ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 29
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
-Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.(Thơ Nguyễn Du)
-Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) là một luật sư, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Năm 23 tuổi (1932), ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp, được khen ngợi là một tài năng hiếm có
Năm 1926, ông đỗ Tú tài triết học (16 tuổi), hạng ưu, được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại Trường đại học Tổng hợp Montpellier (1927). Năm 1929, ông đỗ Cử nhân văn chương, và năm sau đỗ Cử nhân Luật (1930)[2].
Tiếp theo, ông dự định thi tuyển Thạc sĩ (concours d'Agrégé) để dạy học, nhưng vì quốc tịch Việt Nam nên không được thi. Sau đó, ông sửa soạn làm luận án Tiến sĩ quốc gia (doctorat d'état). Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc thẩm Montpellier .
Tháng 5 năm 1932, ông bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật, với luận án chính: L'Individu dans la vieille cité annamite (Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ) và luận án bổ túc: Essai de synthèse sur le Code de Lê (Tổng luận về luật đời Lê). Tháng 6 năm 1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset (Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset) và luận án bổ túc: L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières
Ca ngợi thành tựu kiệt xuất này, ngày 29 tháng 5 năm 1932, nhật báo Le petit Meridional xuất bản ở thành phố Montpellier đã đăng bài diễn văn của Chủ tịch Hội đồng giám khảo trường Đại học của thành phố, nhận xét về luận án của một nghiên cứu sinh Việt Nam, trong đó có câu mang tính ngoại lệ: "Luận văn của Ngài quả là một tác phẩm pháp lý, hơn nữa còn là một tác phẩm pháp lý và văn học. Nền tảng của tác phẩm thật là vững vàng và không hề có một lời chỉ trích nào. Cả hình thức cũng thật xán lạn... Công trình nghiên cứu của Ngài thực sự là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh"....
Sau này, trong Từ điển văn học (bộ mới), GS. Nguyễn Huệ Chi cũng đã viết rằng: "Việc ông đỗ hai bằng Tiến sĩ trong cùng một năm được báo chí Pháp lúc bấy giờ rất ca ngợi, vì ngay đến người Pháp kể từ khi có học vị này cũng chưa một ai mới ở tuổi 23 đã giật được "lưỡng khoa Tiến sĩ" .
Tháng 9 năm 1932, ông về nước nhưng không nhận một chức vụ gì của chính quyền thuộc địa, vì vậy nên họ tìm cách gây khó khăn cho ông .
Ở nhà được khoảng ba tháng, ông trở lại Pháp. Mấy năm sau đó, ông đi du lịch và nghiên cứu các nước châu Âu: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,...Trong khoảng thời gian này ông viết được bốn cuốn sách bằng tiếng Pháp.
Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật Bản đưa quân vào Đông Dương, lập ra một Hội đồng, do Phạm Lê Bổng đứng đầu, vận động nông dân bán lúa gạo cho Nhật. Họ muốn ông Tường tham gia nhưng ông từ chối, nên bị họ gây khó khăn. Sau đó, ông nộp đơn xin từ chức, ra mở văn phòng luật sư ở phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo), Hà Nội).
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Trường Đại học Văn Khoa được thành lập, ông được cử dạy Khoa Văn chương Phương Tây.
Tháng 4 năm 1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Kết thúc Hội nghị, trở lại Hà Nội, bỗng râm ran tin đồn là ông "phản bội". Luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể:
Năm 1951 ông tham gia Đảng Xã hội Việt Nam.
Năm 1952, ông được cử đi dự Hội nghị bảo vệ Hòa Bình châu Á - Thái Bình Dương ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Ba tháng sau đi dự Đại hội Hòa Bình Thế giới ở Vienne (Áo).
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, ông về lại Hà Nội, tiếp quản trường Đại học Luật và Đại học Sư phạm, rồi được cử làm Giám đốc Đại học Luật, Phó Giám đốc Đại học Sư Phạm, và được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Luật sư Hà Nội. Cũng trong khoảng thời gian này, ông được phong Giáo sư, và tham gia giảng dạy tại các Trường đại học Văn khoa, Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội...
Năm 1989, ông được phép sang Pháp, và lưu lại ở đó 4 tháng . Tại đây, ông cho xuất bản cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp Un Excommunié (Một người bị rút phép thông công) viết về những điều trải nghiệm trong những năm ông đã sống và viết kể từ sau 1945
Ngày 13 tháng 6 năm 1997, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường qua đời vì tuổi già tại nhà số 34 phố Tăng Bạt Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thọ 88 tuổi.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.(Thơ Nguyễn Du)
-Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nguyễn Mạnh Tường (luật sư)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đối với các định nghĩa khác, xem Nguyễn Mạnh Tường.
| Nguyễn Mạnh Tường | |
|---|---|
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
|
|
| Sinh | Nguyễn Mạnh Tường Hà Nội |
| Mất | Hà Nội |
| Quốc tịch | Việt Nam |
| Con cái | 3 |
Thân thế và sự nghiệp
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16 tháng 9 năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội, nhưng quê quán ông lại là làng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà nội. Cha ông là Nguyễn Căn Cát, công chức.Đi học, đỗ hai bằng Tiến sĩ ở Pháp
Ông học tiếng Pháp từ nhỏ, trước học trường Paul Bert, sau học trường Albert Sarraut, Hà Nội.Năm 1926, ông đỗ Tú tài triết học (16 tuổi), hạng ưu, được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại Trường đại học Tổng hợp Montpellier (1927). Năm 1929, ông đỗ Cử nhân văn chương, và năm sau đỗ Cử nhân Luật (1930)[2].
Tiếp theo, ông dự định thi tuyển Thạc sĩ (concours d'Agrégé) để dạy học, nhưng vì quốc tịch Việt Nam nên không được thi. Sau đó, ông sửa soạn làm luận án Tiến sĩ quốc gia (doctorat d'état). Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc thẩm Montpellier .
Tháng 5 năm 1932, ông bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật, với luận án chính: L'Individu dans la vieille cité annamite (Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ) và luận án bổ túc: Essai de synthèse sur le Code de Lê (Tổng luận về luật đời Lê). Tháng 6 năm 1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset (Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset) và luận án bổ túc: L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières
Ca ngợi thành tựu kiệt xuất này, ngày 29 tháng 5 năm 1932, nhật báo Le petit Meridional xuất bản ở thành phố Montpellier đã đăng bài diễn văn của Chủ tịch Hội đồng giám khảo trường Đại học của thành phố, nhận xét về luận án của một nghiên cứu sinh Việt Nam, trong đó có câu mang tính ngoại lệ: "Luận văn của Ngài quả là một tác phẩm pháp lý, hơn nữa còn là một tác phẩm pháp lý và văn học. Nền tảng của tác phẩm thật là vững vàng và không hề có một lời chỉ trích nào. Cả hình thức cũng thật xán lạn... Công trình nghiên cứu của Ngài thực sự là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh"....
Sau này, trong Từ điển văn học (bộ mới), GS. Nguyễn Huệ Chi cũng đã viết rằng: "Việc ông đỗ hai bằng Tiến sĩ trong cùng một năm được báo chí Pháp lúc bấy giờ rất ca ngợi, vì ngay đến người Pháp kể từ khi có học vị này cũng chưa một ai mới ở tuổi 23 đã giật được "lưỡng khoa Tiến sĩ" .
Tháng 9 năm 1932, ông về nước nhưng không nhận một chức vụ gì của chính quyền thuộc địa, vì vậy nên họ tìm cách gây khó khăn cho ông .
Ở nhà được khoảng ba tháng, ông trở lại Pháp. Mấy năm sau đó, ông đi du lịch và nghiên cứu các nước châu Âu: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,...Trong khoảng thời gian này ông viết được bốn cuốn sách bằng tiếng Pháp.
Về nước, hoạt động
Từ 1936 đến 1954
Năm 1936, về nước, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn chương Pháp ở trường Bảo hộ (Lycée du Prétectorat, tức trường Bưởi, sau này là Chu Văn An) và trường Cao đẳng Công Chánh ((École Supérieure des Travaux Publics). Theo lời ông kể thì đây "là quãng một thời gian hạnh phúc của đời tôi" . Ngoài ra, theo Thụy Khuê, trong khoảng thời gian này, ông học thêm chữ nho và văn chương cổ điển Việt, tham gia phác họa cuốn Việt Nam Văn Phạm (với nhóm Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim), hợp tác làm Việt Nam tự điển (với nhóm Khai Trí Tiến Đức), và còn làm phụ tá cho Thị trưởng Hà Nội .Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật Bản đưa quân vào Đông Dương, lập ra một Hội đồng, do Phạm Lê Bổng đứng đầu, vận động nông dân bán lúa gạo cho Nhật. Họ muốn ông Tường tham gia nhưng ông từ chối, nên bị họ gây khó khăn. Sau đó, ông nộp đơn xin từ chức, ra mở văn phòng luật sư ở phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo), Hà Nội).
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Trường Đại học Văn Khoa được thành lập, ông được cử dạy Khoa Văn chương Phương Tây.
Tháng 4 năm 1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Kết thúc Hội nghị, trở lại Hà Nội, bỗng râm ran tin đồn là ông "phản bội". Luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể:
- "Sau Hội nghị, D’Argenlieu có tổ chức tiệc trà tiễn đoàn. Một sĩ quan hầu cận Pháp đến nói: Thủy Sư Đô đốc muốn gặp riêng Ngài. Tôi nói: Tôi chưa hân hạnh được quen biết Ngài Thủy Sư Đô đốc. Có anh em nói: Nó mời thì anh cứ đi, tôi đi xuyên qua phòng họp, đông khoảng một trăm người, đến gặp nó, chỉ toàn nói chuyện xã giao vớ vẩn. Thế mà khi về Hà Nội, có dư luận nói: "Tường là tay trong của Pháp, Tường phản quốc". Hoàng Xuân Hãn tức, đến gặp Võ Nguyên Giáp, dư luận mới được dập tắt."
Năm 1951 ông tham gia Đảng Xã hội Việt Nam.
Năm 1952, ông được cử đi dự Hội nghị bảo vệ Hòa Bình châu Á - Thái Bình Dương ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Ba tháng sau đi dự Đại hội Hòa Bình Thế giới ở Vienne (Áo).
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, ông về lại Hà Nội, tiếp quản trường Đại học Luật và Đại học Sư phạm, rồi được cử làm Giám đốc Đại học Luật, Phó Giám đốc Đại học Sư Phạm, và được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Luật sư Hà Nội. Cũng trong khoảng thời gian này, ông được phong Giáo sư, và tham gia giảng dạy tại các Trường đại học Văn khoa, Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội...
Từ 1954 đến khi mất
Vào những năm 1953-1956, miền Bắc Việt Nam tiến hành Cải cách ruộng đất. Theo ông, kể từ "1957 là thời kỳ đen tối của cuộc đời tôi". Luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể:- "Ở Hội nghị của Mặt trận Tổ Quốc, họp ở Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi ông Trường Chinh, thay mặt Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tự phê bình về các sai lầm đã phạm trong Cải cách ruộng đất, tôi đọc bản tham luận Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo. Từ góc độ một người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, tôi nói đến một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự.
- "Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn (của Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm). Tôi như thành một người "phạm pháp quả tang", bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa. Từ 1957 là thời kỳ đen tối của cuộc đời tôi. Tuy vậy, tôi đã lợi dụng thời gian rảnh rỗi này để viết sách, trong đó có cuốn Lý luận giáo dục châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tôi cố ý viết bằng tiếng Việt để lãnh đạo có thể đọc được".. .
Năm 1989, ông được phép sang Pháp, và lưu lại ở đó 4 tháng . Tại đây, ông cho xuất bản cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp Un Excommunié (Một người bị rút phép thông công) viết về những điều trải nghiệm trong những năm ông đã sống và viết kể từ sau 1945
Ngày 13 tháng 6 năm 1997, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường qua đời vì tuổi già tại nhà số 34 phố Tăng Bạt Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thọ 88 tuổi.
Quan điểm
| “ | "Tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền" | ” |
Tác phẩm
Theo thống kê chưa đầy đủ, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã để lại một số tác phẩm sau:Tiếng Pháp
Trừ bản dịch Orestia, số còn lại đều do ông soạn (4 tác phẩm đầu là Luận án Tiến sĩ):- L'Individu dans la vieille cité annamite (Cá nhân trong xã hội Việt Nam thời cổ). Essai de synthèse sur le Code de Lê (Tổng luận về luật đời Lê).
- Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset (Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset).
- L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong văn chương Pháp, tác phẩm của Jules Boissières).
- Sourires et larmes d'une jeunesse (Nụ cười và nước mắt tuổi trẻ), Revue Indochinoise, Hà Nội, 1937.
- Construction de l'Orient-Pierres de France (Xây dựng Đông phương-Nền tảng Pháp), Revue Indochinoise, 1937.
- Construction de l'Orient - Apprentissage de la Méditerranée (Xây dựng Đông phương-Kinh nghiệm Địa Trung Hải), Collection Tendances, Hà Nội, 1939.
- Le voyage et le sentiment (Du hành và cảm xúc), kịch ba màn, Collection Tendances, Hà Nội, 1943.
- Một cuộc hành trình, Minh Đức, Hà Nội, 1954.
- Un princesse née dans une chaumière (Nàng công chúa sinh ra trong túp lều tranh), tiểu thuyết, 1978, chưa in.
- Larmes et sourires d'une vieillesse (Nụ cười và nước mắt tuổi già), tự truyện, ba cuốn, chưa in.
- Triptyque (Bức họa ba tấm), chưa in.
- Un excommunié (Kẻ bị khai trừ, hay là Một người bị rút phép thông công), Quê Mẹ, Paris, 1992.
- Malgré lui, malgré elle (Mặc hắn, mặc nàng), chưa in.
- Partir, est ce mourir? (Đi là chết?), chưa in.
- Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm), tiểu thuyết về Việt Nam từ 1950 đến 1990, chưa in.
- Palinodies (Phủ nhận), chưa in.
- Lý luận giáo dục của châu Âu từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII (Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1994, Nxb Giáo dục tái bản, 1995),...
Tiếng Việt
- Lý luận giáo dục Âu châu thế kỷ XVI, XVII, XVIII, từ Erasme tới Rousseau (tên Pháp: Doctrines pédagogiques de l'Europe du XVI au XVIIIe siècle, d'Erasme à Rousseau), Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1994.
- Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp (tên Pháp: Eschyle et la tragédie grecque), Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1996.
- Oresteia, bộ ba vở kịch cổ đại Hy Lạp (dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997).
- Virgile và anh hùng ca La tinh (tên Pháp: Virgile et l'épopée latine), Nxb Khoa Học Xã Hội, 1996...
Gia đình
Năm 1937, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kết hôn với bà Tống Lệ Dung, và sau đó có ba con (một trai, hai gái): Nguyễn Tường Hưng, Nguyễn Dung Nghi và Nguyễn Dung Trang- Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 12:27 ngày 1 tháng 8 năm 2015.
Nguyễn Mạnh Tường - Luật sư huyền thoại
Kiều Mai Sơn
GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
(1909 - 1997) là một trong những người trí thức Việt Nam thông minh
siêu việt gắn với nhiều huyền thoại, một nhà sư phạm mẫu mực giàu
tài năng. Ông sinh ngày 16/9/1909 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, TP
Hà Nội. Năm 22 tuổi, là học sinh Việt Nam (lúc đó còn thân phận
thuộc địa) du học trên nước Pháp, Nguyễn Mạnh Tường đã lập nên kỷ
lục làm chấn động học đường nước Pháp: trong một năm lấy luôn hai
bằng Tiến sĩ Quốc gia Văn khoa và Luật khoa.
1
Tại phiên toà xét xử ông cố vấn Vĩnh Thụy
Hình 1.
Cựu Bộ trưởng Vũ Đình Hòe,
chiều ngày 21/8/2009
Chiều ngày 21/8/2009, bà Vũ Bảo
Tuyên con gái của cụ Vũ Đình Hòe nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo
dục trong Chính phủ Lâm thời tháng 8 năm 1945, nguyên Bộ trưởng Bộ
Tư pháp (từ tháng 3 năm 1946 đến năm 1960 khi Bộ Tư pháp giải thể)
dẫn tôi đến nơi hai cụ đang cư trú thuộc phường Linh Trung, quận Thủ
Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Bậc công huân của đất nước vịn
ghế bước ra, phong thái quắc thước, mái tóc bạc phơ phơ rung rung
theo, thần thái tinh anh. Tôi tới xin cụ kể cho một số kỷ niệm với
GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh
(16/9/1909 – 16/9/2009) người trí thức nổi danh trong nền giáo dục
hai nước Việt-Pháp từ những năm ba mươi của thế kỷ XX. Là hàng
cháu chắt, tôi giữ mãi ấn tượng về nụ cười hiền, tiếng nói vang và
ấm của cụ Vũ Đình Hòe trong suốt câu chuyện:
- Về luật sư Nguyễn Mạnh
Tường, à hà. Bây giờ cũng lâu năm lắm rồi, quên hết rồi. Ông
Nguyễn Mạnh Tường là người trí thức cao cấp, được cấp học bổng của
Chính phủ Pháp, học giỏi, đỗ 2 bằng Tiến sĩ Quốc gia nước Pháp về
Văn, về Luật. Trước Cách mạng tháng Tám 1945 và trong kháng chiến
tôi có tiếp xúc với ông rồi cũng có gặp nhau ở Mặt trận Tổ quốc.
Đi theo kháng chiến cũng rất vất vả
và ông Nguyễn Mạnh Tường làm được việc quý hóa đó là luật sư tích
cực đi cãi cho người nghèo. Ở Tòa án, các vụ hình sự thường có luật
sư giúp đỡ. Cãi trước tòa án quân sự, thứ nhất là những vụ về chính
trị, thứ hai là những vụ phá rối là điều bắt buộc. Người Pháp thì
vẫn cứ muốn lôi kéo ông Nguyễn Mạnh Tường về thành. Kéo không được
thì họ làm trở ngại công việc của ông.
- Có lần cụ từng kể, luật sư Nguyễn
Mạnh Tường từng bào chữa cho ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ tại Tòa án
Quân sự. Sự việc này cụ thể ra sao ạ?
-
Ông Vĩnh Thụy được Chính phủ, được
Cụ Hồ giao công tác tham gia đoàn đi sang Trung Quốc để gặp Trung
ương Đảng Quốc Dân Trung Hoa -Tưởng Giới Thạch. Lúc bấy giờ cách
mạng Trung Quốc chưa thành công, hãy còn đánh nhau giữa Quốc Dân
Đảng và Đảng Cộng Sản. Mãi đến năm 1949 Đảng Cộng Sản mới đánh thắng
được Tưởng Giới Thạch. Trước đó, Tưởng Giới Thạch có cộng tác đánh
Nhật với Đảng Cộng Sản, hai lần hợp tác mà rồi nó lại giở chứng ra,
thế là lủng củng hai phe, rồi mâu thuẫn, rồi đánh nhau bằng quân sự.
Tôi không được đọc báo cáo của ông
Vĩnh Thụy, chỉ có nghe nói chuyện lại lõm bõm thôi. Nửa đường ông
Vĩnh Thụy lợi dụng cơ hội tìm cách đi Hồng Kông, nửa đường không về
nước, từ đấy liên hệ với phái viên của Pháp. Dần già ông ấy chịu để
Pháp lôi kéo đi ngược với đường lối đánh Pháp của dân ta, Chính phủ
ta và Cụ Hồ.
Việc đưa ông Cố vấn tối cao Vĩnh
Thụy ra xét xử trước Tòa án, Chính phủ ta phải cân nhắc nhiều. Tôi
lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên
Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Đó là vào hồi
năm 1950 - 1951. Cụ Hồ không muốn truy tố. Cụ tin là nếu mà mình
khéo quan hệ thì vẫn có thể đưa ông ấy về lại với chính nghĩa được.
Nhưng anh em khác thưa với Cụ Hồ là phong trào cách mạng trong nước
yêu cầu phải truy tố. Bởi vì ông ấy là người của Chính phủ, làm Cố
vấn tối cao, được cử đi làm công tác ngoại giao mà ông ấy lại đào
nhiệm không quay về báo cáo với Chính phủ, với Hồ Chủ tịch, tự ý đi
Hồng Kông… Để hợp thủ tục dân chủ, Hồ Chủ tịch đề nghị giơ tay biểu
quyết. Tất cả thành viên Chính phủ đều giơ tay lên, trừ cụ Bùi Bằng
Đoàn - Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ nói đồng ý là ông Vĩnh
Thụy phạm tội nặng đối với Tổ quốc, nhưng cụ không nỡ giơ tay biểu
quyết. Mọi người nhớ xưa cụ đã một thời giữ chức Thượng thư trong
triều đình Bảo Đại. Cuối cùng Chính phủ quyết định giao cho Tòa án
xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có
luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.
Mấy tháng sau, Toà án quân khu III
được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công
cáo uỷ viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội
thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc - Thẩm phán do Giám đốc Tư
pháp khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh
Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.
Bản cáo trạng buộc tội ông Vĩnh Thuỵ
rất đanh thép. Sau khi đã thực thi đủ thủ tục pháp lý và bàn luận kỹ
càng, Hội đồng xét xử đã ra phán quyết vắng mặt bị cáo: Tử
hình đối với Nguyễn Vĩnh Thuỵ về tội phản quốc.
- Thưa cụ, tư liệu về phiên tòa xét
xử ông Vĩnh Thụy ngày nay liệu có còn không ạ?
- Có lẽ vẫn còn trong các Trung tâm
lưu trữ Quốc gia của Trung ương Đảng. Xử xong anh em có báo cáo lên
Chính phủ và Bộ Tư pháp. Tôi chỉ biết đến thế thôi. Nội dung lời
biện hộ của ông Nguyễn Mạnh Tường rất tiếc là tôi không được trực
tiếp nghe và cũng không được đọc bản án.
Chuyện xảy ra đã lâu, tôi chỉ còn
cảm tưởng: Nói chung là ông Nguyễn Mạnh Tường đã làm đúng nhiệm vụ
của người luật sư. Pháp luật của mình lúc ấy, cũng chưa được hoàn
chỉnh. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đề nghị ghi vào bản án xử theo điều
luật của nhiều nước trên thế giới là: Tử hình vắng mặt, khi
nào bắt lại được can phạm thì sẽ mở lại phiên toà chứ không được thi
hành cái án đã tuyên trước đó. Tòa án cũng đồng ý. Vụ án ông
Vĩnh Thụy được xét xử thận trọng, nghiêm minh, được dư luận dân
chúng, nhất là anh em trí thức hoan nghênh, ủng hộ.
***
Câu chuyện tạm thời bị
gián đoạn vì căn bệnh giãn phế nang kinh niên trong cơ thể cụ. Cụ Vũ
Đình Hòe là hậu duệ trực hệ của cụ Nghè làng Tự Tháp, Tiến sĩ Vũ
Tông Phan triều Nguyễn, một danh sĩ ưu dân ái quốc, người đã cùng cụ
Nguyễn Siêu và các danh sĩ Bắc Hà dựng lên quần thể kiến trúc quanh
hồ Hoàn Kiếm với Đài Nghiên – Tháp Bút – Cầu Thê Húc – Đền Ngọc Sơn.
Vào thành phố Hồ Chí Minh từ mấy năm nay để đảm bảo sức khỏe, cụ
tiếp tục hoàn thành công trình nghiên cứu đang dang dở: Pháp
quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Sống ở đô thị phương Nam từng được
mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” nhưng cụ vẫn không nguôi nhớ về Hà
Nội – Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi cụ đã sinh ra và thừa kế lớp
sĩ phu yêu nước.
Như con tằm rút ruột nhả tơ, đi trọn
con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đến nay tuổi đời đã ngót một
thế kỷ, cụ Vũ Đình Hòe vẫn không nguôi nhớ bạn đồng nghiệp trong
ngành giáo dục và luật học. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, cụ
Nguyễn Mạnh Tường dạy trường Bưởi (nay là trường Trung học Quốc gia
Chu Văn An) thì cụ Vũ Đình Hòe dạy trường tư thục Gia Long và tư
thục Thăng Long. Khi cụ Vũ Đình Hòe tốt nghiệp khoa Luật khóa 2 của
Đại học Đông Dương cũng là giai đoạn cụ Nguyễn Mạnh Tường mở Văn
phòng Luật sư tại 77 Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo – Hà Nội).
Tháng 10 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe và
luật sư Nguyễn Mạnh Tường lại cùng đứng chung bục giảng tại Ban Văn
khoa trường Đại học Đông Dương.
Cuối cùng cụ Vũ Đình Hòe hỏi tôi:
- Không biết bà Tường cao tuổi lắm
rồi đấy nhỉ. Bà có được khỏe không?
- Thưa, cụ bà Nguyễn Mạnh Tường hai
năm về trước bị ngã gãy chân và hoại tử chân, bà con gái Nguyễn Dung
Nghi và ông con trưởng Nguyễn Tường Hưng phải mời thầy đến bó thuốc
lá, nay cụ bà đã khỏi nhưng vì tuổi cụ đã cao nên không đi ra ngoài
được ạ.
- Ớ! Thế bây giờ bà ấy ở đâu?
- Dạ thưa, cụ bà vẫn ở 34 Tăng Bạt
Hổ – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.
- Tăng Bạt Hổ, vẫn cái nhà có vườn?
Đấy là nhà của gia đình. Bà ấy là con cụ Tống Nguyên Lễ, tên bà là
Tống Lệ Dung, cùng ở trong tổ Phụ nữ nội trợ trí thức của Trung ương
Hội Phụ nữ. Bà xã nhà tôi lại là Tổ trưởng tổ ấy thành ra cũng đi
lại khá thân. Nhưng mà có một dạo ít đi lại thăm nhau, bây giờ tôi
nghĩ lại cũng cứ ân hận.
Vừa lúc đó, bà Vũ Bảo Tuyên bước đến
sau lưng tôi. Tôi nhìn đồng hồ, đã được bà “đặc cách” cho hầu chuyện
cụ tới 30 phút. Tôi vội đứng dậy xin phép cụ ra về…
2
80 tuổi trở lại nước Pháp
Lòng tự trọng và danh dự của người trí thức
Chớm đông. Cái nắng hanh hao dát vàng
cảnh vật. Thêm một lần tôi nhẹ bước vào ngôi biệt thự rêu phong 34
phố Tăng Bạt Hổ (Q. Hai Bà Trưng – Hà Nội). Bà Nguyễn Dung Nghi,
người con gái thứ hai của cố luật sư Nguyễn Mạnh Tường đón tôi với
một sự thân thiện trong lần gặp đầu tiên. Nhắc đến ba mẹ, bà luôn tự
hào về hai đấng sinh thành. Niềm hạnh phúc của người con khi đã sắp
bước vào “câu lạc bộ cổ lai hy” vẫn còn được hàng ngày chăm sóc mẹ.
Vậy là tròn 20 năm, cũng những ngày
chớm đông Hà Nội, năm 1989 nhân dịp thọ 80 tuổi, cụ Nguyễn Mạnh
Tường sang Paris theo lời mời của bạn bè Việt Nam và Pháp đi du lịch
sang thăm lại nước Pháp …
“Ông sang Pháp một mình, cũng tội
nghiệp ông, tuổi già phải tự mang va-ly nặng toàn quần áo rét. Khi
ông xuống sân bay Orly vào một chiều tháng mười, học trò ra đón,
trong đó có anh ruột của bà là dược sĩ Tống Lịch Cường. Danh chính
ngôn thuận là bác Cường viết thư mời ông sang chơi nhưng bác cũng
nghèo, không có đủ tiền. Học trò của ông bên đó mong được gặp thầy
nên đã cùng nhau góp tiền lại, giúp bác…”.
Vừa lần lại những tấm ảnh trở thành
kỷ vật của gia đình, bà Nguyễn Dung Nghi vừa kể với một niềm xúc
động chân thành:
“Tại Paris ông đến ở với gia đình ông
Nguyễn Văn Lung, em vợ bác Hoàng Xuân Hãn vì nhà bác Hãn không có
người phục vụ. Hai bác Hãn không có con cho nên rất là quý em trai
của vợ. Ông Hãn hay mời ông đến nhà chơi.
Bên đó ông bị tai biến mạch máu não.
Ông Lung đưa vào bệnh viện. May mắn là ông bị nhẹ, chỉ thoáng qua,
nằm viện một tuần là bình phục. Có lẽ ở bên ấy đông đảo học trò cùng
đến thăm hỏi, ông phải tiếp khách nhiều, nên cũng căng thẳng, ông
lại nghỉ không chơi tennis. Trong khi đó ở nhà 80 tuổi ông vẫn tập
luyện thể thao đều đặn”.
Để tôi biết rõ hơn, bà đọc một đoạn
Hồi ký của cha - luật sư Nguyễn Mạnh Tường viết về thời gian này:
“Các bạn bè Việt - Pháp ở đây đã dành
cho tôi một sự tiếp đón thật xúc động. Sau sáu mươi năm xa cách, tôi
mới được thấy lại đất nước mà tôi đã được sống và học tập trong
nhiều năm, đồng thời nhận được sự tiếp đón tế nhị và ân cần chăm
chút của những trái tim vàng. Cái ước nguyện ôm ấp từ nhiều năm nay
bây giờ mới được thực hiện. Thế là mãn nguyện.
Sau mười ngày tôi lại bắt đầu tiếp
xúc với các bạn bè và tiếp tục hoạt động của tôi. Tôi là đối tượng
của một cuộc phỏng vấn trên vô tuyến truyền hình ở hệ thống TF1. Tôi
có hai buổi diễn thuyết, một ở Clermont l'Hérault ở gần Montpellier.
Ở đây tôi cũng lại đi sưu tầm tư liệu về Jules Boissière là đề tài
bổ sung bản Luận án Tiến sĩ văn chương Quốc gia và cuộc thứ hai ở
Sorbonne thuộc quận Paris VII.
Sự kiện bất ngờ, không thể biết trước
đã cuốn hút tôi và làm tôi xáo trộn cả đầu óc là các cuộc nổi dậy
của quần chúng trong các nước Đông Âu. Nhiều nhà báo đã đến hỏi ý
kiến của tôi về hậu quả của nó có thể xảy ra ở Việt Nam.
Hình 2. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
(bên phải) cùng anh vợ - dược sĩ Tống Lịch Cường
***
Thế hệ những nhà trí thức đầu thế kỷ
XX ít nhiều vẫn mang trong mình vốn văn hóa phương Đông nên luật sư
Nguyễn Mạnh Tường không bao giờ mang những câu chuyện ngoài xã hội
về kể trong gia đình. May thay, sau những ngày bên Pháp trở về, cụ
đã kể lại cho những nhà trí thức và những học trò về chuyến đi này.
Nhận lời mời của ông Hoàng Nguyên
(tức Nguyễn Bá Huấn: 1924-2007); luật sư, nhà ngoại giao, vốn là học
trò cũ trường Bưởi; Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thời sự - Khoa học dành cho
các nhà trí thức; Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã tới nói chuyện tại
Câu lạc bộ Thời sự - Khoa học (53 Nguyễn Du – Hà Nội) trong suốt 2
giờ đồng hồ. Cụ đã dành thời gian kể lại cuộc trả lời phỏng vấn
phóng viên tờ Le Monde – một tờ nhật báo lớn ra buổi chiều ở Paris.
Nhà báo tập trung vào vấn đề chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và
gắn với tình hình Việt Nam.
PV: Ngài thấy thế nào về cuộc khủng
hoảng ở Đông Âu?
NMT: Tôi là một luật sư, quen bào
chữa, chứ không phải một công tố viên, quen lên án. Hơn nữa, ngụ
ngôn Pháp có câu: Cú đá của con lừa (le coup de pied de
l’âne) để nói về những kẻ hèn hạ thừa cơ người khác gặp khó khăn mà
lợi dụng. Các ông đừng ép tôi làm con lừa ngu ngốc ấy.
PV: Ngài thấy chủ nghĩa cộng sản bây
giờ thế nào?
NMT: Trước hết, các ông đừng lẫn lộn
chủ nghĩa cộng sản, mà nhiều trí thức Pháp đã coi là hy vọng cuối
cùng của loài người, với những người thực hiện nó.
PV: Vậy ngài thấy các lãnh tụ cộng
sản thế nào?
NMT: Cũng như vậy, các ông chớ xếp
chung các lãnh tụ cộng sản vào một gói. Làm sao có thể đặt ngang
hàng Ceaucescu với Hồ Chí Minh? Các ông đều biết Cụ Hồ đến khi chết
vẫn chỉ có hai bộ quần áo và đôi dép cao su…
PV: Liệu Việt Nam có như Đông Âu
không?
NMT: Việt Nam có giải pháp của Việt
Nam. Người Việt Nam không giống người châu Âu.
1. Người Việt Nam có truyền thống Âu
Cơ: cùng một mẹ đẻ ra trong trăm trứng, luôn luôn đùm bọc lẫn nhau.
Các ông thấy đấy, tôi sang được Pháp chuyến này cũng là nhờ sự đùm
bọc của anh em, bè bạn.
2. Người Việt Nam có truyền thống
hiền hậu, lại có tư tưởng nhân nghĩa, thủy chung của Khổng Nho.
3. Người Việt Nam có truyền thống
Diên Hồng: mỗi khi nước nhà gặp khó khăn, mọi người cùng nhau bàn
việc cứu nước.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có
những sai lầm, nhưng không ai quên công lớn của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, thống nhất, giải phóng
dân tộc.
Như vậy Việt Nam khác các nước châu
Âu.
***
Trở lại thủ đô ánh sáng với kinh đô
Ba-lê một thuở, hơn nửa thế kỷ đã qua từ ngày tranh khôi đoạt giáp
với 2 bằng Tiến sĩ Quốc gia ở tuổi 22 (1932), báo chí Pháp vẫn không
ngớt lời tụng ca “thiên tài sinh nhầm thế kỷ”. Về cuộc đời của mình,
luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã tự đánh giá:
“Con người có những thăng trầm. Tôi
không thoát khỏi định luật chung đó. Ba mươi năm dài tôi đã sống và
đau khổ. Cuộc đời có lúc mình cảm thấy thất vọng muốn điên lên được.
Tôi đã thấy những giờ phút đó.
Bằng cách dốc toàn lực vào nghiên
cứu, vào việc thực hiện những ý tưởng của mình, tôi đã hoàn toàn
thỏa mãn về cuộc đời, vì mọi ước mơ của tôi đều đã thành đạt. Tôi mơ
làm Giáo sư văn chương Tây thì tôi đã là Giáo sư. Tôi mơ trở thành
Trạng sư cãi những vụ nổi tiếng, tôi đã là Trạng sư. Tôi mơ một cuộc
sống thật gần gũi người dân, nghề giáo và trạng sư đã giúp tôi cảm
thông và sống được những nỗi niềm của người dân bình dị. Tôi mong
được nhiều người thương thì đâu đâu cũng gặp tình cảm thân thương.
Việc tôi sang đây chứng tỏ hùng hồn tình cảm và sự giúp đỡ to lớn
của các bạn trí thức dành cho tôi.
Cuối cùng, tôi muốn đóng góp chút gì
ích quốc lợi dân, thì tôi đã hoàn thành những tác phẩm mong muốn.
Sang đây gặp gỡ nhiều bạn trẻ, thấy
ai cũng thao thức về quê hương, đất nước, tôi mừng và an tâm. Thế hệ
chúng tôi được lòng yêu nước thôi thúc. Thế hệ ngày nay cũng được
lòng yêu nước nuôi dưỡng. Chúng ta gặp gỡ trong tâm tình. Tôi chỉ
xin cầu chúc các bạn:
Hãy luôn sống đúng danh dự của người
trí thức
Hãy vun trồng không nguôi lòng yêu
nước và luôn nuôi dưỡng việc nghiên cứu và hướng nó về quê hương.
Khi qua thăm nước Pháp, một số học
trò bên đó mời tôi ở lại vì thấy tôi đến già vẫn sống đạm bạc. Nhưng
tôi từ chối: “Tôi là người trí thức Việt Nam, tôi có lòng tự trọng
của mình. Tôi không thể vì miếng cơm, manh áo mà bỏ đất nước nghèo
mà ra đi”.
3
Năm 1945: Vụ án tờ báo
Tin Mới, vụ Quản Dưỡng
1.
VỤ ÁN TỜ BÁO TIN MỚI
Cụ Trịnh My – nhân chứng báo chí Hà
Nội một thời. Trước cách mạng Tháng Tám 1945 cụ làm phóng viên cho
nhiều tờ báo, trong đó có báo Tin Mới. Sau Cách mạng Tháng 8, cụ đi
làm thông tin tuyên truyền kháng chiến. Theo bước chân bộ đội, cụ đã
xông pha nhiều trận đánh, đã vào đồn Đông Khê khi còn mịt mù khói
súng để lấy tin chiến thắng (như chiến dịch Biên giới năm 1950).
Năm 1952, mắc bệnh hiểm nghèo, nhờ có
bác sỹ Tôn Thất Tùng giúp đỡ, cụ trở về Hà Nội chữa trị. Khỏi bệnh,
cụ lại cầm bút. Hiệp định Genève được ký kết, chủ báo di cư vào Nam,
nhà báo Trịnh My cùng nhà báo Hiền Nhân và anh em công nhân đã khéo
léo đấu tranh để giữ máy móc, duy trì nhà in, chờ quân ta vào tiếp
quản và báo lại được ra đều. Từ đó cụ được giao chuyên mục thể thao
- bóng đá của báo Thời Mới với bút danh TR.M (sau này báo Thủ đô Hà
Nội và báo Thời Mới sáp nhập thành báo Hà Nội mới).
Khi làm báo Tin Mới, cụ có vướng vào
pháp đình và nhờ sự vào tài biện hộ của luật sư Nguyễn Mạnh Tường.
Về sự kiện này, cụ nhớ lại.
Hình 3. Cụ Trịnh My
***
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp
9-3-1945, lập Chính phủ Trần Trọng Kim, bổ nhiệm Khâm sai hai miền
Nam – Bắc, Tỉnh trưởng người Việt thay cho Công sứ người Pháp. Các
cơ quan hành chính, tư pháp đều do quan chức Nhật nắm quyền. Báo chí
vẫn được xuất bản bình thường, trừ một vài thay đổi nhỏ: Báo La
volonté indochinoise (Ý chí Đông Dương) của Pháp buộc phải đổi tên
là L’Entente (Hòa hợp), báo Đông Pháp phải đổi tên là Đông Phát. Chỉ
thị đầu tiên cho các báo là chỉ được đưa tin của hãng thông tấn
Domei (Nhật Bản) và Transocean (Đức quốc xã) cấm đưa tin của các
hãng thông tấn Anh, Mỹ, Pháp, Liên Xô… Kiểm duyệt chặt chẽ các báo
chí toàn bộ nội dung đến từng dòng, từng chữ, chỉ sơ suất một từ
hoặc một ý nghi ngờ là báo bị tịch thu, đình bản, người viết bị truy
tố, hoặc bị bắt. Nhà báo Trần Xuân Sinh bị Nhật nghi ngờ vô căn cứ
giam ở hầm hãng nhà dầu Shell (trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà
nước - phố Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội ngày nay) mấy tháng
cho tới ngày 19-8-1945 mới được cách mạng giải cứu.
Thời gian đó tôi (Trịnh My) làm ở báo
Tin Mới – Chủ nhiệm là bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, Chủ bút là nhà
báo Tam Lang Vũ Đình Chí, Quản lý báo là ông Vũ Kiên. Trụ sở báo
đóng ở phố Lagisquet (nay là phố Chân Cầm). Tình cờ lấy được một tin
của ủy ban thóc gạo Bắc Kỳ thành lập “kho thóc Nghĩa Xương” sức cho
các tỉnh thông báo cho các chủ ruộng đóng góp vào kho thóc để cứu
tế, phòng khi mất mùa, bão lụt (thực chất để nuôi quân Nhật) có định
mức căn cứ vào số ruộng nhiều hay ít. Tin này được đăng để người đọc
ở Hà Nội có ruộng ở quê biết.
Nạn đói tràn lan khủng khiếp. Ở nông
thôn phát xít Nhật bắt đồng bào ta nhổ lúa trồng đay. Làng mạc xơ
xác tiêu điều. Hàng vạn người từ các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng
Yên… bồng bế nhau lũ lượt rời bỏ quê hương lên các tỉnh, thành phố
xin ăn. Nhiều bà mẹ gạt nước mắt cho con để khỏi chết đói. Các tổ
chức từ thiện không sức nào cứu tế nổi. Hà Nội bao phủ cảnh thương
tâm. Có thể nói ra khỏi nhà là gặp xác chết. Sáng sớm, xe chở rác
thu nhặt xác chết như củi khô chở ra chôn ở ngoại thành.
Bẵng đi đến đầu tháng năm, tôi nhận
được giấy gọi của tòa án gửi đến tòa soạn. Viên dự thẩm căn vặn tôi:
“Ý đồ tin đó nhằm mục đích gì?” Tôi trả lời: “Để bạn đọc ở
Hà Nội có ruộng ở quê biết và cũng để thể hiện phong tục tốt
đẹp của nhân dân ta “lá lành đùm lá rách”. Y báo cho tôi biết sẽ
bị truy tố trước tòa vì tội “tiết lộ bí mật quốc gia”.
Báo nhờ luật sư Nguyễn Mạnh Tường bào
chữa. Văn phòng luật sư của ông hồi đó ở góc đường Quán Thánh trông
sang đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên - quận Tây Hồ - Hà Nội).
Vụ án được xử tại tòa án Hà Nội trước
vài trăm người trong đó có nhiều anh em làm báo. Anh Vũ Kiên và tôi
(Trịnh My) ngồi ghế bị cáo. Ai cũng lo cho chúng tôi vì đây là phiên
tòa do sức ép của Nhật. Sau lời buộc tội của viên phó biện lý Nguyễn
Văn Hòa, luật sư Nguyễn Mạnh Tường bào chữa cho chúng tôi độ 30
phút. Ông nói về trách nhiệm người làm báo đối với bạn đọc, bác lời
buộc tội của viên phó biện lý là “thiếu căn cứ” và ông kết
luận:
- “Hai thân chủ của tôi ngồi đây
không có tội. Bị cáo phải là ban kiểm duyệt vì chính ban kiểm duyệt
đã cho đăng tin này”.
Trước bồi thẩm đoàn, luật sư Nguyễn
Mạnh Tường đưa ra bản dập thử (mo-rát) có dấu phòng kiểm duyệt,
không thấy bút chì xanh xóa bỏ tin đó.
Trước bằng chứng rành rành, tòa án
không có lý lẽ gì kết tội chúng tôi, song để giữ thể diện, vẫn trắng
trợn tuyên án chúng tôi một năm tù án treo và 10. 000 đồng tiền
phạt. Chúng tôi định chống án, xong luật sư Nguyễn Mạnh Tường bảo: “Chẳng
cần. Thời cuộc sắp thay đổi đến nơi. Bản án sẽ không còn giá trị”.
Quả thực không bao lâu sau sau phiên
xử, khắp mọi nơi nhân dân ủng hộ mạnh mẽ mặt trận Việt Minh. Sau
ngày 19-8-1945 cách mạng thành công, tôi sung sướng tiếp tục làm báo
dưới chế độ dân chủ cộng hòa độc lập và tự do. Và tôi không bao giờ
quên là ngày 2-9-1945, tôi được đi cùng đoàn xe của Chủ tịch Hồ Chí
Minh từ Bắc Bộ Phủ lên Quảng trường Ba Đình, tường thuật cuộc
mit-tinh lịch sử.
2. VỤ QUẢN DƯỠNG - VỤ ÁN LỚN DƯỚI
CHÍNH THỂ
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Sau khi dự Hội nghị Đà Lạt về, GS
Nguyễn Mạnh Tường quay trở về nghề luật sư, nhưng lần này do Chính
phủ cử ra để bào chữa cho bị cáo. Hồi ký của GS Nguyễn Mạnh Tường
viết: “Hồi đó ông Bùi Lâm có đến bảo tôi là Chính phủ yêu cầu
luật sư bào chữa cho những vụ xét xử hiện nay và nay mai rất là quan
trọng, cần phải những luật sư có tên tuổi”.
Tôi nói: “Tôi là giáo sư, là luật
sư, nếu Chính phủ muốn giao cho tôi nhiệm vụ luật sư, tôi xin sẵn
sàng”.
Luật sư ở trong nước thì có nhiều
nhưng những người được bà con biết tên tuổi như Bùi Tường Chiểu,
Trần Văn Chương, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Anh, Đỗ Xuân Sảng… thì còn
ít. Lúc đó luật sư Trần Văn Chương đang trong nhà lao, còn các vị
khác như luật sư Hồ Đắc Điềm, Phan Anh, Phan Mỹ... thì bận nhiều
việc hành chính trong chính quyền mới nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Vụ án luật sư Nguyễn Mạnh Tường được mời bào chữa lần này là vụ
Quản Dưỡng.
Hình 4
Vào thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945
đã xảy ra nhiều cuộc biểu tình của quần chúng để ủng hộ Việt Minh.
Sáng ngày 19 tháng Tám, sang Phủ Khâm sai theo thông lệ hàng ngày,
giáo sư Nguyễn Xiển, Giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn – từ Kiến An
(Hải Phòng) về Hà Nội đã can ngăn Khâm sai đại thần Bắc Bộ mới (thay
cụ Phan Kế Toại vừa từ chức) là y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, không được nổ
súng vào quần chúng biểu tình đang tiến vào chiếm Phủ Khâm sai.
“Bấy giờ bên cạnh ông (Nguyễn Xuân
Chữ), tôi (Nguyễn Xiển) nhìn thấy có mặt một số người tôi không
quen. Chưa nói chuyện được bao nhiêu thì đoàn người biểu tình có vũ
trang kéo đến bao vây Phủ Khâm sai, sau này mới được gọi là Bắc Bộ
Phủ. Cái cảnh nhân dân bao vây và vượt vượt qua hàng rào sắt xông
vào tòa nhà đó thì máy ảnh đã ghi vào lịch sử. Còn chuyện gì xảy ra
ở bên trong, có lẽ tôi (Nguyễn Xiển) là một người hiếm hoi có may
mắn tình cờ được chứng kiến.
Thật tình sáng hôm ấy tôi cũng bị bất
ngờ như Nguyễn Xuân Chữ. Nhiều người bạn của ông Chữ tháo chạy ra
cổng sau. Tôi ở lại vì không nỡ bỏ mặc một mình ông ấy. Lúc đó đội
bảo vệ Phủ Khâm sai đã dàn quân, tì súng vào bao lơn trước cửa chính
dẫn vào phòng khách. Có cả lính núp ở dưới nhà hầm chĩa súng ra bên
ngoài. Tôi khuyên ông Chữ ra lệnh cho đội bảo vệ rút lui vì nghĩ
rằng một tiếng súng nổ có thể gây tai họa. Sau này tôi mới được biết
anh em đội bảo vệ đã được cách mạng vận động từ đêm trước nên đã sẵn
sàng nộp súng cho Việt Minh. Ông Chữ có lẽ quá bàng hoàng trước tình
thế đột ngột diễn ra nên cứ đờ ra không biết làm gì. Tôi phải dẫn
ông ra gặp đại biểu của quần chúng. Ông Chữ ra đối diện với đoàn
biểu tình nhưng không nói được một lời nào. Quần chúng ùa vào chiếm
Bắc Bộ Phủ…
Tôi đi ra tìm xe đạp về nhà, trong
lòng rất phấn khởi trước khí thế cách mạng của nhân dân, vui mừng
một phần vì đã quyết định theo tình cảm tự nhiên của mình, ngả về
phía quần chúng, không chần chừ ngay trong giây phút vừa qua, giây
phút mà sau này được coi là lịch sử” (Theo Hồi ký của cụ Nguyễn
Xiển, Tạp chí Xưa & Nay số 78 – tháng 8-2000).
***
Nhưng ở Hà Đông, Trần Văn Dưỡng,
người gốc Quảng Yên, trước làm lính khố xanh, khố đỏ cho thực dân
Pháp, thường gọi là Quản Dưỡng đã ra lệnh cho lính Bảo an binh bắn
vào đoàn người biểu tình làm 70 người chết.
Vụ án được xét xử tại Hà Đông. Đây là
vụ án lớn đầu tiên kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được
thành lập. Chánh án phiên toà là luật sư Phan Mỹ (em ruột luật sư
Phan Anh thời điểm đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
“Khi ô tô tôi (Nguyễn Mạnh Tường) vào
đến Hà Đông, vào trong phòng đợi, hai bên quần chúng đều đeo khăn
tang, toàn là gia đình người bị nạn. Khi bào chữa cho Quản Dưỡng,
mỗi lời tôi (Nguyễn Mạnh Tường) nói lên là kèm theo tiếng khóc của
một bà vợ hay một người con”.
Sau này luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn
tham gia bào chữa nhiều vụ án khác tại các Toà án Quân sự, Toà án
Nhân dân, Toà án trong Cải cách Ruộng đất theo yêu cầu của Nhà nước.
4
Làng Sêu - Cứu một phụ nữ thoát án tử hình
Đã sắp bước sang tuổi 80, nhưng nhà
giáo Nguyễn Lâm (sinh năm 1932), quê xã Viên Nội, huyện Ứng Hoà,
tỉnh Hà Tây cũ, từng là giáo viên cấp 3 tại thị xã Bắc Kạn, rồi
trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An - Hà Nội cho đến khi nghỉ
hưu, vẫn lưu giữ trong ký ức của ông những kỷ niệm đẹp về một vùng
quê và một con người – người trí thức huyền thoại – luật sư Nguyễn
Mạnh Tường.
***
Thôn Trinh Tiết, xã Đại
Hưng, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ. Một làng quê trù phú, thanh
bình, đứng soi mình bên dòng sông Đáy thơ mộng với
tên nôm rất hóm: làng Sêu. Làng Sêu có chợ
Sêu ở giữa làng, mỗi tháng họp sáu phiên, mồng một, mồng sáu, mười
một, mười sáu, hăm mốt, hăm sáu. Làng nằm trên dải bậc thềm phù sa
cổ, nhiều truyền thuyết.
Theo các cụ già của làng
thì từ Sêu bắt nguồn từ chữ Bối Lang, là tên cổ nhất của làng. Sau
này làng còn có tên Trinh Tiết từ một xuất xứ thật đẹp. Đó là câu
chuyện về người con gái xinh đẹp của làng có người yêu đi đánh giặc,
phò vua. Nặng lời ước hẹn, cô gái đã một lòng thuỷ chung, trinh tiết
để chờ đợi vị hôn phu. Còn chàng trai ra đi đánh trận, đi mãi không
về. Cô gái mòn mỏi đợi chờ nên tuổi xuân qua đi lúc nào không hay.
Rồi nàng mất đi trong sự cảm thông, thương tiếc của dân làng. Về
sau, có một vị vua đi qua làng đã được nghe câu chuyện cảm động
trên. Cảm phục và tiếc thương, vua đã lấy tấm tình của cô gái thành
tên gọi của làng. Cái tên Trinh tiết được ra đời từ đấy.
Làng Sêu đẹp và thơ mộng với những
ngôi đình, chùa cổ kính khắc dấu ấn thời gian lên từng mạch gỗ.
Đường làng lát vỉa, sạch sẽ sau mỗi cơn mưa. Những ngõ xóm hẹp ẩn
hiện những ngôi nhà nhỏ sau lớp rào râm bụt hoặc chuối được cắt tỉa
vồng lên thành những cái cổng xinh xắn.
Hàng cau, bể nước, sân gạch, những
nong tằm nhả tơ vàng óng, tiếng khung cửi lách cách đêm khuya… Đẹp
nhất vẫn là dòng sông Đáy chảy lững lờ bên làng. Bãi dâu xanh ngát
trải dài ven sông… Có chợ, có trường, có đường, có bến sông. Buổi
chiều về, những cánh buồm đủ kiểu no gió đưa những con thuyền lướt
trên sông nước khi ẩn khi hiện trong màn sương buông xuống mờ đục.
Trong kháng chiến chống Pháp, Sêu là
một trong những thị trấn sầm uất của Liên khu III. Cuộc sống thanh
bình, thơ mộng khi đó vẫn diễn ra bất chấp chiến tranh đang đến gần.
Cách xa Hà Nội khoảng 50 cây số, có
dáng dấp một thị trấn hậu cứ, thấp thoáng những con người của thị
thành, làng Sêu lúc đó thật là lý tưởng để tụ hội và giao lưu những
mạch chảy của bộ máy kháng chiến chống Pháp. Sêu là điểm dừng chân
xuôi ngược trên đường lên Việt Bắc hoặc vào khu Tư… Nhiều nhân vật
có tên tuổi trong kháng chiến đã qua đây.
Cũng nơi đây, dưới mái đình làng,
trường Trung học Nguyễn Huệ trong kháng chiến đã ra đời theo phương
pháp giáo dục Hoàng Xuân Hãn.
Trường làng Sêu hồi đó hay tổ chức xử
án, có luật sư Nguyễn Mạnh Tường nổi tiếng, bào chữa cho các bị cáo
rất hùng biện, hấp dẫn quần chúng.
Các phiên toà được diễn ra vào ban
đêm, ngoài giờ học nên đã lôi cuốn nhiều bà con và các em học sinh
tới dự không chỉ vì tò mò hay giải trí mà muốn nghe tài biện hộ của
luật sư.
Hình 5. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
(năm 1952)
Nhà giáo Nguyễn Lâm ghi
nhớ mãi phiên toà của toà án quân sự đặc biệt Liên khu III được mở
để xét xử bị can là vợ của một lãnh tụ Quốc dân đảng ở Vĩnh Yên, sào
huyệt của tổ chức phản động này hồi đó đã được tổ chức trong ánh đèn
măng-sông. Chánh án là luật sư Lê Văn Chất.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
khoác chiếc áo thụng đen, tay áo rộng đã vung vẫy đôi tay “biểu
diễn” những lời bào chữa dành cho thân chủ của mình:
- “Đối với nhân thân người phụ nữ
này, tôi cho rằng đó là một người phụ nữ có nhan sắc, nói năng lưu
loát và sắc sảo, đã có một đời chồng là thợ may, sau này làm vợ của
một tên tướng Quốc dân đảng, bà ta còn đảm nhiệm việc cung cấp lương
thực cho đội quân của chồng. Tuy là người có tội vì phục vụ cho bọn
Việt gian phản động, với mức án dự kiến là tử hình, nhưng xét về
khía cạnh nào đó, bà ta là một người có tài mà không dễ gì một phụ
nữ có thể đảm đương được”.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
cho là người thợ may làm sao xứng đáng làm chồng của người vợ này.
Vì vậy bà ta đã có đời chồng thứ hai là tướng của Quốc dân đảng. Lấy
chồng thì phải theo chồng kể cả phải đảm nhiệm là người tổ chức hậu
cần cung cấp lương thực cho đội quân của chồng là điều có thể hiểu
được.
- “Về mặt luật pháp đúng là người đàn
bà này có tội nhưng xét về mặt nhân đạo có nên áp đặt án tử hình cho
người phụ nữ này không? Nhất là trong khi đó ở nước ta chưa có tiền
lệ áp dụng tử hình cho một người phụ nữ nào cả”.
Chánh án Lê Văn Chất, liền viện dẫn ở
Pháp đã có trường hợp một phụ nữ bị án tử hình, ông còn nêu tên tuổi
của người đó. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường liền đáp một cách nhanh
nhẹn:
- “Thưa ông Chánh án, làm sao chúng
ta lại bắt chước thực dân Pháp, chính thể của chúng ta là chế độ Dân
chủ Cộng hoà. Ngoài ra chúng ta còn đang chiến đấu chống lại thực
dân Pháp để bảo vệ nền dân chủ còn non trẻ. Vì vậy tôi đề nghị Hội
đồng xét xử không áp dụng án tử hình cho người phụ nữ này”.
Sau thời gian nghị án một cách chóng
vánh, phiên toà được kết thúc với mức án tuyên không phải là án tử
hình và tính mạng của người phụ nữ này đã được bảo toàn nhờ tài năng
của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường.
5
Nụ hôn Nguyễn Mạnh
Tường
Thái Bình là tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bị
Pháp chiếm đóng sau. Vì thế, thời kỳ 1947-1949, nhiều trí thức tên
tuổi của đất nước theo cơ quan hoặc tản cư về Thái Bình: Bùi Kỷ,
Tăng Xuân An, Trịnh Đình Rư, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tường Phượng,
Hoàng Như Mai, Nguyễn Mạnh Tường…
Tiến sĩ Luật khoa Đào Quang Huy, học
trò Giáo sư - Tiến sĩ - Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi (nay
là trường Trung học Quốc gia Chu Văn An - Tây Hồ - Hà Nội) kể lại
một chuyện có thật nhưng đầy huyền thoại về một phiên toà diễn ra ở
làng Xuân Thọ, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình.
Vào thời kỳ 1947-1949 có một câu
chuyện dân gian xuất hiện, lan truyền rất nhanh. Chuyện rằng: Một
thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội trưởng đóng tại
nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một
cái, Đại đội trưởng chết ngay. Phiên toà mở ra với ý định xử thật
nghiêm tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy
tín cho bộ đội.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ
định bào chữa. Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình. Diễn biến
phiên toà đúng như chủ định: Anh nông dân chịu án tử hình và được
phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh toà, nhìn Luật sư, ngập ngừng
nói: “Xin phép được hôn bà Chánh toà trước khi chết”.
Bị bất ngờ, Chánh toà không kịp trấn
tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám
hỗn láo, nói liều. Nhân đó, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nói thêm:
“Thưa ông Chánh toà, ông là người có học thức, suy nghĩ chin chắn,
mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết, còn nổi giận ghê
gớm như thế. Phương chi, anh nông dân nghèo ít học kia, trông thấy
người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành
động thiếu suy nghĩ là điều có thể hiểu được”.
Kết quả cuối cùng, anh nông dân được
giảm án, thực chất là tha bổng vì hồi ấy Thái Bình đâu có trại giam.
Sau phiên toà, luật sư Lê Văn Chất
mắng luật sư Nguyễn Mạnh Tường: “toa xỏ moa”, rồi hai
ông cả cười. Chánh toà là luật sư Lê Văn Chất, có người vợ trẻ, đẹp.
Và ai cũng hiểu rằng câu nói cuối cùng của anh nông dân do
“ai”mớm lời, là “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.
Hình 6.
Đoạn trên được trích từ bài viết
“Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường: người thầy giáo, nhà sư phạm
tài danh” của nhà giáo Phạm Viết Hoàng, trong cuốn “Gương mặt người
thầy” (NXB Giáo dục 2008) .
**
*
Tôi nhìn lại danh sách những trí thức
tên tuổi của đất nước theo cơ quan hoặc tản cư về Thái Bình trong
bài viết của nhà giáo Phạm Viết Hoàng thấy chỉ còn duy nhất GS.NGND
Hoàng Như Mai – nguyên Hiệu trưởng trường Trung học Phan Thanh (tỉnh
Thái Bình) trong kháng chiến chống Pháp.
Trưa ngày 13/8/2009, theo lời hẹn
trước, tôi đến ngôi biệt thự trong phố Trần Quốc Tuấn – quận 1 –
thành phố Hồ Chí Minh như một ẩn sĩ trầm mặc giữa phố thị. GS-NGND
Hoàng Như Mai chống can (ba-toong) nhẹ bước ra thanh thoát, gương
mặt hồng hào nhân hậu toát lên cùng mái tóc bạc như mây trời.
Cụ mới ra viện được 5 ngày, sức khỏe
hãy còn yếu, nhưng cụ vẫn đồng ý tiếp, để kể cho tôi nghe chuyện về
Giáo sư – Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường. GS-NGND Hoàng Như Mai
mở đầu câu chuyện với một giọng thanh, ấm và truyền cảm, nếu không
được biết từ trước có lẽ tôi không đoán được người học trò của thầy
Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi năm xưa, nay đã 91 tuổi.
Sắp đại hội văn nghệ khu
3, thì ông Trần Thiếu Bảo – Giám đốc nhà xuất bản Minh Đức chơi
trội, đăng cai cả một cuộc “luận chiến văn nghệ” tại đình làng Khuốc
(Cổ Khúc – Tiên Hưng – Thái Bình) trong 3 ngày.
Địa điểm tổ
chức là mượn của một gia đình giàu có.
“Dịp này thầy Nguyễn Mạnh
Tường về để dự hội nghị văn nghệ Thái Bình kết hợp bào chữa cho một
vụ án. Độ mới đầu kháng chiến cũng có tòa án xử đàng hoàng cả.
Anh lục sự ở đấy nghe
tiếng ông Nguyễn Mạnh Tường hùng biện nổi như cồn thì muốn thử xem
sự thực hư ra sao. Anh ta mời thầy Tường đến và cứ thao thao bất
tuyệt kể chuyện nọ xọ chuyện kia để thầy không có thì giờ xem hồ sơ.
Thầy Tường lật lật qua hồ sơ rồi ra ngoài ngồi nói chuyện. Hôm sau,
trước tòa, thầy cãi rất hay. Anh lục sự phải sợ khiếp vía. Vì ông
chỉ xem qua vài sự kiện trong hồ sơ thôi mà ông cãi được.
Vụ thầy Tường cãi đó là:
cô con dâu cầm dao đâm bố chồng. Tôi không dự cái cuộc ấy nhưng được
nghe người ta kể lại.
Thầy Tường bào chữa: Xưa
nay chuyện bố chồng con dâu, nhất là mẹ chồng nàng dâu xung đột với
nhau là chuyện rất điển hình ở xã hội Việt Nam xảy ra coi như cơm
bữa. Nhưng vì sao cô này lại đâm bố chồng? Vì khẩu hiệu của kháng
chiến: Mỗi người sẵn sàng cầm vũ khí trong tay để giết giặc. Cho nên
lỗi tại có vũ khí kia chứ không thì chị ấy không phạm tội giết bố
chồng.
Thành ra người ta kính
trọng thầy Nguyễn Mạnh Tường tại sao ông giỏi thế.
Vụ cãi của thầy Tường tôi
nghĩ cái đó cũng rất điển hình – thầy thông minh lắm.
6
Vụ án quân nhân Liên khu IV giết người
Mùa hè năm 1951, trăng hạ huyền đã
gác đầu non, cả thị trấn Đức Thọ - Hà Tĩnh im lìm trong giấc ngủ
say. Riêng quán “Mẹ chiến sĩ” do bà Cửu Mân phụ trách vẫn
sáng ánh lửa. Luật sư Nguyễn Mạnh
Tường không chợp được mắt, dẫu cho ông vừa có một hành trình dài đạp
xe từ Thanh Hoá vào Đức Thọ. Nhiệm vụ của ngài luật sư là biện hộ
cho một quân nhân giết người. Đây không phải là lần đầu tiên ông
tranh tụng trước tòa về vụ án quân nhân. Tình tiết vụ án lần này mà
luật sư nhận được từ hồ sơ... không phức tạp về lý nhưng về tình
thì...
Một anh thanh niên cha mất sớm, mẹ ở
vậy nuôi anh khôn lớn, rồi anh xung phong nhập ngũ vào chiến trường
Bình Trị Thiên. Trải qua những ngày đầu chiến đấu gian khổ nhưng
thành tích có được đủ để anh tự hào. Được về phép, anh như đứa trẻ
háo hức muốn khoe với mẹ. Vừa bước chân vào nhà, đúng lúc đó, anh
bắt gặp một cảnh tượng mà dẫu có trong mơ không bao giờ anh ngờ tới…
Mẹ anh và ông hàng xóm... theo ngôn ngữ lúc đó gọi là hủ hóa.
Sự uất ức dồn nén của mặc cảm, anh vác gậy đánh ông ta chết ngay tại
chỗ. Toà án quân sự Liên khu IV đem ra xét xử công khai tại sân vận
động Đức Thọ một quân nhân giết người.
***
Lặng im bao quanh! Cơn
gió lướt qua như những cơn mưa rơi xuống vai luật sư Nguyễn Mạnh
Tường. Ông đang có mặt trên đất tỉnh Hà Tĩnh, huyện Đức Thọ, xã Châu
Phong, một vùng quê khá đặc biệt. Cái làng nho nhỏ nằm bên bờ La
Giang này là quê hương của bốn dòng họ lớn, thiên hướng rất khác
nhau.
Đầu làng là họ Hoàng,
sinh ra Hoàng Cao Khải (1850–1933),
tự Đông Minh, hiệu Thái Xuyên, một đại thần thân
Pháp
dưới triều
nhà Nguyễn:
Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ, tước Duyên Mậu quận công, thượng thư Bộ
Binh và làm phụ chính đại thần cho vua Thành Thái; Thái tử Thái phó,
Văn minh điện Đại học sĩ, Tổng đốc tỉnh
Hà Đông,
giúp Thống sứ Bắc Kỳ soạn Nghị định về tổ chức bộ máy quản lý cấp xã
ở Bắc Kỳ. Mặc dù sau này đã xây dựng Thái Hà ấp ngoài Hà Nội nhưng
trước đó Dinh của Hoàng Cao Khải ở Đông Thái vẫn chiếm diện tích gần
nửa làng.
Cuối làng là họ Trần, học
rộng, có chức sắc trong triều, là Giải nguyên Trần Văn Phổ, tri
huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi) đồng thời lại là thân sinh ông Trần
Phú - Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 – một ông trùm
Cộng sản.
Giữa làng là hai chi của
hai dòng họ Phan. Họ Phan Đình có cụ Đình nguyên Phan Đình Phùng đã
dấy binh Cần Vương, khởi nghĩa chống Pháp, oanh liệt một thời trong
suốt 10 năm (1885 – 1896). Họ Phan Văn, có Phan Văn Điện, thường gọi
là cụ Đồ Điện, thông minh, trí tuệ nhưng không đi làm quan, cũng
không đi làm cách mạng. Phan Văn Điện chuyên môn đi thi thuê, nhiều
quan huyện, quan phủ và cả quan Tổng đốc đầu tỉnh đỗ đạt được làm
quan là nhờ mua các bài thi của cụ. Cụ ngất ngưởng, đi kinh lý khắp
nơi, thấy chướng tai gai mắt là cụ chửi, chọc ngoáy, các quan tức mà
không dám làm gì. Cụ Đồ Điện lại là thân sinh ra hai ông luật sư
Phan Anh và luật sư Phan Mỹ đang giữ trọng trách trong Chính phủ
kháng chiến Cụ Hồ. Ông Phan Anh là Bộ trưởng Kinh tế và ông Phan Mỹ
là Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường lần giờ lại
tất cả các vụ án đã được học khi còn là sinh viên cho đến những vụ
án thực tế của người dân Việt Nam mà ông từng biện hộ dưới hai chế
độ thực dân và Chính phủ Cụ Hồ. Ông nhớ tới một vụ án, khi Chưởng lý
đã kết án tử hình. Người luật sư nhìn lên đồng hồ, lúc đó đã gần 12
giờ đêm, ông ta thuyết phục quan toà hãy cố lán lại đến 0 giờ.
Đúng 0 giờ! Tiếng chuông Noel vang
lên. Luật sư dõi đôi mắt nhìn khắp lượt bồi thẩm đoàn cho đến người
tử tù vừa bị kết án, ông dõng dạc:
- “Thưa quý Ngài! Hôm nay là Noel,
ngày Thiên Chúa giáng sinh. Vậy lẽ nào chúng ta lỡ kết tội tử hình
một con chiên của Chúa”?
Câu hỏi từ chuyện tiếng chuông Noel
đã đánh thức lòng trắc ẩn của Chánh án và bồi thẩm đoàn. Đó là thủ
thuật của luật sư, phải biết lựa thời điểm...
Khi tiếng chim mòng biển lảnh lót rít
lên vào lúc rạng đông xoáy sâu trong tâm trí cũng là lúc luật sư
Nguyễn Mạnh Tường tìm gỡ được đầu mối vụ án.
***
Toà án Liên khu IV xét xử
quân nhân giết người được trang trí như một sân khấu dưới trăng, tại
sân vận động huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, với một bàn luật sư bên cạnh
bàn chủ tọa. Cáo trạng trong hồ sơ mà ông Chánh án đọc lên với những
lời luận tội nghiêm khắc dành cho anh quân nhân: tử hình! Xong, ông
nghiêng mình lịch thiệp mời luật sư biện hộ.
Nghe tên Luật sư Nguyễn
Mạnh Tường dân chúng hiếu kỳ phía dưới bắt đầu ồn ào bàn tán gây mất
trật tự. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường bước lên, một động tác rất khéo,
rất kỹ thuật mà không ai hiểu là cố ý hay vô tình. Một cú ngã!
Ông nghè sõng soài xuống sàn và nằm chỏng chơ trước phiên toà.
Phía dưới dân chúng được một tràng cười rộ lên. Cười xong, tất cả
đều im lặng.
Lúc này luật sư Nguyễn
Mạnh Tường mới bắt đầu lên tiếng bào chữa. Ông hỏi:
- Ai là tội phạm trong
vụ giết người này?
- Luật sư hỏi chi lạ rứa ?
Cáo trạng ghi rành rành ra đó
- Ông Nguyễn Xuân Linh, Chánh án của phiên tòa khẽ cười nụ - Anh
quân nhân kia là kẻ giết người chứ ai.
- Chính người bị giết,
chính ông hàng xóm kia mới là tội phạm.
Cả phiên toà bất ngờ ồ
lên. Luật sư nói tiếp:
- Hãy xem xét lại tâm
thế của anh bộ đội. Yêu mẹ, kính mẹ từ bé đến lớn. Anh đi chiến đấu
vì Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp. Được nghỉ phép, anh trở về gặp mẹ
trong niềm vui báo công nhưng chính trong hoàn cảnh ông hàng xóm hủ
hóa với mẹ đã làm anh không còn là mình nữa. Đây là động tác của
tình mẫu tử. Tội giết người do ông hàng xóm là tác nhân gây lên. Anh
bộ đội về trong tâm thế gặp mẹ, trong tình cảm hạnh phúc chứ. Chính
ông hàng xóm đẩy anh vào tình thế giết người. Vì vậy tội lỗi hoàn
toàn do ông hàng xóm gây ra.
Tiếng luật sư Nguyễn Mạnh
Tường trầm ấm:
- Thưa quý tòa, thưa bà
con Liên khu IV, bây giờ chúng ta xử như thế nào? Ta đưa một anh
thanh niên, một quân nhân có thành ích giết giặc như thế này, chỉ vì
động tác của tình mẫu tử mà phạm tội giết người, vào tội tử hình, để
quân đội, để Tổ quốc mất một chiến sĩ hơn hay ta để cho anh trở về
chiến đấu với đơn vị thì hơn?
Luật sư vừa dứt lời, quần
chúng phía dưới vỗ tay vang dội hưởng ứng.
***
Đứng lẫn trong đám đông
người xem hôm đó, nhà giáo Nguyễn Đình Chú không thể ngờ được, chỉ 2
năm sau, ông lại có vinh dự trở thành người học trò của Giáo sư –
Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Dự bị Đại học Liên khu
IV năm 1953. Sau ngày 10-10-1954, những anh bộ đội Cụ Hồ trong tư
thế của người chiến thắng từ Điện Biên Phủ trở về tiến vào tiếp quản
Thủ đô. Trong bộn bề công việc của một đất nước mới được giải phóng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã mở ngay trường
Đại học để đào tạo trí thức. Và Nguyễn Đình Chú là một trong những
thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh vào trường Đại học Sư phạm
Văn khoa (nay là trường Đại học Sư phạm Hà Nội) năm 1954.
Sau 3 năm học, là một
trong những sinh viên khóa đầu tiên dưới mái trường Đại học của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được thụ giáo các bậc “sư biểu” hàng đầu
là những nhà trí thức uyên bác tầm cỡ thế giới của thời vàng son
“một đi không trở lại” như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Cao
Xuân Huy, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Trần Văn Giàu, Phạm Huy Thông,
Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Lân, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Khánh Toàn…
Tốt nghiệp Đại học năm 1957, Nguyễn Đình Chú được giữ lại làm cán bộ
giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm.
Hình 7. GS.NGND Nguyễn
Đình Chú (năm 2008)
Sắp đến ngày 20-11, ngày
Nhà giáo Việt Nam, đồng thời kỷ niệm 55 năm nhập trường của lớp sinh
viên trường Đại học Sư phạm Văn khoa khóa 1954 – 1957 tại đại
giảng đường 19 Lê Thánh Tông, GS.NGND Nguyễn Đình Chú, người học trò
năm xưa, nay thành danh sáng nghiệp vẫn không nguôi nhớ về các bậc
ân sư một thuở. Cùng với các bạn sinh viên nay là các cụ ông,
cụ bà chân chậm, mắt mờ, tóc bạc, ông lại đến thắp hương các thầy.
Đã 81 tuổi, thắp nén hương thơm lên mộ, lên ban thờ, trước di ảnh
thầy, GS.NGND Nguyễn Đình Chú xúc động mà rơi nước mắt: “Bái lạy
linh hồn thầy…”…
7
Hội nghị Nhân Dân Thế Giới Bảo Vệ Hoà Bình và bức thư gửi người bạn Pháp
Trong những hoạt động đối ngoại trên
trường quốc tế, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã tham dự Hội nghị Nhân
dân thế giới bảo vệ Hòa bình họp ở Viên – thủ đô nước Áo. Ông Nguyễn
Tường Hưng, trưởng nam cố luật sư Nguyễn Mạnh Tường, đã tìm hiểu và
cho tôi biết về những diễn biến sau hội nghị này.
Song song với cuộc chiến tranh vũ
trang, cuối năm 1953, chúng ta mở rộng đấu tranh ngoại giao mà có lẽ
nền ngoại giao nhân dân đã được bắt đầu từ những hoạt động tham gia
Đại hội nhân dân thế giới bảo vệ Hòa bình ở Viên. Một tổ chức được
thành lập để đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới đó là Hội đồng Hòa
bình Thế giới mà Đại hội Nhân dân Thế giới họp ở Viên là sự khởi
đầu.
Để thế giới biết rõ lập trường yêu
chuộng hòa bình của Việt Nam, đồng thời khẳng định kiên quyết kháng
chiến đến thắng lợi cuối cùng và Hòa bình không thể tách rời độc lập
dân tộc. Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra chỉ thị
ngày 2-12-1953 về việc giải thích lời tuyên bố của phái đoàn Việt
Nam ở Hội nghị Hội đồng hòa bình thế giới tháng 11 năm 1953, xin
trích như sau:
Trước đó, tháng 11 năm 1953, Hồ Chủ
tịch đã có lời tuyên bố trả lời nhà báo EXPRESEN Thụy Điển:
“Lập trường của nhân dân Việt Nam
là: Kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Song nhân dân và
Chính phủ Việt Nam cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải
quyết hòa bình vấn đề Việt Nam…
Đối với nhân dân Việt Nam, Hòa bình
không thể tách rời độc lập dân tộc.
Cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp cho
độc lập, dân chủ, hòa bình và đòi đình chỉ chiến tranh ở Việt Nam là
một trong những nhân tố quan trọng để giải quyết hòa bình vấn đề
Việt Nam”.
Để đáp lại thiện chí Hòa bình của
nhân dân Việt Nam, thì ngày 20-11-1953 Pháp đã cho quân nhảy dù
xuống Điện Biên Phủ.
***
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được cử đi
dự Hội nghị bảo vệ hòa bình châu Á – Thái Bình Dương, Trưởng đoàn là
đồng chí Xuân Thủy, sau đó đi dự Hội nghị Nhân dân thế giới bảo vệ
hòa bình họp tại Viên – thủ đô nước Áo. Về hội nghị ở Viên, trong
hồi ký cụ viết:
“Ở thủ đô nước Áo – Viên, những hậu
quả của cuộc chiến tranh hãy còn tồn tại ở một vài khu phố, ở đó có
nhà chung cư đổ nát còn nhiều chỗ trống mà người ta phải quay lại
bằng những rào bằng ván gỗ. Dưới những sân hiên của các cửa hàng cà
phê, những bến dọc sông Đan-nuýp hầu như vắng khách. Khách đến chủ
yếu là khách du lịch thường say mê các điệu Valse của Strauss. Nhưng
nhân dân thủ đô nước Áo lại dành một sự tiếp đón nhiệt tình cho
những đại biểu đến để bảo vệ hòa bình. Hàng nghìn đại biểu đến từ
các nước khác nhau để thể hiện quyết tâm bảo vệ hòa bình. Đây là lần
đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một sự kiện như thế đã xảy ra. Một
đại hội gồm các đại biểu của tất cả các nước trên thế giới không
phân biệt giới, chủng tộc, chế độ chính trị và xã hội, tôn giáo,
ngành nghề đến họp với mục tiêu là bảo vệ hòa bình.
Khi những trái bom nguyên tử Mỹ đã
xóa sổ thành phố Hiroshima và Nagasaki ra khỏi bản đồ thế giới đã
làm cho nhân loại khiếp sợ. Mọi người đều biết rằng vũ khí nguyên tử
không chừa một ai trên trái đất này, đó là những người chiến đấu và
không tham chiến, trong cuộc chiến này không có người thắng kẻ bại.
Một khi chiến tranh nguyên tử xảy ra,
trái đất sẽ không còn nhiều người sống sót, sẽ trở thành một tinh tú
chết trong khoảng không của vũ trụ bao la. Vì vậy, mỗi người đang
sống đều có trách nhiệm bảo vệ hòa bình. Tất cả các dân tộc đều
thành lập một mặt trận chung chống chiến tranh vì nền hòa bình lâu
dài trên trái đất này.
Hình 8. Hàng đầu, từ trái sang phải,
luật sư Nguyễn Mạnh Tường (thứ 3),
anh hùng quân đội Nguyễn Thị Chiên (thứ 4)…
Trong đoàn đại biểu hòa bình Pháp, có
ông J.P. Sartre, nhà triết học nổi tiếng.
Tôi có dịp gặp và nói chuyện với ông
ta trong thời gian nghỉ ngơi của hội nghị về chiến tranh của nhân
dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Ông J.P. Sartre đã biểu hiện sự
đồng tình ủng hộ cuộc chiến tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam
dành độc lập, tự do. Tôi cũng có dịp nghe giao hưởng thứ năm của
Bét-tô-ven khi ngồi cạnh chị Raymonde Dien. Tôi hỏi chị: Với động cơ
gì chị đã nằm ngang đường sắt để chắn đoàn xe lửa sắp khởi hành? Chị
nói với tôi: Khi tôi biết chuyến xe lửa này mang vũ khí đến Việt
Nam, tôi không chịu được khi biết bao người mự, người vợ phải khóc
chồng, con. Tôi nghe theo mệnh lệnh của trái tim tôi. Tôi vào nhà ga
và thấy đoàn tàu sắp chạy và tôi nhảy vào đường ray, chỉ thế thôi…
Trong hội nghị, đồng chí Xuân Thủy,
Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam có nói với tôi:
Anh hãy cố nói gì với đại hội trước
khi chia tay. Thế là bài phát biểu của tôi được đưa cho ông Claude
Morgan chủ tạp chí Bảo vệ hòa bình (Revue defense de la Paix).
“Sau chừng ấy năm với sự khắc nghiệt
của thời gian khiến cho tôi chỉ thoáng nhìn thấy bạn qua lớp sương
mù kỷ niệm, giờ đây tôi mới có dịp gặp lại bạn giữa biết bao khuôn
mặt đầy xúc cảm của các thành viên Phái đoàn Pháp đi dự Hội nghị các
Dân tộc. Tôi viết cho bạn những dòng này từ Vienne. Tôi cảm tạ sự
tình cờ đã cho tôi được gặp lại bạn ở một thành phố tôi đã biết tới
hồi còn trẻ và rất yêu quý, dù cho không yêu quý bằng so với Paris,
nơi tôi đã sống những năm dài hạnh phúc, nhưng chắc chắn là nhiều
hơn so với London hay Berlin, Madrid hay Rome, Athènes hay
Bruxelles, La Haye hay Istanbul mà tôi từng viếng thăm trong những
đợt hành hương đầy mê say. Rất có thể những đám mây yêu kiều mà tuổi
hai mươi bao bọc lấy con người tôi đã làm cho tôi bước đi trong thế
giới với nhiều mộng tưởng hơn thực tế, nhưng tôi thấy như thể sông
Danube hồi ấy thật xanh, và tại Vienne, thủ đô của âm nhạc, điệu
valse chính là biểu hiện hoạt bát của niềm vui và giống như là tinh
chất êm dịu của cuộc đời (…)
Người bạn Pháp thân mến, vì đã sống
tại đất nước của bạn trong vòng mười năm, đã học tập văn chương của
bạn trong vòng ba mươi năm, ngưỡng mộ văn hóa của bạn, yêu mến các
nhà văn và nghệ sĩ của bạn, gần gũi với những đứa con trai của bạn
trên ghế giảng đường Đại học, tại các thành phố và vùng đồng quê của
bạn, tôi biết rõ là nếu chỉ dựa vào dân chúng Pháp, Paris hẳn đã
không rơi vào tình thế không xứng đáng với quá khứ như thế, và nước
Pháp hẳn là đã không đánh mất đi thứ hạng mà nó từng sở hữu suốt
trong ba thế kỷ trên đỉnh cao của lòng nhân đạo và ở mũi nhọn của
tiến bộ.
Nhưng chưa phải mọi thứ đã bị mất đi.
Dân tộc Pháp vẫn luôn được hưởng lòng tin cậy và tình bạn của các
dân tộc, ngay cả khi các dân tộc này có đủ lý do để phàn nàn về
chính sách của chính phủ Pháp(…)
Cầu cho những dòng này tạo nên được
một tiếng vọng trong trái tim bạn, Người bạn Pháp mà tôi không hề
muốn gọi tên, không mang một khuôn mặt nào. Trong suy nghĩ của tôi,
bạn là người đàn ông hay người phụ nữ trong tim đang gầm lên sự căm
thù nỗi bất công và bạo lực, người đem đam mê phụng sự cho vinh dự
của nước Pháp. Nước Pháp đã đánh mất rất nhiều. Nó không được đánh
mất nhiều thêm nữa và nhất là không được đánh mất nền văn hóa ấy,
nền văn hóa mang lại cho nó một niềm kiêu hãnh chính đáng, bởi vì nó
được truyền cảm hứng từ lòng tôn trọng con người và tình yêu hòa
bình, nền văn hóa đã tạo dựng được tên tuổi vững chắc nhất cho tình
bạn giữa các dân tộc và sự biết ơn các trí tuệ, một nền văn hóa đang
bị một chính sách kém cỏi mỗi ngày lại làm hại thêm một chút. Bạn
ơi, người anh em thân mến, tay tôi đây, hãy nắm lấy, chúng ta sẽ
cùng nhau chiến đấu bảo vệ những gì quý giá đối với chúng ta”.
Kỳ cuối
Tôi nhất định sống và chết với nhân dân trên bờ cõi của đất nước
“Khi gặp hiểm nguy tôi chỉ tìm cách thoát nạn. Lúc cơn sóng gió qua
rồi, suy nghĩ về hoạn nạn vừa qua tôi cảm thấy có cái gì là lạ trong
đầu óc mình: “À, cái chết chỉ là thế thôi ư?”. Montaigne đã
dạy rằng: “Cuộc sống chỉ là một sự chuẩn bị cho cái chết, học tập
để làm quen với cái chết”.
Tôi đã có lần đã qua một cái chết rồi.
Trong một lần đi công tác bị ngã xuống sông, nếu không có người cứu
chắc chắn không còn sống.
Hôm đó tôi được mời đi bào chữa cho bị can ở Tòa án nhân dân Đức Thọ
gần chợ Thượng Lâm. Khi làm xong nhiệm vụ, sáng sớm tinh mơ tôi nhảy
lên xe về Thiệu Hóa – Thanh Hóa là địa điểm của trường Dự bị Đại
học. Tôi vừa là giáo sư và là thành viên trong Ban giám đốc cần có
mặt tối hôm đó là ngày hội của sinh viên nhân kết thúc năm học. Tôi
cố gắng đạp xe về tới trường. Khi đạp được hơn 100 cây số, trời sẩm
tối, tôi mệt quá ngã xuống Nông Giang bất tỉnh nhân sự. Nếu không có
người cứu, nhất định tôi đã chết đuối. Khi tỉnh lại tôi không biết
mình là ai, tên là gì, làm việc gì, tại sao lại ngã xuống Nông
Giang. Không biết sau đó ai biết tôi và đưa tôi về nhà. Nhưng khi về
đến nhà tôi cũng không nhận được vợ con nữa. Hồn bay phách lạc, tôi
như con người mất trí.
Dần dần từ ngày này sang ngày nọ tôi mới nhận thức được mình là ai,
tên là gì, làm gì…”.
Hình
9.
Hai cụ Nguyễn Mạnh Tường – Tống Lệ Dung
Tôi được xem những dòng hồi ký của cụ Nguyễn Mạnh Tường viết về vụ
tai nạn trên dòng Nông Giang vào buổi chiều tết Trùng thập (mồng 10
tháng 10 năm Kỷ Sửu). Chiều hôm ấy, bà Nguyễn Dung Nghi vừa ra mở
cửa, tôi đã thấy cụ bà Tống Lệ Dung đang ngồi trước hiên nhà. Mái
tóc bạc trắng xếp từng lớp thời gian, cụ vẫn minh mẫn ôn lại từng kỷ
niệm hơn nửa thế kỷ trước với những năm tháng sống tại huyện Thiệu
Hóa tỉnh Thanh Hóa, cạnh sông Chu, làm hàng xóm với gia đình cụ Hồ
Đắc Liên – kỹ sư mỏ địa chất, bác Nguyễn Khánh Đàm – anh ruột nhà
văn Nguyễn Tuân…
Bà Nguyễn Dung Nghi lại điểm vào một nốt nhạc của bản hồi ức kỷ
niệm:
“Vào một buổi chiều sẩm tối, trên đường đê Nông Giang, ba tôi đi một
xe đạp nam với cặp hồ sơ tài liệu kể cả giấy tờ tùy thân được treo ở
thanh ngang. Trời bắt đầu mưa. Đi trước là hai anh bộ đội đang trên
đường công tác.
Để tránh mưa, ba tôi đạp xe vượt lên trước. Hai anh bộ đội đi bộ
thấy ba tôi vượt lên trước nhưng sau đó mất hút mặc dù trên bờ sông
Nông Giang không còn ai nữa. Đi được một đoạn, các anh phát hiện có
chiếc xe đạp rơi xuống vệ đê... Sau khi tìm kiếm dưới sông, rồi làm
sơ cứu, các anh đã đưa ba tôi tới một quán nước gần đó cạnh một cây
đa.
Tỉnh dậy, ba tôi thấy trên mình là quân phục bộ đội. Ngạc nhiên, ba
cứ tự hỏi: Mình có bao giờ là bộ đội đâu nhỉ? Bà cụ chủ quán khơi
thêm bếp lửa sưởi ấm và cho biết các anh bộ đội thay quần áo cho ba
tôi rồi sau đó lại tiếp tục lên đường công tác. Trong đêm tối, bà cụ
chủ quán đã cho ba tôi ăn một bát cháo nóng. Sáng hôm sau có người
đưa ba tôi về nhà với cặp tài liệu còn nguyên vẹn. Rất tiếc gia đình
tôi không gặp được người đưa ba tôi về để cảm ơn và hỏi han chi tiết
về tai nạn đã xảy ra”.
Cụ bà Tống Lệ Dung:
“Hôm đó ba con được đưa về nhà cứ luôn hỏi đi hỏi lại mợ rằng hôm
nay là ngày bao nhiêu? Mợ trả lời hôm nay là ngày 26-6 (năm 1951).
Tiếng người con gọi cha bằng ba tôi vẫn được nghe thường xuyên,
nhưng gọi mẹ bằng mợ, phải rất lâu rồi tôi mới được nghe lại. Tiếng
gọi mợ của người Hà Nội xưa thanh lịch...
Đã 92 tuổi, do một cú ngã, từ hai năm nay cụ bà không tự mình đi lại
được, phải có người giúp việc là điều bất đắc dĩ. Cụ vẫn thường tâm
niệm sống ở trên đời phải biết tự lực, còn nếu ngại khó khăn,
ngại lao động là mình thất bại trong cuộc đời, không làm được việc
gì có ích cho gia đình, cho đất nước.
Qua bao thăng trầm của cuộc đời gần trọn trăm năm cõi người, chiều
đông được hầu chuyện và cùng cụ bà Tống Lệ Dung nhìn từng dòng người
xe qua lại trên phố Tăng Bạt Hổ như hôm nay, tôi lại thầm cảm phục:
cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách của GS.TS Nguyễn Mạnh Tường.
Như dòng sông quặn thắt lặng lẽ chở phù sa vun đắp cho đời; trong
sự nghiệp giáo dục, thầy Nguyễn Mạnh Tường, đã để lại nhiều thế hệ
học trò nay đã sáng nghiệp; trong những năm tháng hành nghề luật sư,
cụ để lại nhiều huyền thoại… Và cầm trên
tay cánh cung hai dây vừa làm thầy giáo vừa làm thầy cãi cũng có lúc
cụ gặp tai nạn như chuyện bên bờ Nông Giang; để rồi sau khi thoát
khỏi lưỡi hái tử thần trở về với nhân dân, người trí thức lớn ấy lại
toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân:
“Tôi có thể nói được
rằng tôi đã chết rồi.
Tôi tiếc rằng từ lúc tôi ngã xuống đến lúc tỉnh dậy, tôi không còn
nhớ được gì đã xảy ra.
Một lỗ hổng tối đen mang quãng đời nhận thức của tôi mất đi toàn
vẹn. Trong ký ức của tôi có một khoảng trống, không tồn tại một hình
ảnh, một nhận thức nên nữa. Tôi đi đến kết luận rằng: Ranh giới giữa
cái sống và cái chết rất là mỏng manh. Chết là mất nhận thức và chìm
đắm trong một vực tối đen. Có thế thôi, vì vậy tôi cảm thấy cái chết
không phải là cái gì đáng sợ và từ đó tới nay tôi vẫn sẵn sàng chờ
đợi cái chết một lần nữa. Ai đã vớt tôi khỏi chết, ai đã níu áo tôi
lại để tôi không nằm lại đáy Nông Giang. Một người nào đó vô danh đã
cứu tôi và vô tình buộc tôi lại bước vào cuộc sống lần thứ hai cũng
như bố mẹ tôi đã sinh ra tôi lần thứ nhất, nhập tôi vào cuộc đời.
Nếu tôi nhận định rằng con người của tôi ngày nay là con đẻ của nhân
dân thì đúng hay sai?
Bổn phận và nghĩa vụ của tôi đối với nhân dân trước đây đã có nay
lại được tăng cường lên vì tôi không chỉ là một con người trong nhân
dân mà chính là đứa con của nhân dân đẻ ra. Vì vậy, không có gì lạ
rằng tôi phải sống và chết vì nhân dân. Dù phải chịu nỗi khổ cực
điêu đứng, tai hại đến đâu đi nữa, tôi không thể nào quên được rằng
cái gì đã gắn bó tôi với nhân dân và mối tình cốt nhục còn nặng hơn
tình yêu hoặc tình bè bạn. Một mối tình như vậy không phải chỉ nói
lên trên môi mà phải thấm thía trong lòng, phải biểu hiện bằng hành
động cụ thể, bằng những hy sinh để xứng đáng với nhân dân, bố mẹ
“tinh thần” của tôi.
Khổ thế này chứ khổ hơn nữa tôi cũng không thể xa rời, từ bỏ bố mẹ
để đi mưu cầu một số phận tươi vui hơn được. Một người con làm trọn
bổn phận đối với những người đã sinh thành ra mình là cảm thấy rất
sung sướng và bình tĩnh.
Đó là bí quyết tại sao tôi vẫn vui vẻ lạc quan và tin tưởng ở tương
lai. Nhân dân đã trả lại cho tôi một Tổ quốc, lại cứu sống
tôi, tôi nhất định sống và chết với nhân dân trên bờ cõi của đất
nước”.
|
|
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Nhận xét
Đăng nhận xét