GIAI THOẠI THIỀN 7
(ĐC sưu tầm trên NET)
Đánh là tình, chửi là yêu.
Ngữ ngôn văn tự tuy là công cụ, không phải là mục tiêu. Như đi thuyền qua sông, chưa qua bờ kia đâu thể bỏ thuyền. Nhưng nếu đến bờ kia rồi, hãy bỏ thuyền mà đi. Thiền sư Linh Hựu đứng trên lập trường giáo dục mà tận tình khuyên dạy, còn thiền sư Ngưỡng Sơn đứng trên lập trường giảng thoại của người đã qua tới bờ. Tuy hai người bàn luận không đồng nhau, nhưng thực ra lý tánh chỉ là một.
Không có đạo tâm
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ hai, 03 Tháng tám 2009 14:23
- Viết bởi nguyen
Văn Đạo là
một vị tăng hành cước, từ lâu ngưỡng mộ đạo phong của thiền sư Huệ Huân,
cho nên trèo non lội suối hàng ngàn dặm đến trước hang động chỗ ở của
thiền sư, thưa:
- Con ngưỡng mộ cao phong của thiền sư từ xa đến đây, xin Hòa thượng từ bi khai thị.
- Con ngưỡng mộ cao phong của thiền sư từ xa đến đây, xin Hòa thượng từ bi khai thị.
Khi ấy, trời đã tối, thiền sư Huệ Huân nói :
- Trời tối rồi, ở đây ngủ một đêm đi !
Hôm sau, khi Văn Đạo thức dậy thiền sư Huệ Huân đã dậy trước nấu cháo xong, khi đem ra dùng, không còn chén cho Văn Đạo, thiền sư Huệ Huân ra ngoài lượm đầu lâu đem vô đựng cháo cho Văn Đạo. Văn Đạo do dự không biết có nên nhận hay không. Thiền sư Huệ Huân nói :
- Ông không có đạo tâm, không phải chơn chánh vì pháp mà đến, ông đem vọng tình dơ sạch và yêu ghét để xử sự tiếp vật, như vậy làm sao đắc đạo được ?
- Trời tối rồi, ở đây ngủ một đêm đi !
Hôm sau, khi Văn Đạo thức dậy thiền sư Huệ Huân đã dậy trước nấu cháo xong, khi đem ra dùng, không còn chén cho Văn Đạo, thiền sư Huệ Huân ra ngoài lượm đầu lâu đem vô đựng cháo cho Văn Đạo. Văn Đạo do dự không biết có nên nhận hay không. Thiền sư Huệ Huân nói :
- Ông không có đạo tâm, không phải chơn chánh vì pháp mà đến, ông đem vọng tình dơ sạch và yêu ghét để xử sự tiếp vật, như vậy làm sao đắc đạo được ?
Lời bình :
Thiện
ác, phải quấy, được mất, dơ sạch đó là cảnh giới nhận biết của tâm phân
biệt. Đạo chơn chánh, không nghĩ thiện không nghĩ ác, không sạch, không
dơ. Văn Đạo khởi niệm yêu ghét, đương nhiên phải bị quở trách là không
có đạo tâm.Không có miệng để thuyết pháp
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 07 Tháng ba 2009 07:56
- Viết bởi nguyen
Có một học
tăng tên Đạo Niệm, xuất gia được mấy mươi năm, đến các nơi tham học mà
chưa được khai ngộ. Một hôm, thỉnh thiền sư Thạch Thê chỉ dạy :
- Con chưa biết bản tánh của mình, xin thiền sư chỉ cho.
Thạch Thê nói :
- Thạch Thê không có miệng.
- Con chưa biết bản tánh của mình, xin thiền sư chỉ cho.
Thạch Thê nói :
- Thạch Thê không có miệng.
- Con chí thành kính cẩn lắng nghe.
- Ông nghe cái gì ?
- Con biết tội nghiệp của mình sâu dày.
- Lão tăng tội lỗi cũng không ít.
- Thiền sư lỗi chỗ nào ?
- Lỗi chỗ ông sai lầm.
- Sám hối được không ?
- Tội nghiệp vốn không do tâm tạo, tâm nếu diệt rồi tội cũng không.
Đạo Niệm liền lễ bái, Thạch Thê bèn đánh. Đánh xong hỏi :
- Ông từ đâu đến đây ?
- Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu, đến các nơi vân du hành cước.
- Những người chủ ấy có trọng Phật pháp chăng ?
- May mà thiền sư hỏi con, nếu hỏi người khác e rằng mắc họa.
- Vì sao ?
- Vì những quân chủ ấy không thích người khác hoài nghi.
- Người còn không thấy, có Phật pháp nào để trọng ?
- Xin thiền sư nói cho con nghe, thế nào là trọng Phật pháp ?
- Ông thọ giới được bao nhiêu năm ?
- Hơn mười năm rồi.
- Hơn mười năm mà không biết trọng Phật pháp. Hôm nay hỏi ta, cái miệng của ta làm sao nói được rõ ràng ? Lỗ tai ông làm sao nghe lọt ?
Ngay đó, Đạo Niệm liền đại ngộ.
- Ông nghe cái gì ?
- Con biết tội nghiệp của mình sâu dày.
- Lão tăng tội lỗi cũng không ít.
- Thiền sư lỗi chỗ nào ?
- Lỗi chỗ ông sai lầm.
- Sám hối được không ?
- Tội nghiệp vốn không do tâm tạo, tâm nếu diệt rồi tội cũng không.
Đạo Niệm liền lễ bái, Thạch Thê bèn đánh. Đánh xong hỏi :
- Ông từ đâu đến đây ?
- Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu, đến các nơi vân du hành cước.
- Những người chủ ấy có trọng Phật pháp chăng ?
- May mà thiền sư hỏi con, nếu hỏi người khác e rằng mắc họa.
- Vì sao ?
- Vì những quân chủ ấy không thích người khác hoài nghi.
- Người còn không thấy, có Phật pháp nào để trọng ?
- Xin thiền sư nói cho con nghe, thế nào là trọng Phật pháp ?
- Ông thọ giới được bao nhiêu năm ?
- Hơn mười năm rồi.
- Hơn mười năm mà không biết trọng Phật pháp. Hôm nay hỏi ta, cái miệng của ta làm sao nói được rõ ràng ? Lỗ tai ông làm sao nghe lọt ?
Ngay đó, Đạo Niệm liền đại ngộ.
Lời bình :
Tham
học mấy mươi năm mà không thấu đáo tin tức, khi cơ duyên đến hoàn toàn
không uổng phí công phu. Thiền sư Thạch Thê không có miệng để nói, bởi
vì thiền là vô ngôn. Đạo Niệm kính cẩn lắng nghe, dù cho lắng nghe,
nhưng không thể nhập tâm được, phải làm sao ? Đạo Niệm thọ giới hơn mười
năm mà không biết trọng pháp. Thiền sư Thạch Thê điểm phá cho ông, mây
mù trong tâm bao nhiêu năm nay đều tan biến. Đó mới gọi là thiền thoại
nhập tâm.Đầu cọp sừng dài
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ tư, 04 Tháng ba 2009 09:06
- Viết bởi nguyen
Có lần thiền sư Hoàng Bá đến nhà bếp, thấy Điển tọa (phụ trách nấu cơm) bèn hỏi :
- Ông đang làm gì ?
Điển tọa đáp :
- Con đang nấu cơm.
- Mỗi ngày nấu bao nhiêu gạo ?
- Ông đang làm gì ?
Điển tọa đáp :
- Con đang nấu cơm.
- Mỗi ngày nấu bao nhiêu gạo ?
- Mỗi ngày ăn ba lần, khoảng hai thạch rưỡi.
- Ăn nhiều quá vậy ?
- Con còn lo không đủ ăn đó !
Hoàng Bá nghe lời nói này, thuận tay đánh Điển tọa hai tát, Điển tọa bèn đem chuyện này kể cho Lâm Tế nghe.
Lâm Tế nghe xong, không đồng ý, cho rằng trả lời như thế đâu có lỗi gì, cớ sao lại đánh người ta ? Ông bèn an ủi Điển tọa :
- Tôi sẽ trả lời thế ông một câu với lão Hòa thượng ấy.
Nhưng Lâm Tế vừa đến chỗ Hoàng Bá. Hoàng Bá liền nêu chuyện ấy ra. Lâm Tế nói :
- Bởi Điển tọa không hiểu vì sao thầy đánh ông ta, cho nên mới nhờ con hỏi thế một tiếng với thầy.
Hoàng Bá nói :
- Tại sao? Ông nói lý do gì ta đánh ông ấy ?
- Chẳng lẽ lo không đủ ăn cũng không làm sao ?
- Tại sao không trả lời, ngày mai có cần ăn một lần nữa không ?
Lâm Tế đưa nắm tay lên, lớn tiếng :
- Nói gì ngày mai, bây giờ phải cho ăn liền.
Nói xong, thuận thế đánh Hoàng Bá. Hoàng Bá nắm tay Lâm Tế trách :
- Hòa thượng điên này, lại đến đây nhổ râu cọp !
Lâm Tế hét lên chạy vào tăng đường, Hoàng Bá lại vui mừng, nói :
- Trên đầu con cọp con mọc sừng dài.
Sau này Quy Sơn Linh Hựu đem chuyện ấy hỏi Ngưỡng Sơn Huệ Tịch :
- Hai thiền sư ấy rốt cuộc đang làm gì ?
Ngưỡng Sơn đáp :
- Theo ý thầy thế nào ?
- Sanh con mới biết lòng cha to lớn.
- Con lại không đồng ý như thế.
- Theo ông thì sao ?
- Đó giống như đem kẻ trộm vào trong nhà, nó sẽ lấy hết đồ của mình.
Quy Sơn Linh Hựu nghe xong cười to ha hả.
- Ăn nhiều quá vậy ?
- Con còn lo không đủ ăn đó !
Hoàng Bá nghe lời nói này, thuận tay đánh Điển tọa hai tát, Điển tọa bèn đem chuyện này kể cho Lâm Tế nghe.
Lâm Tế nghe xong, không đồng ý, cho rằng trả lời như thế đâu có lỗi gì, cớ sao lại đánh người ta ? Ông bèn an ủi Điển tọa :
- Tôi sẽ trả lời thế ông một câu với lão Hòa thượng ấy.
Nhưng Lâm Tế vừa đến chỗ Hoàng Bá. Hoàng Bá liền nêu chuyện ấy ra. Lâm Tế nói :
- Bởi Điển tọa không hiểu vì sao thầy đánh ông ta, cho nên mới nhờ con hỏi thế một tiếng với thầy.
Hoàng Bá nói :
- Tại sao? Ông nói lý do gì ta đánh ông ấy ?
- Chẳng lẽ lo không đủ ăn cũng không làm sao ?
- Tại sao không trả lời, ngày mai có cần ăn một lần nữa không ?
Lâm Tế đưa nắm tay lên, lớn tiếng :
- Nói gì ngày mai, bây giờ phải cho ăn liền.
Nói xong, thuận thế đánh Hoàng Bá. Hoàng Bá nắm tay Lâm Tế trách :
- Hòa thượng điên này, lại đến đây nhổ râu cọp !
Lâm Tế hét lên chạy vào tăng đường, Hoàng Bá lại vui mừng, nói :
- Trên đầu con cọp con mọc sừng dài.
Sau này Quy Sơn Linh Hựu đem chuyện ấy hỏi Ngưỡng Sơn Huệ Tịch :
- Hai thiền sư ấy rốt cuộc đang làm gì ?
Ngưỡng Sơn đáp :
- Theo ý thầy thế nào ?
- Sanh con mới biết lòng cha to lớn.
- Con lại không đồng ý như thế.
- Theo ông thì sao ?
- Đó giống như đem kẻ trộm vào trong nhà, nó sẽ lấy hết đồ của mình.
Quy Sơn Linh Hựu nghe xong cười to ha hả.
Lời bình :
Lâm
Tế Nghĩa Huyền là đệ tử Hoàng Bá Hy Vận, đệ tử đánh thầy đó là ngỗ
nghịch, nhưng Hoàng Bá không quở trách, ngược lại còn khen. Tục ngữ có
câu :Đánh là tình, chửi là yêu.
Biến và bất biến
- Chi tiết
- Được đăng ngày Chủ Nhật, 01 Tháng ba 2009 09:22
- Viết bởi nguyen
Thời
Đường Võ Tông hủy diệt Phật pháp, thiền sư Nham Đầu may một bộ đồ đời
để chuẩn bị lúc bất đắc dĩ mà ứng biến. Không bao lâu, nhà vua truyền
lệnh bắt tăng ni phải hoàn tục, có những vị cao tăng nổi tiếng mà cũng
bị bắt hình phạt. Thiền sư Nham Đầu vì tránh chính sách khắc nghiệt này
mà sư cũng mặc đồ đời đội nón dân, âm thầm ẩn tích trong chùa của một sư
cô. Khi ấy, sư cô đang dùng cơm trong nhà ăn, Nham Đầu nghênh ngang
bước vào trù phòng, tự tiện lấy chén đũa dùng cơm.
Lúc đó, có một đạo đồng nhìn thấy, liền mách cho sư cô biết. Sư cô cầm gậy đến chuẩn bị tư thế đánh, lại thốt lên :
- A ! Té ra là Thượng tọa Nham Đầu, cớ sao thay đổi hình rồi ?
Thiền sư Nham Đầu thong thả, an nhiên nói :
- Hình có thể thay đổi mà tánh không thể thay đổi.
Sau này thiền sư Đại Ngạn lần đầu đến tham kiến thiền sư Nham Đầu, lúc ấy Nham Đầu đang nhổ cỏ trước cổng. Đại Ngạn đội nón nghêng ngang bước vào, đứng nghiêm trang trước mặt Nham Đầu và dùng tay gõ cái nón rồi đưa tay lên nói :
- Thầy có nhớ tôi không ?
Nham Đầu đưa lên một cọng cỏ trước mặt Ngạn, nói :
- Thế gian thay đổi vô thường, không thể nhớ được.
Đại Ngạn không chịu nhượng bộ, nói :
- Thế gian vô thường, nhưng pháp tánh vĩnh hằng sao không nhận ?
Nham Đầu nghe xong, đánh Đại Ngạn ba cái. Khi ấy Đại Ngạn bước vào tăng đường, Nham Đầu nói :
- Đã thăm hỏi rồi, lẽ tất yếu không cần phải vào tăng đường.
Đại Ngạn liền xoay mình ra về, nhưng hôm sau khi cơm cháo xong, ông ta lại đi vào tăng đường, vừa bước vào cửa, Nham Đầu liền từ trên pháp tòa đi xuống, nắm chặt ngực Đại Ngạn, bảo :
- Nói mau ! Nói mau ! Trước khi chưa thay đổi, nó ở đâu?
Đại Ngạn cũng nắm chặt Nham Đầu nói :
- Trong nhà sư cô, hình có thể thay đổi mà tánh không thể thay đổi.
Nói xong, hai người cười to ha hả.
- A ! Té ra là Thượng tọa Nham Đầu, cớ sao thay đổi hình rồi ?
Thiền sư Nham Đầu thong thả, an nhiên nói :
- Hình có thể thay đổi mà tánh không thể thay đổi.
Sau này thiền sư Đại Ngạn lần đầu đến tham kiến thiền sư Nham Đầu, lúc ấy Nham Đầu đang nhổ cỏ trước cổng. Đại Ngạn đội nón nghêng ngang bước vào, đứng nghiêm trang trước mặt Nham Đầu và dùng tay gõ cái nón rồi đưa tay lên nói :
- Thầy có nhớ tôi không ?
Nham Đầu đưa lên một cọng cỏ trước mặt Ngạn, nói :
- Thế gian thay đổi vô thường, không thể nhớ được.
Đại Ngạn không chịu nhượng bộ, nói :
- Thế gian vô thường, nhưng pháp tánh vĩnh hằng sao không nhận ?
Nham Đầu nghe xong, đánh Đại Ngạn ba cái. Khi ấy Đại Ngạn bước vào tăng đường, Nham Đầu nói :
- Đã thăm hỏi rồi, lẽ tất yếu không cần phải vào tăng đường.
Đại Ngạn liền xoay mình ra về, nhưng hôm sau khi cơm cháo xong, ông ta lại đi vào tăng đường, vừa bước vào cửa, Nham Đầu liền từ trên pháp tòa đi xuống, nắm chặt ngực Đại Ngạn, bảo :
- Nói mau ! Nói mau ! Trước khi chưa thay đổi, nó ở đâu?
Đại Ngạn cũng nắm chặt Nham Đầu nói :
- Trong nhà sư cô, hình có thể thay đổi mà tánh không thể thay đổi.
Nói xong, hai người cười to ha hả.
Lời bình :
Tất
cả các pháp thế gian đều là sanh diệt thay đổi, còn pháp tánh thì không
thể thay đổi. Chẳng hạn như thế giới thì có thành, trụ, hoại, không;
con người có sanh, già, bệnh, chết; tâm có sanh, trụ, dị, diệt. Chỉ có
bản tánh các pháp, tức là bản lai diện mục của chúng ta từ xưa đến nay
chưa từng thay đổi, muôn đời muôn kiếp luôn mới mẻ.
Lúc
chính sách khắc nghiệt, tín ngưỡng không được tự do, thiền sư Nham Đầu
đổi áo ca-sa mặc đồ đời, ngài nói rằng hình tướng có thể thay đổi mà tâm
tánh không thay đổi. Nếu chúng ta nhận được chơn tâm không thay đổi của
mình, như vàng ròng có thể biến hình thành bông tai, cà rá, vòng tay,
còn bản chất của vàng ròng không thay đổi. Chúng ta luân hồi trong năm
đường, mà bản tánh cũng chưa từng thay đổi.Tiếng rống sư tử trên tảng đá
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ năm, 26 Tháng Hai 2009 08:30
- Viết bởi nguyen
Thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu lúc mới đến Nam Nhạc, ngày hôm sau thưa với thiền sư Hoài Nhượng :
- Hôm qua con đến đây thấy có một thiền tăng trẻ vô lý ngồi như như bất động trên tảng đá.
Hoài Nhượng nghe xong hỏi :
- Ông có lầm không ?
Hy Thiên nói :
- Không !
- Hôm qua con đến đây thấy có một thiền tăng trẻ vô lý ngồi như như bất động trên tảng đá.
Hoài Nhượng nghe xong hỏi :
- Ông có lầm không ?
Hy Thiên nói :
- Không !
Khi ấy, Hoài Nhượng bảo thị giả :
- Ông ra ngoài sơn môn xem vị tăng ngồi trên tảng đá là ai ? Nếu là thiền tăng trẻ hôm qua, ông hãy quở trách ông ta giở trò hư huyễn gì vậy ? Nếu ông ta thừa nhận, ông hỏi rằng: “Cây trên tảng đá, dời trồng chỗ khác có sống được không ?”.
Thị giả đem câu hỏi này hỏi Hy Thiên, Hy Thiên đáp :
- Trong thế giới chư Phật, không có vật gì có thể làm lay động được, cũng không có nói sống chết gì cả.
Khi ấy, thị giả trở về kể lại câu trả lời của Hy Thiên cho thiền sư Hoài Nhượng nghe. Thiền sư Hoài Nhượng nói :
- Thiền sư ấy, con cháu đời sau sẽ làm cho mọi người không thể mở miệng.
Hoài Nhượng lại sai thị giả đến hỏi Hy Thiên :
- Thế nào mới là giải thoát chân chánh ?
Hy Thiên :
- Ai trói buộc ông ?
Thị giả :
- Thế nào là Tịnh độ ?
- Ai làm ô nhiễm ông ?
- Thế nào là Niết-bàn ?
- Ai đem sanh tử cho ông ?
Thị giả đem những câu hỏi đáp này kể lại cho thiền sư Hoài Nhượng nghe. Thiền sư Hoài Nhượng nghe xong, chấp hai tay không nói một lời.
Môn hạ của Lục Tổ Huệ Năng có hai đệ tử lớn, Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng. Đã là tông sư đương thời mà các ngài đều cho rằng : Ở trên tảng đá kia được nghe tiếng rống của sư tử.
- Ông ra ngoài sơn môn xem vị tăng ngồi trên tảng đá là ai ? Nếu là thiền tăng trẻ hôm qua, ông hãy quở trách ông ta giở trò hư huyễn gì vậy ? Nếu ông ta thừa nhận, ông hỏi rằng: “Cây trên tảng đá, dời trồng chỗ khác có sống được không ?”.
Thị giả đem câu hỏi này hỏi Hy Thiên, Hy Thiên đáp :
- Trong thế giới chư Phật, không có vật gì có thể làm lay động được, cũng không có nói sống chết gì cả.
Khi ấy, thị giả trở về kể lại câu trả lời của Hy Thiên cho thiền sư Hoài Nhượng nghe. Thiền sư Hoài Nhượng nói :
- Thiền sư ấy, con cháu đời sau sẽ làm cho mọi người không thể mở miệng.
Hoài Nhượng lại sai thị giả đến hỏi Hy Thiên :
- Thế nào mới là giải thoát chân chánh ?
Hy Thiên :
- Ai trói buộc ông ?
Thị giả :
- Thế nào là Tịnh độ ?
- Ai làm ô nhiễm ông ?
- Thế nào là Niết-bàn ?
- Ai đem sanh tử cho ông ?
Thị giả đem những câu hỏi đáp này kể lại cho thiền sư Hoài Nhượng nghe. Thiền sư Hoài Nhượng nghe xong, chấp hai tay không nói một lời.
Môn hạ của Lục Tổ Huệ Năng có hai đệ tử lớn, Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng. Đã là tông sư đương thời mà các ngài đều cho rằng : Ở trên tảng đá kia được nghe tiếng rống của sư tử.
Lời bình :
Thiền
sư Hy Thiên Thạch Đầu khi thảo luận vấn đề, lấy câu hỏi để đáp. Đúng
như câu nói của Lục Tổ Huệ Năng xưa nay không một vật, bụi bặm dính vào
đâu. Hy Thiên nói “Ai trói buộc?”. Té ra mình trói buộc mình. Ai làm
mình ô nhiễm, chính mình làm ô nhiễm mình. Ai làm mình sanh tử cũng là
mình làm cho mình chìm trong biển khổ sanh tử, hoàn toàn không do ai tạo
ra cả. Tảng đá vốn như như bất động, không chết không sống, mà chúng ta
tự quấy rối lên, cho nên thiền sư Hoài Nhượng bảo chúng ta hãy lắng
nghe tiếng rống của sư tử trên tảng đá.Một chữ quên rất khó
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ ba, 24 Tháng Hai 2009 08:44
- Viết bởi nguyen
Thiền sư Triệu Châu hỏi Quy Sơn Linh Hựu :
- Thế nào là ý Tổ sư nhiều đời ?
Quy Sơn gọi thị giả, bảo :
- Hãy đem cái ghế đến đây mau !
Triệu Châu nói :
- Từ khi ta làm chủ một ngôi chùa đến nay, chưa từng gặp một thiền giả chân chánh.
- Thế nào là ý Tổ sư nhiều đời ?
Quy Sơn gọi thị giả, bảo :
- Hãy đem cái ghế đến đây mau !
Triệu Châu nói :
- Từ khi ta làm chủ một ngôi chùa đến nay, chưa từng gặp một thiền giả chân chánh.
Khi ấy, có một học tăng đứng bên cạnh hỏi :
- Nếu gặp thiền giả chân chánh, thầy sẽ nghĩ thế nào ?
Triệu Châu nói :
- Một cây cung to phải dùng cả ngàn sức mạnh, không vì một con chuột nhắt mà giương cung.
Học tăng lại hỏi :
- Ai là thầy của chư Phật ?
- Nam-mô A-di-đà Phật.
- Nam-mô A-di-đà Phật là ai ?
- Nam-mô A-di-đà Phật là đệ tử của ta.
Học tăng đem câu thoại này hỏi thiền sư Trường Khánh:
- Thiền sư Triệu Châu nói Nam-mô A-di-đà Phật là đệ tử của ngài, đó là lời nói dẫn đường đối phương hay bỏ đối phương ?
Trường Khánh nói :
- Nếu tìm tòi ở hai đầu thì không hiểu chơn nghĩa của Triệu Châu.
Học tăng hỏi :
- Thế nào là chơn nghĩa của Triệu Châu ?
Trường Khánh khảy móng tay một cái, học tăng không hiểu nghĩa gì cả, tiếp tục theo Triệu Châu tham vấn.
Có lần, Triệu Vương thỉnh Triệu Châu thuyết pháp, Triệu Châu lại lên bảo tòa tụng kinh. Học tăng đứng bên cạnh hỏi :
- Mọi người thỉnh thầy thuyết pháp, chẳng hay vì sao thầy tụng kinh ?
Triệu Châu nói :
- Chẳng lẽ đệ tử Phật mà không tụng kinh được sao ?
Lại có một lần, mọi người đang tụng kinh, bỗng dưng Triệu Châu ngồi thiền bất động. Học tăng hỏi :
- Sao thầy không tụng kinh ?
Triệu Châu :
- May nhờ ông nhắc ta tụng kinh, chứ không dường như lão tăng quên mất rồi.
- Nếu gặp thiền giả chân chánh, thầy sẽ nghĩ thế nào ?
Triệu Châu nói :
- Một cây cung to phải dùng cả ngàn sức mạnh, không vì một con chuột nhắt mà giương cung.
Học tăng lại hỏi :
- Ai là thầy của chư Phật ?
- Nam-mô A-di-đà Phật.
- Nam-mô A-di-đà Phật là ai ?
- Nam-mô A-di-đà Phật là đệ tử của ta.
Học tăng đem câu thoại này hỏi thiền sư Trường Khánh:
- Thiền sư Triệu Châu nói Nam-mô A-di-đà Phật là đệ tử của ngài, đó là lời nói dẫn đường đối phương hay bỏ đối phương ?
Trường Khánh nói :
- Nếu tìm tòi ở hai đầu thì không hiểu chơn nghĩa của Triệu Châu.
Học tăng hỏi :
- Thế nào là chơn nghĩa của Triệu Châu ?
Trường Khánh khảy móng tay một cái, học tăng không hiểu nghĩa gì cả, tiếp tục theo Triệu Châu tham vấn.
Có lần, Triệu Vương thỉnh Triệu Châu thuyết pháp, Triệu Châu lại lên bảo tòa tụng kinh. Học tăng đứng bên cạnh hỏi :
- Mọi người thỉnh thầy thuyết pháp, chẳng hay vì sao thầy tụng kinh ?
Triệu Châu nói :
- Chẳng lẽ đệ tử Phật mà không tụng kinh được sao ?
Lại có một lần, mọi người đang tụng kinh, bỗng dưng Triệu Châu ngồi thiền bất động. Học tăng hỏi :
- Sao thầy không tụng kinh ?
Triệu Châu :
- May nhờ ông nhắc ta tụng kinh, chứ không dường như lão tăng quên mất rồi.
Lời bình :
Các
bậc cổ đức trong thiền môn, Triệu Châu là một nhân vật vô cùng thú vị.
Ngài nói không vì con chuột nhắt mà giương cung và tự cho rằng mình là
thầy của Phật A-di-đà. Người ta thỉnh ngài thuyết pháp, ngài lại tụng
kinh, người ta đang tụng kinh, ngài lại ngồi thiền, không phải ngài tùy
tiện làm trái mọi người. Thiền giả muốn siêu việt đối đãi chỉ cần một
chữ quên, quên mình, quên người, quên tình, quên cảnh, quên phải, quên
quấy, quên có, quên không. Từ xưa đến nay một chữ quên này rất khó mà
thực hành. Thật là đúng vậy.
Chỗ ở của mình
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ Sáu, 20 Tháng Hai 2009 09:34
- Viết bởi nguyen
Thiền
sư Triệu Châu một đời sống lang thang rày đây mai đó, yên theo phận
mình, tùy duyên vui vẻ sinh hoạt với mọi người, nơi nào cũng là nhà. Một
đời làm tăng hành cước, đến tám mươi tuổi mà vẫn còn hành cước. Có bài
thơ như sau:
Triệu Châu tám chục vẫn tham thiền,
Bởi tại tâm mình vốn chưa yên.
Đến khi trở về không một việc,
Mới hay uổng phí giày cỏ tiền.
Bởi tại tâm mình vốn chưa yên.
Đến khi trở về không một việc,
Mới hay uổng phí giày cỏ tiền.
Triệu Châu bát thập du hành cước,
Chỉ vị tâm đầu vị thiểu nhiên.
Cập chí quy lai vô nhất sự,
Thủy tri không phí thảo hài tiền.
Chỉ vị tâm đầu vị thiểu nhiên.
Cập chí quy lai vô nhất sự,
Thủy tri không phí thảo hài tiền.
Có một lần, sư hành cước đến chỗ thiền sư Vân Cư. Vân Cư hỏi :
- Ông lớn tuổi như thế mà vẫn còn đi chỗ này chỗ nọ, sao không tìm một nơi ở cho yên thân !
Triệu Châu nghe xong, dường như không hiểu điều gì, hỏi :
- Làm thế nào mới là chỗ ở yên thân của tôi ?
Vân Cư nói :
- Trước núi có một nền chùa bỏ hoang, thầy hãy đến đó sửa lại mà ở.
Triệu Châu không chấp nhận, hỏi ngược lại :
- Sao Hòa thượng không đến đó ở đi ?
Lại có một lần, Triệu Châu đến chỗ thiền sư Thù Du. Thù Du hỏi :
- Ông lớn tuổi như thế mà còn đi các nơi vân du hành cước, vì sao không tìm một chỗ để yên tâm tu hành ?
Triệu Châu nghe nói như thế, liền đứng dậy cung kính đáp :
- Tôi ba mươi năm rong ruổi các nơi, tùy duyên sinh sống, không ngờ hôm nay bị con lừa đạp gãy một chân.
- Ông lớn tuổi như thế mà vẫn còn đi chỗ này chỗ nọ, sao không tìm một nơi ở cho yên thân !
Triệu Châu nghe xong, dường như không hiểu điều gì, hỏi :
- Làm thế nào mới là chỗ ở yên thân của tôi ?
Vân Cư nói :
- Trước núi có một nền chùa bỏ hoang, thầy hãy đến đó sửa lại mà ở.
Triệu Châu không chấp nhận, hỏi ngược lại :
- Sao Hòa thượng không đến đó ở đi ?
Lại có một lần, Triệu Châu đến chỗ thiền sư Thù Du. Thù Du hỏi :
- Ông lớn tuổi như thế mà còn đi các nơi vân du hành cước, vì sao không tìm một chỗ để yên tâm tu hành ?
Triệu Châu nghe nói như thế, liền đứng dậy cung kính đáp :
- Tôi ba mươi năm rong ruổi các nơi, tùy duyên sinh sống, không ngờ hôm nay bị con lừa đạp gãy một chân.
Lời bình :
Thiền
sư Triệu Châu hành cước, ban đầu có vị tăng hỏi : “Tương lai khi kiếp
hỏa đốt cháy, thân tứ đại ngũ uẩn có hoại không ?”. Triệu Châu đáp : “Sẽ
hoại”. Tăng lại hỏi : “Nếu thân hoại thì theo nó đi rồi”. Triệu Châu
đáp : “Theo nó đi !”. Triệu Châu trả lời như thế, vị tăng ấy hoài nghi,
Triệu Châu cũng do dự, cho nên ngài đi khắp nơi hành cước tìm thầy để
giải nghi.
Một câu tùy anh nói,
Ngàn núi bước nạp tăng.
Triệu
Châu tám mươi tuổi mà còn hành cước các nơi, vì cầu người giải quyết
thỏa chí khối nghi mà thôi. Thực ra Triệu Châu hành cước là muốn tìm chỗ
ở lâu dài, nghĩa là lúc bỏ thân này tự có chỗ đi.Ngàn núi bước nạp tăng.
Nặng bao nhiêu
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ tư, 18 Tháng Hai 2009 08:01
- Viết bởi nguyen
Hàn lâm Học
sĩ Tô Đông Pha nhân bàn luận đạo lý với thiền sư Chiếu Giác, khi bàn đến
câu “Tình và vô tình, đồng viên chủng trí”. Bỗng dưng ông tỉnh ngộ, có
làm ba bài kệ : Lúc chưa tham thiền, lúc tham thiền và sau khi tham
thiền ngộ đạo để tỏ bày tâm đắc của mình.
1. Lúc chưa tham thiền
Nhìn xem Thành Lãnh bên Thành Phong,
Cao thấp gần xa thảy chẳng đồng.
Chẳng biết Lô Sơn mặt mày thật,
Bởi do núi ấy thân ở trong.
Cao thấp gần xa thảy chẳng đồng.
Chẳng biết Lô Sơn mặt mày thật,
Bởi do núi ấy thân ở trong.
Hoành khán Thành Lãnh trắc Thành Phong,
Viễn cận cao đê giai bất đồng.
Bất thức Lô Sơn chơn diện mục,
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.
Viễn cận cao đê giai bất đồng.
Bất thức Lô Sơn chơn diện mục,
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.
2. Lúc tham thiền
Mù tỏa Lô Sơn sóng Chiết Giang,
Khi chưa đến đó luống mơ màng.
Đến rồi không thấy việc gì khác,
Mù tỏa Lô Sơn sóng Chiết Giang.
Khi chưa đến đó luống mơ màng.
Đến rồi không thấy việc gì khác,
Mù tỏa Lô Sơn sóng Chiết Giang.
Lô Sơn yên vũ Chiết Giang triều,
Vị đáo thiên ban hận bất tiêu.
Cập chú quy lai vô nhất sự,
Lô Sơn yên vũ Chiết Giang triều.
Vị đáo thiên ban hận bất tiêu.
Cập chú quy lai vô nhất sự,
Lô Sơn yên vũ Chiết Giang triều.
3. Sau khi tham thiền ngộ đạo
Tiếng khe chính đó bài pháp dài,
Sắc núi toàn là thân tịnh bày.
Đêm qua tám vạn bốn ngàn kệ,
Sáng ra biết đến nói cùng ai ?
Sắc núi toàn là thân tịnh bày.
Đêm qua tám vạn bốn ngàn kệ,
Sáng ra biết đến nói cùng ai ?
Khê thanh tận thị quảng trường thiệt,
Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân.
Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ,
Tha nhật như hà cử tự nhân ?
Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân.
Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ,
Tha nhật như hà cử tự nhân ?
Tô
Đông Pha sau lần ngộ thiền này, tự cho mình là cao thượng, nghe thiền
môn thiền sư Thừa Hạo ở chùa Ngọc Tuyền – Kinh Nam cao vót, cơ phong khó
xúc chạm, lòng không kính phục cho nên muốn thử một phen thiền công
thiền sư Thừa Hạo ra sao ? Vừa gặp mặt, Tô Đông Pha liền nói :
- Nghe thiền sư ngộ thiền sâu lắm, xin hỏi thế nào là ngộ thiền ?
Thiền sư Thừa Hạo không đáp mà hỏi ngược lại :
- Xin tôn quan quý tánh là gì ?
Tô Đông Pha đáp :
- Họ Xứng. Xứng nghĩa là cân xem thiên hạ và trưởng lão nặng bao nhiêu.
Thiền sư Thừa Hạo hét lớn một tiếng nói :
- Xin hỏi ông, tiếng hét nặng bao nhiêu ?
Tô Đông Pha không đáp được, bèn lễ bái lui ra.
Thiền sư Thừa Hạo không đáp mà hỏi ngược lại :
- Xin tôn quan quý tánh là gì ?
Tô Đông Pha đáp :
- Họ Xứng. Xứng nghĩa là cân xem thiên hạ và trưởng lão nặng bao nhiêu.
Thiền sư Thừa Hạo hét lớn một tiếng nói :
- Xin hỏi ông, tiếng hét nặng bao nhiêu ?
Tô Đông Pha không đáp được, bèn lễ bái lui ra.
Lời bình :
Ba
cấp bậc tham thiền của Tô Đông Pha giống như ba giai đoạn tham thiền
của thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư. Ngài nói : “Trước khi tham thiền thấy
núi là núi, thấy sông là sông; khi tham thiền, thấy núi không phải núi,
thấy sông không phải sông; sau khi tham thiền, thấy núi vẫn là núi,
thấy sông vẫn là sông”.
Thiền
giả qua ba cửa này, tuy được khai ngộ, nhưng hoàn toàn không tu chứng.
Ngộ là hiểu, còn tu thuộc chứng, cho nên thiền giả do ngộ mà khởi tu, do
tu mà chứng. Nếu người không tu chứng mà gặp thiền sư Thừa Hạo hét một
tiếng như thế, liền trố mắt, đớ lưỡi, câm miệng.
Pháp bảo vô thượng
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ hai, 16 Tháng Hai 2009 09:02
- Viết bởi nguyen
Tổ
sư Đạt-ma tên là Bồ-đề Đa-la, người Nam Ấn Độ, xuất thân dòng quý tộc
Bà-la-môn là con trai thứ ba của vua Hương Chí. Sau đó, gặp Bát-nhã
Đa-la được Tổ công nhận là bậc pháp khí và độ cho ngài xuất gia, đổi tên
là Bồ-đề Đạt-ma.
Trước
khi chưa xuất gia, Đạt-ma có tài trí hơn người, thiện căn thoát tục. Có
một lần Tôn giả Bát-nhã Đa-la chỉ một đống châu báu hỏi ba anh em
Đạt-ma :
- Trên đời còn có cái gì tốt hơn châu báu này không ?
- Trên đời còn có cái gì tốt hơn châu báu này không ?
Anh cả Nguyệt Tịnh Đa-la đáp :
- Không ! Những châu báu này rất là quý của vương giả chúng ta, trên đời không có cái gì hơn của báu này được.
Anh kế Công Đức Đa-la đáp :
- Con thấy trên đời không có vật gì quý hơn châu báu này cả.
- Không ! Những châu báu này rất là quý của vương giả chúng ta, trên đời không có cái gì hơn của báu này được.
Anh kế Công Đức Đa-la đáp :
- Con thấy trên đời không có vật gì quý hơn châu báu này cả.
Chỉ có người em út Bồ-đề Đạt-ma không đồng ý cách trả lời ấy, bèn nói :
- Con không dám cho rằng hai anh nói không đúng. Nhưng theo con, những hạt châu này không có giá trị gì cả !
Hai anh đều lên tiếng hỏi :
- Vì sao những hạt châu này không có giá trị, em có bảo vật giá trị ra sao ?
- Vì sao những hạt châu này không có giá trị, em có bảo vật giá trị ra sao ?
Bồ-đề Đạt-ma nói :
- Vì bản thân của những hạt châu này không thể biết được giá trị của nó, mà cần phải nhờ vào trí tuệ của con người, nếu không chẳng qua chỉ là một mớ vật không có tri giác mà thôi. Phật pháp do đức Phật nói mới là chân lý, đó là pháp bảo, pháp bảo là do trí tuệ Bát-nhã phát sanh. Pháp bảo này không những tự chiếu mà còn phân biệt các loại pháp bảo có hình sắc và cũng phân biệt được tất cả các pháp thiện ác của thế gian và xuất thế gian. Cho nên, trong các thứ bảo vật được tôn quý nhất là pháp bảo chân lý vô thượng.
- Vì bản thân của những hạt châu này không thể biết được giá trị của nó, mà cần phải nhờ vào trí tuệ của con người, nếu không chẳng qua chỉ là một mớ vật không có tri giác mà thôi. Phật pháp do đức Phật nói mới là chân lý, đó là pháp bảo, pháp bảo là do trí tuệ Bát-nhã phát sanh. Pháp bảo này không những tự chiếu mà còn phân biệt các loại pháp bảo có hình sắc và cũng phân biệt được tất cả các pháp thiện ác của thế gian và xuất thế gian. Cho nên, trong các thứ bảo vật được tôn quý nhất là pháp bảo chân lý vô thượng.
Lời bình :
Tài
trí của Đạt-ma quá siêu thoát, kiến giải của ngài không bị truyền thống
trói buộc. Do nhân duyên ưu việt này, cho nên sau khi xuất gia được kế
thừa y bát của Tổ Bát-nhã Đa-la, thành Tổ sư đời thứ hai mươi tám ở Tây
Thiên. Tại nước ta (Trung Quốc), lúc Lương Võ Đế đương triều, ngài từ
Tây sang đây, ngồi xoay mặt vào vách chín năm ở núi Thiếu Thất, cũng là
Sơ Tổ của nước ta.
Thế
nào mới là bảo vật chân chánh ? Trên thế gian này, bảo vật là bảy báu
như vàng, bạc, chơn châu v.v… Bảo vật xuất thế gian là Tam-bảo - Phật,
Pháp, Tăng. Phật, Pháp, Tăng còn gọi là tự tánh Tam-bảo, mỗi người đều
có đủ, không ai chẳng có chơn tâm bản tánh. Vàng, bạc, chơn châu có lúc
phải hủy hoại, còn chơn tâm bản tánh không bao giờ hủy hoại. Bồ-đề
Đạt-ma tuổi còn nhỏ mà có tài trí nhận biết này. Sau đó được kế thừa Tổ
vị và còn truyền thụ Phật pháp từ Tây sang. Một hoa nở năm cánh, mồi đèn
không cùng tận, nghĩa là một niệm huệ giải mà sáng soi vô tận. Đó là
chân lý pháp bảo, cao thượng hơn tài bảo bạc vàng.Thừa nhận tín vật
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ năm, 12 Tháng Hai 2009 09:06
- Viết bởi nguyen
Một hôm thiền sư Quy Sơn Linh Hựu nói với đệ tử Ngưỡng Sơn :
- Có một tín đồ thế tục cầm ba bó lụa đến đây yêu cầu ta làm lễ cầu phước cho ông ấy và cầu cho mọi người được hòa bình, an lạc.
Ngưỡng Sơn nghe lão sư nói xong, cố ý hỏi :
- Nếu tín đồ đối với Phật pháp thành tâm như thế và còn mong cầu phước báu cho mọi người, thầy nhận lụa của ông ta, xin hỏi thầy đem vật gì để đáp tạ ?
Thiền sư Linh Hựu lập tức dùng gậy gõ giường thiền ba cái, nói :
- Ta đem cái ấy để đáp tạ.
- Có một tín đồ thế tục cầm ba bó lụa đến đây yêu cầu ta làm lễ cầu phước cho ông ấy và cầu cho mọi người được hòa bình, an lạc.
Ngưỡng Sơn nghe lão sư nói xong, cố ý hỏi :
- Nếu tín đồ đối với Phật pháp thành tâm như thế và còn mong cầu phước báu cho mọi người, thầy nhận lụa của ông ta, xin hỏi thầy đem vật gì để đáp tạ ?
Thiền sư Linh Hựu lập tức dùng gậy gõ giường thiền ba cái, nói :
- Ta đem cái ấy để đáp tạ.
Ngưỡng Sơn không chấp nhận, nói :
- Nếu là cái ấy, cần làm gì ?
Thiền sư Linh Hựu lại gõ ba cái, nói :
- Ông hiềm nghi cái ấy không đủ sao ?
Ngưỡng Sơn giải thích :
- Không phải con hiềm nghi cái ấy, vì cái ấy là của mọi người, con chỉ cho rằng thầy không nên lấy vật của mọi người để đáp tạ ông ấy.
Thiền sư Linh Hựu nói :
- Ông đã biết đó là của mọi người, vì sao bảo ta tìm vật để cho người khác ? Ông hãy nói xem, ngoài cái ấy ra, còn có cái nào khác để đáp tạ ông ấy không ?
Ngưỡng Sơn vẫn không chấp nhận, nói :
- Chính mình đã đủ, đâu nhọc đến người khác ?
Thiền sư Linh Hựu nói :
- Tuy chính mình đã đủ, nhưng nếu không có người khác, làm sao biết được ? Ông quên rằng ban đầu Tổ sư Đạt-ma đến nước ta, cũng chỉ đem cái ấy cho người. Thiền giả các ông đều là người thừa nhận tín vật của ông ấy mà !
- Nếu là cái ấy, cần làm gì ?
Thiền sư Linh Hựu lại gõ ba cái, nói :
- Ông hiềm nghi cái ấy không đủ sao ?
Ngưỡng Sơn giải thích :
- Không phải con hiềm nghi cái ấy, vì cái ấy là của mọi người, con chỉ cho rằng thầy không nên lấy vật của mọi người để đáp tạ ông ấy.
Thiền sư Linh Hựu nói :
- Ông đã biết đó là của mọi người, vì sao bảo ta tìm vật để cho người khác ? Ông hãy nói xem, ngoài cái ấy ra, còn có cái nào khác để đáp tạ ông ấy không ?
Ngưỡng Sơn vẫn không chấp nhận, nói :
- Chính mình đã đủ, đâu nhọc đến người khác ?
Thiền sư Linh Hựu nói :
- Tuy chính mình đã đủ, nhưng nếu không có người khác, làm sao biết được ? Ông quên rằng ban đầu Tổ sư Đạt-ma đến nước ta, cũng chỉ đem cái ấy cho người. Thiền giả các ông đều là người thừa nhận tín vật của ông ấy mà !
Lời bình :
Cái
ấy là gì ? Thiền sư nói cái ấy tức chỉ cho bản lai diện mục của chúng
ta. Đã là bản lai diện mục đâu nhọc người khác ban cho ? Tuy nhiên như
thế, nếu không có thầy truyền thừa, làm sao biết được bản lai diện mục ?
Chẳng hạn như trong thiền môn không chấp ngữ ngôn văn tự, nghĩa là chỉ
thẳng bản tâm, kiến tánh thành Phật. Nhưng nếu bỏ ngữ ngôn văn tự làm
sao chỉ thẳng bản tâm, kiến tánh thành Phật ? Thiền sư Hoàng Bá nói :
“Không chấp Phật để cầu, không chấp pháp để cầu, không chấp tăng để cầu,
nên như thế mà cầu”. Câu nên như thế mà cầu này mới đủ công lực.Ngữ ngôn văn tự tuy là công cụ, không phải là mục tiêu. Như đi thuyền qua sông, chưa qua bờ kia đâu thể bỏ thuyền. Nhưng nếu đến bờ kia rồi, hãy bỏ thuyền mà đi. Thiền sư Linh Hựu đứng trên lập trường giáo dục mà tận tình khuyên dạy, còn thiền sư Ngưỡng Sơn đứng trên lập trường giảng thoại của người đã qua tới bờ. Tuy hai người bàn luận không đồng nhau, nhưng thực ra lý tánh chỉ là một.
Nhận xét
Đăng nhận xét