ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN 33
(ĐC sưu tầm trên NET)
HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM 4.000 HÀI CỐT LIỆT SĨ Ở
“ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN” PHÚ QUỐC
Hoàng Anh Sướng
KỲ 1: NƯỚC MẮT RƠI CHỐN ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Chúng tôi xuống sân bay Phú Quốc vào một ngày hè đầy giông gió.
Mưa sầm sập. Mưa như trút nước. Mưa
trắng xoá tứ bề. Người cựu chiến binh đồng hành cùng tôi trên chuyến bay
hốt nhiên thảng thốt: “Mưa như khóc, như than cho cái chết thảm thương
của hơn 4.000 chiến sĩ cách mạng đã từng bị tù đày, đánh đập, tra tấn,
giết hại dã mạn ở vùng đất đau thương mà anh hùng này hay sao ấy, cháu
ạ?!”.
Nhà ngoại cảm Vũ Thị Minh Nghĩa đón tôi ở
cửa sân bay. Nụ cười chưa kịp tắt, nước mắt chị đã lưng tròng. Chị sụt
sùi bảo: “Thương xót lắm em ơi! Cả đời chị đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ
khắp rừng xanh núi thẳm, khắp các địa danh khốc liệt của cuộc chiến
nhưng chưa thấy bao giờ và ở đâu, hài cốt các anh lại nhiều như ở đây.
Tầng tầng, lớp lớp. Hầu hết không còn nguyên vẹn. Ở hầm mộ thứ nhất, sau
khi đào bới được 130 bộ hài cốt, chị và anh em trong đội quy tập K92
nhặt nhạnh từ trong các đống xương tàn được cả thúng đinh mười, chiếc
nào cũng to, dài như ngón tay út . Đếm đi đếm lại, tròn trịa… 300 cái.
Có bộ xương bị đóng tới 16 cái đinh. Có bộ được chằng trói bằng dây
thừng, dây nhựa dẻo rất tàn độc. Ai trông thấy cũng lạnh sống lưng. Buốt
lòng lắm”. Nói đoạn, chị khóc nấc lên. Đôi vai gầy guộc rung lên từng
chặp. Mắt tôi bỗng cay xè. Lòng nghẹn đắng. Không kịp về khách sạn cất
hành lý, tôi theo chân chị Năm Nghĩa đến thẳng tượng đài Nắm Đấm, nơi
đang tạm quàn hài cốt của hơn 100 tù nhân năm xưa.
Hài cổt được xếp trong những chiếc hòm
gỗ to, trên phủ lá cờ đỏ sao vàng. Hòm được kê trên những chiếc ghế vững
trãi, dưới chân là 3 con chó tinh khôn nằm canh giữ. Chị Năm Nghĩa nhẹ
nhàng mở một nắp hòm, nhấc từng gói xương được bó buộc cẩn thận trong
lớp vải như bó giò ra, giọng chị nghèn nghẹn: “Ngần này đồng chí hy
sinh, chỉ duy nhất một người có tên tuổi, địa chỉ, còn tất cả, ai cũng
là ai, ai cũng là người cộng sản chân chính đã sống đến giọt sống cuối
cùng cho quê hương đất nước. Chỉ tiếc rằng, họ đã không được trông thấy
ngày Bắc Nam sum họp. Họ đã mất hoặc nửa thế kỷ (nếu là liệt sỹ chống
Pháp), hoặc hơn ba chục năm ròng nằm dưới lòng đất sâu (nếu là liệt sỹ
thời chống Mỹ), họ mới được chúng tôi mang lên. Người bị đóng 16 cái
đinh trên cơ thể, có người, khúc xương xống vẫn sừng sững một cây đinh
cắm phập. Nhưng họ vẫn may mắn hơn hàng nghìn người còn nằm vùi đâu đó
dưới lòng đất, dưới những tán rừng, dưới những con suối lạnh. Quá nhiều
nhân chứng (kể cả báo cáo của Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Kiên
Giang mới đây) đều chính thức nói về việc máy bay của bọn cai ngục đã
chở những người đau ốm đi chữa bệnh rồi không bao giờ đưa họ trở về nữa.
Những người tù xấu số đã bị ném xuống Vịnh Thái Lan làm mồi cho cá dữ
và đáy biển sâu. Cái việc họ trở về là không thể. Do thế, nên cái việc
kiếm tìm cho đầy đủ cơ số hàng nghìn người đã chết vì địa ngục trần gian
nhà tù Phú Quốc là một nhiệm vụ thiêng, cao quý nhưng… bất khả hoàn
thành trọn vẹn”.
Buổi trưa hôm đó, ngồi ngay tại nhà quản
trang bé tẹo của nghĩa trang Nắm Đấm nghi ngút khói hương, tôi lần giở
lại những trang tư liệu về nhà tù Phú Quốc để cố hình dung ra chốn “địa
ngục trần gian” kinh hoàng ấy ở tại chính cái nơi mà ngót 40 năm trước,
nó đã kết thúc sứ mệnh lịch sử đen tối của mình với những chuồng cọp kẽm
gai, lộn vỉ sắt, gậy sầu đời, chảo luộc người… khủng khiếp.
Sau thất bại của cuộc chiến tranh Đặc
biệt, người Mỹ đổ quân vào Miền Nam Việt Nam, tiến hành cuộc chiến tranh
cục bộ trên quy mô lớn. Chiến cuộc trên khắp các chiến trường ngày càng
trở nên ác liệt. Số người chết, bị thương và bị bắt của cả hai bên ngày
càng đông. Trước tình hình đó, Mỹ chủ trương xây dựng ở mỗi vùng chiến
thuật một trại giam tù binh cộng sản. Ngoài ra, chúng còn lập thêm một
trại giam để giam tù binh nữ ở Quy Nhơn thuộc vùng hai chiến thuật và
xây dựng một trại giam tù binh do trung ương quản lý ở Phú Quốc. Kể từ
đó, những người bị địch bắt mà chúng cho là thuộc các lực lượng vũ trang
của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, chúng sẽ giam giữ ở
những trại này, không giam chung với tù chính trị nữa.
Sở dĩ Mỹ chọn Phú Quốc để lập trại giam
tù binh với số lượng lớn nhất (khoảng 40.000 người) là bởi Phú Quốc nằm
giữa biển, cách biệt ngàn trùng với đất liền nên dễ đàn áp, dễ bưng bít
dư luận, tránh được những cuộc tấn công để giải thoát tù binh và hạn chế
được những cuộc vượt ngục. Khoảng cuối năm 1966, Mỹ nguỵ tiến hành xây
dựng “Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam – Phú Quốc” tại thung lũng An
Thới, trên diện tích rộng chừng 400 ha. Chiều dài chừng 5 km chạy suốt
từ miếu Cô Sáu đến Cầu Sấu. Chiều rộng khoảng chừng 1,5 km. Để biến khu
đất 400 ha này thành đồng không đồi trọc, lính Mỹ đã rải xuống một khối
lượng chất độc hoá học khổng lồ, tạo thành một vành đai trắng rộng hàng
cây số. Xung quanh được bủa vây bởi biển, rạch và rừng, tịnh không có
một mái nhà dân, một bóng người sinh sống.
Toàn trại giam Phú Quốc có 12 khu. Mỗi
khu chia làm 4 phân khu: A, B, C, D. Mỗi phân khu có từ 9 đến 18 nhà
giam. Mỗi nhà giam nhốt chừng 120 người. Cao điểm, nhiều khi chúng nhồi
nhét đến 150 người. Thử làm một phép nhẩm tính: Một phân khu có trung
bình 12 nhà. Vậy 4 phân khu sẽ là 48 nhà. Gấp 10 lần con số 48 đó sẽ là
480 nhà lao cỡ nhỏ hay 48 nhà lao cỡ trung hợp thành. Quá khủng khiếp!
Cho nên không phải ngẫu nhiên, nhà tù Phú Quốc được xem là nhà tù lớn
nhất Đông Nam Á thời đó.
Toàn bộ các phòng giam này là loại nhà
tiền chế, lấy khung thép lắp sẵn làm sườn rồi đắp điếm bởi các miếng
tôn. Vách dựng bằng tôn, mái lợp tôn, đến cửa ra vào cũng làm bằng tôn
nốt. Cả nhà tù khổng lồ ấy không hề có lấy một viên gạch, một mảng tường
bê tông nào. Trưa hè nắng cháy, nhìn vào nhà lao thấy rừng rực đến nhức
mắt, tưởng chừng toàn bộ những dãy nhà tôn điệp trùng kia đang bị dìm
trong chảo lửa.
Phân khu nào cũng có hàng rào kẽm gai
bủa vây. Rồi từng khu bên trong lại tiếp tục bị bủa vây bởi những hàng
rào dây thép. Chỗ dày có thể lên đến 10 – 15 lớp. Chỗ mỏng cũng phải 7-8
lớp. Nhìn từ trên cao xuống, sẽ thấy các mái nhà tôn trắng toát nằm san
sát và những hàng rào kẽm gai tràn ra, tầng tầng lớp lớp như những con
sóng biển.
Về lực lượng bảo vệ, ngoài Bộ chỉ huy
quân cảnh do một trung tá hay đại tá cầm đầu, còn có bốn tiểu đoàn quân
cảnh, có lúc lên năm. Mỗi khu có một tiểu đoàn. Mỗi phân khu có một đại
đội quân cảnh canh giữ. Ngoài lực lượng này, nhà lao còn có một trung
đội quân khuyển toàn chó béc-giê giống Anh to lừng lững, giữ tợn như sư
tử, một trung đội bảo vệ sân bay, một trung đội quân tiếp vụ cộng một
tiểu đoàn tiếp vận 3, trực thuộc trung ương, có nhiệm vụ tiếp vũ khí cho
cả nhà lao, phi trường, lực lượng hải quân và quân y viện. Riêng lực
lượng hải quân là một sư đoàn giăng kín ngoài biển.
Với lực lượng bảo vệ dày đặc như vậy,
nên gần như hình thành một tỷ lệ: cứ hai tù nhân là có một lính trông
coi. Đó là chưa kể đến đội ngũ các giám thị hùng hậu vừa tinh quái, nham
hiểm, vừa tàn độc. Bọn chúng là lực lượng riêng, có nghiệp vụ, được xét
tuyển kỹ càng, hầu hết là hạ sĩ quan. Số này lầm lỳ, bạo tợn và rất dữ
đòn. Chính chúng đã sản sinh ra những trò tra tấn vô cùng dã man và tàn
độc hơn cả thời trung cổ, khiến nhà tù Phú Quốc trở thành “địa ngục
khiếp đảm chốn trần gian” và gây ra cái chết thảm khốc của hơn 4.000 tù
nhân, cái chết kinh hoàng nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng.
KỲ 2: NHỮNG CHUYỆN RÙNG RỢN Ở “ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN”
Có lẽ, chưa bao giờ và ở đâu, dưới gầm
trời này, những đòn đánh đập, tra tấn, hành hạ tù nhân lại độc ác, rùng
rợn, kinh hoàng như những ngón đòn mà bọn cai ngục Phú Quốc đã trút lên
mình các tù nhân cộng sản. Trong hồ sơ của Trại giam Phú Quốc, hiện còn
lưu trữ 24 ngón đòn tàn khốc mà tương truyền, các viên cai ngục đã đúc
kết, lưu truyền và thực hành trong suốt mấy chục năm. Những ngón đòn mà
chỉ điểm tên thôi, nhiều người đã rùng mình, lắc đầu lè lưỡi khiếp đảm:
dùng chày vồ đập nát vụn mắt cá chân, dùng dùi đục đục từng miếng xương
bánh chè, dùng ván gỗ chắc nịch và đinh vít ép vỡ lồng ngực, tẩm dầu đốt
cháy dương vật. Rồi bẻ răng, luộc người trong chảo nước sôi hay nướng
người trên lửa than rực hồng…. Tôi đã lạnh sống lưng khi đọc những trang
tù rùng rợn ấy. Vậy mà cho đến khi gặp gỡ, tiếp xúc với hàng chục cựu
tù nhân tàn phế, một thời bị đoạ đày nơi địa ngục trần gian, ngồi nghe
họ kể lại một cách tận tường và chậm rãi về những cực hình mà bọn cai
ngục trút lên thân xác họ, tôi vẫn không thể kìm được những dòng nước
mắt và cả những tiếng kêu kinh hoàng trước nhiều ngón đòn tàn độc khác
nữa mà sử sách ngục tù chưa từng nhắc đến…
TỪ NHỮNG NGÓN ĐÒN ĐẦU TIÊN PHẢI NẾM Ở CỬA “ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN”
Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi đã
từng nhiều lần ra nhà tù Côn Đảo, ngược nhà ngục Sơn La, Bắc Mê, Nghĩa
Lộ. Tôi cũng đã từng đọc nhiều trang sách viết về chốn lao tù, gặp gỡ,
trò chuyện với nhiều bậc lão thành cách mạng vốn là tù nhân của các nhà
ngục trên. Tôi rút ra một điều: Thời chống Pháp, khi bắt được các chiến
sĩ cách mạng, địch thường đánh đập, tra khảo để khai thác tổ chức hoạt
động của ta rồi tống vào nhà giam. Chúng không có những hoạt động khủng
bố chính trị tàn bạo mặc dầu chế độ cai trị tù nhân vô cùng hà khắc.
Nhưng đến thời Mỹ nguỵ, địch đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc
đánh phá cách mạng nên ở tất cả các nhà tù chính trị và trại giam tù
binh, ngoài việc kìm kẹp thật chặt tù nhân không cho vượt ngục, chúng
còn dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc nhằm huỷ diệt tinh thần
và thể xác các chiến sĩ cách mạng kiên trung. Chúng dụ dỗ, đe doạ,
khủng bố, đánh đập bằng những nhục hình tàn khốc hơn thời trung cổ, thậm
chí nã súng cối, đại bác vào trại giam, gây nên những thảm kịch đẫm
máu. Trong đó, tàn khốc nhất, phải kể đến Trại giam tù binh Phú Quốc. Vì
là trại tù do trung ương quản lý với số lượng tù binh đông nhất (khoảng
40 ngàn người), lại xa đất liền, bốn bề mịt mùng biển cả nên bọn Mỹ
nguỵ khủng bố rất ác liệt.
Vừa bước chân xuống sân bay An Thới (Phú
Quốc), các chiến sĩ của ta đã bị một trận mưa đòn đánh phủ đầu bằng
báng súng, dùi cui hay những cú đá lật hàm bằng mũi giầy đinh cứng như
sắt. Chưa kịp mở mắt, chúng đã áp lên xe vận tải quân sự về Bộ chỉ huy
trại giam để khám xét, làm thủ tục nhập trại rồi lại tiếp tục lên xe đến
phân khu trại giam. Cứ mỗi lần lên xe, xuống xe như thế là những trận
đòn liên hồi kỳ trận vào mặt, vào đầu, vào lưng những tù nhân vốn xác
xơ, tiều tuỵ sau thời gian tra khảo, khai thác hồ sơ. Đó là “món đòn đầu
tiên phải nếm” cho “thủ tục nhập trại” trước khi vào nhà tù Phú Quốc.
Kể về thủ tục nhập trại khốc liệt ấy,
ông Ba Toản, cựu tù nhân Phú Quốc, hiện sinh sống ở tại “thiên đường du
lịch” xúc động kể, giọng ông đầy uất hận như câu chuyện vừa mới xảy ra
hôm qua: “Tôi quê ở Đan Phượng, (Hà Tây cũ), vào Nam chiến đấu năm 1966
trong binh chủng đặc công. Tôi bị bắt vào đợt 3 cuộc Tổng tấn công năm
Mậu Thân. Sau 3 tuần bị giam cầm, đánh đập, tra khảo ở Nhà lao Hố Nai
(Biên Hoà), tôi cùng 200 người nữa bị địch đưa ra sân bay, dồn tất cả
lên chiếc C.130. Chừng nửa tiếng sau, chúng tôi bị lùa xuống một hòn đảo
mà nhìn xung quanh tứ bề thấy rừng núi xám xịt một màu. Lúc ấy, chưa ai
biết đó là Phú Quốc. Đang hoang mang không biết mình ở đâu thì bỗng
“bốp”. Một cú dùi cui bổ thẳng giữa đỉnh đầu khiến tôi choáng váng, ngã
quỵ. Gượng đứng dậy, mở mắt nhìn, tôi thấy mọi người đều bị nện như thế.
Một tên đại uý còn trẻ, râu ria xồm
xoàm, ác ôn khét tiếng, dạng chân, giọng rít lên từng chặp: “Đánh chơi
một chút để chúng mày hiểu rằng: chúng mày đang sống ở đâu, đang dưới
bàn tay cai trị của ai.? Đây là đảo Phú Quốc, chúng mày nghe rõ chưa?
Cách đất liền hàng trăm km, xung quanh toàn cá sấu, rắn rết, bom mìn.
Thằng nào muốn trốn, xin mời. Hừ! Vào đây, chúng mày chỉ có hai con
đường: tuyệt đối ngoan ngoãn chấp hành mọi quy định của nhà lao hoặc là
chết thê chết thảm, chết đau chết đớn, chết không toàn thây. Nghe rõ
chưa, bọn phiến cộng”.
Bất ngờ có một tù nhân trẻ bước ra, quắc mắt, quát lớn: “Chúng tôi không phải là phiến cộng. Chúng tôi là tù binh chiến tranh”. Tên đại uý cười gằn: “Hả? Cái gì? Tù binh chiến tranh hả? Giỏi. Thằng này giỏi. Mày tới số rồi con ơi”. Đột nhiên, hắn thét lên: “Lại gần đây. Lại!”. Người tù nhân trẻ chưa kịp phản ứng gì thì hắn đã sải bước đến. “Rắc”. Nhanh như chớp, cây gậy bịt đồng trong tay hắn vung lên. Người tù nhân trẻ ngã gục xuống, giơ hay bàn tay bụm chặt lấy miệng. Máu trong mồm túa ra, hai chiếc răng cửa gãy văng xuống đất. Uất quá, chúng tôi định lao vào quyết tử với chúng. Nhưng không kịp. “Đoàng. Đoàng. Đoàng”. Khói súng mù mịt từ trong tay tốp quân cảnh. Ba người tù nhân ngã lăn quay ra đất, giãy đành đạch một hồi rồi nằm im.
Bất ngờ có một tù nhân trẻ bước ra, quắc mắt, quát lớn: “Chúng tôi không phải là phiến cộng. Chúng tôi là tù binh chiến tranh”. Tên đại uý cười gằn: “Hả? Cái gì? Tù binh chiến tranh hả? Giỏi. Thằng này giỏi. Mày tới số rồi con ơi”. Đột nhiên, hắn thét lên: “Lại gần đây. Lại!”. Người tù nhân trẻ chưa kịp phản ứng gì thì hắn đã sải bước đến. “Rắc”. Nhanh như chớp, cây gậy bịt đồng trong tay hắn vung lên. Người tù nhân trẻ ngã gục xuống, giơ hay bàn tay bụm chặt lấy miệng. Máu trong mồm túa ra, hai chiếc răng cửa gãy văng xuống đất. Uất quá, chúng tôi định lao vào quyết tử với chúng. Nhưng không kịp. “Đoàng. Đoàng. Đoàng”. Khói súng mù mịt từ trong tay tốp quân cảnh. Ba người tù nhân ngã lăn quay ra đất, giãy đành đạch một hồi rồi nằm im.
Tên đại uý tàn ác gõ gõ cái đầu gậy bịt
đồng vào lòng bàn tay: “Thế nào? Đã ra đây tính mạng của chúng bay không
bằng con rệp. Cứ liệu hồn. Điên tiết lên là ông cho chúng mày về chầu
ông bà ông vải hết”. Đó là đòn phủ đầu, chúng đánh cho biết mặt. Cú phủ
đầu này thâm độc lắm. Ai nhát gan sẽ bị quỵ ngay hoặc tinh thần suy
sụp”.
Từ sân bay, địch áp giải đoàn tù binh
vào trại. Ông Ba Toản kể tiếp: “Chúng tôi đi bộ chừng 1 km thì tới một
khu nhà san sát toàn tôn. Hàng rào kẽm gai tầng tầng, lớp lớp. Những
báng súng và cả những tiếng chửi tục đẩy nhanh tôi và 20 người vào một
căn phòng dài 12 m, rộng chừng 5 m. Một mùi hôi thối xộc lên khiến tôi
nôn ộc ra. Trong căn phòng nhờ nhờ sáng, tôi thấy chật cứng người. Người
nằm, người ngồi trên hai bệ dãy xi măng chạy dài sát tường tôn. Ngay
lối đi nhỏ ở giữa cũng ninh ních người. Tôi đảo mắt một lượt. Ước chừng
hơn 100 tù nhân gầy đét. Không khí ngột ngạt, nóng bức hầm hập như cái
hoả lò. Ngay bữa ăn đầu tiên, tôi đã thấm thía tận cùng thế nào là cơm
tù Phú Quốc. Mười người một xô cơm to bằng cái phích nước một lít. Chia
đều, mỗi người được một thìa xới. Những thìa cơm ẩm mốc, hôi xì mùi gián
nhai nhống nháo với mấy con cá bé bằng ngón tay út, nát nhũn, thum thủm
và nửa cà mèn canh lõng bõng.
Đang ăn, chợt nhìn thấy bàn tay người
ngồi cạnh, ghẻ lở sần sùi tróc lở như bàn tay người hủi, miếng cơm đang
nhai tắc ứ muốn ói ra. Giật mình nhìn ra xung quanh, cả mấy chục bàn tay
đều thế. Thì thân thể cả năm trời không được tắm rửa, ghẻ lở, hắc lào,
phù thũng… là đương nhiên. Vậy mà mãi cũng quen. Quen mùi cơm hôi, mùi
cá khắm, quen cả mùi cứt đái thối khẳn ở hai nửa chiếc thùng phuy đặt ở
hai đầu nhà. Nhiều đêm nằm, giòi bọ bò túa ra khắp phòng, chui cả vào
mồm, vào mũi. Sáng sáng, xì mãi, khạc nhổ mãi, lũ giòi bọ mới chịu chui
ra. Ấy nhưng, do chen chúc ngộp thở quá, người nào ốm yếu mới được… ưu
tiên nằm cạnh cái thùng phuy phân lúc nhúc loài động vật kinh khủng đó.
Có tháng, nhất là sau Tết Mậu Thân 1968,
nhiều chiến sĩ của ta sa vào tay giặc, tù nhân đông quá, địch nhồi nhét
mỗi phòng lên đến 150 người, trong khi sức chứa tối đa một phòng giam
là 60 người. Thế là, ba người chung nhau một chỗ nằm. Nếu một người nằm
thì hai người kia, một phải ngồi hờ trên ngực người nằm, một phải quỳ ở
dưới chân, đưa hai chân của người nằm gác lên vai mình. Mỏi quá thì luân
chuyển cho nhau. Nếu kiểu ngồi hờ hay quỳ không ổn thì chuyển sang
đứng. Một người nằm, hai người đứng dạng chân ở đầu và cuối. Nhìn từ bên
ngoài vào trông như những diễn viên xiếc đang diễn trò. Khổ thế mà mãi
cũng thành quen.
Lại kể chuyện tắm trong tù. Trước năm
1968, do tù nhân còn ít, mỗi tù nhân còn được một ca in-ốc nước. Thật
tằn tiện cũng đủ dùng. Về sau, đông quá, nước cháy, mỗi người chỉ được
một đít ca, ăn xong, nhấp nhấp gọi là cho khỏi khát rồi giữ lại, đổ vào
túi ni lông. Tích cóp cả tháng cũng được chừng 1 lít. Thế là tắm. Trước
tiên, nhúng ướt bàn tay rồi kỳ khô một lượt cho bở hết ghét. Xong, ngồi
vào cái chậu tôn do anh em trong tù cắt xén những chỗ đầu thừa đuôi thẹo
trên mái, trên tường khum lại. Một người dội, một người kỳ tiếp. Người
dội, người kỳ phải khéo léo sao cho không vương ra ngoài một giọt nước.
Người này tắm xong, người kia ngồi vào, tận dụng thứ nước thải nổi váng
của người trước. Rồi tiếp tục đến người thứ ba. Với những người tù cộng
sản, lúc đó, giọt nước quý như giọt máu.
Vì nước khan hiếm như thế nên cực nhất
trong tù có lẽ là chuyện đi “ngoài”. Nước không có mà rửa, giấy không có
mà chùi. Đành xé áo quần ra vậy. Xé từng miếng nhỏ chùi đít hết rồi,
miếng cuối cùng đành phải dùng chùi đi chùi lại. Thế mà nhiều lúc bạn tù
bị đánh đập tàn bạo, bể mặt sưng mày, đành lấy ngay miếng giẻ lau đùi
lau đít ấy mà lau vết thương cho bạn”.
…ĐẾN NHỮNG CỰC HÌNH TÀN ĐỘC CỦA LŨ QUỶ ĐỘI LỐT NGƯỜI
Ngồi trước mặt tôi đây là cựu tù nhân
cộng sản Trần Hồng, người đã từng gây chấn động trong lịch sử nhà tù Phú
Quốc bằng cuộc vượt ngục có một không hai – vựợt 18 lớp rào kẽm gai
giữa thanh thiên bạch nhật dưới hàng ngàn con mắt cú vọ của bọn cai
ngục. Nhưng giờ đây, ngót 40 năm sau, giữa đất Sài Gòn, ông lại gây chấn
động trong tôi bằng những câu chuyện kể rùng rợn về những ngón đòn tra
tấn tàn độc mà ông đã từng chết đi sống lại nhiều lần. Giật phăng chiếc
áo trên người, để lộ vòm ngực chằng chịt dọc ngang những vết sẹo to, sâu
như những vết dao chém, ông cười gằn: “Cậu thấy rõ không? Chuồng cọp,
chuồng chó đó. Đây nữa…”. Nói đoạn, cúi xuống, vén hai ống quần lên, để
lộ hai bắp chân trần sùi lên những đống sẹo như những ụ mối, ông lại
cười gằn: “Nướng sắt đỏ xuyên bắp chuối đó”. Tôi bỗng hoa mắt, ù tai,
người nôn nao như say nắng. Vẫn tiếng ông cười gằn: “Hầu hết những ngón
đòn tra khảo độc địa nhất ở nhà tù Phú Quốc, tôi đều nếm đủ. Kể với anh
có mà cả ngày chẳng hết. Khủng khiếp lắm!”.
Trần Hồng là người gốc Bình Định, rất
giỏi võ cổ truyền. Ông bị địch bắt năm 1968 ở mặt trận Huế và đày ra Phú
Quốc khi vừa tròn đôi mươi. Tuổi trẻ, máu nóng, lại sẵn khí phách của
người thượng võ nên ông đụng độ liên tục với bọn quân cảnh. Thế là chúng
tống ông vào phòng biệt giam khu 2 – “địa ngục” kinh hoàng nhất ở nhà
tù Phú Quốc. Đó là căn phòng rộng 3m, dài 8m. Tổng cộng 24 m2. Hai
mét-vuông ngoài cùng, chúng dùng để làm phòng tra tấn. Như vậy, phòng
biệt giam chỉ còn vỏn vẹn 22 m2. 22 m2 mà chúng tống vô đó đến… 197 tù
nhân. 197 con người ghẻ lở, phù thũng, bệnh tật, máu me hôi hám… Tính
trung bình, 8 người chồng chất nhung nhúc lên nhau trên 1 m2. Nằm không
được, đứng hết hay ngồi hết cũng không được. Khổ cực vô cùng. Đã thế, cứ
nhằm vào dịp lễ Tết, chúng lại lôi ông ra phòng tra tấn đập vỡ móng
tay, bẻ từng chiếc răng. Ông kể: “Chúng bắt tôi đặt ngón tay lên cạnh
bàn rồi dùng búa đinh hoặc chày, nện đốp một cái rất mạnh. Chúng nện hơi
chếch. Móng tay bựt ra, có khi văng hẳn xuống đất, có khi còn dính lòng
thòng, máu tuôn ròng ròng. Tôi đau đớn đến run rẩy, mặt tái xám. Mặc!
Chúng lần lượt ghè móng này xong lại đập móng khác”.
Chuyện bẻ răng cũng đau đớn vô cùng.
Chúng bắt ông đứng úp mặt vào tường, chìa miệng ra cái ô tròn như miệng
chén của vỉ sắt rồi kề một đầu của chiếc thước kẻ bằng đồng vào chiếc
răng cần bẻ, đầu kia, chúng dùng bàn tay vỗ “bộp” vào cái chuôi thước.
“Cắc”. Chiếc răng văng xuống nền xi măng khô khốc. Mỗi lần vỗ “bộp” là
một lần chiếc răng nữa văng ra. Nhưng chỉ hai ba lần vỗ là mồm miệng
nhoe nhoét máu. Có lần, uất quá, ông vừa nuốt máu, vừa chửi: “Mẹ chúng
mày. Oai gì cái lối trói người lại đánh. Giỏi thì ra ngoài bìa rừng kia,
một mình tao chấp cả chục”. Đáp lại lời thách đố oai hùng ấy là tiếng
cười sằng sặc của lũ cai ngục. Ngay buổi chiều, chúng quẳng ông vô
chuồng cọp, chuồng chó.
Theo cuốn sách “Chế độ Sài Gòn – một chế
độ trại giam” do Nhà xuất bản Đông Nam Á ở Paris ấn hành của nhà báo Mỹ
Robin Moore – người được CIA và Bộ Quốc Phòng Mỹ cho phép đi lại các
nơi làm việc của chúng, thì “chuồng cọp kẽm gai” là phát minh của lực
lượng đặc biệt lính mũ nồi xanh của Mỹ. Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời
trong mỗi phân khu. Phân khu nào cũng có vài ba chiếc, loại nhốt một
người, loại nhốt 3 – 5 người. Kích thước thì rất đa dạng. Có loại chỉ
cho người tù nằm dưới đất cát. Có loại bắt nằm trên dây kẽm gai. Có loại
chỉ cho ngồi, không thể nằm hay đứng. Lại có loại chỉ có thể đứng lom
khom, ngồi lom khom, không bệt đít xuống được. “Con chó người” ấy, mỏi
quá, chỉ cần khẽ nhổm lên hay hạ xuống là dây kẽm gai sắc nhọn cứa nát
da thịt ngay. Khi tống tù nhân vào chuồng cọp, bọn giám thị bắt lột hết
áo quần để dầm mưa, dãi nắng, hóng gió, phơi sương, mặc cho muỗi rừng
cắn xé. Những đêm giá rét, thỉnh thoảng chúng lại dội ào lên người ngồi
trong chuồng cọp một xô nước lạnh gọi là “để giải khát cho cọp” hoặc “để
rửa chuồng”. Những ngày hè nắng cháy, chúng hắt nước muối lên người tù:
“Ướp cho chúng mày mau lên cân”. Có khi chúng đốt đống lửa đùng đùng
ngay cạnh để “gợi cho cọp nhớ những trận cháy rừng ở Phú Quốc”. Chỉ vài
ngày như thế, toàn thân tù nhân sẽ bị lột da như cua lột. Da ngoài tuốt
ra, da non lên. Rồi da non lại bị lột cháy. Cứ thế, chỉ mươi ngày, tù
nhân chỉ còn da bọc xương. Kinh khủng lắm!
Nhưng kinh hoàng nhất vẫn là chuyện ăn
uống trong chuồng cọp. Bình thường, tù nhân chỉ được ăn một nắm cơm bé
tẹo như quả trứng gà với dúm muối, một hoặc hai ca nước. Muốn đi tiểu
hay đại tiện, phải dùng tay bới cát lên, đi tại chỗ, xong lấp lại. Song
nhiều khi, để đẩy tù nhân đến nỗi khổ tột cùng, chúng bắt ăn cơm trộn
cát hoặc nước đái. Cơm khan đã không nuốt nổi, giờ thêm nước đái khai
khẳn nữa thì ăn làm sao. Nhưng không ăn, chúng đập. Đang ăn hoặc ăn xong
nôn ra, cũng đánh. Nhiều khi, miệng ậm oẹ cố nuốt miếng cơm lạo xạo cát
bốc mùi khai nồng mà trên đầu roi cá đuối cứ quất xuống như mưa. Thứ
roi kinh khiếp ấy được làm từ đuôi cá đuôi dài, lắm gai, chúng mua ở chợ
An Thới, đem phơi khô để đánh đập người tù. Chúng quất thẳng cánh cho
chiếc roi quấn lấy thân tù nhân rồi giật mạnh khiến từng mảng da thịt bị
rứt ra, máu chảy toé loe. Khốn nạn hơn, chúng còn lấy muối ớt xát vào
những chỗ da thịt rách toang ấy khiến tù nhân đau đớn, nóng rát vô cùng.
Bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn đủ kiểu như thế, đến người khoẻ còn lăn đùng ra lê lết hàng tháng, có người không chịu đựng được phát điên, giữa trưa lao ra khỏi chuồng cọp rồi nhảy tót lên nóc sắt, vừa chửi kẻ thù, vừa lấy mảnh nứa rạch bụng, gan ruột lòi ra cả đống, lạ kỳ thay, người tù Trần Hồng vẫn hiên ngang một khí phách, sáng sáng vẫn luyện khí công. Điên tiết, bọn giám thị lôi ông ra bắt lộn vỉ sắt. Chúng lật ngửa tấm vỉ sắt với hàng trăm những lỗ tròn, đầy mấu để mắc vào nhau làm đường băng sân bay rồi bắt ông cởi hết áo quần, cắm đầu xuống lộn tùng phèo. Chúng bắt lộn đi, lộn lại đến vài chục cái. Tấm lưng trần đập lên, đập xuống những mấu sắt. Chỉ vài lần là tóc bị nhổ cả mảng, lưng bị toé máu như hàng trăm nhát dao chém. Cho đến khi bất tỉnh, nằm rũ trên vỉ sắt, chúng mới quẳng trả vào trại giam. Anh em trong tù thương quá, người lau vết thương, người nhường quần áo. Nhưng Trần Hồng gạt đi: “Mặc làm gì. Mặc vào nó đánh lại rách nữa. Thôi! Kệ tôi”.
Bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn đủ kiểu như thế, đến người khoẻ còn lăn đùng ra lê lết hàng tháng, có người không chịu đựng được phát điên, giữa trưa lao ra khỏi chuồng cọp rồi nhảy tót lên nóc sắt, vừa chửi kẻ thù, vừa lấy mảnh nứa rạch bụng, gan ruột lòi ra cả đống, lạ kỳ thay, người tù Trần Hồng vẫn hiên ngang một khí phách, sáng sáng vẫn luyện khí công. Điên tiết, bọn giám thị lôi ông ra bắt lộn vỉ sắt. Chúng lật ngửa tấm vỉ sắt với hàng trăm những lỗ tròn, đầy mấu để mắc vào nhau làm đường băng sân bay rồi bắt ông cởi hết áo quần, cắm đầu xuống lộn tùng phèo. Chúng bắt lộn đi, lộn lại đến vài chục cái. Tấm lưng trần đập lên, đập xuống những mấu sắt. Chỉ vài lần là tóc bị nhổ cả mảng, lưng bị toé máu như hàng trăm nhát dao chém. Cho đến khi bất tỉnh, nằm rũ trên vỉ sắt, chúng mới quẳng trả vào trại giam. Anh em trong tù thương quá, người lau vết thương, người nhường quần áo. Nhưng Trần Hồng gạt đi: “Mặc làm gì. Mặc vào nó đánh lại rách nữa. Thôi! Kệ tôi”.
Một lần, phát hiện ra một tên chỉ điểm
nguy hiểm trà trộn trong phòng giam đã từ lâu, Trần Hồng xin trại trưởng
được trừ khử tên phản bội này. Ngay đêm đó, anh cùng một người tù nữa
bí mật trùm áo lên đầu thằng chỉ điểm, bóp cổ đến chết rồi nhẹ nhàng
khiêng xuống nhà bếp, dúi đầu nó vào lò than rực hồng. Sáng hôm sau, anh
trại trưởng giả bộ hớt hải chạy lên phòng giám thị, báo rằng: “Thằng đó
nửa đêm rét quá, mò xuống bếp sưởi, không ngờ trúng gió chết gục ngay
tại chỗ”. Thằng giám thị lấy mũi giày, hất cái mặt đã cháy xém của thằng
chỉ điểm lên, nhìn một lát rồi đảo mắt khắp phòng giam, cười gằn: “Được
lắm! Chúng mày giỏi lắm. Được rồi, cứ coi như chết cảm. Bây giờ tao sẽ
cho cả lũ chúng bay chui đầu vào lò lửa xem có chết cảm không?”.Nói
đoạn, hắn cầm dùi cui gõ vào đầu lần lượt từng người, bắt ra khỏi phòng.
“Chết cha! Phen này nó giết hết anh em tù mất”. Nghĩ vậy, Trần Hồng bèn
đứng phắt dậy nói, giọng dõng dạc: “Không phải thử gì hết. Tôi. Chính
tôi đã giết nó”. Thằng giám thị, sau một vài giây ngỡ ngàng, lại cười
gằn rồi ra lệnh đưa Trần Hồng xuống phòng tra hỏi của Bộ chỉ huy nhà tù.
Chính tại đây, chúng đã dùng một cực hình vô cùng kinh hoàng và tàn
độc, chưa hề có trong lịch sử tra khảo tù đày.
Ông Hồng kể: “Hai thằng cai ngục tay vằn
vện những vết xăm, bắp tay săn chắc, cuồn cuộn những thớ thịt như bó
chão đè nghiến tôi ra, lột trần truồng tôi như nhộng rồi trói nghiến tôi
vào cái cọc chôn giữa phòng. Xong, một thằng dùng chiếc dao lam cạo
râu, một tay túm lấy dương vật tôi, một tay nhẹ nhàng rạch một đường
thật ngọt dọc theo chiều dương vật. Máu tứa ra, nhỏ xuống sàn lểu bểu.
Tôi khẽ rùng mình. Chắc nó thiến mình đây. Nhưng không. Ném con dao đi,
tên cai ngục thò tay vào một cái hộp sắt, lấy ra một con đỉa trâu đen
trùi trũi, mình nhầy nhẫy. Đó là giống đỉa trâu Phú Quốc. Khi hút no
máu, nó trường phềnh lên bằng… cổ tay, đen trũi, sần sùi. Còn bây giờ,
nó chỉ to bằng cái bút máy. Chúng khéo léo nhét con đỉa vào bên trong
vết rạch đang tứa máu trên dương vật tôi rồi khâu kín lại. Ngửi thấy hơi
máu lại nằm ngập trong máu, con đỉa bắt đầu uốn cong thân mình hút. Lúc
đầu thấy nhoi nhói rồi mạnh dần, mạnh dần. Mỗi lần nó rít máu tôi lại
cong rút người lên như có ai đang cầm chiếc kìm rút từng thớ thịt, lằn
gân. Càng hút, thân hình nó càng nở to, nở nhanh như ai đang bơm lốp xe
vậy. Càng nở to nó lại càng say sưa hút. Dương vật tôi căng nhức như
muốn nổ tung, buốt lên tận óc, như hàng trăm hàng ngàn cật nứa đang thi
nhau cào cứa. Dương vật tôi bắt đầu rách, rách từng phần, từng thớ thịt.
Bên trong, con đỉa vẫn cuộn lên, cuộn xuống dữ dội. Đau đớn tột cùng,
tôi ngất xỉu đi. Cho đến khi tỉnh dậy, lờ đờ đưa mắt nhìn xuống, tôi
rùng mình. Một mẩu thịt nhầu nhĩ, nhoe nhoét máu. Thế là nó đã triệt
đường sinh sản của tôi rồi”.
Cũng là đòn tra tấn kinh hoàng đánh vào
bộ phận sinh dục nhằm triệt đường sinh sản của tù nhân nhưng câu chuyện
tôi sắp kể đây còn tàn độc, đau đớn hơn nhiều chuyện của tù nhân Trần
Hồng. Đó là khoảng cuối năm 1970, ở phân khu A8. Địch chuẩn bị lập Khu
tân sinh hoạt dành cho những người bị chiêu hồi. Đảng uỷ phân khu chủ
trương cảnh cáo tên tổng đại diện Nguyễn Ngọc Ai do địch dựng lên. Anh
em trong tù đã dùng bàn chải đánh răng đâm mù mắt hắn. Bị thương, tên Ai
kêu ầm lên. Bọn quân cảnh vội ập xuống, nổ súng cảnh cáo, cứu thoát tên
Ai rồi chúng bắt 6-7 người đi tra khảo. Anh Minh, tức Đặng Văn Bê, quê ở
Tiền Giang bị chúng đánh đòn đầu tiên. Chúng dùng chiếc chày vồ bằng
gỗ, có cán bên hông như chày giã gạo, nện vào mắt cá chân, vào cùi chỏ,
vào đầu gối anh Minh. Thấy anh oằn oại vì đau đớn, chúng cười khành
khạch: “Chày này hơi nặng. Chày sau đánh nhẹ hơn. Yên tâm”. Nói thế
nhưng chúng giơ thẳng cánh nện mạnh hơn. Anh Bê quằn quại một hồi rồi
bỗng dưng đứng bật dậy, thét lớn: “Đả đảo Mỹ – Thiệu. Hồ Chí Minh muôn
năm”. Tức giận, chúng đạp anh ngã quỵ, lấy bao tải xanh trùm kín người
rồi nắm lấy miệng bao tải lôi sềnh sệch xuống nhà bếp. Trên bếp lửa rực
hồng, một chảo nước lớn đang sùng sục sôi. “Một. Hai. Ba”. Chúng khiêng
lẳng anh vào giữa chảo nước ngùn ngụt. Anh giãy giụa đuỳnh đuỵch trong
bao tải. Chừng 5 phút sau, chúng vớt anh lên, lôi ra khỏi bao tải. Toàn
bộ da thịt anh bị vuột ra, trắng lốp. Anh đã ra đi vĩnh viễn ở tuổi 23.
Sau khi luộc chết anh Bê, chúng quay ra
hành quyết một du kích trẻ quê ở Cà Mau theo lối tàn độc thời Trung Cổ.
Chúng dựng một cái giàn, để hai cây cọc sắt nằm song song cách mặt đất
chừng 8 cm. Sau khi đã nhóm một đống củi liu riu phía dưới, chúng cột
trặt anh du kích vào hai thanh sắt rồi chậm rãi quay giống như nướng một
con cá lóc. Mùi quần áo, mùi râu tóc, mùi thịt da cháy khét lẹt. Mỡ
chảy xèo xèo. Anh du kích quằn quại trên lửa đỏ. Khi thanh sắt ngừng
quay, toàn thân anh cháy sẹm như một thân gỗ trong biển lửa đại ngàn.
Đến ngày thứ 3 sau vụ cảnh cáo tên
Nguyễn Ngọc Ai, chúng bắt anh Ba Vạn, quê Quảng Ngãi, là Bí thư đảng uỷ
vùng 1 và anh Tô Hồng Minh, quê ở Cà Mau, là uỷ viên thường vụ Đảng uỷ
vùng 4 ra đánh đập tại cổng rồi đưa vào phòng tra tấn. Hai anh bị tống
vào hai phòng khác nhau. Tên trung sĩ Điền trực tiếp tra khảo anh Ba Vạn
còn tên trung sĩ Nghĩa tra khảo anh Minh. Đánh đập, tra khảo đủ hình đủ
kiểu mà không khai thác được gì, chúng bèn đổi cách. Tên Nghĩa bắt anh
Minh cởi hết quần áo ra rồi ghé sát tai anh nói, giọng lạnh lùng: “Một
là khai. Hai là đốt cho tuyệt tự. Chọn đi”. Anh Minh vẫn dạ sắt gan vàng
quyết không hé nửa lời. Chúng bèn xếp hai chiếc ghế băng song song
nhau, chừa một khoảng ở giữa rồi bắt anh Minh ngồi lên, dạng chân qua
hai bên. Tên trưởng trật tự Dương Văn Hai bưng lên một chiếc đĩa, trong
có đựng một nhúm bột màu đen. Xoè. Hặn bật diêm, châm lửa. Chiếc đĩa trở
thành mồi lửa. Hắn chậm rãi đặt dưới hai ngọc hoàn và dương vật anh
Minh. Anh nghiến răng, mắt trợn ngược, vặn mình đau đớn. Lửa làm nứt da,
chảy mỡ, nhỏ xuống chiếc đĩa kêu “xèo, xèo”. Anh Minh ngất lịm. Chúng
lấy chiếc đĩa ra, mang vào phòng anh Ba Vạn.
Một lát sau, chúng cho gọi anh em tù
binh ra khiêng hai anh vào phòng 1. Chẳng biết chúng đã làm gì anh Ba
Vạn, chỉ thấy miệng anh cháy đen, mắt đờ đẫn. Hỏi, anh lắc đầu, lấy tay
chỉ vào miệng. Chiều hôm ấy, anh Ba Vạn tắt thở. Anh ra đi mà không trăn
trối được một lời. Anh em đã tẩm liệm và chôn anh ở đồi 100.
KỲ 3: TÊN CAI NGỤC TÀN BẠO NHẤT Ở NHÀ TÙ PHÚ QUỐC VÀ NHỮNG “KỸ NGHỆ” GIẾT NGƯỜI ĐỘC CHIÊU
Thật khó có thể kể hết tội ác tày trời
mà bọn cai ngục tàn độc đã trút lên thân hình những tù nhân cộng sản Phú
Quốc suốt mấy chục năm trường. Cũng thật khó mà chỉ mặt điểm danh cho
hết lũ quỷ đội lốt người ở chốn địa ngục trần gian kinh hoàng ấy. Song
có một tên ác quỷ mà tên tuổi và những ngón đòn tra tấn “độc chiêu” man
rợ đã gây bao nỗi đớn đau, kinh hoàng và cả những cái chết tức tưởi cho
hàng ngàn tù nhân thì 40.000 chiến sĩ cộng sản bị giam cầm một thời ấy,
mãi mãi không thể nào quên, mãi mãi là nỗi ám ánh hãi hùng. Đó là tên
Bảy Nhu (xem ảnh), trưởng giám thị khu 2 khét tiếng…
VỒ SẦU ĐỜI, GẬY BIỆT LY
Bảy Nhu tên thật là Trần Văn Nhu, sinh
năm 1926 ở Đồng Tháp. Ngay từ nhỏ, hắn đã thích trò đấm đá, đánh giết
nên 18 tuổi, hắn đi lính cho Tây. Cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm
bị lật đổ, hắn được đưa sang quân cảnh rồi ra Phú Quốc, làm giám thị
trưởng phân khu B2 rồi A2. Chỉ trong vòng 1 năm, nhờ những thành tích
“bất hảo” trong việc tra khảo, đánh đập tù nhân tàn khốc mà hắn được
thăng cấp thượng sĩ nhất và cất lên làm trưởng giám thị khu biệt giam 2.
Chính tại nơi đây, hắn đã sáng tạo ra những đòn tra tấn “có một không
hãi” kinh hoàng khiến lũ cai ngục nhà lao Cây Dừa tôn sùng hắn lên hàng
“sư phụ”.
Món “đặc sản” đầu tiên khét tiếng “danh
bất hư truyền” mang thương hiệu của tên ác quỷ Bảy Nhu phải kể đến là
“vồ sầu đời”, “gậy biệt ly”, “gậy đầu sinh đầu tử”… Người tù nào chỉ cần
nếm vài vồ thì coi như “sầu đời”: chết ném xuống biển làm mồi cho cá,
sống thì cũng sầu đời mãn kiếp với các thương tật khiếp vía. Còn cây gậy
sắt to bằng bắp tay, ai đã bị đánh thì coi như… li biệt đồng đội, gia
đình và cõi.. dương gian. Tên Bảy Nhu hàng ngày xách những “dụng cụ hành
nghề” đặc biệt ấy vào tuần tra trong các trại giam. Hắn dùng chày vồ
đánh vào các khớp xương như mắt cá, cùi chỏ, đầu gối, bả vai tù nhân.
Trước khi lãnh cơm ăn, hắn thường nện thẳng cánh 5-10 chày vào mắt cá
những người ngồi gần cửa biệt giam. Hắn bảo: “Cho ngon cơm. Ngày nào
không đánh tụi bay là tao ăn cơm không ngon”. Thấy người bị đánh oằn
oại, vật vã vì đau đớn, hắn cười: “Chày này hơi nặng. Chày sau đánh nhẹ
hơn”. Miệng thì nói thế, nhưng hắn phùng môi trợn mắt, giương thẳng tay
nện đánh “đốp” khiến nạn nhân giãy nảy người như điện giật. Hắn rất
thích ngắm nhìn người bị đánh lăn lộn, quằn quại trong đau đớn. Nhiều
người bị đánh lê lết cả tuần mới gượng dậy nổi. Hắn nhiều lần tâm sự với
bọn cai ngục đàn em: “Ngày nào không nhìn thấy máu, không lấy được mấy
mạng người là tao không chịu được”. Chỉ với một tay thước bằng gỗ lim,
hắn đã lần lượt đánh văng mắt cá chân của hơn 10.000 tù nhân. Lâu lâu,
được lên trạm xá khám bệnh thủ tục, nhìn thấy anh em tù nhân bò lê bò
lết qua sân, tên Nhu ngửa mặt lên trời cười sằng sặc.
ĐỤC XƯƠNG BÁNH CHÈ, NƯỚNG SẮT ĐỎ ĐÂM XUYÊN BẮP CHUỐI CHÂN
Anh Nguyễn Văn Ni (tức Bảy Ni) là Bí thư
Đảng uỷ phân khu B2 đã lãnh đạo phân khu đấu tranh giành thắng lợi
trong việc đánh đuổi tên trung sĩ giám thị trưởng ra khỏi phân khu. Tức
tối, Bảy Nhu cho người bắt anh lên Ban điều hành tra tấn. Hắn chậm rãi
lấy cọng sắt bùng nhùng vùi vào lò than hồng cho đến khi thanh sắt rực
đỏ rồi từ từ đâm vào bắp chân teo tóp của anh. “Xèo. Xèo”. Mùi thịt da
cháy khét lẹt. Anh Bảy Ni trợn mắt, nghiến răng cố kìm tiếng kêu thét
trực bật lên. Một nhát. Xèo! Hai nhát. Xèo! … Cứ thế, hắn chậm rãi đâm
như cô tiểu thư đài các ngồi thêu gối cưới. Đâm nhiều nhát mới xuyên qua
một bắp chuối. Xuyên bắp chân trái xong, hắn chuyển sang xuyên chân
phải. Mỗi lần sắt đâm là một lần anh Ni ngất xỉu. Đau đớn tột cùng nhưng
anh Ni không chịu khuất phục, vẫn mắng tên Bảy Nhu là thằng bán nước,
dắt quân Mỹ về dày xéo đất nước, giết hại nhân dân. Tên Bảy Nhu tím mặt
nhưng không nói nửa lời. Lẳng lặng ra góc phòng, hắn cầm chiếc đục rồi
lành lẽ như một nghệ nhân điêu khắc, hắn tỉ mẩn ngồi đục từng mảnh xương
bánh chè. Máu từ chân anh Ni toé ra. Mặc. Hắn vẫn bình thản ngồi đục.
Sau, thấy máu chảy lênh láng khắp phòng, tên Nhu đứng dậy bảo: “Khổ thân
mày. Để tao cầm máu cho”. Nói đoạn, hắn lấy cây sắt nướng đỏ lúc đầu,
châm vào chỗ đầu gối trắng hếu thịt xương vừa đục, nhoe nhoét máu. Thịt
bị đốt chín, máu ngưng chảy. Anh Ni gào to: “Đả đảo Mỹ-Thiệu. Hồ Chí
Minh muôn năm”.
Tên Bảy Nhu cười khẩy nhưng hai thái
dương hắn giật giật, mắt vằn lên những ánh nhìn dữ tợn. Lập tức, hai
thanh gỗ nặng nề kẹp cứng lấy lồng ngực lép kẹp của người tù kiên trung
Bảy Ni. Hai cái đinh vít đã được bôi dầu. Hai cái cờ-lê roàn roạt vặn.
Hai thanh gỗ kêu rin rít ép lại sát nhau. Tiếng xương vỡ nghe xào xạo.
Máu ở miệng, ở mũi anh Ni ào ra đẫm mảng xương ngực đang tiếp tục vỡ
nát. Chưa hả. Tên Bảy Nhu vung chiếc búa năm cân lên quá đầu. Thụp! Một
chiếc đinh mười phân ngập lút đầu gối anh. Thụp! Chiếc thứ 2. Thứ 3. Thứ
4… 16 chiếc đinh to như ngón tay lút ngập hai đầu gối. Anh Bảy Ni gục
xuống. Đôi mắt căm hờn mở trừng trừng.
ĐỤC RĂNG, BẺ RĂNG
Đó là “ngón độc chiêu” tàn độc nhất tạo
dựng nên “thương hiệu Bảy Nhu” khét tiếng khắp nhà tù Phú Quốc, gây bao
nỗi kinh hoàng cho hàng vạn tù nhân. Muốn đục răng, hắn dùng một khúc
cây nhỏ bằng ngón tay, dài chừng 3-4 cm. Gàng miệng tù nhân ra, hắn đặt
một đầu cây vào đúng vị trí chiếc răng định đục rồi bất thình lình, dùng
chày vồ đóng một cái thật mạnh vào đầu kia, tức thì một, hai chiếc răng
văng khỏi hàm. Có khi hứng chí, hắn bắt tù nhân tự cầm đầu cây đặt vào
răng mình cho hắn đục. Nếu để chệch, bị đục thêm răng thì đành nghiến
răng mà chịu.
Còn món bẻ răng, Bảy Nhu không dùng kìm
như các tên cai ngục khác thường làm. Cách bẻ của hắn rất đặc biệt. Hắn
lấy một cây nhỏ bắt tù nhân cắn một đầu rồi dùng cây đánh lên hoặc đánh
xuống ở đầu kia. Muốn bẻ răng hàm dưới thì đánh ngược lên. Muốn bẻ răng
hàm trên thì đánh xuống. Máu tuôn xối xả, hắn bắt anh em tù nhân phải
nuốt “cho máu trở về tim”. Thậm chí, hắn hứng máu vào bát rồi chộn vào
cơm bắt tù nhân ăn.
Bất kỳ một tù nhân nào khi bị đày vào
khu biệt giam 2, trước khi chui vào “địa ngục trần gian” ấy đều phải nộp
cho hắn vài chiếc răng. Hắn nói: “Mày kích động đấu tranh hả? Trước khi
vô biệt giam phải nộp cho bố mày hai cái răng con ạ”.
Kể về những ngón đòn “danh bất hư truyền” của ác quỷ Bảy Nhu, ông Vũ Minh Tằng, cựu tù binh Phú Quốc, người đã bị tên Nhu đập gãy 9 chiếc răng, bảo: “Tôi không tin là tôi có thể sống được đến ngày hôm nay”. Giọng ông thào thào như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, chưa hết nỗi kinh hoàng: “Tôi vẫn nhớ như in. Đó là vào một một đêm tối trời tháng 12 năm 1971. Tên Nhu và đám quân cảnh lôi tôi ra khỏi chuồng cọp. Nó nghi tôi tổ chức đào hầm cho gần một trăm anh em tù vượt ngục. Nó chỉ thẳng vào mắt tôi, cười gằn: “Mày giỏi lắm. Tao sẽ cho mày chết từ từ, vừa chết vừa nhớ vợ con và đồng đội, chứ bắn mày tòm một phát rồi vứt xuống biển thì quá dễ”. Nói xong, nó dùng chày vồ đập vỡ đầu gối tôi. Nó chậm rãi đập từng nhát một. Tôi thấy đầu gối mình vỡ vụn, lạo xạo như vỏ trứng gà vỡ. Nó tiếp tục đóng đinh mười phân vào đầu gối và hai ống chân tôi. Cũng nhẩn nha đóng từng chiếc. Tôi ngất lịm đi. Nó dùng cả thùng nước xối ào vào mặt tôi. Tôi vừa tỉnh dậy, tên Nhu dùng một cái ống tuýp sắt dài, ấn vào miệng tôi, bảo: “Tao xin cái răng. Mày muốn cho tao cái nào?”. Tôi chửi: “Gậy trong tay mày, mày lấy cái nào thì lấy”. Tôi vừa nói hết câu, thằng Nhu đã vung tuýp sắt ghè thẳng vào miệng tôi. Một cái răng văng ra, máu tuôn xối xả. Nó tát vào mặt tôi: “Nuốt. Nuốt hết. Để bắn giọt máu nào ra ngoài, tao giết”. Cái chân răng của tôi dài, lại nhọn, tôi nuốt sao nổi. Thế là nó cho quân cảnh xối nước vào miệng tôi. Lần lượt chín cái răng của tôi bị chúng đập rụng rồi trôi vào bụng như thế. Bụng tôi căng phềnh lên như ai bơm hơi, tức anh ách như có ai cầm dao rạch ngang, rạch dọc. Vì trong bụng tôi toàn máu và cả thùng nước chúng nó cạy miệng dội vào mà.
Kể về những ngón đòn “danh bất hư truyền” của ác quỷ Bảy Nhu, ông Vũ Minh Tằng, cựu tù binh Phú Quốc, người đã bị tên Nhu đập gãy 9 chiếc răng, bảo: “Tôi không tin là tôi có thể sống được đến ngày hôm nay”. Giọng ông thào thào như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, chưa hết nỗi kinh hoàng: “Tôi vẫn nhớ như in. Đó là vào một một đêm tối trời tháng 12 năm 1971. Tên Nhu và đám quân cảnh lôi tôi ra khỏi chuồng cọp. Nó nghi tôi tổ chức đào hầm cho gần một trăm anh em tù vượt ngục. Nó chỉ thẳng vào mắt tôi, cười gằn: “Mày giỏi lắm. Tao sẽ cho mày chết từ từ, vừa chết vừa nhớ vợ con và đồng đội, chứ bắn mày tòm một phát rồi vứt xuống biển thì quá dễ”. Nói xong, nó dùng chày vồ đập vỡ đầu gối tôi. Nó chậm rãi đập từng nhát một. Tôi thấy đầu gối mình vỡ vụn, lạo xạo như vỏ trứng gà vỡ. Nó tiếp tục đóng đinh mười phân vào đầu gối và hai ống chân tôi. Cũng nhẩn nha đóng từng chiếc. Tôi ngất lịm đi. Nó dùng cả thùng nước xối ào vào mặt tôi. Tôi vừa tỉnh dậy, tên Nhu dùng một cái ống tuýp sắt dài, ấn vào miệng tôi, bảo: “Tao xin cái răng. Mày muốn cho tao cái nào?”. Tôi chửi: “Gậy trong tay mày, mày lấy cái nào thì lấy”. Tôi vừa nói hết câu, thằng Nhu đã vung tuýp sắt ghè thẳng vào miệng tôi. Một cái răng văng ra, máu tuôn xối xả. Nó tát vào mặt tôi: “Nuốt. Nuốt hết. Để bắn giọt máu nào ra ngoài, tao giết”. Cái chân răng của tôi dài, lại nhọn, tôi nuốt sao nổi. Thế là nó cho quân cảnh xối nước vào miệng tôi. Lần lượt chín cái răng của tôi bị chúng đập rụng rồi trôi vào bụng như thế. Bụng tôi căng phềnh lên như ai bơm hơi, tức anh ách như có ai cầm dao rạch ngang, rạch dọc. Vì trong bụng tôi toàn máu và cả thùng nước chúng nó cạy miệng dội vào mà.
Tỉnh dậy, tôi đã thấy mình nằm trong
chuồng cọp rồi. Chuồng cọp thì anh biết đấy, chỉ rộng 24 m2, trần cao có
1,8m. Thế mà chúng lèn vào đó những 300 người, thành ra tù nhân phải
nằm, ngồi đè lên nhau. Ngột ngạt khủng khiếp. Người sống và người chết
nằm đè lẫn lộn. Có ngày, chuồng cọp có tới 70 – 80 người chết. Chúng cho
xác từng người vào quan tài rồi cho lên máy bay ném xuống biển. Cứ thấy
người chết đến đâu, nó lại lèn thêm một đợt cho đầy chuồng. Ngày nào
tôi cũng phải chứng kiến những cảnh chết chóc rùng rợn ấy. Có lần, hứng
chí, thằng Nhu ra lệnh cho đám quân cảnh nã pháo cối 82 ly xuống khu tù
nhân. Thế là chỉ trong tích tắc, vài chục tù nhân mất mạng, xác người
lại dày thêm ngoài bìa rừng”.
Có một điều đặc biệt ở tên ác quỷ Bảy
Nhu như là một nghịch lý: Hắn theo đạo Phật, ăn chay trường, trong phòng
riêng có hẳn một bàn thờ quanh năm nghi ngút khói hương, đêm đêm vẫn
thường tụng kinh lần tràng hạt nhưng ban ngày, hắn đối xử với tù nhân
tàn độc hơn cả loài cầm thú. Khi đánh đập, tra khảo anh tù binh, dù tàn
bạo, rùng rợn đến đâu, khuôn mặt hắn không hề thay đổi sắc diện. Không
giận dữ, không la hét mà bình thản, thậm chí pha chút khôi hài. Hắn coi
việc đánh đập, hành hạ tù nhân như một thú vui, như việc tụng kinh lần
tràng hạt trước bàn thờ Phật. Rất nhiều tù nhân thân thể tiều tuỵ khi bị
tên Bảy Nhu tra tấn bằng ngón đòn đục răng đã phải từ giã cõi đời vì
không sao chịu nổi. Ngót chục năm hành nghề, hắn để dành được cả mấy
thúng răng tù nhân rồi kết lại thành chuỗi tràng hạt đeo tòng teng trên
cổ, thoạt nhìn giống hệt Sa Tăng đeo xâu đầu lâu trong truyện Tây Du Ký.
KỲ 4: SỰ THẬT VỀ NHỮNG VỤ THẢM SÁT ĐẪM MÁU TRONG NHÀ LAO CÂY DỪA
Trong lịch sử tồn tại suốt chục năm đen
tối của nhà tù Phú Quốc, có quá nhiều vụ thảm sát tàn khốc xảy ra, cướp
đi sinh mạng của hàng ngàn tù nhân cộng sản. Mấy chục năm sau, tôi lần
mò đi tìm các nhân chứng, thu thập tư liệu cho loạt phóng sự đặc biệt
này. Và tôi đã không thể cầm được nước mắt khi thắt lòng dựng lại một
vài vụ thảm sát trong hàng trăm cuộc thảm sát đẫm máu ấy. Tôi chợt hiểu,
vì sao, mỗi tấc đất ở hải đảo xa xôi ấy đều thấm đẫm máu, xương của các
tù nhân cộng sản bất khuất, kiên trung…
KHI KHÓI SÚNG TAN, HÀNG TRĂM XÁC TÙ NHÂN NẰM PHƠI TRẤNG MẶT ĐẤT
Ngay từ năm 1965, khi những người tù cộng sản bị bắt và bị đày ra Phú Quốc, máu của họ đã đổ bởi những vụ thảm sát rất tàn bạo.
Vào một buổi sáng đầu tháng 7 năm 1965,
địch cho tập hợp toàn bộ tù binh thành một hàng dài rồi bắt chào cờ ba
sọc, bắt hô “Đả đảo Đảng cộng sản Việt Nam”. Những người lính kiên trung
gan vàng dạ sắt đứng lặng như tượng, không ai dơ tay chào cờ, cũng
chẳng ai lên tiếng. Điên tiết, địch túa vào như lũ chó dại, dùng dùi
cui, báng súng nhằm vào đầu, vào lưng tù binh mà ghè, mà phang. Uất quá,
những tù binh vốn là những người lính xông pha biết bao trận mạc, giờ
bị đàn áp vô lối, máu lính nổi lên, thế là anh em vùng lên đánh trả.
Tiếng hò, tiếng hét, tiếng kêu la… Địch xả súng đồng loạt. Khi khói súng
tan, một nửa tù nhân nằm sóng xoài trên đất cát, máu chảy lênh láng.
Một tuần sau, mùi tanh nồng vẫn phả vào trại giam. Trưa hôm ấy, thu gom
xác ra đồi 100 chôn, đếm cả thảy 78 tù nhân đã hy sinh. Anh em tù khiêng
đến tận chiều tối mới hết.
Vào mùa mưa năm đó, do bọn cai ngục đối
xử quá tàn tệ, vài chục người trong nhà giam bị chết do mắc bệnh kiết lỵ
mà không được cứu chữa. Anh em tù quyết định tuyệt thực để đấu tranh.
Tất cả tù nhân nằm lặng trong phòng, không ra sân điểm danh, cũng không
cho quân cảnh vào phòng điểm danh. Tất cả những sinh hoạt bình thường
đều tạm đình chỉ. Những lần trước, tuyệt thực ba bốn hôm thì địch buộc
phải nhân nhượng giải quyết. Nhưng lần này đã kéo dài đến ngày thứ 11 mà
địch vẫn trơ trơ. Đã vậy, chúng còn bắc chảo ra giữa cửa trại giam xào
nấu thơm lừng. Anh em trong tù nhiều người đã kiệt sức, một số người bắt
đầu nao núng. Đúng lúc cuộc đấu tranh đang rất gay go thì có phái đoàn
chữ thập đỏ quốc tế đến kiểm tra. Đich vội vàng xuống nước, năn nỉ tù
nhân thay đổi thái độ. Nhưng anh em tù nhân vẫn quyết không chịu ăn, đòi
địch phải thực hiện đúng công ước Giơ-ne-vơ về chính sách đối đãi với
tù nhân chiến tranh. Địch không nghe. Chúng dùng vũ lực xua anh em ra
rừng hòng che mắt công luận quốc tế. Các tù nhân cứ nằm lỳ, quyết không
đi. Thế là cứ dùi cui, súng ống chúng nện lên những thân hình tiều tuỵ,
xơ xác. Uất quá, không cần nghe mệnh lệnh chỉ huy của Ban lãnh đạo, tù
nhân nhào lên cướp vũ khí đánh lại chúng. Hoảng loạn vì bị đánh trả bất
ngờ, đám quân cảnh bỏ chạy ra ngoài. Thế là, ngay lập tức, bốn khẩu đại
liên ở trên bốn chòi canh xối đạn như mưa vào trong nhà giam. Mười lăm
phút sau, tiếng súng ngưng, hơn một trăm xác tù nhân được khiêng ra
nghĩa địa. Khiêng suốt đêm không hết. Căn nhà giam cả tuần sau vắng lặng
như bãi tha ma. Đám quân cảnh không dám bén mảng tới. Có thằng giám thị
vừa lò dò đến, chợt bật lên tiếng ho của một người tù, hắn hoảng hồn
hoảng vía chạy như ma đuổi.
Một buổi sáng hè năm 1967, chẳng hiểu vì
lý do gì, tên giám thị đùng đùng cho lính vào phòng bắt 30 người ra
phơi nắng trên giàn thiếc. Đây là kiểu tra tấn rất đỗi thô sơ mà tàn độc
của bọn cai ngục Phú Quốc. Buổi sáng, mặt trời vừa lên, nằm sấp úp mặt
trên tấm tôn còn chịu được. Càng về trưa, tấm tôn càng nóng giãy như bị
đốt lửa, da thịt ở bụng, ở ngực phồng rộp lên, chín đỏ như tôm luộc. Nếu
cựa quậy, chúng phang thẳng cánh dùi cui, nhiều khi hứng chí, chúng rút
súng nã thẳng vào đầu người tù, óc văng tung toé. Đến chiều thì người
tù thân tàn ma dại, da bị cháy xém, có người mê man bất tỉnh. Chưa kịp
hoàn hồn, sáng hôm sau chúng lại bắt ra phơi nữa. Cứ thế cả tuần. Có
người không chịu được, phát điên, cả đêm la hú.
Đến ngày thứ bảy, một người tù gầy tong teo, chỉ còn da bọc xương, toàn thân cháy xém, nằm trên tấm tôn mếu máo, giọng van vỉ: “Xin tha cho tôi. Suốt đêm qua tôi bị đau bụng, không ngủ được. Tôi không chịu được nữa rồi”. “Mẹ mày! Tha cái gì. Gặp tao ở ngoài kia liệu mày có tha cho tao không. Nằm xuống”. Tên giám thị ác ôn quát. “Không. Tôi kiệt sức rồi. Tôi không thể…”. Người tù vẫn rên rỉ, giọng thều thào, đôi chân gầy trơ xương muốn khuỵu xuống. “Đồng chí sĩ quan! Hãy đứng thẳng dậy. Có chết cũng không được xin xỏ. Chúng nó khinh cho”. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía phát ra tiếng nói uất ức mà đanh thép đó, phía nhà giam hạ sĩ quan bị bao bọc bởi bảy lớp rào thép gai. Đó là một chiến sĩ trẻ, gầy nhẳng, đầu trọc lốc, ánh mắt ngút lửa căm hờn. Bỗng “đòm”. Tiếng đạn khô khốc vang lên. Người tù trẻ ngã ngửa, giãy giãy mấy cái rồi chết, mắt vẫn mở trừng trừng. Thế là tức nước vỡ bỡ. Đồng loạt anh em tù gào lên, lao cả tấm thân gầy guộc, tong teo vào đám giám thị và bọn lính. Cả sân bụi mù cát trắng. Tiếng thét, tiếng tru, tiếng rít vang lên. Bọn giám thị hoảng hốt bỏ chạy. Một vài tên quân cảnh bị đập vỡ sọ. Cả nhà giam tưởng chừng vỡ tung trong cơn phẫn nộ. Nhưng chừng nửa tiếng sau, những khẩu đại liên, những chiếc xe bọc thép đã dẹp xong cuộc bạo loạn. Máu tù nhân chảy thành dòng. Xác phơi đầy sân.
Đến ngày thứ bảy, một người tù gầy tong teo, chỉ còn da bọc xương, toàn thân cháy xém, nằm trên tấm tôn mếu máo, giọng van vỉ: “Xin tha cho tôi. Suốt đêm qua tôi bị đau bụng, không ngủ được. Tôi không chịu được nữa rồi”. “Mẹ mày! Tha cái gì. Gặp tao ở ngoài kia liệu mày có tha cho tao không. Nằm xuống”. Tên giám thị ác ôn quát. “Không. Tôi kiệt sức rồi. Tôi không thể…”. Người tù vẫn rên rỉ, giọng thều thào, đôi chân gầy trơ xương muốn khuỵu xuống. “Đồng chí sĩ quan! Hãy đứng thẳng dậy. Có chết cũng không được xin xỏ. Chúng nó khinh cho”. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía phát ra tiếng nói uất ức mà đanh thép đó, phía nhà giam hạ sĩ quan bị bao bọc bởi bảy lớp rào thép gai. Đó là một chiến sĩ trẻ, gầy nhẳng, đầu trọc lốc, ánh mắt ngút lửa căm hờn. Bỗng “đòm”. Tiếng đạn khô khốc vang lên. Người tù trẻ ngã ngửa, giãy giãy mấy cái rồi chết, mắt vẫn mở trừng trừng. Thế là tức nước vỡ bỡ. Đồng loạt anh em tù gào lên, lao cả tấm thân gầy guộc, tong teo vào đám giám thị và bọn lính. Cả sân bụi mù cát trắng. Tiếng thét, tiếng tru, tiếng rít vang lên. Bọn giám thị hoảng hốt bỏ chạy. Một vài tên quân cảnh bị đập vỡ sọ. Cả nhà giam tưởng chừng vỡ tung trong cơn phẫn nộ. Nhưng chừng nửa tiếng sau, những khẩu đại liên, những chiếc xe bọc thép đã dẹp xong cuộc bạo loạn. Máu tù nhân chảy thành dòng. Xác phơi đầy sân.
CUỘC TÀN SÁT LỚN NHẤT TRÊN ĐẢO
Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1972, địch bất
ngờ cho tập hợp toàn thể tù nhân phân khu B8 ra ngoài sân trống để lục
soát toàn phân khu sau khi nghe tin mật báo: trong phân khu đang có cuộc
đào hầm vượt ngục. Chúng lùng sục khắp phân khu, săm soi từng tấc đất,
bới móc từng xó xỉnh. Anh em tù nhân ngồi chầu trực suốt mấy tiếng đồng
hồ dưới cái nắng nóng như đổ lửa. Vừa đói, vừa khát. Cuộc lùng sục kéo
dài đến tận trưa mà không mang lại kết quả gì. Mãi đến 11 giờ địch mới
cho anh em tù nhân trở vào phân khu rồi đưa lương thực, thực phẩm đến
cho họ nấu nướng. Số lượng tù nhân quá đông, lại nấu bằng chảo gang lớn
nên đến tận chiều anh em mới được ăn bữa sáng. Vì thế, sẩm tối, anh em
tù đòi nấu ăn bữa nữa nhưng địch không cho với lý do: anh em tù vừa ăn
xong vẫn còn no. Nếu nấu bữa nữa thì đến nửa đêm mới xong, khó khăn cho
chúng trong việc tuần tra, canh phòng. Hai bên cãi nhau kịch liệt. Địch
bắt anh em đem cà mèn ra không cho nấu nhưng tù nhân không chịu. Thế là
lính quân cảnh được lệnh kéo đến dàn bên ngoài B8. Tên tiểu đoàn phó
tiểu đoàn 8 cùng đám giám thị và quân cảnh kéo vào trong đánh đập tù
nhân. Anh em tù bực tức đánh lại. Chúng vội vã tháo chạy rồi lệnh bên
ngoài nổ súng yểm trợ. Súng trút đạn ầm ầm như một trận đánh lớn, tầm
bắn càng ngày càng hạ thấp. Anh em tù tay không nên bị thương và chết
như ngả rạ song vẫn đánh bắt được tên giám thị trưởng Đinh Trọng Kính và
tên trung sĩ Vũ Đình Khoan, giam giữ chúng ở phòng số 6.
Một lát sau, tên trung tá chỉ huy trưởng
trại giam Bùi Bằng Dực đến đề nghị đưa người bị chết và bị thương ra
nhưng anh em tù không chịu, đòi trừng trị tên chỉ huy đã ra lệnh nổ súng
giết hại tù binh, yêu cầu từ nay chấm dứt hành động khủng bố bắn vào
trại, phải phát cá tươi và lương thực đầy đủ đồng thời phải chôn cất tù
nhân tử tế, để anh em đưa đi chôn và tổ chức lễ truy điệu. Người bị
thương phải được điều trị chu đáo… Tên chỉ huy trưởng buộc phải chấp
thuận.
Theo phiếu trình số 5889/TG. TBCSVN/PQ
đề ngày 8 tháng 5 năm 1972 của tên chỉ huy trưởng trại giam Bùi Bằng Dực
thì “cuộc nổ súng này đã giết chết 13 tù binh cộng sản, làm bị thương
56 người. Nhân viên quân cảnh đã áp dụng theo huấn thị số 1130/QP về các
tiêu lệnh điều hành trại giam nên cuộc nổ súng này là hợp lý và cần
thiết”. Nhưng theo các tù nhân trong phân khu B8 thì có khoảng 248 người
chết và bị thương. Đây là cuộc tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhà tù
Phú Quốc.
VÀ SỰ THẬT KINH HOÀNG VỀ VỤ TÀN SÁT, CHÔN SỐNG TẬP THỂ
Trong quá trình đi kiếm nhân chứng, thu
thập tư liệu cho loạt phóng sự đặc biệt này, tôi đã gặp gỡ thiếu tướng
Lê Phú Cường, cựu tù nhân Phú Quốc. Và qua câu chuyện kể của ông, sự
thật kinh hoàng về một vụ giết người hàng loạt bằng cuốc xẻng, cán búa,
dùi cui, báng súng R15… rồi chôn tập thể vào mùa mưa năm 1970 đã được hé
lộ. Tác giả của vụ thảm sát dã man ấy là tên đồ tể hạng bự khét tiếng
“thiếu tá Mã Sinh Quy”, tiểu đoàn trưởng quân cảnh số 7, sau làm chỉ huy
trưởng trại giam Biên Hoà. Chính Mã Sinh Quy đã vỗ ngực tuyên bố về
hành động dã thú của hắn trước tù binh trại giam Biên Hoà. “Chúng bay
nên nhớ Mã Sinh Quy này là chỉ huy trưởng trại giam Biên Hoà, trước đây
là lính dù Liên Hợp Pháp tại xứ Nùng Bắc Việt. Chính tao đã giết một
loạt hàng trăm thằng tù binh Phú Quốc. Tất cả chúng bay hãy liệu hồn”.
Thiếu tướng Lê Phú Cường kể: Đó là một
buổi chiều hải đảo đầy giông gió, mây đen bao phủ khắp trời. Đích thân
tên Mã Sinh Quy huy động hàng trăm trại viên quân kỷ (lính quân đội Sài
Gòn bị kỷ luật) mang xẻng, cuốc, mai ra đào một cái hộ rộng. Hắn ra
lệnh: “Tụi bay đào một hố đủ chôn 100 tù binh. Đào xong, bỏ lại toàn bộ
cuốc, xẻng, mai, cho tụi bay vô trại nghỉ”. Đám quân kỷ vừa đào vừa sợ,
vừa hoang mang. Họ không ngờ đây là hầm chôn người – chôn sống tù binh.
Trên 100 lính quân cảnh từ Tiểu đoàn quân cảnh số 7 từ khắp các đại đội kéo xuống khu vực hầm, tay lăm lăm dùi cui, cán búa, củi đòn. Chúng đi hàng năm, chộn rộn, chộn rộn. Phía trên các góc sân cỏ, hàng trăm lính gác với súng ống và lưỡi lê tuốt trần. Tất cả đứng nghiêm chờ lệnh.
Trên 100 lính quân cảnh từ Tiểu đoàn quân cảnh số 7 từ khắp các đại đội kéo xuống khu vực hầm, tay lăm lăm dùi cui, cán búa, củi đòn. Chúng đi hàng năm, chộn rộn, chộn rộn. Phía trên các góc sân cỏ, hàng trăm lính gác với súng ống và lưỡi lê tuốt trần. Tất cả đứng nghiêm chờ lệnh.
Hàng trăm tù nhân thân tàn ma dại bị lùa
ra miệng hầm. Bỗng Mã Sinh Quy hét to: “Giết”. Như một bầy sói dữ, đám
quân cảnh lao đến. Hàng trăm xẻng bổ toác đầu tù binh, hàng chục cán
búa, củi đòn nện vào ngực, bụng, lưng người tù. Óc, máu phọt toé loe.
Nửa tiếng sau, không gian chìm trong yên lặng, không còn thấy tiếng kêu
la, rên rỉ của những tù nhân. Mã Sinh Quy liền ra lệnh: “Quẳng xác chúng
nó xuống hầm. Mồ tập thể của chúng nó đấy. Mau lên”. Tụi lính quân cảnh
lại ào đến đống xác tù nằm ngổn ngang, chồng chất, xô, kéo, đẩy tù
chết, tù sống, tù hấp hối xuống hầm. Đất ào ào trút xuống như mưa, mặc
tiếng kêu cứu thất thanh của những tù nhân còn sống vọng lên từng đợt,
từng đợt.
Kể lại vụ thảm sát kinh hoàng đó, vị
thiếu tướng già giọng nghẹn lại, mắt đỏ hoe. Cố kìm nén cơn xúc động,
ông bảo: “Quá khứ đau thương cần khép lại vì hoà bình, vì quan hệ thương
mại Việt – Mỹ. Nhưng suốt 30 năm qua, chính phủ Mỹ đã yêu cầu phía Việt
Nam truy tìm lính Mỹ bị mất tích và hài cốt lính Mỹ. Còn hài cốt lính
Việt Nam? Hài cốt của mấy nghìn tù nhân Phú Quốc bị tàn sát thảm khốc
kiểu này, sao chính phủ Mỹ không hề nhắc nhở? Không nên và không đành
lòng để tình trạng mấy nghìn người tù cộng sản kiên trung mấy chục năm
qua vẫn vùi sâu xác thân nơi đầu non, lạch suối. Oan hồn của các anh em
còn phiêu diêu nơi lùm cây, bụi cỏ. Xin cho 60 hài cốt của vụ thảm sát
này được đưa về nghĩa trang liệt sĩ Dương Đông, Phú Quốc. Xin được tiếp
tục tìm kiếm 4.000 hài cốt còn bị vùi lấp trên các đồi hoang của hải đảo
Phú Quốc”.
KỲ 5: NHÀ NGOẠI CẢM PHAN THỊ BÍCH HẰNG VÀ HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM 4.000 HÀI CỐT ĐẦY NƯỚC MẮT
Trong suốt hành trình dằng dặc 17 năm
đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ khắp các rừng sâu núi thẳm, nhà ngoại cảm
Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt, đã đưa hàng ngàn hài cốt
liệt sĩ trở về với cố hương. Mỗi chuyến đi là cả một câu chuyện dài đầy
xúc động với nhiều tình tiết ly kỳ, huyền hoặc. Mỗi cuộc tìm kiếm là cả
một hành trình đầy nước mắt, mồ hôi. Song, cuộc tìm kiếm hơn 4.000 hài
cốt tù nhân cộng sản ở nhà tù Phú Quốc, với chị, (và với nhiều người
khác) có lẽ là cuộc kiếm tìm ám ảnh và xúc động nhất. Chị bảo, chị đã
gửi lại quá nhiều nước mắt và niềm xót thương ở nơi “địa ngục trần gian”
kinh hoàng ấy.
CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI LINH HỒN ĐỒNG CHÍ BẢY NI. HÉ MỞ SỰ THẬT KINH HOÀNG VỀ 4 HẦM MỘ TẬP THỂ KHỔNG LỒ
Hành trình tìm kiếm hài cốt lớn nhất
trong lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng cuộc viếng thăm của hơn một trăm cựu
tù nhân Phú Quốc. Buổi sáng hôm đó (ngày 30 tháng 4 năm 2008), tại
nghĩa trang liệt sĩ huyện đảo Phú Quốc, giữa nghi ngút khói hương, trong
sụt sùi nước mắt, các cựu tù nhân nghẹn ngào kể lại những năm tháng
kinh hoàng trong địa ngục trần gian. Những căn phòng biệt giam ngột
ngạt, những chuồng cọp rợn người, những ngón đòn tra tấn tàn độc, những
cái chết tức tưởi của hàng ngàn bạn tù… Nhiều người bật khóc oà khi chợt
nghe tiếng ai thảng thốt gọi: “Đức ơi! Trung ơi! Hoá ơi! Chúng mày có ở
đây không? Anh em trại 10, trại 12 đây…”
Đồng chí Trương Tấn Sang, uỷ viên Bộ
chính trị, Thường trực Ban bí thư trung ương Đảng, một cựu tù Phú Quốc,
nghèn nghẹn nói, mắt đỏ hoe: “Chúng ta phải gắng tìm cho được hơn 4.000
hài cốt của các anh em tù, đưa họ về đây, dù chỉ là một dúm xương tàn.
35 năm chìm khuất dưới cỏ hoang, đồi lạnh, không một nén hương tàn, anh
em chắc tủi thân lắm”.
Trong cơn chấn động của cảm xúc, một số
cựu tù nhân đã lăm lăm trong tay que thuốn bằng sắt, sẵn sàng đi kiếm
tìm đồng đội. Nhưng hỡi ôi! Đất đảo Phú Quốc rặt đá với sỏi, đâu phải
ruộng chiêm đồng trũng đất mềm mà thuốn. Nhà lao Cây Dừa với hàng trăm
dãy nhà tôn san sát, trùng trùng lớp lớp hàng rào kẽm gai “đâm nát trời
chiều” năm xưa giờ chỉ là vùng đất mênh mông gần 400 ha rậm rạp cối cây,
cỏ lau ngút ngàn, chẳng để lại một dấu vết gì. Tìm ư? Khác gì mò kim
đáy bể.
Đồng chí Nguyễn Trọng Dư, phó giám đốc
Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày ở Phú Xuyên (Hà Nội), một
cựu tù binh Phú Quốc, thành viên trong đoàn ra thăm viếng chợt nhớ đến
nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đã từng giúp gia đình ông tìm
được mộ Tổ của gia tộc ở Hải Phòng. Đứng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện
đảo Phú Quốc, ông liền bấm máy điện thoại liên lạc với Bích Hằng, ngỏ
lời cầu giúp. Bích Hằng nhận lời tiếp ông ở Hà Nội.
8h sáng ngày 5 tháng 6 năm 2008, cựu tù
binh Nguyễn Trọng Dư đã có buổi làm việc với nhà ngoại cảm Bích Hằng tại
số nhà 25 phố Thợ Nhuộm (xem ảnh). Sau khi nghe ông Dư kể về nhà lao
Cây Dừa, về cuộc sống của hơn 40.000 tù nhân cộng sản năm xưa, về chế độ
nhà tù hà khắc, tàn độc và cái chết đau đớn của hơn 4.000 chiến sĩ cộng
sản kiên trung, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vô cùng xúc động và
bất ngờ. Bất ngờ vì lẽ, trước đó, chị (và có lẽ còn nhiều người nữa) cứ
nghĩ chỉ có Côn Đảo mới có nhà tù còn Phú Quốc là “thiên đường du lịch”
với cát trắng, biển xanh, nắng vàng. Nước mắt chan chan, chị nghẹn ngào
nói: “Cháu sẽ cố gắng hết sức để giúp các chú sớm tìm lại đồng đội xưa”.
Sáng ngày 18 tháng 10 năm 2008, nhà
ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, ông Nguyễn Trọng Dư cùng một số người
trong Ban liên lạc cựu tù binh Phú Quốc đã có mặt ở “thiên đường du
lịch”. Hôm đó cũng là ngày Giáo hội phật giáo Việt Nam tổ chức đại lễ
cầu siêu cho các liệt sĩ ở đảo và Bích Hằng là khách mời. Nhưng tạm gác
lại những nghi thức của buổi đại lễ thiêng liêng ấy, Bích Hằng vội vã
đến Tượng đài Nắm Đấm với mong muốn: sớm nhận được thông tin cho cuộc
tìm kiếm hài cốt liệt sĩ mà theo chị dự cảm: sẽ lớn nhất trong lịch sử
Việt Nam. Song điều kỳ lạ là xe ô tô vừa đỗ trước cửa Tượng đài, Bích
Hằng vừa bước chân xuống thì như có một thế lực nào huyền bí, ngăn không
cho chị vào mà kéo tuốt chị đến cánh rừng rậm rạp phía trước. Chị cứ đi
như người mê sảng. Đi mãi. Cho đến khi cánh cửa sắt lừng lững với hàng
rào kẽm gai hiện ra trước mặt, chị và đoàn tìm kiếm mới dừng lại.
Đây là địa phận bí mật, chứa đựng nhiều
kho vũ khí của Hải quân vùng 5 nên nghiêm cấm mọi sự đột nhập. Ông
Nguyễn Trọng Dư liền rút điện thoại, trao đổi với Đại tá Ngô Văn Phát,
Bí thư chính uỷ vùng 5. Đã từng đọc, nghe nhiều về nhà ngoại cảm Phan
Thị Bích Hằng, thấu hiểu tâm nguyện thiêng liêng của ông Dư và đồng đội,
Đại tá Ngô Văn Phát đồng ý cho đoàn vào vùng cấm, thậm chí ông còn hồ
hởi nói: “Tôi tự nguyện làm người dẫn đường cho đoàn”. Chừng 10 phút
sau, Đại tá Phát có mặt cùng một chiến sĩ hải quân trẻ, trên tay cầm một
chùm chìa khoá lúc lỉu và chiếc búa đinh to đoành. Đại tá cười xoà:
“Các bác thông cảm. Khoá cổng này gần hai mươi năm nay không mở. Tôi sợ
khoá bị hỏng nên phải mang sẵn búa đinh theo”. Cậu hải quân trẻ sau một
hồi tìm kiếm trong mớ chìa khoá lúc lỉu, bước về phía cổng sắt, nhẹ
nhàng tra thìa. “Toạch”. Khoá bật mở. Mọi người đồng loạt ồ lên đầy kinh
ngạc. Gần 20 mươi năm dầm mưa dãi nắng trong gió mặn mòi của biển, bình
thường, chỉ một vài năm là khoá đã hoen gỉ. Vậy mà…. Một cảm giác linh
thiêng chợt ùa đến khiến mọi người trong đoàn lặng đi, rưng rưng.
“Các chú ơi! Hài cốt nhiều quá. Nằm
ngang, nằm dọc, tầng tầng lớp lớp. Toàn hầm mộ tập thể các chú ơi!”. Đi
bộ vào sâu trong rừng chừng 100 m, bất chợt, nhà ngoại cảm Bích Hằng kêu
lên thảng thốt. Cả đoàn như bừng tỉnh. Đâu đó bật lên tiếng sụt sùi.
Tìm một bãi đất trống, trải tấm ni lông, đoàn tìm kiếm bày đặt lễ vật,
thắp hương. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, chắp tay thành kính, giọng
run run. Chị khấn thần núi, thần sông, thần biển, khấn vong linh các
anh hùng liệt sĩ, những tù nhân cộng sản đã hy sinh thân mình vì dân, vì
nước. Chợt chị reo lên: “Chú Bảy Ni về. Chú ấy muốn nói chuyện với các
chú”.
Đồng chí Bảy Ni, (tức Nguyễn Văn Ni) là
Bí thư Đảng uỷ phân khu B2 đã lãnh đạo phân khu đấu tranh giành thắng
lợi trong việc đánh đuổi tên trung sĩ giám thị trưởng ra khỏi phân khu.
Chính vì chiến công này mà ông đã bị tên Bảy Nhu tra tấn, đánh đập bằng
những ngón đòn tàn độc, man rỡ. Trước khi chết, ông còn hô: “Đả đảo Mỹ –
Thiệu. Hồ Chí Minh muôn năm”.
Bích Hằng bảo: “Chú Bảy Ni xúc động lắm.
Chú ấy bảo: Ngót 40 năm rồi còn gì. Tưởng vĩnh viễn không bao giờ gặp
lại. Nay, thấy đồng đội tóc đều đã bạc, da đã mồi mà còn nhớ đến đồng
đội, còn thiết tha đi tìm đồng đội, anh em chúng tôi cảm kích lắm. Ở khu
vực này có 4 hầm mộ tập thể. Mỗi hầm sâu từ 6m đến 10 m. Hài cốt chồng
tầng tầng lớp lớp nên sau này các đồng chí khai quật, phải cố lấy cho
bằng hết. Hầm mộ thứ nhất là hầm anh em tù tự đào chôn mình. Sao lại tự
đào chôn mình? Sáng sáng, bọn địch bịt mắt anh em tù, dồn ra bìa rừng
này bắt đào. Chiều, chúng lại bịt mắt anh em dồn về. Chừng nửa tháng thì
đào xong. Thế là vào một buổi chiều đầy giông gió, chúng lùa mấy trăm
anh em tù ra đứng trước miệng hố rồi bất ngờ xả súng hàng loạt. Một trận
mưa đạn xối lên những thân tù còm cõi, xơ xác, bệnh tật. Không ai kịp
kêu một tiếng. Máu anh em tù chảy thành suối. Xác chồng lên xác. Chúng
hất cả xuống hố. Trước khi lấp đất, chúng còn đổ xuống cả chục thùng
chất độc hoá học để xác anh em bị phân huỷ nhanh. Cho nên sau này các
đồng chí mà đào bới, phải rất chú ý kẻo nhiễm chất độc. Hầm anh em đào
để tự chôn mình ấy, nằm ở bên tay trái các đồng chí, cách vị trí các
đồng chí đang đứng chừng 50 m. Phía trên có một bụi cây hoa màu trắng,
nhỏ li ti như hạt gạo.
Hầm mộ thứ 2 nằm ở bên tay phải các đồng
chí, trên ụ đất cao cao, có mấy bao tải cát, cạnh ba gốc cây thông cụt.
Đó là hầm mộ của những người bị đánh thuốc độc chết. Họ hầu hết là
những tù nhân mới, bị bắt ở Quảng Trị đưa ra. Thủ đoạn của bọn địch vô
cùng thâm độc. Mấy ngày đầu, chúng bỏ đói anh em. Khi thấy hầu hết tù
nhân lả đi vì đói, khát, chiều tối hôm ấy, chúng mời anh em một bữa ăn
thịnh soạn. Thế là, mọi người nhồm nhoàm bốc ăn như ma đói. Chẳng ai
biết thức ăn đã bị địch chộn thuốc độc. Chừng 15 phút sau, tất cả mọi
người lăn đùng ra chết, máu mồm, máu mũi ộc ra lênh láng khắp phòng. Chỉ
chờ vậy, địch vội vàng xúc xác tù nhân lên xe, trở thẳng ra bìa rừng
hắt xuống hố. Vì trời tối nên chúng lấp đất nhuếnh nhoáng. Ai dè, đêm đó
trời đổ mưa. Một số tù nhân, có thể vì ăn ít, nên tỉnh lại. Thế là họ
đội đất lồm cồm bò lên miệng hố. Vừa bò, vừa kên, rên. Tiếng kêu lọt vào
phòng đám quân cảnh. Ngay tức khắc, đám quân cảnh túa ra. Tay xẻng, tay
báng súng, chúng cứ nhằm đầu tù nhân mà bổ, mà chém như chém sọ dừa. Óc
tù nhân phọt ra lênh láng. Vẫn chưa yên tâm. Lũ quỷ đội lốt người ấy
dùng máy vần những tảng đá nặng đến cả tấn lấp lên người đám tù nhân.
Anh em khi khai quật hầm mộ này, cố gắng đưa bằng được những phiến đá ấy
lên. Dưới đó, xương anh em tù tầng tầng, lớp lớp.
Tìm được hầm mộ này, các đồng chí mở
rộng ra hai bên. Đó là hầm mộ số 3 và số 4. Hai hầm mộ này, địch chôn lẻ
tẻ làm nhiều đợt. Cứ một lớp xác tù nhân, một lớp đất, lại một lớp xác
tù nhân. Đó hầu hết là những anh em tù bị địch tra tấn, đày đoạ đến
chết. Người bị đổ nước xà phòng đun sôi vào miệng, người bị luộc trong
chảo nước sôi, người bị đóng cả chục chiếc đinh 10 phân vào đầu, vào
xương sống… Có quá nhiều cái chết thương tâm. Đào bới lên, lại một lần
nữa thêm đau lòng các đồng chí ạ!”.
SỰ LINH ỨNG KỲ LẠ
Cuộc trò chuyện giữa vong linh của đồng
chí Bảy Ni và đoàn tìm kiếm hài cốt kéo dài chừng một tiếng đồng hồ với
nhiều chi tiết vô cùng xúc động và ám ảnh. Cuộc nói chuyện vừa kết thúc,
Bích Hằng đã phăm phăm vạch cây rừng chạy lên trên đồi, nơi vong linh
đồng chí Bảy Ni vừa chỉ dẫn có hầm mộ số 2. Thấy vậy, trung tá Nguyễn
Văn Ca, đội phó đội K92 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kiên Giang), hét to:
“Bích Hằng. Dừng lại. Ở đây nhiều rắn độc lắm”. Kệ! Bích Hằng cứ phăm
phăm chạy. Mọi người ùa theo. Chạy chừng 50 m, cả đoàn đứng sững lại.
Cạnh ụ đất trên có mấy bao tải cát, có 3 gốc cây thông mục nằm theo thế
chân kiềng. Tín hiệu mà vong linh đồng chí Bảy Ni cho hoàn toàn chính
xác. Vừa đúng lúc đó, bật lên tiếng reo vui của ông Nguyễn Trọng Dư:
“Bích Hằng ơi! Đây rồi. Khóm hoa trắng nhỏ li ti như hạt gạo đây rồi”.
Nói đoạn, ông vội bưng mặt khóc tu tu. Cả đoàn cứ đứng lặng đi vì xúc
động.
Buổi chiều hôm ấy, cả đoàn kéo đến Tượng
đài (nghĩa trang) Nắm Đấm (Hình quả đấm to và cao như toà nhà ba tầng
nện lên nền trời xanh vòi vọi. Đây có lẽ là quả đấm lớn nhất thế giới)
thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ. Chính tại nơi đây, vài năm trước, khi
đào móng khởi công tượng đài này, người ta đã vô tình bới được hàng
trăm bộ hài cốt. Có bộ xương được “đóng” tới… 16 cái đinh mười (đinh to
như ngón tay), có bộ được chằng trói bằng dây thừng, dây nhựa dẻo rất
tàn độc. Hàng trăm chiếc đinh tra tấn người tù được nhặt ra khỏi các mớ
xương, trung tá Nguyễn Văn Cao, đội phó đội K92 đem giao nộp cho cán bộ
văn hóa địa phương để trưng bày tại Bảo tàng, ai trông thấy cũng lạnh
sống lưng.
Đang thắp hương lầm rầm khấn vái, chợt
Bích Hằng ngưng bặt. Mắt chị hướng về phía bãi cây vòi voi, to như cây
mía, mọc lúp xúp bên phía tay phải, ngoài hàng rào nghĩa trang. Chị nhìn
thấy một đám tù nhân ăn mặc rách rưới, gầy trơ xương đang đứng vẫy gọi
chị. Chị bảo trung tá Cao: “Ở kia có nhiều hài cốt liệt sĩ đấy anh ạ.
Ngày mai là ngày phụ nữ Việt Nam 20 tháng 10. Ngày này năm ngoái, em đã
tìm được mộ cụ Nguyễn Đức Cảnh – một vị tiền bối cách mạng, một trong 7
đồng chí thành lập chi bộ Đảng đầu tiên và nhận trọng trách Bí thư xứ ủy
Bắc kỳ. Em muốn chào mừng ngày phụ nữ năm nay bằng cuộc tìm kiếm hài
cốt liệt sĩ ở đây. Ngày mai anh cho anh em đội K.92 đào trước ở chỗ bãi
cây vòi voi kia nhé”.
Quả đúng như sự chỉ dẫn của nhà ngoại
cảm Phan Thị Bích Hằng, sáng hôm sau, đội K.92 đã tìm được 30 hài cốt,
trong đó, có hai hài cốt vẫn bị trói trặt với nhau bằng sợi dây dù. Niềm
tim về một thế giới thiêng liêng, huyền bí trong anh em đội K.92 được
củng cố, để rồi bắt đầu bước vào cuộc hành trình tìm kiếm hơn 4.000 hài
cốt liệt sĩ lớn nhất, xúc động nhất trong lịch sử Việt Nam.
KỲ 6: VỪA NHẶT XƯƠNG NGƯỜI VỪA KHÓC
Chúng tôi có mặt tại Phú Quốc vào đúng
giai đoạn cao điểm của cuộc khai quật, tìm kiếm những hầm mộ liệt sĩ lớn
nhất trong lịch sử. Hai chiếc máy xúc khổng lồ ầm ào bạt đồi, đào bới
suốt ngày đêm khiến vạt rừng nguyên sinh bao năm thâm u, nay ồn ã như
một đại công trường. Trung tá Nguyễn Văn Cao, đội phó đội K.92, tỉnh
Kiên Giang, khuôn mặt gầy guộc lấm lem bụi đất nói với tôi mà như gào to
giữa tiếng động cơ ầm ầm: “Chưa bao giờ đội K.92 phải huy động nhiều
máy móc như thế này. Vì hài cốt nằm chồng chất tầng tầng lớp lớp dưới
lòng đất sâu đến 6 – 9 m, bên trên lại toàn đất đá sỏi nên cuốc xẻng
không thể làm gì được. Trước khi bắt tay vào cuộc hành trình khai quật,
một Ban tìm kiếm được thành lập gồm 40 đồng chí lão luyện, tinh thông
nghề nghiệp nhất của đội K.92 do đích thân ông Phó chủ tịch tỉnh Kiên
Giang làm trưởng ban. Đội ngũ này đã từng lập nên kỳ tích: tìm kiếm được
1.202 hài cốt bộ đội tình nguyện Việt Nam tại chiến trường Cam-Pu-Chia
một thời khói lửa. Chưa bao giờ Ban tìm kiếm phải họp bàn kỹ lưỡng như
đợt này. Mất cả tháng trời khảo sát hiện trường, dò gỡ bom mìn, phát
quang rừng rậm, xẻ bạt đồi núi. Hàng ngàn mét vuông rừng già và cây dại
đã được dọn sạch một cách bất đắc dĩ”.
“Dừng lại! Dưới chân máy là 5 bộ hài
cốt”. Tiếng nhà ngoại cảm Vũ Thị Minh Nghĩa gào to cắt đứt cuộc trò
chuyện giữa tôi và trung tá Nguyễn Văn Cao. Các chiến sĩ trẻ đội K.92
túc trực trên miệng hầm vội nhảy ào xuống hầm mộ sâu đến 5 m, rộng hơn
100 m2. Tay cuốc, tay xẻng, họ nhẹ nhàng đào bới, và nước mắt rưng rưng
khi đếm đủ 5 bộ xương người. Suốt mấy tháng nay, nhà ngoại cảm Vũ Thị
Minh Nghĩa đã lăn lộn cùng anh em đội K.92. Kinh nghiệm của mấy mươi năm
vượt núi, băng sông, một mình mò mẫm trong những cánh rừng thâm u để
tìm kiếm được hơn 5.000 hài cốt liệt sĩ cộng với “linh cảm” đặc biệt mà
hồn thiêng sông núi, liệt tổ liên tông đã hun đúc cho chị nên sự có mặt,
góp sức của chị trong cuộc khai quật, tìm kiếm này vô cùng giá trị. Ở
hầm mộ thứ nhất, chị và anh em đội K.92 đã tìm được 513 hài cốt. Hầm mộ
thứ 2: 508 hài cốt. Hầm mộ thứ 3: 118 hài cốt. Hầm mộ thứ 4: 80 hài cốt.
Chỉ trong vòng 6 tháng, chị và đội K.92 đã tìm và cất bốc được
hơn…1.000 hài cốt liệt sĩ – một “kỳ tích” khiến nhiều người chả biết nên
buồn hay vui, muốn xót xa cùng các liệt sỹ hay chúc mừng “thành công”
của đội K92 nữa. Có điều, để lập nên “kỳ tích” ấy, chị và các chiến sĩ
đội K.92 đã phải làm việc quần quật từ sáng sớm đến chiều muộn. Khi
những chiếc máy xúc “ngoạm” những gầu đất sỏi cuối cùng, chạm đến tầng
xương cốt, cũng là lúc công việc của chị và đội K.92 bắt đầu. Tất cả mọi
động tác phải hết sức nhẹ nhàng bởi lẫn vào từng thớ đất, từng nắm sỏi
cát kia là những mẩu xương người. Mắt phải căng lên để nhặt xương cho
kỹ, nhặt cả những thớ đất nâu mờ mờ hoa thổ. Kinh nghiệm mấy mươi năm
đào bới hài cốt mách bảo chị rằng: đó là thịt xương của các chiến sĩ bị
phân huỷ sau mấy chục năm đằng đẵng vùi sâu dưới lòng đất lạnh. Cho nên
phải nhặt cho hết bởi để xót mẩu xương nào là có tội với tiền nhân, có
tội với những anh hùng quên thân mình vì nghĩa lớn.
Mặc cho cái nắng chang chang vùng biển
dội lửa xuống hầm nóng hầm hập, mặc cho sỏi đá cào rách tay, thậm chí,
cả chất độc hoá học mà địch đổ xuống nhằm huỷ thân xác các tù nhân cộng
sản ăn nứt bàn tay nhức buốt, da thịt sần sùi, tấy đỏ như miếng cháy của
nồi cơm quá lửa, chị và các chiến sĩ đội K.92 vẫn miệt mài đào bới,
nhặt nhạnh. Đi găng tay chống độc ư? Hàng ngàn đôi đã được nhân dân cả
nước đóng thùng gửi ra cho các anh, các chị. Nhưng đi găng vào việc lần
tìm từng mẩu xương trong đất đá sẽ rất khó vì không thật tay. Hàng thúng
hương trầm nghi ngút khói thắp khắp trên miệng hố mà sao mùi hôi nồng
tử khí vẫn nồng nặc khiến một vài chiến sĩ trẻ phải nhao khỏi miệng hố,
chạy vào góc rừng nôn thốc nôn tháo. Ai cũng gầy rộc đi. Có người còn bị
sốt sình sịch. Nhưng không ai bỏ cuộc. Cứ cắt cơn sốt là lại nhảy xuống
hầm đào.
Giơ bàn tay sưng tấy, mưng đỏ vì bị
nhiễm chất độc hoá học lên gạt nước mắt, chị Năm Nghĩa vừa khóc, vừa kể:
“Đau lòng lắm em ạ. Mười mấy năm đi tìm hài cốt liệt sĩ, bàn tay chị đã
cất bốc hàng nghìn nấm mộ nhưng chưa ở đâu, và chưa bao giờ, hài cốt
lại nhiều như ở đây. Tầng tầng lớp lớp. Ở hầm mộ thứ nhất, khi đào đến
tầng xương thứ 6, chị bỗng khóc ầm lên khi thấy đầu của các anh ấy một
bên, xương cốt một bên. Hỏi chuyện các anh, mới biết: sau khi địch tra
tấn các anh đến chết, chúng lôi xác ra miếng hố, dùng xẻng chặt đứt đầu
rồi lăng xuống. Có hộp sọ còn dính lểu bểu 2 cây đinh mười cắm phập. Ở
hầm mộ thứ hai, sau khi nhặt hết lớp xương thứ 3, thì chạm vào lớp đá
tảng. Các cháu ở đội K.92 bảo hết rồi. Nhưng chị bảo: Bên dưới vẫn còn
xương. Nhưng đá to quá, nặng cả tấn. Sức người không thể kéo được nên
phải dùng máy cẩu. Nhìn những tảng đá sừng sững lôi lên khỏi hầm hài
cốt, ai cũng lạnh sống lưng. Nó to ngần ấy, nặng ngần ấy, nện lên thi
thể gầy guộc, tong teo của các tù nhân thì nát bấy như người ta giã giò
còn gì hả em. (xem ảnh). Tàn độc hơn, chúng còn đổ cả chất độc hoá học
xuống hầm nhằm huỷ hoại thân xác tù nhân. Cho nên, khi đào bới, nhiều
hộp sọ hay đốt xương của các anh còn nguyên. Nhưng khi vừa đụng tay vào
là vỡ vụn như cám. Đúng là bọn địch tàn độc hơn cả quỷ sứ. Chúng giết
các anh đến mấy lần. Chúng định huỷ hoại vĩnh viễn thân xác các anh để
hậu thế mãi mãi không bao giờ tìm thấy, tội ác tày giời của chúng vĩnh
viễn chìm lấp trong bóng tối. Nhưng không, chính linh hồn các anh đã
mách bảo, chỉ dẫn cho chúng ta tìm thấy”.
Trung tá Nguyễn Văn Cao dẫn tôi đi dọc
những triền đất đỏ vừa đào bới hàng ngàn hài cốt, anh kể về những ám ảnh
rùng rợn mà có lẽ suốt đời anh chẳng thể nào quên: “Có bộ xương được
“đóng” tới 16 cái đinh mười (đinh to như ngón tay), có bộ được chằng
trói bằng dây thừng, dây nhựa dẻo rất tàn độc. Gần 300 chiếc đinh được
nhặt ra khỏi các xương sống, sương ống chân, ống tay, xương sọ…, khi đem
giao nộp cho cán bộ văn hóa địa phương để “trưng bày”, anh em phải đựng
trong chiếc thúng to đoành, oằn lưng khiêng, ai trông thấy cũng bật
khóc. Có người chửi thề chí mạng vì căm phẫn. Có lẽ, bức ảnh về cái
xương sọ người bị cắm đinh trong Nhà trưng bày tội ác ở Nhà tù Phú Quốc
lâu nay, cũng sẽ phải… gỡ xuống để thúng đinh từng cắm vào sọ hàng trăm
chiến sỹ cách mạng mới được khai quật vào “thế chỗ” thì nó mới xứng tầm.
Nhiều đêm, tôi cứ lẩn thẩn nghĩ, không biết chúng nó đóng thế nào mà
đinh cắm ngần ấy chiếc vào một thi thể được nhỉ? Đinh cắm vào thịt thì
nó sẽ tự rụng ra khi cơ thể người tù bị phân hủy, thế thật ra là bao
nhiêu cái đinh tất cả được cắm vào thi thể người tù bị đóng nhiều đinh
nhất khi chưa đem “quẳng xác” ngoài bìa rừng?”.
Hơn hài ngàn hài cốt được tìm thấy trong
tổng số 4.000 người đã bỏ mạng ở địa ngục trần gian này, chỉ duy nhất
anh Nguyễn Văn Khai (người Thanh Hóa) là có tên. Theo các cựu tù Phú
Quốc, khi mà tù binh bị giết chết nhiều quá, lại sợ du kích tấn công bất
ngờ, bọn cai ngục bèn bắt bạn tù của anh Khai đem đồng đội đi chôn, và
một người bạn tù đã nhanh tay ghi tên Nguyễn Văn Khai rồi nhét vào túi
ni lông dán kín lại. Hôm thắp hương cho các liệt sĩ ở tượng đài Nắm Đấm,
tôi đã không thể kìm được những tiếng nấc nghẹn khi nhìn bàn tay gầy
guộc, chai sần của anh Cao, chị Năm Nghĩa lần giở từng gói hài cốt được
bó chặt như bó giò xếp trong những chiếc hòm gỗ lớn, đánh số chi chít.
Khi còn sống, các anh đều có tên, có tuổi. Giờ nằm đây, tất cả đều vô
danh, ai cũng là ai, ai cũng là người cộng sản chân chính đã sống đến
giọt sống cuối cùng vì quê hương. Nhìn ra ngoài trời, mưa giăng trắng
xoá. Ngẫm về kiếp người sao cứ thấy nghèn nghẹn, mênh mang. Nhưng dẫu
sao, họ vẫn may mắn hơn hàng nghìn người còn vùi thân xác đâu đó dưới
lòng đất lạnh, dưới những tán rừng sâu, da thịt, xương cốt họ chỉ còn là
một vệt mờ mờ hoa thổ. Quá nhiều nhân chứng (kể cả báo cáo của Sở
LĐTBXH Kiên Giang mới đây) đều chính thức nói về việc máy bay của bọn
cai ngục đã chở những tù nhân đau ốm đi chữa bệnh rồi vĩnh viễn không
bao giờ trở lại. Bởi những người tù xấu số ấy đã bị ném xuống đáy biển
Vịnh Thái Lan làm mồi cho cá dữ. Cái việc họ trở về là bất khả.
Trong suốt cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt tù nhân cộng sản ở Phú Quốc, 3 đại lễ cầu siêu đã được Giáo hội phật giáo Việt Nam tổ chức trọng thể và xúc động. Hàng trăm lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước, của các tỉnh, thành phố, hàng ngàn cựu tù binh và nhân dân cả nước đã đổ về Phú Quốc với niềm xúc động và xót thương vô hạn. Các chuyến bay, các chuyến tàu ra đảo đều chạy hết công suất vẫn không trở hết dòng người nườm nượp đổ ra đảo. Chuyến nào cũng đông nghẹt. Điều kỳ lạ là cả ba lần làm lễ cầu siêu, cả ba lần trời đang nắng chang chang bỗng đổ mưa sầm sập. Mưa như trút nước, mưa như khóc than. Song không một ai trong số hàng ngàn người thành kính chắp tay nguyện cầu ấy che ô, che mũ. Họ vẫn đứng nghiêm trang, trong mưa, trước nỗi đau và niềm xót thương còn lớn hơn giông gió. Ai cũng thấu hiểu đến tận cùng nỗi đau thương, mất mát mà những người tù cộng sản kiên trung phải gánh chịu. Giờ, đội mưa, đội nắng một chút, đâu có thấm tháp gì.
Trong suốt cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt tù nhân cộng sản ở Phú Quốc, 3 đại lễ cầu siêu đã được Giáo hội phật giáo Việt Nam tổ chức trọng thể và xúc động. Hàng trăm lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước, của các tỉnh, thành phố, hàng ngàn cựu tù binh và nhân dân cả nước đã đổ về Phú Quốc với niềm xúc động và xót thương vô hạn. Các chuyến bay, các chuyến tàu ra đảo đều chạy hết công suất vẫn không trở hết dòng người nườm nượp đổ ra đảo. Chuyến nào cũng đông nghẹt. Điều kỳ lạ là cả ba lần làm lễ cầu siêu, cả ba lần trời đang nắng chang chang bỗng đổ mưa sầm sập. Mưa như trút nước, mưa như khóc than. Song không một ai trong số hàng ngàn người thành kính chắp tay nguyện cầu ấy che ô, che mũ. Họ vẫn đứng nghiêm trang, trong mưa, trước nỗi đau và niềm xót thương còn lớn hơn giông gió. Ai cũng thấu hiểu đến tận cùng nỗi đau thương, mất mát mà những người tù cộng sản kiên trung phải gánh chịu. Giờ, đội mưa, đội nắng một chút, đâu có thấm tháp gì.
Tôi đã thắt lòng khi chứng kiến những
chiếc tàu gỗ hối hả trở hàng ngàn chiếc tiểu sành từ đất liền ra đảo.
Cái cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền, hối hả khiêng vác những chiếc
tiểu sành kia sao mà xúc động, xót xa đến thế. Lúc đầu, Sở lao động
thương binh xã hội tỉnh Kiên Giang mua hàng trăm chiếc tiểu chở ra đảo.
Cứ nghĩ số quan quách ấy là đủ. Nhưng số lượng hài cốt tìm thấy cứ tăng
vọt hàng ngày nên Sở phải huy động khắp tỉnh, xuống cả tận Đồng Tháp
Mười để thu mua rồi thuê tàu trở vượt 200 km đường biển ra đảo. Chuyện
thu mua tiểu quách với số lượng khổng lồ này cũng là một “kỷ lục” rơi
nước mắt ở nơi từng là “địa ngục trần gian” Phú Quốc.
Anh Cao bảo: “Ngót nửa năm giời sống ở
rừng thâm u, hoang vắng tột độ này với bạt ngàn bom đạn ém lại từ thời
cũ, đôi lúc nhìn rừng mà chính anh em trong đội K92 còn thoáng so mình
chợn rợn. Nhưng nghĩ đến những người còn vùi xác thân giữa hoang lạnh
mịt mù, lại thấy lòng mình nức nở. Vợ tôi nằm viện mấy tháng nay, phải
nhờ người trông. Tôi bám trụ ngoài “chiến trường” này, vì cảm thấy trách
nhiệm của mình quá lớn. Cả núi xương của những người cộng sản quả cảm
đang chờ được bàn tay ấm nóng của người Việt hôm nay cất bốc. Cái vất vả
của chúng tôi, có thấm tháp gì so với địa ngục trần gian kinh hoàng mà
hơn 40.000 người cộng sản đã bị đày đoạ, có thấm gì so với những cái
chết đau đớn, tức tưởi của hơn 4.000 người đã ngã xuống kia?”. Giọng anh
Cao run rẩy, da diết.
Những ngày ở Phú Quốc, tôi đã tận mắt
chứng kiến cảnh ăn ở, sinh hoạt của anh và các chiến sĩ đội K.92. Trong
căn nhà quản trang bé tẹo nằm gần tượng đài Nắm Đấm, chục anh em mắc
võng vào các song cửa, các cột kèo làm giường giã chiến. Những bữa cơm
đạm bạc chỉ rau với cá biển mà cái đầu thực dụng của kẻ phố thị như tôi
nhẩm tính, giá trị chỉ chừng vài chục nghìn đồng. Chợ búa xa xôi, tiền
bồi dưỡng chỉ vỏn vẹn 40.000 đồng/ngày nên ăn uống phải dè xẻn. Thậm chí
dè xẻn với cả nước uống. Đi bộ lóc cóc vài cây số, xin được mấy can
nước mưa, nên phải dùng tặn tiền. Vợ ốm, con đau trong đất liền, lòng
thì thương đứt ruột nhưng cũng chỉ điện dăm ba phút động viện gọi là.
Những ngày ở Phú Quốc, tôi cũng đã nhiều lần tận mắt chứng kiến cảnh mấy
anh lính trẻ, người sốt sình sịch vẫn cứ nhao ra nắng lửa, với chai
nước sôi để nguội giắt ở lưng, kiên nhẫn, tỉ mẫn đào bới, lấn mãi vào
các cánh rừng bom đạn cũ, lấn mãi vào lòng đất sâu rười rượi đỏ, nơi vùi
lấp hàng nghìn bộ di cốt tủi hờn câm lặng. Tôi chợt ngộ ra rằng: họ tận
tuỵ, cần mẫn tìm kiếm hài cốt, không chỉ vì nhiệm vụ của một người lính
mà cao hơn, họ đang xả thân vì một nghĩa cử, một món nợ ân tình mà lẽ
ra chúng ta phải làm, phải trả từ lâu.
KỲ 7: LẦN THỨ 3 RA ĐẢO: BÍCH HẰNG, NẤM MỒ CHÔN SỐNG TẬP THỂ VÀ NHỮNG LINH HỒN SIÊU THOÁT
Thế là, mặc cho cái nắng nung người giữa
trưa miền biển, cuộc trò chuyện giữa những người một thời bị giam cầm,
tù đày ở nơi địa ngục trần gian kinh hoàng ấy, nay kẻ còn, người mất,
người dương thế, kẻ cõi âm, diễn ra vô cùng xúc động. Nhiều lúc, cuộc
nói chuyện bị ngắt quãng bởi những tiếng khóc nấc tắc nghẹn của nhà
ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng.
SẼ LÀ CUỘC KIẾM TÌM MÃI MÃI?
Hành trình nhọc nhằn tìm kiếm 4.000 hài
cốt ở địa ngục trần gian có lẽ sẽ là cuộc kiếm tìm dằng dặc, mãi mãi.
Bởi trong tổng số 4.000 tù nhân bị giết hại tàn độc, dã man ấy, có hàng
trăm người tù bị địch hốt lên trực thăng đổ ra vịnh Thái Lan. Thịt xương
họ hoặc đã làm mồi cho cá dữ hoặc đã vĩnh viễn tan tành dưới đáy sâu
biển cả. Có hàng ngàn tù nhân cộng sản kiên trung bị địch bí mật đem đi
thủ tiêu, xác thân bị ném ngoài bìa rừng cho thú dữ ăn thịt hoặc vùi lấp
đâu đó trong rừng sâu đại ngàn. Có hơn 400 người sau khi vượt ngục bằng
nhiều cách: bò rào, vượt rào, cướp súng quân cảnh, đào hầm sâu dưới
lòng đất…, thì chỉ có 239 người về đến đích, còn lại gần 200 người hoặc
bị địch truy lùng bắn chết, hoặc xác thân gửi lại nơi rừng thẳm mịt mùng
vì kiệt sức, vì đói khát, vì sốt rét ác tính…
Lịch sử tồn tại hai mươi năm thấm đẫm
máu thương đau của “địa ngục trần gian” ấy đã ghi lại 42 cuộc vượt ngục
thành công của mấy trăm tù nhân không ngừng quẫy cựa với khát vọng sổ
lồng tung cánh với 16 vụ vượt rào, 14 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân
cảnh, 4 lần đào hầm… Lịch sử nhà tù Phú Quốc cũng ghi lại những trang
buốt lòng trước nhiều cuộc vượt ngục bất thành với bao cảnh đầu rơi, máu
chảy. Điển hình là vụ cướp súng quân cảnh của 42 tù nhân do Tư lỳ, vốn
là một đại uý trinh sát chủ lực, từng là võ sư nhất đẳng huyền đai, cầm
đầu. Vào một ngày mưa dầm gió bấc, tên giám thị kêu Tư lỳ và 41 tù nhân
khác vào rừng bẻ củi, đi theo là 42 tên quân cảnh súng ống lăm lăm trong
tay. Buổi chiều, khi trở về cách trại chừng 3 km, thấy anh em tù nhân
đã áp sát đội hình địch, một người – như đã tập luyện và phân công
trước, lăn đùng ra đất, chân tay giật giật như bị trúng gió. Cả hàng
quân cảnh đột ngột dừng lại, một tên hạ súng bước lại phía người bị nạn.
“Sát”. Tiếng Tư lỳ hét to. Nhanh như cắt, theo một thế võ tước súng đã
được tập luyện bí mật trong tù từ lâu, 42 tù nhân quăng bó củi nhào tới
tên lính đứng gần mình. Chỉ trong nháy mắt, 42 tên quân cảnh đã bị tước
vũ khí. Thằng ngã dúi, thằng đứng ngây, mồm há hốc như chết đứng, thằng
bỏ chạy thục mạng… Lệnh không được bắn vì còn đó hàng trăm, hàng ngàn
anh em tù nhân đang bi giam hãm sẽ phải trả giá tàn khốc. Theo phương án
đã vạch sẵn, từng tốp nhanh chóng tản vào rừng rậm. Đúng lúc ấy, máy
bay trực thăng ầm ào xuất hiện, lính quân cảnh từ mọi hướng túa ra. 42
người tù là 42 thực thể xa lạ, đâu có thông thạo địa hình, đường xá nên
cứ nhắm hướng rừng mà chạy. Bọn địch đã đoán biết được điều này nên trên
trời trực thăng thả rốc két, dưới đất lính dàn hàng ngang càn từng
khoảnh rừng. Anh em trong tù thỉnh thoảng lại thấy vang lên một tràng
đạn khoái trá. Để rồi, một tuần sau, 37 người tù vượt ngục bị bắn nát
bấy, xác địch vứt lại trong rừng. Chỉ duy nhất 5 người may mắn chạy
thoát về căn cứ cách mạng Dương Tơ.
Một câu chuyện về cái chết tang thương
nữa. Đó là chuyện cả một tổ đào hầm 27 người của trại giam sĩ quan đã bị
địch lấp cửa hầm chôn sống. Chỉ khác, con đường hầm tang tóc đó không
đào về phía ngoài hàng rào kẽm gai mà thọc thẳng vào kho vũ khí của Bộ
chỉ huy quân cảnh. Bởi Tổ chức Đảng ở trại giam này quyết định cướp kho
vũ khí gồm hàng ngàn súng đạn các loại để trang bị cho tù binh đồng loạt
nổi dậy tự giải phóng toàn bộ nhà tù nếu thời cơ cho phép. Nhưng than
ôi! Lòng hầm mới nhích về phía kho chừng vài chục mét thì bị địch phát
hiện, phát hiện đúng lúc cả ê kíp còn đang trong hầm. Thế là, trước khi
chôn sống, tên chỉ huy Ban điều hành cho tập hợp toàn bộ tù binh lại.
Hắn cười lạnh tanh: “Mấy thằng không muốn sống yên ổn trên mặt đất mà
lại thích chui nhủi như chuột thì ta cho chui nhủi luôn”. Nói đoạn, hắn
hô lính lấp kín cửa hầm lại. Hàng trăm người tù hôm đó, nhỡn tiền chứng
kiến cái chết tức tưởi của đồng đội mà không thể làm gì được, đành cúi
đầu mặc lệ tuôn rơi làm một phút mặc niệm trước nấm mồ chôn chung. Nấm
mồ ấy bây giờ ở đâu giữa ngút ngàn cỏ cây hoang mạc?
Chị Năm Nghĩa sụt sùi bảo: “Khó lắm em
ạ. Việc chôn lấp các thi thể tù nhân hồi cũ là một cách chôn rất tàn
độc. Hoặc là địch đào sâu tít xuống lòng đất, hất xác xuống rồi lấp đá
tảng và rải chất độc hoá học. Hoặc kẻ địch chỉ ném xác họ ra bãi đất rồi
quên hẳn, nên hành trình tìm kiếm rất mịt mù. Thêm nữa, địa chỉ, danh
tính của các bộ cốt hầu như không bao giờ có (Điều này khác hẳn với cốt
của quân tình nguyện ở Cam-pu-chia, bên đó mộ thường có địa chỉ rõ ràng,
vật dụng chôn theo chu đáo, vì là đồng đội chôn nhau). Cách chôn tạm bợ
đó đã dẫn đến hậu quả là các bộ xương bị phân hủy rất nhanh, rễ cây cứ
nhè chỗ có chất… “đạm” mà ăn vào, ăn đến độ không còn dấu tích của người
nằm xuống. Hôm trước, đang khai quật hài cốt ở hầm số 5, thấy các anh
em ở Đội K.92 bảo: trên chỉ đạo phải tạm lấp đất dừng lại vì nghĩa trang
liệt sĩ Phú Quốc đã hết chỗ quy tập, (chỉ trong vòng chưa đầy 3 tháng
đã tăng thêm 2.000 ngôi mộ liệt sĩ vô danh), chị đã khóc ầm lên. Bao
nhiêu năm vùi sâu dưới lòng đất lạnh, cỏ hoang, không một nén hương tàn,
chắc hẳn các bác ấy cô đơn lắm. Giờ tìm thấy rồi mà lại phải vùi đất
lấp đi, chị không đành lòng. Đành thắp một nén nhang tạ tội với những
người đã khuất”.
NẤM MỘ CHÔN SỐNG TẬP THỂ VÀ NHỮNG LINH HỒN BẤT TỬ
Có một câu chuyện về nấm mồ chôn sống
tập thể mà cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhắc đến, tôi, nhà ngoại cảm
Bích Hằng và những người trong đoàn tìm kiếm hôm ấy vẫn không thể kìm
được những giọt nước mắt. Đó là ngày 27 tháng 7 năm 2009, đoàn chúng tôi
ra Phú Quốc dự đại lễ cầu siêu lần thứ 3 cho các liệt sĩ. Tối hôm
trước, cựu tù binh Nguyễn Văn Dư sực nhớ đến vụ thảm sát kinh hoàng mà
tên Mã Sinh Quy đã chôn sống 100 tù nhân vào mùa mưa năm 1970. Nhiều cựu
tù nhân khác vẫn còn nhớ. Song nấm mồ tập thể ấy ở đâu thì không ai
biết. Ông Dư bèn nhờ Bích Hằng.
Đêm đó, tại một khách sạn ở Phú Quốc,
Bích Hằng đã thắp hương khẩn cầu các linh hồn liệt sĩ về chỉ dẫn. Thông
tin mà chị nhận được là: mộ nằm trên đồi 46, dưới một cây ổi có nhiều
hoa vàng, cạnh một lạch nước, cách 3 gốc cây cụt đã mục ruỗng chừng 200
m. Thế là trưa ngày 27 tháng 7, sau khi dự buổi đại lễ cầu siêu, nhà
ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cùng đoàn tìm kiếm tìm đường lên đồi 46.
Đó là một quả đồi rộng rợp bóng điều, nằm gần kề biển. Đoàn tìm kiếm bày đặt lễ vật lên một bãi cát trắng để nhà ngoại cảm Bích Hằng thắp hương thỉnh cầu các liệt sĩ lần nữa. Thông tin chị nhận được vẫn trùng khớp với đêm trước. Các liệt sĩ chỉ dẫn thêm: Cây ổi có hàng trăm quả nhỏ xíu, duy nhất có một quả to bằng nắm đấm, nằm là mặt đất, trên một mảnh sành trắng.
Đó là một quả đồi rộng rợp bóng điều, nằm gần kề biển. Đoàn tìm kiếm bày đặt lễ vật lên một bãi cát trắng để nhà ngoại cảm Bích Hằng thắp hương thỉnh cầu các liệt sĩ lần nữa. Thông tin chị nhận được vẫn trùng khớp với đêm trước. Các liệt sĩ chỉ dẫn thêm: Cây ổi có hàng trăm quả nhỏ xíu, duy nhất có một quả to bằng nắm đấm, nằm là mặt đất, trên một mảnh sành trắng.
Cả đoàn 20 người túa đi tìm. Trời nắng
chang chang. Đồi 46 mênh mông, ngờm ngợp. Chẳng tìm thấy dấu hiệu gì.
Mệt. Cả đoàn ngồi nghỉ. Đúng lúc đó, một đứa trẻ chăn trâu da đen nhẻm
bước lại bảo: “Cháu biết chỗ có cây ổi, gốc cây mục và lạch nước. Các
bác đi theo cháu”. Cả đoàn sướng rơn như người bộ hành trên sa mạc đang
trong cơn khát cháy chợt gặp nguồn suối mát.
Len lỏi dưới những tán điều, vượt qua
nhiều đèo dốc, đến lúc mệt bở hơi tai thì cả đoàn dừng lại trước một bãi
đất trống cỏ mọc xanh um. Nhìn theo hướng tay chỉ của đứa trẻ mục đồng,
cả đoàn sững người. Ba gốc cây mục, cây ổi chi chít hoa vàng, lạch nước
riu riu chảy. Tất cả hiển hiện giữa thanh thiên, trước mấy chục con mắt
vừa rưng rưng xúc động, vừa ngạc nhiên. Ông Sơn, Bí thư huyện đảo Phú
Quốc chạy ào đến cây ổi cao chừng hơn một mét, đang trổ hoa vàng, quả
nhỏ như viên bi. Ông nhìn ngang nhìn ngửa, vén lá vạch cành săm soi tìm
kiếm. Chợt ông hét toáng lên: “Đây rồi. Quả ổi đây rồi”. Mấy chục đôi
chân bay vèo trên cát, líu ríu vây quanh cây ổi. Là là bụi cỏ, sát sạt
mảnh bát vỡ màu trắng, ngay đầu cành ổi khẳng khiu như chiếc đũa là quả
ổi to bằng nắm tay vàng ươm. Có người dụi dụi mắt ngỡ ngàng, không biết
mình đang mơ hay tỉnh. Có tiếng người bật khóc. Bích Hằng nghèn nghẹn
bảo: “Hầm mộ tập thể đây rồi”.
Thế là, mặc cho cái nắng nung người giữa
trưa miền biển, cuộc trò chuyện giữa những người một thời bị giam cầm,
tù đày ở nơi địa ngục trần gian kinh hoàng ấy, nay kẻ còn, người mất,
người dương thế, kẻ cõi âm, diễn ra vô cùng xúc động. Nhiều lúc, cuộc
nói chuyện bị ngắt quãng bởi những tiếng khóc nấc tắc nghẹn của nhà
ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Bích Hằng bảo: Chú Năm Rô, (người bị địch
banh háng giữa hai chiếc ghế băng rồi đốt dương vật) khóc ghê quá. Chú
ấy bảo: “Ngót 40 năm rồi còn gì. Thời gian đủ để xoá nhoà tất cả, kể cả
chúng tôi, những người bị giết hại tàn khốc, vùi xác thân vĩnh viên nơi
này. Chỉ có các bạn là còn nhớ đến để đi tìm. Anh em ở đây chết thảm
lắm. Đó là vào một buổi chiều đầy giông gió. Đám quân cảnh ùa vào trại
giam, xô đẩy chúng tôi ra đây. Hàng trăm tù nhân lê lết, người thì kiệt
sức vì bị nhốt chuồng cọp lâu ngày, người thì què quặt vì bị đánh đập,
tra tấn. Chúng đẩy chúng tôi ra miệng hố rồi bất ngờ dùng báng súng,
búa, xẻng ghè vào đầu chúng tôi. Sức tù binh kiệt quệ, bị đánh bất ngờ,
anh em rơi chúi xuống hầm. Thế là, đất tuôn như mưa xuống lấp kín chúng
tôi đang lóp ngóp quờ quạng trong đêm đen. Chúng tôi cố vùng vẫy tìm hơi
thở. Tiếng kêu cứu yếu dần, yếu dần rồi tắt lịm dưới cơn mưa đất.
Hôm nay, các bạn lặn lội vào đây, anh em
chúng tôi cảm kích lắm. Như vậy là vẫn có người nhớ đến chúng tôi.
Nhưng xin các bạn đừng đào bới chúng tôi lên làm gì nữa. Mấy chục năm
rồi, tan rữa cả rồi, còn gì nữa đâu. Lúc còn ở trong tù, tôi vẫn thường
bảo anh em rằng: “Anh hùng xá kể chi thân xác”. Mạng sống của mình còn
chẳng tiếc, tiếc chi một nắm xương tàn. Thôi thì sinh thổ hoá thổ. Sinh
ra từ đất rồi lại trở về với đất. Vả lại, anh em chúng tôi sống cùng một
khám, nay chết cùng một nấm mồ. Thịt xương hoà lẫn vào nhau, biết ai
vào ai mà nhặt. Ngày còn ở trong tù, có một vị sư cùng trại giam với
chúng tôi. Ngày ngày, ngài vẫn thường toạ thiền, đọc kinh, thuyết pháp.
Ngài bảo: Thân xác này chỉ là cõi tạm. Tinh thần mới bất tử. Phải giữ
trí tuệ minh mẫn, không được xáo động, cho dù địch có huỷ hoại thân xác
này vẫn phải giữ vững khí tiết. Nay, sau ba đại lễ cầu siêu, anh em
chúng tôi đều đã siêu thoát cả rồi. Ngày ngày, tụ tập cùng anh em đồng
chí ở nghĩa trang liệt sĩ Phú Quốc, vui lắm. Bảng ơi! (Cựu tù binh Phú
Quốc Lâm Văn Bảng, giám đốc bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù
đày ở Phú Xuyên), hôm con gái cậu bị mất tích, anh em dưới này chạy đôn
chạy đáo để tìm giúp cậu. Những gì cậu làm ở Bảo tàng, anh em đều biết
hết. Nhớ giữ gìn sức khoẻ. Anh em dưới này sẽ phù hộ cho cậu”.
Cuộc trò chuyện kéo dài đến sẩm tối với
quá nhiều xúc động và nước mắt. Đoàn tìm kiếm tha thiết xin được cất bốc
hài cốt, dù chỉ là một dúm xương tàn về nghĩa trang liệt sĩ để khói
hương nhưng linh hồn đồng chí Năm Rô vẫn kiên quyết. “Anh hùng xá kể chi
thân xác. Mạng sống của mình còn chẳng tiếc, tiếc chi một nắm xương
tàn”. Câu nói ngời ngợi tráng chí ấy của những người cộng sản kiên trung
cứ theo mãi chúng tôi suốt dọc đường về.
Ngày 22/11/2008, trong chuyến thăm và
làm việc tại huyện đảo Phú Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn đại
biểu đã đến hiện trường cuộc khai quật hài cốt các liệt sỹ nhà tù Phú
Quốc và động viên các thành viên của đội K92. Thủ tướng xúc động nói:
“Một nấm mồ liệt sỹ vô danh là một nỗi đau cứa vào lòng dân tộc. Dù
không tìm được nguyên vẹn hình hài, dù còn một mẩu di cốt, cũng phải đưa
các anh trở về nghĩa trang liệt sỹ để đèn nhang”
KỲ 8: CÁC ANH MÃI MÃI SỐNG TRONG LÒNG CHÚNG TÔI
Ngót 40 năm đã trôi qua kể từ khi nhà
tù Phú Quốc kết thúc sứ mệnh lịch sử đen tối của nó. Ngót 40.000 tù nhân
cộng sản trở về, tiếp tục sống, cống hiến cho công cuộc đổi mới đất
nước. Những vết thương trên thịt da đã lành. Những nỗi đau tinh thần
cũng dần nguôi ngoai. Nhưng ký ức kinh hoàng về những năm tháng đau
thương nơi “địa ngục trần gian” ấy đêm đêm vẫn dội về trong những giấc
mơ làm buốt lòng những người còn sống. Để rồi, suốt 20 năm qua, những
cựu tù Phú Quốc đã lặn lội khắp trong Nam ngoài Bắc, tìm kiếm, sưu tầm
những kỷ vật, di vật của một thời đau thương mà anh hùng đó, tạo nên một
bảo tàng bi tráng “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam: Bảo tàng chiến sĩ cách
mạng bị địch bắt, tù đày.
TÁI HIỆN “ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN”…
Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt
và tù đày toạ lạc trên khu đất rộng 1.600 m2 của ông Lâm Văn Bảng, một
cựu tù Phú Quốc. Hơn 10 phòng truyền thống với gần 2.000 hiện vật và
hàng chục mô hình diễn tả cảnh tra tấn dã man của bọn cai ngục được tái
hiện một cách chân thực và sống động.
Hai trong số những kỷ vật thiêng liêng
của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù Phú Quốc là lá cờ Đảng nhỏ bằng
bàn tay và tấm chân dung Hồ Chủ Tịch được làm từ mảnh vải trên đình màn.
Các chiến sĩ cách mạng đã dùng máu của mình để nhuộm thắm màu cờ và
chân dung Bác. Hình búa liềm ở giữa lá cờ được tạo nên từ những viên
thuốc ít ỏi mà các chiến sĩ cách mạng có được, mài ra, pha thành màu để
vẽ. Những buổi sinh hoạt chi bộ trong phòng giam, lá cờ Đảng là một
trong những vật bị bọn cai ngục lùng sục, truy tìm nhiều nhất. Bởi có cờ
là có Đảng. Có cờ là người tù sẽ đứng trong tổ chức để đấu tranh. Ngày
ấy, để bảo toàn lá cờ Đảng, tù nhân trẻ tuổi Nguyễn Văn Dư đã cuộn nhỏ
lá cờ vào túi ni lông, dùng sợi chỉ buộc vào răng rồi nuốt xuống họng
mỗi khi bị địch lục soát. Khi địch bỏ đi, anh lại lôi ra treo ngay ngắn
trên tường để truyền thêm lửa đấu tranh cho anh em trong tù ngục. Dưới
lá cờ thiêng ấy, những người tù cộng sản đã vượt qua bao ngón đòn tra
tấn tàn độc, đấu tranh và giành chiến thắng. Có tên giám thị khét tiếng
tàn ác, trước ý chí kiên cường của các tù nhân Phú Quốc, đã phải thốt
lên: “Thượng đến thật bất công khi bắt tôi phải giam cầm, đánh đập những
con người mà tôi kính phục”.
Hơn 30 năm có lẻ, màu máu trên lá cờ
thiêng nay đã ngả màu nâu đất mẹ nhưng trong mỗi trái tim của những cựu
tù Phú Quốc, màu cờ ấy vẫn đỏ tươi. Sau này, ông Dư đã trao lại lá cờ
thiêng cho ông Bảng với lời dặn dò tha thiết: “Cờ Đảng là báu vật của
chiến sỹ cách mạng tù đày, phải khó khăn lắm tôi mới giữ gìn được, nay
gửi vào bảo tàng để giữ lại linh hồn của đồng đội đã ngã xuống trong
chiến tranh”.
Ông Bảng xúc động bảo: “Đây là hiện vật
quý báu nhất vì chứng kiến rất nhiều lễ kết nạp Đảng trong ngục tù Phú
Quốc và từng thấm máu nhiều đồng đội. Nó giúp chúng tôi nuôi ý chí đấu
tranh và là minh chứng cho lòng trung thành của người cộng sản. Những
hiện vật khác như cờ Đoàn, sách học chính trị, tài liệu tuyên truyền của
Đảng; bộ cờ tướng làm bằng gỗ sơn tà ngoài đảo (đánh cờ là cái cớ cho
đồng đội hội họp, học tập); cả những kỷ vật riêng như chiếc bấm móng
tay… mỗi kỷ vật đều gắn với một câu chuyện cảm động”.
Bên những kỷ vật vô giá của đồng đội,
bảo tàng ở làng Nam Quất còn trưng bày những chứng tích cuộc chiến tranh
phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Đó là quả bom càng rải xuống cầu Giẽ (Phú
Xuyên); là chiếc chảo nước sôi kẻ thù luộc chín tù nhân; là chiếc cùm
chân, gậy sầu đời, vồ ly biệt, roi cá đuối.. cả những chiếc đinh mười to
như ngón tay mà kẻ thù từng đóng vào đầu, lên thân hình biết bao tù
nhân… Thật cảm động khi thấy những hiện vật từng gắn bó với chiến sĩ như
chiếc ca múc nước, cà mèn đựng cơm, chiếc xẻng mòn – dụng cụ dùng đào
hầm vượt ngục. Nhưng cũng vô cùng căm phẫn khi nhìn bức ảnh lính Mỹ tra
tấn tù binh bằng những công cụ dã man nhất. Đó là bằng chứng của tội ác
Mỹ đã gây ra tại Việt Nam…
THÔNG ĐIỆP GỬI ĐẾN MAI SAU
Từ nhiều năm nay, thăm Bảo tàng chiến sĩ
cách mạng bị địch bắt tù đày đã trở thành những buổi học ngoại khoá của
nhiều học sinh, sinh viên trong cả nước. Những căn phòng trưng bày dẫu
còn rất đơn sơ. Hai mươi lăm hướng dẫn viên không chuyên, vốn là những
cựu tù Phú Quốc. Họ, dẫu sức khoẻ đã cùn mòn, tiền trợ cấp vô cùng ỏn
sót, song vì nặng lòng với đồng chí, đồng đội đã hy sinh mà đã toả khắp
mọi miền để sưu tầm hiện vật. Họ gom về đây để sẻ chia những kỷ niệm đau
thương mà anh hùng của một thời tranh đấu. Họ kể cho khách tham quan về
những gian khổ ngục tù chốn địa ngục trần gian, về những cái chết bi
tráng của hơn 4.000 người tù cộng sản dạ sắt gan vàng. Kể để thấy được
giá trị của hoà bình. Kể để những hệ luỵ của cuộc chiến nguôi ngoai đi
cùng năm tháng và để phẩm chất người Việt Nam mãi sáng ngời. Đó là phẩm
chất mà cố nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã ngợi ca trong bài thơ Quê hương:
“Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/
Đạp quân thù xuống bùn đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.
Đó cũng là nỗi niềm mà ông Lâm Văn Bảng
tâm sự với chúng tôi trong buổi chiều thật muộn: “Hơn hai mươi năm qua,
kể từ khi xây cất bảo tàng này, chúng tôi chưa hề thu một đồng phí tham
quan nào. Cuộc hành trình hơn hai mươi năm ấy chỉ với mục đích là đi tìm
và khắc họa lại những gian khổ, hy sinh của chiến sĩ cách mạng Việt Nam
trong cuộc chiến vĩ đại để giành độc lập cho dân tộc. Những hiện vật
trưng bày tại bảo tàng chính là thông điệp mà chúng tôi, những người đi
trước, muốn nói với thế hệ hôm nay và mai sau rằng: Hòa bình hôm nay là
xương máu của cha ông, hãy trân trọng!”.
Những năm qua, Bảo tàng chiến sĩ cách
mạng bị địch bắt tù đày đã đón khoảng 10 vạn lượt khách, trong đó có
nhiều đoàn của các cơ quan Đảng, Nhà nước, cựu chiến binh, thanh niên,
các thầy cô giáo và học sinh… trên mọi miền Tổ quốc về tham quan, tìm
hiểu lịch sử truyền thống cách mạng. Khách đến bảo tàng đều bày tỏ lòng
khâm phục trước việc làm cao cả đầy ý nghĩa của những người lính già
nặng lòng với đồng đội. Riêng với những người vào sinh ra tử như ông
Bảng thì coi đó là việc làm tất yếu. Ông Bảng “khoe”: Chúng tôi đã mang
hiện vật đi trưng bày ở nhiều nơi như Thái Nguyên, Hà Nam, Hà Tĩnh đến
Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang...
Nhận xét
Đăng nhận xét