CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 53

(ĐC sưu tầm trên NET)

Chuyện về hai nguồn tin tình báo 38 năm trước

VietnamDefence - Tôi muốn nhắc tới hai bản tin của các cơ sở tình báo thuộc H67 (Đơn vị AHLLVT) trực thuộc J22 - Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục II, Bộ Quốc phòng). Cả hai bản tin ấy đều xuất hiện vào những ngày tháng 10 cách đây vừa tròn 38 năm. Nhắc tới nó để tôi có dịp nhớ tới người thủ trưởng cũ của mình, người anh, người thầy mà tôi vô cùng kính trọng, ngưỡng mộ. Đó là Anh hùng tình báo Lê Văn Vĩnh (Bảy Vĩnh).
Anh hùng Lê Văn Vĩnh
Mười năm công tác ở chiến trường miền Nam, tôi đã thuyên chuyển nhiều đơn vị. Nhưng cái “bến đỗ” lâu nhất là H67. Nói con số tròn là 5 năm 4 tháng. Trừ con số lẻ 4 tháng ra, ấy là thời gian tôi không được sống gần ông, với lý do: Ông về Miền họp và những chuyến đi bí mật vào nội thành. 5 năm với 1.825 ngày đều được sát cánh bên ông từ mật khu Bời Lời thuộc miền Đông tới quê dừa Đồng Khởi - Bến Tre  thuộc miền Trung Nam Bộ. Kỷ niệm đầy ắp về ông. Ấy vậy mà chưa viết  được cái gì cho ra tấm ra món về con người mình ngưỡng mộ. Có chăng, nhờ đồng chí Trưởng ban Báo An ninh thế giới khích lệ tôi mới viết được một bài về ông.
Với gần năm nghìn chữ cho một bài viết phỏng nói được những gì trong quá trình 50 năm cuộc đời binh nghiệp của ông? Thực tình tôi mới đề cập được hai sự kiện nhỏ, đó là: Đôi dòng ký ức của ông và hai chuyến công tác vào vùng địch hậu trực tiếp điều tra, nghiên cứu một số mục tiêu trọng điểm phục vụ cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân (1968). Bao gồm: Tiểu khu Phước Long (tỉnh Phước Long); Một số mục tiêu quan trọng tại đô thành Sài Gòn: Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát quốc gia, Nha Cảnh sát đô thành, sân bay Tân Sơn Nhất, Chi khu quân sự Hóc Môn... Vậy thôi, thế cũng là quá nhiều so với khuôn khổ một bài báo.
Và, cũng lại thực tình, đó là những sự kiện tôi đã nắm được đầy đủ, chi tiết từ thời đó. Còn biết bao huyền thoại về ông – Anh hùng tình báo Lê Văn Vĩnh - dẫu rằng có chừng ấy thời gian sống chết bên ông. Có những chuyện thật ly kỳ về nghiệp vụ. Biết đấy nhưng không đầy đủ, không chi tiết. Mà cái phần không ấy ví như phần chìm của tảng băng mà theo nguyên tắc nghề nghiệp tôi đâu dám hỏi.

Tỉ như hai bản tin chưa được kiểm nghiệm nêu trên. Tất nhiên, cả hai sau này đã được thời gian và thực tế kiểm nghiệm. Bản tin đầu chỉ sau 6 tháng và bản tin sau lâu hơn, cỡ gần 2 năm sau đó. Nhưng nguồn gốc của hai báo cáo quan trọng ấy đối với tôi (người được ông giao trách nhiệm tổng hợp, sử dụng mã hóa, thông qua đường vô tuyến báo cáo về J22) thì cho đến nay vẫn là điều bí mật.
Chuyện xảy ra cách đây 38 năm. Tổ quốc hòa bình, Bắc - Nam thống nhất đã 33 năm. Nhiều chuyện thời chiến đã được giải mật. Vì vậy, đầu năm nay tôi điện thăm ông và hẹn sẽ tranh thủ vào trong đó tham gia ý kiến với ông về cuốn lịch sử truyền thống đơn vị. Tất nhiên có việc liên quan tới hai bản tin trên. Ông tỏ vẻ rất mừng và hẹn: “Thế thì hay lắm. Chờ khánh thành cầu Rạch Miễu, Thái Dương tranh thủ vô ta tổ chức thăm Bến Tre. Sức khỏe tôi năm nay hơi bết. Già rồi. Tám mươi lăm tuổi ta rồi còn gì nữa (ông sinh năm Giáp Tý - 1924)”.

Rồi ông thông báo cho tôi một lô xích xông thông tin về anh em H67: Những Năm Tuyến, Tám Thanh, Năm Phương (3 cụm phó) hiện nay ở đâu, tới anh em cán bộ, chiến sĩ như: Cần, Nhiên, Thi lấy vợ tại căn cứ An Phước, Lĩnh và Hoa - “Ba Dương nhớ không - đám cưới hai đứa ở rừng Bời Lời. Tổ chức dưới hầm đó” - sau này chuyển ngành hiện đang ở thành phố. Anh em Tâm và Trí, Tâm và Nguyện cũng vậy. Tư Lợi sau này chuyển ngành về Viện Kiểm sát Giồng Trôm. Tư Sơn thương binh về sống ở quê Giồng Trôm. Rồi tới Hiệp và Bé (chồng trinh sát địa bàn, vợ công tác giao thông hợp pháp), sau hòa bình phục viên về làm ăn sinh sống tại căn cứ cũ ở rừng Bời Lời, Tây Ninh. Nguyệt (con gái anh Sáu Trí - Trưởng J22) và bé Phượng chuyển ngành công tác tại thành phố.
Ông nhắc tên hầu hết anh chị em, những gia đình cơ sở của đơn vị ở An Phước; những anh chị em đã hy sinh thời đó, tới những gia đình cơ sở tại địa bàn. Đặc biệt là một địa chỉ ở Mỹ Tho - “Ba Dương còn nhớ thầy giáo ở Mỹ Tho không?”-“Dạ nhớ chứ. Ông Tám nhà 19 Trương Vĩnh Ký - quê gốc Giao Long Hòa, Bến Tre. Cả 3 cha con đều là cơ sở của H67”. “Ờ... giỏi! Nhớ giỏi đó. Ông Tám mất lâu rồi. Hai người con gái - Cô Tám và cô Mười sau này chuyển ngành, công tác tại Mỹ Tho...”.

Đoàn cán bộ H67 về thăm địa bàn cũ -
Đầm Thuỷ Lợi Bana, Bến Tre
Rồi ông hỏi tới anh em quê miền Bắc đã từng công tác ở cụm”. Sáu Hóa hiện nay ra sao? Nghe nói cậu ấy có chí lắm. Thương binh vậy mà  học tới 2 bằng đại học; cậu Cấp quê ở Nghệ An, có tin tức gì không? Còn hai đứa nhỏ nữa, đó là thằng Út Thử và Ba Quyết. Lâu nay có gặp tụi nó không? Cho tôi gởi lời thăm tất cả anh em mình...”.
Ôi! Một con người tuyệt vời... ông đã làm sống lại trong tôi bao tình cảm cũ, bao kỷ niệm xưa. Tôi lại thêm mong mỏi sớm tới ngày cầu Rạch Miễu khánh thành để sắp xếp công việc vào trong đó tiếp kiến, hầu mong khai thác cái “kho tàng bí mật” ứ đầy trong ông.
Hà Nội, những ngày đầu tháng 10, cả thành phố nô nức chuẩn bị kỷ niệm 54 năm Ngày Giải phóng thủ đô. Không khí tưng bừng của ngày 10-10 lịch sử đã thôi thúc tôi cầm bút. Dự định sẽ phác thảo bài viết về 2 nguồn tin kể trên để khi vào trong đó gặp ông sẽ bổ sung những chi tiết chưa “giải mã”. Buổi tối, tôi vừa ngồi vào bàn viết thì nhận được nhiều cú điện thoại từ phía Nam báo ra. Ôi! Tin như sét đánh... “Chú Bảy Vĩnh đã qua đời. Tang lễ cử hành sáng 12/10” cả đêm đó tôi không sao ngủ được. Bần thần cả ngày hôm sau. Vì lý do sức khỏe bản thân và hoàn cảnh gia đình tôi không vào viếng ông được.

Sáng nay (12/10) vào giờ phút đơn vị, địa phương, gia đình, anh em đồng đội trọng thể tổ chức lễ tang tiễn đưa ông về nơi yên nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang thành phố. Tôi ngồi viết bài này, bài viết sẽ không đầy đủ, trọn vẹn. Thôi đành... nhớ sao viết vậy. Nó sẽ thay nén tâm hương để tôi vái vọng, tiễn ông vào giấc ngủ ngàn thu nơi chín suối.
Những cuộc chuyển quân bí mật
Vào một chiều tháng 10/1970, nữ giao thông viên Tư Chiến từ nội thành về căn cứ của đơn vị tại  ấp I, xã An Phước, Châu Thành, Bến Tre. Buổi tối, Cụm trưởng Bảy Vĩnh sang hầm làm việc của tôi. “Có một báo cáo rất hay của anh em cơ sở. Anh nghiên cứu rồi cho chuyển gấp về trên”.

Ông đi rồi, tôi vội mở tài liệu ra đọc. Tài liệu ngắn gọn trong 2 trang viết tay. Nhận định về tình hình chiến sự. Thông tin cụ thể rất đơn giản nhưng phần dự báo thì quá “nặng đô”. Sự việc không phải ở chiến trường miền Đông Nam Bộ (vùng III chiến thuật) mà nó sẽ diễn ra ở tận vùng I chiến thuật mà chủ yếu tại khu vực đường 9 thuộc Hạ Lào.
Nội dung báo cáo tóm tắt như sau:
“...Có dấu hiệu quân đội quốc gia đang điều chỉnh lực lượng. Nhiều đơn vị bí mật chuyển ra miền Trung. Mấy đêm nay nhiều đoàn xe tải vận chuyển vũ khí; lương thực nhu yếu phẩm ra ngoài đó. Nhiều nguồn tin tin cậy nhận định sẽ có giao tranh lớn diễn ra vào mùa khô tới. Nhiều khả năng đó là khu vực Hạ Lào, dọc đường số 9. Các nhà hoạch định chiến lược quốc gia và đồng minh cho rằng muốn thực thi “chiến lược bình định ở Nam Việt Nam, bằng mọi giá phải ngăn chặn chi viện của quân đội Bắc Việt. Trước mắt, phải “bình định” đường 9. Bố trí binh lực dày đặc. Buộc các đoàn quân Bắc Việt chi viện miền Nam phải chấp nhận giao chiến tại đường 9, chỉ cần giữ “bức tường lửa” ấy trong 2 năm thì coi như hạ tầng cơ sở của Việt Cộng ở miền Nam sẽ tê liệt. Đảm bảo những tên du kích Việt Cộng sẽ không còn nổi một viên đạn súng trường”.
Sau ngày bản tin được chuyển đi, chúng tôi thắc thỏm đợi chờ cho tới một buổi chiều phải đến cỡ nửa năm, anh em bảo tôi “sang gấp hầm chú Bảy”. Tôi hồi hộp không hiểu có chuyện gì mà sếp triệu hồi gấp vậy. Tôi vừa bước xuống hầm, ông reo lên.
- A... Ba Dương đó hả! Nổ rồi... thắng to rồi!...
Tôi ngỡ ngàng - “Nổ ở đâu vậy anh? Có phải ta đánh...”.
Đánh ở đường 9. Thắng giòn giã. Lần đầu tiên ta bắt sống xe tăng địch. Bắt sống một đại tá chỉ  huy tên là Thọ.
Tất cả chúng tôi như nín thở lắng nghe bản tin thời sự trên đài. Giọng phát thanh viên sang sảng đang tường thuật trận đánh ở Làng Vây. Đó là một chiều tháng 4/1971. Sau 6 tháng bán tín, bán nghi, nỗi thắc thỏm đợi chờ của chúng tôi đã được giải tỏa.
Khổ nhục kế
Đó là một trong 36 kế trong “Binh pháp Tôn Tử” thời “Thất quốc tranh hùng” ở Trung Hoa xưa. Ấy vậy mà nó đã được kẻ thù vận dụng ngay trên chiến trường Việt Nam vào những năm 60-70 của thế kỷ trước.
Sau bản báo cáo của cơ sở bí mật “dự báo tình hình chiến sự miền Trung” được ít ngày thì đơn vị nhận tiếp một báo cáo có liên quan tới tình hình nội bộ của ta. Khác với lần trước, lần này Cụm trưởng Bảy Vĩnh sang hầm tôi với nét mặt trầm buồn. Tôi lo lắng hỏi ông về sức khỏe. Rất thương ông bởi trong cái thân hình mảnh khảnh của ông còn giấu cả những mảnh bom, mảnh pháo trong đó nên những ngày trở trời ông thường “khó ở”. Ông không trả lời câu hỏi của tôi mà như lẩm bẩm nói với riêng mình. “Kỳ lạ! Nếu đúng vậy thì tệ hại lắm, mà không đúng thì sao? Sẽ tội cho anh em mình...”.
Ông đưa cho tôi một trang giấy viết tay có bút phê của ông ở góc trên bên trái 2 chữ “THƯỢNG KHẨN”. Bản báo cáo từ nội thành gửi về chỉ phản ánh một sự việc:
...Lực lượng bí mật của quân lực “Việt Nam Cộng hòa” vừa bắt được một người. Chức vụ đại đội bậc trưởng, có lẽ thuộc lực lượng tình báo hoặc quân báo Việt Cộng. Người đó có tên là Mười L... (tên gồm 4 chữ cái. Chữ L đứng đầu và có dấu sắc). Không chịu nổi tra tấn, Mười L... đã đầu hàng, khai báo. Tệ hại hơn là đã nhận làm mật báo viên cho họ và tạo cớ để trở về đơn vị cũ thực hiện ý đồ chui sâu, leo cao. Để che mắt đối phương, Mười L... phải chịu một trận tra tấn tàn khốc (tất nhiên là họ nghi trang như thật). Giữa sự sống và cái chết, Mười L... đã khôn khéo lợi dụng sơ hở của tụi lính gác, trốn khỏi trại giam trở về căn cứ...
Thông cảm nỗi niềm của Thủ trưởng, tôi lựa lời tâm sự:
- Nhiệm vụ của ta là thu lượm thông tin và báo cáo kịp thời về trung tâm. Cố nhiên phải tìm nguồn phối kiểm và có nhận xét của mình. Nhưng nếu chờ thì kẹt. Lỡ chuyện đó là thật thì sao? Với lại... cấp trên “các cụ” tỉnh lắm. Chắc chưa có đối sách gì ngay đâu. Ta cứ cho chuyển ngay anh ạ!.
- Ờ... Tôi cũng nghĩ như vậy, chỉ buồn... nếu đó là sự thật thì thằng địch nó thâm hiểm quá mà thằng của ta thì lại quá hèn. Thực ra cái kế này của địch không mới mẻ gì. Nó đã thực hiện từ “khuya” rồi. Từ thời “đệ nhất cộng hòa” kia. Nó đã từng răn đe những đồng chí của ta bị bắt rằng: “Khôn ngoan thì thành thực khai báo để được hưởng khoan hồng của quốc gia, được về yên vui, hạnh phúc với gia đình. Nếu ngoan cố thì sẽ thân tàn ma dại. Có trở về thì đồng chí của các anh sẽ không tin dùng các anh nữa. Đó! Kẻ thù nham hiểm thế đó.
Hơn một năm sau, ông trở về Miền họp tổng kết năm. Bấy giờ nằm trong giai đoạn địch thực hiện chiến lược “lùng diệt” và “hủy diệt”. Hầu hết các đơn vị phía sau của ta đều phải dạt sang vùng biên giới Campuchia. Hậu cứ của J22 cũng vậy. Hôm ông đi họp về, đơn vị được tập trung tại hầm hội trường nghe ông thông báo tình hình. Sau đó, ông nói như với riêng tôi - “Thằng Mười  L... đã bị bắt. Về hậu cứ chắc là bị “kèm” chặt nên không mần ăn gì được. Y đã kích động số lính trẻ – “Bám mãi xứ chùa Tháp này buồn thúi ruột. Chi bằng cùng nhau trốn đơn vị về quê đánh giặc. Về để đánh giặc thì tội tình, khuyết điểm gì...”.
Đoàn “hùng binh” với trên 60 chiến sĩ trẻ, được trang bị đầy đủ vũ khí, kể cả máy vô tuyến điện, vừa “xuất quân” thì bị chặn lại. “Tác giả kịch bản” là Mười L... bị bắt. Các chiến sĩ trẻ vì nhẹ dạ cả tin, bị kiểm điểm, phê bình về ý thức tổ chức kỷ luật. Thật hú vía!
Với tôi, người may mắn được tiếp xúc nội dung 2 bản tin trên ngay từ buổi đầu cho tới khi được thời gian kiểm nghiệm. Tôi vô cùng tự hào, cảm phục lực lượng hoạt động bí mật của đơn vị. Sau đó là sự nuối tiếc. Bởi, vì nguyên tắc nghiệp vụ mà cho tới nay tôi vẫn chưa tỏ tường về họ. Những người đã một thời thầm lặng cống hiến cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân ta, ngoài 2 bí số quen thuộc (H9 và H81). H9 thì đã rõ quý danh nhưng chưa được gặp. Còn H81 là ai thì đành chịu.
Hà Nội, 12/10/2008
  • Nguồn: ANTG, 21.10.2008.

Bạn tôi - Người anh hùng

VietnamDefence - Đó là Hai Dần (tên do Cục Nghiên cứu - Cục 2 - Bộ Tổng tham mưu, nay là Tổng cục II Bộ Quốc phòng đặt cho để sử dụng tại chiến trường miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ). Tên thật của anh là Nguyễn Văn Giai. Tuổi Tân Tỵ (1941). Quê quán: làng Liễu Khê, xã Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh. Nguyễn Văn Giai là người anh hùng đầu tiên của ngành Cơ yếu Việt Nam cũng như của lực lượng Cơ yếu Tình báo Quân sự.
Đồng chí Nguyễn Văn Giai (bên trái) và tác giả bài viết
(ảnh chụp tại chiến trường miền Đông Nam Bộ tháng 10/1969).
Thời gian tôi được sống gần  Nguyễn Văn Giai không nhiều. Cộng tất tật từ lúc gặp gỡ lần đầu rồi chia tay nhau, tái ngộ cho tới lúc từ biệt nhau cũng chỉ hơn 4 năm. Cái thời gian gọi là gắn bó "như bóng với hình" chỉ ngót nghét 2 năm. Song, bởi quá nhiều thứ tương đồng nên chúng tôi đã trở thành đôi bạn tâm giao (dẫu rằng anh hơn tôi tới mấy tuổi).
Cùng là lính nghĩa vụ những năm đầu thập niên 60, khi xuất ngũ chẳng bao lâu thì cùng được Tỉnh ủy hai tỉnh Sơn Tây (quê tôi) và Bắc Ninh (quê anh cử đi học tại Trường Kỹ thuật Trung ương. Năm 1965, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, cả hai cùng xung phong tái ngũ. Rồi nữa, cả hai cùng được Cục II tuyển chọn, đào tạo phục vụ chiến trường miền Nam.
Ra trường, cùng được cử vào chiến trường miền Đông Nam Bộ thuộc hai Cụm tình báo chiến lược. Giai về B49, tôi về B48... Chừng đó thứ cùng và chừng đó thời gian gắn bó với nhau, anh đã để lại trong tôi bao kỷ niệm sâu sắc.
Những ngày ở Thủ đô và vai diễn đầu tiên của nghề bí mật
Ra trường, chúng tôi được đưa về "Trạm 66" của Quân đội. Ngủ lại một đêm và sáng hôm sau cán bộ của Cục II tới tiếp nhận đưa lên một chiếc Commăngca chạy lướt qua nhiều đường phố Hà Nội, rồi dừng lại ở một khu phố san sát những nhà là nhà. Xuống xe mới biết đó là một phố cổ có tên là Hàng Bè (ấy là tôi nói theo thời đó, chứ bây giờ đã biến dạng cả rồi).
Hai đứa được đưa lên tầng 2 của ngôi nhà hai tầng. Người cán bộ tiếp nhận tự giới thiệu: "Tôi là Trần Long, cán bộ của Cục được giao nhiệm vụ giúp các đồng chí từ nay cho tới ngày lên đường. Đây là nhà mật của đơn vị, giao cho các đồng chí quản lý.
Nghe giọng nói, biết Trần Long là cán bộ tập kết và những ngày sau đó chính anh là một trong những người thầy huấn luyện nghiệp vụ cho chúng tôi. Với tinh thần khẩn trương, nên buổi sáng hôm đó, chúng tôi đã bước ngay vào bài học đầu tiên về cái nghề bí mật.
Trước hết, về "bình phong - chức nghiệp" (ngụy trang nghề nghiệp của mình) chúng tôi được quy định nếu có ai hỏi đều thống nhất trả lời "là cán bộ thương vụ đang chờ đi công tác nước ngoài". Về tên gọi, mỗi người đều được đặt một số tên mới bao gồm: tên dùng ở Hà Nội, tên dùng trong vùng căn cứ giải phóng và tên phục vụ khi hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Hai loại tên trên được phổ biến chung, loại thứ ba thì phổ biến riêng, hồ sơ của ai người đó biết.
Hồi đó tên gọi ở khu phố của Giai là Thoại (Trần Thoại), còn tôi là Lê Dung. Hồ sơ do Cục II và J22 (Đoàn tình báo miền Nam) quản lý, chỉ sử dụng họ chính kèm tên bí danh. Giai là Nguyễn Văn Dần. Tôi là Khổng Thái Dương. Còn loại tên thứ ba thì nhiêu khê lắm, bởi nó kèm theo hàng lô thủ tục: thẻ căn cước, hồ sơ sức khỏe, giấy xác định được miễn quân dịch (miễn vào lính)...
Mọi chi tiết trong hồ sơ này phải thuộc lòng. Hỏi và đáp ngay không được đắn đo, suy nghĩ. Tôi được mang một họ tên mới (kể cả tên cha, mẹ), quê quán lạ hoắc - mãi tận xứ Đông thuộc huyện Gia Lộc (đối xứng với xứ Đoài quê gốc của tôi). Cố nhiên là tôi được chỉ rõ làng, xã, đường đi nước bước cụ thể để đề phòng khi bị địch bắt còn biết mà trả lời. Cái nghề hoạt động bí mật nó nghiệt ngã lắm. Sơ hở là vào nhà đá như chơi.
Thời gian ở Hà Nội, ngày chúng tôi học nghiệp vụ. Đêm, tập hành quân đeo gạch. Phải tập lén về đêm để tránh gặp người, để khỏi rơi vào cảnh "giấu đầu lòi đuôi" - Cũng may, Hà Nội thời đó đêm khuya vắng tanh, làm gì có ôtô, xe máy rần rần, làm gì có ăn nhậu tùm lum thâu đêm như bây giờ. Những ngày chủ nhật được về thăm nhà. Nhưng quê tôi ở xa nên đành chịu. Những ngày đó Giai thường kéo tôi về quê anh. Miền quê trù phú ấy tôi đã thuộc từng đường ngang ngõ tắt và mãi mãi khắc sâu trong ký ức tôi.
Trường Sơn huyền thoại
Chúng tôi có may mắn là được ôtô đưa vào tới chân Trường Sơn mới bắt đầu cuốc bộ. Ấy vậy mà cũng ròng rã hơn 4 tháng mới vào tới miền Đông Nam Bộ. Cứ bám dãy Trường Sơn mà đi. Vượt núi, băng rừng, vượt sông, vượt suối với toàn bộ gia tài người lính trên vai. Từ súng  đạn, quân trang, lương thực, thực phẩm, thuốc men, dụng cụ cứu thương, tăng, võng, áo mưa... có tinh giảm gì thì cũng không thể dưới 30kg.
Cứ đêm nghỉ, ngày đi, bất kể mưa nắng, bão giông cùng bao nỗi cơ cực: Đói khát, đau ốm, bom đạn, biệt kích, rắn rết, muỗi, vắt... xâu xé thể xác con người. Mấy tuần đầu còn hăng hái, tới tháng thứ 2, thứ 3 thì dù khỏe mấy cũng "thấm đòn". Thực phẩm cạn kiệt, sức khỏe hao mòn, bệnh tật nảy sinh. Trạm giao liên nhan nhản người ốm. Thiếu thuốc, bồi dưỡng không có. Một thìa đường, thìa sữa còn quý hơn cả sâm cao ly bây giờ. Không ít anh em vì kiệt sức, lại bị sốt rét ác tính hoành hành nên đã “ngủ” lại mãi mãi với Trường Sơn.
Trong đoàn chỉ có Giai và tôi sức khỏe được xếp loại A. Ấy vậy mà vào tới cuối khu 6 tôi cũng bị sốt rét quật đổ phải nghỉ lại ở trạm xá 2 ngày, nên cả đoàn ở lại chờ. Chiều hôm sau, Giai vào thăm. Anh mở sắc cốt tài liệu lấy ra một gói giấy nylon vo tròn bằng đầu ngón tay cái, dúi vào tay tôi, ngậm ngùi - "mới qua một trận sốt mà cậu gầy và xanh  quá... chả có gì để bồi dưỡng. Mình chỉ còn lại một tí này thôi... Tay run run, tôi lần mở "gói quà", bỗng thốt lên: "Trời ơi! Sữa bột... Anh đào ở đâu ra vậy?".
Tôi thấy hai má mình nóng nóng, nước mắt ứa ra trong cái buổi chiều vắng lặng giữa đại ngàn Trường Sơn huyền thoại. Rất có thể cái thìa sữa thấm đượm nghĩa tình đồng đội ấy đã tạo sức mạnh cho tôi. Đêm hôm ấy dứt sốt và sáng hôm sau tôi theo Giai về nhập đoàn tiếp tục hành quân.
Về tới Bến Súc - khu vực căn cứ của B49, tôi chia tay Giai, hành quân tiếp 3 ngày nữa mới về tới địa bàn bám trụ của đơn vị.
Tái ngộ và chia xa
Sau tết Mậu Thân, địch phản kích quyết liệt cửa ngõ Đông - Bắc Sài Gòn. Địa bàn hoạt động của B48 tê liệt. Trong căn cứ một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Lực lượng bí mật nội thành mấy người bị bắt. Vì vậy, cấp trên quyết định nhập B48 vào B49. Mấy năm xa cách chúng tôi mới gặp lại. Song, cũng chỉ hơn một tháng lại chia xa. Có ngờ đâu đó là cuộc chia xa mãi mãi.
Lần đó Giai được cử đi công tác đột xuất tại cửa ngõ An Tịnh - huyện Trảng Bàng, Tây Ninh. Cán bộ tháp tùng là Sáu Bia - trinh sát địa bàn. Hai người về một gia đình cơ sở ở ấp An Bình vì ở đó đã có hầm bí mật cũ. An Tịnh thời điểm đó rất êm, thuận lợi cho việc bám trụ. Cả tháng chưa có trận càn nào. Mỗi tuần bọn lính Bảo an lảng vảng tới đầu ấp rồi tạt đi nơi khác.
Thế rồi, vào một ngày, bất ngờ địch đột kích An Tịnh vào lúc gần sáng nên hầu hết cán bộ bám trụ đều không kịp di chuyển địa bàn. Tất cả đều phải xuống hầm bí mật. Trận càn đó ta thiệt hại lớn với nhiều người bị bắt và hàng chục cán bộ hy sinh mà trong đó có Sáu Bia và Hai Dần. Điểm xung đột lớn, kéo dài nhiều tiếng đồng hồ và gây cho địch thiệt hại nặng nề diễn ra ở ấp An Bình tại căn hầm của Hai Dần và Sáu Bia cố thủ. Đó là căn hầm thiết kế theo hình chữ "L". Hôm đó ngoài 2 anh, còn có một cán bộ địa phương. Khi địch phát hiện miệng hầm, chúng bu lại, cười hý hố, lớn tiếng kêu gọi đầu hàng. Hai Dần hội ý trong tổ và phân công.
- Địch đã phát hiện hầm. Phen này phải sống mái với chúng. Vũ khí ta chỉ có 2 lựu đạn Mã Lai, 2 súng ngắn. Khi nổ súng, anh Tư (chỉ đồng chí cán bộ địa phương), tạm ém vào ngách trong. Ngoài này tôi và Sáu Bia "chơi" với tụi nó. Tôi sẽ dùng lựu đạn đánh keo đầu. Phải hạ thủ một số tên. Chắc chắn chúng sẽ phản ứng quyết liệt và tổ chức lấy xác. Thời gian đó Sáu Bia sẽ sử dụng súng ngắn canh chừng miệng hầm để tôi có thời gian thiêu hủy tài liệu. Đây là tài liệu rất quan trọng. Nếu lọt vào tay kẻ thù sẽ gây tổn thất lớn cho cách mạng...
Tiếng giày đinh nện cồm cộp trên nắp hầm. Theo lỗ thông hơi, dường như lời tên chỉ huy dội xuống xa xôi, mơ hồ... "Tụi bay tập trung lại đây. Khui nắp hầm lên. Quyết bắt sống. Bắt sống sẽ được lãnh thưởng lớn hơn...".
Hai Dần bò ra phía cửa hầm. Một tay kéo nắp hầm, một tay cầm trái lựu đạn đã mở chốt. Bỗng chốc dồn sức mạnh vào 2 tay đẩy tung nắp hầm lên rồi vội tụt xuống. Một tiếng nổ chát chúa. Khói, đất theo khoảng sáng của cửa hầm dội xuống cùng tiếng kêu la rên xiết của tụi lính. Dần nhanh chóng vào ngách trong thiêu hủy hết số tài liệu trong sắc cốp rồi lại bò ra cùng Sáu Bia tiếp tục chiến đấu cho tới khi cả 2 khẩu súng không còn một viên đạn.
Những chi tiết trên chúng tôi biết được thông qua lời kể của anh Tư cùng có mặt dưới hầm hôm đó. Anh thoát nạn, ấy là sau khi kẻ địch dùng bộc phá đánh tung miệng hầm. Bọn chúng mò xuống gặp 2 xác chiến sĩ, chúng vội kéo lên, rồi chuồn thẳng.
Những thông tin trên cùng với thiệt hại của ta và phía quân địch được kiểm chứng qua báo cáo của một cơ sở bí mật trong lòng địch và phản ánh của quần chúng như sau: Trận càn do Trung tâm Phượng Hoàng quận Trảng Bàng thực hiện, có sự hỗ trợ của lực lượng Tiểu khu Hậu Nghĩa (Trảng Bàng lúc đó thuộc tỉnh Hậu Nghĩa). Do Tỉnh trưởng Mã Sơn Nhân trực tiếp chỉ huy. Trận càn đã được chuẩn bị trước hàng tháng.
Vì nắm chắc một trăm phần thắng trong tay nên chúng đã tổ chức ăn mừng từ tối hôm trước. Chúng đã tung lực lượng bí mật về An Tịnh, tạo ra những cuộc báo động giả nhằm phát hiện những địa điểm bí mật. Vì vậy, nhiều hầm đã được bọn chỉ điểm xác định rất chính xác.
Điều chúng không ngờ tới đó là cuộc đụng độ xảy ra ở An Bình khiến cho hàng chục binh lính bị thương và thiệt mạng. Sự hy sinh bất khuất của Hai Dần và Sáu Bia đã thức tỉnh nhiều sĩ quan và binh lính ngụy. Có người đã công khai thổ lộ - "Đúng là 2 Việt Cộng quả cảm. Họ đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng...".
Chuyện sau chiến tranh
Giải phóng miền Nam. Trở lại quê nhà, tôi đem theo bao kỷ niệm về chiến trường trong đó có Nguyễn Văn Giai. Năm 1978, thông qua bút pháp truyện ngắn, tôi đã viết lại câu chuyện trên với tên gọi "Đồng hương". Đầu thập niên 80, truyện được in trên báo Văn nghệ. Tôi đem tờ báo tới thăm và tặng Thủ trưởng cũ của mình là Trung tướng Nguyễn Như Văn - Tổng cục trưởng Tổng cục II. Đọc xong, trầm ngâm giây lát, ông khẽ thốt lên: "Quả là một hành động anh hùng".
Mấy tuần sau, tại trụ sở làm việc của đơn vị, tôi được tiếp đoàn cán bộ của Cục II do Đại tá Nguyễn Trung Cuông - Trưởng phòng 80 (đơn vị quản lý kỹ thuật nghiệp vụ của Nguyễn Văn Giai) dẫn đầu. Các anh cho biết: Trung tướng Như Văn giao trách nhiệm trở lại chiến trường xưa xác minh quá trình công tác và chiến đấu của Giai để xây dựng hồ sơ đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Việc gặp tôi là mở đầu cho kế hoạch đó.
Tác giả bài viết dự ngày giỗ anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Giai
Bẵng đi nhiều năm, vào một ngày cuối tháng 4/1998, một niềm vui đến bất ngờ, tôi được Nguyễn Trung Cuông thông báo qua điện thoại: "Ngày 22/4/1998, Chủ tịch nước đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng cho Nguyễn Văn Giai. Địa phương và đơn vị đang chuẩn bị cho buổi lễ công bố".
Ngày gia đình tổ chức đón nhận danh hiệu Anh hùng cho anh, tôi đang công tác ở phía Nam nên phải mấy năm sau đó, nhân ngày giỗ anh tôi mới về được. Mừng lắm! Quê hương, gia đình đã đổi thay gấp nhiều lần so với thời tôi và anh ra đi.
Chị Cao Thị Loa - vợ anh - một phụ nữ nhan sắc đảm đang đã nuôi dạy 3 đứa con trai khôn lớn, trưởng thành - Nguyễn Văn Nhân, con trai trưởng của anh đang công tác tại Công an huyện Thuận Thành; Cháu Minh làm việc ở xã; Cháu thứ ba là Nguyễn Văn Binh - cái thằng mà khi anh đi nó vẫn còn trong bụng mẹ, nay đã có vợ, con và đang làm ăn, sinh sống khá giả ở bên Tiệp. Cái nhà cấp 4 của anh ngày xưa đã được thế chỗ cho ngôi biệt thự 3 tầng cao sang, lộng lẫy...
Tôi viết những dòng này vào một ngày cả nước đang tưng bừng kỷ niệm ngày chiến thắng huy hoàng của dân tộc mà anh cùng bao đồng đội, đồng bào thân yêu của chúng ta đã cống hiến cả cuộc đời mình vì nó. Bài viết thay cho nén tâm hương tưởng nhớ anh trong nỗi niềm tiếc thương da diết - Giai ơi!...
Ái Mộ, ngày 28/4/2009
  • Nguồn: ANTG, 13.05.2009.

Nhận xét