Chuyển đến nội dung chính

ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 26

-Trải qua một cuộc bể dâu,
  Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
(Thơ Nguyễn Du)
-Trăm năm bia đá thì mòn 
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ! 


--------------------------------------------------
 (ĐC sưu tầm trên NET)

-Một tiếng nói mới về vụ TC2 – T4


-Ông Trần Đại Sơn nói về vụ án siêu nghiêm trọng TC2-T4

2004-11-15
Là người có thể nói gần như là một trong những thành viên đầu tiên gây dựng nên ngành tình báo của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, ông Trần Ðại Sơn đã rất bức xúc trước vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục 2- T4 với sự lộng hành của Tổng Cục Tình Báo Quân Ðội. Cũng có thể nói ông là người đầu tiên đã đưa vụ việc này ra ánh sáng.

By line: Phạm Việt Hùng

    Mời quí vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Hùng với ông Trần Ðại Sơn về vấn đề hiện vẫn đang được coi là nóng bỏng trong chính trường Việt Nam.
    Việt Hùng: Thưa ông Trần Ðại Sơn, hồi tháng 7 vừa qua, sau vụ khám nhà ông Lê Hồng Hà có liên quan đến bức thư của Thượng tướng Nam Khánh làm sáng tỏ vụ Tổng Cục 2, ông có viết một lá thư gửi các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước, kể từ đó đến nay ông đã nhận được trả lời nào hay chưa?
    "...hiện công an đang theo dõi, gạch đít, theo dõi xem có "phản động" không? Nhưng mà tôi không sợ, tôi làm chính nghĩa không sợ gì đâu. Bây giờ tôi vẫn cứ làm đàng hoàng, những việc gì sai trái, tôi vẫn cứ góp ý thẳng thắn, chẳng sợ gì..."
    Trần Ðại Sơn: Tôi, hiện công an đang theo dõi, gạch đít, theo dõi xem có "phản động" không? Nhưng mà tôi không sợ, tôi làm chính nghĩa không sợ gì đâu. Bây giờ tôi vẫn cứ làm đàng hoàng, những việc gì sai trái, tôi vẫn cứ góp ý thẳng thắn, chẳng sợ gì. Bây giờ mình cũng gần chết rồi còn gì nữa, gần 80 tuổi rồi, may mắn có sống chắc cũng chỉ vài năm nữa là cùng, mình phải bảo vệ chính nghĩa. Bây giờ gần đại hội đảng X rồi nên họ cũng lùng xục ghê gớm lắm...
    Việt Hùng: Vừa rồi ông có nói là công an hiện theo dõi ông, họ có mời ông lên làm việc hay không thưa ông?
    Trần Ðại Sơn: Không, dù sao tôi cũng hoạt động cách mạng lâu năm cho nên cũng không mời lên làm việc như ông Hoàng Minh Chính hay như một số người khác, nhưng họ xuống nhà tôi hỏi chuyện. Vừa rồi A 25 (cơ quan anh ninh thuộc Bộ Công An) xuống nhà tôi, họ toàn bắt nọn cả thôi. Nghiệp vụ của nó dốt nát chứ làm sao bằng được tôi, dù sao tôi cũng làm việc ở Bộ Công An hàng chục năm.
    Xuống thì hỏi tôi, ông Lê Hồng Hà có sang đây chơi luôn hay không? ông Hoàng Minh Chính có quan hệ như thế nào .. v .. v . .
    Tôi trả lời, tôi quen cụ Hoàng Minh Chính là vì bà Lê Hồng Ngọc, vợ ông Chính, thời gian trước cách mạng tháng 8 hoạt động Việt Minh cùng với tôi nên tôi sang chơi với cụ Hoàng Minh Chính, công an mật của các anh theo dõi tôi. Còn tôi quen với ông Lê Hồng Hà là vì bà Lê Thy, Giáo sư, Tiến sĩ, chiến sĩ quyết tử Liên Khu 1 - Trung đoàn Thủ đô là sinh hoạt trong tổ của tôi.
    Tôi sang gặp bà đó vì tôi là tổ trưởng. Tôi nói với họ là ông Hồng Hà, trước kia là cán bộ cao cấp của Bộ Công An, thường trực đảng ủy của nghành, chỉ dưới quyền ông Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn mà thôi, tôi trả lời họ như thế.
    Thế xong rồi họ lại bắt nọn tôi là thấy tôi đi ở ngoài đường, thấy ông Nguyễn Thanh Giang đèo tôi đi xe máy .., tôi trả lời các anh là công an mà mắt các anh kém quá. Họ hỏi tôi là có biết gì không? dạo này có viết gì không? .., cuối cùng thấy không khai thác được gì, thế là họ đi.
    Việt Hùng: Ông nói là họ tới nhà ông thời gian mới đây là thời gian nào vậy thưa ông?
    Trần Ðại Sơn: Mới đây ngày 9-10-2004
    Việt Hùng: Họ tới, họ nói với ông rằng, tại sao bác lại đi theo một số người để chống đảng ...., ông có trả lời là: "nếu ông không chống thì cái đảng này đã đổ từ lâu rồi..." , do đâu mà ông lại nói như vậy?
    "...đảng xiêu thì phải chống không thì đổ sập. Những anh em chống là những người tích cực, chứ đừng nói là "chống đảng là phá hoại đảng". Tôi trả lời câu hỏi đó với họ là tại sao lại phải chống!"
    Trần Ðại Sơn: Vâng, vì thế này, đảng xiêu thì phải chống không thì đổ sập. Những anh em chống là những người tích cực, chứ đừng nói là "chống đảng là phá hoại đảng". Tôi trả lời câu hỏi đó với họ là tại sao lại phải chống!
    Việt Hùng: Trong lá thư gửi cho đảng hồi tháng 7, sau khi khám nhà ông Lê Hồng Hà, liên quan đến lá thư của Thượng tướng Nam Khánh yêu cầu làm sáng tỏ nội tình Tổng Cục 2 và vụ án T4, cá nhân ông, ông đánh giá như thế nào về bức thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh?
    Trần Ðại Sơn: Ông Nguyễn Nam Khánh thì rất vững. Tôi xin phép để nói: "bây giờ chúng nó định đưa ông ấy về cơ sở sinh hoạt đảng để định diễn lại vở tuồng như đã làm với anh hùng dân tộc Trần Ðộ, tìm cách để khai trừ đảng với ông Nam Khánh"
    Bây giờ các đảng này nó thối nát rồi, khai trừ thì khai trừ chứ họ thiết gì cái đảng cộng sản này nữa...
    Lê Ðức Anh, tay chân hãy còn mạnh, nhưng mà cán bộ quân đội cao cấp đã thẳng thắn vạch mặt nó rồi. Vừa rồi Bộ Tổng Tham Mưu kỷ niệm 59 năm ngày thành lập, Lê Ðức Anh đến dự tưởng là ông Văn (tức Ðại tướng Võ Nguyên Giáp) không đến được, vì Nguyễn Chí Vịnh, (con của Nguyễn Chí Thanh) ở Tổng Cục 2 có báo cáo với Lê Ðức Anh là ông Văn (Võ Nguyên Giáp) không đến dự buổi họp của Bộ Tổng Tham Mưu kỷ niệm 59 năm thành lập được, nên Lê Ðức Anh mới đến, ăn mặc trịnh trọng, đeo huân chương tổng kết thôi chứ huân chương chiến đấu thì làm gì có.
    Sau khi ông Phùng Quang Thanh, Tổng tham mưu trưởng phát biểu, rồi ông Phạm Văn Trà, Bộ trưởng quốc phòng lên phát biểu, sau đó thấy ông Võ Nguyên Giáp (anh Văn) chưa đến, Lê Ðức Anh rút bài ra định lên phát biểu thì ngay lúc đó ông Văn (Võ Nguyên Giáp) lại làm sao lò dò đến thế là cả hội trường hoan hô vỗ tay rầm trời bên bờ hồ Trúc Bạch.
    Về sau Tổng tham mưu trưởng Phùng Quang Thanh mời ông Văn lên nói chuyện, ông Văn lên nói chuyện rất là tốt, ông ấy hỏi thăm ân tình anh em, còn Lê Ðức Anh lúc đó lủi thủi ra về, anh em người ta chửi thẳng vào mặt: "đồ ăn hại còn vác mặt đến đây làm gì, đồ vô ơn ...." , cán bộ cao cấp của quân đội bây giờ họ có sợ gì đâu. Thế đây là nói về Lê Ðức Anh.
    Lê Ðức Anh về gọi Nguyễn Chí Vịnh (con Nguyễn Chí Thanh) ở Tổng Cục 2 lên "mắng cho một trận, nó bảo đồ ngu, tại sao mày báo cáo là ông Văn không đến được" thì nó mới đi dự, thế là khi ông Văn đến nó mới thất thế quá, lủi thủi ra về.
    Việt Hùng: Thưa ông Trần Ðại Sơn, là người từng gây dựng nên cơ quan tình báo của chính phủ Việt Minh, với kinh nghiệm hoạt động cũng như gần 60 tuổi đảng của ông thì vụ Tổng Cục 2 và T4 là do cá nhân lộng hành gây nên hay thực sự hàng ngũ của đảng cộng sản Việt Nam cần tới lúc phải chỉnh đốn?
    "...Bây giờ tôi gọi là anh chột Lê Ðức Anh (bị chột do thương tích) chỉ đạo, còn Tổng Cục 2, Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh chỉ là con em nó thôi, còn đầu sỏ là Lê Ðức Anh chỉ đạo phá hoại đất nước. Chính Lê Ðức Anh có phải là đảng viên đâu. Bây giờ đảng cộng sản cái sự đấu tranh nó yếu quá, ông Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, tôi xin phép là: " Nông, tiếng Pháp gọi là không), tôi bảo là ông này không, " Non-Mạnh tức không mạnh, ông này không dám làm gì cả, không dám đấu tranh..."
    Trần Ðại Sơn: Bây giờ tôi gọi là anh chột Lê Ðức Anh (bị chột do thương tích) chỉ đạo, còn Tổng Cục 2, Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh chỉ là con em nó thôi, còn đầu sỏ là Lê Ðức Anh chỉ đạo phá hoại đất nước. Chính Lê Ðức Anh có phải là đảng viên đâu. Bây giờ đảng cộng sản cái sự đấu tranh nó yếu quá, ông Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, tôi xin phép là: " Nông, tiếng Pháp gọi là không), tôi bảo là ông này không, " Non-Mạnh tức không mạnh, ông này không dám làm gì cả, không dám đấu tranh ... " .
    Vừa rồi Nông Ðức Mạnh lại còn có nhận định về cái thư của ông Giáp viết và thư của ông Nam Khánh là: "đề cao cá nhân, động cơ xấu". Như vậy Nông Ðức Mạnh chỉ đạo làm công tác tổ chức đưa ông Nam Khánh về sinh hoạt chi bộ, tìm cách để khai trừ ông Nam Khánh. Nhưng bây giờ thì ông Nam Khánh ông ấy vững vàng lắm, khai trừ thì ông đâu có sợ gì. Bây giờ cái đảng này thối nát rồi ông ấy đâu cần gì ở trong đảng đâu.....
    Việt Hùng: Cũng liên quan đến những công việc của nghành Tình báo và An ninh, trong buổi phát thanh tới chúng tôi xin tiếp tục câu chuyện với ông Trần Ðại Sơn về hiện tình An ninh cũng như những bất đồng trong hàng ngũ đảng cộng sản Việt Nam, mời quí thính giả nhớ đón nghe.

    Nguyễn Tài

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Nguyễn Tài, tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông, biệt danh Tư Trọng, Tư Duy, Ba Sáng, sinh ngày 11-12-1926, quê làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Nguyên là Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thứ trưởng Bộ Công an Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong chiến tranh Việt Nam, ông là tù nhân của CIA trong 5 năm, với biệt danh "The Man in the Snow While Cell" .
    Ông Nguyễn Tài(ảnh chụp cuối năm 1970)

    Gia nhập lực lượng an ninh

    Nguyễn Tài Đông là người con thứ hai của nhà văn Nguyễn Công Hoan, đảng viên; chú là Nguyễn Công Miều (tức Lê Văn Lương), ủy viên Bộ Chính trị; chú là Nguyễn Công Bông bị đày lên Sơn La; anh ruột là Nguyễn Tài Khoái hy sinh năm 1947.
    Ông không theo nghiệp văn giống cha. Ông Tài tham gia cách mạng khá sớm, gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc năm 18 tuổi, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 3-1945.
    Tháng 9-1945, ông bắt đầu công tác trong ngành an ninh.
    Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Trưởng ty Công an Hà Nội, rồi Giám đốc Sở Công an đặc khu Hà Nội.
    Tháng 9-1958, ông là Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị (Bộ Công an).
    Theo nguyện vọng của ông, ngày 21-3-1964 ông được Trung ương cử vào miền Nam trực tiếp chiến đấu, “là người có cấp cao nhất trong ngành công an từ trước đến lúc đó đi Nam”.
    Tại miền Nam, ông trở thành ủy viên Ban An ninh của Trung ương cục miền Nam, trực tiếp làm phó (1965), rồi trưởng (1966) Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định, ủy viên, rồi ủy viên thường vụ Thành ủy. Trong các cương vị đó, ông đã có công rất lớn trong việc xây dựng và phát triển Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định thành một lực lượng vững mạnh, được Nhà nước khen thưởng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Bị bắt khi hoạt động tại miền Nam

    Năm 1964, ông vào hoạt động trong chiến trường miền Nam, giữ cương vị Phó ban An ninh Sài Gòn Gia định.
    Ngày 23 tháng 12 năm 1970 trên đường đi dự một cuộc họp của Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, ông bị bắt trong địa phận tỉnh Bến Tre. Địch hỏi: theo giấy căn cước, ông tên Nguyễn Văn Lắm, sinh ở Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Tre, tại sao nói giọng Bắc? Ông giải thích: cha người Bắc, mẹ người Nam, sinh ở quê mẹ nhưng lớn lên ở quê cha, năm 1954 di cư vào Nam, sống ở Bến Tre. Để không ảnh hưởng tới tổ chức và nhân sự của Thành ủy (mà ông là ủy viên thường vụ) và Ban An ninh T4 (mà ông là trưởng ban), ông tạo ra một lý lịch giả, tự nhận là Nguyễn Văn Hợp, đại úy tình báo miền Bắc, mới vào Nam tháng 11-1970 (một tháng trước khi bị bắt), bị bắt trên đường đi Hồng Ngự để được Cục tình báo giao nhiệm vụ cụ thể.
    Tháng 11 năm 1971, Bí thư thành ủy Sài Gòn - Gia Định Trần Bạch Đằng viết thư nhân danh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gửi Mỹ đặt vấn đề trao đổi Nguyễn Tài với một tù binh Mỹ là Douglas Ramsey - nhân viên bộ ngoại giao Mỹ bị bắt từ năm 1966. Mỹ từ chối vì cho rằng "Nguyễn Tài quá quan trọng để đáng đổi lấy Ramsey". Sau này, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn nói rằng đó là một hình thức ngăn cản Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thủ tiêu Nguyễn Tài. Kết quả là các cuộc tra tấn đối với Nguyễn Tài lập tức chấm dứt, mạng sống của ông trở thành quá giá trị đối với CIA để có thể rủi ro, "ông trở thành một con tốt trong một ván cờ chính trị cấp cao".
    Đầu năm 1972, qua đề nghị trao đổi này của ta, Cơ quan Tình báo trung ương CIA của Mỹ “nhận thức được giá trị của Tài” nên giành lấy quyền thẩm vấn ông từ tay tổ chức tình báo của Thiệu. Lần lượt CIA cử hai chuyên viên thẩm vấn có trình độ cao là Peter Kapusta và Frank Snepp (Sau mấy tháng hỏi cung mà không moi được thông tin gì mới, Peter Kapusta lấy lý do “vợ bị tai nạn ô-tô bên Mỹ” để xin về nước. Frank Snepp được cử sang thay. Lúc đó Snepp còn trẻ, mới 28 tuổi, đỗ thạc sĩ ngành quốc tế học tại Đại học Columbia. Bắt đầu làm việc cho CIA từ 1968, qua Nam Việt Nam năm 1969, sau đó về Mỹ. Tháng 10-1972, sang Sài Gòn để phụ trách thẩm vấn Nguyễn Tài vì, như Snepp tự nhận, anh ta là “một trong những chuyên gia của CIA thông thạo nhất về chính sách và chiến lược của Bắc Việt Nam” ) từ Mỹ sang để trực tiếp tiến hành việc hỏi cung ông Tài. Khác với các thẩm vấn viên của Thiệu, các chuyên gia CIA không dùng nhục hình làm biện pháp duy nhất. CIA sử dụng kết hợp các kỹ thuật cả về thể xác lẫn tâm lý trong một phương pháp cùng cực. Việc đầu tiên của CIA là cho xây cho ông Tài một xà-lim đặc biệt ngay trong khuôn viên Trung tâm thẩm vấn quốc gia của Thiệu, một xà-lim hình vuông, mỗi cạnh 2 mét. Các bức tường đều sơn trắng toát khiến tinh thần người tù luôn bị căng thẳng; trần gắn 5 ngọn đèn thắp sáng choang 24 trên 24 giờ nhằm làm cho người tù mất khái niệm về thời gian. Xà-lim kín mít khiến người tù “không bao giờ thấy ánh sáng bình minh của ngày mới”, chỉ có một lỗ nhỏ trên cánh cửa ra vào để đưa thức ăn. Tường và cửa đều dày, cách âm, người bên trong không nghe tiếng động bên ngoài. Trên trần có gắn máy thu âm và thu hình ngày đêm truyền hình ảnh và âm thanh sang phòng bên cạnh để các cai ngục có thể bí mật theo dõi mọi hành động và cử chỉ của người tù. Ngoài ra, còn có hệ thống máy lạnh mở ở công suất cao vì CIA biết ông Tài chịu lạnh kém. Snepp gọi xà-lim đặc biệt đó là “môi trường làm mất phương hướng” (disorienting environment). Theo McCoy, bị biệt giam ở đó trong thời gian dài, người tù bị “một sức ép tâm lý mãnh liệt” khiến nhận thức của họ bị rối loạn và có thể tiết lộ thông tin một cách vô ý thức. So với các nhục hình của các thẩm vấn viên của Thiệu, cách hỏi cung bằng tra tấn tinh thần và tâm lý của các chuyên viên CIA tinh vi hơn, độc ác hơn.
    Năm 2009, tức gần 40 năm sau, Snepp thú nhận “vẫn còn bị ám ảnh bởi những gì tôi đã làm” trong thời gian thẩm vấn ông Tài. Nguyễn Tài tìm cách chống lại các thủ đoạn “làm mất phương hướng” của các thẩm vấn viên CIA. Theo Otterman, “ông tự động thức dậy lúc 6 giờ sáng mỗi ngày. Lúc đó, ông hát thầm Quốc ca của Bắc Việt Nam, tập các động tác thể dục đơn giản, sáng tác các bài thơ, bài hát trong đầu, chào một ngôi sao mà ông vẽ trên tường xà-lim tượng trưng cho Quốc kỳ của Bắc Việt Nam. Ông lặp đi lặp lại những sinh hoạt đó trong ngày và đi ngủ vào lúc 10 giờ tối mỗi ngày”. Cuối cùng, Otterman kết luận: “Tài đã đánh bại các phương pháp của KUBARK (mật danh của CIA) vì đã giữ vững thế chủ động cả về thể chất lẫn tinh thần”.McCoy thừa nhận điều đó: “Phần lớn những thông tin mà ông khai có lẽ chỉ là những thông tin bị làm sai lạc một cách có tính toán”. Do đó, theo Otterman, “trong ba năm... các thẩm vấn viên CIA vật lộn với Tài nhưng không thu được hiệu quả”. Frank Snepp được giao thẩm vấn 8 tù nhân tại Trung tâm thẩm vấn quốc gia, nhưng ông thú nhận “thẩm vấn Nguyễn Tài là thẩm vấn nhiều thách thức nhất của tôi” và kết luận: cho đến 30-4-1975, “Tài đã trải qua hơn bốn năm bị biệt giam trong xà-lim nhưng ông chưa từng khai nhận một cách đầy đủ ông là ai”.
    Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris được ký. Theo Hiệp định Paris, hai bên trao trả cho nhau tù binh và tù dân sự. Nhưng Việt Nam Cộng hòa vi phạm trắng trợn hiệp định, tiếp tục giam giữ nhiều người (trong đó có ông Tài) đến tận 30-4-1975, tức thêm 2 năm 3 tháng nữa. Cuối năm 1974, ông gửi lá thư thứ hai cho “nhà đương cục Mỹ và Việt Nam Cộng hòa” yêu cầu trao trả theo đúng Hiệp định Paris.
    Ngày 26-4-1975, khi 5 cánh quân của ta sắp tiến vào giải phóng Sài Gòn, “một viên chức cao cấp của CIA gợi ý cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cần làm cho Nguyễn Tài biến mất” để tránh việc “Tài được giải thoát bởi các đồng chí chiến thắng của ông ta”. Nguyễn Khắc Bình, tư lệnh Cảnh sát quốc gia kiêm đặc ủy trưởng Phủ đặc ủy trung ương tình báo, ra lệnh cho số cầm đầu Trung tâm thẩm vấn quốc gia thủ tiêu ông Tài theo lệnh của CIA. Tuy nhiên, theo Pribbenow, “lệnh đến quá trễ. Tất cả các viên chức cao cấp của Phủ đặc ủy trung ương tình báo đang tìm cách chạy trốn khỏi Nam Việt Nam”. Bản thân các viên chức CIA - trong đó có Frank Snepp - cũng lo tháo chạy thoát thân. Hai năm sau, 1977, trong lúc quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đang gián đoạn, Snepp hoàn toàn không có tin tức gì về ông Tài, yên trí là Nguyễn Khắc Bình đã thi hành lệnh của CIA, nên anh ta viết trong cuốn Decent Interval (Khoảng cách thích đáng): “Tài bị đưa lên một máy bay và bị ném xuống biển Đông ở độ cao 1.000 feet”. Sự thật không phải vậy. Pribbenow cho biết: “Các nhân viên cấp dưới [của Trung tâm thẩm vấn quốc gia] sợ bị trừng phạt nếu những người Cộng sản chiến thắng biết họ đã giết Tài”, do đó họ “không dám thi hành [lệnh thủ tiêu] vì sợ mang thêm tội với Cách mạng”.
    Trưa 30-4-1975, một tiểu đoàn thuộc Quân đoàn IV tiến vào Sài Gòn, chiếm Phủ đặc ủy trung ương tình báo. Ông Tài được giải thoát khỏi xà-lim trắng toát sau 4 năm 4 tháng 10 ngày bị biệt giam

    Hoạt động sau năm 1975

    Sau khi ra khỏi nhà tù, Nguyễn Tài quay lại làm việc ở Bộ Công an Việt Nam với chức vụ Thứ trưởng. Rồi ông bị đình chỉ công tác vì có một tài liệu nói ông đã bị CIA sử dụng cùng với một số nội dung về ông trong hồi ký Decent Interval của Frank Snepp - chuyên gia CIA từng tham gia thẩm vấn ông. Sau đó ông được điều về công tác tại Ủy ban Pháp luật Nhà nước, rồi làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Việt Nam.
    Ông về hưu năm 1992.
    Năm 2002, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và sau đó được thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Cố vấn Võ Văn Kiệt đã đưa ra đề nghị này với hai lý do: "Trung kiên bảo vệ Cách mạng trong nhà tù Mỹ - Ngụy" và "dũng cảm bảo vệ nhân cách trong sáng của một đảng viên trước nhân dân".
    Bộ trưởng Bộ Công an Mai Chí Thọ cùng các đồng chí khác chúc mừng ông Nguyễn Tài và phu nhân (người thứ hai và thứ ba từ trái sang) trong lễ phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

    Trong mắt đồng đội và đối phương bên kia chiến tuyến

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có hàng trăm vạn người Việt Nam yêu nước bị Mỹ - ngụy bắt giam, tù đày và tra tấn, nhưng có lẽ ông Tài là người được các tác giả Mỹ đề cập đến nhiều nhất. Họ gọi ông là “Người trong xà-lim trắng toát” (The Man in the Snow White Cell).
    Đặc biệt, Frank Snepp - chuyên viên CIA thẩm vấn ông trong thời gian lâu nhất, được CIA thưởng Huân chương công trạng về tình báo (Intelligence Medal of Merit, ngày 16-12-1975) - giữ nhiều ấn tượng sâu đậm về ông. Hugh D.S.Greenway kể: “Sau chiến tranh [ở Việt Nam], Snepp rời khỏi CIA, nhưng anh ta không thể đưa Tài ra khỏi tâm trí của mình. Anh ta sang Paris để nói với phái bộ Việt Nam [ở Pháp] rằng Tài đã xử sự một cách đáng kính trọng và đã chết một cách dũng cảm (Tai had comported himself honorably and died bravely)”.
    Năm 1977, Snepp dành hẳn một chương trong cuốn hồi ký Decent Interval để kể chuyện ông Tài.
    Gần tới ngày kỷ niệm lần thứ 34 chế độ Sài Gòn sụp đổ (27-4-2009), Snepp viết trên báo Los Angeles Times một bài nhan đề “Bị quá khứ tra tấn” (Tortured by the Past) thuật lại thời gian thẩm vấn ông Tài.
    Những người Mỹ khác, tuy không chia xẻ lập trường chính trị của ông, họ vẫn dành cho ông nhiều từ tốt đẹp như “một cán bộ Cộng sản tận tâm” (a dedicated Communist cadre), “kiên quyết” (determined), “một người từng trải, thông minh, được đào tạo tốt” (sophisticated, intelligent, well-educated man), “một người cứng cỏi không dễ gì làm suy yếu” (a tough nut to crack)...
    Ngày 23-12-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra văn bản số 570 khẳng định: “Đồng chí Nguyễn Tài đã có tinh thần chịu đựng sự tra tấn dã man của địch, khôn khéo đối phó với địch, bảo vệ cơ sở và những bí mật của Đảng mà mình biết”.
    Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người từng có thời gian hoạt động chung với ông trên chiến trường miền Nam, nhận định: “Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Nguyễn Tài cho thấy đồng chí thực sự xứng đáng là một anh hùng”.
    Nhận định đó được nhiều người tán thành.

    -BẢN BÁO CÁO TỐI MẬT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG VỀ LÊ ĐỨC ANH:

     http://anhduong.net/nhanvat/LeDucAnh-ToiMat.htm

    -Con gái ông Nông Đức Mạnh tố cáo?

     http://www.danchimviet.info/archives/58650/con-gai-ong-nong-d%E1%BB%A9c-m%E1%BA%A1nh-t%E1%BB%91-cao/2012/05


    -Thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh gửi Lãnh đạo Ðảng về sự lộng quyền của Tổng cục 2
    (Xin xem Thông cáo báo chí của Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam phát hành ngày 27.7.2004 về bức thư này)


    2004-06-17 | Nguyen Nam Khanh | UBBQLNVN

    Một bức thư chân thành, tâm huyêt

    Tưởng nhớ Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh

    Ngày 15 tháng 7 năm 2004
    Kính gửi :
    - Ban chấp hành Trung ương, đồng chí tổng bí thư và các Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Ban bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban nội chính, Ban bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương, đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra khóa 7, khóa 8.
    Hồi 16 giờ 30’ ngày 8-7-2004, đồng chí Phan Diễn, Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên thường trực Ban bí thư có mời tôi đến gặp, tại phòng làm việc của đồng chí Phan Diễn (số 4 Nguyễn Cảnh Chân). Dự họp có đồng chí Thọ, Ủy viên Trung ương, Trưởng ban bảo vệCchính trị Nội bộ.
    Do tính chất quan trọng của cuộc gặp và theo đúng Điều lệ Đảng về quyền hạn của đảng viên, tôi viết thư này kính gửi các đồng chí. Trước hết tôi nêu lại các ý kiến của đồng chí Phan Diễn và ý kiến của tôi về những việc liên quan đến vụ T4 đã phát biểu trong cuộc họp đó.
    I. Ý kiến của đồng chí Phan Diễn
    Tôi (đồng chí Phan Diễn) và đồng chí tổng bí thư đã nhận được văn bản của các đồng chí về vụ T4.
    Tôi (đồng chí Phan Diễn) đồng ý một số nội dung trong văn bản của đồng chí.
    - Vụ T4 là một vụ án chính trị nghiêm trọng. Bộ chính trị đã tổ chức ban kiểm tra liên ngành để xem xét. Ban kiểm tra liên ngành đã đề nghị bộ chính trị và bộ chính trị đã xác định là vụ án chính trị nghiêm trọng. Bộ chính trị đã giao cho cơ quan pháp luật truy tố, đưa ra xử 4 người : Chấp, Nguyên, Vinh, Diệu Hà từ 5 năm tù trở lên, đã giao cho Đảng ủy quân sự trung ương xem xét các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục II. Đảng ủy quân sự trung ương đã báo cáo lên bộ chính trị và bộ chính trị đang xem xét.
    - Tôi (đồng chí Phan Diễn) đồng ý với đồng chí (Nguyễn Nam Khánh) trong pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP về tình báo quân sự có nhiều nội dung sai phạm, bộ chính trị đã giao cho thường vụ quốc hội xem lại pháp lệnh tình báo và giao cho văn phòng chính phủ xem lại nghị định 96/CP. Đồng thời đã chỉ thị cho bộ quốc phòng hướng dẫn cho Tổng cục II xác định một số quy định và chỉ thị cho Tổng cục II không được theo dõi nội bộ.
    - Sẽ cho kiểm tra, xem xét Tổng cục II từ tổ chức, nguyên tắc, thủ tục hoạt động. Việc này phải mất một thời gian.
    - T4 là một vụ án nghiêm trọng nhưng bộ chính trị phải chọn vấn đề gì trực tiếp ảnh hưởng đến nội bộ Đảng, Nhà nước, quân đội mới làm, báo cáo cho bộ chính trị rõ chứ không báo cáo cho trung ương, có việc không nói cụ thể cho trung ương và không thảo luận.
    Trong văn bản của đồng chí có đề cập đến sự liên quan của một số đồng chí lãnh đạo trước đây. Vì đã lâu rồi và không ảnh hưởng trực tiếp đến nội bộ Đảng hiện nay nên không làm. Vì đưa ra vấn đề này, sẽ tranh cãi rồi không kết luận được, sẽ làm cho tình hình phức tạp thêm.
    Trong vụ T4, có ý kiến anh Giáp, anh Mân, anh và một vài đồng chí nữa, nhưng bộ chính trị không báo cáo ý kiến của các anh với ban chấp hành trung ương, ngay cả ý kiến anh Phiêu cũng không báo cáo với ban chấp hành trung ương. ý kiến đề nghị có rất nhiều ý kiến khác nhau. Nếu đã đưa là đưa hết thì ban chấp hành trung ương khó khăn trong việc xem xét, và không thể kết luận được, làm cho nội bộ phức tạp thêm.
    - Các vấn đề mà đồng chí nêu trong bản tài liệu gửi bộ chính trị thì nhiều, có cái thuộc số người nói trên (ý nói là của Nguyên, Chấp, Vinh, Đặng Diệu Hà), không chính thức của Tổng cục II, có cái của chỉ huy Tổng cục II. Tôi biết, trong số bản tin này, Tổng cục II có đoạn đưa ra 10 bản tin có ký tên, một số không ký tên. Như vậy là thuộc về tài liệu mật và tài liệu không phổ biến. Nếu tài liệu này lộ ra ngoài, kẻ địch sẽ lợi dụng phá hoại Đảng. Nên tôi phê bình đồng chí là không tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật tài liệu.
    II. Ý kiến của tôi (Nguyễn Nam Khánh)
    Trước hết, tôi (Nguyễn Nam Khánh) cám ơn bộ chính trị, ban bí thư đã cho tôi biết ý kiến của bộ chính trị và ban bí thư về văn bản của tôi gửi ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư, ủy ban kiểm tra và các cơ quan chức năng. Sau đây tôi xin nói rõ ý kiến của tôi về các ý kiến của bộ chính trị và ban bí thư mà đồng chí vừa nêu lên.
    1. Tôi đồng ý ý kiến nói rằng các nội dung trong văn bản của tôi nêu ra mà địch biết, địch có thể lợi dụng. Nên tôi đề nghị gặp đồng chí tổng bí thư để trực tiếp nói rõ vụ T4 với đồng chí tổng bí thư, tôi chờ hơn một tháng nhưng không thấy đồng chí tổng bí thư trả lời lúc nào gặp được. Những sự thật mà tôi nêu ra chỉ gửi trung ương, bộ chính trị, ban bí thư và các cơ quan chức năng. Tôi biết tại hội nghị trung ương lần thứ 10 (khóa 9), bộ chính trị sẽ báo cáo với trung ương vấn đề T4. Như tôi đã viết trong văn bản : "Với tầm quan trọng của vấn đề và theo đúng Điều lệ Đảng, tôi đã viết thư gửi cho ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư, ủy ban kiểm tra trung ương và cơ quan chức năng". Tôi trực tiếp niêm phong mang đến văn phòng trung ương nhờ văn phòng trung ương chuyển và ngoài bì tôi ghi rõ : "Chỉ người có tên mới được bóc". Như vậy là hết sức cẩn thận về bảo mật. Tôi gửi cho trung ương, bộ chính trị, ban bí thư, cơ quan chức năng, chứ không gửi cho địch. Nếu làm lộ tài liệu là do về các đồng chí nhận tài liệu, chứ tôi không làm lộ.
    Việc tôi làm vừa qua là đúng nguyên tắc, đúng Điều lệ : "Đảng viên được phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức, báo cáo kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".
    Tôi không đồng ý với ý kiến đồng chí phê bình tôi là sai nguyên tắc giữ bí mật tài liệu nội bộ. Đảng viên có quyền kiến nghị, đề nghị tới lãnh đạo các cấp, đến bộ chính trị, đến ban chấp hành trung ương, đến đại hội toàn quốc.
    2. Tôi đồng ý là bộ chính trị, ban bí thư có quyền lựa chọn vấn đề để giải quyết. Nhưng lựa chọn vấn đề gì để giải quyết là trên nguyên tắc bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ. Không phải trên nguyên tắc cơ hội, hữu khuynh.
    Trong văn bản của tôi gửi trung ương, bộ chính trị, ban bí thư, ủy ban kiểm tra, các cơ quan chức năng, tôi nêu cả vấn đề T4 và chấn chỉnh Tổng cục II, một ít đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng vừa qua có liên quan đến Tổng cục II và T4, mục đích là để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ. Vì nếu không làm rõ vụ T4, những người chỉ huy Tổng cục II hiện nay và người lãnh đạo cấp cao liên quan đến T4 và Tổng cục II thì sẽ ảnh hưởng đến Đại hội 10, ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn nhân sự cho Đại hội 10 và về sau nữa.
    3. Vụ T4 với những bản tin vu khống của nó không chỉ do một nhóm người : Chấp, Nguyên , Vinh, Đặng Diệu Hà làm mà có sự chỉ đạo của chỉ huy Tổng cục II. Như vụ vu khống đồng chí Phạm Chánh Trực, Nguyễn Văn Thắng (thường vụ quận ủy quận 6 - TPHCM), những đề nghị lập chuyên án người này, người kia là CIA đâu phải do Chấp, Nguyên, Vinh, Diệu Hà đưa ra mà do lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục II hiện nay (Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh), 255 bản tin dù có ký hay không đều do chỉ huy Tổng cục II gửi lên lãnh đạo cấp cao. Không phải do Chấp, Nguyên, Vinh, Diệu Hà gửi. Cho nên không chỉ đưa ra 4 người : Chấp, Nguyên, Vinh, Diệu Hà xử trước pháp luật, còn số chỉ huy, lãnh đạo Tổng cục II hiện nay (Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh) xử lý nội bộ là không đúng.
    4. Trong vấn đề dân chủ nội bộ, phi xuất phát từ động cơ quan điểm đúng, là vì lợi ích xây dựng và bảo vệ Đảng thì mới đi đến nhất trí ; nếu vì động cơ cá nhân : "Phê bình đả kích cấp trên hoặc răn đe khống chế Đảng viên" thì không giải quyết được. Theo tôi, lãnh đạo cùng với Đảng viên bàn bạc dân chủ thì công việc mới kết quả.
    Tôi cảm ơn đồng chí đã nghe tôi phát biểu. 
    III. Đồng chí Phan diễn có ý kién trở lại
    Cũng cho tôi cảm ơn đồng chí đã có ý kiến trở lại về các ý kiến của bộ chính trị và ban bí thư. Đến đây kết thúc cuộc gặp giữa tôi và đồng chí Phan Diễn.
    Đồng chí Thọ ra trước. Tôi ra sau, bắt tay đồng chí Phan Diễn và nói thêm : "Nếu các đồng chí không gửi tài liệu của tôi đến ban chấp hành trung ương khóa 9 thì tôi có quyền và tôi có cách đến Hội nghị trung ương lần 10, khóa 9 hoặc Hội nghị trung ương sau đó để trao văn bản rồi ra về". Đồng chí Phan Diễn nói lại : "Làm thế thì phức tạp quá".
    *
    Thưa các đồng chí,
    Tôi ghi lại những ý kiến chính liên quan đến vụ T4 trong cuộc gặp với đồng chí Phan Diễn, thay mặt bộ chính trị và ban bí thư gặp tôi và tôi đề nghị mấy ý kiến :
    1. Theo Điều lệ Đảng và quyền hạn của đảng viên, tôi có quyền gửi kiến nghị, chất vấn đến trung ương và đại hội đại biểu Đảng là cơ quan lãnh đạo cao nhất Đảng. Tôi làm việc này trong tổ chức. Tôi làm đúng nguyên tắc. Tôi có nghe nói khi báo cáo với trung ương có đồng chí nói đã phân tích với tôi là tôi vi phạm nguyên tắc. Tôi đã trả lời đồng chí Phan Diễn : "Tôi không vi phạm nguyên tắc. Tôi làm theo đúng Điều lệ Đảng. Tôi khẳng định một lần nữa như vậy".
    2. Như tôi đã phát biểu khi tôi còn làm nhiệm vụ ủy viên trung ương rằng : ban chấp hành trung ương bầu ra bộ chính trị, bộ chính trị không được đặt mình cao hơn trung ương, ban chấp hành trung ương bầu ra bộ chính trị, kiểm tra và giám sát bộ chính trị. Bộ chính trị phải báo cáo với trung ương các công việc xây dựng, củng cố Đảng, những vấn đề nội bộ Đảng, liên quan đến sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ. Cho nên một lần nữa, yêu cầu bộ chính trị gửi toàn văn bản của tôi đến trung ương. Vấn đề T4, các vấn đề của lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục II rất nghiêm trọng, có hệ thống, rất nguy hiểm, liên quan đến sự trong sạch vững mạnh của Đảng, hạnh phúc của dân tộc nói chung và của các đảng viên là nạn nhân của sự vu khống chính trị của lãnh đạo Tổng cục II hiện nay. Không phải chỉ là của nhóm 4 người : Chấp, Nguyên, Vinh, Diệu Hà .
    Kể từ vụ Sáu Sứ (1991), các vụ án dựng lên có bài bản, công phu đã gây hậu quả rất nghiêm trọng. Vụ Sáu Sứ, khóa 6 bàn giao cho khóa 7. Khóa 7 không làm. Khóa 8 bị ngăn cản, nên các người lãnh đạo Tổng cục II hiện nay lại tiếp tục gây ra các vụ án chính trị nghiêm trọng tiếp theo cho đến Đại hội 9.
    Những tài liệu về vụ Sáu Sứ, các vụ liên quan đến Tổng cục II : vụ Ngọc sọ não, vụ người của Tổng cục II đưa lên mạng nói xấu lãnh đạo cấp cao của Đảng, vụ tên Vinh bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho địch, tên Kê làm parabol để ăn cắp tiền, vụ đưa ảnh và tài liệu vu khống đồng chí Lê Khả Phiêu trước Đại hội 9, v.v... là những tài liệu về những kẻ phạm tội. Đó không có gì là bí mật với trung ương, với ủy ban kiểm tra các khóa liên quan, với các đồng chí nguyên ủy viên bộ chính trị, nguyên ủy viên ban bí thư các khóa. Giấu giếm, ngăn cản, không làm rõ sự thật của tội phạm là phạm pháp, vi phạm đường lối, bản chất, truyền thống, và Điều lệ Đảng. Phát hiện kẻ tội phạm là có công. Vì có hiện tượng bao che, bịt kín sự thật về những tội phạm nghiêm trọng cho nên tôi phải làm rõ với trung ương, ủy ban kiểm tra, các cơ quan chức năng và rồi đây báo cáo với các đồng chí nguyên ủy viên bộ chính trị, nguyên Ủy viên Ban bí thư các khóa. Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh là những kẻ đồng chủ mưu các vụ vu khống của lãnh đạo hiện nay của Tổng cục II. Phải đưa ra pháp luật. Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh không phải là người có công trong vụ "khủng bố Võ Thị Thắng".
    Quan điểm của Đảng là thi hành pháp luật, không trừ một ai dù người đó ở cương vị gì, dù tuổi tác bao nhiêu, dù trước đây đã giữ những chức vụ nào. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí thế hệ trước, Cục II đã có một đóng góp. Nhưng từ ngày Tư Văn, Vũ Chính nắm Cục 12 và Tổng cục II thì một bộ phận quan trọng Tổng cục II đã trở thành một công cụ vu khống chính trị. Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh đã phản bội lại truyền thống Tổng cục II.
    3. Ủy ban kiểm tra trung ương là do trung ương bầu ra, ủy ban kiểm tra trung ương có trách nhiệm độc lập của mình, phải kiên quyết, trung thực, dũng cảm vạch ra sự thật, vạch ra tội phạm. Nếu có điều gì ủy ban kiểm tra không thống nhất với bộ chính trị thì có quyền báo cáo với ban chấp hành trung ương.
    4. Trong các đồng chí nguyên ủy viên bộ chính trị, nguyên ủy viên ban bí thư, nguyên phó thủ tướng có thể có ý kiến khác nhau về một số vấn đề. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Trong các đồng chí ấy có ba loại ý kiến : một số thấy rõ sâu sắc sự nghiêm trọng và thật nguy hiểm có hệ thống của các người lãnh đạo Tổng cục II hiện nay ; có người bao che muốn giấu sự thật ; một số người chưa rõ. Cho nên phải có thảo luận, tranh luận, sòng phẳng, thật sự dân chủ phân biệt đúng sai trong các đồng chí ấy. Bộ chính trị cần lắng nghe tất cả, phân biệt đúng sai trên quan điểm của Đảng, chứ không vì lý do có những ý kiến khác nhau mà xếp lại những vụ việc nghiêm trọng. Trung thực mà nói, ngay trong số đồng chí nguyên ủy viên bộ chính trị, nguyên ủy viên ban bí thư, cũng có người, cá biệt dính líu đến các vụ của lãnh đạo Tổng cục II hiện nay.
    Xếp lại những vụ nghiêm trọng liên quan đến việc xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh là thiếu trách nhiệm chính trị đối với Đảng, nhân dân, Tổ quốc, thiếu trách nhiệm với những đồng chí bị vu khống chính trị. Lịch sử của dân tộc và của Đảng đã chứng minh rằng : không ai có thể che giấu và bịt kín được sự thật. Sự thật sẽ tự mở đường mà đi.
    Xin chúc các đồng chí sức khoẻ, làm đúng tinh thần của Đảng : kiên quyết làm đúng pháp luật, không trừ một ai.
    Xin chân thành cảm ơn.
    Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
    Nguyên Ủy viên Trung ương khóa 5, khóa 6, khóa 7
    Nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.




    Hà Nội, ngày 17/6/2004


    Kính gửi : Ban Chấp hành Trung ương đảng
    Ðồng chí Tổng bí thư và các đồng chí uỷ viên
    Bộ Chính trị, uỷ viên Ban Bí thư
    Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá 9
    Ðồng chí Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá 7, khoá 8


    Thưa các đồng chí,

    Vụ T4 và các vấn đề của Tổng cục 2 vừa qua đã diễn ra rất nghiêm trọng từ vụ Sáu Sứ (Khoá 6) tiếp đến các vụ khác rất nghiêm trọng trong Khoá 7, Khoá 8 và Khoá 9 hiện nay Nhưng chưa được làm rõ những sai phạm đó và xử lý nghiêm khắc một số lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục 2. Tình hình ấy đang làm cho nhiều đảng viên lo lắng về sự trong sạch vững mạnh của Ðảng ta.

    Ðầu tháng 7/2004, Trung ương sẽ họp lần thứ 10. Tôi thấy cần thiết viết thư gửi Ban chấp hành Trung ương, đồng chí Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và Ban Bí thư về vấn đề T4 và các vấn đề của Tổng cục 2 vừa qua.

    Vụ án T4 là một vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng. Trước đây, trong kháng chiến chống Mỹ, Cục 2 đã đóng góp nhiều thành tích và có truyền thống tốt đẹp. Nhưng hai chục năm nay, có thể nói, từ khi bị khống chế và tự nguyện thực hiện những âm mưu vu khống, Cục 12 (Tổng cục 2) và các lãnh đạo Tổng cục 2, kể từ vụ Xiêm Riệp (năm 1983) và liên tiếp các vụ sau này, đã phạm những sai lầm rất nghiêm trọng và có hệ thống.

    Tôi được các Ðại hội Ðảng bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khoá 5, khoá 6, khoá 7, được Bộ Chính trị chỉ định làm phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị và sau đó được phân công theo dõi một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ. Với trách nhiệm của mình, tôi được hiểu biết tình hình nói chung và tình hình Ðảng bộ Quân đội nói riêng, đã tham gia sự lãnh đạo chung của Ðảng và sự lãnh đạo tư tưởng, tổ chức, bảo vệ chính trị nội bộ Ðảng Quân đội. Trước hết tôi xin trình bày những đièu tôi đã biết với các đồng chí về Tổng cục 2, vụ T4 và các vụ án khác quan hệ đến Tổng cục 2 để góp phần làm sáng tỏ thêm sự thật và tính chất nguy hại có hệ thống và rất nghiêm trọng của các đồng chí lãnh đạo Tổng cục 2, kể từ khi đồng chí Tư Văn và Vũ Chính , Nguyễn Chí Vịnh nắm cương vị lãnh đạo Tổng cục.

    I. Vụ Xiêm Riệp năm 1983

    Nguyên nhân dẫn đến vụ Xiêm Riệp (năm 1983) là do cục 12 trước thuộc Cục 2 đã dựng tài liệu, chứng cứ không có thật, dựa theo tin địch, vu oan cho nhiều cán bộ bạn , dùng nhục hình, tra tấn, mớm cung, bức cung, gây ra những đau đớn oan ức cả tinh thần và thể xác cho cán bộ bạn, có đồng chí là cán bộ cao cấp của Ðảng bạn phải tự sát, gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Vụ này, không phải là do một cán bộ (Mạc Lam) mà là từ lãnh đạo của cục 12 (Tư Văn, Vũ Chính). Hồi đó, đồng chí Lê Ðức Anh làm trưởng đoàn chuyên gia tại CamPuChia. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có ý kiến của đồng chí Lê Ðức Anh, nên số cán bộ lãnh đạo của Cục 2 không bị xử lý mà chỉ thi hành kỉ luật đồng chí Mạc Lam, một trợ lý, và tập trung khuyết điểm vào đồng chí Hoá , Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng 719 và đồng chí Thanh, Tư lệnh mặt trận 419.

    Ðến nay, nhiều đồng chí cán bộ cấp cao, các cán bộ tham gia công tác ở CamPuChia vẫn tiếp tục có ý kiến về vụ Xiêm Riệp, cả đối với các đồng chí lãnh đạo cục 2 và đồng chí Lê Ðức Anh.

    II. Vụ Sáu Sứ năm 1991 (vào cuối khoá 6, trước thềm đại hội VII)

    Trước Ðại hội 7, tâm trạng cán bộ, cả phía Nam và phía Bắc có nhiều lo lắng, băn khoăn về nhân sự cấp cao của Ðảng, nhiều cán bộ không vừa lòng một số đồng chí trong Bộ Chính trị Khoá 6. Nhiều ý kiến muốn thay đổi một số Uỷ viên Bộ Chính trị. Trong đó dư luận tập trung không đồng tình đồng chí Lê Ðức Anh. Ðặc biệt thắc mắc đồng chí Lê Ðức Anh mấy điểm :

    - Về lý lịch, đồng chí Anh khai xuất thân là công nhân là không đúng .

    - Về ngày vào Ðảng đồng chí Lê Ðức Anh khai không đúng .

    - Có một trận phục kích quân Pháp, trong đó có tên chủ đồn điền Pháp (đồn điền mà đồng chí Lê Ðức Anh làm công chức) đồng chí Lê Ðức Anh là người chỉ huy đại đội phục kích, không cho nổ súng. Nhờ đó bọn quân Pháp và cả tên chủ đồn diền (chủ cũ của đồng chí Lê Ðức Anh) thoát chết

    - Thái độ đối với bà vợ trước, đồng chí Lê Ðức Anh có thái độ xử sự không đúng tình nghĩa.

    Như đồng chí Trường Chinh (được bầu làm Tổng bí thư sau khi đồng chí Lê Duẩn mất) nói : việc cán bộ trung cao cấp và cả nhân dân quan tâm đến nhân sự cao cấp của Ðảng là điều bình thường, nhưng trước tình hình đó, Cục 2 được một sự chỉ đạo nào đó, đã tổ chức, dàn dựng ra vụ Sáu Sứ một cách bài bản, công phu, cấp xe, cấp tiền cho Sáu Sứ ra Hà Nội và trực tiếp chỉ đạo Sáu Sứ gặp một số lãnh đạo, cựu chiến binh, tìm cách khêu gợi và bí mật ghi âm, tất cả 16 cuốn.

    Bộ Chính trị khoá 6 tổ chức cho chúng tôi nghe các băng ghi âm đó. Tôi nghe phần nhiều là lời Sáu Sứ và nhiều đoạn ồm ồm không nghe rõ.

    Vụ này Cục 2 đã nguỵ tạo tài liệu, dựng chứng cứ giả, nặn thêm tình tiết, làm cho dư luận ngộ nhận là có thật, đánh lừa Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung Ương, thực chất là vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí TrầnVăn Trà, để thanh trừng nội bộ, hãm hại đồng chí. Nhiều đồng chí trung thực như đồng chí Nguyễn Ðức Tâm, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Nguyễn Thanh Bình &và nhiều đồng chí Uỷ viên Trung ương cũng bị những tin tức đó đánh lừa.

    Sự vu khống ấy đã dẫn đến sự phân tâm trong Ðảng, trong cán bộ Quân đội, ảnh hưởng rất xấu cho đến ngaỳ nay, gây đau khổ, phẫn uất cho nhiều cán bộ cao cấp trong và ngoài Quân đội.

    III. Vụ T 4 là một vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng

    1) Tổng cục2 đã làm một việc hết sức nghiêm trọng là bịa đặt ra một tên có bí danh làT4, đặc tình của Tổng cục 2 nằm trong CIA để đưa tin vu khống chính trị nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao và nhiều cán bộ khác của Ðảng và Nhà nước với hàng trăm bản tin (không kể báo cáo miệng)

    2) Nội dung vu khống chính trị là đưa tin CIA đã nắm được hoặc CIA đã tiếp cận được, đã cho người liên hệ, đã chỉ đạo các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Mai Chi Thọ, Trương Tân Sang, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Võ Thị Thắng, Vũ Quốc Hùng, Nguyễn Khánh Toàn (Thứ trưởng Bộ Công An), Phan Diễn, Lê Văn Dũng, Phan Trung Kiên, Võ Viết Thanh, Ðoàn Mạnh Giao.

    Vu khống cả một số tướng lĩnh trung thành và kiên cường chiến đấu trong kháng chiến, vu khống cả bản thân tôi.

    Các đồng chí đã có các bản tin của Tổng cục 2. Ðề nghị các đồng chí đọc kỹ. Ðối với tôi (Nguyễn Nam Khánh) và đồng chí Nguyễn Huy Chương, Uỷ viên Trung ương Ðảng, đồng chí anh hùng Thượng tướng Nguyễn Chơn, Uỷ viên Trung ương Ðảng, bản tin Tổng cục 2 đưa tin lên lãnh đạo cấp cao :

    "Từ trung tâm CIA cho hay : Trong mười ngày gần đây vợ chồng Trần Quốc Thuận, Võ thị Thắng đã tạo ra những liên kết trong bộ máy bảo vệ nền chuyên chính vô sản, đã gặp gỡ thân tình với một số cựu chiến binh thủ cựu trong Ðảng, đó là Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Thượng tướng Nam Khánh, Thượng tướng Nguyễn Chơn. Qua lại ăn cơm vói tướng Khánh, tướng Chơn. Hai người này úy lạo mặt tư tưởng cho tướng Khánh, tướng Chơn, phát động một số phong trào kêu gọi cựu chiến binh Mặt trận cấp tiến. Ðồng thời gây sức ép với ông Lê Khả Phiêu về một số đòi hỏi của cựu chiến binh. Nhân dịp kỉ niệm 210 năm ngày Quang Trung đại phá quân Thanh họp bàn bên lề kỉ niệm Quang Trung thành một buổi chất vấn về những yêu sách của cựu chiến binh khu vực miền Trung. Cặp vợ chồng Thuận Thắng đang đà thuận tiện con đường đi sâu vào nội bộ Quân đội và Tổng bí thư Lê Khả Phiêu qua hai vị tướng này" (Bản tin ngày 7/2/1999).

    Về đồng chí Võ Nguyên Giáp

    Tổng cục 2 đưa tin
     
    : (chỉ trích một số).

    "Sau Ðại hội 8, CIA chỉ đạo nhóm Z (tức là nhóm Giáp) chủ trương xúc tiến vận động cả quan điểm, tư tưởng và tổ chức nhân sự, lợi dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để loại bỏ chủ nghĩa Mác- LêNin, tách tư tưởng Hồ Chí Minh với tư tưởng Mác LeNin, tạo ra phong trào "dân tộc dân chủ" (Bản tin số 49/96TR ngày 7/7 /1996).

    "Ngày 12/7/1997, tại một địa điểm phía Bắc, đại diện CIA Mỹ đã phổ biến chủ trương của Mỹ và Pháp lôi kéo ông Võ Nguyên Giáp.

    "Hiện nay theo yêu cầu của CIA thì ông Giáp vẫn đang ngấm ngầm hoạt động, nhất là sau khi có thông tin về cuộc gặp riêng giữa ông và Mac Namara trong cuộc hội thảo "Những cơ hội bị bỏ lỡ", Tại cuộc gặp riêng này, mặc dù có phiên dịch tiếng Anh, nhưng hai bên đã không dùng tiếng Anh mà dùng tiếng Pháp (vì Mac Namara cũng biết tiếng Pháp). Mac Namara mời ông Giáp sang Mỹ dự hội thảo về "Sự kiên Vịnh Bắc Bộ " để phân biệt ai đúng ai sai. Ông Giáp đã trả lời : "Thời cơ chưa chín muồi.

    CIA phân tích : "ông Giáp còn phải chuẩn bị dư luận dọn đường ở trong nước rồi mới đi Mỹ" (Bản tin số 167/TR ngày 17 /7/1977).

    "Ông Giáp chuẩn bị công bố cho học thuyết của mình (chỉ đạo ông Giàu viết cuốn sách Chủ nghĩa Hồ Chí Minh). Thông qua việc trả lời phóng viên Nhật Bản, ông Giáp đã đưa ra "Chủ nghĩa Xã hội Nhân văn", kích động tư tưởng về một đợt sóng ngầm, bí mật thành lập "Mặt trận cứu nguy dân tộc" (Bản tin số 212/97/ TR ngày 10/9/97).

    Tổng cục 2 đưa tin về đồng chí Phạm Văn Ðồng

    "Sáng 05/9/97, Phạm Văn Ðồng đã mời một số Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương khoá 4, khoá 5, yêu cầu những người này đứng ra vận động các Uỷ viên Bộ Chính trị, cán bộ đã về hưu chủ yếu là tướng lĩnh Quân đội yêu cầu thay đổi các đồng chí chủ chốt hiện nay (Bản tin số 212/97/TR ngày 10/9/97).

    Tin về đồng chí Phan Văn Khải

    "Thời kỳ Phan Văn Khải làm Chủ Tịch Thành Phố , Charles Ðức (là người được tên CIA Nguyễn Ngọc Huy, bí thư Ðảng Tân Ðại Việt đánh về miền Nam năm 1973 và phong cho làm Trung ương uỷ viên Phong trào Quốc gia Cấp tiến), đã dùng chuyên cơ đưa Phan Văn Khải đi tham quan các nước Ðông Nam Á. Khi biết Phan Văn Khải được đề bạt ra Trung Ương, Charles Ðức hết lòng cung phụng cho Phan Văn Khải" (Bản tin ngày 10/5/1999).

    Tin về đồng chí Trương Tấn Sang

    "CIA có nguồn tin từ quốc nội cho hay Bộ Chính trị sẽ loại trừ Trương Tấn Sang sau khi ông ta tổ chức thành công lễ kỷ niệm Sài Gòn 300 năm theo chủ nghĩa dân tộc. Hồ sơ của Tư Sang đã được CIA chuẩn bị cho một vị trí lãnh đạo của phe đối lập trong trường hợp ông ta ra khỏi Bộ Chính trị& CIA hy vọng về sự thành công của Tư Sang trong vai trò lãnh đạo phe đối lập (Bản tin ngày 25/12/98).

    "Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương. (Bản tin số 497 ngày 24/3/99).

    "Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.

    "Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Ðảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Ðảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ".

    "Ðã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Ðoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội" (Bản tin ngày 2/8/1999)

    "Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Ðặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm& Nội dung cuộc họp : Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.

    "Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Ðảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ &Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch (Bản tin số 223 ngày 19/1/98).

    Tin về đồng chí Võ Viết Thanh

    "Nguồn tin từ trong đội ngũ cấp cao cho hay ông Võ Viết Thanh đang thông qua một số nhân vật trung gian thân Mỹ để móc nối xin tị nạn chính trị trong sứ quán Mỹ hoặc đi ra nước ngoài" (Bản tin ngày 7/2/1999).

    Tin về đồng chí Năm Xuân (Mai Chí Thọ)

    "Charles Rey, Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh đến nhà riêng gặp anh Năm Xuân.

    Ðây cũng là một hiện tượng không bình thường, ta chưa rõ nội dung cuộc gặp này. Những vụ án ta gọi là kinh tế, đàng sau đều có dính đến chính trị" (Bản tin ngày 5/10/1999).

    Từ vụ Sáu Sứ, Cục 2 (hồi đó cục 2 chưa được mang tên là Tổng cục 2) đã có báo cáo "Cảnh báo nhóm Mai Chí Thọ sẽ tiến hành đảo chính"

    Tin về đồng chí Võ Thị Thắng

    "Nhằm áp đảo những người tố cáo mình, bà Võ Thị Thắng đã tìm cách kết thân với nhiều cán bộ chủ chốt ngành Công An, Nội Chính, Kiểm tra Ðảng, Bảo vệ Chính trị Nội bộ.

    Bà Thắng là người tình của Nguyễn Khánh Toàn, thứ trưởng Bộ Công An (Bản tin số 218 ngày 21/1/1999).

    "T4 tiết lộ Võ Thị Thắng trước đây đã được Phủ Ðặc uỷ tháo răng hàm trên (răng cửa) để thay vào đó răng giả đặc biệt được sử dụng khi cảm thấy hiểm nguy, có thể cắn vỡ răng này sau khi dùng lưỡi đẩy rơi ra, là một liều thuốc độc cực mạnh có thể giúp các điệp viên tự sát" (Bản tin ngày 21/3/1999).

    Tin về đồng chí Vũ Quốc Hùng

    "CIA đã cho ngươi móc nối Vũ Quốc Hùng vì thấy Vũ Quốc Hùng là Uỷ viên Trung ương Ðảng, có thể được Nguyễn Văn An và một số lão thành giới thiệu vào Bộ Chính trị".

    "Hùng đã cho người có quan hệ với CIA biết tin : Phương án định đồng chí Lê Khả Phieu làm Tổng bí thư là không còn, thay vào đó chắc chắn là Nguyễn Văn An (CIA đã nắm được tin này)" (Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/1997).

    Tin về đồng chí Phan Diễn

    "Phan Diễn có quan hệ phức tạp với một số người Hoa trong nhóm tình báo Trung Quốc. Ðề nghị lãnh đạo thận trọng" (Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/1997).

    Tin về đồng chí Nông Ðức Mạnh

    "Có tin đồn đồng chí Nông Ðức Mạnh kết nghĩa với Minh Phụng. Tăng Minh phụng đã từng phục vụ cho đồng chí Mạnh và khi y bị bắt, đồng chí Mạnh tỏ ra không đồng tình" (Bản tin số 352/97/TR ngày 17/12/1997).

    Tin về đồng chí Nguyễn Minh Triết

    "Ðồng chí Triét vẫn tỏ ra tin tưởng Trần Bạch Dằng. Ðồng chí Triét nói : anh Trần Bạch Ðằng là Thủ trưởng của tôi mà còn bị nghi ngờ" (Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/97).

    Tin về đông chí Trần Tiến Cung (Thiếu tướng Tổng cục phó Tổng cục 2)

    "Trần Tiến Cung cũng là người quan hệ chặt chẽ với nhóm cơ hội chính trị xét lại" (Báo cáo số 1500/20/CB của Tổng cục 2).

    Bản tin riêng về địch móc nối vào Viện 108

    "Ý đồ của CIA chống phá ta qua ngành y tế rất thâm độc và nguy hiểm. Chúng đã sớm móc nối vào viện 108, CIA đã móc nối được một số giáo sư, và giao cho " Mặt trận dân chủ cấp tiến" chỉ đạo nhóm này. Ðặc biệt là khi chủ tịch Lê Ðức Anh bị ốm, CIA đã chỉ đạo Mặt trận dân chủ cấp tiến ráo riết hoạt động chỉ đạo chặt chẽ lực lượng của chúng tại viện 108 trong quá trình điều trị cho chủ tịch Lê Ðức Anh. Ðáng chú ý gần đây, phát hiện được Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Y Tế) có quan hệ với lực lượng cấp tiến. Tuần qua, hai lần Phạm Song gặp một tên trong ban lãnh đạo Mặt trận cấp tiến, tên này là bác sỹ lâu năm và là người của Giáp, y đang trực tiếp chỉ đạo lực lượng của Mặt trận dân chủ cấp tiến tại viện 108 trong việc điều trị cho chủ tịch Lê Ðức Anh. Gần đây phát hiện chúng đã đặt thiết bị nghe trộm. Ngay trong xe của chủ tịch Lê Ðức Anh đã có dấu hiệu đặt thiết bị nghe trộm (Bản tin số 185/96/TR ngày 30/12/96).

    Các vấn đề của Tổng cục 2 còn nhiều như tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí, trước đây hoạt động cách mạng, là đã làm tay sai cho địch. Nguyễn Quang Vịnh (người của Tổng cục 2) đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Kế (người của Tổng cục 2) làm parabol để thu tiền bất hợp pháp ; gian lận trong thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Ðảng và Nhà nước. Ðặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Ðảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Ðảng v. v... Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động, và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam (báo chí đã đưa tin nhưng bị ém).

    Khó mà tưởng tượng được những hành động phạm pháp nghiêm trọng ấy lại diễn ra trong một cơ quan làm nhiệm vụ tình báo quân sự cấp chiến lược. Cơ quan tình báo mà lại bịa ra một cơ sở đặc tình "ma" để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cấp cao từ Tổng bí thư, uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Ðại tướng, Thượng tướng, uỷ viên Trung ương Ðảng, Bộ trưởng& là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ Quốc, phản bội Ðảng. Qua những vụ việc nêu trên, những người lãnh đạo Tổng cục 2 như Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, đã phản bội truyền thống tốt đẹp của tình báo quân đội trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Không thể viện lý do trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Tổng cục 2 có đóng góp và truyền thông tốt đẹp mà giảm tội cho Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, những người đã bịa ra cơ sở đặc tình " ma" T4 và các vụ sai phạm khác.

    Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Ðảng, phá hoại Ðảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí. Với những bản tin đó mà tôi không thể trích dẫn hết, đã buộc cấp lãnh đạo cao nhất điều tra, thẩm tra, ít nhất là 10 vụ gây ra rất nhiều phức tạp.

    Ðó là hành động phá hoại đảng, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại Tổ Quốc. Ðó không phải là chuyện riêng nội bộ Tổng cục 2, nội bộ Bộ quốc phòng. Ðó là vấn đề của toàn Ðảng, của pháp luật, của chế độ xã hội chủ nghĩa, liên quan đến an ninh của Tổ Quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Ðó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng, và nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Ðảng và chế độ.

    Còn nói rằng CIA đang tập trung đánh vào Tổng cục 2, cho nên cần giảm tội là một luận điệu nhằm bao che cho Tổng cục 2. Không thể đồng tình với luận điểm đó, và đó cũng là thủ đoạn của Tổng cục 2 đã làm trước đây khi bắt đầu phát hiện ra vụ T4. Luận điệu nói rằng công an đánh vào Tổng cục 2 cũng là luận điệu giả dối. Rõ ràng, tính chất của vụ T4 là thuộc là thuộc về động cơ và quan điểm chính trị sai lầm, chứ không phải chỉ có thiếu xót trong công tác quản lý giáo dục cán bộ, nhân viên. Do đó, nếu chỉ thi hành kỷ luật ở mức cảnh cáo là không đúng.

    IV. Nghị định 96/CP và sự lộng quyền của Tổng cục 2

    Trước đây Cục 2 là một cục tình báo quân sự. Sau cuộc " lập công" đầy tội ác với vụ Sáu Sứ và sau những tin giật gân, bịa đặt do cục 2 đưa ra để tự đề cao và để bày tỏ Cục 2 là "người trung thành bảo vệ lãnh đạo nhất". Một đồng chí lãnh đạo cấp cao khoá 7 nói : "Công an chả nắm được gì, chỉ có Cục 2 là nắm được tình hình". Lãnh đạo Cục 2 kiến nghị nâng Cục 2 thành Tổng cục 2., Do nhiều thủ thuật khôn khéo, pháp lệnh tình báo của thường vụ quốc hội ra đời. Tiếp đó là nghị định 96/CP của chính phủ. Trong khoá 7, đồng chí Lê Ðức Anh được bầu vào Bộ Chính trị và sau đó được bầu làm Chủ tịch nước, phụ trách cả An ninh, Quốc phòng và Ðối ngoại. Về lãnh đạo quân đội, lúc đầu có ý kiến đề xuất đồng chí Lê Ðức Anh làm bí thư Ðảng uỷ quân sự Trung ương. Nhưng Tổng cục Chính trị không đồng ý, vì không đúng với cơ chế Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành. Do đó, đồng chí Lê Ðức Anh lãnh chức Phó bí thư thứ nhất Ðảng uỷ quân sự trung ương. Ðồng chí Ðoàn Khuê, Bộ trưởng quốc phòng làm phó bí thư. Ðồng chí Ðỗ Mười, theo cơ chế, làm bí thư Ðảng uỷ quân sự trung ương, nhưng trên thực tế, mọi việc chỉ đạo chung và cả điều hành cụ thể công tác quân sự, quốc phòng là đồng chí Lê Ðức Anh. Ðược sự chỉ đạo của đồng chí Lê Ðức Anh, chủ tịch nước, phó bí thư thứ nhất Ðảng uỷ quân sự trung ương, Pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP đã được soạn thảo và chuyển qua quốc hội và chính phủ. Pháp lệnh tình báo do đồng chí Nông Ðức Mạnh, thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ký ngày 14/12/96. Nghị định 96/ CP do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 11/9/1997. Ðồng chí Võ Văn Kiệt sau này có nói : "Tôi suy nghĩ mãi hơn 6 tháng mới ký nghị định 96/ CP".

    Khoá 7, tôi là uỷ viên trung ương, uỷ viên Ðảng uỷ quân sự trung ương, mà hoàn toàn không được biết về nghị định 96/ CP. Tôi và nhiều đồng chí thông cảm với đồng chí Võ Văn Kiệt. Có lẽ đồng chí Võ Văn Kiệt cũng cảm nhận một số điều không đúng của nghị định 96/ CP, nghị định về tình báo Quốc Phòng, cho nên đồng chí Võ Văn Kiệt thật sự có đắn đo. Tôi cũng thông cảm với đồng chí Nông Ðức Mạnh, lúc đó là Chủ tịch quốc hội. Dưới đây, tôi trình bày một số ý kiến về pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP về tình báo quốc phòng, chủ yếu là về nghị định 96/ CP :

    Ðiều 2, chương 1 của pháp lệnh tình báo xác định :

    "Lực lượng tình báo Việt nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Ðảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước)

    Ðiều 14, chương III quy định :

    "Thủ trưởng tình báo thuộc quốc phòng trực tiếp điều hành công tác của lực lượng Tình báo Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước Bộ quốc phòng và lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước về mọi mặt trong lĩnh vực công tác của lực lượng tình báo trực thuộc"

    Còn nghị định 96/ CP của Thủ tướng chính phủ ở điều I chương I ghi rõ :

    "Lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, An ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội, thu thập và xử lý tin liên quan đến lợi ích quan trọng, sống còn của CHXHCNVN, góp phần tham mưu cho Ðảng và Nhà nước hoạch định đường lối, sách lược đối nội, đối ngoại và các chủ trương, kế hoạch, biện pháp, quyết sách để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược".

    Ðiều 11, chương 2 của nghị định 96/ CP xác định :

    "Ðối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến Nước CHXHCNVN. Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Ðảng CSVN, Nhà Nước CHXHCNVN".

    Ðiều 11, chương 2 của nghị định 96/CP lại giao nhiệm vụ và các quyền hạn :

    "Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trình lên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng nhiệm vụ và kế hoạch trọng yếu dài hạn và hàng năm của công tác tình báo chiến lược".

    Ðiều 15, chương 2 :

    "Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng được biệt phái cán bộ đến các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật ở trong nước, và ngoài nước có liên quan để thực hiện nhiệm vụ tình báo"

    Ðiều 18, chương 2 :

    "Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng được thiết lập kênh thông tin liên lạc đặc biệt với lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước"

    Ðiều 20, chương 2 :

    "Tổng cục tình báo được sử dụng các biện pháp tình báo, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí và công cụ phục vụ cho nhiệm vụ đặc biệt của tình báo"

    Ðiều 21, chương2 :

    "Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết được sử dụng danh nghĩa và phương tiện làm việc, con dấu hoặc các giấy tờ giao dịch của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội"

    Trong việc quy định các mối quan hệ, tuy có nói về mối quan hệ chỉ huy của Bộ Quốc phòng với Tổng cục tình báo, nhưng điều 30 chương 4 lại nói :

    "Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng".

    Ðiều 30, chương 4 :

    "Tổng cục trưởng Tổng cục tình báo chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo cấp cao của Ðảng và nhà nước về mọi lĩnh vực công tác của lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng".

    Còn về tài chính, ngân sách thì như thế nào ?

    Ðiều 8, chương I quy định :

    "Kinh phí đặc biệt ngoài ngân sách Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Bộ tài chính cấp trực tiếp cho Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng".

    Qua nội dung của nghị định 96/CP có thể nhận ra điều gì?

    Trong cơ chế nước ta, ai cũng hiểu pháp lệnh thường không phải do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội soạn thảo. Nghị định cũng thường không phải do Văn phòng Thủ tướng soạn thảo mà do " cơ quan chủ quản" đề tài ấy soạn ra.

    Nhưng kẻ soạn ra pháp lệnh Tình báo và Nghị định 96/ CP đã khéo léo, bắt đầu từ chỗ xác định "Lực lượng tình báo Việt nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Ðảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước).

    Xác định như vậy nghe ra thì rất lập trường, đề cao sự lãnh đạo tuyệt đối, tập trung, thống nhất về mọi mặt của Ðảng. Nhưng giả định nếu ta đưa ra một khái niệm tương tự : "Lực lượng hậu cần kỹ thuật (hoặc lực lượng pháo binh, lực lượng phòng không khong quân&) đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ" thì nghe có được không ?

    Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ là hoàn toàn đúng. Thế nhưng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và từng bộ phận của lực lượng ấy là hai chủ thể khác nhau trước luật pháp. Tổng cục 2 là một bộ phận của Quân đội nhân dân, nhưng nó không phải là toàn thể Quân đội nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ, nhưng khi xác định cơ chế và các mối quan hệ lãnh đạo chỉ huy, của từng bộ phận của Quân đội nhân dân, thì xác định như vậy là không đúng, không chuẩn, không rõ ràng. Những kẻ soạn thảo đã cố tình đưa ra một khái niệm lẫn lộn, đánh đồng Bộ Quốc phòng và Tổng cục tình báo, đánh đồng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đối với Bộ quốc phòng và Tông cục tình báo. Sự pháp quy đó đã bị lợi dụng dẫn đến một sự hiểu lầm : "Tổng cục tình báo cũng đứng dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của lãnh đạo cấp cao, ngang hàng với Bộ quốc phòng". Ðó là một kẽ hở rất lớn dẫn đến sự lộng quyền.

    Ðể cụ thể hoá pháp lệnh tình báo, những người soạn thảo đã đưa vào nghị định của Thủ tướng Chính phủ những quyền hạn rất rộng cho Tổng cục tình báo Bộ quốc phòng, đặc biệt là ở điều I chương 1.

    An ninh Quốc gia là một lĩnh vực rộng lớn và tổng hợp, cho nên công tác tình báo để đảm bảo an ninh quốc gia ở bất kỳ nước nào cũng có nội dung rộng lớn bao gồm toàn diện các lĩnh vực : tình báo chính trị, tình báo tài chính, tình báo thương mại, tình báo khoa học công nghệ, tình báo thông tin, tình báo văn hoá, tình báo ngoại giao, tình báo bảo đảm an ninh nội bộ, công tác phản gián và sử dụng các hình thức tình báo để thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể.

    Ðể thực hiện nhiệm vụ tình báo chiến lược tổng hợp đó, mỗi cơ quan, mỗi ngành có chức năng, nhiệm vụ, đối tượng cụ thể, và riêng của mình. Nhưng điều 1 Chương I xác định :

    "Lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, An ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội" là không đúng. Tình báo Bộ quốc phòng làm nhiệm vụ tình báo quân sự, thực hiện các công tác tình báo để đảm bảo các nhiệm vụ của Bộ quốc phòng. Ðương nhiên nhiệm vụ Bộ quốc phòng có liên quan đến các ngành, các lĩnh vực, nhưng tình báo Bộ quốc phòng không phải là toàn bộ các công tác An ninh Quốc gia.

    Tình báo quân sự cần có sự kết hợp chặt chẽ với tình báo các lĩnh vực khác, nhưng nó không được bao trùm, nằm lên trên, ôm đồm, mở rộng ra toàn diện các lĩnh vực. Nó chỉ là và phải là một lực lượng Tình báo chiến lược chuyên trách về quân sự và các nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng. Xin nhấn mạnh chữ một. Phải xác định đúng khung phạm vi chức năng nhiệm vụ của nó.

    Từ nhiệm vụ quá rộng bao trùm lên toàn diện các lĩnh vực, cho nên điều 11, chương 2 xác định đối tượng của Tình báo quân sự không chặt chẽ :

    "Ðối tượng và mục tiêu của lực lượng Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng là những nơi có tin tức, có tài liệu liên quan đến nước CHXHCNVN, trong đó đặc biệt chú ý đén các Quốc gia, tổ chức và cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt đông đe doạ, chống lại Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nhà Nước CHXHCNVN". Với điều 11, chương 2 đó thì những nơi mà Tổng cục 2 cho rằng có tin tức, tài liệu liên quan đến nước CHXHCNVN và "đặc biệt chú ý đến các tổ chức và cá nhân trong nước hoạt động đe doạ chống lại Ðảng, Nhà Nước" là Tổng cục có quyền sục vào, có quyền đưa tin, có quyền gài người vào tất cả các địa phương (không trừ huyện nào, tỉnh nào, không trừ một cơ quan nào của Ðảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế, v. v., như Tổng cục 2 đã làm lâu nay.

    Cũng từ đó Nghị định 96/CP quy định "Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trình lên Thường vụ Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Ðảng nhiệm vụ và các kế hoạch trọng yếu dài hạn và hàng năm của công tác Tình báo chiến lược".

    Xin lưu ý : cụm từ "của công tác tình báo chiến lược" nghĩa là công tác Tình báo chiến lược nói chung bao trùm. Thế Bộ Công An làm gì? Thế Ðảng uỷ quân sự Trung ương làm gì? Ðề ra như thế là cho Tổng cục 2 qua mặt cả Ðảng uỷ quân sự Trung ương, lên trên cả bộ Công An.

    Hơn nữa, Nghị định 96/CP xác định : "Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng dược thiết lập kênh thông tin liên lạc với lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà Nước. " "Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết được sử dụng danh nghĩa và phương tiện làm việc, con dấu các giấy tờ giao dịch của cơ quan Nhà Nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội."

    Ngân sách Quốc phòng được Nhà Nước giao cho Bộ Quốc phòng mà Tổng cục 2 là một cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng. VậyTổng cục 2 có nhiệm vụ gì đặc biệt ngoài Quốc phòng mà Bộ trưởng Quốc phòng phải đề nghị Thủ tướng phê duyệt và Bộ Tài chính trực tiếp cấp? Ðiều 20, chương 14 và nhiều điều khác đã để lộ ý định của người soạn thảo đưa ra pháp lệnh này là : Biến Tổng cục 2 thành một cơ quan Tình báo (như kiểu CIA của Mỹ), trùm lên cả cơ quan Tình báo của Bộ Công An, Ban bảo vệ chính trị nội bộ, Cục bảo vệ, Tổng cục chính trị, làm cả đối ngoại và nội bộ.

    Công tác bảo vệ nội bộ là do Ban bảo vệ chính trị phụ trách. Công tác An ninh bao gồm cả công tác phản gián phải tập trung vào Bộ Công An, tất nhiên có sự kết hợp giữa thế trận An ninh nhân dân và thế trận Quốc phòng toàn dân. Nhưng không thể tập trung quyền hạn vào Tổng cục 2, để Tổng cục 2 bao trùm lên trên.

    Lợi dụng Nghị định 96/CP, Tổng cục 2 đã có sự lộng quỳên nghiêm trọng, sự thao túng nghiêm trọng, phá hoại dân chủ và phá hoại đoàn kết nôi bộ, gây chia rẽ và bè phái rất nghiêm trọng trong Ðảng. Tổng cục 2 muốn vu khống ai thì vu khống, muốn trừng trị ai thì bày chuyện trừng trị, muốn gài người vào cơ quan nào thì gài, tổ chức kinh doanh tràn lan, lạm dụng các hoạt động gọi là Tình báo để tiêu tiền, thậm chí tạo ra " cơ sở đặc tình" không có thật để tiêu tiền ("tiền cho T4 mà", ít nhất là 81. 000 đô la, đó là mới phát hiện, còn chưa kể kiểm tra hết được).

    Qua việc nắm tình hình khi tôi làm nhiệm vụ, tôi thấy mấy điểm :

    1. Quyền hạn Tổng cục 2 quá rộng.

    2. Người Tổng cục 2 sử dụng có cả bọn xấu và có cả các phần tử địch xen vào.

    3. Nguyên tắc, thủ đoạn, nề nếp làm việc không đúng quy chế, quy định, tin từc không có phối kiểm, đưa gửi tràn lan. Trong công tác Ðảng uỷ thì không thực hiện đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể. Thủ trưởng Tổng cục độc đoán, chuyên quyền.

    4. Người của Tổng cục 2 cũng đưa lên mạng nói xấu lãnh đạo Ðảng.

    5. Tài chính bất minh.

    Vì vậy tôi đề nghị :

    - Phải kiểm tra toàn diện Tổng cục 2 cả về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, nề nếp làm việc, hệ lực lượng bao gồm lực lượng cài cắm ở các cơ quan và tài chính.

    - Chấm dứt việc cài người của Tổng cục 2 vào các cơ quan Ðảng, Nhà Nước.

    - Phải thật sự chấn chỉnh Tổng cục 2 cả tổ chức, cán bộ, lực lượng, nguyên tắc làm việc, cả chính quyền và Ðảng, tài chính, cơ sở vật chất. Không thể để lại ở Tổng cục 2 những cán bộ lãnh đạo vu khống chính trị đã thoái hoá biến chất.

    - Quốc hội và Chính phủ phải xem xét lại pháp lệnh Tình báo và nghị định 96/CP, sửa đổi hoặc huỷ Nghị định 96/CP.

    Cuối cùng, tôi xin nhắc lại : Ðây là một vụ án chính trị cực kỳ nghiêm trọng, còn nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần vụ Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, liên quan đến mất còn của chế độ XHCN và Tổ Quốc, đến sinh mệnh chính trị, uy tín, hạnh phúc của rất nhiều đồng chí, cả những đồng chí lão thành.

    Là một đồng chí được tham gia sự lãnh đạo của Ðảng 15 năm, tham gia lãnh đạo công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội hơn 20 năm, tôi yêu cầu :

    1. Ðồng chí Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra Trung ương, Ban chỉ đạo liên ngành phải tiếp tục làm sâu hơn, kỹ hơn, đến nơi đến chốn tính chất nghiêm trọng của vụ T4, vụ Sáu Sứ, vụ đồng chí Võ Viết Thanh và các vụ liên quan.

    2. Thông báo cho các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra và các đồng chí Trung ương các khoá. Vì vụ này, kể từ vụ Sáu Sứ đã diễn ra từ khoá 6. Khoá 6 đã bàn giao cho khoá 7, khoá 8 đã bàn giao cho khoá 9.

    3. Báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vụ Sáu Sứ, T4, và các vấn đề của Tổng cục 2. Hồi còn tham gia Trung ương, có lần tôi đã phát biểu : Bộ Chính trị không được phép đặt mình cao hơn Trung ương. Mọi việc quan trọng trong Ðảng đều phải báo cáo với Trung ương để Trung ương thực hiện quyền hạn và chịu trách nhiệm trước toàn Ðảng. Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Ðại hội.

    4. Vấn đề này là vấn đề của chế độ, của Tổ Quốc, của dân tộc, của Nhà Nước. Phải xử lý đúng pháp luật của Nhà Nước, đúng theo tinh thần mà các hội nghị Trung ương đã xác định : Ðối với pháp luật thì không trừ một ai, dù người đó ở cương vị gì. Không được xử lý nội bộ những việc liên quan đến pháp luật. Nói đi đôi với làm.

    5. Chúng tôi thấy có hiện tượng bao che, ngăn cản làm rõ sự thật, bao che, ngăn cản việc xử lý nghiêm minh các vụ vu khống chính trị do Tổng cục 2 thực hiện, từ vụ Sáu Sứ vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Văn Trà, vụ vu khống chính trị đòng chí Trương Tấn Sang, đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, đồng chí Phan Văn Khải, Phan Diễn, Trương Vinh Trọng, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Phạm Văn Ðồng, Trần Tiến Cung, đồng chí Nguyễn Văn Thắng, thường vụ Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh, vụ vu khống đồng chí Võ Thị Thắng, vụ vu khống đồng chí Phạm Chánh Trực, Lê Văn Dũng, Lê Khả Phiêu, Phan Trung Kiên vv..., các vụ tung tin về đồng chí Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Trần Ðức Lương, Mai Chí Thọ, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Chơn, Nguyễn Nam Khánh, Tô Ký, Ðồng Văn Cống. vv., các vụ làm tài liệu giả khác, vụ quân báo liên quan đến bè lũ Năm Cam. Không phải chỉ dừng lại ở chỗ minh oan.

    Căn cứ vào luật pháp, điều lệ, nguyên tắc Ðảng, quyền dân chủ và quyên kiểm tra của đảng viên tôi yêu cầu phải làm rõ tính chất của tội phạm trừng trị nghiêm khắc cả những kẻ phạm tội và những kẻ bao che ngăn cản bất kể người đó là ai.

    Tôi nghĩ rằng nếu đồng chí Tổng bí thư, Nguyên Tổng bí thư, các Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra, Uỷ viên Ðảng uỷ quân sự Trung ương, các đồng chí nguyên cố vấn, đã biết các vụ này mà muốn cho qua, làm chiếu lệ cũng là bao che, ngăn cản, nói mà không làm.

    6. Không được viện cớ giữ ổn định mà không kiên quyết làm. Những vụ án vu khống chính trị do Tổng cục 2 gây nên đã làm mất ổn định chính trị, tạo ra nguy cơ tan rã đảng và mất độc lập chủ quyền, mất chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải kiên quyết làm rõ và xử lý nghiêm minh thì mới củng cố và giữ vững ổn định. Nếu không, chính là càng cho mất ổn định thêm. Hiện nay đã có ý kiến cho rằng vin cớ giữ ổn định để không kiên quyết làm tức là bao che ngăn cản.

    Xin cảm ơn. Xin chúc các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra sức khỏe.

    Xin chúc Trung ương và các đồng chí làm đúng pháp luật, điều lệ và các nghị quyết của Ðảng, thực sự lắng nghe ý kiến của đảng viên nói chung và các cán bộ hiểu biết có liên quan.


    Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh

    Về vụ án chính trị siêu nghiêm trọng liên quan đến Tổng cục 2


    Kính gửi các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Gần đây dư luận trong và ngoài nước hết sức xôn xao về một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng liên quan đến Tổng cục 2. Trước tình hình đó, là một công dân mang trong mình đôi chút khí huyết và tinh thần quốc sự hữu trách của Chu Văn An, Nguyễn Trường Tộ ... tôi đã dành thời giờ tìm hiểu vụ việc thông qua một số ý kiến trao đổi với các lão thành cách mạng, cựu chiến binh, trí thức ... cùng một số văn liệu trong và ngoài nước.
    Tôi xin được trình bầy cùng quý vị những nhận thức thu lượm được và một số kiến nghị của tôi như sau :

    I- Về mức độ nghiêm trọng của vụ án

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thư gửi "Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương" đề ngày 3 tháng 1 năm 2004 đã nhấn mạnh: "T4 là một vụ án chính trị" siêu nghiêm trọng "vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và kỷ luật của quân đội"; "Vấn đề chấn chỉnh Tổng cục 2 liên quan sâu sắc đến tình hình chung của toàn Đảng, không chỉ là vấn đề cụ thể của một cơ quan, cũng không phải chỉ là vấn đề riêng của Bộ Quốc phòng mà là vấn đề có liên quan đến thành bại của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại trong Đảng từ trước tới nay".
    Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - nguyên phó chủ nhiệm kiêm bí thư Đảng uỷ Tổng cục Chính trị QĐNDVN - trong thư gửi "Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị, uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá IX, đồng chí chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá VII, khoá VIII", đề ngày 17 tháng 6 năm 2004, đã xác định: "Đây là một vụ án chính trị cực kỳ nghiêm trọng, còn nghiêm trọng hơn rất nhiều lần vụ Năm Cam, Lã thị Kim Oanh, liên quan đến mất còn của chế độ XHCN và Tổ quốc, đến sinh mệnh chính trị, uy tín, hạnh phúc của rất nhiều đồng chí, cả những đồng chí lão thành"; "Cơ quan tình báo mà lại bịa ra một cơ sở đặc tình "ma" để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cấp cao từ Tổng Bí thư, uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Đại tướng, Thượng tướng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng ... là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ quốc, phản bội Đảng ... Những người lãnh đạo Tổng cục 2 như Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, đã phản bội truyền thống tốt đẹp của tình báo quân đội trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ... Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ, đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật Đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí ... Đó là hành động phá hoại Đảng, phá hoại chế độ XHCN, phá hoại tổ quốc. Đó không phải là chuyện riêng nội bộ Tống cục 2, nội bộ Bộ Quốc phòng. Đó là vấn đề của toàn Đảng, của pháp luật, của chế độ XHCN, liên quan đến an ninh của Tổ quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng, và nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Đảng và chế độ".
    Đấy là xét về mặt đối nội. Về đối ngoại, ảnh hưởng của vụ án cũng hết sức nguy hại.
    - Vụ tàn sát đẫm máu hàng mấy chục (có người nói xấp xỉ một trăm) cán bộ cộng sản Campuchia ở Xiêm Riệp năm 1983 với nhiều nghi hoặc, nay được một vị thượng tướng đã từng tham gia ban chỉ đạo chiến trường Campuchia xác nhận: "Nguyên nhân dẫn đến vụ Xiêm Riệp (năm 1983) là do Cục 12 trước thuộc Cục 2 đã dựng tài liệu, chứng cứ không có thật, dựa theo tin địch, vu oan cho nhiều cán bộ bạn, dùng nhục hình, tra tấn, mớm cung, bức cung, gây ra những đau đớn oan ức cả tinh thần và thể xác cho cán bộ bạn, có đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng bạn phải tự sát".
    Những hiềm khích lịch sử giữa hai dân tộc nhiều lúc còn cộm lên chưa dàn xếp nổi, nay thêm nỗi oan Xiêm Riệp tày trời đó nhất định sẽ càng khoét sâu thêm thù hận. Nếu không truy tìm và xác định cho rõ, hoặc để thanh minh, hoặc phải trừng trị nặng bọn gây tội ác để làm an lòng nhân dân nước bạn, thì mối thù dân tộc kia sẽ còn gây nhiều quan ngại lớn trong bang giao Việt nam-Campuchia. Thậm chí có khi phải trả giá đắt không lường được.
    - Việc dựng lên "đặc tình ma" bí danh T4 nằm trong CIA để nay đưa tin về cán bộ lãnh đạo này, mai xúi bẩy, kích động vị tướng tá kia là sự vu khống trắng trợn và bôi nhọ dã tâm đối với cơ quan CIA. Điều này không chỉ làm CIA và chính phủ Hoa Kỳ công phẫn mà còn xúc phạm lòng tự trọng dân tộc của nhân dân Mỹ.
    Những bản tin kiểu như bản tin ngày 21 tháng 3 năm 1999: "T4 tiết lộ Võ thị Thắng trước đây đã được Phủ Đặc uỷ tháo răng hàm trên (răng cửa) để thay vào đó răng giả đặc biệt được sử dụng khi cảm thấy hiểm nguy, có thể cắn vỡ răng này sau khi dùng lưỡi đẩy rơi ra, là một liều thuốc độc cực mạnh có thể giúp các điệp viên tự sát" nghe như một mẩu kiếm hiệp thời Tam Quốc. Điều ngớ ngẩn này không chỉ làm CIA khinh bỉ mà những người Việt Nam tự trọng không thể không xấu hổ. Sẽ phải trả giá bằng biết bao nhiêu khó khăn cho trò gian trá ngớ ngẩn kiểu đó để khoả lấp cho được những thương tổn tình cảm dân tộc trong tiến trình bình thường hoá thực sự quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ ?

    II- Nguyên nhân vụ án

    Vụ án phát sinh từ nhiều năm trước, bắt nguồn từ những hiềm khích cá nhân, song vì không những không được giải quyết mà còn được những sai lầm của chủ trương, đường lối nuôi dưỡng nên ngày càng phát triển đến mức cực kỳ phức tạp và nguy hiểm như ngày nay.
    1- Nguyên nhân từ quan hệ cá nhân
    Cùng ngồi trong Bộ Chính trị nhưng ông Lê Duẩn không những bằng mặt không bằng lòng mà do ganh ghét đố kỵ còn tìm mọi cách bôi nhọ và hãm hại đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Trần Quỳnh - thư ký riêng của ông Lê Duẩn, nguyên Phó Thủ tướng - đã từng công bố lời tâm sự của chủ soái mình: "Giáp là con người xảo trá, khi tôi từ Miền Nam ra, khi nói chuyện riêng với tôi, Giáp hay nói xấu Bác, nhưng trước mặt Bác, Giáp rất nịnh Bác".
    Theo điều lệ Đảng, đáng nhẽ tổng bí thư phải được kiêm chức bí thư quân uỷ trung ương, song do ý kiến của Bác, do tín nhiệm của Bộ Chính trị, chức bí thư quân uỷ trung ương vẫn được giao cho đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn chỉ được làm phó cho Đại tướng. Nỗi tỵ hiềm càng nổi lên cao hơn, xui con người trở thành cuồng bạo. Sau khi móc ngoặc với trưởng ban tổ chức trung ương Lê Đức Thọ vu khống đại tướng Võ Nguyên Giáp là con nuôi chánh mật thám Marti, đuổi đại tướng ra khỏi Bộ Chính trị, họ tiếp tục hạ nhục, bắt Đại tướng đi phụ trách việc dặt vòng cho chị em phụ nữ, đồng thời nhứ sẵn một "biệt thự" đầy Đại tướng ra đảo Tuần Châu.
    Người kế tục "sự nghiệp đen tối" của Lê Duẩn một cách đắc lực hơn, tàn ác hơn chính là Lê Đức Anh.
    Theo ông Vũ Minh Ngọc trình bầy trong thư đề ngày 10 tháng 8 năm 2004 gửi "đồng chí tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng": "Tôi có tới 5 bản tội danh của Lê Đức Anh sẽ dùng để trình bầy trực tiếp với các vị đại diện cho dân, cho Đảng ... ông ta xuất thân từ một tên cai đồn điền, từ một nhân vật cơ hội chui luồn vào Đảng để phá hoại bằng hành động vu khống, sỉ nhục, tàn diệt, phá hoại sự đoàn kết trong nội bộ ta, làm cho các đảng viên trong Bộ Chính trị nghi ngờ nhau".
    Trong thư đề ngày 6 tháng 6 năm 1996 gửi "Ban Chấp hành đảng CSVN, đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Chính trị Trung ương Đảng", ông Hồ văn Châu- uỷ viên Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến binh thành phố Hồ Chí Minh đã tố cáo: "... tên Bazin (chef 2èm Bureau Catinat thời Pháp thuộc) đưa Lê Đức Anh đến làm surveillant ở Phú Riềng, Lộc Ninh, Bù Đốp, dưới tay y có mấy chục carporal khá độc ác", "Pháp đưa vào một tiểu đoàn nằm trong vòng vây của Chi đội 1 nhưng y (Lê Đức Anh) không cho nổ súng mà trái lại có ám hiệu như thế nào đó, giặc Pháp biết, rút êm (vấn đề này có 3 chiến sỹ ở Chi đội 1, nay là đại tá đã về hưu, đã nói cho anh Đồng văn Cống biết). Vì chuyện này, Lê Đức Anh bị trung tướng Nguyễn Bình mời về kiểm điểm nhưng y không về, kế đó Trung tướng phải đi Hà Nội, trên đường đi bị phục kích, hy sinh", "Lê Đức Anh được tập kết ra Bắc, thừa cơ hội chủ trương coi trọng thành phần giai cấp công nhân, nông dân, y đến tổ chức báo cáo là thành phần giai cấp công nhân cao su (thực chất là Thầy su) nên Tổ chức tin tưởng, chấp nhận là giai cấp công nhân, được đề bạt là trung tá, về y xin ly dị vợ là thành phần địa chủ, Tổ chức chấp nhận y có vợ khác ... là em của nguyên chính uỷ Quân khu V. Đấy là mưu đồ "sát thê cầu tướng", "Năm 1932 Lê Đức Anh là 2èm Bureau, tin cậy của thằng Bazin, chef 2èm Bureau Catinat và được bố trí là surveillant Phú Riềng, đến ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật dảo chính Pháp, Lê Đức Anh ở Nam Bộ, trốn chạy ra, xin làm việc cho Nhật Bản thì làm sao mà vào Đảng năm 1938", "Yêu cầu Bộ Chính trị cho điều tra, tìm hiểu anh Đào Sơn Tây, Đồng văn Cống, thiếu tướng Nhu, anh Tư Nguyện thì rõ" ...
    Vào khoảng nửa cuối năm 1996, xuất hiện một nhân vật tên là Đặng Đình Loan, sinh năm 1943 tại Phong Điền, Thừa Thiên. Loan vào Sài Gòn, lên Thủ Đức nói chuyện tại Trường Sỹ quan Lục quân 2 rồi ghé Huế và tỉnh uỷ Thừa Thiên tổ chức hai buổi nói chuỵện hẹp với các cán bộ lãnh đạo. Loan nói xấu đại tướng Võ nguyên Giáp hết lời. Nào là tướng Giáp đã tiếm quyền thành lập Quân Giải phóng của ông Phùng Chí Kiên, lại có tội theo Khrousov cầm đầu "Nhóm Xét lại Chống Đảng", thậm thụt với Sherbakov đại sứ, kiêm tình báo Liên Xô- Nào là tướng Giáp tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà này đến dạy piano tại nhà riêng ...
    Người ta ghi nhận rằng Loan thường mang theo giấy giới thiệu của Văn phòng Tổng cục Chính trị, ảnh chụp với Lê Đức Anh và ghé tai thì thào: Đây là những điều cơ mật của Đảng, đồng chí Sáu Nam (tức Lê Đức Anh) cho phép chỉ phổ biến riêng cho các anh lãnh đạo các tỉnh thành, chờ sẽ phổ biến công khai sau.
    Trước Đại hội VII một nhân vật bí hiểm tên là Sáu Sứ "bị bắt" và đã khai báo với Tổng cục 2 qua 16 cuộn băng ghi âm (thượng tướng Nguyễn Nam Khánh có được nghe các băng ghi âm này). Sáu Sứ kể rằng thị đã cùng một số người từ Miền Nam ra móc nối với một số bộ hạ của tướng Giáp, trong đó có Hà Kế Tấn, nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi, Thanh Quảng, nguyên là bí thư của tướng Giáp, Lê Hoàng, phó bí thư thành uỷ Hà Nội. Họ đã đich thân gặp tướng Giáp bàn chuyện đưa tướng Giáp lên làm Tổng Bí thư hoặc làm Chủ tịch Nước, đưa tướng Trần văn Trà ra làm bộ trưởng Quốc phòng để rồi sẽ thay tướng Giáp làm Tổng Bí thư.
    Tháng 5 năm 1991 ở câu lạc bộ Ba Đình và đây đó xuất hiện một tập tài liệu đánh máy 11 trang mang số công văn 541 có tiêu đề "Tình hình hoạt động bè phái trong Đảng" với bị chú ở dưới: "Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 12, khoá VI". Báo cáo kể tội nhóm cơ hội móc nối với tướng Giáp có âm mưu sách động quần chúng, sinh viên, cựu chiến binh, công nhân xuống đường biểu tình đưa ra yêu sách về nhân sự như trên. Đặc biệt nhóm này còn âm mưu tổ chức ám sát Lê Đức Anh. Dư luận cho rằng báo cáo này do Lê Đức Anh chỉ đạo Tổng cuc 2 thảo ra và đặt điều về âm mưu ám sát Lê Đức Anh để làm cho ông ta trở thành nhân vật quan trọng.
    Với những tội trạng tày trời như vậy thì quả là gươm đã kề sát cổ tướng Giáp. Không chỉ "biệt thự Tuần Châu" mà bản án tử hình cũng đã được nhứ sẵn trước mặt ông.
    Để chèn cạnh và trù diệt đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Lê Duẩn có cái thế Tổng Bí thư. Ông Lê Đức Anh không có được cái thế đó. Năm 1962 ông Lê Đức Anh mới được đeo lon thượng tá, là cục phó thứ 3 của Cục Tác chiến, trong khi ông Võ Nguyên Giáp được phong đại tướng từ 1947 (lúc 38 tuổi). Tháng 6 năm 1975 khi ông Giáp xuống thị sát Bộ tư lệnh Quân khu IX tại Cần Thơ, ông Lê Đức Anh còn phải xun xoe bưng đĩa trứng vịt lộn mời đại tướng Võ Nguyên Giáp.
    Để tạo thế lực cho mình, ông Lê Đức Anh phải phù phép cho Tổng cục 2 trở thành "thế lực ma", từ đấy ông dễ dàng điều khiển âm binh uy hiếp, sát hại bất kỳ đối thủ nào dám ho he nói sự thật, bảo vệ công lý.
    Không phải chỉ cỡ đại tá Nguyễn văn Hội mà ngay cả ông Võ văn Kiệt, ông Đỗ Mười cũng phải chịu phép. (Nếu không có trưởng trùm thế lực ma ra lệnh tung chưởng để chịt cổ Đỗ Mười thì không đời nào báo Nhân Dân dám đăng tin Đỗ Mười nhận quà biếu hơn một triệu đola của tư bản Hàn Quốc).
    Đảng Cộng sản Việt Nam bị khuynh loát hoàn toàn bởi các thế lực đen tối là vì như vậy. Tiếc rằng bộ hạ, quần thần của Lê Đức Anh hiện còn rất đông, rất mạnh cho nên ngay cả nhiều người chức trọng quyền cao nhưng không đủ bản lĩnh, không có tố chất trí thức nên đành ngậm miệng làm tôi đòi để mong còn được ngồi chung bàn tiệc cung đình ngợp ngụa dù biết là nhục nhã vì chẳng sạch sẽ gì.
    2- Nguyên nhân từ chủ trương, đường lối
    Sự lộng hành, tác oai tác quái, dày xéo lên công lý, chà đạp lên pháp luật để hãm hại cả những bậc đại công thần của cách mạng và khuynh loát Đảng đã tồn tại trong nhiều năm không phải không có nhiều đảng viên, kể cả Trung ương uỷ viên và uỷ viên Bộ Chính trị biết nhưng không ai dám làm gì và cũng không thể làm gì được bởi vì nó biết nương tựa vào cái cơ chế độc tài Đảng trị núp dưới những định đề "chuyên chính vô sản" và "tập trung dân chủ".
    Chuyên chính vô sản không cần luật pháp, chỉ cần người ta liệt được một cá nhân nào, một nhóm người nào đó vào đối tượng của vô sản chuyên chính thì sẽ bị chuyên chính có khi cả bằng cách lấy cuốc bửa vào đầu như kiểu cộng sản Ponpot. Mà ông Lê Đức Anh thì đã từng tuyên bố ông là bạn thân của Ponpot.
    Chuyên chính vô sản là con dao rất sắc đã được sử dụng để thắng giặc, để duy trì ổn định ngôi báu. Nhưng vì chơi dao lâu quá nên đã có ngày đứt tay và rồi đây, nếu không khéo, chính con dao ấy sẽ chọc vào cổ Đảng.
    Tập trung dân chủ được thực hiện theo phương thức dân chủ phải được tập trung vào quyền thế của một tập đoàn, thậm chí một cá nhân và được ban phát nhỏ giọt từ những chỗ ấy. Khác ý một tập đoàn, thậm chí chỉ một cá nhân, có thể bị quy ngay là gián điệp. Gián điệp Nhân văn-Giai phẩm, gián điệp Xét lại Chống Đảng và ... gián điệp Phạm Hồng Sơn ngày nay chỉ được thuê có 150 USD !. "Sang trọng" hơn thì được quy là chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội ...
    Sau bao nhiêu xương rơi máu đổ, sau bao nhiêu thập kỷ xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà mãi tới gần đây người ta mới dóng lên chiêu thức "dân chủ ở cơ sở". Bao giờ mới dóng lên được chiêu thức "dân chủ ở trung ương" khi mà hàng loạt vụ án nghiêm trọng và siêu nghiêm trọng như thế này còn bị vùi dập một cách tức tưởi.
    Không có tự do ngôn luận, không có tam quyền phân lập nên chỉ cần nắm được Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Công an, Quân đội là người ta có thể làm tất cả những gì theo ý muốn. Cho báo chí nói gì mới được nói. Chỉ đạo âm binh tung dư luận một cách chính thống, dựng chứng cứ giả và nắm chắc các lực lương công an và quân đội trong tay là người ta có thể muốn bắt bớ, tù đầy, giết hại bất cứ ai, bất cứ tập thể nào cũng được.
    Trong trường hợp vụ án siêu nghiêm trọng này, thậm chí khi không còn nắm được gì nữa cả, người ta chỉ cần nắm Tổng cục 2 là có thể uy hiếp đựoc tất cả các thế lực khác. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu do chính ông Lê Đức Anh dựng lên rồi lại bị chính ông Lê Đức Anh hạ bệ là bởi thế. Nguyên nhân chính của vụ lật đổ Lê Khả Phiêu là ở chỗ tranh giành quyền thao túng Tổng cục 2 giữa ông Anh và ông Phiêu. Tất cả nằm ở chỗ ông Lê Khả Phiêu đã dám thành lập tổ chức A10 trùm lên trên Tổng cục 2 để vô hiệu hoá quyền điều khiển âm binh của ông Lê Đức Anh.
    Nhưng, thử hỏi vì sao thủ pháp của Tổng cục 2 không có gì cao cường mà họ vẫn dễ dàng "nắm gáy" được mọi bậc quyền thế, mọi đại quốc công thần có bề dày cách mạng với đầy chiến tích bao bọc. Ngay thủ pháp dùng CIA làm con ngoáo ọp để hù doạ cũng được sử dụng một cách rất ngô nghê. Thế mà họ vẫn thành công và duy trì được qua nhiều thập niên đến vậy. Chẳng qua chỉ vì thế giới quan của chúng ta quá lỗi thời, tư duy chính trị của chúng ta quá xơ cứng.
    Tôi thường không ngần ngại tiếp đón thân tình bất cứ ai đến thăm nhà, cả những nhà báo nước ngoài, cả bí thư và tham tán chính trị đại sứ quán Hoa Kỳ ... Một đại tá công an căn vặn tôi: "Anh không biết người A, người B kia là CIA cao cấp à ?". Tôi trả lời: "Trước hết, Hiến pháp, luật pháp không hề cấm công dân Việt Nam quan hệ với CIA. Sau nữa, tôi chơi với CIA để tôi làm gì cho CIA hay để CIA làm gì có lợi cho nhân dân tôi, đất nước tôi mới là vấn đề chứ !". Có phương diện nào CIA là có ích cho nhân dân ta, đất nước ta không ? Có khi nào chúng ta cần đến CIA vì quyền lợi của đất nước, của dân tộc ta không ? Chắc chắn có. Vậy thì tại sao cứ phải xem CIA luôn luôn là, mãi mãi là hiểm hoạ của ta, là thù địch với ta ?
    Cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa qua thực sự là vô nghĩa đối với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Người Mỹ xông trận ở Việt Nam không phải vì lòng tham xâm chiếm lãnh thổ, cũng không phải vì muốn đô hộ nhân dân ta như các vương triều phía bắc. Chúng ta phải đánh Mỹ vô cùng gian nan chẳng qua chỉ vì một thứ ý thức hệ hoang đường. Tuy nhiên, xét về mặt nào đó, nguyên nhân cuộc chiến tranh Mỹ- Việt vẫn còn "cao thượng" hơn, "sạch sẽ" hơn cuộc chiến tranh Trung - Việt. Dẫu sao đi nữa, lịch sử cũng đã đi qua rồi và chắc là sẽ vĩnh viễn qua. Không phải chúng ta nên quên mà nên dứt khoát từ biệt qua khứ cuồng dại đó. Ngày nay, nếu chúng ta biết xử trí đúng thì khả năng trở thành thù địch giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là rất rất thấp.
    Có cơ sở để hoàn toàn tin được vào lời của Andrew Young, đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc khi ông tuyên bố hồi tháng 1 năm 1977: "Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở Chân A, không phải là một bộ phận cuả Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ". Trước đó, ngày 12 tháng 6 năm 1975, Mỹ cũng đã từng gửi đến đại sứ quán ta tại Paris một thông điệp: "Về nguyên tắc, Mỹ không thù hằn gì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên. Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ý nào mà phía VNDCCH và Hoa Kỳ theo tinh thần Điều 22 Hiệp định Paris về Việt Nam".
    Thật vậy, ngày nay mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất độc lập dân chủ giàu mạnh và văn minh không những không có gì mâu thuẫn mà nói chung là phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ. Trong khi đó, Việt Nam muốn nhanh chóng đạt được mục tiêu trên thì cũng rất cần đến Hoa Kỳ.
    Việt Nam cần Hoa kỳ không chỉ để đạt mục tiêu giầu mạnh, dân chủ, văn minh mà còn để củng cố được hoà bình, thống nhất, độc lập.
    Ta có anh bạn phương bắc rất đồ sộ. Giao hảo với Trung Quốc luôn luôn là yêu cầu cần phấn đấu để gìn giữ cho được. Tuy nhiên đừng bao giờ quên cái tư tưởng đại hán trong họ. Hãy ghi nhận mẩu đối thoại sau đây :
    - Mao Trạch Đông : Lào diện tích bao nhiêu ?
    - Lê Duẩn : 20 vạn Kilomet vuông
    - Mao Trạch Đông : Dân số Lào bao nhiêu ?
    - Lê Duẩn : Hai triệu (thời bấy giờ dân số Lào mới chỉ 2 triệu).
    - Mao Trạch Đông : Chà, đất rộng mà người thưa thớt quá. Vân Nam diện tích cũng xấp xỉ mà dân số 40 triệu. Giá mà đưa được 15-20 triệu dân Vân Nam vào Lào ở thì có hay không !
    Hãy xoá bỏ mọi thành kiến sơ cứng, lạc hậu, sai lầm; hãy chủ động tích cực phát triển mối bang giao tốt đẹp với Hoa Kỳ và nhanh chóng trở thành đồng minh, thành bạn hữu thân thiết, tin cậy của Hoa Kỳ. Có như vậy mới xây dựng được đất nước dân chủ, giàu mạnh, văn minh. Có như vậy mới giữ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải trước những tham vọng nhỏ nhen, cuồng bạo của Bắc Triều. Có như vậy mới tránh được hiểm hoạ Tây Nguyên và biên giới Tây Nam. Có như vậy mới thủ tiêu được những trò lừa bịp kiểu đưa con ngoáo ộp CIA ra doạ người như Tổng cục 2 trong vụ án này.

    III- Kiến nghị

    Vụ án chính trị này xuất phát từ những hiềm khích cá nhân với số đối tượng liên quan tương đối hẹp. Nó như những ung nhọt trong cơ thể Đảng, song dẫu sao lúc đầu vẫn chỉ là những u lành tính. Vì để tồn tại quá lâu, nó đã biến chứng thành u ác tính và cơ thể Đảng đã nhiễm bạo bệnh ung thư. Nếu không khẩn trương giải phẫu và dứt khoát cắt bỏ thì nguy cơ tử vong không phải là không thể có.
    Điều kỳ lạ là không phải lãnh đạo Đảng không biết, nhưng tại sao một vụ như vụ Sáu Sứ diễn ra từ khoá VI. Khoá VI bàn giao cho khoá VII. Khoá VII bàn giao cho khoá VIII. Khoá VIII bàn giao cho khoá IX. Đối với vụ T4, Bộ Chính trị khoá VIII cũng đã bàn giao cho Bộ Chính trị khoá IX. Bộ Chính trị khoá IX đã chỉ đạo Ban Điều tra Liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã nghe báo cáo đầy đủ mà nay sự việc vẫn còn nguyên đó. Tại sao lại vô trách nhiệm như vậy? Tại sao lại phải nể sợ, né tránh như vậy !
    Những bút lục đã được dẫn ra một cách tường minh trong thư đề ngày 17 tháng 6 năm 2004 của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh tuy chưa đầy đủ cũng đã chỉ rõ được "các vụ vu khống chính trị do Tổng cục 2 thực hiện từ vụ Sáu Sứ vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần văn Trà, vụ vu khống chính trị đồng chí Trương Tấn Sang, đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, đồng chí Phan văn khải, Phan Diễn, Trương Vĩnh Trọng, Võ trần Chí, Bùi thiện Ngộ, Phạm văn Đồng, Trần Tiến Cung, Võ thị Thắng, Võ văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Nguyễn Minh Triết, Phạm Gia Khiêm ... các vụ làm tài liệu giả khác, vụ quân báo liên quan đến bè lũ Năm Cam". Điều đó đã xác thực hoàn toàn kết luận của đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2004: "Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục 2 đã có những hoạt động phá hoại Đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức kéo dài hàng chục năm".
    Vì vậy, chúng tôi xin kiến nghị :
    1. Mở phiên toà đại hình xét xử công khai và nghiêm minh tất cả các đối tượng liên quan đến vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, đứng đầu là các ông Lê Đức Anh, Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh ... Phiên toà có thể kéo dài nhiều tháng nhưng phải được mở sớm, ít nhất là trước Đại hội X. Không nên viện chiêu bài "ổn định chính trị" để né tránh. Bởi vì, càng đắp điếm, càng ủ bệnh nặng hơn. Không những sẽ mất ổn định nguy hiểm hơn mà nguy cơ sụp đổ Đảng cũng đã nhỡn tiền. Bộ Chính trị, đứng đầu là tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cần biểu hiện đầy đủ bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm để đảm đương và giải quyết thấu đáo vụ việc này. Né tránh vì bất kể lý do gì đều là có tội với nhân dân, với Đảng và rồi đây sẽ bị lịch sử lên án nghiêm khắc.
    2. Huỷ bỏ Pháp lệnh Tình báo cuả Quốc hội ký ngày 14 tháng 12 năm 1996 và Nghị định 96/ CP cuả Chính phủ ký ngày 11 tháng 9 năm 1997. Trong những văn bản quy định chức năng nhiệm vụ của Tổng cục 2 sau này phải cương quyết xoá bỏ những nội dung tương tự sau đây:
      • 1. Lực lượng tình báo Việt Nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của đảng CSVN, sự thống lĩnh của Chủ tịch Nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (Điều 2 - Chương 1 của Pháp lệnh Tình báo).
      • 2. Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước CHXHCNVN .... (Điều 11- Chương 2 Nghi định 96/CP).
      • 3. Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trình lên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm vụ và kế hoạch trọng yếu dài hạn và hàng năm của công tác tình báo chiến lược (Điều 11- Chương 2 Nghị định 96/CP)
    3. Thanh lọc về nhân sự đối với Tổng cục 2
    4. Đổi mới triệt để công tác nghiên cứu lý luận chính tri-xã hội nhằm có được nhãn quan chính trị mới, phù hợp với thực tiễn và xu thế thời đại. Tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề đối ngoại, đặc biệt là về mối bang giao Việt Nam - Trung Hoa và Việt Nam - Hoa Kỳ.
    Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 2004
    Nguyễn Thanh Giang
    Số nhà 6- Khu tập thể Địa Vật lý Máy bay
    Trung Văn - Từ Liêm - Hà Nội
    Điện thoại : 5 534370

    VỤ ÁN NĂM CHÂU, SÁU SỨ: VỤ ĐỘT KÍCH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP CỦA LÊ ĐỨC THỌ




    Huy Đức.


    Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Trung ương chỉ định về ứng cử đại biểu đi dự Đại hội tại Đảng bộ Nghệ Tĩnh. Cuối tháng 4-1991, ông vào Vinh dự họp với Đoàn đại biểu Tỉnh. Tới nơi thì đã quá trưa. Đợi vị tướng già cơm nước xong, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh Nguyễn Bá mới trao tận tay bức điện “khẩn tuyệt mật” của Ban Bí thư do ông Nguyễn Thanh Bình ký. Không được phép họp với Đoàn, Tướng Giáp bị yêu cầu phải trở ra Hà Nội ngay trong chiều hôm đó.

    Năm ấy Tướng Giáp đã 80 tuổi. Đoạn đường Vinh – Hà Nội tuy chỉ hơn 300km nhưng bụi bặm và dằn xóc. Tướng Giáp trở về phòng, viết mấy dòng cáo lỗi gửi Đoàn đại biểu Nghệ Tĩnh rồi lại lên xe về Hà Nội, nơi ông sẽ phải ra trước Hội nghị Trung ương 12, đối diện với những cáo buộc chính trị mà về sau được gọi là vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”.

    Tại Hội nghị Trung ương 12, Khóa VI, ông Nguyễn Đức Tâm, Trưởng Ban Tổ chức, thay mặt Bộ Chính trị báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương một văn bản tuyệt mật nói rằng: Một vụ bè phái vi phạm nguyên tắc Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao đang diễn ra. Những người tham gia bao gồm Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, cùng một số cán bộ cao cấp khác.

    Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách an ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh, nhớ lại: “Nghe ông Tâm nói, có cảm giác như đang có một âm mưu đảo chính để đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên làm chủ tịch nước sau đó thay ông Linh làm tổng Bí thư; đưa Trần Văn Trà lên làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thời gian trước Hội nghị Trung ương 12, ông Trà bị triệu tập ra Hà Nội và bị giữ lại ở Nhà khách số 8 Chu Văn An. Văn bản tuyệt mật này được phổ biến tới thường vụ các tỉnh, thành, bằng cách cho đọc nguyên văn nhưng bị cấm sao chép”.

    Tướng Đồng Sỹ Nguyên, ủy viên Bộ Chính trị Khóa VI, nói: “Lật đổ là một câu chuyện bịa đặt. Ông Giáp không chỉ là một đại tướng mà xứng đáng là một đại nguyên soái. Một người không chỉ coi trọng sinh mạng binh sỹ mà còn đặt danh dự của tổ quốc lên trên. Ông là một người thận trọng. Nhân vụ Sáu Sứ, họ còn lật lại hồ sơ vụ ‘chống Đảng năm 1967’, đưa ra tài liệu cũ của Lê Đức Thọ, đây cũng là một vụ án được dựng lên”. Ông Võ Viết Thanh kể thêm: “Tại hai Hội nghị

    12 và 13 của Ban Chấp hành Trung ương, nhiều vị tướng trong Quân đội hết sức bức xúc, đứng lên phát biểu bảo vệ Tướng Giáp. Cụ Võ Nguyên Giáp cay đắng: Đến một vị tướng đã đánh thắng Điện Biên Phủ mà người ta vẫn vu cho là con nuôi của mật thám Pháp”.

    Gần tới ngày Đại hội, một hôm vào khoảng 9 giờ đêm, Bộ trưởng Nội vụ Mai Chí Thọ triệu tập một cuộc họp kín gồm có các thứ trưởng: Cao Đăng Chiếm, Phạm Tâm Long, Bùi Thiện Ngộ, Võ Viết Thanh. Ông Mai Chí Thọ nói: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ cho Bộ Công an làm rõ sai phạm của anh Giáp và anh Trà để xử lý cả về mặt Đảng và Nhà nước. Bộ chỉ đạo anh Võ Viết Thanh đảm nhiệm việc này”. Cả bốn vị thứ trưởng nghe đều phân vân, lo lắng. Ông Võ Viết Thanh nói: “Đề nghị Bộ trưởng trình bày lại với Tổng Bí thư đây là những người có công với nước, nếu có sai thì Ủy ban Kiểm tra Trung ương xác minh làm rõ còn khi đã chuyển công an thì phải có dấu hiệu phạm tội”. Mai Chí Thọ dứt khoát: “Chúng ta phải thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư”.

    Ông Võ Viết Thanh nói tiếp: “Nếu phải điều tra, tôi đề nghị nên giao cho anh Cao Đăng Chiếm hoặc anh Bùi Thiện Ngộ vì hai anh có kinh nghiệm trong ngành hơn tôi. Tôi không từ chối, nhưng tôi biết bản báo cáo của đồng chí Nguyễn Đức Tâm lấy nguồn tin từ một số người không tốt trong Cục II, Bộ Quốc phòng. Tôi cũng biết người đẩy ra vụ này là Đoàn Khuê. Cá nhân tôi với Cục trưởng Quân báo Tư Văn và Cục phó Vũ Chính có ý kiến khác nhau trong một số việc như: lợi dụng nghiệp vụ đi buôn lậu; tổ chức cài đặc tình vào nội bộ… Bây giờ nếu tôi làm vụ này nữa thì rất căng với Cục II”. Mai Chí Thọ gắt: “Ông phụ trách an ninh, không làm thì ai làm”. Võ Viết Thành đành phải: “Tôi xin chấp hành”.

    Ông Võ Viết Thanh kể: “Tôi bay vào Sài Gòn. Anh em an ninh đã có đủ tư liệu, vấn đề là tình hình nội bộ rất căng vì có tác động từ cấp cao. Nhiều người khuyên tôi khi điều tra không nên làm khác báo cáo của Nguyễn Đức Tâm. Người gần gũi nhất là Thiếu tướng Trần Văn Danh cũng nói là có người khuyên như vậy. Ông Danh gọi tôi tới, tôi hỏi: ‘Lời khuyên này xuất phát từ đâu anh Ba?’. Ba Trần, tên thường gọi của Tướng Trần Văn Danh, nói: ‘Ở cấp rất cao’. Tôi nói: ‘Tôi đề nghị anh Ba trả lời họ, tôi đang được giao một công việc mà tôi không thể nào làm trái đạo đức và pháp luật’. Ba Trần nghe bắt tay, không ngờ anh chỉ hỏi thế để thăm dò nhưng anh là người ủng hộ tôi làm đúng”.

    Ông Võ Viết Thanh kể tiếp: “Ngày 14-5-1991, tôi ra lệnh bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Sứ. Anh em thi hành không bắt tại nhà vì sợ động mà bắt bí mật, đưa về 258 Nguyễn Trãi. Vừa vào trại, Sáu Sứ hỏi: ‘Các anh ở phía nào?’. Anh em dằn mặt:

    ‘Chị không được phép hỏi như thế, chúng tôi là cơ quan an ninh, yêu cầu chị nói hết’. Sáu Sứ trả lời: ‘Tôi là người Cục II,

    yêu cầu được nói chuyện điện thoại với Tư Văn, Vũ Chính’. Anh em An ninh nói: ‘Chị là người phạm pháp, chị không được phép gặp ai cả’. Trong một ngày Sáu Sứ khai hết172”.



    Không hề có một tổ chức nào do cụ Giáp đứng đầu như báo cáo của Nguyễn Đức Tâm đề cập. Theo ông Võ Viết Thanh, Sáu Sứ khai bà được Vũ Chính cấp tiền, cấp xe và đi gặp vị tướng nào, nói gì là đều theo chỉ đạo của Cục II. Thông qua một người tên là Năm Châu, từng công tác chung với ông Thanh Quảng, nguyên là thư ký của Tướng Giáp, Sáu Sứ được đưa tới nhà Võ Nguyên Giáp cùng một số cựu chiến binh. Hôm Sáu Sứ đến, cụ Giáp đang ăn, nghe có đoàn Cựu chiến binh, cụ dừng bữa cơm để tiếp. Sáu Sứ mang theo một giỏ trái cây vào tặng rồi xin cụ Giáp cùng chụp ảnh với Đoàn. Toàn bộ cuộc gặp chỉ có vậy nhưng Sáu Sứ báo cáo: “Cụ Giáp đã đồng ý với kế hoạch”. Rồi theo ông Võ Viết Thanh: “Băng ghi âm cuộc nói chuyện của Sáu Sứ ở nhà Tướng Giáp nghe không rõ nhưng Cục II vẫn xào nấu thành một bản báo cáo, theo đó: Đang có một vụ đảo chính, một vụ bè phái trong Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao trước Đại hội VII do Tướng Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà cùng một số cán bộ cao cấp khác tiến hành. Bản báo cáo này trở thành cơ sở để Trưởng Ban Tổ chức Nguyễn Đức Tâm báo cáo trước Hội nghị Trung ương 12 về Tướng Giáp”.

    Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, Chánh Văn phòng Tướng Giáp, từ Hội nghị Trung ương 12 về nhà nghỉ trưa, Tướng Giáp hỏi: “Cậu có nhớ ai tên là Năm Châu từng ở Nam Bộ ra đây gặp mình không?”. Ông Huyên nhắc lại sự việc xong, Tướng Giáp ăn cơm rồi đi ngủ. Đến cận giờ họp buổi chiều, ông Huyên vào phòng thấy Tướng Giáp vẫn ngáy khò khò, ông Huyên hỏi: “Việc đang thế này mà anh cũng ngủ được à?”. Tướng Giáp cười: “Cây ngay không sợ chết đứng”.

    Trong khi đó, ngay sau khi Sáu Sứ bị bắt vào ngày 15-5-1991, theo ông Võ Viết Thanh: Cục II rúng động, Cục trưởng Tư Văn đổ bệnh. Trong ngày ông Võ Viết Thanh cầm bản cung của Sáu Sứ bay ra Hà Nội, 17-5-1991, Tướng Lê Đức Anh viết một bức thư cực ngắn: “Kính gửi: Bộ Chính trị. Tôi xin không ứng cử vào Quốc hội khóa IX. Xin cám ơn Bộ Chính trị. Kính! Lê Đức Anh”. Do căng thẳng, Tướng Lê Đức Anh ngay sau đó bị đột quỵ. Bác sỹ Vũ Bằng Đình, người trực tiếp cấp cứu, nói: “Ông Lê Đức Anh bị xuất huyết dạ dày, huyết áp tụt xuống bằng 0, hồng cầu chỉ còn một triệu. May mà cấp cứu kịp”.

    Theo ông Võ Viết Thanh: “Ra Hà Nội, tôi làm báo cáo đưa ông Mai Chí Thọ đề nghị Bộ trưởng ký. Ông Mai Chí Thọ nói:

    ‘Cậu ký luôn, gửi và trực tiếp báo cáo anh Linh’. Ngay chiều hôm đó, Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà xếp lịch gặp Tổng Bí thư. Nghe tôi báo cáo xong, ông Linh không nói gì. Nhưng, sáng hôm sau thì nhận được ‘điện mật’ của Văn phòng yêu cầu các nơi ngưng phổ biến và gửi trả văn bản do Nguyễn Đức Tâm ký về Văn phòng Trung ương. Sau đó, Trung ương không có một lời nào nói lại với Tướng Giáp, còn Tướng Trần Văn Trà thì vẫn bị giữ lại ở số 8 Chu Văn An”. Theo ông Võ Viết Thanh: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không đưa kết luận về vụ Sáu Sứ ra báo cáo trước Hội nghị Trung ương và ngay cả các ủy viên Bộ Chính trị cũng không mấy ai biết”. Thái độ của Tổng Bí thư như một tín hiệu để ngay lập tức ông Võ Viết Thanh nhận được đòn “đánh dưới thắt lưng” của Cục II.

    Theo ông Võ Viết Thanh, ngày 23-6-1991, khi đại biểu đã được triệu tập về Hà Nội: “Trước phiên họp cuối cùng của Hội nghị trù bị, Hồng Hà, Chánh Văn phòng Trung ương đưa tôi miếng giấy, ghi: ‘Đề nghị đồng chí Võ Viết Thanh đến giờ giải lao ra gặp Bộ Chính trị và Ban Bí thư có việc riêng’. Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII”.

    Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được173. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận”174. Cho dù giữ mình để bảo vệ Đại hội, tương lai chính trị của ông Thanh đã coi như khép lại. Ông Võ Viết Thanh nói: “Nếu tôi cứ nghe lời khuyên, kết luận giống như bản báo cáo của Nguyễn Đức Tâm, thì tôi sẽ được thăng chức, đề bạt nhưng rồi tôi lại phải dấn vào bước thứ hai là ra lệnh bắt oan Tướng Trà và Tướng Giáp. Làm thế, thì lương tâm sẽ giết dần, giết mòn tôi”175.

    Năm ấy, Tướng Giáp vừa tròn 80 tuổi. Ông không nằm trong bất cứ cơ cấu nhân sự nào, vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”, nếu thành, chỉ có thể hạ bệ uy tín của ông trong Đảng. Khi Võ Nguyên Giáp đã là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh chỉ mới là một cán bộ ở cấp tiểu đoàn. Sự mặc cảm trước uy danh của Tướng Giáp chỉ có thể được tích tụ thông qua hai người đã cất nhắc Lê Đức Anh: Lê Duẩn và, đặc biệt là, Lê Đức Thọ.     ( Trích từ cuốn Bên thắng cuộc của nhà báo Huy Đức )

    Nguyễn Hà Phan

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Nguyễn Hà Phan
    Chức vụ
    Nhiệm kỳ 17 tháng 1, 1994 – 17 tháng 4, 1996
    Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương
    Đảng Cộng sản Việt Nam
    Nhiệm kỳ tháng 7, 1992 – 17 tháng 4, 1996
    Phó Chủ tịch Quốc hội
    nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
    Nhiệm kỳ Tháng 12 năm 1993 – tháng 6, 1996
    Tiền nhiệm Đỗ Quốc Sam
    Kế nhiệm Nguyễn Tấn Dũng
    Thông tin chung
    Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
    Sinh 2 tháng 2, 1933 (82 tuổi)
    Giồng Trôm, Bến Tre
    Nguyễn Hà Phan (sinh 2 tháng 2 năm 1933) là một cựu chính khách Việt Nam. Trước khi bị truất phế, chức vụ cao nhất của ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Tiểu sử

    Ông còn tên khác là Phạm Văn Khoa, quê quán tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tên thân mật thường gọi của ông là Sáu Phan.
    • Tháng 12-1958, khi đang là tỉnh ủy viên Sóc Trăng ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt, đến năm 1964, thì được thả.
    • Năm 1979, là Quyền Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh Hậu Giang.
    • Năm 1984, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh rồi làm Bí thư Tỉnh ủy Tỉnh Hậu Giang.
    • Trước năm 1986, từng giữ các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh Cần Thơ.
    • Năm 1986, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ra Hà Nội giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, đến năm 1988 lại về Hậu Giang làm Bí thư tỉnh ủy.
    • Tháng 4 năm 1990, Ủy viên Chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.[1]
    • Năm 1991, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
    • Năm 1992, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
    • Tháng 12 năm 1993, được bổ sung làm Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; được phân công làm Thường trực Ban Bí thư.[2].

    Vụ án Nguyễn Hà Phan

    Trước thềm Đại hội 8 Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Hà Phan đang làm trưởng Ban Tổ chức Đại hội Đảng lần thứ VIII[3], được cố vấn Nguyễn Văn Linh ủng hộ lên làm thủ tướng[4] thì "...tự nhiên có hàng loạt đơn thư, tố cáo Nguyễn Hà Phan đã từng khai báo nghiêm trọng và khi ra tù nhận làm nội gián cho địch"[5]. Ông Nguyễn Đình Hương phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng, trưởng Ban Bảo vệ Đảng được giao nhiệm vụ thẩm tra, kết quả là không có cơ sở để nói Nguyễn Hà Phan được địch cài lại làm nội gián; tuy nhiên những gì ông Phan khai báo là nghiêm trọng, những người được ông xây dựng cơ sở trong lòng địch đều bị ông khai ra và sau đó bị địch giết sạch.[5][6]. Ngày 17-4-1996, chỉ trong vòng một buổi sáng, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp biểu quyết khai trừ Nguyễn Hà Phan ra khỏi Đảng, sau đó ông bị tước hết mọi chức vụ.

    Tham khảo

    1. ^ [1] BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ VI (1986-1991) - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
    2. ^ [2] BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ VII (1991-1996) - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
    3. ^ Công việc thường được giao cho ứng cử viên của một trong những vị trí chủ chốt.
    4. ^ Theo cuốn Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức thì trong thư của ông Đặng Văn Thượng đặc phái viên Chính phủ (nguyên bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh) gửi Thủ tướng Võ Văn Kiệt ngày 23-8-1995, có đoạn ông Cố vấn Nguyễn Văn Linh trực tiếp phổ biến với các cán bộ chủ chốt ở miền Tây: "Kỳ này, anh Sáu Phan, ủy viên Bộ Chính trị, sẽ được cử lên thay anh Sáu Dân, vì anh Sáu Phan có lịch sử chính trị suôn sẻ, tận tụy vô tư, sẽ giúp cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh hơn".
    5. ^ a ă Sách Bên Thắng Cuộc, tác giả Huy Đức, Chương XIX: Đại hội VIII, mục Vụ án Nguyễn Hà Phan
    6. ^ Sự kiện Nguyễn Tấn Dũng và vụ kiện Trung Quốc về vấn đề biển Đông

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32