CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI 1/D
-Lịch sử là hiện thực quá khứ.
-Có những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng của người đời.
-"Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang.
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng.
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa.
Trường Sơn, đông nắng, tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình."
(Tố Hữu)
-"Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn."
(Tố Hữu)
-"Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi."
(Tố Hữu)
-"bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…"
----------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Em ở lại thu này. Anh đi suốt mùa thu,
Mùa hái quả... Quanh em, thành phố cũ,
(Lá rực sáng trong những chiều nắng đỏ
Lối đi về quen quá, hoá bâng khuâng!)
Còn anh qua mùa nước lũ đang dâng
Nước xối xả những đường ngầm sâu hút
Xe vật vã trên đường lầy mưa trút
Rừng đại ngàn thăm thẳm một vòm đen...
Đường tiếp đường, vô tận, trải từ em,
Ngã bảy, ngã ba, bom đào, núi lở,
Những trạm gác, thét gào khản cổ
Những bữa ăn hối hả bên lèn...
Những đồi trọc không cây. Những xóm mạc không đèn.
Đất trải mênh mông, đỏ hực trong tàn phá,
Anh yêu thương xót xa mảnh đất tươi hồng quá
Như thớ thịt non ròng, chảy máu dưới chân đi!
Trái tim anh từng lúc đập như mê,
Dồn dập, trẻ trung, như ngày em gặp,
Mỗi xúc cảm thẳng căng, tới tột cùng cung bậc
Tới tột cùng từng mong đợi, lo toan!
Nhớ về em - từng giây phút gian nan,
Từng bữa đói ăn, từng đêm mất ngủ,
Dễ suy tưởng đắm say, như ngày xưa, tuổi nhỏ,
Thích những gì mơ mộng nhất về em...
Đất nước trổ mầm cho triệu triệu niềm tin,
Mặc vầng trán già đi, chỉ tình yêu trẻ lại,
Áo bạc hết hai vai, nhà cháy trơ hai mái,
Nhưng trận tuyến nào cần, còn tiếp bước còn đi...
Trái tim anh từng lúc đập như mê
Trước nườm nượp từng đoàn quân ra trận,
Xe nối đuôi nhau trên đường bất tận
Hàng cây số dài, máy thúc rền vang...
Những chuyến phà đêm xé nước râm ran,
Những phao bắc dập dềnh ngang suối đổ,
Những cô gái làm đường hồn nhiên, bé nhỏ,
Nụ cười nào xui nhớ nụ cười em?
Anh chạy dọc mùa thu, mùa hai đứa mình quen
Nghĩ trở lại mọi niềm vui tuổi nhỏ,
Anh được gặp trên đường bao niềm vui cởi mở
Anh lặng thầm chia sẻ hết cùng em!
Em như đường chân trời mỗi buổi nắng lên
Như búp lá trên đồi cây thưa thớt
Như mái lán che mình giữa cơn dông mưa trút,
Em là chỗ anh đi, và cả chỗ anh về...
Anh muốn nói cùng em hết thảy những gì
Em muốn biết trong những ngày cách biệt,
Nhưng đất nước – làm sao đi thấu hết...
Tình yêu em – vô tận, nối theo đường!
Đường mòn Hồ Chí Minh, 1972
NẾU GẶP LẠI EM...
Nếu có một ngày tôi với em
Gặp lại nhau như Trường Sơn thuở ấy
Liệu có còn không tình yêu ngày đấy
Có còn không em có giữ lại không
Chỉ nghĩ thôi sao cũng cứ mông lung
Mấy chục năm rồi tuổi mình đã chín
Vẫn nhớ ngày chia tay đầy bịn rịn
Em khóc hoài em hứa sẽ đợi anh
Có phải không em lỗi tại chiến tranh
Em về hậu phương Anh còn tiền tuyến
Anh mải miết Đi thêm hai cuộc chiến
Em trở về nên khó giữ tình yêu
Anh chẳng trách đâu chỉ nhớ em nhiều
Nhớ cánh võng chung đỉnh đèo Dân Chủ
Nhớ mỗi chuyến đi em thường nhắn nhủ
(Cẩn thận an toàn về với em nghe)
Anh mang tình em trong mỗi chuyến xe
Đỉnh Trường Sơn anh vượt ngàn gian khổ
Ngày xa em anh mang bao nỗi nhớ
Nhưng lúc anh về ..sáo đã sang sông
Trong tim em giờ còn có anh không
Nếu gặp lại liệu em còn thương nhớ
Em gái Trường Sơn.. Tình yêu dang dở
Để cả cuộc đời anh cứ nhớ về em...
Dưới đây là chùm ca dao sưu tầm được qua sổ tay của các chiến sĩ, qua báo tường của các binh trạm, hoặc đọc được qua dòng chữ khắc vào thân cây, vách núi trên một chặng đường Trường Sơn đi qua vùng đất Thừa Thiên- Huế.
Ấn tượng đầu tiên đối cới các chiến sĩ vượt Trường Sơn là những cái dốc- mỗi cái là một kỷ niệm.
Dốc Mèo:
Ai lên A Lưới Dốc Mèo
Mà xem bộ đội vượt đèo lên mâyDốc Bò:
Bò lên rồi lại bò lên
Bò đi bò lại cho quên nhọc nhằnDốc Ông Bà:
Hỏi ông ông đứng nơi nao
Phải chăng dốc núi dựng cao lưng trời?
Hỏi bà bà chẳng trả lời
Vực sâu thăm thẳm biết người ở đâuDốc 200:
Cheo leo đứng giữa Việt Lào
Hai bên đồn giặc vẫn vào vẫn ra
Hai trăm dốc đứng dốc tà
Vẫn ăn được cá rau cà thường xuyên.Dốc Bô Phiên:
Bô Phiên dốc đứng đèo cao
Cheo leo khúc khủyu bên đèo bên sông
Qua đây mới thấy lạ lùng
Tưởng như mình đã tới cùng trăng saoĐỉnh Trường Sơn:
Cách nhau chỉ một cây sào
Trường Sơn hai mái Việt Lào chung lưng
Trường Sơn hai mái Tây- Đông
Việt Lào gắn bó thủy chung nghĩa tình.Hết trèo đèo, vượt dốc lại đến băng rừng. Rừng Trường Sơn bao la hùng vĩ trở nên gần gũi, gắn bó ân tình với các chiến sĩ trong từng bước đi, từng giấc ngủ và từng bữa ăn:
Ban ngày khoác lá ngụy trang
Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo
Ban đêm gùi đạn vượt đèo
Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng
Dừng chân mắc võng giữa rừng
Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon
Ơi người trẩy hội nước non
Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.Và đây là bữa cơm giữa rừng:
Hành quân qua trạm dừng chân
Dân công bộ đội quây quần bên nhau
Cơm ngô bày giữa rừng sâu
Có đàn bướm ngỡ hoa ngâu sà vào
Trường kỳ kháng chiến gian lao
Đêm đêm bướm vẫn bay vào trong mơ.
Đậm đà hơn hết, ca dao Trường Sơn biểu lộ tâm hồn và khí phách của các chiến sĩ trong mọi hoàn cảnh chiến đấu và công tác đầy gian khổ hy sinh.
Chiến sĩ binh trạm:
Binh trạm đóng giữa rừng sâu
Quanh năm chẳng thấy trăng sao mây trời
Ngày đêm con suối đưa lời
Con chim đưa tiếng, mua rơi đều đều
Quê hương gợi nhớ bao điều
Cây đa giếng nước nắng chiều mênh mang
Bóng tre mát rượi quanh làng
Câu hò giã gạo rộn ràng đêm trăng
Bao giờ quét sạch xâm lăng
Quê hương chín nhớ mười thương lại vềCao xạ pháo:
Mưu mô thằng Mỹ cuồng điên
Bắn ngày rồi lại bắn đêm giở trò
Bắn ngày, mày vụn ra tro
Bắn đêm, mày cũng gãy giò nát xương
Lòng ta đã cháy căm hờn
Lưới ta đã khép mày chuồn đi đâu
Mưu sâu thì họa càng sâu
Bảo cho giặc Mỹ một câu nhớ đờiCông binh:
Đứng trên trọng điểm ta thề
Đường chưa thông suốt chưa về nghỉ ngơi
Mặc cho bon đạn ngút trời
Chẳng xa một tấc, chẳng rời một lyLái xe:
Xe đâu xe lạ xe lùng
Đầu xe thì bẹp, chắn bùn lại không
Chỗ ngồi như tựa bàn chông
Thùng xe gỗ mục vô cùng thảm thương
Đêm nào cũng chạy trên đường
Kế hoạch vượt mức chẳng nhường cho ai
Vận tải:
Đèo cao thì mặc đèo cao
Tinh thần vận tải còn cao hơn đèo
Hàng ta, ta quý ta yêu
Hàng ra tiền tuyến, hàng tiêu diệt thù.Cô gái dân công:
Em là cô gái Pacô
Trên vai trĩu nặng đôi bồ dân công
Gian nguy chẳng chút sờn lòng
Đạn bom vẫn vượt núi non vẫn trèo
Hỏi em đã có người yêu?
Em cười: Cái bụng ưng theo gùi hàng.
V.N (sưu tầm)(133/03-2000)
Viết Tuân

Hội truyền thống Bộ đội Trường Sơn của tỉnh thăm hỏi hội viên. Ảnh: VĂN BÍNH

Nghĩa trang Trường Sơn, nơi có những người con Hà Giang đã nằm lại vì nền độc lập, tự do của dân tộc.
Để
ghi nhớ một thời Trường Sơn đầy gian khổ, hy sinh, bằng quyết tâm và nỗ
lực vận động của những cựu chiến binh Trường Sơn, vừa qua Tỉnh ủy, UBND
tỉnh đã cho phép thành lập Hội Truyền thống Trường Sơn – đường Hồ Chí
Minh Việt Nam
tỉnh Hà Giang. Hôm nay, ngày 26.9, Hội tiến hành Đại hội lần thứ nhất,
nhiệm kỳ 2013 - 2018. Đồng chí Nguyễn Hữu Tưởng, Trưởng Ban vận động
thành lập Hội cho biết, Hội được ra đời nhằm tập hợp các đồng chí, đồng
đội trong tỉnh, để động viên, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tổ chức các
hoạt động giữ gìn và phát huy truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí
Minh anh hùng, góp phần phát huy truyền thống cách mạng. Để từ đó, tiếp
tục xây đắp thêm nhiều con đường Trường Sơn nữa trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN...
Có lẽ nào anh lại mê em
Một cô gái không nhìn rõ mặt
Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất
Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là “Thạch Nhọn”
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.
Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đoạn đường này các em làm đâu
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.
Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Ðất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim
Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Ðường trong tim anh in những dấu chân.
Chiếc võng bạc trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?
Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Ðêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường
Cạnh giếng nước có bom từ trường
En không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm
Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy...
Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường xá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.
Bài thơ viết tại Đức Thọ năm 1968.
Lời một chiến sỹ lái xe
Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
1969
-Có những câu chuyện, những sự việc thuộc hiện thực lịch sử qua tháng năm đã hóa thành huyền thoại lịch sử. Và những con người từng làm nên huyền thoại lịch sử ấy vụt hóa thành thần thánh vì đã vượt qua sức tưởng tượng của người đời.
-"Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang.
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng.
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa.
Trường Sơn, đông nắng, tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình."
(Tố Hữu)
-"Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn."
(Tố Hữu)
-"Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi."
(Tố Hữu)
-"bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…"
(Nguyễn Trọng Tạo)
----------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tướng Đồng Sỹ Nguyên với Trường Sơn huyền thoại ( tập 1)
Tướng Đồng Sỹ Nguyên với Trường Sơn huyền thoại ( tập 2 )
Viết cho em, dọc đường Trường Sơn
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Bằng Việt » Cát sáng (1985)
Đăng bởi Vanachi vào 06/07/2014 12:42
Mùa hái quả... Quanh em, thành phố cũ,
(Lá rực sáng trong những chiều nắng đỏ
Lối đi về quen quá, hoá bâng khuâng!)
Còn anh qua mùa nước lũ đang dâng
Nước xối xả những đường ngầm sâu hút
Xe vật vã trên đường lầy mưa trút
Rừng đại ngàn thăm thẳm một vòm đen...
Đường tiếp đường, vô tận, trải từ em,
Ngã bảy, ngã ba, bom đào, núi lở,
Những trạm gác, thét gào khản cổ
Những bữa ăn hối hả bên lèn...
Những đồi trọc không cây. Những xóm mạc không đèn.
Đất trải mênh mông, đỏ hực trong tàn phá,
Anh yêu thương xót xa mảnh đất tươi hồng quá
Như thớ thịt non ròng, chảy máu dưới chân đi!
Trái tim anh từng lúc đập như mê,
Dồn dập, trẻ trung, như ngày em gặp,
Mỗi xúc cảm thẳng căng, tới tột cùng cung bậc
Tới tột cùng từng mong đợi, lo toan!
Nhớ về em - từng giây phút gian nan,
Từng bữa đói ăn, từng đêm mất ngủ,
Dễ suy tưởng đắm say, như ngày xưa, tuổi nhỏ,
Thích những gì mơ mộng nhất về em...
Đất nước trổ mầm cho triệu triệu niềm tin,
Mặc vầng trán già đi, chỉ tình yêu trẻ lại,
Áo bạc hết hai vai, nhà cháy trơ hai mái,
Nhưng trận tuyến nào cần, còn tiếp bước còn đi...
Trái tim anh từng lúc đập như mê
Trước nườm nượp từng đoàn quân ra trận,
Xe nối đuôi nhau trên đường bất tận
Hàng cây số dài, máy thúc rền vang...
Những chuyến phà đêm xé nước râm ran,
Những phao bắc dập dềnh ngang suối đổ,
Những cô gái làm đường hồn nhiên, bé nhỏ,
Nụ cười nào xui nhớ nụ cười em?
Anh chạy dọc mùa thu, mùa hai đứa mình quen
Nghĩ trở lại mọi niềm vui tuổi nhỏ,
Anh được gặp trên đường bao niềm vui cởi mở
Anh lặng thầm chia sẻ hết cùng em!
Em như đường chân trời mỗi buổi nắng lên
Như búp lá trên đồi cây thưa thớt
Như mái lán che mình giữa cơn dông mưa trút,
Em là chỗ anh đi, và cả chỗ anh về...
Anh muốn nói cùng em hết thảy những gì
Em muốn biết trong những ngày cách biệt,
Nhưng đất nước – làm sao đi thấu hết...
Tình yêu em – vô tận, nối theo đường!
Đường mòn Hồ Chí Minh, 1972
Những Ca Khúc Hay Về Trường Sơn
CHÙM THƠ VỀ TRƯỜNG SƠN
CỦA TÁC GIẢ THÂN ĐỨC CHÍNH
CỦA TÁC GIẢ THÂN ĐỨC CHÍNH
Chân dung tác giả
TÔI MUỐN MỘT LẦN
VỀ LẠI TRƯỜNG SƠN
Tôi ước một lần thăm lại Trường Sơn
Để được nghe tiếng con Nai nó giác (tác)
Ngắm đàn khỉ rung cây rừng xào xạc
Nghe tắc kè báo thời tiết sớm hôm
Tôi muốn một lần trở lại Trường Sơn
Nghe tiếng thác reo tiếng gà rừng báo sáng
Ngắm em xung phong mũ tai bèo duyên dáng
Phá đá mở đường gian khổ ngày xưa
Nơi ấy Trường Sơn sáu tháng mùa mưa
Quần áo chẳng khô ẩm xì vẫn mặc
Chân bước phải nhanh đất rừng lắm Vắt
Ngày Muỗi vằn cứ chích ngứa râm ran
Tôi muốn tìm về cái thuở gian nan
Tìm vất vả của tháng năm kháng chiến
Ngắm đoàn Quân lách cây rừng Nam tiến
Nhìn đoàn xe ì ạch vượt đèo cao
Thuở ở rừng da ai cũng xanh xao
Mắt trắng môi thâm đặc trưng sốt rét
Bữa cơm ăn chỉ rau rừng xanh lét
Với đôi khi thịt hộp ruốc cá khô
Dãy Trường Sơn dằng dặc nhấp nhô
Ước một lần nhìn xa mà không được
Phóng tầm mắt chỉ dăm ba trăm mét
Đêm mưa rừng cái rét cũng thấu xương
Thương những người em gái tiền phương
Trải tuổi xuân trên cung đường ngày ấy
Đời con gái xuân thì đâu có mấy
Cũng chịu gian nan thiếu thốn trăm bề
Các em đến đây từ mọi vùng quê
Bạt núi mở đường Cho Trường Sơn khởi sắc
Chân yếu tay mềm tuổi xuân cũng mặc
Đời nữ nhi đâu có kém trí trai
Một dải Trường Sơn đâu cũng sắn khoai
Chẳng phải cây rừng đồng đội tôi trồng đấy
Là sáng kiến lính chúng tôi thời ấy
Đến đâu cũng trồng khỏi đói người sau
Nửa thế kỷ rồi thời gian đã qua lâu
Tôi vẫn nhớ Trường Sơn nhiều như thế
Nơi đã trở che cho bao thế hệ
Vượt ngàn trùng đi giải phóng miền Nam
VỀ LẠI TRƯỜNG SƠN
Tôi ước một lần thăm lại Trường Sơn
Để được nghe tiếng con Nai nó giác (tác)
Ngắm đàn khỉ rung cây rừng xào xạc
Nghe tắc kè báo thời tiết sớm hôm
Tôi muốn một lần trở lại Trường Sơn
Nghe tiếng thác reo tiếng gà rừng báo sáng
Ngắm em xung phong mũ tai bèo duyên dáng
Phá đá mở đường gian khổ ngày xưa
Nơi ấy Trường Sơn sáu tháng mùa mưa
Quần áo chẳng khô ẩm xì vẫn mặc
Chân bước phải nhanh đất rừng lắm Vắt
Ngày Muỗi vằn cứ chích ngứa râm ran
Tôi muốn tìm về cái thuở gian nan
Tìm vất vả của tháng năm kháng chiến
Ngắm đoàn Quân lách cây rừng Nam tiến
Nhìn đoàn xe ì ạch vượt đèo cao
Thuở ở rừng da ai cũng xanh xao
Mắt trắng môi thâm đặc trưng sốt rét
Bữa cơm ăn chỉ rau rừng xanh lét
Với đôi khi thịt hộp ruốc cá khô
Dãy Trường Sơn dằng dặc nhấp nhô
Ước một lần nhìn xa mà không được
Phóng tầm mắt chỉ dăm ba trăm mét
Đêm mưa rừng cái rét cũng thấu xương
Thương những người em gái tiền phương
Trải tuổi xuân trên cung đường ngày ấy
Đời con gái xuân thì đâu có mấy
Cũng chịu gian nan thiếu thốn trăm bề
Các em đến đây từ mọi vùng quê
Bạt núi mở đường Cho Trường Sơn khởi sắc
Chân yếu tay mềm tuổi xuân cũng mặc
Đời nữ nhi đâu có kém trí trai
Một dải Trường Sơn đâu cũng sắn khoai
Chẳng phải cây rừng đồng đội tôi trồng đấy
Là sáng kiến lính chúng tôi thời ấy
Đến đâu cũng trồng khỏi đói người sau
Nửa thế kỷ rồi thời gian đã qua lâu
Tôi vẫn nhớ Trường Sơn nhiều như thế
Nơi đã trở che cho bao thế hệ
Vượt ngàn trùng đi giải phóng miền Nam
NẾU GẶP LẠI EM...
Nếu có một ngày tôi với em
Gặp lại nhau như Trường Sơn thuở ấy
Liệu có còn không tình yêu ngày đấy
Có còn không em có giữ lại không
Chỉ nghĩ thôi sao cũng cứ mông lung
Mấy chục năm rồi tuổi mình đã chín
Vẫn nhớ ngày chia tay đầy bịn rịn
Em khóc hoài em hứa sẽ đợi anh
Có phải không em lỗi tại chiến tranh
Em về hậu phương Anh còn tiền tuyến
Anh mải miết Đi thêm hai cuộc chiến
Em trở về nên khó giữ tình yêu
Anh chẳng trách đâu chỉ nhớ em nhiều
Nhớ cánh võng chung đỉnh đèo Dân Chủ
Nhớ mỗi chuyến đi em thường nhắn nhủ
(Cẩn thận an toàn về với em nghe)
Anh mang tình em trong mỗi chuyến xe
Đỉnh Trường Sơn anh vượt ngàn gian khổ
Ngày xa em anh mang bao nỗi nhớ
Nhưng lúc anh về ..sáo đã sang sông
Trong tim em giờ còn có anh không
Nếu gặp lại liệu em còn thương nhớ
Em gái Trường Sơn.. Tình yêu dang dở
Để cả cuộc đời anh cứ nhớ về em...
Chùm ca dao chiến sĩ Trường Sơn
10:42 | 17/03/2010
VĂN NHĨĐường Trường Sơn huyền thoại đã đi
vào sử thi như một bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh. Nhiều bài
thơ, bài hát viết về Trường Sơn đã vượt qua biên độ của thời gian mãi
mãi rung động lòng người.
Chiến sĩ trên đường Trường Sơn - Ảnh: quansu.info
Song có lẽ ít ai biết đến những vần ca dao mộc mạc của các chiến sĩ nói lên cảm xúc của mình trên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Có thể nói ở đâu có dấu chân người lính là ở đó có ca dao.Dưới đây là chùm ca dao sưu tầm được qua sổ tay của các chiến sĩ, qua báo tường của các binh trạm, hoặc đọc được qua dòng chữ khắc vào thân cây, vách núi trên một chặng đường Trường Sơn đi qua vùng đất Thừa Thiên- Huế.
Ấn tượng đầu tiên đối cới các chiến sĩ vượt Trường Sơn là những cái dốc- mỗi cái là một kỷ niệm.
Dốc Mèo:
Ai lên A Lưới Dốc Mèo
Mà xem bộ đội vượt đèo lên mâyDốc Bò:
Bò lên rồi lại bò lên
Bò đi bò lại cho quên nhọc nhằnDốc Ông Bà:
Hỏi ông ông đứng nơi nao
Phải chăng dốc núi dựng cao lưng trời?
Hỏi bà bà chẳng trả lời
Vực sâu thăm thẳm biết người ở đâuDốc 200:
Cheo leo đứng giữa Việt Lào
Hai bên đồn giặc vẫn vào vẫn ra
Hai trăm dốc đứng dốc tà
Vẫn ăn được cá rau cà thường xuyên.Dốc Bô Phiên:
Bô Phiên dốc đứng đèo cao
Cheo leo khúc khủyu bên đèo bên sông
Qua đây mới thấy lạ lùng
Tưởng như mình đã tới cùng trăng saoĐỉnh Trường Sơn:
Cách nhau chỉ một cây sào
Trường Sơn hai mái Việt Lào chung lưng
Trường Sơn hai mái Tây- Đông
Việt Lào gắn bó thủy chung nghĩa tình.Hết trèo đèo, vượt dốc lại đến băng rừng. Rừng Trường Sơn bao la hùng vĩ trở nên gần gũi, gắn bó ân tình với các chiến sĩ trong từng bước đi, từng giấc ngủ và từng bữa ăn:
Ban ngày khoác lá ngụy trang
Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo
Ban đêm gùi đạn vượt đèo
Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng
Dừng chân mắc võng giữa rừng
Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon
Ơi người trẩy hội nước non
Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.Và đây là bữa cơm giữa rừng:
Hành quân qua trạm dừng chân
Dân công bộ đội quây quần bên nhau
Cơm ngô bày giữa rừng sâu
Có đàn bướm ngỡ hoa ngâu sà vào
Trường kỳ kháng chiến gian lao
Đêm đêm bướm vẫn bay vào trong mơ.
Đậm đà hơn hết, ca dao Trường Sơn biểu lộ tâm hồn và khí phách của các chiến sĩ trong mọi hoàn cảnh chiến đấu và công tác đầy gian khổ hy sinh.
Chiến sĩ binh trạm:
Binh trạm đóng giữa rừng sâu
Quanh năm chẳng thấy trăng sao mây trời
Ngày đêm con suối đưa lời
Con chim đưa tiếng, mua rơi đều đều
Quê hương gợi nhớ bao điều
Cây đa giếng nước nắng chiều mênh mang
Bóng tre mát rượi quanh làng
Câu hò giã gạo rộn ràng đêm trăng
Bao giờ quét sạch xâm lăng
Quê hương chín nhớ mười thương lại vềCao xạ pháo:
Mưu mô thằng Mỹ cuồng điên
Bắn ngày rồi lại bắn đêm giở trò
Bắn ngày, mày vụn ra tro
Bắn đêm, mày cũng gãy giò nát xương
Lòng ta đã cháy căm hờn
Lưới ta đã khép mày chuồn đi đâu
Mưu sâu thì họa càng sâu
Bảo cho giặc Mỹ một câu nhớ đờiCông binh:
Đứng trên trọng điểm ta thề
Đường chưa thông suốt chưa về nghỉ ngơi
Mặc cho bon đạn ngút trời
Chẳng xa một tấc, chẳng rời một lyLái xe:
Xe đâu xe lạ xe lùng
Đầu xe thì bẹp, chắn bùn lại không
Chỗ ngồi như tựa bàn chông
Thùng xe gỗ mục vô cùng thảm thương
Đêm nào cũng chạy trên đường
Kế hoạch vượt mức chẳng nhường cho ai
Vận tải:
Đèo cao thì mặc đèo cao
Tinh thần vận tải còn cao hơn đèo
Hàng ta, ta quý ta yêu
Hàng ra tiền tuyến, hàng tiêu diệt thù.Cô gái dân công:
Em là cô gái Pacô
Trên vai trĩu nặng đôi bồ dân công
Gian nguy chẳng chút sờn lòng
Đạn bom vẫn vượt núi non vẫn trèo
Hỏi em đã có người yêu?
Em cười: Cái bụng ưng theo gùi hàng.
V.N (sưu tầm)(133/03-2000)
Trường Sơn – Một tượng đài bằng thơ
26/07/2015 13:22Mỗi lần nhớ về Trường Sơn, tôi lại nhớ về con đường mòn ấy. Con đường mòn từng nâng bước những đoàn quân kháng chiến.
Con đường mòn huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với chiến trường
miền Nam nước Việt. Con đường mòn - CON ĐƯỜNG CHẠY THẲNG VÀO TIM những
người yêu nước, luôn khát khao đất nước mình thống nhất, hòa bình và
giàu mạnh. Con đường ấy giờ đã thành đại lộ Hồ Chí Minh xuyên Việt. Giờ
chạy xe bon bon trên con đường ấy, tâm trí của tôi luôn hiện lên ký ức
xa xưa của một thời làm anh bộ đội vượt đèo lội suối với ba-lô trên lưng
và khẩu súng trên vai cùng với những bài thơ bài hát như một hành trang
tinh thần không thể thiếu trong cuộc chiến tranh vệ tổ quốc hào hùng và
đau thương của dân tộc.
Có thể nói, Trường Sơn là đề tài nổi bật trong thơ thời kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dòng văn học chiến tranh cách mạng. Những người
thanh niên của miền Bắc thuở ấy luôn ấp ủ giấc mơ “vượt Trường Sơn” đánh
giặc. Và họ đã “vượt Trường Sơn” trên con đường mòn ấy. Họ không chỉ là
người lính cầm súng, mà chính lòng yêu nước và tâm hồn lãng mạn cách
mạng đã chắp cánh cho họ làm nên những bài thơ lưu danh vào sử sách. Và
cũng có thể nói, Trường Sơn đã “đẻ” ra cho đất nước thật nhiều nhà thơ
lính, mà Phạm Tiến Duật là một nhà thơ hàng đầu của thế hệ nhà thơ chống
Mỹ cứu nước. Chính nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng thú nhận điều đó: “Tôi
gắn bó máu thịt với Trường Sơn và có thể nói Trường Sơn đã “đẻ” ra nhà
thơ Phạm Tiến Duật. Trước đây, bây giờ; và sau này nếu tôi viết được
chút gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng ở Trường
Sơn". Vâng, tâm hồn những người lính Trường Sơn thời ấy thật đẹp, họ
nhìn cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh với cái nhìn lạc quan, và luôn
tin vào chiến thắng:
Trời không mây mà lạ lắm hôm nay
Đường ra trận lòng ta thành náo động
Sờ lên súng thấy bàn tay mình nóng
Hiểu đốt lòng người đâu chỉ lúc xung phong.
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời...
Đất Nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nứơc mắt để dành cho ngày gặp mặt
Trong đời mỗi người cũng có những ngã ba đường quyết định,
Trong đời mỗi dân tộc cũng có những ngã ba
Những ngã ba vận mệnh
Những cái nút trên dặm dài lịch sử
Gặp những ngã ba đời, con sẽ nghĩ suy
Và con ơi, muốn tìm đúng hướng đi
Con sẽ nhớ đến ngã ba Đồng Lộc
… ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu.
Cái chết em xanh khoảng trời con gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em
Gương mặt em, bạn bè tôi không biết
Nên mỗi người có gương mặt em riêng.
Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống…
Những “nhà thơ Trường Sơn” thời đó làm thơ cho mình, nhưng cũng là làm thơ cho đồng đội, cho dân tộc mình trong dòng mạch cả dân tộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Thời mà nhiều câu thơ cũng là câu khẩu hiệu, là lời hiệu triệu cho kháng chiến thành công. Thời mà thơ ào ào chất liệu cuộc sống chiến đấu. Thời của gian khổ, hy sinh, trên bom, dưới đạn, nhưng cũng đầy tính lạc quan thường trực của người lính chiến. Thời “có những ngày vui sao / cả nước lên đường” với những “tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu” để rồi những câu thơ như reo lên suốt đường ra trận: “Ðường ra trận mùa này đẹp lắm”, “Gì vui hơn đường ra trận mùa xuân!”… Cái nhìn của người lính vào cuộc chiến như vậy có lạc quan quá hay không? Có là sự thật hay không? Sau cuộc chiến nhìn lại thấy có gì như là tô hồng lên, nhưng thử sống lại tâm trạng những người lính thời đó thì quả là đúng như vậy. Những người lính ra đi từ cổng làng, từ cổng trường đại học, từ cổng trường trung học… vốn nhiều mơ mộng, lại sải chân tới những vùng quê, vùng rừng tươi đẹp của đất nước quả là gặp nhiều bất ngờ thú vị. Thời của “cái chết nhẹ như lông hồng” đối với những chàng trai cô gái tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng chung. Đó cũng là thời mà chính anh lính Trường Sơn Phạm Tiến Duật cũng bất ngờ phát hiện ra một “định luật” mang tính vật lý của cuộc sống: “Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ”.
Nhưng không chỉ có mộng mơ, lạc quan và chiến thắng, thơ của những người lính Trường Sơn viết về Trường Sơn vẫn còn rỏ máu trong từng con chữ. Hàng vạn người lính đã nằm lại với Trường Sơn hùng vĩ. Hàng vạn bài thơ khóc bạn đã ra đời. Và hình như càng lùi xa cuộc chiến, nỗi đau càng thấm đẫm vào con chữ. Những người lính Trường Sơn xưa, nay trở lại Trường Sơn tìm bạn. Rừng đã khép lại vết thương chiến tranh, nhưng vết thương trong lòng người thì mãi còn rỉ máu. Những ngôi mộ có tên và không tên. Những bài thơ có đề và không đề. Tất cả đều hiện lên nỗi niềm người lính:
"Chết - Hy sinh cho Tổ quốc" Hùng ơi
Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc
Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng.
Ve kêu mất - còn
Tiếng kèn chiêu tập
Ve kêu mỏi mòn
Nhắc thời máu ứa
“Về chưa… về chưa?”
“Về chưa… về chưa?”
Cũng đành nhắc lại
Với mồ không tên và mộ có tên
Những bó hoa đến viếng đã tàn đi
Chỉ sắc cỏ vẫn sinh sôi mãnh liệt
Xanh đến rợn người
Xanh đến nhức mắt
Xanh như là vì máu đỏ mà xanh
Ở đó, những con sóng chiến tranh dai dẳng không mùa
như răng kẻ xâm lược
cắn vào dân tộc tôi
cắn vào lục địa này…
bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…
Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân, trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn, nối tây Trường Sơn.
Và:Những đoàn quân, trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn, nối tây Trường Sơn.
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Những người lính ra trận hầu hết là lính trẻ, nhưng họ đã có những suy nghĩ thật sâu sắc về tình yêu nước:Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Trời không mây mà lạ lắm hôm nay
Đường ra trận lòng ta thành náo động
Sờ lên súng thấy bàn tay mình nóng
Hiểu đốt lòng người đâu chỉ lúc xung phong.
(Hoàng Nhuận Cầm)
Và họ luôn mang theo truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc:Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời...
(Nguyễn Khoa Điềm)
Và họ biết phải dồn nén tất cả những gì cho ngày về chiến thắng:Đất Nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nứơc mắt để dành cho ngày gặp mặt
(Nguyễn Khoa Điềm)
Những nhà thơ trên con đường sinh tử ấy luôn hiểu được cái giá máu xương của cả dân tộc phải trả cho hòa bình thống nhất:Trong đời mỗi người cũng có những ngã ba đường quyết định,
Trong đời mỗi dân tộc cũng có những ngã ba
Những ngã ba vận mệnh
Những cái nút trên dặm dài lịch sử
Gặp những ngã ba đời, con sẽ nghĩ suy
Và con ơi, muốn tìm đúng hướng đi
Con sẽ nhớ đến ngã ba Đồng Lộc
… ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu.
(Huy Cận)
Ngay cả với cái chết, luôn được coi là sự hy sinh, là cao cả, là đẹp –
vẻ đẹp của sự dâng hiến cho lý tưởng chung của cuộc chiến đấu:Cái chết em xanh khoảng trời con gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em
Gương mặt em, bạn bè tôi không biết
Nên mỗi người có gương mặt em riêng.
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Cái chết của đồng đội, của người thân luôn là lời kêu gọi đối với người đang sống:Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống…
(Bùi Minh Quốc)
Thơ Trường Sơn cũng là thơ nói lên ý chí của cả một dân tộc trong
cuộc chiến đấu chung. Vì vậy mà nó đồng điệu về tư tưởng, nó lạc quan về
tinh thần và nó mạnh mẽ về giọng điệu. Nó như một giàn hợp xướng nhiều
bè, nhưng lại quán xuyến trong tổng thể của giai điệu chính.Những “nhà thơ Trường Sơn” thời đó làm thơ cho mình, nhưng cũng là làm thơ cho đồng đội, cho dân tộc mình trong dòng mạch cả dân tộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Thời mà nhiều câu thơ cũng là câu khẩu hiệu, là lời hiệu triệu cho kháng chiến thành công. Thời mà thơ ào ào chất liệu cuộc sống chiến đấu. Thời của gian khổ, hy sinh, trên bom, dưới đạn, nhưng cũng đầy tính lạc quan thường trực của người lính chiến. Thời “có những ngày vui sao / cả nước lên đường” với những “tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu” để rồi những câu thơ như reo lên suốt đường ra trận: “Ðường ra trận mùa này đẹp lắm”, “Gì vui hơn đường ra trận mùa xuân!”… Cái nhìn của người lính vào cuộc chiến như vậy có lạc quan quá hay không? Có là sự thật hay không? Sau cuộc chiến nhìn lại thấy có gì như là tô hồng lên, nhưng thử sống lại tâm trạng những người lính thời đó thì quả là đúng như vậy. Những người lính ra đi từ cổng làng, từ cổng trường đại học, từ cổng trường trung học… vốn nhiều mơ mộng, lại sải chân tới những vùng quê, vùng rừng tươi đẹp của đất nước quả là gặp nhiều bất ngờ thú vị. Thời của “cái chết nhẹ như lông hồng” đối với những chàng trai cô gái tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng chung. Đó cũng là thời mà chính anh lính Trường Sơn Phạm Tiến Duật cũng bất ngờ phát hiện ra một “định luật” mang tính vật lý của cuộc sống: “Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ”.
Nhưng không chỉ có mộng mơ, lạc quan và chiến thắng, thơ của những người lính Trường Sơn viết về Trường Sơn vẫn còn rỏ máu trong từng con chữ. Hàng vạn người lính đã nằm lại với Trường Sơn hùng vĩ. Hàng vạn bài thơ khóc bạn đã ra đời. Và hình như càng lùi xa cuộc chiến, nỗi đau càng thấm đẫm vào con chữ. Những người lính Trường Sơn xưa, nay trở lại Trường Sơn tìm bạn. Rừng đã khép lại vết thương chiến tranh, nhưng vết thương trong lòng người thì mãi còn rỉ máu. Những ngôi mộ có tên và không tên. Những bài thơ có đề và không đề. Tất cả đều hiện lên nỗi niềm người lính:
"Chết - Hy sinh cho Tổ quốc" Hùng ơi
Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc
Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng.
(Nguyễn Đức Mậu)
Đến cả tiếng ve cũng kêu “mất – còn”, cũng khắc khoải gọi người:Ve kêu mất - còn
Tiếng kèn chiêu tập
Ve kêu mỏi mòn
Nhắc thời máu ứa
“Về chưa… về chưa?”
“Về chưa… về chưa?”
Cũng đành nhắc lại
Với mồ không tên và mộ có tên
(Nguyễn Hữu Quý)
Đến cả cỏ cũng xanh vì người đã khuất:Những bó hoa đến viếng đã tàn đi
Chỉ sắc cỏ vẫn sinh sôi mãnh liệt
Xanh đến rợn người
Xanh đến nhức mắt
Xanh như là vì máu đỏ mà xanh
(Nguyễn Quang Tính)
Và Trường Sơn là núi, là đường, là mộ, nhưng Trường Sơn cũng là con đê chở che cho bạn hữu, chở che cho dân tộc trường tồn:Ở đó, những con sóng chiến tranh dai dẳng không mùa
như răng kẻ xâm lược
cắn vào dân tộc tôi
cắn vào lục địa này…
bốc lửa cánh đồng bốc lửa rừng cây
dãy Trường Sơn máu ứa
dân tộc tôi mang thương tích đứng lên
trùng trùng rừng xanh núi đỏ
bao người con hy sinh
sóng dạt vào đất đá
nhập với Trường Sơn dựng lũy thành…
(Nguyễn Trọng Tạo)
Rồi những đời sau sẽ hiểu tâm hồn người lính một thời qua những bài
thơ Trường Sơn thuở ấy, những bài thơ như những cột mốc, hoa tiêu hay
tượng đài của sự hy sinh cao cả trên dọc dài lịch sử. Đấy là những bài
thơ thể hiện một phần tâm hồn của những người lính, những nhà thơ gắn bó
với Trường Sơn trong cuộc chiến tranh qua. Còn hàng nghìn, hàng vạn
những bài thơ, những trường ca của lính và những người kháng chiến đã
công bố hoặc chưa công bố. Và chúng ta đọc thơ họ, đọc tâm hồn lẽ sống
của họ, đọc quá khứ vinh quang và cay đắng của dân tộc mình những năm
ngàn cân treo sợi tóc, hẳn không khỏi tự hào về thời oanh liệt ấy, thời
con đường 559 – đường Hồ Chí Minh - đã nối liền đất nước bị cắt chia,
đã làm nên chiến thắng vẻ vang trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết Tổ
quốc mình.
Kỷ niệm xuyên Trường Sơn dọc đại lộ Hồ Chí Minh
Nhà thơ, nhạc sỹ: NGUYỄN TRỌNG TẠO
Nửa thế kỷ tìm nữ công nhân từ bức ảnh ở túi áo liệt sĩ Trường Sơn
Tròn 50 năm, ông Đặng Minh Phương vẫn đau đáu
mong tìm được cô công nhân trong bức ảnh người chiến sĩ hy sinh giữa
Trường Sơn mang theo.
Người lính, nhà báo Đặng Minh Phương năm nay 90 tuổi nhưng vẫn nhớ chi tiết câu chuyện xảy ra cách đây nửa thế kỷ.
Tâm nguyện tìm nữ công nhân
Thời điểm bắt đầu chiến dịch Mậu Thân, ông Phương phụ trách tờ báo Cờ Giải phóng.
Cuối tháng 2/1968, trên đường đi công tác qua vùng rừng núi Trường Sơn
thuộc huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam, ông gặp nhóm chiến sĩ đang ngồi
nghỉ.
Một chiến sĩ lấy trong túi áo ra bức ảnh nhỏ cỡ 6x9 có hình cô công nhân
dệt may. Bức ảnh đen trắng nhưng được tô màu rất đẹp. Cô gái mặc áo
trắng với bảo hộ xanh, cầm thoi dệt vải.
![]() |
Ông Đặng Minh Phương và bức ảnh nữ công nhân dệt may. Ảnh: Viết Tuân.
|
Ông Phương và các chiến sĩ chụm đầu lại đoán xem đó là nữ công nhân nhà
máy dệt 8/3 hay nhà máy dệt Nam Định. Mặt sau bức ảnh là bài thơ viết
tay nhưng không có đầu đề và tên tác giả. Các chiến sĩ thấy thơ hay và
tình cảm nên lấy sổ tay chép lại.
Theo lời kể của người giữ bức ảnh, anh nhặt được trong túi áo ngực của
một chiến sĩ hy sinh do trúng bom, nằm lại giữa rừng. Anh thấy ảnh cô
gái đẹp nên mang theo nhưng không biết tên tuổi, quê quán người chiến sĩ
ấy ở đâu. Anh cũng không biết cô công nhân là bạn hay người yêu, người
chị của chiến sĩ đã ngã xuống.
"Câu chuyện xúc động ấy làm chúng tôi rơi nước mắt, lặng đi hồi lâu. Tôi
chợt nghĩ, người trong ảnh ở hậu phương sẽ đau đớn vô cùng khi biết tin
về người thanh niên ấy", ông Phương nhớ lại.
Biết ông Phương công tác ở ban tuyên huấn Khu uỷ khu V, các chiến sĩ
đồng lòng trao ông bức ảnh với mong muốn sau này chiến tranh kết thúc,
ông sẽ tìm được nhân vật trong ảnh và gia đình chiến sĩ đã hy sinh.
"Sau đó chúng tôi chia tay, mỗi người một hướng. Vì bảo mật chiến đấu,
chúng tôi không hỏi tên tuổi, địa chỉ đơn vị của nhau nên đến giờ vẫn
không biết người đã trao cho tôi bức ảnh tên gì, đơn vị nào, còn sống
hay đã mất", người lính già chậm rãi kể.
Suốt những năm tháng ở chiến trường, dù phải di chuyển nhiều nơi qua bom
đạn, ông Phương vẫn gìn giữ bức ảnh cẩn thận bên mình với hy vọng sẽ
hoàn thành tâm nguyện mà các chiến sĩ năm xưa gửi gắm.
Hy vọng và hụt hẫng
Sau năm 1975, ông Phương dò hỏi khắp nơi để tìm cô gái trong ảnh và gia
đình chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng tâm nguyện của người lính già chưa thành
hiện thực.
Năm 1978, tình cờ trong một lần trò chuyện, ông được biết bài thơ sau bức ảnh có tên Đợi anh về của
nhà thơ Khương Hữu Dụng. Vốn là bạn bè quen biết từ những năm chống
Pháp ở liên khu V nên ông mang bức ảnh đến, kể lại cho nhà thơ nghe câu
chuyện.
"Mọi người rất xúc động khi thấy bức ảnh và bài thơ. Gia đình ông ngỏ ý
muốn được giữ bức ảnh để tiếp tục tìm kiếm nên tôi tặng lại, chỉ giữ lại
vài bản sao chép", ông Phương kể tiếp.
Những năm 1990, ông Đặng Minh Phương và nhà thơ Khương Hữu Dụng chia sẻ
thông tin này để đài truyền hình Hà Nội dựng phim tài liệu về bức ảnh.
Chương trình đã phát song vẫn không có manh mối hay ai đó biết về nữ
công nhân.
![]() |
Bức ảnh nữ công nhân dệt may và bài thơ trong túi áo chiến sĩ hy sinh ở Trường Sơn. Ảnh chụp lại.
|
Không nản, năm 2000 ông Phương viết bài Tấm ảnh trong túi áo người liệt sĩ ở Trường Sơn đăng báo Nhân Dân. Việc chưa thành, ông nuôi hy vọng bằng cách mang câu chuyện kể với thật nhiều người.
Đúng dịp ngày thương binh liệt sĩ Việt Nam 27/7/2017, khi biết câu
chuyện cảm động này. Nhà thơ Lê Đình Lai chia sẻ trên facebook cá nhân,
nhờ cộng đồng tìm giúp nữ công nhân.
Sự cố gắng không ngừng nghỉ của ông Phương tưởng chừng đã được đền đáp.
Một hôm, có người gọi đến, chỉ nói ngắn gọn là con gái của nhân vật
trong ảnh. Ông hồi hộp lắm, dù không liên lạc lại được nữa nhưng vẫn
mong chờ.
Đầu năm nay, có người đàn ông từ TP HCM tên Trần Mỹ Hưng gọi cho ông,
khẳng định người con gái trong ảnh là bà Vũ Thị Hiếu, từng làm công nhân
nhà máy dệt Nam Định. Ông Hưng là cháu của bà Hiếu. Chồng bà hy sinh
đầu năm 1968. Khi đi, ông có mang theo bức ảnh chụp bà Hiếu.
"Tôi mừng lắm, tự nhủ vậy là sau bao năm, câu chuyện về bức ảnh đã có
hồi kết. Tôi muốn xuống Nam Định gặp bà ấy nhưng vì đã yếu nên chưa biết
đi bằng cách nào", ông nhớ lại những phút giây ấy, đôi mắt rưng rưng.
Nhưng vui mừng bao nhiêu, ông lại hụt hẫng bấy nhiêu. Khi xem ảnh, bà
Hiếu khẳng định không phải là nhân vật mà ông Phương đang tìm. Chồng bà
hi sinh ở chiến trường Quảng Trị chứ không phải ở khu V. Bức ảnh bà chụp
để chồng mang theo vào chiến trường không mặc áo yếm như trong ảnh.
Ước mong suốt nửa thế kỷ tìm lại cô công nhân dệt may trong bức ảnh của ông Phương vẫn chưa thành hiện thực.
Vẫn mong kết thúc trọn vẹn
Câu chuyện bức ảnh nữ công nhân dệt may trong túi áo người chiến sĩ hy
sinh giữa rừng Trường Sơn không chỉ là nỗi niềm đau đáu của người lính
già Đặng Minh Phương mà còn của gia đình nhà thơ Khương Hữu Dụng.
Bà Khương Băng Kính, con gái nhà thơ nhớ lại, khi xem bức ảnh và những
dòng chữ chép tay ở mặt sau, cả nhà bà xúc động không nói nên lời. "Bài
thơ ấy ba viết cho tôi từ năm 1967, khi người yêu tôi đi chiến đấu.
Nhưng ông không ngờ bài thơ được các chiến sĩ chép cùng bức ảnh người
con gái họ yêu thương, mang theo vào chiến trường", bà chia sẻ.
Vì vậy, khi còn sống, một trong những nỗi niềm đau đáu của nhà thơ
Khương Hữu Dụng là mong tìm được nữ công nhân và gia đình chiến sĩ.
"Ba luôn dặn chúng tôi cố gắng tận dụng những mối quan hệ để câu chuyện bức ảnh kết thúc trọn vẹn", bà xúc động.
Bà nỗ lực tìm kiếm bằng cách gửi lại bài viết Tấm ảnh trong túi áo liệt sĩ ở Trường Sơn của ông Đặng Minh Phương đến báo Quân đội nhân dân.
Sau thời gian dài không có kết quả, năm 2009 gia đình bà hiến tặng Bảo
tàng Lịch sử quân sự Việt Nam bức ảnh đó vì nghĩ rằng ở đây sẽ gìn giữ
tốt hơn và biết đâu một ngày không xa sẽ tìm được nữ công nhân.
Cháy mãi “ngọn lửa Trường Sơn”!
Thứ Sáu, 27/09/2013, 07:48 (GMT+7)
HGĐT
- Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ, lớp lớp cha anh đã
cùng nhau tình nguyện viết đơn ra trận, mở đường Trường Sơn đi cứu
nước. Xuyên suốt Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây trong bom đạn, biết bao
người con trai, con gái của cả nước, trong đó có Hà Giang đã hy sinh vì
nền độc lập, tự do của dân tộc. Để đến hôm nay, ngọn lửa Trường Sơn,
“con đường máu và hoa” đã trở thành bất tử...
Hơn
16 năm ròng rã từ 1959 – 1975, cùng với cả nước, biết bao người con Hà
Giang đã lên đường xẻ dọc Trường Sơn, xuyên qua những cơn sốt rừng,
những ngày đêm chìm trong bom đạn mịt mùng để đi đến ngày Bắc - Nam một
nhà. Giữa bom đạn điên cuồng của giặc thù, ngăn chặn con đường chi viện
cho miền Nam ruột thịt, biết bao người con Hà Giang đã để lại một phần
máu xương, nhiều người mãi mãi nằm lại trên suốt chiều dài Trường Sơn.
Trong đó, tại Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, có 73 người con Hà Giang
đang yên nghỉ.
Hội truyền thống Bộ đội Trường Sơn của tỉnh thăm hỏi hội viên. Ảnh: VĂN BÍNH
Nhớ
về những ngày tháng gian khổ nhưng đầy tự hào ấy, trong câu chuyện dài
với nhiều người lính Trường Sơn, chúng tôi không khỏi xúc động và cảm
phục về tinh thần lên đường của tuổi trẻ một thời. Thời ấy, dường như
bất kỳ thanh niên nào cũng đều sẵn sàng ra trận, dù có phải từ biệt mẹ
già, gác lại đèn sách, dở dang chuyện tình cảm đôi lứa. Nhiều người dùng
máu của mình viết đơn xin ra trận hay dùng gạch, đá dấu vào người để đủ
cân lên đường. Có những thanh niên không đủ tiêu chuẩn đi bộ đội thì
bằng mọi cách xin đi thanh niên xung phong, tất cả chỉ mong được ghi tên
mình trên tuyến đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh huyền thoại.
Nhiều
cựu chiến binh khẳng định, không có đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh,
chúng ta sẽ khó đi đến chiến thắng cuối cùng. Chính vì tầm quan trọng
ấy, đường Trường Sơn trở thành tuyến lửa của ý chí và lương tri con
người. Rất nhiều trọng điểm trên tuyến đường bị giặc Mỹ điên cuồng dùng
những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất đánh phá, ngăn ta chi viện
cho tiền tuyến miền Nam.
Nhưng sau những cơn mưa bom, bão đạn, sự sống lại được thắp lên bằng
trái tim quả cảm của những người lính chiến đấu bảo vệ đường Trường Sơn,
của những giao liên và thanh niên xung phong ngày đêm giữ cho huyết
mạch thông suốt. Sau mấy chục năm bước ra từ Trường Sơn, nhiều cựu chiến
binh Hà Giang tâm sự với chúng tôi rằng, cứ tưởng thằng Mỹ là đáng sợ
nhất trên dải Trường Sơn, hóa ra “thằng”... sốt rét rừng còn đáng sợ
hơn. Cơn sốt rét như con ma rừng cướp đi không biết bao sinh mạng người
lính Trường Sơn và nó còn ẩn chứa trong máu của nhiều người sau khi
chiến tranh đã lùi xa. Dù vậy, Trường Sơn giữa sự sống và cái chết, tình
đồng chí đã trở thành điểm tựa ở một nơi được coi là khốc liệt nhất
trên trái đất này.
Nghĩa trang Trường Sơn, nơi có những người con Hà Giang đã nằm lại vì nền độc lập, tự do của dân tộc.
Trong
những câu chuyện dài, chú Phạm Chanh, một cựu chiến binh bị nhiễm chất
độc da cam/dioxin hiện ở TPHG kể với chúng tôi về một ngày đầy xúc động
giữa Trường Sơn: Cái chết đến cả trong ngày mùng 1 Tết nguyên đán, đó là
Tết năm 1973, khi đơn vị của chú tăng cường cho một trọng điểm ở Nam
Lào. Một trái bom của máy bay F4 thả vào miệng hầm của đơn vị khiến 9
đồng đội hy sinh, thi thể không còn nguyên vẹn, có người phải sau 6 ngày
mới tìm được xác. Các anh đã ra đi nhẹ nhàng trong tấm áo mưa về đất
mẹ, cùng tấm bia mộ làm từ vỏ thùng lương khô nhạt nhòa giữa rừng khộp.
Những người còn lại chẳng ai run sợ. Ngày ấy, trong mỗi chiếc ba lô trên
lưng của bộ đội Trường Sơn, ngoài đồ đạc, vũ khí, còn có một tấm vải
được phát trước lúc lên đường mà ai cũng hiểu nó dùng để làm gì. Nhưng
người lính Trường Sơn chẳng ai nghĩ về cái chết. Đêm đến trên chiếc võng
đung đưa, tấm vải “bất đắc dĩ” ấy lại trở thành chiếc chăn cứu sinh
trước muỗi vắt, sương rừng và gió núi...
Giữa
Trường Sơn gian khổ, nhiều đơn vị bộ đội “đói” thông tin, hàng tháng
trời không có một tờ báo, hàng năm trời không có một lá thư gia đình.
Nhiều đơn vị toàn nam giới, cả năm trời không nhìn thấy một bóng phụ nữ.
Chú Nguyễn Hữu Tưởng, cựu chiến binh Trường Sơn, hiện ở TPHG kể: Có lần
hành quân, thoáng nhìn thấy những “bóng hồng” là chị em người địa
phương, anh em chưa kịp... hỏi thăm thì những loạt bom thù đã vội gạt đi
tất cả. Chú Tưởng cũng là người may mắn trong số những người lính
Trường Sơn còn lưu lại trong ba lô của mình hình ảnh của một cô giao
liên Trường Sơn mà theo chú tiết lộ, cô ấy quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa.
Sau mấy chục năm bước ra từ khói lửa Trường Sơn, giờ trong tâm khảm
những người lính như chú Tưởng đều mong cô giao liên ấy và biết bao em
gái giao liên khác sẽ may mắn được trở về, làm những nàng dâu hiền thảo ở
một miền quê nào đó. Có một kỷ niệm sâu đậm về Bác Hồ trong những ngày ở
Trường Sơn được chú Nguyễn Hữu Tưởng kể: Sau 4 ngày Bác Hồ ra đi, ngày
mùng 6.9.1969, đơn vị của chú Tưởng có rất nhiều người hy sinh. Nỗi đau
trong từng người nhân lên vô hạn, nhiều người đã bật khóc vì Bác, vì
đồng đội đã ra đi.
Sau
những nỗi đau, một ngày giữa đại ngàn Trường Sơn, bài thơ “Việt Nam con
đường máu và hoa” của nhà thơ Tố Hữu in trên Báo Quân đội Nhân dân năm
1973 đã đến tay nhiều đơn vị ta ở Trường Sơn. Trong bài thơ ấy có hình
ảnh về những chàng Sơn Tinh làm nên dải Trường Sơn đối đầu với Thủy
Tinh. Bài thơ như lời tiên đoán về một tương lai toàn thắng “Sài Gòn ơi,
Huế ơi xin đợi/ tái hợp, huy hoàng, cả nước non”. Và gần 40 năm sau
Chiến thắng mùa Xuân 1975, thật tự hào khi có trên 500 người lính, giao
liên, thanh niên xung phong là người Hà Giang từng góp phần làm nên
Trường Sơn một thời may mắn được trở về, hội tụ nơi miền đất cực Bắc.
Rất nhiều người mang theo những vết thương chiến tranh, bị nhiễm chất
độc da cam/dioxin hay những cơn sốt rét rừng... Giữa cuộc sống còn nhiều
khó khăn, rất nhiều người lính Trường Sơn phát huy tinh thần Anh bộ đội
Cụ Hồ vươn lên, trở thành những tấm gương sáng giữa cộng đồng. Bên cạnh
đó, do hoàn cảnh khác nhau hiện vẫn còn không ít người gặp khó khăn
trong cuộc sống. Dù vậy, tinh thần Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh vẫn
sôi sục trong huyết quản mỗi người lính.
.
In bài này Email
Đưa lên Facebook
I - ĐÈN
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Quả cây chín đỏ hoe
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè,
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu,
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng...
Mạch đất ta dồi dào sức sống
Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương
Chúng nó đến từ bên kia biển
Rủ nhau bay như lũ ma trơi
Từ trên trời bảy trăm mét
Thấy que diêm sáng mặt người
Một nghìn mét từ trên trời
Nhìn thấy ngọn đèn dầu nhỏ bé
Tám nghìn mét
Thấy ánh lửa đèn hàn chớp loé
Mà có cần đâu khoảng cách thấp cao
Chúng lao xuống nơi nao
Loé ánh lửa,
Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa.
Trên đất nước đêm đêm
Sáng những ngọn đèn
Mang lửa từ nghìn năm về trước,
Lấy từ thuở hoang sơ,
Giữ qua đời này đời khác
Vùi trong tro trấu nhà ta.
Ôi ngọn lửa đèn
Có nửa cuộc đời ta trong ấy!
Giặc muốn cướp đi
Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy
II - TẮT LỬA
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
Không nhìn thấy gì đâu
Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
Bông hoa làm duyên phải luỵ hương bay...
Bóng tối phủ dày
Che mắt địch
Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích
Kéo pháo lên trận địa đồng cao
Tiếng khẩu đội trưởng ở đâu
Đấy là đuôi khẩu pháo
Tiếng anh đo xa điểm đều
Vang ở đâu, đấy là giữa điểm đồ
Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ôtô,
Những đoàn xe đi như không bao giờ hết,
chiếc sau nối chiếc trước ì ầm
Như đàn con trẻ chơi u chơi âm
Đứa này nối hơi đứa khác.
Nơi tắt lửa là nơi dài tiêng hát
Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường;
Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi khét
Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương
Đêm tắt lửa trên đường
Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
Là tiếng những đoàn quân xung kích
Đi qua.
Từ trong hốc mắt quầng đen bóng tối tràn ra
Từ dưới đáy hố bom sâu hun hút
Bóng tối dâng đầy toả ngợp bao la,
Thành những màn đen che những bào thai chiến dịch
Bóng đêm ở Việt Nam
Là khoảng tối giữa hai màn kịch
Chứa bao điều thay đổi lớn lao,
Bóng đêm che rồi không nhìn thấy gì đâu
Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ.
III - THẮP ĐÈN
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi đêm ngày giặc điên cuồng bắn phá
Những ngọn đèn vẫn cứ thắp lên
Chiếc đèn chui vào ống nứa
Cho em thơ đi học ban đêm,
chiếc đèn chui vao lòng trái núi
Cho xưởng máy thay ca vời vợi,
Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn
Cho những tốp trai làng đọc lá thư thăm
Ta Thắp đèn lên trên đỉnh núi
Gọi quân thù đem bom đến dội
Cho đá lở đá lăn
Lấy đá xây cầu, lấy đá sửa đường tàu
Ta bật đèn pha ôtô trong chớp loè ánh đạn
Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi...
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng
Anh dắt tay em, trời chi chit sao giăng
"Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm"
Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh
Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
Nơi ấy là phòng cưới chúng mình
Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp
Mang hình những người những cảnh hôm nay
Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối
Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay.
1967
Ghi chú của tác giả: Hồi cuối năm 1966 tại Tây Bắc, tôi (PTD) đã có mấy tháng là pháo thủ pháo cao xạ (tiểu đoàn 24 trực thuộc Quân khu). Ấy thế mà còn viết nhầm. Do khi viết cứ mê đi, mụ đi mà nhầm. Ấy là dòng này "Tiếng anh đo xa điểm đều như đếm nhịp chày giã gạo". Những dòng trên đã cho thấy pháo đây là pháo tầm thấp. Ban đêm làm sao dùng được máy đo xa bằng mắt thường. Nhưng thôi, không sửa. Đã là cuộc đời thì hẳn có tì vết.
Nguồn: Thơ Phạm Tiến Duật, NXB Hội nhà văn, 2007.
Đưa lên Facebook
Lửa đèn
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến DuậtAnh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Quả cây chín đỏ hoe
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè,
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu,
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng...
Mạch đất ta dồi dào sức sống
Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương
Chúng nó đến từ bên kia biển
Rủ nhau bay như lũ ma trơi
Từ trên trời bảy trăm mét
Thấy que diêm sáng mặt người
Một nghìn mét từ trên trời
Nhìn thấy ngọn đèn dầu nhỏ bé
Tám nghìn mét
Thấy ánh lửa đèn hàn chớp loé
Mà có cần đâu khoảng cách thấp cao
Chúng lao xuống nơi nao
Loé ánh lửa,
Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa.
Trên đất nước đêm đêm
Sáng những ngọn đèn
Mang lửa từ nghìn năm về trước,
Lấy từ thuở hoang sơ,
Giữ qua đời này đời khác
Vùi trong tro trấu nhà ta.
Ôi ngọn lửa đèn
Có nửa cuộc đời ta trong ấy!
Giặc muốn cướp đi
Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy
II - TẮT LỬA
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
Không nhìn thấy gì đâu
Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
Bông hoa làm duyên phải luỵ hương bay...
Bóng tối phủ dày
Che mắt địch
Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích
Kéo pháo lên trận địa đồng cao
Tiếng khẩu đội trưởng ở đâu
Đấy là đuôi khẩu pháo
Tiếng anh đo xa điểm đều
Vang ở đâu, đấy là giữa điểm đồ
Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ôtô,
Những đoàn xe đi như không bao giờ hết,
chiếc sau nối chiếc trước ì ầm
Như đàn con trẻ chơi u chơi âm
Đứa này nối hơi đứa khác.
Nơi tắt lửa là nơi dài tiêng hát
Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường;
Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi khét
Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương
Đêm tắt lửa trên đường
Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
Là tiếng những đoàn quân xung kích
Đi qua.
Từ trong hốc mắt quầng đen bóng tối tràn ra
Từ dưới đáy hố bom sâu hun hút
Bóng tối dâng đầy toả ngợp bao la,
Thành những màn đen che những bào thai chiến dịch
Bóng đêm ở Việt Nam
Là khoảng tối giữa hai màn kịch
Chứa bao điều thay đổi lớn lao,
Bóng đêm che rồi không nhìn thấy gì đâu
Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ.
III - THẮP ĐÈN
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi đêm ngày giặc điên cuồng bắn phá
Những ngọn đèn vẫn cứ thắp lên
Chiếc đèn chui vào ống nứa
Cho em thơ đi học ban đêm,
chiếc đèn chui vao lòng trái núi
Cho xưởng máy thay ca vời vợi,
Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn
Cho những tốp trai làng đọc lá thư thăm
Ta Thắp đèn lên trên đỉnh núi
Gọi quân thù đem bom đến dội
Cho đá lở đá lăn
Lấy đá xây cầu, lấy đá sửa đường tàu
Ta bật đèn pha ôtô trong chớp loè ánh đạn
Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi...
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng
Anh dắt tay em, trời chi chit sao giăng
"Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm"
Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh
Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
Nơi ấy là phòng cưới chúng mình
Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp
Mang hình những người những cảnh hôm nay
Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối
Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay.
1967
Ghi chú của tác giả: Hồi cuối năm 1966 tại Tây Bắc, tôi (PTD) đã có mấy tháng là pháo thủ pháo cao xạ (tiểu đoàn 24 trực thuộc Quân khu). Ấy thế mà còn viết nhầm. Do khi viết cứ mê đi, mụ đi mà nhầm. Ấy là dòng này "Tiếng anh đo xa điểm đều như đếm nhịp chày giã gạo". Những dòng trên đã cho thấy pháo đây là pháo tầm thấp. Ban đêm làm sao dùng được máy đo xa bằng mắt thường. Nhưng thôi, không sửa. Đã là cuộc đời thì hẳn có tì vết.
Nguồn: Thơ Phạm Tiến Duật, NXB Hội nhà văn, 2007.
Gửi em, cô thanh niên xung phong
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật » Vầng trăng quầng lửa (1970)Một cô gái không nhìn rõ mặt
Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất
Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là “Thạch Nhọn”
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.
Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đoạn đường này các em làm đâu
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.
Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Ðất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim
Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Ðường trong tim anh in những dấu chân.
Chiếc võng bạc trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?
Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Ðêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường
Cạnh giếng nước có bom từ trường
En không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm
Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy...
Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường xá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.
Bài thơ viết tại Đức Thọ năm 1968.
Nhớ
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật » Vầng trăng quầng lửa (1970)Lời một chiến sỹ lái xe
Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
1969


Nhận xét
Đăng nhận xét