móc y tế quý hiếm, hóa chất đặc biệt cũng được chi viện kịp thời cho miền Nam. Đây là những cơ sở, là điều kiện để miền Nam có thể đánh lớn, thắng lớn.
- So với đường mòn Hồ Chí Minh vượt dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển có lợi thế gì?
- Ngoài cung cấp vũ khí cho chiến trường xa, nơi mà đường bộ chưa vươn tới, đường Hồ Chí Minh trên biển còn có ưu thế hơn đường bộ là thời gian nhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bị đồng bộ hơn do không nhầm lẫn, thất lạc. Việc vận chuyển đường bộ phải qua nhiều cung, chặng, qua nhiều lực lượng, phương tiện, phải mất hàng tháng trời mới đến đích. Vận chuyển đường biển tuy gian nan nguy hiểm hơn vì phải đối mặt với sóng gió, bão bùng, và quân địch, nhưng nếu vượt qua được chỉ mất 5-6 ngày là vào đến chiến trường Tây Nam Bộ.
Hiệu quả của con đường Hồ Chí Minh trên biển cũng rất cao. Như từ tháng 10/1962 đến tháng 2/1965, với 88 chuyến tàu, mỗi tàu 10-20 cán bộ, chiến sĩ chở hàng vào Nam thì 93% đến được đích, đưa vào chiến trường gần 5.000 tấn vũ khí. Nếu khối lượng đó dùng người gùi, mỗi người trung bình gùi 25 kg thì phải huy động tới 196.785 người đi liên tục 6 tháng, mỗi tháng mỗi người tốn 21 kg gạo thì khi đến nơi khối lượng gạo tiêu thụ gấp 5 lần khối lượng hàng gùi được.
Nếu sử dụng ôtô, trung bình mỗi xe chở được 2,5 tấn thì phải huy động 1.968 xe đi trong hai tháng, sử dụng khoảng 4.000 tấn xăng dầu, chưa kể các chi phí bảo đảm khác và tổn thất dọc đường. Chỉ cần một phép tính nhỏ trên, chúng ta cũng đã thấy được lợi thế to lớn của đường Hồ Chí Minh trên biển như thế nào.
- Trong mỗi cuộc chiến thì nhân dân đều có vai trò rất quan trọng, vậy đối với con đường Hồ Chí Minh trên biển, nhân dân đã đóng góp như thế nào?
- Ngoài cán bộ, chiến sĩ, những người trực tiếp tham gia vận chuyển vũ khí thì sự hy sinh, giúp đỡ của nhân dân đã làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển. Ở vùng bến đi (Đồ Sơn, Hải Phòng), khi Bộ Quốc phòng chuẩn bị lập bến bãi đã thuyết phục người dân di dời. Nơi mở bến là một vạn chài, nơi dân cư sinh sống nghìn đời, nơi thờ cúng tổ tiên, nhưng bà con vẫn sẵn sàng ra đi mà không cần biết nhà mình sẽ được sử dụng làm gì. Điều đó cho thấy người dân tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng.
Còn ở những bến tiếp nhận, khi hàng chục tấn vũ khí được vận chuyển từ Bắc vào, những người dân ở đó lại được huy động để bốc dỡ. Họ cần mẫn làm và tuyệt đối giữ bí mật. Nếu không có người dân, cán bộ, chiến sĩ làm sao có thể bốc dỡ vũ khí xong ngay trong đêm?
Hoặc khi đối mặt với kẻ thù mà không thể thắng, các chiến sĩ tàu không số cho nổ tàu để bảo đảm bí mật và hàng hóa không rơi vào tay địch. Lúc này các chiến sĩ hầu hết đều bị thương, có khi lại gặp sự truy quét của kẻ thù trên cạn, nhân dân đã che chở, cưu mang.
d
Cựu binh tàu không số dặn dò những thế hệ hải quân hôm nay. Ảnh: Trọng Thiết.
Nhiều lúc dân tìm cách đưa thủy thủ bị thương nhờ bác sĩ của ngụy chăm sóc. Khi tàu mắc cạn thì dân phao tin đó là tàu cá, từ đó đem thuyền con ra chở vũ khí vào bờ. Hay lúc đốt tàu, chính người dân đã phao tin tàu chở dầu mắc cạn, ra ứng cứu rồi vô tình đốt.
Có khoảng hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia đoàn tàu không số, người hy sinh khoảng 100. Trong khi đó số người hy sinh tại các bến nhận lên tới 1.000. Đó là dân quân, du kích, những người vận chuyển vũ khí, bảo vệ tàu... Từ đó ta có thể thấy rằng, chiến sĩ và nhân dân có quan hệ máu thịt với nhau. Nếu không có nhân dân sẽ không có bất kỳ một kỳ tích nào trên biển và trong mọi cuộc chiến.
- Trong chiến tranh, cha ông đã biết khai thác lợi thế của biển. Còn trong thời bình, ông đánh giá thế nào về việc khai thác những thế mạnh của biển trong phát triển kinh tế, bảo vệ quốc phòng an ninh?
- Cha ông ta có truyền thống thông thạo thủy chiến, giỏi du thuyền vào bậc nhất Đông Nam Á, từng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược bằng đường biển với lực lượng thủy quân hùng hậu. Vào thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thủy chiến Việt Nam phát triển mạnh nhất châu Á lúc bấy giờ.
Sau khi hòa bình thống nhất đất nước, trong khoảng 20 năm vận tải biển, kinh tế biển thiếu sự quan tâm cần thiết nên bị chững lại, thậm chí kém phát triển. Gần đây, vấn đề này đã được quan tâm hơn. Cùng với việc phát triển kinh tế biển, lực lượng hải quân cũng được tăng cường vì xây dựng phải đi liền với bảo vệ. Tôi cho rằng Bộ Quốc phòng cần có một chuyên đề phát triển kinh tế biển gắn liền với Hải quân.
- Trước đây do đảm bảo bí mật, đường Hồ Chí Minh trên biển, đoàn tàu không số không được công khai khiến nhân dân và thế hệ trẻ không biết đến hoặc biết rất ít. Ông đề xuất gì để con đường này trở thành bài học giáo dục lòng yêu nước trong thế hệ trẻ?
- Trước đây lịch sử không nói nhiều đến đoàn tàu không số, những tư liệu ban đầu chỉ xuất hiện trong các cuốn sách của nhà văn Hồ Phương, Nguyên Ngọc, Đình Kính... nên thông tin có một số chưa hoàn toàn chính xác. Tôi cho rằng, Bộ Tư lệnh Hải Quân, Bộ Quốc phòng phát hành tư liệu chính thống về đường Hồ Chí Minh trên biển là việc làm cần thiết.
Hiện nay chúng ta cũng đã chú ý hơn đến việc tuyên truyền về đường Hồ Chí Minh trên biển. Tại các bến nhận đang xây đài tưởng niệm, di tích tham quan để giới thiệu với nhân dân và du khách về những chiến công của đoàn tàu không số. Tôi nghĩ ở bến xuất phát Đồ Sơn cũng cần triển khai công việc này.
Ngoài ra, việc tri ân những người có công, bao gồm cán bộ chiến sĩ tàu không số, những thân nhân của liệt sĩ đã hy sinh tại các bến tiếp nhận cần tiếp tục thực hiện. Rất nhiều cựu binh tàu không số hiện không được hưởng chế độ đi B chỉ vì họ hoạt động bí mật, không có quản lý hành chính. Hay có những người bán cả gia tài đưa tiền cho con mua tàu vận chuyển vũ khí, nhưng vẫn không được đền đáp xứng đáng...
Hoàng Thùy thực hiện


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32