ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 25

-Trăm năm bia đá thì mòn 
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ! 


--------------------------------------------------
 (ĐC sưu tầm trên NET)

Thư của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Kính gửi
Ban Chấp hành Trung ương,
Đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
Thời gian qua, tôi vào miền Nam nên không dự được cuộc họp ngày 5 và 6 tháng 12 do Bộ Chính trị triệu tập. Tôi đã đọc và nghiên cứu các bản dự thảo, báo cáo chuẩn bị trình Hội nghị Trung ương 9 khoá IX:
- Báo cáo kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
- Báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
- Báo cáo tình hình thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 4 khoá IX về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí trong 2 năm qua.
Tôi nhận thấy, các dự thảo văn kiện nói trên được chuẩn bị tích cực, tiếp cận sát hơn tình hình thực hiện trong nước và thế giới, không chỉ nêu lên những thành tích mà còn nói rõ những tiềm năng chưa được khai thác và những khuyết điểm tồn tại khá trầm trọng. Nhìn chung, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đất nước tiếp tục phát triển ổn định trong tình hình có nhiều khó khăn mới. Điều đó cho thấy công cuộc đổi mới đang phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, tôi đồng ý với nhận định của dự thảo là nền kinh tế phát triển chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng chưa tương xững với mức tăng đầu tư và tiềm năng của đất nước; mặt xã hội chuyển biến chậm, hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí sa sút về đạo đức vẫn diễn ra phức tạp, có phần nghiêm trọng.
Tôi đề nghị, cần phải phân tích nguyên nhân của những mặt tồn tại, yếu kém, làm rõ hơn những vấn đề cần tập trung thực hiện bằng được trong hai năm còn lại. Cần làm rõ vì sao có nhiều Nghị quyết đúng, nhiều chủ trương đúng nhưng không được thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả.
Sau đây, tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến về kinh tế, về giáo dục và khoa học, về quốc phòng, an ninh và về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
1 – Về nhiệm vụ trung tâm là xây dựng kinh tế: Vừa qua, mức tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2001 - 2003) đạt khoảng 7,1%/năm, tuy chưa đạt mức Đại hội IX đề ra là 7,5%/năm, nhưng vấn đề là một cố gắng lớn trong tình hình khu vực và thế giới đang có những diễn biến phức tạp. Nếu biết huy động và sử dụng tốt nguồn nội lực, chúng ta hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng dự kiến của Đại hội. Nhưng phải thấy rằng, cho dù có đạt được tỷ lệ ấy thì đến năm 2020, nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển ngay trong nhóm các nước ASEAN, vẫn còn thua Thái Lan khoảng 20 năm về chỉ tiêu GDP/người, nếu so với các nước OECD thì còn tụt hậu xa hơn nhiều. (Hiện nay, GDP/người của Việt Nam là 400USD/người bằng 1/3 Thái Lan, 1/50 Singapore, 1/70 Mỹ). Tôi đề nghị, Hội nghị nên thảo luận vì sao ta không thực hiện được tỷ lệ tăng trưởng cao hơn. Cần có những chủ trương và biện pháp gì để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy được nội lực, lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
Chắn chắn trong những năm sắp tới, với sự phát triển gia tốc của cách mạng khoa học và công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, với nhịp độ phát triển nhanh của các nước trong khu vực và tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá, với xu hướng diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, nước ta sẽ phải đương đầu với những khó khăn và thách thức mới khó lường trước được.
Mong rằng, những phương hướng và chủ trương đúng đắn của Hội nghị Trung ương 9 sẽ được triển khai thực hiện kiên quyết hơn và có hiệu quả hơn.
2 – Về giáo dục và khoa học:
Chúng ta đều thống nhất nhận thức rằng: Khâu đột phá để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững là giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ. Lĩnh vực mà Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định là quốc sách hàng đầu, có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội hiện nay và tương lai của đất nước 40 – 50 năm sau, lại đang là vấn đề gây lo lắng cho toàn xã hội. Vừa qua, cuộc hội thảo lớn do Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng báo Nhân dân phối hợp tổ chức đã cho thấy rõ hiện trạng yếu kém và bất cập của nền giáo dục nước ta.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương cần phân tích kỹ nguyên nhân vì sao một chủ trương rất đúng coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu lại không được thể hiện trên thực tế, mặc dù đã có chiến lược được Chính phủ phê chuẩn.
Về vấn đề này, trước đây tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị đề nghị: cần thiết phải có một cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng. Đây chính là vấn đề quan trọng nhất liên quan đến chiến lược con người.
Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức, cần phải đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại hoá và tin học hoá hệ thống giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ khoa học với nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội. Cuối năm 2000, Trung ương đã có chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hệ thống giáo dục đào tạo vẫn còn hạn chế, còn kém so với các nước trong vùng (1). Để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục, cần có chủ trương và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các nhà doanh nghiệp được tiếp cận dễ dàng và rộng rãi với mạng máy tính và Internet để phục vụ cho giảng dạy, học tập nghiên cứu và kinh doanh.
Nếu không kiên quyết thực hiện bằng được chủ trương: Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu thì những mục tiêu trọng yếu mà Hội nghị Trung ương lần này nêu ra như đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển kinh tế bền vững … chắc chắn không thể thực hiện được.
Để thực hiện cuộc cải cách giáo dục có tính cách mạng, cần tổ chức lại hệ thống giáo dục và đào tạo.
Tôi kiên trì đề nghị tách Bộ Giáo dục và Đào tạo thành hai Bộ: Bộ Đại học và Bộ Giáo dục do đối tượng của mỗi Bộ rất khác và rất lớn, sắp tới phải mở rộng không những cấp phổ thông mà còn cấp cao đẳng, đại học. Tách bộ phận dạy nghề khỏi Bộ Lao động và Thương binh Xã hội. Thành lập Tổng cục dạy nghề trực thuộc Chính phủ và có quan hệ với hai Bộ nói trên. Đồng thời, kiện toàn tổ chức và cán bộ của các cơ quan lãnh đạo quan trọng đó để triển khai có hiệu quả công cuộc cải cách giáo dục.
Trong hai năm tới, cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để tạo được một bước đột phá trong hoạt động khoa học và công nghệ.
Trước mắt, tập trung nghiên cứu và tiếp thu công nghệ hiện đại, đặc biệt là một số lĩnh vực công nghệ cao, từng bước hình thành một hệ thống công nghệ đồng bộ để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn kết khoa học với kinh tế. Các doanh nghiệp phải có lộ trình đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực hợp tác khu vực và thế giới (AFTA, WTO, APEC, ASEAN 2020 …) Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền khoa học nước nhà, cần chú ý đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, phát triển một số hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới (công nghệ nano), công nghệ chế tạo và tự động hoá … Cần có kế hoạch đào tạo để sớm khắc phục sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ giáo dục, cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành.
3 – Về quốc phòng và an ninh:
Tôi đã có văn bản gửi Bộ Chính trị những ý kiến cụ thể đóng góp vào Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và đã nêu ý kiến trực tiếp với đồng chí Trần Đức Lương.
a) Tôi đã nhiều lần đề nghị chú trọng vấn đề lãnh hải, biển - đảo, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có sự quan tâm. Phương hướng cho hai năm tới trong dự thảo báo cáo trình Hội nghị Trung ương 9 lần này cũng không đề cập tới.
Lãnh thổ nước ta không chỉ có vùng đất liền mà còn có cả vùng lãnh hải. Chúng ta có nhiệm vụ bảo đảm chủ quyền quốc gia không những trên bộ, trên không mà cả trên vùng lãnh hải. Vùng lãnh hải với thềm lục địa, đặc quyền kinh tế và an ninh quốc phòng có tầm quan trọng ngày càng lớn.
Các nước lớn trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương coi thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương. Nhiều nước đã hoạch định chiến lược tổng thể về biển với những chủ trương và chính sách cụ thể liên quan đến chủ quyền lãnh hải, an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Trung Quốc xác định: để mở rộng không gian sinh tồn, việc tiến ra biển khơi, khai thác nguồn tài nguyên biển liên quan đến khả năng tiếp tục phát triển và sự tồn vong của dân tộc Trung Hoa; Trung Quốc đang ra sức tăng cường lực lượng hải quân và không quân để giành quyền kiểm soát trên không và trên biểu ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Biển Đông, và luôn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Nhật Bản khẳng định quốc sách bảo đảm tuyến giao thông trên biển 1000 hải lý. Mỹ coi việc bảo đảm an toàn tuyến đường vận chuyển nối liền Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương là một bộ phận quan trọng trong chiến lược địa lý – chính trị toàn cầu và chiến lược quốc gia về chủ quyền và an ninh trên biển.
Mục tiêu địa lý – chính trị phức tạp của các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với cuộc đấu tranh giành giật chủ quyền lãnh hải và khai thác tài nguyên ở biển và đại dương sẽ tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện chiến lược khu vực và toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Tôi đề nghị cần sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược toàn diện về lãnh hải của nước ta từ nay đến năm 2010 và 2020 trên nguyên tắc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đồng thời, có kế hoạch triển khai từng bước thiết thực và có hiệu quả.
Cần có một cơ quan Nhà nước mang tính liên ngành để lãnh đạo và điều phối chung các hoạt động kinh tế và quốc phòng trên vùng lãnh hải.
Trước mắt, cần tổ chức các đội tầu, thuyền đánh bắt cá và khai thác tài nguyên xa bờ kết hợp với lực lượng hải quân để giữ vững chủ quyền và an ninh trên vùng lãnh hải và quần đảo Trường Sa, không để cho các tầu thuyền nước ngoài xâm phạm.
b) Trong chiến lược phát triển các vùng lãnh thổ của đất nước, việc mở mang phát triển các vùng miền núi, nơi tập trung các đồng bào dân tộc ít người sinh sống, là vấn đề có tầm quan trọng trong chiến lược về chính trị, kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Trong việc đầu tư phát triển các vùng miền nói chung Trung ương đã chú trọng, song cần chú trọng hơn nữa đến vùng căn cứ địa Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang).
Trước mắt, ở Cao Bằng, cần mở mang hệ thống giao thông (đường số 3, sân bay …) tạo điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế và cải thiện đời sống nhân dân, từng bước xây dựng tỉnh Cao Bằng – “ngôi sao cách mạng của Việt Bắc” nơi Bác Hồ đã từ nước ngoài trở về đây để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, thành một địa bàn mà nhân dân nhất là thanh niên có thể có đủ điều kiện thăm viếng, hơn nữa có thể tổ chức thành khu du lịch quan trọng đối với các khách trong nước và quốc tế.
Vấn đề này có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và cả về quốc phòng, an ninh của nước ta. Hoặc bên kia biên giới, nước bạn đã xây dựng tuyến đường cao tốc xuyên Á nối với Thái Lan, với Myanmar và Ấn Độ Dương, và gần đây trong chiến lược triển khai cuộc cách mạng quân sự mới đã tăng cường bố trí lực lượng quân sự ở các vùng biên giới. 4 – Vấn đề chống tham nhũng, lãng phí:
Hội nghị Trung ương 4 khoá IX đã khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải tiếp tục đầy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ trung tâm trước mắt là chống tham nhũng, lãng phí đã được đặt ra từ Hội nghị Trung ương (lần 2) khoá VIII.
Tôi đồng ý với đánh giá nêu trong dự thảo trình Hội nghị Trung ương 9: trong 3 năm vừa qua, tuy có phát hiện và xử lý một số vụ tiêu cực, nhưng cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, chưa có chuyển biến căn bản.
Cho đến nay, nạn tham nhũng, lãng phí vẫn chưa được chặn đứng và đẩy lùi. Sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận không ít đảng viên, cán bộ vẫn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều vụ việc tiêu cực có liên quan đến các cán bộ và cơ quan chuyên chính của Đảng và Nhà nước đều do nhân dân phát hiện.
Chưa thấy một đảng viên nào tự giác nhận trách nhiệm hoặc một cấp uỷ đảng nào phát hiện nội bộ có tham nhũng.
Tôi đề nghị Trung ương và Bộ Chính trị cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao vừa qua ta đã có nghị quyết, có pháp lệnh, có cuộc vận động chống tham nhũng, lãng phí trong toàn Đảng và các cơ quan Nhà nước mà những tệ nạn này vẫn phát triển phức tạp và nghiêm trọng, đặc biệt là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản, tài chính doanh nghiệp, sử dụng ngân sách Nhà nước … Lối sống cơ hội vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy dự án, chạy vốn, chạy tội …. Việc xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên có những hoạt động sai trái, tiêu cực không nghiêm minh.
Chống tham nhũng, lãng phí và những việc phạm pháp, tiêu cực khác là chống “giặc nội xâm” chỉ có thể thành công nếu biết dựa vào dân như Bác Hồ đã dạy. Bởi vậy, cần có cơ chế thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch để đảng viên và nhân dân giám sát, thu hút được sự tham gia rộng rãi của toàn dân và cả hệ thống chính trị – xã hội mới có thể ngăn chặn được những tệ nạn đó. Đã gọi là “giặc nội xâm” thì phải kiên quyết xử lý, trừng trị nghiêm khắc, tiêu trừ bằng được.
5 – Về nhiệm vụ then chốt: xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Tôi đồng ý với nhận định của Dự thảo là công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vừa qua chưa đạt yêu cầu; chưa chú trọng đến công tác chính trị và tư tưởng để cho chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng tồn tại kéo dài. Các cấp uỷ Đảng thiếu tính chiến đấu, thiếu tinh thần tự phê bình và phê bình, không có sự thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh. Hiện tượng thiếu dân chủ, chuyên quyền độc đoán trong Đảng, tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức Đảng, coi thường kỷ cương phép nước của cán bộ đảng viên, làm mất lòng tin của dân đã thực sự là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng.
Đảng ta xác định: xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Bởi vì, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, có chệch hướng hay không, nhân tố quyết định là Đảng có vững mạnh không, có kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hay không; cán bộ, đảng viên có thật sự vì nước, vì dân hay không.
Một Đảng tiên phong, trước hết phải có đường lối đúng. Vì vậy, đề nghị Trung ương coi trọng hơn nữa công tác lý luận: Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống các xu hướng tả khuynh giáo điều cũng như hữu khuynh cơ hội, kiên trì đưa đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) coi trọng xây dựng Đảng cả về quan điểm chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống, không cho phép chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị tồn tại và lũng đoạn Đảng, lũng đoạn các cơ quan Nhà nước.
6 – Về công tác cán bộ:
Muốn xây dựng Đảng mạnh thì công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định.
Dự thảo báo cáo đã nêu: Công tác cán bộ hiện nay còn nhiều yếu kém, bất cập. Việc đánh giá và quản lý cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, chậm được khắc phục. Chậm xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài.
Đảng ta đã nêu rõ: cán bộ tốt là cán bộ có đức, có tài.
Công tác cán bộ cần định ra chuẩn mực và cơ chế đánh giá để tuyển chọn một cách dân chủ và công bằng những cán bộ có đức, có tài, loại bỏ bằng được mọi quyết định chuyên quyền độc đoán, áp đặt, chỉ lựa chọn những người thân quen để tạo ra bè cánh trong Đảng. Xây dựng quy chế tham gia giám sát của nhân dân và đảng viên, quy chế thanh tra, kiểm tra của các cơ quan lập pháp. Xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và kỷ luật của Đảng.
Mọi ý kiến phản ánh và chất vấn của đảng viên và nhân dân đối với tình hình nội bộ Đảng, đối với cấp uỷ, kể cả đối với các cán bộ cấp cao của Đảng phải được trả lời và giải quyết minh bạch.
7 – Vê công tác bảo vệ chính trị nội bộ:
Dự thảo báo cáo đã nêu khuyết điểm: chậm kết luận rõ một số trường hợp, một số vấn đề tồn tại cũ và mới phát sinh.
Đề nghị Hội nghị Trung ương lần này cần kiểm điểm nghiêm khắc vì sao tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Đảng kéo dài ở cấp Trung ương mà Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã thấy rõ và đã có Nghị quyết khẳng định phải giải quyết nhưng cho đến nay vẫn để tồn tại không giải quyết.
Điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng cục II thuộc Bộ Quốc Phòng. Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục II đã có những hoạt động phá hoại Đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức kéo dài hàng chục năm đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, sử dụng những thông tin sai lệch để phá rối và chia rẽ nội bộ, cố tình gây ra bè phái trong Đảng, tạo ra chứng cứ giả để hãm hại những cán bộ tốt của Đảng, vi phạm nghiêm trọng đến điều lệ của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước và kỷ luật của quân đội. Đương nhiên, trong Tổng cục vẫn có một số cán bộ tốt đã bị lợi dụng. Tôi đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương kiên quyết kiểm tra và xử lý nghiêm minh, dứt điểm. Không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu Chính phủ. Không thể để Tổng cục II tồn tại với quyền hạn quá rộng như Nghị quyết 96/CP đã cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu như trước đây.
Việc bảo đảm an ninh nội bộ sẽ giao cho Ban bảo vệ chính trị nội bộ phụ trách dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị.
Vấn đề chấn chỉnh Tổng cục II liên quan sâu sắc đến tình hình chung của toàn Đảng, không chỉ là vấn đề cụ thể của một cơ quan, cũng không phải là vấn đề riêng của Bộ Quốc phòng, mà là vấn đề có liên quan đến thành bại của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại trong Đảng từ trước tới nay.
Đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ diễn ra cuối khoá VI trước thềm Đại hội VII mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khoá VI đã bàn giao cho Trung ương khoá VII gii quyết.
Nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khoá VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khoá IX. Bộ Chính trị khoá IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận. T4 là một vụ án chính trị “siêu nghiêm trọng” vi phạm kỷ luật của quân đội.
Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương 9 khoá IX xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất cứ cương vị nào. Và thông báo công khai cho Ban Chấp hành Trung ưng khoá IX, cho các đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Uỷ ban kiểm tra Trung ương các khoá trước.
Kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đòi hỏi không được phép bao che, né tránh, làm qua loa, mà phải kiên quyết xử lý cả những kẻ bao che.
Cuối thư, xin chúc Hội nghị Trung ương 9 với tinh thần trách nhiệm cao, nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ thành tựu đồng thời thấy rõ những mặt tồn tại yếu kém, đề ra được những chủ trương sát đúng, đưa nền kinh tế và xã hội nước ta phát triển nhanh hơn và vững hơn nữa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có hiệu quả rõ rệt, nhất là chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Thắng lợi của Hội nghị Trung ương 9 lần này còn có ý nghĩa chuẩn bị một bước cho Đại hội X. Do vậy, mong rằng toàn thể các đồng chí uỷ viên Trung ương nhận rõ trách nhiệm lớn, luôn noi gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa Hội nghị đến thành công lớn.
Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
Ngày 3 tháng 1 năm 2004
Thân ái
Võ Nguyên Giáp



Hoàng Văn Hoan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Văn Hoan (19051991) là một chính trị gia của Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Sau khi bị thất sủng vì quan điểm thân Trung Quốc, ông đã đào tẩu sang Trung Quốc trong bối cảnh Việt Nam đang có xung đột với nước này và sống ở đó đến cuối đời.

Tiểu sử

Hoàng Văn Hoan sinh trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó tham gia hoạt động cách mạng lúc 19 tuổi.
Năm 1926, ông dự lớp huấn luyện chính trị do Hồ Chí Minh chủ trì tại Quảng Châu.
Năm 1928, ông hoạt động cách mạngThái Lan, gia nhập Đảng Cộng sản Xiêm (1930) và năm 1934 được cử làm Ủy viên Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Xiêm (gọi tắt là Xiêm ủy).
Năm 1936, tham gia lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (bấy giờ gọi tắt là Đồng Minh Hội) ở Nam Kinh.
Năm 1941, ông được phái đi Long Châu lập Biện sự xứ của Đồng Minh Hội ở Long Châu, rồi lại về Tịnh Tây, cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lĩnh và một số người trong nước ra công khai hoạt động với danh nghĩa Việt Minh, mới được thành lập trong nước.
Tháng 5 năm 1941 về Pác Bó tham gia Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám và được chỉ định làm Ủy viên Tổng bộ Việt Minh.
Đầu năm 1945, tại hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (Tuyên Quang), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Khu giải phóng Việt Bắc. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chính trị viên Vệ quốc quân toàn quốc.
Năm 1946, được cử làm Bí thư Khu ủy, Đại biểu Chính phủ Trung ương và Chủ nhiệm Việt Minh tại Liên khu 4. Theo Sắc lệnh SL53 ngày 24 tháng 4 năm 1946, ông thay Hoàng Đạo Thúy làm Cục trưởng Cục Chính trị cho tới cuối năm đó.
Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều TiênMông Cổ.
Năm 1951 ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa I (1958) được bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời làm Chủ nhiệm Ủy ban dự thảo Pháp luật Quốc hội. Ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến năm 1979.
Năm 1961, ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội một thời gian ngắn, rồi giữ chức Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng, Trưởng Ban pháp chế Trung ương Đảng, đồng thời phụ trách chỉ đạo Ban CP 38 về công tác Lào, Miên...
Năm 1976, Hoàng Văn Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vì không còn được Lê Duẩn tín dụng nữa.
Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 rồi sang Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, ông tố cáo chính quyền Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái" . Sau sự kiện bỏ trốn, ông bị Việt Nam kết án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội, đài báo Việt Nam so sánh ông với Lê Chiêu Thống. Đó là thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng và chiến tranh biên giới Việt-Trung vừa xảy ra hồi đầu năm.
Năm 1988, ông xuất bản hồi ký Giọt nước trong biển cả
Hoàng Văn Hoan mất tại Bắc Kinh năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông, thi hài được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Gần đây một phần hài cốt của ông đã được chuyển về quê hương tại Việt Nam.

Con trai Hoàng Nhật Tân

Con trai ông là Hoàng Nhật Tân (1926-2014) - bút danh Hoàng Thanh Đạm, là nhà nghiên cứu sử học, và dịch giả, dịch một số cuốn tiêu biểu như Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu, và Bàn về khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau, Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2004,...
Số phận ông Hoàng Văn Hoan  


Báo Nhân dân viết về bầu cử Quốc hội khóa IV
Ông Hoàng Văn Hoan làm phó Chủ tịch UB Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV
Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá... sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.
Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.
Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết 'đầy sóng gió' về số phận của họ.
'Bình phản án tử hình'
Người cháu ông Hoan cho biết:
"Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được."
"Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai."
"Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng 'Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị', nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn".
Cuộc chạy trốn bí mật
Cuốn sách 'Giọt nước trong biển cả' của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.
Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng "nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong".
Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn 'Giọt nước trong biển cả.'
Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là 'thiên thu định luận', tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là 'Thiên thu định luận', 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.
Ông Lê Duẩn, đầu tiên từ phải
Ông Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ hai sau Hồ Chí Minh
Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.
"Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,"
"Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc."
Nghĩa tử, nghĩa tận
Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.
Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.
"Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về."
"Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,"
 Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.
Lời Hoàng Văn Hoan được thuật lại
"Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách."
Người cháu của ông kể tiếp:
"Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện 'cụ Hồ có con riêng' có đúng hay không,"
Yêu đảng, yêu nước
Ông Hoan bảo: "Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!." Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.
Vẫn theo lời thân nhân của ông, "Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuyện này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất."
 Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em
Lời kể của thân nhân
Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.
Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.
"Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v..., ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó," người cháu ông Hoan kể.
'Chính trị phải thế'
"Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,"
"Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam," người cháu nhận xét.
Nixon thăm Trung Quốc năm 1972
Chuyến thăm của tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 ấn định số phận cuộc chiến Việt Nam
Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.
"Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v... Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến."
Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. "Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan."
"Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em."
Bi kịch cha con
Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.
Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho 'đi đầy' một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.
"Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,"
"Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,"
"Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân."
'Chăm sóc đặc biệt'
Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.
Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).
 Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội thì chắc có thể là để cho an toàn gì đó
Cháu ông Hoàng Văn Hoan
Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.
Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do 'an toàn' nào đó. "Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng."
"Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy."
"Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả."
Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.
Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.
Một cảnh ở Trung Quốc
Ông Hoan sống ở một căn nhà trong khu Di Hoà Viên nhiều năm
"Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết," người cháu ông Hoan kể tiếp.
Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.
'Không có bản án?'
Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.
"Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án 'xử tử vắng mặt' đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả."
 Năm nào ông Tân cũng viết thư, viết đơn, đề nghị phản bình lại bản án
Cháu ông Hoàng Văn Hoan
"Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. "
"Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả."
Trong lòng quê hương
Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.
Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.
Chăm sóc ruộng rau ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An
Trên quê hương Quỳnh Đôi của ông Hoan ngày nay
Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.
Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:
"Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch."

Hoàng Văn Hoan - chân dung một kẻ phản bội Tổ quốc.
Hoàng Văn Hoan (1905–1991) là một chính trị gia của Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam.
[Image: 100415115414_hoangvanhoan_226x170_nocredit.jpg]
Hoàng Văn Hoan sinh trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó tham gia hoạt động cách mạng lúc 19 tuổi. Từng là Ủy viên Tổng bộ Việt Minh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chính trị viên Vệ quốc quân toàn quốc. Năm 1950, Hoàng Văn Hoan trở thành đại sứ đầu tiên Việt Nam tại Trung Quốc. Năm 1961, Hoàng Văn Hoan là bí thư thành ủy Hà Nội. Ông giữ chức Phó chủ tịch Quốc hội đến năm 1979

Năm 1979, khi cuộc chiến tranh Trung - Việt bắt đấu diễn ra, Hoàng Văn Hoan đi Đông Đức chữa bệnh, rồi Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 rồi sang Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, ông tố cáo chính quyền Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái" .Sau sự kiện bỏ trốn, ông bị Nhà nước kết án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội, đài báo so sánh ông với Lê Chiêu Thống hay Trần Ích Tắc. Đó là thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng và chiến tranh biên giới Việt-Trung vừa xảy ra hồi đầu năm.
Năm 1988, ông xuất bản hồi ký "Giọt nước giữa biển cả"
Hoàng Văn Hoan mất tại Bắc Kinh năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông, thi hài được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc.
[Image: Babaoshan_7855w.jpg]



" Giọt nước trong biển cả " :
Giọt nước trong biển cả là tựa quyển Hồi kí mới ra đời của Hoàng Văn Hoan (HVH), (1987 Hồi kí, tập 1, không ghi nhà xuất bản và giá bán). Năm 1979, ông li khai khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), trốn sang Bắc Kinh tị nạn, tại đây ông đã công khai ra mặt chống lại ban lãnh đạo đảng mình. HVH không phải là kẻ tầm thường. Vốn là bạn đồng hành của Hồ Chí Minh ngay từ những giờ phút đầu tiên, ông đã lần lượt có mặt ở những địa điểm then chốt của cuộc Cách mạng Đông Dương như Xiêm, Trung Quốc, Việt Nam. Nhân viên trong Bộ Chính trị từ 1956 đến 1976, ông giữ một địa vị quan trọng trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Khiêm nhượng thật hay giả vờ khiêm nhượng, ông tự ví mình như giọt nước trong biển cả của phong trào cách mạng mà ông đã tham gia từ hơn năm mươi năm nay.

Cuốn sách này được phổ biển rộng rãi trên mạng Internet.



Bài viết chỉ mang tính giới thiệu về con người Hoàng Văn Hoan cho các bạn trẻ thế hệ sau biêt về một kẻ từng là Đảng viên ĐCS, nhưng đã phản bội Tổ quốc để chạy theo kẻ thù dân tộc lúc khó khăn.
Quote:Hoàng Văn Hoan là kẻ phản bội. Có người vẫn cho rằng ông ta là người yêu nước nhưng yêu nước mà bỏ nước theo kẻ thù thì tôi không hiểu là yêu nước kiểu gì. Ông ta thân Tàu một cách mù quáng. Ủng hộ cả bọn Pol Pot là tay sai của Tàu. Chắc khi Đặng Tiểu Bình mang quân xâm lược VN, giết chóc đốt phá đất đai của dân tộc ông ta cũng ung dung ngồi trong biệt thự ở Bắc Kinh mà vỗ tay tán thưởng.
Suốt bao năm nay, con trai của ông ta (giờ cũng đã ngoài 80) vẫn kiên trì gửi đơn đến các cơ quan nhà nước đòi xóa bỏ bản án tử hình vắng mặt cho cha. Dưới áp lực của TQ, hiện nay một số hình ảnh của ông ta trên các trang web của đảng và chính phủ đã được phục hồi lại nhưng những bức ảnh chụp cạnh cụ Hồ thì vẫn bị xóa sạch. Bản án tử hình thì vẫn còn đó nhưng dù cho nó có bị xóa bỏ thì trong thâm tâm những người con nước Việt chân chính vẫn luôn dành sẵn 1 bản án tử hình cho HVH và những kẻ như ông ta..............
- trích lại comment mà mình thấy rất đúng trên diễn đàn hoangsa.org !


Hồ Sơ Đặc Biệt - Những Y' Kiên Nội Bộ Của Các Cán Bộ Lão Thành.

Ngày 27/05/2004
Cách đây một năm, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết (số 23-NQ/TƯ ngày 12-3-2003) về công tác dân vận và Mặt trận. Như thường lệ, dự thảo báo cáo (mang tựa đề cũng rất văn bia thường lệ là «phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì 'dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh'») được phổ biến trong những cuộc họp nội bộ để nghe ý kiến. Trong khuôn khổ đó, Ban dân vận Thành uỷ Tp. Sài Gòn đã tổ chức một cuộc họp nhiều ngày với sự tham gia của những cán bộ cấp cao nay đã về hưu (Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân, Trần Bạch Đằng, Dương Đình Thảo...). Các ý kiến nêu ra một cách thẳng thắn trong cuộc họp này không hề được ghi nhận : chúng hoàn toàn vắng bóng trong bản nghị quyết kể trên. Có lẽ vì vậy, mà một tài liệu đang được chuyền tay trong giới cán bộ Thành phố, với ghi chú trên đầu : «dựa trên băng ghi âm Cuộc họp do Ban Dân vận Thành uỷ TP. Sài Gòn mời : chưa được các đồng chí tác giả xem lại, chỉ để Ban chỉ đạo soạn thảo văn kiện phục vụ Hội nghị Trung ương 7 tham khảo »). Do tính chất của tài liệu này, rất khó khẳng định độ trung thực, mặc dầu người ta có thể nhận ra khẩu khí của nhiều người phát biểu và kiểm tra các sự việc được nêu lên.
Chúng tôi trích đăng những phần chính của tư liệu, vì đó là những ý kiến khá phổ biến trong giới cán bộ lão thành đứng trước tình hình hiện nay. Để bạn đọc dễ theo dõi, chúng tôi in đậm một số đoạn đáng chú ý, và trong phần chú thích, cung cấp thông tin về một số nhân vật và sự kiện.


Ðồng chí Mai Chí Thọ (1) :
- Khi nói đấu tranh giai cấp thì cái gì cũng giai cấp đấu tranh, chí cốt như vậy, chửi phong kiến, chửi đủ thứ hết nhưng mà phong kiến nước mình lại không triều đại nào lại không có ông vua, ông quan yêu nước và anh hùng. Trong mười mấy vua nhà Nguyễn hơn một nửa là yêu nước, cho nên phải đánh giá nhà Nguyễn cho đúng.
Ở nước ta, đấu tranh giai cấp mà đối kháng là không có cơ sở biến thành mâu thuẫn địch ta, mà chủ yếu xuyên suốt cả lịch sử nước mình kẻ thù luôn luôn từ bên ngoài xâm lược, cho đến bây giờ, chứ không phải bên trong. Chính vì cái áp lực bên ngoài, sự xâm lược bên ngoài luôn luôn rình mò chúng ta đến tận bây giờ, cho nên dân tộc ta mới đoàn kết, mới có hội nghị Diên Hồng, với tất cả những cái này mà vua cũng anh hùng, vì không giữ được nước thì không giữ được ngai vua, tuyệt đối không để bị xâm lược, xem ra ý nghĩa đó đối với dân tộc ta hết sức là hay. Lúc nào chúng ta chỉ đề cao đấu tranh theo kiểu địch ta thì đều thất bại, đều tổn thất (cải cách ruộng đất này, cải tạo xã hội chủ nghĩa này...) tiến hành đấu tranh giai cấp một cách thô bạo đều thất bại, đều trái với hoàn cảnh đất nước ta và tình hình dân tộc ta. Cho nên ta có mâu thuẫn chứ không phải là không đâu, nhưng mà mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân lấy hiệp thương để giải quyết chứ không phải là đấu tranh vũ trang, trừ trường hợp đối với thiểu số ngoan cố. Ðây chỉ là các lực lượng nhỏ không đáng kể. Cho nên tôi thấy rằng xuất phát từ tình hình hiện nay, bọn tư sản nó muốn tạo ra một thế lực tư sản mại bản. Nó muốn từ cái cá thể mà xây dựng thế lực tư sản mại bản nhưng mà nó không thực hiện được bởi vì những người tư sản Việt Nam, mặc dù họ chạy theo lợi nhuận, có người bóc lột nhưng mà họ yêu nước, cho nên đối với chúng ta, một dân tộc mà tôi cho là rất đặc biệt, mấy ngàn năm bị xâm lược trong một hoàn cảnh khắc nghiệt như thế, cho nên nó hun đúc nhân dân ta lòng yêu nước. Cho nên Ðảng ta phải giáo dục cho thật kỹ cái này. Trong cán bộ đảng viên, phải thấy được những thắng lợi vẻ vang của mình là do đâu, mình có những cái thất bại gì trong cách mạng. Tôi muốn nói, trước hết tôi nói về tính chất, về bản chất đại đoàn kết của dân tộc ta, vì lịch sử có nhiều cái, vua hồi xưa còn triệu tập hội nghị Diên Hồng mà bây giờ chúng ta còn phải kỷ niệm các ông vua. Nhân dân còn thần thánh hoá ông Trần Hưng Ðạo.
Bên cạnh những thành công vĩ đại thế kia, cũng nhiều sai lầm hạn chế, thậm chí gây khó khăn cho cách mạng. Thường là khi nào mình có chính quyền, chúng ta lại xa rời quần chúng. Chúng ta nói độc quyền lãnh đạo, nhưng rồi độc quyền cách mạng luôn. Ðảng chỉ có thể độc quyền lãnh đạo khi nào Ðảng thực hiện được đại đoàn kết dân tộc. Xây dựng được đoàn kết rộng rãi trong nhân dân, đưa nhân dân làm cách mạng. Như thế mới độc quyền chứ. Càng rộng bao nhiêu thì Ðảng càng lãnh đạo được nhiều bấy nhiêu. Còn bây giờ ta giành hết, không cho ai làm cả, một mình một chợ. Tôi chỉ kể ngay ở trên thành phố mà thôi, vấn đề Hướng Đạo nói hoài cũng không ai giải quyết, các vị lãnh đạo cũ của tổ chức này là đều đi theo kháng chiến cả, như ông Tạ Quang Bửu, ông Hoàng Ðạo Thuý, Bác Hồ là chủ tịch danh dự hay cố vấn gì đó tôi quên mất rồi. Bây giờ xin lập, không cho, xưa chúng tôi ở cấp thành phố muốn tìm một hình thức tập hợp quần chúng để mà kêu gọi. Quần chúng người ta có nhu cầu, người ta theo tình cảm, theo sở thích theo quyền lợi của người ta thì là chính đáng. Tôi đề nghị lập mấy cái hội, thứ nhất là Hội Bảo trợ trẻ em mồ côi và người tàn tật (Bí thư Thành uỷ và Thường trực Thành uỷ không cho mấy năm rồi, 2, 3 năm trời, tại sao, sợ « tàn tật » bao gồm cả thương phế binh nguỵ ? họ là nạn nhân chiến tranh mà). Tôi nói anh quản lý ở thành phố này mà anh không hiểu những cái đó, không thông cảm với những cái đó thì thế nào, còn thương bệnh binh của mình có chế độ riêng. Cái thứ hai là Hội Khuyến học thì đã được thành lập trên cả nước. Ở đây các anh mời tôi, phía Uỷ ban đề nghị tôi phụ trách, nhưng mà ra đời hơn một năm mới được giấy phép, hai năm sau mới xin được giấy phép để hoạt động cấp quận, huyện. Tôi lại nói với các anh cái mới, tờ báo An ninh thế giới đăng : ông Phan Bội Châu là một con người nhân sĩ yêu nước hết sức được nhân dân tôn trọng mà bây giờ cái nghĩa trang đó không ai chăm sóc, rêu phong mà trong đó có Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) (2) cũng nằm ở đó. Tôi hỏi đoàn kết gì mà nhà ở, đền thờ cụ Huỳnh Thúc Kháng bị lấn chiếm, dân người ta nói là mộ Nguyễn Du để « sè sè nấm đất bên đường » cả nhiều năm. Tôi nói các anh hùng của cách mạng thì đáng quý thật, nhưng mình không thể nào bỏ quên tất cả những anh hùng dân tộc khác được. Tại sao Thích Quảng Ðức ở đây thành phố không kỷ niệm. Lúc người ta tự thiêu thì mình hết sức xúc động, hết sức ca ngợi, tại sao thành phố này, Mặt trận này lại không cùng kỷ niệm với sư sãi, phật giáo hoặc như Nhất Chi Mai cũng tự thiêu. Thế thì Nhất Chi Mai cũng là thanh niên thì đoàn thanh niên của chúng ta không kỷ niệm, tôi cho là bây giờ mình hết sức kiêu ngạo, kiêu ngạo cộng sản. Thế thì xưa nay độc quyền lãnh đạo, mình không phất được ngọn cờ dân tộc một cách đầy đủ thì mình không thể nào thắng lợi. Nói đến «Phật giáo thống nhất», người ta đấu tranh như thế nào, tiêu biểu như thế. Mình có chính quyền rồi thì lại loại người ta ra.
- Bây giờ tôi nói hoà hợp dân tộc. Sau khi giải phóng, cái hay của mình là không có giết một ai, nhưng mình cho đi học tập cải tạo lâu quá cho nên nhiều gia đình họ đã dứt bỏ, cho nên tan tác, vợ đi lấy chồng, con gái đi bán bar. Cho nên cái hận thù của người ta là nặng nề, tụi nó thù mình lắm chứ không phải không. Thế thì mình lãnh đạo đất nước, mình lãnh đạo thành phố, mình có hiểu những cái ấy không ? Mình có thấy trách nhiệm của mình ở đó không ? Có chiến thắng rồi, chiếm lĩnh toàn quốc rồi thì mình coi khẩu hiệu hoà hợp dân tộc hết rồi. Ðáng lẽ theo tôi, cái khẩu hiệu đó rất hay. Ðáng lẽ theo tôi phải thả họ sớm hơn, động viên họ tham gia xây dựng lại đất nước, vì trong họ có nhiều người giỏi chuyên môn. Thế thì những chính sách của mình sẽ rất là hay.
- Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ đều có đặc điểm riêng và mỗi cuộc kháng chiến ở mỗi nơi đều mang cái tính đặc biệt đó bên cạnh, tính chung, tính cơ bản. Thế thì nếu không nghiên cứu con ngươi Nam Bộ thì làm sao hiểu được cuộc kháng chiến Nam Bộ. Tôi muốn nói mình muốn đoàn kết tốt, trước hết theo tôi là mình phải thật hiểu về con người Việt Nam. Thật hiểu về dân tộc Việt Nam. Thậm chí hiểu từng khu vực, từng địa phương một. Bây giờ đối tượng lãnh đạo mà mình không tìm hiểu thì làm sao mình có thể vận động cho nó đúng cái tâm trạng của người ta. Tôi thấy rằng nên kiểm điểm kỹ và đặt từ những vấn đề cơ bản cho đến những vấn đề cụ thể. Cái đó theo tôi đưa vào trường học, trường đào tạo. Hồi xưa thằng Mỹ nói rằng là các anh cộng sản thì lý luận, chúng tôi thì tâm lý chiến coi ai thắng ai ? Mà về tâm lý học thì Mỹ nó phát triển từ hơn một nửa thế kỷ, nó rất quan tâm đến nghiên cứu tâm lý, Liên Xô chỉ mới quan tâm từ những năm 60. Cho nên chúng ta phải hiểu con người Việt Nam, hiểu từng tầng lớp và từng địa phương mà vận động.
Anh Trần Hồng Quân (3) :
Tôi xin phép hỏi anh Năm (4). Tôi thấy gần đây dường như Ðảng ta có phần chặt chẽ hơn, hẹp hòi hơn, độc quyền hơn. Anh có thấy vậy không ? Và tại sao vậy ? Có phải chăng ta thiếu tự tin ở chân lý của mình, thiếu tự tin ở bản lĩnh chính trị của mình ?
Anh Mai Chí Thọ :
Trước hết là do ta quá kiêu ngạo Cộng sản, không cần ai. Mặt khác cũng có phần thiếu tự tin ở bản lĩnh lãnh đạo của mình.
- Bây giờ tôi nói đến lý tưởng cộng sản bị phai nhạt. Chỉ tiền thôi, mà lý tưởng cộng sản phai nhạt là nó có cái lý khách quan của nó. Cuộc khủng hoảng CNXH đã là một cú sốc tâm lý, một cú sốc hết sức lớn lao đối với lý tưởng cộng sản. Không còn cái CNXH thực tế, thuyết phục và khả thi để nêu cao được ngọn cờ lý tưởng. Bây giờ thì người ta đâu có lý tưởng cái gì nữa ; mà bây giờ là đồng tiền không tình nghĩa, lôi cuốn người ta vào kinh tế thị trường, trong khi đó thì đồng lương chính thức không đủ sống. Mặt trái của kinh tế thị trường thì thật sự phát triển, nó là những cái rào cản nguy hiểm cho hoà hợp toàn dân. Bây giờ cán bộ toàn là nghe tổ trưởng, nghe nòng cốt không, chứ đâu có nghe ai đâu. Ðại biểu Quốc hội nghe người dân, người dân đâu dám nói hết, mà nói hợp ý cấp trên hay là được nói khác thì chết, mà anh nghe rồi anh đi, còn người ta ở lại (rau răm ở lại chịu lời đắng cay) sao chịu nổi, với một hệ thống áp bức người ta, cai trị người ta, còn những nhà cầm quyền, có chức, có quyền có ai đi làm dân vận đâu ? Cũng như với mấy ông trong Mặt trận, Liên minh, trong Chính phủ cách mạng lâm thời trước đây, khi nào cần thì mình xài, khi nào không cần thì quên họ luôn. Còn trong MTTQ, toàn là cán bộ đảng viên, không có ông nhân sỹ nào. Có thời kỳ họ nói : « Chúng tôi không có vị trí, không có chân đứng ». Tôi cho là chúng ta còn mắc nhiều khuyết điểm rất nặng nề, phải kiểm điểm nghiêm túc. Tôi mong rằng kỳ này là một cái thời cơ, để Ðảng ta nhìn lại toàn bộ, để ra những biện pháp cụ thể để chấn chỉnh lại, phát huy thế mạnh của mình đồng thời khắc phục những cái sai sót chứ nếu không thì, nói thật với các anh tôi có cảm giác, chẳng bao lâu nữa Ðảng mất quyền lãnh đạo. Có thể lúc đó tụi tôi còn sống hay đã chết. Tôi nói thật suy nghĩ của một người đã chiến đấu tuy không được lâu như khai quốc công thần nhưng cũng gần 70 năm tuổi Ðảng và nhiều người cũng nói với tôi như thế chứ không phải một mình tôi.
(Anh Trần Hồng Quân hỏi : Ý anh là nếu không sớm khắc phục tình trạng này thì không bao lâu ta sẽ mất chính quyền ?)
Ðúng vậy. Bây giờ tôi hỏi các anh, xã hội mình bây giờ sẽ đi theo hướng nào ? XHCN hay TBCN ? Hai khuynh hướng đang đấu tranh nhau ghê gớm. Nhưng xem ra khuynh hướng TBCN đang thắng thế, ở ngay tại nước mình chứ không phải đâu xa. Nhưng mà không phải mình không thể tiến lên theo con đường XHCN được. Tôi thấy rằng hoàn toàn mình có khả năng. Tôi xin góp một số ý như vậy.
Ðồng chí Trần Bạch Ðằng (5) :
- Tôi xin phát biểu về các dự thảo của các đồng chí. Hôm trước đã có một lần họp có anh Trương Quang Ðược, anh Nguyễn Minh Triết, chị Tòng Thị Phóng tôi đã góp ý. Xét chung nếu nói là bổ sung cái dự thảo này, tôi không có cái gì để bổ sung cả. Cái gì cũng nói đủ hết rồi, tôi nghĩ là không có cái gì để thêm cả. Nhưng dự thảo không có gì mới, tôi xin nói thẳng, dự thảo lặp lại một số khẩu hiệu, mọi chuyện đã nói từ trước đến nay không biết bao nhiêu lần rồi và coi như thuộc lòng và bằng lòng với cách diễn đạt. Thực tiễn thì thay đổi dữ dội mà chúng ta cứ lặp lại hoài và đặc biệt không bao giờ chúng ta truy lại xem tại sao mà không đạt được cái đã nói, mà tình hình càng ngày càng xấu đi. Lý do là gì, và một nghị quyết của Trung ương phải giải quyết điều gì trong thực tế.
Tôi thấy rằng dự thảo này được thông qua thì sẽ không giải quyết được cái gì, cả khi chúng ta tổ chức học, nghiên cứu từ trên xuống dưới, rồi tất cả trở thành những con két, cứ nói lại....
Tôi thấy cái này các anh đại diện Ban Dân vận TƯ, anh cứ ghi thôi bởi vì nếu nói đây không phải với cá nhân anh. Tôi cho đây là một cái nguy, một cái cực kỳ nguy hiểm, triệu chứng này chúng ta phải thấy có cái gì gần như sợ hãi, vội vã, và lại củng cố cho phe cánh của mình.
- Chúng ta đã từng đạt được đại đoàn kết cao nhất trong hai cuộc kháng chiến, trong đó ai cũng sẵn sàng hy sinh cả, tên Ðảng còn phải hy sinh cơ mà, hy sinh hết và lao trận chiến. Nếu không có cái đại đoàn kết toàn dân thì làm gì làm nổi Cách mạng Tháng Tám, làm gì chúng ta kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Cái đó nghĩa là đã có tiền lệ từ trước rồi, thế thì tại sao bây giờ cứ loanh quanh, loanh quanh mãi. Các ông tiếp xúc dân, tôi nói thật, tôi khó chịu lắm. Đại cử tri phát biểu tuyển chọn thì khen 80 %, 20 % chê rất chung và đề xuất một vài cái gì đó thế cái ông Trung ương đứng lên trước hết động viên, phấn khởi v.v... tiếp nhận những cái ý kiến này rồi. Tiểu cử tri thì xếp hàng ở dưới (con nít ấy mà) quơ cờ lên. Thế là xong. Tôi đọc sách Trung Quốc tôi thấy nhiều cái cũng na ná như thế này. Tôi muốn nói với các anh như thế và thật sự, mà lo lắm. Những đồng chí mà còn có máu huyết ở trong người, khi trao đổi (như tôi, anh Mai Chí Thọ, anh Hai Tân (8)) không thể nào chịu nổi. Chúng tôi phải qua lý trí mà tính toán tất cả các điều, chúng tôi không phải là loại mà nói ào ào để mà nói cho thoả mãn đâu. Vì sự nghiệp này gắn với cả máu thịt, sinh mạng chúng tôi mà ở đây toàn là người trên 60 tuổi Ðảng. Tôi muốn nói với các đồng chí một cái chuyện cụ thể, về đám tang anh Trần Ðộ, đây là tôi nghe anh em Hà Nội vô nói nhưng tôi không thể nào hiểu được. Anh Trần Ðộ có nhiều quan điểm sai, tôi là người rất chống anh ấy mà chống bằng giấy tờ đàng hoàng, mà cả thư riêng tôi gửi anh Trần Ðộ và đặc biệt tôi không tán thành anh Trần Ðộ ở chỗ để đế quốc lợi dụng, để tụi xấu bên ngoài lợi dụng, đài phát thanh nó la tùm lum, chứ không phải một số điều anh Trần Ðộ nêu là không đáng suy nghĩ đâu. Nhưng mà khi anh chết, đã chết làm tang lễ, chúng ta có bài điếu văn, lại đi nêu tội của ông Trần Ðộ trong đám tang trước linh cữu của anh. Thế gia đình làm sao chịu được, và người trước đây họ không đồng tình ông Trần Ðộ thì bây giờ họ lại cảm tình với ông. Tôi cho rằng đó là một sự dại dột, tôi nói thẳng một sự dại dột khó tưởng tượng. Anh ấy là đồng chí hoạt động cùng thời với anh Mai Chí Thọ, cống hiến nhiều mà cương vị trong quân đội khá cao, tuy cuối đời anh có sai lầm. Còn anh Nguyễn Hộ, bây giờ anh ấy nói trời ơi đất hỡi, anh ấy còn sống đó. Sau này anh ấy mất cũng không thể xử sự như vậy. Cách cư xử truyền thống của dân tộc mà lại bỏ đi thì hỏng.
- Khi nói đại đoàn kết toàn dân có nghĩa là để các tầng lớp đại đoàn kết với nhau, nhưng mà chủ yếu là Ðảng làm trung tâm đại đoàn kết như thế nào, trước hết phải trách mình. Cuối cùng rồi chúng ta lại thành ra cái hẹp hòi, một cái tổ chức chỉ lo lợi ích của riêng mình thôi. Hôm họp ở chỗ T78 (6) có anh Trương Quang Ðược, tôi có nhắc một câu của Mác - Ănghen: « Giai cấp vô sản khi giành được chính quyền mà chỉ lo cho nó thôi thì nguy hiểm, là không được ». Ðó là trong lời tựa của tuyên ngôn Ðảng Cộng sản. Ngay trong Ðảng, anh cũng không đoàn kết với nhau được. Thế thì còn nói gì đến đoàn kết bên ngoài nữa. Bây giờ trong Ðảng không đoàn kết, lại không phải từ những vấn đề về quan điểm đường lối..., nếu có thì cãi nhau rồi thống nhất thôi, nhưng lại khổ vì tiền, địa vị, thằng cha này ngồi chỗ này, thằng cha nọ ngồi chỗ kia... tất cả nó chi phối toàn bộ cái rối loạn trong nội bộ Ðảng. Hết sức là nguy hiểm, là chết thôi. Khi có tội, đưa ra thì cũng cân nhắc ông đảng viên người ta xử thế này, ông Trung ương người ta xử thế kia, đại khái không có cái đó thì xử lý thẳng. Tôi nói dư luận thành phố này họ không đồng ý với bản kết tội Bùi Quốc Huy (7), tại sao Bùi Quốc Huy chỉ là thiếu trách nhiệm, trong khi đó tài liệu và căn cứ mà báo chí nêu thì ông này cũng là « tay tổ ». Có một việc mù mờ trong cái này không ? Tôi nghĩ là Ðảng mà không đoàn kết thì nảy sinh ra vấn đề thôi. Ðảng là trung tâm mà. Chủ thể trung tâm của đoàn kết là Ðảng, anh xử lý đi, chứ bây giờ anh đứng lên kêu gọi người ta đoàn kết mà anh lại bầy hầy. Nói thật với các đồng chí mỗi ngày tôi nhận được rất nhiều thư tố cáo. Có lẽ chỗ này là chỗ người ta còn có thể nói được. Ðọc xong rồi tôi nhức đầu ghê lắm. Ăn hiếp dân từ cái tay khóm trưởng, tổ trưởng quá lộng hành. Rồi thì thư tay can thiệp của mấy ông, tôi nói cả mấy ông Bộ Chính trị can thiệp nữa. Thì buồn cười thiệt, những cái chuyện như thế anh dính vào làm gì, để cho luật pháp người ta xử lý. Mình làm một hồi nó không còn ra làm sao cả. Tôi nói giữ đạo mạo ở trên truyền hình hay là tại hội trường Ba Ðình không thôi là chưa đủ, dân người ta cũng biết hết rồi, ngay cái Quốc hội của mình cũng đủ thứ chuyện. Người ta nói tư bản nó dở nhưng cái gì nó cũng đưa ra, còn mình thì giấu, cái đó là cái rất không tốt. Trong khi đó những cái công cụ để chúng ta làm đoàn kết trước hết là chính quyền và chính sách, cái đoàn kết lớn nhất hiện nay là chính sách, bằng chính sách, anh thực hiện và anh cầm quyền. Không có gì lớn hơn, làm ruộng đất đúng, đất đai đúng, nhà cửa đúng, thuế má đúng thì đoàn kết, mà làm trật thì rã. Ban Dân vận này nói là nói khô lưỡi, khô cổ cũng chẳng giải quyết được gì đây nếu chính sách sai. Chúng ta phải nhìn cái đó một cách rõ ràng. Rồi thì cái tổ chức dân cử, lúc nẫy Mai Chí Thọ nói Mặt trận, tôi nói ngay Quốc hội thôi, người ta nhìn vô, người ta thấy ngay. Do chỗ đó không được, phải chuyển một cách cơ bản.
- Về các tổ chức quần chúng, anh Mai Chí Thọ nói rõ ràng là độc quyền, mà độc quyền đến mức quá hẹp hòi, hôm trước tại hội nghị, anh Mai Chí Thọ có nêu cái vụ Hướng Đạo, tại sao cấm, nhắc anh Ðồng, anh Tạ Quang Bửu, anh Hoàng Ðạo Thuý và Bác Hồ là Chủ tịch danh dự. Nhân hôm qua, tôi có viết một bài. Trong đó tôi có nói việc này trong báo Thanh Niên, nó cắt nguyên cái đoạn đó. Lý do là anh sợ thua người ta, cái thằng dở mà độc quyền thì sợ thằng khác giỏi hơn nó. Nhân cái vụ cháy Trung tâm Thương mại Quốc tế chết nhiều người, tôi nói có những kỹ năng của hướng đạo thì cứu được nhiều người lắm, leo dây lên rồi điều người ta xuống, nhưng chúng ta không có vì cái ông đoàn viên tới, ông có biét kỹ năng nào đây, ông diễn thuyết thì được, còn đây xông vô lửa thì phải học cái đó chứ, đây lại không có dạy, trong khi đó chủ nhật nào, ở chỗ Tao Ðàn cũng tập hợp lại. Anh Trần Hữu Khuê (trước anh Linh đưa anh Trần Hữu Khuê vô làm Ðảng đoàn và lãnh đạo Hội Hướng đạo), là nhà giáo thế thì bây giờ tự nhiên hổng nhắc tới nữa. Tôi thấy cái đó không thể nào nói chúng ta có khả năng lôi kéo quần chúng. Với người trong Ðảng đã thế thì với người ngoài Ðảng lại càng dở hơn nữa. Rốt cuộc Ðảng trở thành cái chỗ giành nhau vô để có địa vị, có quyền lợi chứ không phải vì lý tưởng gì cả. Nhiều người rất tốt, họ cũng muốn vô Ðảng nhưng mà không được, coi như suy nghĩ có mặt này, mặt khác họ không tán thành là không được. Tôi thấy anh Phan Ðình Diệu tâm trạng về cái này rất nhiều. Trong điều kiện toàn bộ xã hội, các bộ phận khác yếu. Anh cao lên thì phải để người ta cao lên chứ không phải anh để cái đầu cho ngang nhau để anh cao hơn. Một nguyên lý giản đơn như thế mà kiếm không ra cho nên cái bảo thủ, hẹp hòi bây giờ trong Ðảng quá lớn.
Ngay như Dương Văn Minh đó, tôi cùng với anh Mai Chí Thọ đấu tới, đấu lui mới làm dịu đi không kết án, không chửi. Cái công của người ta, bảo đảm giải phóng thành phố đến độ không đổ máu thì công đó nhỏ à. Anh có thể khen thằng cha nào nổ súng vào nhà thì anh tặng nó huân chương, trong khi cái người bảo vệ cái thành phố này cho nguyên vẹn thì anh coi như không. Tôi cho rằng đây chứng tỏ cái lạc hậu về mặt quan điểm, về mặt tư tưởng rất là nặng nề. Còn tôn giáo, dân tộc v.v... cái này nhiều chuyện lắm nhưng thực ra trong này, chúng ta đi vô trong từng vấn đề, từng tổ chức, theo tôi không nêu tổ chức. Không phải Hội Phụ nữ làm cái này, Ðoàn Thanh niên làm cái kia, Công đoàn làm cái nọ. Nêu vấn đề với những đối tượng, những tầng lớp... Với những quan điểm nhìn của Ðảng thì mới được, chứ cái này tôi thấy cũ quá chẳng khác gì nghị quyết cũ. Rồi một vấn đề rất lớn nhưng chúng ta nói vừa phải là chúng ta huy động tài năng, nhưng với cách nhìn này thì tài năng là cái gì. Rốt cuộc tài năng là thằng nào nịnh giỏi, thằng nào bợ đít hay, dạ dạ, dạ dạ, vâng vâng, chí phải, chí phải thì thằng đó « tài năng ».
Ðồng chí Trần Trọng Tân (8) :
- Theo tôi nên có điểm gọi là tâm trạng hiện nay của những người gọi là nạn nhân do sai lầm của những chính sách của Ðảng. Cái tâm trạng này còn nặng lắm đây, các loại nạn nhân của chính sách cải tạo. Ví dụ như Nguyễn Huy Thiệp, tâm trạng của nó là rất khổ tâm về chuyện gia đình bị quy oan trong cải cách ruộng đất. Viết thành văn chương, chữ nghĩa ghê gớm lắm. Cho nên cái gì khi đã đi sâu vào lòng người ta. Những cái bất mãn về những sai lầm và động chạm vào nhà người ta mà oan thì mình phải thấy cho sâu mà gỡ chứ không phải dễ đâu. Cái này kể ra thì nhiều chuyện lắm, thế rồi sinh ra phản ứng khi viết, rồi từ chỗ đó mình chụp thêm nữa, thế là cứ vòng xoáy, bất mãn càng ngày càng nặng thêm. Cho nên theo tôi đề nghị là có một nội dung gọi là nạn nhân của các loại oan sai, mình nói sao cho thấu đáo được, cho khéo, bởi vì cái này cũng tế nhị. Không khéo lại quật trở lại rồi sửa sai một loạt mà thành một cái phong trào cũng chết. Tại sao Trung Quốc dám làm, họ sửa đến mức mà trong Ðảng ai bị oan thì được khôi phục hết, khôi phục từ danh dự và các chế độ. Tại sao một nước 1,3 tỷ dân mà dám sửa sai đến cái mức như vậy. Công khai hóa hết mà sửa, sửa đâu ra nghị quyết đó. Nghị quyết sửa sai, khôi phục danh dự thì tôi cho là rất được lòng dân. Rồi sau đó họ dám đề xướng cái rất mới là « hiện thực phê phán những sai lầm của Ðảng ta » cho giới văn nghệ viết lên thành tiểu thuyết, thành phim các thứ để cho những người Cộng sản kế tục không thể phạm phải những sai lầm đó, họ ra nhiều cái rất là mới. Họ viết quyển sách mà tôi đọc gọi là gì... « Vú và mông » (9) đó, sau mình dịch lại đổi cái đề cho lịch sự hơn. Hắn nói, mình không thể tưởng tượng nổi cái ác khi mà Ðảng sai lầm. Nhưng mà cái hay là khi đọc xong thì mới thấy tác giả rất xây dựng. Hắn lên án để cảnh tỉnh những người Cộng sản tránh những cái sai lầm đó, tránh đạp đổ, chỉ để mà lên án : « Hiện thực phê phán về những sai lầm của Ðảng ta » mà bây giờ phải theo cho kịp cái mới của thời đại tư bản mà các nước anh em người ta làm hay hơn. Mình ráng coi làm sao đó, cho nên, tôi cho cái ý thứ nhất của tôi là trong mục kiểm điểm tình hình nên có phần đánh giá lại tâm trạng ngầm mà có hại cho khối đại đoàn kết bởi những nạn nhân của sai lầm do chính sách của Ðảng.
Thứ hai, tôi cho là phân tích những cái tác động mới, đặc biệt là xu thế dân chủ của thế giới ngày nay đang tác động vô dân. Nếu mình không thức thời, không hiểu để ráng làm những cái gì có thể làm được để đáp ứng được khát vọng dân chủ thì mình sẽ lạc hậu và không thể đoàn kết nổi. Ta cứ nói chủ nghĩa tư bản nó tàn tệ. Vậy mà không phải ra con cá ngon mà nó mua rẻ là nó mua đâu, mà người làm ra cá có đời sống thế nào, có điều kiện lao động như thế nào thì nó mới mua. Những cái đó mình đã theo kịp đâu, phải bắt kịp tất cả những xu thế mới, nền văn minh mới này để đưa vô trong Nghị quyết phải đáp ứng những tác động đó vô trong dân mình. Lãnh đạo mình phải nghiên cứu. Hôm tôi đi ghé qua Ðài Bắc, đang ngồi, tôi mới tìm hỏi một cái cô Việt kiều, tiện thể có cái gì mình nghe, mình học, ngồi để chờ máy bay quá cảnh thôi. Cô ấy mới nói nghề bán cơm hộp, hai vợ chồng bán hộp vừa rồi mất trộm hết, nhưng 3 tháng sau thì được thông báo là bắt được thằng trộm đó, đi hầu toà để lãnh lại. Thế là đi máy bay, ở khách sạn để hầu toà thì nó trả tiền luôn. Còn cái mục này nữa: là trong thời gian đi hầu toà thì phải vắng mặt ở nhà, nếu có mặt ở nhà thì thu nhập bao nhiêu, thì cô ấy khai ra, hắn trả luôn phần mất thu nhập. Mình nghe lạ lắm, nhưng lạ hơn là tiền lấy đâu ra để trả cái đó, thì ra hắn bắt cái thằng ăn cắp đó trả hết, trả tiền đồ rồi, trả tiền vé máy bay, tiền thuê khách sạn và tiền vắng mặt mà mất thu nhập nữa. Nếu nó không trả thì lại bị kiện. Cho nên tôi nói nên có cái mục, nói giản dị là những xu thế về nhân đạo, dân chủ.
Tôi chỉ nêu gần đây thôi, một quy định hết sức bất ngờ, quy định là ai lấy chồng, lấy vợ, có dâu, có rể, người nước ngoài hoặc ở nước ngoài, coi như là đặt thành vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ, cảnh giác rồi phân tích, loại thì xoá tên, loại thì khai trừ, loại thì vẫn là đảng viên nhưng không thể vô Ban Chấp hành. Như vậy là vi phạm điều lệ rất nghiêm trọng, quyền nào cho phép tước quyền của đảng viên. Tại sao cái này không thấy có ai đánh giá chứ. Phải nói toạc ra chứ. Vả lại, nếu có một con dâu, có một con rể là bác học, một chuyên gia giỏi thì không tốt sao ? Ðằng này rút lại chỉ toàn là đóng một phía không thôi, trong khi sống trong một cái thế giới mở. Phải có những cái tính toán chứ để như vậy là chết. Anh phải mở ra cái này, anh là đảng viên, anh có người vợ là Nhật Bổn. Làm sao để cho bà vợ Nhật Bổn đó có cảm tình với Việt Nam, họ tuyên truyền cho Việt Nam, đem của đem cải về đóng góp cho Việt Nam lợi hơn chứ. Bây giờ thì trở lại vấn đề mà bao nhiêu năm đã sửa sai, cái vụ « lý lịch rõ ràng ». Người đáng ngờ thì phải ngờ, người đáng tin thì phải tin. Người ta đáng tin nhưng anh lại cứ ngờ.
Thứ hai, nói về đoàn thể « chính trị xã hội » là cái gì đây. Ðáng lẽ chính trị đầu tiên phải bênh dân, mà bênh dân là khi chính quyền làm oan người ta, anh phải đứng ra quyết liệt bênh chứ. Sao để họ đi kiện một mình không rồi cuối cùng thân cô thế cô, về họ kết tập nhau lại đi kiện tập thể, thì cấm không cho đảng viên xen vô, thế rồi cuối cùng một bộ phận oan đó không ai lãnh đạo cả. Hồi trước giải phóng, dân bị chính quyền nguỵ hành hạ thì Cộng sản đứng ra lãnh đạo, còn bây giờ thì dân bị oan có thấy mấy ông Cộng sản đâu. Tôi đề nghị đưa kiến nghị này vô trong Nghị quyết lần này. Cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ phải thừa nhận là một cơ chế thống nhất có mâu thuẫn, chứ không phải thống nhất một chiều. Chính nhờ mâu thuẫn đó mới phát triển được, tức là đoàn thể phải bênh dân, phải đấu với Nhà nước để giữ cho dân không bị oan. Ðảng phải lãnh đạo chứ không ai bênh dân cả. Chính ra người dân dưới chế độ mình không ai bênh ai cả, chứ đúng ra một hội viên, một người phụ nữ thì nếu đúng bị oan thì Hội phụ nữ phải thuê xe mà chở người ta đi kiện. Như vậy mới được, đảng viên cộng sản có lương tâm phải xông vô bảo vệ dân. Nhưng bây giờ xông vô thì cấm rồi, 19 điều cấm, xông vô một tý để kiện cũng không được. Ðảng ngoài hết để cho dân bơ vơ một mình mà thôi, nhưng mà lương tâm nào mà để dân như vậy được. Cái điều đó là rất hại. Ðáng lẽ phải cho tham gia khiếu kiện đúng. Chi bộ phải phân công mấy anh cộng sản đi với dân kiện cho ra để giải oan cho người ta, phải làm sao để đấu với nhau. Còn cứ cho một cái chuyện coi như trong Ðảng hết, đấu với nhau không có được. Người dân trong chế độ mình bị oan là chịu bơ vơ. Bây giờ lại xuất hiện nhiều cái hình thức rất đáng lo. Ở Thủ Ðức, một cái nhà máy thải các chất ô nhiễm, dân kêu mấy lần cũng không xử, thế là xông vô đập hết của người ta vậy thôi. Vậy mà để bạo loạn cục bộ làm cho tá hoả tam tinh, rồi khi đó mới tới can thiệp. Bây giờ luật rừng xuất hiện rồi, hở ra là thuê người giết nhau rồi. Cho nên tôi cho rằng là lần này phải có hướng giải quyết việc dân bị oan, dân bị áp bức bóc lột. Dân bị chèn ép mà chính quyền chèn ép thì đoàn thể phải làm sao? Quy định cho rõ, rà soát, đừng cho anh cơ hội tập hợp dân đi đấu nại, nhưng những người cộng sản chân chính, người có lương tâm chịu không được, thì cho người ta phụ với dân để lãnh đạo dân và bảo vệ dân. Như vậy, người ta mới thấy cái Nghị quyết rất là mới mà phấn khởi, chứ cứ giữ 19 điều cấm là chết.
Tôi nói 19 điều cấm vừa rồi hại cho dân chủ trong Quốc hội lắm. Nào là đề cử rồi « xét tôi tự thấy không có khả năng » rút hết, Trung ương không giới thiệu thì làm sao mà anh ra. Bây giờ tất cả những cái đó phải tháo gỡ thế nào chứ, quy định trở thành cái công thức chung của toàn Trung ương, đưa 3 chọn 1, cứ dứt khoát đi. Ðưa 2 ông Bộ Chính trị chọn 1 ông thì cũng nhận gọi là làm vui. Thế bây giờ đưa thì đưa 1, ra 19 cái điều cấm, ai dám ứng cử. Thế rồi không cho công bố số phiếu nữa chứ. Mình cứ vo như vậy thì cuối cùng cái xã hội chẳng ra làm sao cả. Mắc gì mình cũng phải có một cái tiền lệ. Mà cái độc diễn thì dân Sài Gòn bêu riếu ghê lắm. Ngoài Bắc có khi không thấy cái đó đâu. Ðưa ra cái độc diễn ra là người ta ghét ngay. Tôi còn nhớ Trung ương họp đồng ý đưa ra 3 người ứng cử Thủ tướng đó chứ, ông Thạch, ông Kiệt, ông Ðỗ Mười. Sau cuối cùng sợ phân tán phiếu nên để 2, rất vui vẻ đã tạo cái tiền lệ từng làm như vậy, nhưng rồi cuối cùng bỏ hết, rồi cuối cùng độc diễn.
Ðồng chí Nguyễn Văn Hanh (10) :
- Vấn đề thứ ba là kiểm điểm lại chính sách của chúng ta đối với nhân sĩ, chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản... Những người này có vai trò rất lớn trong quần chúng, nhưng chính sách đãi ngộ họ chưa thoả đáng. Bình thường những con người này đã quan trọng, nhưng khi có điểm nóng thì vai trò của họ càng cực kỳ quan trọng hơn. Mình cần có chính sách, thái độ trân trọng rõ ràng để thu phục họ. Nhiều người đã bị chúng ta bỏ quên, khi về hưu chẳng có ai tới thăm, cả Lý Chánh Trung, Vũ Văn Mẫu, Trần Ngọc Liễng, Bà Vân Trang... ta quên hết. Chúng ta phải lên danh sách, Ban Dân vận tham mưu để lễ tết thăm hỏi, chăm sóc. Chúng ta phải xem lại những đối tượng này.
- Vấn đề viên chức chế độ cũ thì những gia đình hoà hợp thì đã tốt, nhưng cái diện ở nhà 2/4 là chưa rõ ràng dứt khoát, mình cho người ta lưu cư thì bao nhiêu đời ? Những sĩ quan cải tạo tốt thì giải quyết nhà ở của họ thế nào ? Về quản lý thì mình có can thiệp được gì ? Nếu không khéo thì bất ổn ngay. Hàng ngàn căn nhà của nguỵ quân thì xử lý thế nào ? Ðây không thuần tuý là vấn đề nhà ở mà còn là vấn đề chính trị.
- Ðối với vấn đề Tây Nguyên thì nổi lên vấn đề hành chính cấm đoán Tin lành vì cho là liên hệ với Mỹ, Fulro... cái đó thì không nên. Chính sách phải thống nhất, chủ trương thì phải đảm bảo, Tin Lành ở miền xuôi, miền Nam, miền Bắc được hoạt động, Tây Nguyên bị cấm dễ rối lắm.
Ðồng chí Phan Minh Tánh (11) :
- Vấn đề dân tộc là cực lớn, dân tộc trên 1 triệu ở Việt Nam có 13 dân tộc nhưng chiếm cực lớn. Tình hình dân tộc đã có biến động. Ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ đều đang có chuyện các dân tộc di cư, bỏ trống vùng biên giới trọng điểm, không xây dựng được Mặt trận nhân dân. Dân mà di cư quá 4 % hộ dân là có vấn đề rồi (12). Vấn đề dân tộc mà nghiêm trọng, dễ rã quốc gia.
- Các mâu thuẫn bây giờ ghê gớm lắm, chủ yếu là sự va chạm giữa nhân dân lao động với chính quyền. Do quan liêu, hách dịch, tham nhũng nên mâu thuẫn với nhân dân. Ðây là vấn đề nóng bỏng. Chính quyền giải quyết không tốt là mất. Khâu thực thi chính sách cũng là quan trọng. Nếu sai bước đi thì sẽ tác hại vô cùng.
- Thứ hai là Ðảng của giai cấp công nhân thì thái độ của Ðảng với giai cấp như thế nào phải cho đúng ? Bác Hồ nói hai vấn đề chính trong Ðảng là đoàn kết và dân chủ.
- Thứ ba Mặt trận muốn rộng đoàn kết thì phải có cái nền của nó. Mặt trận phải có thực quyền, trong khi mình không bao giờ cho người ngoài Ðảng được làm. Cho nên Ðảng nói thì phải sửa, chính quyền của dân, do dân, vì dân mà Ðảng phải làm hết trọi. Khi mình có rồi, không làm theo mà làm trái, dân nhìn thấy thì chê trách. Tôi đề nghị ta tập trung bàn đại đoàn kết dân tộc có cả dân tộc, tôn giáo. Tình hình Mỹ đánh Iraq thì tâm trạng quần chúng như thế nào, mình phải tìm hiểu chứ. Mình phải làm cho cái đại đoàn kết lần này thật rung động như ngày xưa Nhà Trần đã làm ở hội nghị Diên Hồng, như Bác Hồ họp hội nghị chính trị đặc biệt vậy. Còn Ðảng sai thì phải sửa sai, chứ nêu sai trái chỉ qua câu chữ mà không chịu sửa thì không kết quả, không lấy được niền tin của dân. Vụ Trần Ðộ là thất bại chính trị vô kể, gây một cái xấu trong Ðảng, những người ngoài Ðảng cũng e dè và bất mãn. Hành động đó trái với đạo lý, vô nhân đạo. Khi con Trần Ðộ phát biểu đáp lại điếu văn thì hàng ngàn người đứng vỗ tay hoan hô rõ là mình thất bại.
Ðồng chí Dương Ðình Thảo (13):
Tôi coi đây là vấn đề sống còn mà thời điểm này là chậm, không còn bao lâu. Bây giờ nó có những cái chuyển biến là không lường trước được. Ðảng Cộng sản Trung Quốc đang đại hội cho ta nhiều bài học. Ví dụ nó nêu vấn đề Ðảng Cộng sản trước ngã ba đường, Ðảng Cộng sản Trung Quốc trước nguy cơ mất quyền lãnh đạo... Xét lại mình thì sau Ðại hội VI là kỳ diệu. Nhân tố quyết định sự thắng lợi phải bao gồm cả yếu tố Ðảng và dân, vậy mà hễ Ðảng thì viết hoa còn dân thì viết thường. Rồi hễ xuân về thì mừng Ðảng, mừng xuân. Xuân là của cả dân tộc, chứ không phải chỉ của riêng Ðảng.
Tất cả các Nghị quyết đều có nói đến, nhưng tới bây giờ mới làm, dự thảo lần thứ 10 rồi. Tôi cũng muốn thông cảm tiếp cận tâm lý và đặt vấn đề mà giải quyết. Nhưng mà như các anh đã nói, thể hiện đường mòn.
Nghị quyết lần này, dân vận không chỉ ở đối nội mà thôi, trong tình hình hiện nay phải hết sức chú ý đối ngoại. Khi Mỹ đánh Côxôvô cho rằng : Dân tộc, chủ quyền không bằng nhân quyền, nghĩa là chỗ nào thiếu nhân quyền thì Mỹ sẽ can thiệp ở đó. Chính các nước bè bạn trên thế giới không chỉ trông chờ Việt Nam giàu lên, văn minh hiện đại đâu mà mình đối với dân như thế nào để người ta xem chế độ đó là dân chủ, người ta trông chờ cái đó. Chúng ta làm không chỉ trong nội bộ, mà còn là tín hiệu để cho người ta có niềm tin, người ta cũng đổ xương, đổ máu để ủng hộ Việt Nam. Người ta trông chờ XHCN ở Việt Nam, nếu nói về XHCN thì trước hết nói là ngọn cờ Chủ tịch HCM, rồi dân tộc, văn hoá. Cho nên, không chỉ có đối nội mà còn phải có đối ngoại.
Nghị quyết phải đi vào đối tượng cụ thể, mình chỉ mới nói chung chung. Trong những cái thuyết phục người ta về đối ngoại là độc lập và trung lập, còn đối nội thì đoàn kết hoà hợp dân tộc. Cho nên cần nói đến hoà hợp dân tộc. Mấy chữ hoà hợp dân tộc, có đồng chí đã nói rằng : « Nước mình có nội chiến đâu mà hoà hợp dân tộc ». Nếu bây giờ mà đọc lại đồng chí Lê Duẩn nói : Cuộc kháng chiến ở miền Nam là cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời mang một số yếu tố nội chiến. Nếu nhìn lại dân tộc mình thì phải tính đến lịch sử, Pháp đã chia nước ta ra làm Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Mình cải cách ruộng đất, ở miền Nam có ngụy quân, ngụy quyền, người không kháng chiến và người kháng chiến, cải tạo tư sản, vấn đề Tây Nguyên... Ðừng tưởng những cái đó không dội vào vấn đề đại đoàn kết. Ðảng ta có những quy định hết sức cũ kỹ, hồi từ giải phóng đến bây giờ về tiêu chuẩn kết nạp Ðảng, có những người con mà cha của nó là một đại uý ngụy, thì dù tốt đến đâu cũng không kết nạp Ðảng, nhưng mà không chú ý thái độ của cha nó, mà nếu ta kết nạp vào thì hết sức quý. Chúng ta cần kết nạp Ðảng rộng rãi đã chuyển biến tích cực, trong vấn đề dân tộc có vấn đề Ðảng trong đó.


Chú thích của toà soạn :
(1) Mai Chí Thọ : nguyên chủ tịch Uỷ ban nhân dân TP Sài Gòn, uỷ viên Bộ chính trị, bộ trưởng Bộ nội vụ, đại tướng công an, em ruột của các ông Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện.
(2) Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (1908-1954), cây bút lí luận của Đảng cộng sản VN, có con trai là Nguyễn Khoa Điềm, hiện nay là uỷ viên Bộ chính trị. Có thể hiểu hàm ý của ông Mai Chí Thọ là mộ của ông Hải Triều được chăm sóc đàng hoàng, trái ngược với mộ cụ Phan Bội Châu.
(3) Nguyên bộ trưởng Bộ giáo dục, uỷ viên Trung ương ĐCSVN
(4) Năm Xuân, bí danh của ông Mai Chí Thọ.
(5) Nhà văn, nhà báo, cây bút lí luận của ĐCSVN, từng phụ trách Tuyên huấn miền Nam, nguyên bí thư thành uỷ Sài Gòn.
(6) Trụ sở của Trung ương ĐCSVN ở miền Nam.
(7) Uỷ viên Trung ương, thứ trưởng Bộ công an, nguyên giám đốc công an TP Sài Gòn, liên can trong vụ Năm Cam.
(8) Nguyên uỷ viên Trung ương, năm 1990 được cử làm trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, thay thế ông Trần Độ, để « uốn nắn » văn hoá văn nghệ, chấm dứt thời kì « cởi trói ».
(9) Phong nhũ phì độn (Vú to mông nẩy), tiểu thuyết của Mạc Ngôn (Mo Yan), bản dịch tiếng Việt của Trần Đình Hiến đã được nhà xuất bản sửa tên thành Vật báu của đời. Bản dịch tiếng Pháp Beaux seins, belles fesses của L. và N. Dutrait cũng vừa phát hành (Le Seuil, 2004). Bản tiếng Anh Big Breasts and Wide Hips sẽ ra mùa hè (Arcade).
(10) Nguyên thành uỷ viên đảng bộ TP Sài Gòn, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc TP Sài Gòn.
(11) Nguyên thành uỷ viên đảng bộ TP Sài Gòn.
(12) Theo những thông tin đáng tin cậy, hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên, 70 % dân số là người Kinh, 15 % là đồng bào các dân tộc thiểu số miền Bắc di cư vào (một cách tự phát) ; đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chỉ còn 15 %. Hiện tượng mà ông P. M. Tánh nói tới, theo chúng tôi hiểu, là việc một số đồng bào Tây Nguyên đã di cư sang vùng cao nguyên đông bắc của Campuchia.
(13) Từng làm người phát ngôn Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris, giám đốc Sở văn hoá thông tin TP Sài Gòn, thành uỷ viên, trưởng ban tuyên huấn TP Sài Gòn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32