ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 25
-Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Thư của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Kính gửi
- Báo cáo kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
- Báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
- Báo cáo tình hình thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 4 khoá IX về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí trong 2 năm qua.
Tôi nhận thấy, các dự thảo văn kiện nói trên được chuẩn bị tích cực, tiếp cận sát hơn tình hình thực hiện trong nước và thế giới, không chỉ nêu lên những thành tích mà còn nói rõ những tiềm năng chưa được khai thác và những khuyết điểm tồn tại khá trầm trọng. Nhìn chung, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đất nước tiếp tục phát triển ổn định trong tình hình có nhiều khó khăn mới. Điều đó cho thấy công cuộc đổi mới đang phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, tôi đồng ý với nhận định của dự thảo là nền kinh tế phát triển chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng chưa tương xững với mức tăng đầu tư và tiềm năng của đất nước; mặt xã hội chuyển biến chậm, hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí sa sút về đạo đức vẫn diễn ra phức tạp, có phần nghiêm trọng.
Tôi đề nghị, cần phải phân tích nguyên nhân của những mặt tồn tại, yếu kém, làm rõ hơn những vấn đề cần tập trung thực hiện bằng được trong hai năm còn lại. Cần làm rõ vì sao có nhiều Nghị quyết đúng, nhiều chủ trương đúng nhưng không được thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả.
Sau đây, tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến về kinh tế, về giáo dục và khoa học, về quốc phòng, an ninh và về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
1 – Về nhiệm vụ trung tâm là xây dựng kinh tế: Vừa qua, mức tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2001 - 2003) đạt khoảng 7,1%/năm, tuy chưa đạt mức Đại hội IX đề ra là 7,5%/năm, nhưng vấn đề là một cố gắng lớn trong tình hình khu vực và thế giới đang có những diễn biến phức tạp. Nếu biết huy động và sử dụng tốt nguồn nội lực, chúng ta hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng dự kiến của Đại hội. Nhưng phải thấy rằng, cho dù có đạt được tỷ lệ ấy thì đến năm 2020, nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển ngay trong nhóm các nước ASEAN, vẫn còn thua Thái Lan khoảng 20 năm về chỉ tiêu GDP/người, nếu so với các nước OECD thì còn tụt hậu xa hơn nhiều. (Hiện nay, GDP/người của Việt Nam là 400USD/người bằng 1/3 Thái Lan, 1/50 Singapore, 1/70 Mỹ). Tôi đề nghị, Hội nghị nên thảo luận vì sao ta không thực hiện được tỷ lệ tăng trưởng cao hơn. Cần có những chủ trương và biện pháp gì để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy được nội lực, lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
Chắn chắn trong những năm sắp tới, với sự phát triển gia tốc của cách mạng khoa học và công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, với nhịp độ phát triển nhanh của các nước trong khu vực và tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá, với xu hướng diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, nước ta sẽ phải đương đầu với những khó khăn và thách thức mới khó lường trước được.
Mong rằng, những phương hướng và chủ trương đúng đắn của Hội nghị Trung ương 9 sẽ được triển khai thực hiện kiên quyết hơn và có hiệu quả hơn.
2 – Về giáo dục và khoa học:
Chúng ta đều thống nhất nhận thức rằng: Khâu đột phá để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững là giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ. Lĩnh vực mà Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định là quốc sách hàng đầu, có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội hiện nay và tương lai của đất nước 40 – 50 năm sau, lại đang là vấn đề gây lo lắng cho toàn xã hội. Vừa qua, cuộc hội thảo lớn do Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng báo Nhân dân phối hợp tổ chức đã cho thấy rõ hiện trạng yếu kém và bất cập của nền giáo dục nước ta.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương cần phân tích kỹ nguyên nhân vì sao một chủ trương rất đúng coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu lại không được thể hiện trên thực tế, mặc dù đã có chiến lược được Chính phủ phê chuẩn.
Về vấn đề này, trước đây tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị đề nghị: cần thiết phải có một cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng. Đây chính là vấn đề quan trọng nhất liên quan đến chiến lược con người.
Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức, cần phải đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại hoá và tin học hoá hệ thống giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ khoa học với nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội. Cuối năm 2000, Trung ương đã có chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hệ thống giáo dục đào tạo vẫn còn hạn chế, còn kém so với các nước trong vùng (1). Để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục, cần có chủ trương và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các nhà doanh nghiệp được tiếp cận dễ dàng và rộng rãi với mạng máy tính và Internet để phục vụ cho giảng dạy, học tập nghiên cứu và kinh doanh.
Nếu không kiên quyết thực hiện bằng được chủ trương: Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu thì những mục tiêu trọng yếu mà Hội nghị Trung ương lần này nêu ra như đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển kinh tế bền vững … chắc chắn không thể thực hiện được.
Để thực hiện cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng, cần tổ chức lại hệ thống giáo dục và đào tạo.
Tôi kiên trì đề nghị tách Bộ Giáo dục và Đào tạo thành hai Bộ: Bộ Đại học và Bộ Giáo dục do đối tượng của mỗi Bộ rất khác và rất lớn, sắp tới phải mở rộng không những cấp phổ thông mà còn cấp cao đẳng, đại học. Tách bộ phận dạy nghề khỏi Bộ Lao động và Thương binh Xã hội. Thành lập Tổng cục dạy nghề trực thuộc Chính phủ và có quan hệ với hai Bộ nói trên. Đồng thời, kiện toàn tổ chức và cán bộ của các cơ quan lãnh đạo quan trọng đó để triển khai có hiệu quả công cuộc cải cách giáo dục.
Trong hai năm tới, cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để tạo được một bước đột phá trong hoạt động khoa học và công nghệ.
Trước mắt, tập trung nghiên cứu và tiếp thu công nghệ hiện đại, đặc biệt là một số lĩnh vực công nghệ cao, từng bước hình thành một hệ thống công nghệ đồng bộ để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn kết khoa học với kinh tế. Các doanh nghiệp phải có lộ trình đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực hợp tác khu vực và thế giới (AFTA, WTO, APEC, ASEAN 2020 …) Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền khoa học nước nhà, cần chú ý đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, phát triển một số hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới (công nghệ nano), công nghệ chế tạo và tự động hoá … Cần có kế hoạch đào tạo để sớm khắc phục sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ giáo dục, cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành.
3 – Về quốc phòng và an ninh:
Tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị những ý kiến cụ thể đóng góp vào Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và đã nêu ý kiến trực tiếp với đồng chí Trần Đức Lương.
a) Tôi đã nhiều lần đề nghị chú trọng vấn đề lãnh hải, biển - đảo, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có sự quan tâm. Phương hướng cho hai năm tới trong dự thảo báo cáo trình Hội nghị Trung ương 9 lần này cũng không đề cập tới.
Lãnh thổ nước ta không chỉ có vùng đất liền mà còn có cả vùng lãnh hải. Chúng ta có nhiệm vụ bảo đảm chủ quyền quốc gia không những trên bộ, trên không mà cả trên vùng lãnh hải. Vùng lãnh hải với thềm lục địa, đặc quyền kinh tế và an ninh quốc phòng có tầm quan trọng ngày càng lớn.
Các nước lớn trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương coi thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương. Nhiều nước đã hoạch định chiến lược tổng thể về biển với những chủ trương và chính sách cụ thể liên quan đến chủ quyền lãnh hải, an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Trung Quốc xác định: để mở rộng không gian sinh tồn, việc tiến ra biển khơi, khai thác nguồn tài nguyên biển liên quan đến khả năng tiếp tục phát triển và sự tồn vong của dân tộc Trung Hoa; Trung Quốc đang ra sức tăng cường lực lượng hải quân và không quân để giành quyền kiểm soát trên không và trên biểu ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Biển Đông, và luôn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Nhật Bản khẳng định quốc sách bảo đảm tuyến giao thông trên biển 1000 hải lý. Mỹ coi việc bảo đảm an toàn tuyến đường vận chuyển nối liền Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương là một bộ phận quan trọng trong chiến lược địa lý – chính trị toàn cầu và chiến lược quốc gia về chủ quyền và an ninh trên biển.
Mục tiêu địa lý – chính trị phức tạp của các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với cuộc đấu tranh giành giật chủ quyền lãnh hải và khai thác tài nguyên ở biển và đại dương sẽ tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện chiến lược khu vực và toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Tôi đề nghị cần sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược toàn diện về lãnh hải của nước ta từ nay đến năm 2010 và 2020 trên nguyên tắc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đồng thời, có kế hoạch triển khai từng bước thiết thực và có hiệu quả.
Cần có một cơ quan Nhà nước mang tính liên ngành để lãnh đạo và điều phối chung các hoạt động kinh tế và quốc phòng trên vùng lãnh hải.
Trước mắt, cần tổ chức các đội tầu, thuyền đánh bắt cá và khai thác tài nguyên xa bờ kết hợp với lực lượng hải quân để giữ vững chủ quyền và an ninh trên vùng lãnh hải và quần đảo Trường Sa, không để cho các tầu thuyền nước ngoài xâm phạm.
b) Trong chiến lược phát triển các vùng lãnh thổ của đất nước, việc mở mang phát triển các vùng miền núi, nơi tập trung các đồng bào dân tộc ít người sinh sống, là vấn đề có tầm quan trọng trong chiến lược về chính trị, kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Trong việc đầu tư phát triển các vùng miền nói chung Trung ương đã chú trọng, song cần chú trọng hơn nữa đến vùng căn cứ địa Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang).
Trước mắt, ở Cao Bằng, cần mở mang hệ thống giao thông (đường số 3, sân bay …) tạo điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế và cải thiện đời sống nhân dân, từng bước xây dựng tỉnh Cao Bằng – “ngôi sao cách mạng của Việt Bắc” nơi Bác Hồ đã từ nước ngoài trở về đây để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, thành một địa bàn mà nhân dân nhất là thanh niên có thể có đủ điều kiện thăm viếng, hơn nữa có thể tổ chức thành khu du lịch quan trọng đối với các khách trong nước và quốc tế.
Vấn đề này có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và cả về quốc phòng, an ninh của nước ta. Hoặc bên kia biên giới, nước bạn đã xây dựng tuyến đường cao tốc xuyên Á nối với Thái Lan, với Myanmar và Ấn Độ Dương, và gần đây trong chiến lược triển khai cuộc cách mạng quân sự mới đã tăng cường bố trí lực lượng quân sự ở các vùng biên giới. 4 – Vấn đề chống tham nhũng, lãng phí:
Hội nghị Trung ương 4 khoá IX đã khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải tiếp tục đầy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ trung tâm trước mắt là chống tham nhũng, lãng phí đã được đặt ra từ Hội nghị Trung ương (lần 2) khoá VIII.
Tôi đồng ý với đánh giá nêu trong dự thảo trình Hội nghị Trung ương 9: trong 3 năm vừa qua, tuy có phát hiện và xử lý một số vụ tiêu cực, nhưng cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, chưa có chuyển biến căn bản.
Cho đến nay, nạn tham nhũng, lãng phí vẫn chưa được chặn đứng và đẩy lùi. Sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận không ít đảng viên, cán bộ vẫn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều vụ việc tiêu cực có liên quan đến các cán bộ và cơ quan chuyên chính của Đảng và Nhà nước đều do nhân dân phát hiện.
Chưa thấy một đảng viên nào tự giác nhận trách nhiệm hoặc một cấp uỷ đảng nào phát hiện nội bộ có tham nhũng.
Tôi đề nghị Trung ương và Bộ Chính trị cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao vừa qua ta đã có nghị quyết, có pháp lệnh, có cuộc vận động chống tham nhũng, lãng phí trong toàn Đảng và các cơ quan Nhà nước mà những tệ nạn này vẫn phát triển phức tạp và nghiêm trọng, đặc biệt là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản, tài chính doanh nghiệp, sử dụng ngân sách Nhà nước … Lối sống cơ hội vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy dự án, chạy vốn, chạy tội …. Việc xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên có những hoạt động sai trái, tiêu cực không nghiêm minh.
Chống tham nhũng, lãng phí và những việc phạm pháp, tiêu cực khác là chống “giặc nội xâm” chỉ có thể thành công nếu biết dựa vào dân như Bác Hồ đã dạy. Bởi vậy, cần có cơ chế thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch để đảng viên và nhân dân giám sát, thu hút được sự tham gia rộng rãi của toàn dân và cả hệ thống chính trị – xã hội mới có thể ngăn chặn được những tệ nạn đó. Đã gọi là “giặc nội xâm” thì phải kiên quyết xử lý, trừng trị nghiêm khắc, tiêu trừ bằng được.
5 – Về nhiệm vụ then chốt: xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Tôi đồng ý với nhận định của Dự thảo là công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vừa qua chưa đạt yêu cầu; chưa chú trọng đến công tác chính trị và tư tưởng để cho chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng tồn tại kéo dài. Các cấp uỷ Đảng thiếu tính chiến đấu, thiếu tinh thần tự phê bình và phê bình, không có sự thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh. Hiện tượng thiếu dân chủ, chuyên quyền độc đoán trong Đảng, tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức Đảng, coi thường kỷ cương phép nước của cán bộ đảng viên, làm mất lòng tin của dân đã thực sự là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng.
Đảng ta xác định: xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Bởi vì, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, có chệch hướng hay không, nhân tố quyết định là Đảng có vững mạnh không, có kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hay không; cán bộ, đảng viên có thật sự vì nước, vì dân hay không.
Một Đảng tiên phong, trước hết phải có đường lối đúng. Vì vậy, đề nghị Trung ương coi trọng hơn nữa công tác lý luận: Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống các xu hướng tả khuynh giáo điều cũng như hữu khuynh cơ hội, kiên trì đưa đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) coi trọng xây dựng Đảng cả về quan điểm chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống, không cho phép chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị tồn tại và lũng đoạn Đảng, lũng đoạn các cơ quan Nhà nước.
6 – Về công tác cán bộ:
Muốn xây dựng Đảng mạnh thì công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định.
Dự thảo báo cáo đã nêu: Công tác cán bộ hiện nay còn nhiều yếu kém, bất cập. Việc đánh giá và quản lý cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, chậm được khắc phục. Chậm xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài.
Đảng ta đã nêu rõ: cán bộ tốt là cán bộ có đức, có tài.
Công tác cán bộ cần định ra chuẩn mực và cơ chế đánh giá để tuyển chọn một cách dân chủ và công bằng những cán bộ có đức, có tài, loại bỏ bằng được mọi quyết định chuyên quyền độc đoán, áp đặt, chỉ lựa chọn những người thân quen để tạo ra bè cánh trong Đảng. Xây dựng quy chế tham gia giám sát của nhân dân và đảng viên, quy chế thanh tra, kiểm tra của các cơ quan lập pháp. Xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và kỷ luật của Đảng.
Mọi ý kiến phản ánh và chất vấn của đảng viên và nhân dân đối với tình hình nội bộ Đảng, đối với cấp uỷ, kể cả đối với các cán bộ cấp cao của Đảng phải được trả lời và giải quyết minh bạch.
7 – Vê công tác bảo vệ chính trị nội bộ:
Dự thảo báo cáo đã nêu khuyết điểm: chậm kết luận rõ một số trường hợp, một số vấn đề tồn tại cũ và mới phát sinh.
Đề nghị Hội nghị Trung ương lần này cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Đảng kéo dài ở cấp Trung ương mà Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã thấy rõ và đã có Nghị quyết khẳng định phải giải quyết nhưng cho đến nay vẫn để tồn tại không giải quyết.
Điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng cục II thuộc Bộ Quốc Phòng. Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục II đã có những hoạt động phá hoại Đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức kéo dài hàng chục năm đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, sử dụng những thông tin sai lệch để phá rối và chia rẽ nội bộ, cố tình gây ra bè phái trong Đảng, tạo ra chứng cứ giả để hãm hại những cán bộ tốt của Đảng, vi phạm nghiêm trọng đến điều lệ của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước và kỷ luật của quân đội. Đương nhiên, trong Tổng cục vẫn có một số cán bộ tốt đã bị lợi dụng. Tôi đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương kiên quyết kiểm tra và xử lý nghiêm minh, dứt điểm. Không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu Chính phủ. Không thể để Tổng cục II tồn tại với quyền hạn quá rộng như Nghị quyết 96/CP đã cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu như trước đây.
Việc bảo đảm an ninh nội bộ sẽ giao cho Ban bảo vệ chính trị nội bộ phụ trách dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị.
Vấn đề chấn chỉnh Tổng cục II liên quan sâu sắc đến tình hình chung của toàn Đảng, không chỉ là vấn đề cụ thể của một cơ quan, cũng không phải là vấn đề riêng của Bộ Quốc phòng, mà là vấn đề có liên quan đến thành bại của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại trong Đảng từ trước tới nay.
Đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ diễn ra cuối khoá VI trước thềm Đại hội VII mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khoá VI đã bàn giao cho Trung ương khoá VII gii quyết.
Nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khoá VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khoá IX. Bộ Chính trị khoá IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận. T4 là một vụ án chính trị “siêu nghiêm trọng” vi phạm kỷ luật của quân đội.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương 9 khoá IX xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất cứ cương vị nào. Và thông báo công khai cho Ban Chấp hành Trung ưng khoá IX, cho các đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban kiểm tra Trung ương các khoá trước.
Kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đòi hỏi không được phép bao che, né tránh, làm qua loa, mà phải kiên quyết xử lý cả những kẻ bao che.
Cuối thư, xin chúc Hội nghị Trung ương 9 với tinh thần trách nhiệm cao, nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ thành tựu đồng thời thấy rõ những mặt tồn tại yếu kém, đề ra được những chủ trương sát đúng, đưa nền kinh tế và xã hội nước ta phát triển nhanh hơn và vững hơn nữa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có hiệu quả rõ rệt, nhất là chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Thắng lợi của Hội nghị Trung ương 9 lần này còn có ý nghĩa chuẩn bị một bước cho Đại hội X. Do vậy, mong rằng toàn thể các đồng chí uỷ viên Trung ương nhận rõ trách nhiệm lớn, luôn noi gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa Hội nghị đến thành công lớn.
Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
Ngày 3 tháng 1 năm 2004
Thân ái
Võ Nguyên Giáp
Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó tham gia hoạt động cách mạng lúc 19 tuổi.
Năm 1926, ông dự lớp huấn luyện chính trị do Hồ Chí Minh chủ trì tại Quảng Châu.
Năm 1928, ông hoạt động cách mạng ở Thái Lan, gia nhập Đảng Cộng sản Xiêm (1930) và năm 1934 được cử làm Ủy viên Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Xiêm (gọi tắt là Xiêm ủy).
Năm 1936, tham gia lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (bấy giờ gọi tắt là Đồng Minh Hội) ở Nam Kinh.
Năm 1941, ông được phái đi Long Châu lập Biện sự xứ của Đồng Minh Hội ở Long Châu, rồi lại về Tịnh Tây, cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lĩnh và một số người trong nước ra công khai hoạt động với danh nghĩa Việt Minh, mới được thành lập trong nước.
Tháng 5 năm 1941 về Pác Bó tham gia Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám và được chỉ định làm Ủy viên Tổng bộ Việt Minh.
Đầu năm 1945, tại hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (Tuyên Quang), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Khu giải phóng Việt Bắc. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chính trị viên Vệ quốc quân toàn quốc.
Năm 1946, được cử làm Bí thư Khu ủy, Đại biểu Chính phủ Trung ương và Chủ nhiệm Việt Minh tại Liên khu 4. Theo Sắc lệnh SL53 ngày 24 tháng 4 năm 1946, ông thay Hoàng Đạo Thúy làm Cục trưởng Cục Chính trị cho tới cuối năm đó.
Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ.
Năm 1951 ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa I (1958) được bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời làm Chủ nhiệm Ủy ban dự thảo Pháp luật Quốc hội. Ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến năm 1979.
Năm 1961, ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội một thời gian ngắn, rồi giữ chức Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng, Trưởng Ban pháp chế Trung ương Đảng, đồng thời phụ trách chỉ đạo Ban CP 38 về công tác Lào, Miên...
Năm 1976, Hoàng Văn Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vì không còn được Lê Duẩn tín dụng nữa.
Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 rồi sang Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, ông tố cáo chính quyền Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái" . Sau sự kiện bỏ trốn, ông bị Việt Nam kết án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội, đài báo Việt Nam so sánh ông với Lê Chiêu Thống. Đó là thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng và chiến tranh biên giới Việt-Trung vừa xảy ra hồi đầu năm.
Năm 1988, ông xuất bản hồi ký Giọt nước trong biển cả
Hoàng Văn Hoan mất tại Bắc Kinh năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông, thi hài được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Gần đây một phần hài cốt của ông đã được chuyển về quê hương tại Việt Nam.
Số phận ông Hoàng Văn Hoan
Hồ Sơ Đặc Biệt - Những Y' Kiên Nội Bộ Của Các Cán Bộ Lão Thành.
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Thư của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Kính gửi
Ban Chấp hành Trung ương,Thời gian qua, tôi vào miền Nam nên không dự được cuộc họp ngày 5 và 6 tháng 12 do Bộ Chính trị triệu tập. Tôi đã đọc và nghiên cứu các bản dự thảo, báo cáo chuẩn bị trình Hội nghị Trung ương 9 khoá IX:
Đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
- Báo cáo kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
- Báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
- Báo cáo tình hình thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 4 khoá IX về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí trong 2 năm qua.
Tôi nhận thấy, các dự thảo văn kiện nói trên được chuẩn bị tích cực, tiếp cận sát hơn tình hình thực hiện trong nước và thế giới, không chỉ nêu lên những thành tích mà còn nói rõ những tiềm năng chưa được khai thác và những khuyết điểm tồn tại khá trầm trọng. Nhìn chung, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đất nước tiếp tục phát triển ổn định trong tình hình có nhiều khó khăn mới. Điều đó cho thấy công cuộc đổi mới đang phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, tôi đồng ý với nhận định của dự thảo là nền kinh tế phát triển chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng chưa tương xững với mức tăng đầu tư và tiềm năng của đất nước; mặt xã hội chuyển biến chậm, hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí sa sút về đạo đức vẫn diễn ra phức tạp, có phần nghiêm trọng.
Tôi đề nghị, cần phải phân tích nguyên nhân của những mặt tồn tại, yếu kém, làm rõ hơn những vấn đề cần tập trung thực hiện bằng được trong hai năm còn lại. Cần làm rõ vì sao có nhiều Nghị quyết đúng, nhiều chủ trương đúng nhưng không được thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả.
Sau đây, tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến về kinh tế, về giáo dục và khoa học, về quốc phòng, an ninh và về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
1 – Về nhiệm vụ trung tâm là xây dựng kinh tế: Vừa qua, mức tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2001 - 2003) đạt khoảng 7,1%/năm, tuy chưa đạt mức Đại hội IX đề ra là 7,5%/năm, nhưng vấn đề là một cố gắng lớn trong tình hình khu vực và thế giới đang có những diễn biến phức tạp. Nếu biết huy động và sử dụng tốt nguồn nội lực, chúng ta hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng dự kiến của Đại hội. Nhưng phải thấy rằng, cho dù có đạt được tỷ lệ ấy thì đến năm 2020, nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển ngay trong nhóm các nước ASEAN, vẫn còn thua Thái Lan khoảng 20 năm về chỉ tiêu GDP/người, nếu so với các nước OECD thì còn tụt hậu xa hơn nhiều. (Hiện nay, GDP/người của Việt Nam là 400USD/người bằng 1/3 Thái Lan, 1/50 Singapore, 1/70 Mỹ). Tôi đề nghị, Hội nghị nên thảo luận vì sao ta không thực hiện được tỷ lệ tăng trưởng cao hơn. Cần có những chủ trương và biện pháp gì để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy được nội lực, lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
Chắn chắn trong những năm sắp tới, với sự phát triển gia tốc của cách mạng khoa học và công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, với nhịp độ phát triển nhanh của các nước trong khu vực và tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá, với xu hướng diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, nước ta sẽ phải đương đầu với những khó khăn và thách thức mới khó lường trước được.
Mong rằng, những phương hướng và chủ trương đúng đắn của Hội nghị Trung ương 9 sẽ được triển khai thực hiện kiên quyết hơn và có hiệu quả hơn.
2 – Về giáo dục và khoa học:
Chúng ta đều thống nhất nhận thức rằng: Khâu đột phá để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững là giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ. Lĩnh vực mà Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định là quốc sách hàng đầu, có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội hiện nay và tương lai của đất nước 40 – 50 năm sau, lại đang là vấn đề gây lo lắng cho toàn xã hội. Vừa qua, cuộc hội thảo lớn do Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng báo Nhân dân phối hợp tổ chức đã cho thấy rõ hiện trạng yếu kém và bất cập của nền giáo dục nước ta.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương cần phân tích kỹ nguyên nhân vì sao một chủ trương rất đúng coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu lại không được thể hiện trên thực tế, mặc dù đã có chiến lược được Chính phủ phê chuẩn.
Về vấn đề này, trước đây tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị đề nghị: cần thiết phải có một cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng. Đây chính là vấn đề quan trọng nhất liên quan đến chiến lược con người.
Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức, cần phải đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại hoá và tin học hoá hệ thống giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ khoa học với nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội. Cuối năm 2000, Trung ương đã có chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hệ thống giáo dục đào tạo vẫn còn hạn chế, còn kém so với các nước trong vùng (1). Để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục, cần có chủ trương và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các nhà doanh nghiệp được tiếp cận dễ dàng và rộng rãi với mạng máy tính và Internet để phục vụ cho giảng dạy, học tập nghiên cứu và kinh doanh.
Nếu không kiên quyết thực hiện bằng được chủ trương: Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu thì những mục tiêu trọng yếu mà Hội nghị Trung ương lần này nêu ra như đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển kinh tế bền vững … chắc chắn không thể thực hiện được.
Để thực hiện cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng, cần tổ chức lại hệ thống giáo dục và đào tạo.
Tôi kiên trì đề nghị tách Bộ Giáo dục và Đào tạo thành hai Bộ: Bộ Đại học và Bộ Giáo dục do đối tượng của mỗi Bộ rất khác và rất lớn, sắp tới phải mở rộng không những cấp phổ thông mà còn cấp cao đẳng, đại học. Tách bộ phận dạy nghề khỏi Bộ Lao động và Thương binh Xã hội. Thành lập Tổng cục dạy nghề trực thuộc Chính phủ và có quan hệ với hai Bộ nói trên. Đồng thời, kiện toàn tổ chức và cán bộ của các cơ quan lãnh đạo quan trọng đó để triển khai có hiệu quả công cuộc cải cách giáo dục.
Trong hai năm tới, cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để tạo được một bước đột phá trong hoạt động khoa học và công nghệ.
Trước mắt, tập trung nghiên cứu và tiếp thu công nghệ hiện đại, đặc biệt là một số lĩnh vực công nghệ cao, từng bước hình thành một hệ thống công nghệ đồng bộ để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn kết khoa học với kinh tế. Các doanh nghiệp phải có lộ trình đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực hợp tác khu vực và thế giới (AFTA, WTO, APEC, ASEAN 2020 …) Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền khoa học nước nhà, cần chú ý đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, phát triển một số hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới (công nghệ nano), công nghệ chế tạo và tự động hoá … Cần có kế hoạch đào tạo để sớm khắc phục sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ giáo dục, cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành.
3 – Về quốc phòng và an ninh:
Tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị những ý kiến cụ thể đóng góp vào Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và đã nêu ý kiến trực tiếp với đồng chí Trần Đức Lương.
a) Tôi đã nhiều lần đề nghị chú trọng vấn đề lãnh hải, biển - đảo, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có sự quan tâm. Phương hướng cho hai năm tới trong dự thảo báo cáo trình Hội nghị Trung ương 9 lần này cũng không đề cập tới.
Lãnh thổ nước ta không chỉ có vùng đất liền mà còn có cả vùng lãnh hải. Chúng ta có nhiệm vụ bảo đảm chủ quyền quốc gia không những trên bộ, trên không mà cả trên vùng lãnh hải. Vùng lãnh hải với thềm lục địa, đặc quyền kinh tế và an ninh quốc phòng có tầm quan trọng ngày càng lớn.
Các nước lớn trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương coi thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương. Nhiều nước đã hoạch định chiến lược tổng thể về biển với những chủ trương và chính sách cụ thể liên quan đến chủ quyền lãnh hải, an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Trung Quốc xác định: để mở rộng không gian sinh tồn, việc tiến ra biển khơi, khai thác nguồn tài nguyên biển liên quan đến khả năng tiếp tục phát triển và sự tồn vong của dân tộc Trung Hoa; Trung Quốc đang ra sức tăng cường lực lượng hải quân và không quân để giành quyền kiểm soát trên không và trên biểu ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Biển Đông, và luôn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Nhật Bản khẳng định quốc sách bảo đảm tuyến giao thông trên biển 1000 hải lý. Mỹ coi việc bảo đảm an toàn tuyến đường vận chuyển nối liền Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương là một bộ phận quan trọng trong chiến lược địa lý – chính trị toàn cầu và chiến lược quốc gia về chủ quyền và an ninh trên biển.
Mục tiêu địa lý – chính trị phức tạp của các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với cuộc đấu tranh giành giật chủ quyền lãnh hải và khai thác tài nguyên ở biển và đại dương sẽ tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện chiến lược khu vực và toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Tôi đề nghị cần sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược toàn diện về lãnh hải của nước ta từ nay đến năm 2010 và 2020 trên nguyên tắc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đồng thời, có kế hoạch triển khai từng bước thiết thực và có hiệu quả.
Cần có một cơ quan Nhà nước mang tính liên ngành để lãnh đạo và điều phối chung các hoạt động kinh tế và quốc phòng trên vùng lãnh hải.
Trước mắt, cần tổ chức các đội tầu, thuyền đánh bắt cá và khai thác tài nguyên xa bờ kết hợp với lực lượng hải quân để giữ vững chủ quyền và an ninh trên vùng lãnh hải và quần đảo Trường Sa, không để cho các tầu thuyền nước ngoài xâm phạm.
b) Trong chiến lược phát triển các vùng lãnh thổ của đất nước, việc mở mang phát triển các vùng miền núi, nơi tập trung các đồng bào dân tộc ít người sinh sống, là vấn đề có tầm quan trọng trong chiến lược về chính trị, kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Trong việc đầu tư phát triển các vùng miền nói chung Trung ương đã chú trọng, song cần chú trọng hơn nữa đến vùng căn cứ địa Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang).
Trước mắt, ở Cao Bằng, cần mở mang hệ thống giao thông (đường số 3, sân bay …) tạo điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế và cải thiện đời sống nhân dân, từng bước xây dựng tỉnh Cao Bằng – “ngôi sao cách mạng của Việt Bắc” nơi Bác Hồ đã từ nước ngoài trở về đây để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, thành một địa bàn mà nhân dân nhất là thanh niên có thể có đủ điều kiện thăm viếng, hơn nữa có thể tổ chức thành khu du lịch quan trọng đối với các khách trong nước và quốc tế.
Vấn đề này có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và cả về quốc phòng, an ninh của nước ta. Hoặc bên kia biên giới, nước bạn đã xây dựng tuyến đường cao tốc xuyên Á nối với Thái Lan, với Myanmar và Ấn Độ Dương, và gần đây trong chiến lược triển khai cuộc cách mạng quân sự mới đã tăng cường bố trí lực lượng quân sự ở các vùng biên giới. 4 – Vấn đề chống tham nhũng, lãng phí:
Hội nghị Trung ương 4 khoá IX đã khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải tiếp tục đầy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ trung tâm trước mắt là chống tham nhũng, lãng phí đã được đặt ra từ Hội nghị Trung ương (lần 2) khoá VIII.
Tôi đồng ý với đánh giá nêu trong dự thảo trình Hội nghị Trung ương 9: trong 3 năm vừa qua, tuy có phát hiện và xử lý một số vụ tiêu cực, nhưng cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, chưa có chuyển biến căn bản.
Cho đến nay, nạn tham nhũng, lãng phí vẫn chưa được chặn đứng và đẩy lùi. Sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận không ít đảng viên, cán bộ vẫn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều vụ việc tiêu cực có liên quan đến các cán bộ và cơ quan chuyên chính của Đảng và Nhà nước đều do nhân dân phát hiện.
Chưa thấy một đảng viên nào tự giác nhận trách nhiệm hoặc một cấp uỷ đảng nào phát hiện nội bộ có tham nhũng.
Tôi đề nghị Trung ương và Bộ Chính trị cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao vừa qua ta đã có nghị quyết, có pháp lệnh, có cuộc vận động chống tham nhũng, lãng phí trong toàn Đảng và các cơ quan Nhà nước mà những tệ nạn này vẫn phát triển phức tạp và nghiêm trọng, đặc biệt là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản, tài chính doanh nghiệp, sử dụng ngân sách Nhà nước … Lối sống cơ hội vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy dự án, chạy vốn, chạy tội …. Việc xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên có những hoạt động sai trái, tiêu cực không nghiêm minh.
Chống tham nhũng, lãng phí và những việc phạm pháp, tiêu cực khác là chống “giặc nội xâm” chỉ có thể thành công nếu biết dựa vào dân như Bác Hồ đã dạy. Bởi vậy, cần có cơ chế thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch để đảng viên và nhân dân giám sát, thu hút được sự tham gia rộng rãi của toàn dân và cả hệ thống chính trị – xã hội mới có thể ngăn chặn được những tệ nạn đó. Đã gọi là “giặc nội xâm” thì phải kiên quyết xử lý, trừng trị nghiêm khắc, tiêu trừ bằng được.
5 – Về nhiệm vụ then chốt: xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Tôi đồng ý với nhận định của Dự thảo là công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vừa qua chưa đạt yêu cầu; chưa chú trọng đến công tác chính trị và tư tưởng để cho chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng tồn tại kéo dài. Các cấp uỷ Đảng thiếu tính chiến đấu, thiếu tinh thần tự phê bình và phê bình, không có sự thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh. Hiện tượng thiếu dân chủ, chuyên quyền độc đoán trong Đảng, tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức Đảng, coi thường kỷ cương phép nước của cán bộ đảng viên, làm mất lòng tin của dân đã thực sự là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng.
Đảng ta xác định: xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Bởi vì, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, có chệch hướng hay không, nhân tố quyết định là Đảng có vững mạnh không, có kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hay không; cán bộ, đảng viên có thật sự vì nước, vì dân hay không.
Một Đảng tiên phong, trước hết phải có đường lối đúng. Vì vậy, đề nghị Trung ương coi trọng hơn nữa công tác lý luận: Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống các xu hướng tả khuynh giáo điều cũng như hữu khuynh cơ hội, kiên trì đưa đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) coi trọng xây dựng Đảng cả về quan điểm chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống, không cho phép chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị tồn tại và lũng đoạn Đảng, lũng đoạn các cơ quan Nhà nước.
6 – Về công tác cán bộ:
Muốn xây dựng Đảng mạnh thì công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định.
Dự thảo báo cáo đã nêu: Công tác cán bộ hiện nay còn nhiều yếu kém, bất cập. Việc đánh giá và quản lý cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, chậm được khắc phục. Chậm xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài.
Đảng ta đã nêu rõ: cán bộ tốt là cán bộ có đức, có tài.
Công tác cán bộ cần định ra chuẩn mực và cơ chế đánh giá để tuyển chọn một cách dân chủ và công bằng những cán bộ có đức, có tài, loại bỏ bằng được mọi quyết định chuyên quyền độc đoán, áp đặt, chỉ lựa chọn những người thân quen để tạo ra bè cánh trong Đảng. Xây dựng quy chế tham gia giám sát của nhân dân và đảng viên, quy chế thanh tra, kiểm tra của các cơ quan lập pháp. Xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và kỷ luật của Đảng.
Mọi ý kiến phản ánh và chất vấn của đảng viên và nhân dân đối với tình hình nội bộ Đảng, đối với cấp uỷ, kể cả đối với các cán bộ cấp cao của Đảng phải được trả lời và giải quyết minh bạch.
7 – Vê công tác bảo vệ chính trị nội bộ:
Dự thảo báo cáo đã nêu khuyết điểm: chậm kết luận rõ một số trường hợp, một số vấn đề tồn tại cũ và mới phát sinh.
Đề nghị Hội nghị Trung ương lần này cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Đảng kéo dài ở cấp Trung ương mà Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã thấy rõ và đã có Nghị quyết khẳng định phải giải quyết nhưng cho đến nay vẫn để tồn tại không giải quyết.
Điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng cục II thuộc Bộ Quốc Phòng. Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục II đã có những hoạt động phá hoại Đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức kéo dài hàng chục năm đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, sử dụng những thông tin sai lệch để phá rối và chia rẽ nội bộ, cố tình gây ra bè phái trong Đảng, tạo ra chứng cứ giả để hãm hại những cán bộ tốt của Đảng, vi phạm nghiêm trọng đến điều lệ của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước và kỷ luật của quân đội. Đương nhiên, trong Tổng cục vẫn có một số cán bộ tốt đã bị lợi dụng. Tôi đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương kiên quyết kiểm tra và xử lý nghiêm minh, dứt điểm. Không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu Chính phủ. Không thể để Tổng cục II tồn tại với quyền hạn quá rộng như Nghị quyết 96/CP đã cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu như trước đây.
Việc bảo đảm an ninh nội bộ sẽ giao cho Ban bảo vệ chính trị nội bộ phụ trách dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị.
Vấn đề chấn chỉnh Tổng cục II liên quan sâu sắc đến tình hình chung của toàn Đảng, không chỉ là vấn đề cụ thể của một cơ quan, cũng không phải là vấn đề riêng của Bộ Quốc phòng, mà là vấn đề có liên quan đến thành bại của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại trong Đảng từ trước tới nay.
Đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ diễn ra cuối khoá VI trước thềm Đại hội VII mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khoá VI đã bàn giao cho Trung ương khoá VII gii quyết.
Nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khoá VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khoá IX. Bộ Chính trị khoá IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận. T4 là một vụ án chính trị “siêu nghiêm trọng” vi phạm kỷ luật của quân đội.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương 9 khoá IX xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất cứ cương vị nào. Và thông báo công khai cho Ban Chấp hành Trung ưng khoá IX, cho các đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban kiểm tra Trung ương các khoá trước.
Kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đòi hỏi không được phép bao che, né tránh, làm qua loa, mà phải kiên quyết xử lý cả những kẻ bao che.
Cuối thư, xin chúc Hội nghị Trung ương 9 với tinh thần trách nhiệm cao, nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ thành tựu đồng thời thấy rõ những mặt tồn tại yếu kém, đề ra được những chủ trương sát đúng, đưa nền kinh tế và xã hội nước ta phát triển nhanh hơn và vững hơn nữa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có hiệu quả rõ rệt, nhất là chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Thắng lợi của Hội nghị Trung ương 9 lần này còn có ý nghĩa chuẩn bị một bước cho Đại hội X. Do vậy, mong rằng toàn thể các đồng chí uỷ viên Trung ương nhận rõ trách nhiệm lớn, luôn noi gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa Hội nghị đến thành công lớn.
Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
Ngày 3 tháng 1 năm 2004
Thân ái
Võ Nguyên Giáp
Hoàng Văn Hoan
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Văn Hoan (1905–1991) là một chính trị gia của Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Sau khi bị thất sủng vì quan điểm thân Trung Quốc, ông đã đào tẩu sang Trung Quốc trong bối cảnh Việt Nam đang có xung đột với nước này và sống ở đó đến cuối đời.
Tiểu sử
Hoàng Văn Hoan sinh trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó tham gia hoạt động cách mạng lúc 19 tuổi.
Năm 1926, ông dự lớp huấn luyện chính trị do Hồ Chí Minh chủ trì tại Quảng Châu.
Năm 1928, ông hoạt động cách mạng ở Thái Lan, gia nhập Đảng Cộng sản Xiêm (1930) và năm 1934 được cử làm Ủy viên Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Xiêm (gọi tắt là Xiêm ủy).
Năm 1936, tham gia lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (bấy giờ gọi tắt là Đồng Minh Hội) ở Nam Kinh.
Năm 1941, ông được phái đi Long Châu lập Biện sự xứ của Đồng Minh Hội ở Long Châu, rồi lại về Tịnh Tây, cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lĩnh và một số người trong nước ra công khai hoạt động với danh nghĩa Việt Minh, mới được thành lập trong nước.
Tháng 5 năm 1941 về Pác Bó tham gia Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám và được chỉ định làm Ủy viên Tổng bộ Việt Minh.
Đầu năm 1945, tại hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (Tuyên Quang), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Khu giải phóng Việt Bắc. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chính trị viên Vệ quốc quân toàn quốc.
Năm 1946, được cử làm Bí thư Khu ủy, Đại biểu Chính phủ Trung ương và Chủ nhiệm Việt Minh tại Liên khu 4. Theo Sắc lệnh SL53 ngày 24 tháng 4 năm 1946, ông thay Hoàng Đạo Thúy làm Cục trưởng Cục Chính trị cho tới cuối năm đó.
Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ.
Năm 1951 ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa I (1958) được bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời làm Chủ nhiệm Ủy ban dự thảo Pháp luật Quốc hội. Ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến năm 1979.
Năm 1961, ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội một thời gian ngắn, rồi giữ chức Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng, Trưởng Ban pháp chế Trung ương Đảng, đồng thời phụ trách chỉ đạo Ban CP 38 về công tác Lào, Miên...
Năm 1976, Hoàng Văn Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vì không còn được Lê Duẩn tín dụng nữa.
Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 rồi sang Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, ông tố cáo chính quyền Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái" . Sau sự kiện bỏ trốn, ông bị Việt Nam kết án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội, đài báo Việt Nam so sánh ông với Lê Chiêu Thống. Đó là thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng và chiến tranh biên giới Việt-Trung vừa xảy ra hồi đầu năm.
Năm 1988, ông xuất bản hồi ký Giọt nước trong biển cả
Hoàng Văn Hoan mất tại Bắc Kinh năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông, thi hài được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Gần đây một phần hài cốt của ông đã được chuyển về quê hương tại Việt Nam.
Con trai Hoàng Nhật Tân
Con trai ông là Hoàng Nhật Tân (1926-2014) - bút danh Hoàng Thanh Đạm, là nhà nghiên cứu sử học, và dịch giả, dịch một số cuốn tiêu biểu như Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu, và Bàn về khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau, Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2004,...Số phận ông Hoàng Văn Hoan
| Ông Hoàng Văn Hoan làm phó Chủ tịch UB Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV |
Sau 30
năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình
thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá... sau một cuộc xung đột vũ
trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ
cộng sản.
Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, người
bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.
Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên,
đã kể nhiều chi tiết 'đầy sóng gió' về số phận của họ.
'Bình phản án tử hình'
Người cháu ông Hoan cho biết:
"Ông Hoan có một người con trai duy
nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất
kém, mà do mới đột
quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm
nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha
ông nhưng đều không được."
"Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây
giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai."
"Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng 'Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị', nhưng
cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn".
Cuộc chạy trốn bí mật
Cuốn sách 'Giọt nước trong biển cả' của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết
rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.
Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng "nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong".
Vì thế ông quyết định khi tới
Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung
Quốc. Trung Quốc đã mổ
thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12
năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn 'Giọt nước
trong biển cả.'
Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói
rằng việc làm của ông là 'thiên thu định luận', tức một nghìn năm sau
thì sẽ rõ. Sau đó,
ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là 'Thiên thu định
luận', 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước
vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.
| Ông Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ hai sau Hồ Chí Minh |
Vẫn theo
lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong
vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn,
trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng
sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo
cho đến phút chót.
"Người nhà cứ hai, ba ngày thay
phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc,
Việt Nam vào thời điểm
đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình
luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ,
Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc
đó, có gì giống nhau, khác nhau,"
"Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước,
ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc."
Nghĩa tử, nghĩa tận
Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ
của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.
Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi
cùng.
"Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống,
cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về."
"Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình.
Do đó không có vấn đề gì,"
"Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì
gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc
Việt Nam chuẩn bị
kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu
có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông
Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt
tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính
khách."
Người cháu của ông kể tiếp:
"Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là
một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở
Hà Nội, giỏi cả
tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật
lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện 'cụ Hồ có con
riêng' có đúng hay không,"
Yêu đảng, yêu nước
Ông Hoan bảo: "Bảo ông ta về nước
đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!." Ông Hoan là người rất
kín kẽ, ông không
bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng.
Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói
chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị
cả.
Vẫn theo lời thân nhân của ông,
"Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuyện này, chuyện kia, như
là người ta đồn
ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên
tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không
làm chuyện gì khuất tất."
Ông Hoan muốn giải thích trong sách
rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng
đã có người phản
bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận
thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng
chứng, quan điểm.
Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất
tốt.
"Phản biện lại những dư luận từ nhà
nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu
Thống v.v..., ông
đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không
phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng
ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được,
còn định ngay lúc đó thì khó," người cháu ông Hoan kể.
'Chính trị phải thế'
"Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể
đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,"
"Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông
Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời
điểm bấy giờ. Chính
trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng
đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt
Nam," người cháu nhận xét.
| Chuyến thăm của tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 ấn định số phận cuộc chiến Việt Nam |
Về câu
hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với
Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông
Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng
nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện
trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai
cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.
"Đường lối của ông Hồ là sau hoà
bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân,
phải tránh chiến
tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v... Ông
Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai
cuộc chiến."
Người cháu ông Hoan cho BBC biết
quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. "Cả hai
ông Giang Trạch Dân
và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang
ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng.
Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt
tình, đề cao ông Hoan."
"Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ
rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em."
Bi kịch cha con
Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con,
Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.
Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân
học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của
Khrushchev hay,
ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt
Nam, thi hành kỷ luật, cho 'đi đầy' một năm, hai năm gì đó, xong rồi
cho phục hồi.
"Vừa được phục hồi, nghe đâu đang
làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi
Trung Quốc (1979), cho
nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ.
Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,"
"Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào
đó,"
"Thời các năm 1991, 1992 cho tới
1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi
đâu, cũng có ít nhất
một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng
thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân."
'Chăm sóc đặc biệt'
Cuộc sống gia đình rất phức tạp và
là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của
mình. Một người
con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông
Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin
mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.
Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm
Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung và Viện trưởng, phải
đứng ra bảo lãnh
thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên
mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).
Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà
Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.
Về lý do người ta đưa ông con trai
cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể
do lý do 'an toàn'
nào đó. "Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị
ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng."
"Về kinh tế, tài chính thì những năm
đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc
không biết ở các
gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan
có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy."
"Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả."
Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân,
con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.
Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.
| Ông Hoan sống ở một căn nhà trong khu Di Hoà Viên nhiều năm |
"Nhưng
người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng
chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới
Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng
ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết," người cháu ông Hoan
kể tiếp.
Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau
bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.
'Không có bản án?'
Đến tận hôm nay, có một điều gia
đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã
bình thường hoá quan
hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn,
mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được
huỷ bỏ.
"Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ,
ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án 'xử tử vắng
mặt' đối với cha
mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày
với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời
rằng không có văn bản nào cả."
"Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà
Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. "
"Hồi đó người ta cũng không thông
báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên
đài báo, không có
thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm
tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có
một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm
việc đó cả."
Trong lòng quê hương
Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa
trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ
vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông
Hoan được để ở một
chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn
Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con
đường sông Hồng.
Vẫn theo lời kể của người cháu,
một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở
làng Quỳnh Đôi,
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít
tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng
mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó
có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.
| Trên quê hương Quỳnh Đôi của ông Hoan ngày nay |
Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị,
phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.
Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:
"Gần đây có một diễn biến và biểu
hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình
ảnh của ông Hoan
hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc
bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông
Hồ thì họ xoá sạch."
Hoàng Văn Hoan - chân dung một kẻ phản bội Tổ quốc.
|
Hoàng Văn Hoan (1905–1991) là một chính trị gia của Việt Nam, nguyên Ủy
viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó
chủ tịch Quốc hội Việt Nam.
Hoàng Văn Hoan sinh trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó tham gia hoạt động cách mạng lúc 19 tuổi. Từng là Ủy viên Tổng bộ Việt Minh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chính trị viên Vệ quốc quân toàn quốc. Năm 1950, Hoàng Văn Hoan trở thành đại sứ đầu tiên Việt Nam tại Trung Quốc. Năm 1961, Hoàng Văn Hoan là bí thư thành ủy Hà Nội. Ông giữ chức Phó chủ tịch Quốc hội đến năm 1979 Năm 1979, khi cuộc chiến tranh Trung - Việt bắt đấu diễn ra, Hoàng Văn Hoan đi Đông Đức chữa bệnh, rồi Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 rồi sang Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, ông tố cáo chính quyền Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái" .Sau sự kiện bỏ trốn, ông bị Nhà nước kết án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội, đài báo so sánh ông với Lê Chiêu Thống hay Trần Ích Tắc. Đó là thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng và chiến tranh biên giới Việt-Trung vừa xảy ra hồi đầu năm. Năm 1988, ông xuất bản hồi ký "Giọt nước giữa biển cả" Hoàng Văn Hoan mất tại Bắc Kinh năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông, thi hài được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. " Giọt nước trong biển cả " : Giọt nước trong biển cả là tựa quyển Hồi kí mới ra đời của Hoàng Văn Hoan (HVH), (1987 Hồi kí, tập 1, không ghi nhà xuất bản và giá bán). Năm 1979, ông li khai khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), trốn sang Bắc Kinh tị nạn, tại đây ông đã công khai ra mặt chống lại ban lãnh đạo đảng mình. HVH không phải là kẻ tầm thường. Vốn là bạn đồng hành của Hồ Chí Minh ngay từ những giờ phút đầu tiên, ông đã lần lượt có mặt ở những địa điểm then chốt của cuộc Cách mạng Đông Dương như Xiêm, Trung Quốc, Việt Nam. Nhân viên trong Bộ Chính trị từ 1956 đến 1976, ông giữ một địa vị quan trọng trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Khiêm nhượng thật hay giả vờ khiêm nhượng, ông tự ví mình như giọt nước trong biển cả của phong trào cách mạng mà ông đã tham gia từ hơn năm mươi năm nay. Cuốn sách này được phổ biển rộng rãi trên mạng Internet. Bài viết chỉ mang tính giới thiệu về con người Hoàng Văn Hoan cho các bạn trẻ thế hệ sau biêt về một kẻ từng là Đảng viên ĐCS, nhưng đã phản bội Tổ quốc để chạy theo kẻ thù dân tộc lúc khó khăn. Quote:Hoàng Văn Hoan là kẻ phản bội. Có người vẫn cho rằng ông ta là người yêu nước nhưng yêu nước mà bỏ nước theo kẻ thù thì tôi không hiểu là yêu nước kiểu gì. Ông ta thân Tàu một cách mù quáng. Ủng hộ cả bọn Pol Pot là tay sai của Tàu. Chắc khi Đặng Tiểu Bình mang quân xâm lược VN, giết chóc đốt phá đất đai của dân tộc ông ta cũng ung dung ngồi trong biệt thự ở Bắc Kinh mà vỗ tay tán thưởng.- trích lại comment mà mình thấy rất đúng trên diễn đàn hoangsa.org ! |
Hồ Sơ Đặc Biệt - Những Y' Kiên Nội Bộ Của Các Cán Bộ Lão Thành.
Ngày 27/05/2004
|
Nhận xét
Đăng nhận xét