Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 80/3 (Máy bay & chiến tranh)
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Phải chăng loài người càng văn minh càng tàn ác?
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Máy bay và đại chiến thế giới - Phần 1
Vụ cướp máy bay thương mại đầu tiên và ly kỳ nhất lịch sử thế giới
Thứ Năm, ngày 07/02/2019 16:00 PM (GMT+7)
Vụ cướp máy bay thương mại đầu tiên
trong lịch sử loài người diễn ra một cách "không tưởng đến khó tin”. Và
người sống sót duy nhất sau thảm họa ấy lại là một không tặc.
Phi công Dale Cramer (trái) cùng phi hành đoàn đứng trên cánh chiếc Catalina.
Máy bay chở vàng, miếng mồi của không tặc
"Cathay Pacific Airways đã kiềm chế không đưa ra tuyên bố sớm hơn bởi
sự việc không tưởng đến nỗi khó tin", giám đốc Sydney de Kantzow phát
biểu vào ngày 31.7.1948, 15 ngày sau khi một trong những máy bay đổ bổ
Catalia của hãng này, chiếc Miss Macao, biến mất khỏi bầu trời. Đây là
vụ máy bay thương mại bị không tặc tấn công lần đầu tiên trong lịch sử.
Chiếc máy bay đã rơi xuống biển khiến 26 trong tổng số 27 người trên đó
thiệt mạng.
Năm 1948, Cathay Pacific vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, khởi đầu là
chi nhánh vận tải hàng không của Công ty Xuất nhập khẩu Roy Farrell
thành lập năm 1946 tại Thượng Hải. Nhiệm vụ của hãng hàng không này khi
ấy là vận chuyển bất cứ thứ gì từ Úc có thể bán được.
Sau đó, hoạt động vận chuyển hàng hóa và hành khách bắt đầu phát
triển nhanh chóng. Khi việc kinh doanh của Farrell bùng nổ, Hong Kong
trở thành một trung tâm hoạt động ngày càng quan trọng. Xứ cảng thơm có
vị trí địa lý thuận lợi, tình hình Trung Quốc đại lục đầy biến động cũng
không hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì thế, Farrell và de
Kantzow quyết định gây dựng doanh nghiệp tại Hong Kong.
Thời bấy giờ, 2 chiếc thủy phi cơ PBY Catalina đã được Cathay mua lại
từ Ủy ban Thanh lý của Không quân Mỹ tại Manila cho mục đích cụ thể.
Khi ấy, Hong Kong bị cấm không được nhập khẩu vàng miễn phí do Thỏa
thuận Bretton Woods nhưng Ma Cao thì không. Cathay phát hiện ra xu hướng
vận chuyển vàng đến Hong Kong trên những chuyến bay tới Ma Cao để phục
vụ nhu cầu của Tưởng Giới Thạch.
Ma Cao không có đường băng, ban đầu người ta thử ném những thùng vàng
ra khỏi cửa phụ của máy bay DC3 khi nó bay là là trên trường đua ngựa
nhưng không thành công. Sau đó, de Kantzow nhận ra những chiếc thủy phi
cơ chính là giải pháp. Và thế là những chiếc Catalina bắt đầu thực hiện
các chuyến bay khứ hồi 2 lần/ngày giữa Hong Kong và Ma Cao, vận chuyển
hành khách và vàng. Nhưng 2 "mặt hàng" này không bao giờ đi cùng nhau
bởi "sự pha trộn này là đơn thuốc thảm họa".
Xác chiếc Miss Macao tại căn cứ hải quân Ma Cao.
Vụ cướp máy bay sơ khai và ly kỳ nhất thế giới
Vào lúc 17h30 ngày 16.7.1948, chiếc Catalina VR- HDT do Dale Cramer,
27 tuổi lái chính và Ken McDuff, 23 tuổi làm lái phụ, Delca da Costa, 22
tuổi là tiếp viên rời Hong Kong lần cuối cùng.
Trong cuốn hồi ký của phi công Eather, ban đầu, cả Cramer lẫn Mc Duff
đều không bay chuyến này. Vào buổi tối định mệnh đó, Cramer đã thay thế
một phi công bị đau tai cấp tính còn McDuff thay thế cho vị trí cơ phó
của chuyến bay buổi sáng. Anh này bị rơi xuống bùn vì xác định sai vị
trí hạ cánh máy bay.
Một nhân viên Cathay khác lẽ ra cũng không có mặt trên chuyến bay
ngày hôm ấy là Frost. Một nhà báo tên Alan Marshall đã rút khỏi chuyến
bay do bị đau chân, và thế là Frost nhảy vào lấp chỗ trống để giết thời
gian trong lúc chờ cô vợ mới cưới làm đầu.
Hệ thống liên lạc trên máy bay thời bấy giờ còn rất nguyên thủy nên
việc chiến máy bay biến mất không được phát hiện ra ngay lập tức. Mặc dù
các nhân viên bắt đầu lo lắng khi Miss Macao không đến Kai Tak đúng
18h30 như dự kiến nhưng không một ai ở Hong Kong biết đến thảm họa cho
tới khi de Kantzow bay đến Ma Cao để tìm hiểu vụ việc vào ngày hôm sau.
Đến nơi, ông biết là có một người sống sót là Wong Yu-man, anh ta
được 2 ngư dân đưa vào bờ lúc 21h15. Cả 2 ngư dân cho biết họ đã nhìn
thấy chiếc máy bay rơi xuống sau khi cất cánh để trở về từ Ma Cao nhưng
không thể xác định chính xác vị trí. Do đó, lực lượng cảnh sát biển Ma
Cao, hải quan Trung Quốc cùng với ngư dân bắt đầu tiến hành tìm kiếm.
Một máy bay của Lực lượng không quân Hoàng gia Anh, một của Hải quân Mỹ
và chiếc Catalina khác của hãng Cathay cũng tham gia tìm kiếm từ trên
không.
Cơ trưởng Dale Cramer
Chiếc tàu hơi nước SS Merry Moller chạy từ Hong Kong tới Ma Cao chạy
qua khu vực máy bay rơi đầu tiên vào lúc 15h20 chiều 17.7. Thi thể đầu
tiên được tìm thấy trong cùng ngày bị trôi dạt tới đê chắn sóng của Ma
Cao. Cuối cùng, xác máy bay được tìm thấy gần Kau Chau, cách Ma Cao
khoảng 16 km về phía đông bắc.
Ban đầu,theo một nguồn tin thì có 11 người thiệt mạng, người duy nhất
trong số thành viên phi hành đoàn sống sót là McDuff. Tuy nhiên, thông
tin này không chính xác.
Bí ẩn ngày càng sâu sắc và người duy nhất sống sót được báo chí mô tả
là "người nghèo nhất trong số các hành khách", hiện điều trị tại bệnh
viện ở Ma Cao, bị gãy cánh tay phải và chân phải, không nói chuyện được.
Công việc cứu hộ vẫn tiếp tục và nó bị gián đoạn vài ngày do bão cho
tới khi người ta phát hiện ra những viên đạn đã được sử dụng trong xác
máy bay. Ngày càng có nhiều suy đoán mới xuất hiện. Nhưng phải đến tận
ngày 26/7 tờ SCMP mới bắt đầu tính đến khả năng máy bay bị cướp. Ủy viên
cảnh sát Ma Cao L.A.M Paletti nói rằng 4 triệu phú chết trên Miss Macao
càng củng cố giả thuyết này. Vợ của một triệu phú nói với Paletti rằng
chồng bà mang theo 500.000 Đô la Hong Kong khi lên máy bay.
Trong lúc mọi chuyện rối ren, tờ Post đưa tin: "Paletti cho rằng một
băng đảng cướp biển có thể đã lên kế hoạch đánh rơi máy bay, bắt giữ 4
người đàn ông giàu có. Trong số 5 kẻ tình nghi thì có một người là phi
công Trung Quốc".
Sự thật cuối cùng được hé lộ từ người sống sót duy nhất, cũng là
người đáng nghi nhất. "Ban đầu, anh ta nói năng không mạch lạc. Vì thế,
cảnh sát đã đặt máy ghi âm giấu dưới giường bệnh gần anh ta. Ngoài ra,
cảnh sát cũng cải trang làm người bệnh ở giường bên cạnh. Dần dần, Wong
đã nói ra tất cả những gì mình biết". Cảnh sát đã có thể khoanh vùng
khoảng 6-7 đối tượng để thẩm vấn.
Nhóm không tặc này đã lên kế hoạch ép máy bay hạ cánh xuống nơi nào
đó hẻo lánh và cướp hành khách. Sau đó, chúng sẽ đưa họ tới giam cầm ở
một hòn đảo xa xôi và đòi tiền chuộc.
Thủy phi cơ bay từ đến Ma Cao khi nơi này chưa có đường băng.
Lúc đầu có 3 kẻ chủ mưu chính là Chio Tok, Chio Kei-mun và Chio
Cheong, tất cả đều là dân làng Nam Mun, nằm ở đông nam Tao Mun. Về sau,
Chio Kei-mun được thay thế bởi Siu Chek-kam. Wong Yu-man, một nông dân
24 tuổi, bị kéo vào âm mưu này bởi anh ta hiểu biết về bờ biển và biết
nơi nào có thể giấu máy bay.
Chúng lên kế hoạch tại nhà của Chio Lek-chan, một gã bị vợ bỏ. Khu
vực mà Chio Lek-chan sống là quận Chung San, nơi ở nổi tiếng của cướp
biển tại Ma Cao.
Chio tok từng học lái máy bay Catalina tại Manila. Nhóm không tặc này
đã nghiên cứu đường bay của Matco giữa Ma Cao và Hong Kong.
Sáng ngày 16.7, nhóm không tặc này đã dành 20 pataca (đơn vị tiền của
Ma Cao) để mua sắm âu phục. 3 trong số 4 thành viên của nhóm ăn mặc
bảnh bao, mang theo súng ngắn bước lên máy bay. Chio Tok và Chio Cheong
đảm bảo họ ngồi sau phi công. Khoảng 7-8 phút sau khi máy bay cất cánh,
chúng hành động. Chio Cheong chộp lấy McDuff còn Chio Tok chiếm quyền
kiểm soát máy bay từ Cramer
Sau đó, có thể một vài hành khách đã can thiệp, vụ xả súng diễn ra
ngay trên máy bay. Và thế là cảnh tượng thảm khốc xảy ra, tiếng khóc,
tiếng la hét, sự nổi giận, những phát súng, những cơ thể vật lộn ngay
trên lối đi...
Trong cuộc hỗn chiến, Chio Tok đã bắn vào đầu Cramer. Thi thể phi
công gục xuống bảng điều khiển khiến chiếc máy bay lao xuống biển không
thể cứu vãn.
Trong số những hàng khách thiệt mạng có triệu phú Wong Chung-ping,
chủ sở hữu của công ty vàng Hang Shun. Theo báo chí địa phương, ông này
đã mang lên máy bay 3.000 lượng vàng.
Cho đến nay, vụ cướp này vẫn được sử dụng làm ví dụ điển hình cho sự
lỏng lẻo của luật hàng không quốc tế. Trong 30 năm tiếp theo, các vụ
không tặc ngày càng thường xuyên. Trong giai đoạn 1948-1957, trung bình
chỉ hơn một sự cố mỗi năm, nhưng từ 1968-1977 đã tăng lên 41 sự cố mỗi
năm. Phải đến sau vụ khủng bố 11.9 các quốc gia mới dần nâng cấp các
biện pháp an ninh hàng không và kiểm tra an ninh chặt chẽ hơn đối với
hành lý xách tay và đồ dùng cá nhân trước khi lên máy bay. Các hãng hàng
không cũng đã thiết lập các quy trình bảo vệ buồng lái, đào tạo tốt hơn
cho phi hành đoàn nên số vụ không tặc đã giảm đi.
Một chiếc máy bay Airbus A300 nặng 42 tấn chở 177 người, 20 thanh thuốc nổ và 15 tấn nhiên liệu dễ cháy sẽ nổ tung và tạo...
Theo Bảo Linh - SCMP (Dân Việt)
Hình ảnh những chuyến bay đầu tiên trên thế giới của anh em nhà Wright
Anh em nhà Wright, gồm Orville và Wilbur là những người đã đi tiên phong
trong việc chế tạo ra cỗ máy có thể bay được mà chúng ta gọi là máy
bay.
Hơn
100 năm trước, Orville và người anh Wilbur đã miệt mài nghiên cứu, thử
nghiệm, bất chấp rủi ro để tạo nên một sản phẩm mang tính bước ngoặt đối
với lịch sử loài người. Máy bay giúp cho con người có thể di chuyển xa
hơn và nhanh hơn, thế giới dường như rút ngắn lại. Dưới đây là một số
hình ảnh lịch sử trong những ngày đầu tiên và những chuyến bay đầu tiên
của anh em nhà Wright.
Wilbur
Wright lái một chiếc tàu lượn cỡ lớn xuống sườn đồi Big Kill Devil
Hill, ở Kitty Hawk, North Carolina, 10/10/1902. Mẫu tàu lượn này là thế
hệ thứ ba của những phiên bản tàu lượn do anh em nhà Wright thiết kế,
với phần cánh có thể kéo được để bẻ lái, một bánh lái dọc ở phía sau, và
một cái bánh lái độ cao ở phía trước.
Từ trái qua, Orville và Wilbur Wright, ảnh chân dung chụp năm 1905, khi họ 34 tuổi và 38 tuổi.
Bên trái là Dan Tate, và bên phải là Wilbur Wright, thả chiếc tàu lượn 1902, vào ngày 19/09/1902.
Chiếc tàu lượn bị méo mó, do bị gió quật, trên đồi Hill of the Wreck, 10/10/1900.
Orville Wright và Edwin H. Sines, hàng xóm và bạn thời niên thiếu, hàn những chiếc khung phía sau cửa hàng xe đạp Wright, 1897.
Bắt
đầu thả tàu lượn, Wilbur đang chạy ở phía bên trái nắm một bên tàu lượn
(được cải tiến với một bánh lái dọc), Orville nằm giữa chiếc tàu lượn,
và bên phải là Dan Tate, tại Kitty Hawk, North Carolina, 10/10/1902.
Ảnh
chụp từ phía sau khi Wilbur thực hiện cú cua phải với chiếc tàu lượn từ
đồi Số 2, khi cánh phải của tàu gần chạm đất, 24/10/1902.
Máy
bay Wright Flyer I, lắp ráp năm 1903, nhìn từ phía trước. Đây là chiếc
máy bay có động cơ đầu tiên của anh em nhà Wright. Máy bay có 2 cánh
quạt đường kính gần 2,5m dẫn động bởi một động cơ chuyên dụng công suất
12 mã lực.
Wilbur
Wright kiểm tra mức độ hư hại của máy bay Wright Flyer sau một lần thử
thất bại, 14/12/1903, ở Kitty Hawk, North Carolina.
Chuyến
bay đầu tiên: bay được 36m trong 12 giây, 17/12/1903. Đây là chuyến bay
đầu tiên của con người với một cỗ máy có gắng động cơ, có thể điều
khiển được và bay liên tục. Orville Wright nằm ở khu vực điều khiển, nằm
sấp trên phần cánh dưới với hông ở khu vực cần gạc để điều khiển cánh.
Wilbur Wright chạy bên cạnh để giúp cân bằng máy bay, trong ảnh ông vừa
thả tay khi nửa cánh bên phải bị lên cao. Đường băng, bệ đỡ cánh, hộp
dây, và các vật dụng khác cần thiết để chuẩn bị cho chuyến bay thử còn
nằm lại phía sau máy bay.
Wilbur và Orville Wright với chiếc máy bay thứ hai, ở Huffman Prairie, gần Dayton, Ohio, 05/1904.
Chuyến bay thứ 41, Orville bay lên được độ cao khoảng hơn 18m; ở Huffman Prairie, Dayton, Ohio, 29/09/1905.
Chiếc
máy bay đã được chỉnh sửa nằm 1905, với ghế ngồi dành cho người điều
khiển và một ghế khác cho hành khác, trên đường cất cánh ở Dill Devil
Hills, 1908.
Quân
đội Mỹ đến hiện trường vụ tai nạn máy bay để cứu phi công Orville
Wright và hành khách, 17/09/1908. Chiếc máy bay bị rơi trong một chuyến
bay biểu diễn tại một căn cứ quân sự, khiến cho thiếu úy Selfridge bị
thương và qua đời, đây cũng là vụ tai nạn chết người đầu tiên với một
máy bay quân sự. Orville vẫn sống nhưng bị gãy chân trái và 4 xương
sườn.
Cận cảnh một máy bay của anh em Wright, với ghế phi công và ghế hành khách, 1911.
Wilbur
Wright thực hiện chuyến bay dài 33 phút trong lễ kỷ niệm Hudson-Fulton
Celebration ở New York, 1909. Wright cất cánh từ đảo Govenors, bay qua
sông Hudson đến lăng Grant và quay ngược lại, dưới sự chứng kiến của
hàng trăm ngàn người dân New York.
Orville Wright, Katharine Wright và Wilbur Wright, ở Pau, Pháp. Cô Wright chuẩn bị có chuyến bay đầu tiên, 15/02/1909.
Orville
Wright trong chuyến bay chứng minh cho quân đội Mỹ ở pháo đài Myer,
Virginia, 07/1909. Anh em nhà Wright đã bán được những chiếc máy bay của
họ cho đơn vị không quân của quân đội.
Theo TINHTE.VN / THE ATLANTIC
Tìm hiểu máy bay chiến đấu phản lực đầu tiên trên thế giới
0
Do có vấn đề về động cơ phản lực và quyết định sai lầm của
Hitler, loại máy bay chiến đấu phản lực Me 262 hiện đại nhất thế giới
khi đó chỉ được tung ra vào thời điểm quân đội Đức sắp bị đánh bại trong
Chiến tranh thế giới thứ hai.
Máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới Me 262. Ảnh Airportjournal
Dưới sự điều khiển của một phi công có kinh nghiệm, Me 262 đã chứng tỏ là loại máy bay tiêm kích
“khủng” nhất, vượt xa tất cả các loại máy bay chiến đấu tốt nhất của
đồng minh – trong đó có cả chiếc máy bay chiến đấu phản lực Gloster
Meteor của Không quân Hoàng gia Anh.
Lẽ ra, Me 262 đã có thể tung ra chiến trường sớm hơn rất nhiều. Chiếc
Me 262 thử nghiệm đầu tiên đã được hoàn tất trong năm 1939. Nhưng do chi
phí quá cao và do các viên tướng Đức quốc xã cho rằng họ có thể giành
chiến thắng bằng các loại máy bay cánh quạt hiện có, Me 262 không nằm
trong diện vũ khí ưu tiên của quân đội Đức quốc xã.
Chiếc Me 262 thử nghiệm đầu tiên đã bay lượn trên bầu trời xứ Bavaria
năm 1941, nhưng do động cơ phản lực của hãng BMW quá yếu nên nó phải bay
bằng động cơ cánh quạt Jumo 210. Chiến đấu cơ phản lực… không thể cất cánh
Hồi đầu tháng 6/1942, sau nhiều lần cất cánh bất thành với chiếc Me
262, phi công thử nghiệm Fritz Wendel của hãng sản Messerschmitt đã chán
nản cho rằng máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới này
không thể cất cánh.
Chiếc Me 262 thử nghiệm thứ 3 đã bay lượn trên bầu trời xứ Bavaria ngày 18/7/1942.
Thế nhưng ngày 18/7/1942, phi công Wendel đã ngẫu nhiên giải quyết được
vấn đề cất cánh của Me 262. Khi cho máy bay chạy lấy đà trên đường băng
với tốc độ 180 km/h để cất cánh, ông này đã vô tình phanh gấp và đột
nhiên Me 262 bay lên không trung.
Thủ thuật này là cần thiết vì chiếc Me 262 thử nghiệm vẫn sử dụng bánh
trước ở phần mũi máy bay như các loại máy bay cánh quạt thông thường.
Sau “sự cố” này, hãng Messerschmitt đã cải tiến mẫu máy bay tiêm kích
phản lực Me 262, với bộ bánh xe gấp vào thân ở phần cánh máy bay và bộ
cánh nâng cải tiến.
Tuy chuyến bay đầu tiên của chiếc Me 262 thử nghiệm chỉ kéo dài có 12
phút trong ngày 18/7/1942, nhưng đó chính là một sự đột phá trong quá
trình thiết kế, thử nghiệm loại máy bay chiến đấu phản lực đầu tiên trên
thế giới. Quá trình nghiên cứu chế tạo
Ngay từ năm 1939, hai hãng sản xuất máy bay lớn nhất nước Đức là
Messerschmitt và Heinkel đã bắt đầu nghiên cứu chế tạo các loại máy bay
chiến đấu dùng động cơ phản lực.
Thiết kế Me 262 hai động cơ phản lực.
Messerschmitt tập trung vào việc chế tạo máy bay tiêm kích gắn 2 động
cơ phản lực. Chỉ có điều động cơ phản lực Typ BMW-003 quá yếu, không
thích hợp với máy bay chiến đấu phản lực.
Những ý tưởng về tạo dáng khí động học cho Me 262 xuất hiện vào đầu năm
1941 và mẫu máy bay chiến đấu phản lực thử nghiệm đấu tiên được chế tạo
một cách thủ công. Lúc đầu, chiếc máy bay thử nghiệm này được lắp động
cơ cánh quạt.
Hồi đầu năm 1942, hai động cơ BMW-003 được lắp vào cánh máy bay và
chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của chiếc Me 262 đầu tiên do phi công
Fritz Wendel điều khiển thiếu chút nữa đã trở thành thảm họa. Trong
chuyến bay thử nghiệm ngày 25/3/1942, hai động cơ BMW-003 ngừng hoạt
động khi chiếc Me 262 đạt được độ cao 10m ở cuối đường băng. Nhờ có một
động cơ cánh quạt dự phòng, phi công thử nghiệm Wendel mới điều khiển
được chiếc Me 262 hạ cánh an toàn.
Sau đó, Me 262 phải sử dụng động cơ phản lực Jumo-004 có công suất mạnh
hơn. Hai chiếc Me 262 thử nghiệm đầu tiên được lắp động cơ này và mãi
đến chiếc thứ 3 thì phi công thử nghiệm Fritz Wendel mới thực hiện thành
công chuyến bay đầu tiên trên một chiến đấu cơ phản lực.
Me 262 hoàn toàn áp đảo so với các loại máy bay của đồng minh thời đó là Spitfire và P-51 Mustang.
Tuy động cơ phản lực chưa hoàn thiện, nhưng Me 262 có tính năng hoàn
toàn áp đảo so với các loại máy bay của đồng minh thời đó là Spitfire và
P-51 Mustang. Các phi công dày dạn kinh nghiệm trận mạc cho rằng 1
chiếc Me 262 có thể thay thế 5 máy bay tiêm kích thông dụng hồi cuối
Chiến tranh thế giới thứ II. Hitler tự hủy hoại “vũ khí thần kỳ” của Đức quốc xã
Chính Quốc trưởng Hitler đã ngăn cản việc đưa vào tham chiến chiếc máy
bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới Me 262, khi hoàn toàn tin
tưởng vào hệ thống pháo phòng không thường tỏ ra vô dụng.
Mãi đến cuối năm 1943, khi máy bay đồng minh ném bom Berlin và Hamburg,
chiếc máy bay thử nghiệm Me 262 thứ 5 mới được trình lên Quốc trưởng
Hitler. Thế nhưng, Hitler lại không nhận ra những mặt mạnh của máy bay
tiêm kích phản lực và ra lệnh cải tạo Me 262 thành máy bay ném bom tốc
độ cao.
Đây là những quyết định sai lầm thường gặp ở Hitler. Vấn đề lớn nhất
của không quân Đức hồi cuối năm 1943 là thiếu máy bay đánh chặn những
phi đội máy bay ném bom ngày càng đông đảo của quân đồng minh, liên tiếp
ném bom các thành phố Đức cùng các cơ sở công nghiệp quốc phòng sản
xuất máy bay chiến đấu, xe tăng.
Để đối phó, Hitler ưu tiên việc gia cố công sự, tăng cường hỏa lực pháo
phòng không và tiến hành các cuộc tấn công trả đũa nước Anh bằng V1 và
tên lửa V2
Chính vì vậy mà cuối năm 1943, chiếc Me 262 đã bị biến thành máy bay
ném bom hạng nhẹ, trong khi He 177 bị biến thành máy bom ném bom tầm xa –
một dự án không thành hiện thực trước khi quân Đức phải đầu hàng đồng
minh.
Me 262 đã hoàn toàn áp đảo các loại máy bay tiêm kích của Mỹ và Anh về tốc độ, hỏa lực.
Mãi đến tháng 11/1944, Bộ trưởng Công nghiệp quốc phòng Albert Speer
mới thuyết phục được Hitler sử dụng Me 262 làm máy bay đánh chặn. Chỉ 5
ngày sau đó, Me 262 đã hoàn toàn áp đảo các loại máy bay tiêm kích của
Mỹ và Anh về tốc độ, hỏa lực.
Thế nhưng, Hitler vẫn không tin tưởng loại máy bay chiến đấu phản lực
Me 262 có tốc độ 1.000 km/h từng được thử lửa thành công và ra lệnh tập
trung nghiên cứu chế tạo loại máy bay cánh quạt Ta 152.
Hồi đầu năm 1945, chỉ có mấy chục chiếc Ta 152 được tung vào chiến
trường, trong khi hơn 1.000 chiếc Me 262 đã thực chiến rất hiệu quả.
Chỉ có điều khi đó, không quân Đức bị thua xa đồng minh về số lượng máy
bay. Ưu thế trên không đã giúp các máy bay ném bom phá hủy hơn 700 máy
bay phản lực Me 262, chủ yếu đang đậu trên mặt đất.. Với số lượng máy
bay áp đảo tuyệt đối, không quân đồng minh đã hoàn toàn làm chủ bầu trời
hồi đầu năm 1945.
Giống như tàu ngầm Type XXI, Me 262 được tung ra chiến trường quá muộn,
khi mà các máy bay ném bom của đồng minh đã thả sức ném bom Berlin,
Hamburg và các nhà máy quân sự của Đức quốc xã.
Máy bay Me 262 "chiến lợi phẩm" của quân đồng minh.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, máy bay Messerschmitt Me 262 - một
trong những “vũ khí thần kỳ” của Đức Quốc xã – đã trở thành chiến lợi
phẩm của quân đội Mỹ. Hiện thời một chiếc máy bay tiêm kích phản lực
đánh đêm Me 262 được trang bị radar vẫn còn được trưng bày ở một sân bay
của Hải quân Mỹ tại bang Washington.
Dù không đảo ngược được cục diện chiến tranh, nhưng Me 262 vẫn được
lịch sử công nhận là loại máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế
giới – khởi đầu cho những thế hệ máy bay chiến đấu phản lực sau này. Một số "vũ khí thần kỳ" của Đức Quốc xã rơi vào tay đồng minh:
Máy bay Me 262 tại một căn cứ Hải quân Mỹ ở bang Washington.
"Bom bay" V1 từng khiến nước Anh kinh sợ.
Tên lửa V2 - Cha đẻ của các loại tên lửa vũ trụ của NASA
Tàu ngầm Typ XXI vượt trội hơn tất cả các loại tàu ngầm của đồng minh vào cuối Chiến tranh thế giới thứ II.
Xe tăng hạng nặng E-100 chưa đưa vào sản xuất hàng loạt
Máy bay ném bom tầm xa Horten Ho 229 đang ở trong giai đoạn thiết kế chế tạo.
theo Theo ĐVO
75 năm tiến hóa của các thế hệ tiêm kích
Từ cuối Thế chiến II, chiến đấu cơ đã trải qua 5 thế hệ phát triển, mỗi thế hệ có những nét đặc trưng về công nghệ.
Mỹ, Nga và Trung Quốc đang tham gia cuộc đua chế tạo tiêm kích thế hệ
5 có tính năng đáng gờm nhất thế giới. Cuộc đua thế hệ tiêm kích
này bắt đầu từ giai đoạn cuối Thế chiến II, khi mẫu chiến đấu cơ phản
lực đầu tiên trên thế giới ra đời, nhanh chóng thay thế tất cả các dòng
máy bay cánh quạt trước đó, theo Aviationist.
Tiêm kích thế hệ một (1942-1950)
Tiêm kích thế hệ một gồm những mẫu máy bay chiến đấu đầu tiên được
trang bị động cơ phản lực, có khả năng bay ở tốc độ cận âm (dưới 1.230
km/h).
Nét nổi bật của tiêm kích thế hệ một chính là động cơ phản lực giúp
nó chiếm ưu thế tốc độ vượt trội so với mọi loại máy bay dùng động cơ
piston cánh quạt khi đó. Tuy nhiên, do giới hạn công nghệ ở thời kỳ phát
triển đầu tiên, chúng chỉ có thể đạt tốc độ tối đa ở ngưỡng cận âm,
chưa thể vượt qua bức tường âm thanh.
Tiêm kích Me-262 của Đức. Ảnh: Wikipedia.
Tiêm
kích phản lực đầu tiên trên thế giới là mẫu Messerschmitt Me-262 do Đức
Quốc xã chế tạo, bay thử lần đầu vào ngày 18/7/1942. Đây được coi là
thời điểm mở đầu cho kỷ nguyên của tiêm kích phản lực. Có khoảng 1.430
chiếc Me-262 được các kỹ sư phát xít Đức sản xuất, nhưng chúng không
thay đổi được kết cục Thế chiến II.
Tiêm kích thế hệ một cũng ứng dụng nhiều phát minh mới, điển hình là
ghế phóng thoát hiểm, phanh gió, chế độ đốt tăng lực, radar bám bắt
chuyên dụng, một số phiên bản sơ khai của tên lửa đối không sử dụng đầu
dò hồng ngoại và dẫn đường bằng radar.
Dù Me-262 mở đầu cho kỷ nguyên phản lực, chính những chiếc MiG-15
Liên Xô và F-86 Sabre Mỹ mới khẳng định vị thế của tiêm kích phản lực so
với các máy bay cánh quạt.
Những trận không chiến ác liệt trên bầu trời Triều Tiên giai đoạn
1950-1953 đã đặt dấu chấm hết cho máy bay cánh quạt, khi MiG-15 và F-86
đối đầu với nhau trong cuộc không chiến phản lực đầu tiên trên thế giới.
Một trong những thiết kế nổi bật nhất của Liên Xô.
Ở giai đoạn đầu của kỷ nguyên phản lực, các loại tiêm
kích này không thể tránh khỏi những nhược điểm nghiêm trọng, như động cơ
kém ổn định và vòng đời hoạt động ngắn, khả năng điều chỉnh công suất
chậm, gia tốc kém, không vượt trội quá nhiều so với máy bay cánh quạt.
Tuy nhiên, chúng chính là tiền đề cho những tiêm kích hiện đại thế hệ
hai sau này.
Chuyên gia quân sự David Cenciotti
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ từ thập niên 1950 cùng những
kinh nghiệm thực chiến rút ra từ Chiến tranh Triều Tiên giúp các kỹ
sư khắc phục các nhược điểm của tiêm kích thế hệ một, cho ra đời
các loại tiêm kích thế hệ hai có khả năng cơ động vượt trội, năng lực
chiến đấu độc lập và vũ khí được tăng tầm.
Tiêm kích thế hệ hai nổi trội ở khả năng phá vỡ bức tường âm thanh
(tốc độ trên 1.240 km/h), bắt đầu được trang bị radar đối không, sử dụng
tên lửa đối không làm vũ khí chính.
Công nghệ điện tử tiên tiến tạo ra radar có kích thước đủ nhỏ để tích
hợp lên tiêm kích, cho phép phi công xác định mục tiêu từ xa, giảm sự
phụ thuộc vào hệ thống radar và dẫn đường mặt đất.
Tên lửa AIM-9B của Mỹ. Ảnh: Wikipedia.
Đối
với tiêm kích thế hệ hai, pháo hàng không bị cho là lỗi thời và bị thay
thế bởi vũ khí chủ đạo là tên lửa không đối không. Tên lửa dùng đầu dò
hồng ngoại (IR) trở nên phổ biến, nhưng vẫn còn thô sơ và kém hiệu quả.
Hai dòng tên lửa nổi bật nhất là AIM-9 Sidewinder của Mỹ và K-13 (AA-2
Atoll) do Liên Xô chế tạo.
Tên lửa dẫn đường bằng radar cũng xuất hiện nhưng chưa ổn định. Công
nghệ tên lửa hứa hẹn mở ra hướng phát triển mới, tập trung vào chiến đấu
ngoài tầm nhìn thị giác (BVR) và được đầu tư nhiều nguồn lực.
Viễn cảnh về Thế chiến III với sự tham gia của lực lượng cơ giới và
vũ khí hạt nhân dẫn tới hai hướng đi khác nhau cho tiêm kích thế hệ hai.
Đầu tiên là dòng tiêm kích thuần đánh chặn như Electric Lightning của
Anh hay MiG-21F của Liên Xô. Chúng có nhiệm vụ phản ứng nhanh, có thể
cất cánh trong thời gian ngắn để đánh chặn những phi đội oanh tạc cơ
mang vũ khí hạt nhân của đối phương. Cả hai đều trang bị vũ khí chính là
tên lửa, giúp tiêu diệt nhiều mục tiêu hơn pháo hàng không.
Tiêm kích MiG-21 bay biểu diễn.
Hướng đi thứ hai là tiêm kích bom, điển hình là mẫu F-105
Thunderchief Mỹ và Su-7B Liên Xô. Loại máy bay này có khả năng bay thấp
với tốc độ cao, nhằm thực hiện các đòn không kích mạnh vào lực lượng mặt
đất của đối phương. Chúng cũng có thể đối đầu với tiêm kích mà không
cần lực lượng hộ tống hùng hậu.
Tiêm kích thế hệ ba (1960-1975)
Tiêm kích thế hệ ba tiếp tục hoàn thiện những sáng kiến từ thế hệ
trước đó, nhưng chủ yếu tập trung vào việc tăng khả năng cơ động và tấn
công mặt đất. Trong suốt thập niên 1960, kinh nghiệm từ các cuộc không
chiến cho thấy tiêm kích thế hệ hai cũ kỹ như MiG-17 vẫn có thể đấu
ngang ngửa với tiêm kích thế hệ ba như F-4 Phantom II, bất chấp việc
MiG-17 thua kém hoàn toàn về hỏa lực và tính năng.
Những trận đánh ngoài tầm nhìn thị giác rất hiếm khi xảy ra, hầu hết
đều kéo hai bên vào những cuộc không chiến tầm gần quyết liệt, nơi khả
năng cơ động của máy bay và trình độ phi công sẽ chiến thắng. Điều này
buộc các chiến lược gia phải tính toán lại biện pháp tác chiến, trong đó
bổ sung pháo hàng không lên các tiêm kích vốn chỉ được trang bị tên
lửa, đồng thời tăng cường huấn luyện về khả năng cơ động trong không
chiến tầm gần.
Một trong những giải pháp được ứng dụng để tăng khả năng cơ động,
trong khi vẫn bảo đảm tốc độ cao và tiết kiệm nhiên liệu chính là thiết
kế cánh cụp cánh xòe. Điển hình cho xu hướng này là tiêm kích MiG-23 và
tiêm kích bom Su-17 của Liên Xô. Đôi cánh sẽ mở rộng hết cỡ để tăng lực
nâng khi cất cánh và giảm tốc độ hạ cánh. Trong không chiến, cánh sẽ cụp
hoặc xòe vừa phải để bảo đảm khả năng điều khiển, hoặc giảm tối đa lực
cản để đột kích và thoát ly.
Tính năng của thiết kế cánh cụp cánh xòe.
Hệ thống điện tử tương tự (analog) bắt đầu xuất hiện và thay thế dần
cho đồng hồ cơ học trên các tiêm kích thế hệ cũ. Điều này trực tiếp ảnh
hưởng tới khả năng chiến đấu và điều khiển vũ khí, cho phép tiêm kích
bay bám địa hình một cách an toàn, cũng như sử dụng được nhiều vũ khí
đối đất có độ chính xác cao như bom laser.
Tiêm kích thế hệ bốn (1980-nay)
Hệ thống điện tử, vũ khí và khả năng cơ động tiếp tục được cải thiện
trong thế hệ này, cùng với sự xuất hiện của những tiêm kích đa năng, có
thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Những cải tiến về mặt thiết kế và động cơ cho phép máy bay cơ động
tốt hơn nhiều so với các thế hệ trước. Nhưng điều này khiến tiêm kích
khó điều khiển hơn, buộc các nhà thiết kế phải dựa vào hệ thống điều
khiển điện tử (fly-by-wire), với những máy tính và phần mềm tiên tiến,
để hỗ trợ phi công. Các hệ thống analog cũng dần được thay thế bằng máy
tính kỹ thuật số vào cuối thập niên 1980.
Tiêm kích F-15 và F-16 của Mỹ. Ảnh: Flickr.
Giai
đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của tiêm kích Liên Xô và
phương Tây. Trong khi Mỹ sở hữu bộ đôi chủ lực F-15 Eagle và F-16
Fighting Falcon, Liên Xô lại tung ra quân bài Su-27 và MiG-29. Các nước
châu Âu cũng không hề kém cạnh với sự xuất hiện của dòng Rafale,
Tornado, Mirage 2000 và Jas 39 Gripen.
Sau khi Liên Xô tan rã, Trung Quốc cũng nổi lên với việc sao chép
tiêm kích Su-27 của Nga để tạo ra mẫu J-11, cũng như dòng tiêm kích hạng
nhẹ J-10 dựa trên thiết kế Lavi của Israel.
Tiến bộ công nghệ cho phép các nước chế tạo những tên lửa đối không
có tầm bắn trên 100 km với độ chính xác cao, đủ sức bắn hạ nhiều loại
mục tiêu khác nhau. Đi đầu là Mỹ với mẫu AIM-120 AMRAAM, AIM-54 Phoenix,
cùng Liên Xô với tên lửa R-27 và R-33.
Những cuộc không chiến tầm gần cũng nguy hiểm hơn rất nhiều. Các loại
tên lửa tầm gần có độ lệch trục cao có khả năng bắn trúng mục tiêu nằm
lệch 45-60 độ so với hướng bay của tiêm kích. Liên Xô đi đầu với công
nghệ kính ngắm trên mũ (HMS), cho phép phi công khóa mục tiêu theo hướng
nhìn phi công, ngay cả khi mũi máy bay đang chĩa về hướng khác.
Tiêm kích Su-35S đầu tiên của Nga. Ảnh: Flickr.
Sự
phát triển nhanh chóng về tính năng tiêm kích trong thập niên 1990
khiến nhiều nước đưa ra khái niệm tiêm kích thế hệ 4,5 hoặc 4+ và 4++.
Chúng phản ánh sự đột phá về hệ thống điện tử, vũ khí cũng như khả năng
cơ động cao hơn nhờ động cơ lực đẩy vectơ (TVC).
Một số mẫu tiêm kích như Su-35S còn được ứng dụng công nghệ điện tử
và tàng hình từ dự án tiêm kích tàng hình thế hệ năm, giúp chúng có ưu
thế vượt trội so với các đối thủ thế hệ bốn.
Khả năng cơ động không tưởng của Su-35S.
Mỹ định nghĩa tiêm kích thế hệ 4,5 là những máy bay chiến đấu phản
lực thế hệ bốn được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động
(AESA), kết nối dữ liệu băng thông lớn, hệ thống điện tử cải tiến, có
khả năng triển khai nhiều vũ khí hiện tại và tương lai gần. Điển hình
cho tiêm kích thế hệ 4,5 là mẫu F-15E Strike Eagle, F-16E/F và F/A-18E/F
Super Hornet.
Tiêm kích thế hệ năm (2005-nay)
Tiêm kích thế hệ năm là những máy bay chiến đấu hiện đại nhất thế
giới hiện nay. Những nét đặc trưng của thế hệ tiêm kích này chưa được
định nghĩa một cách chính xác, nhưng chúng đều có điểm chung là có thể
tàng hình trước radar, giấu vũ khí trong thân, khả năng cơ động cao,
được kết nối với mạng tác chiến chỉ huy và chia sẻ dữ liệu với nhiều khí
tài trên chiến trường.
Hiện chỉ có tiêm kích F-22 của Mỹ là mẫu tiêm kích thế hệ năm duy
nhất đang trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, kể từ khi được biên chế
vào năm 2005. Tiêm kích F-35 được Mỹ đưa vào biên chế trong giai đoạn
2015-2016, nhưng vẫn đang trong quá trình thử nghiệm và khắc phục các
lỗi kỹ thuật.
Trung Quốc cũng bắt đầu vận hành tiêm kích tàng hình J-20 từ tháng ba
năm nay. Trong khi đó, dự án PAK-FA của Nga mới chỉ ở giai đoạn thử
nghiệm nhà nước, dự kiến đi vào biên chế từ năm 2018. Một số nước khác
như Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ cũng ấp ủ tham vọng tự chế tạo tiêm kích
thế hệ năm, nhưng tất cả chỉ dừng ở giai đoạn chế tạo và thử nghiệm
đánh giá tính khả thi.
Tiêm kích F-22 và F-35 bay biểu diễn.
Tiêm kích thế hệ sáu (thập niên 2030 hoặc muộn hơn)
Tiêm kích thế hệ sáu là khái niệm được đưa ra nhằm mô tả các máy bay
chiến đấu vượt trội hơn tiêm kích thế hệ năm hiện nay. Quân đội Mỹ dự
kiến bay thử tiêm kích thế hệ sáu đầu tiên trong thập niên 2030, các
nước như Anh, Đức và Nhật cũng đang nghiên cứu phương án này.
Tính năng của tiêm kích thế hệ sáu vẫn chưa được định hình chính xác,
nhưng chúng được cho là có tầm hoạt động và tải trọng vũ khí lớn hơn
nhiều so với thế hệ năm. Trí thông minh nhân tạo (AI) có thể sẽ đóng vai
trò quan trọng, bao gồm thu thập và phân tích dữ liệu để giảm tải cho
phi công. Khả năng điều khiển từ xa cũng là một lựa chọn, cho phép máy
bay thực hiện nhiệm vụ mà không cần người lái, hạn chế yếu tố cản trở
như sức khỏe và khả năng chịu đựng của con người.
Ở các tiêm kích hai chỗ ngồi thế hệ bốn và 4,5, phi công ngồi sau
thường có trách nhiệm điều khiển hệ thống cảm biến và tác chiến điện tử.
Với tiêm kích thế hệ sáu, họ có thể nhường công việc này cho AI để tập
trung vào việc kiểm soát các bầy máy bay không người lái cỡ nhỏ thực
hiện các nhiệm vụ đa dạng trên chiến trường.
Các tiêm kích nổi bật của từng thế hệ
Tử Quỳnh
Những mẫu máy bay chiến đấu nguy hiểm nhất hành tinh
Trong cuộc đua làm chủ bầu
trời, các máy bay chiến đấu ngày càng được cải tiến. Dưới đây là 10
chiến cơ nguy hiểm nhất hành tinh.
F-22 (Mỹ):
Lockheed Martin F-22 Raptor (Chim ăn thịt) là máy bay tiêm kích thế hệ
5, 2 động cơ, một chỗ ngồi, sử dụng kỹ thuật "tàng hình". Ban đầu, F-22
được thiết kế cho nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, về sau được nâng cấp
để tấn công mặt đất. Vì chi phí sản xuất quá cao (khoảng 350 triệu USD/chiếc) nên hiện chỉ có 187 chiếc F-22 được chế tạo cho Không lực Mỹ.
Tiêm kích tiến công kết hợp (JSF) F-35 (Mỹ):
Được thiết kế và lắp ráp bởi Lockheed Martin. Chương trình JSF dự định
thay thế cho F-15 và F-16, trở thành trụ cột sức mạnh của quân đội Mỹ
trong tương lai. Đây là chương trình phát triển chiến đấu cơ lớn nhất
lịch sử hàng không.
Chương trình JSF vấp phải nhiều
chỉ trích vì chậm tiến độ, lỗi kỹ thuật và phát sinh chi phí. JSF được
phát triển với 3 phiên bản, gồm F-35A dùng cho không quân, F-35C dành
cho hải quân và F-35B của thủy quân lục chiến.
Mig-31 (Nga):
Đây là mẫu máy bay đánh chặn hạng nặng tầm xa được chế tạo dưới thời
Liên Xô. MiG-31 là chiến đấu cơ nhanh nhất thế giới đang hoạt động. Nó
có thể đạt tốc độ tối đa tới Mach 3.2 (khoảng 3.900 km/h). Gần đây,
MiG-31 đã được nâng cấp để trang bị tên lửa siêu thanh Kinzhal.
Su-35 (Nga):
Đây là tiêm kích thế hệ 4++ hiện đại nhất của Không quân Nga. Su-35 được
trang bị radar với tầm trinh sát tới 400 km. Nó còn được trang bị động
cơ kiểm soát vector lực đẩy đem lại khả năng cơ động siêu việt trong
không chiến cự ly gần.
F/A-18 Hornet (Mỹ):
Đây là máy bay phản lực đa nhiệm siêu thanh 2 động cơ, có khả năng hoạt
động trên tàu sân bay trong mọi điều kiện thời tiết, thực hiện chiến
đấu trên không và tấn công mặt đất. Hornet hiện là xương của Hải quân
Mỹ. F/A-18 có bán kính chiến đấu hơn 900 km với tốc độ Mach 1.8 (620
m/s).
Tuy có tầm hoạt động cũng như
vận tốc thấp hơn so với đối thủ Su-33, nhưng F/A-18 lại có thể mang tới 8
tấn vũ khí trên 11 giá treo, trong khi máy bay của Nga chỉ có thể mang
được 6 tấn vũ khí trên 12 giá treo.
F-15 (Mỹ):
Trong gần 30 năm, máy bay chiến đấu F-15 Eagle được xem là vũ khí làm
chủ bầu trời của Không lực Hoa Kỳ. Trước khi "người kế nhiệm" F-22 xuất
hiện, F-15 luôn là lựa chọn hàng đầu cho các nhiệm vụ chiếm ưu thế trên
không của Không quân Mỹ.
F-15 có thể đạt trần bay
19.800 m trong vòng 122 giây. Khi bay ngang, F-15 cho tốc độ Mach 2.5
(850 m/s). Đây cũng là mẫu chiến cơ đầu tiên vượt qua tốc độ âm thanh
khi bay thẳng đứng. F-15 chính là máy bay mở màn cho chuỗi 104 chiến
thắng không đối không liên tiếp của Mỹ trước các vũ khí do Nga sản xuất
như MiG-21, MiG-25 và MiG-29.
J-20 (Trung Quốc):
J-20 là máy bay tiêm kích tàng hình thế hệ 5 do tổ hợp công nghiệp quốc
phòng Thành Đô sản xuất theo đơn đặt hàng của Không quân Quân Giải
phóng Nhân dân Trung Hoa. Được các nhà hoạch định quân sự nước này kỳ
vọng trở thành vũ khí tiên phong rút ngắn lại khoảng cách công nghệ hàng
không quân sự Trung Quốc với phương tiện chiến đấu thuộc biên chế không
lực Mỹ.
J-20 được thiết kế đặc biệt
dành cho các nhiệm vụ đánh vào khả năng triển khai sức mạnh của không
quân Mỹ ở tây Thái Bình Dương cũng như thực hiện hỗ trợ tiếp nhiên liệu,
chỉ huy trên không, tình báo giám sát, thậm chí là mang theo tên lửa
hành trình tầm xa để tấn công tàu sân bay Mỹ.
Dassault Rafale (Pháp):
Là cái tên duy nhất của Pháp góp mặt trong danh sách này, Dassault
Rafale có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ của một chiến đấu cơ. Chuyển
đổi linh hoạt từ yêu cầu này sang trang thái khác trong từng phi vụ,
một Rafale có thể thay thế được hoạt động của 7 loại máy bay.
Rafale được chế tạo để hoạt
động trên mọi căn cứ mặt đất và cả tàu sân bay của Hải quân Pháp. Với
kiểu cánh tam giác truyền thống của hãng Dassault, Rafale có khả năng cơ
động cực kì tốt trên không. Đây cũng chính là loại máy bay không kích
các mục tiêu ở Syria hôm 14/4 vừa qua.
Eurofighter Typhoon (Châu Âu):
Tương tự Airbus, Eurofighter Typhoon đánh dấu sự hợp tác mạnh mẽ của
các quốc gia Châu Âu trong lĩnh vực hàng không. Đây là máy bay chiến đấu
duy nhất được sản xuất trên 4 dây chuyền khác nhau bởi các quốc gia Anh, Pháp, Ý, Đức
và Tây Ban Nha. Thiết kế Eurofighter Typhoon là đặc trưng của dòng máy
bay tiêm kích đa năng cánh tam giác, thực hiện một loạt nhiệm vụ khác
nhau từ tuần tra, đánh chặn, bảo vệ không phận, chiếm ưu thế trên không
đến tấn công mục tiêu mặt đất.
Với trần bay 19.000 m, tầm hoạt
động 1.390 km và vận tốc leo cao 315 m/s, Eurofighter Typhoon được kỳ
vọng sẽ trở thành đối thủ ngang tầm với các dòng chiến đấu cơ hiện đại
của Nga, thậm chí cả Mỹ.
Su-27 (Nga):
Được đưa vào biên chế không quân Liên bang Xô viết từ năm 1985, Sukhoi
Su-27 đến nay vẫn là một trong những chiến đấu cơ thành công nhất lịch
sử. Dù có tuổi đời khá cao, song khả năng chiến đấu của Su-27 vẫn vô
cùng đáng sợ. Nó có thể đạt vận tốc Mach 2.35 (800 m/s) và mang theo 8
tên lửa không đối không cùng một khối lượng bom khổng lồ.
Đặc biệt, Su-27 nổi tiếng với
khả năng cơ động trong phạm vi hẹp, thực hiện các kỹ thuật bay nhào lộn
khó như động tác “hổ mang Pugachev”, hay thậm chí là tắt động cơ đột
ngột khi đang bổ nhào. Không quân Việt Nam hiện sở hữu 12 chiếc Su-27,
cùng với 36 chiếc Su-30MK2 là phiên bản nâng cấp của Su-27.
J-10 (Trung Quốc): J-10 là máy bay tiêm kích siêu gọn nhẹ, một trong những vũ khí trên không thành công nhất của Trung Quốc.
Ưu điểm của J10 là tính cơ động
cao và giá rất rẻ. Được thiết kế vừa là máy bay tiêm kích vừa là máy
bay ném bom hạng nhẹ, J-10 sử dụng cho các phi vụ ở mọi điều kiện thời
tiết, dù đêm hay ngày.
Su-57 (Nga): Sukhoi PAK FA T-50
hay còn gọi là Su-57 là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 của không quân
Nga. Nó hứa hẹn giúp nước Nga giữ vững, kiểm soát bầu trời trong nửa thế
kỷ tới.
Vào tháng trước, Nga đã đưa Su-57 đến Syria để thử nghiệm.
Su-57 được chế tạo với nhiều
thành phần sử dụng vật liệu compostie tăng cường sự vững chắc kết cấu
thân nhưng đảm bảo nhẹ, cơ động, tăng khả năng tàng hình và mang nhiều
vũ khí hiện đại.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét