PHÁ - XÂY


 NGỐ CƯỜI

Thăng trầm đã khắp trường đời
Thành ra thằng ngố hay cười ngang hông
Ta cười chát chúa bến sông
Lủi thà lủi thủi một ông lái đò
Ta cười sặc sụa con cò
Bỏ anh bắt tép mà dò lên cây
Ta cười khanh khách đám mây
Buông xuôi theo gió, đêm ngày lưu vong
Cười ha hả trước bão giông
Cười lanh lảnh những trùng phùng, ly tan...

Ta cười khùng khục nhân gian
Cười ngăn sầu lệ chực tràn niềm sâu!


                                                                     Trần Hạnh Thu

 Ảnh minh họa





CẢNH ĐỜI
Ta cười khanh khách quan san
Chập chùng núi phố, dọc ngang dòng đường
Panô, cột sắt giăng rừng
Ngày mờ tối bụi, đêm trưng sáng đèn
Đàn xe xuôi ngược vang rền
Máy bay phành phạch, xuống lên ngợp trời
Ngó quanh thưa thớt bóng người
Diễn viên nở rộ, chào mời, múa may
Văn minh dụ khị khôi hài
Ruộng vườn đem đổi lấy vài đẹp ngon...






Ta cười nhếch mép vàng son
Gương xưa, phế tích chồm ồm nhe răng
Tràn lan xây lấp làm sang
Ngô nghê chồng chất nát tan dân tình
Thương nòi, yêu nước, béo mình?
Tận tâm ngu bộc, thất kinh chủ nhà!




Ta cười lặng lẽ bao la
Gió mây thoáng đãng, nắng mưa êm đềm
Trời xanh, đằm thắm một nền
Đất son kim cổ hai miền nước non
Ta cười viễn cảnh cháu con
Cạn tàu ráo máng, trơ hòn đất lăn


Ta cười ngặt nghẽo nhân gian
Tham lam bạc bẽo, cơ man ngậm ngùi...

                                                                  Trần Hạnh Thu

HẾT HỒN

 (Xây quá là thành...phá!)


 Chớm ra thoát xác đói nghèo
Vội mơ lốt mới, cắm đầu mà xây
Xây nhà, non bộ, bon sai
Xây sau, xây trước, xây vây hàng tường
Xây đường sá, xây phố phường
Xây đài, xây tháp, xây mương, xây cầu...

Xây choáng rộng, xây ngất cao
Thi đua đồ sộ, nháo nhào bê tông
Xây bạt núi, xây nghẽn sông
Búa xua lấn khắp ruộng đồng nước non...

Ngàn năm di tích có còn?
Trăm năm đã thấy hết hồn nhà quê!
Đám quèn ngỏng cổ ủ ê
Bạc vô, mẹ kiếp, đầy phè cò, quan!


                                                                 Trần Hạnh Thu

                  COI CHỪNG,THÁI QUÁ
 
                        THÌ...BẤT CẬP !



____________________


ĐỒ NGU XUẨN

 Thằng Nam khuyên thằng Đông:
"Tao nói cho mày nghe này, nhóc "Trưởng họ" à:
-Nhớ nằm lòng nhé, dòng họ mày hiền lành mà trực tính, thuần phác nhưng bất khuất!
-Đừng vì tham lam mà "mượn" trò "qui hoạch" để trục lợi, nhẫn tâm vơ vét cho riêng mày mà rồi dòng họ biết được, điên tiết lên là mày mất cả chì lẫn chài, bị nguyền rủa đời đời đấy nhé!
-Đừng nhắm mắt nghe lời dụ khị, cắm đầu bắt chước, hùng hục chạy theo thằng Tây mà bôi bác, phá phách truyền thống gia phong nhé! Tỉnh táo chọn học cái khôn, miếng ngon của nó thôi, chứ nó cũng có ối cái dại, miếng dở ẹc! Hơn nữa, luôn phải nhớ rằng nó là Tây, quen ăn thịt, còn mày là Đông, quen ăn rau!
-Cố mà bảo toàn "cây đa, giếng nước, câu hò" của nhà mày nhé! Non xanh nước biếc nhà mày đẹp và linh lắm, đừng để bị văn hóa "hậu hiện đại" xâm hại, làm xấu xí, mất linh đi là khốn nạn lắm đấy! 
-Cố giữ gìn đất đai trồng trọt mà tổ tiên ông bà mày để lại nhé, đừng đổ bê tông vào "đô thị hóa" nó, kẻo không những nhãn tiền làm đổ đốn con cháu của mày, gây ra bất hòa trong anh em nhà mày, mà còn làm cho mai sau hậu duệ nhà mày chết đói cả nút đấy!
-Tao nhắc nhở mày thế, hiểu không?
-Không hiểu à? Đồ ngu xuẩn!"

Thằng Đông đi kể lại cho thằng Tây, rồi hỏi:
"Tao có ngu xuẩn không?"
Thằng Tây vừa dúi vào tay thằng Đông tờ 10 đôla vừa đáp tỉnh bơ:
"No! Đông number one, Nam number ten!"
Thằng Đông cúi xuống nhìn tờ đôla, gật gù ra chiều đã hiểu...

                                                                                            ĐC
________________________

(Chép lại từ "Đại học Quốc Gia Hà Nội - Trung tâm Nghiên cứu đô thị")

Đô thị hóa nông thôn & sự chuyển dịch cơ 

cấu kinh tế






Đô thị hóa với bức tranh khang trang, sạch đẹp là điều ai cũng nhìn thấy và không thể phủ nhận, đặc biệt là tại các vùng nông thôn. Tuy nhiên, đằng sau bức tranh đẹp ấy dường như đang tồn tại nhiều nét lỗi, như những làn sóng ngầm sau bức tranh quê yên ả. Đâu đó, người dân vẫn còn loay hoay với ngôi nhà, thửa ruộng, với việc sẽ làm gì tiếp theo khi đất canh tác không còn nữa... Sự thay đổi về lối sống đã thấy rõ, còn sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế và phương thức sản xuất dường như vẫn là bài toán còn nhiều vướng mắc !  
NÔNG THÔN VÀ LÀN SÓNG ĐÔ THỊ HÓA 
Nông thôn Việt đang được nhìn nhận ở hai khía cạnh. Một bên là hình ảnh đặc trưng của làng quê Bắc Bộ xưa với cây đa, bến nước, mái đình, làng quê khép kín sau rặng tre xanh; Miền Nam là những rặng dừa trải dài xanh mát. Ở một khía cạnh khác, hình ảnh làng quê hiện tại dù Bắc hay Nam cũng đều rất quen, quen đến độ tất yếu, đó là những dãy nhà lô, nhà ống đều san sát theo nhau, những đường làng ngõ xóm bê tông sạch đẹp. Có người nói, nhà chia lô là sản phẩm tất yếu của quá trình đô thị hóa, cũng có người cho rằng, đó là hệ quả của quá trình phát triển tự phát và thiếu định hướng. Thế nhưng, cho dù đó có là xu hướng, là hệ quả thì cuối cùng vẫn là một bức tranh quê đang vẽ lại, sạch đẹp nhưng thiếu vắng linh hồn. 
Nhà ở nông thôn có lẽ là cái nhìn dễ thấy nhất minh chứng cho tốc độ lan rộng của quá trình đô thị hóa. Nhiều nhà cổ, làng cổ vài trăm năm tuổi lần lượt "rủ nhau" xóa tên khỏi danh sách bảo tồn. Đừng nói chỉ thành phố mới ngổn ngang xây dựng, nông thôn cũng không khác gì đại công trường. Tất nhiên, điều này đáng mừng bởi nó cho thấy đời sống vật chất của người dân đang được cải thiện. Cái được nhiều, nhưng cái mất cũng là không nhỏ. Không còn cây đa, bến nước, giờ thay vào đó là những cửa hàng san sát, dịch vụ vui chơi giải trí, quán bia, quán nhậu hay ghi lô đề... Người dân đang giàu lên, nhưng không phải hoàn toàn từ nông nghiệp, mà phần nhiều từ đất nông nghiệp bị thu hồi. 

Theo thống kê, trong 5 năm, từ 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng). Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc. Nói như GS Nguyễn Lân Dũng: “Rất đáng buồn là toàn những ruộng nhất đẳng điền, toàn những bờ xôi ruộng mật bị lấy đi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh. Vậy mà ngay các KCN được cấp giấy phép từ lâu nhưng ruộng đất vẫn bị bỏ không một cách vô cùng lãng phí”. Người dân có tiền, nhà xe đầy đủ nhưng không việc làm ổn định, sinh ra tệ nạn, phải ra thành phố kiếm sống...
Nông thôn mới với chương trình lớn của Chính phủ đang được triển khai, bước đầu mang nhiều dấu ấn tích cực. 19 tiêu chí khung với sự sửa đổi, bổ sung sau 3 năm thực hiện đang dần được các địa phương áp dụng. Cái khó nhất, có lẽ vẫn là việc cho ra đời một bản quy hoạch nông thôn mới đồng bộ và phù hợp. Trong đó, việc xác định cơ cấu kinh tế, phương thức sản xuất và sự chuyển dịch trong tương lai cho mỗi làng, xã là điều quan trọng nhất, đánh dấu sự thành bại trong việc xây dựng nông thôn mới. 
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN CHUYỂN DỊCH THEO HƯỚNG NÀO? 
Theo dự tính, đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, phát triển theo hướng hiện đại. Nhưng với thực tế phát triển nông thôn hiện nay quả là rất khó. Nếu vẫn quyết tâm thực hiện thì ngay từ lúc này chúng ta phải có những quyết sách thật đúng đắn, thực hiện một cách mạnh mẽ, quyết liệt. Việc sử dụng đất nông nghiệp như thế nào, vào mục đích gì là bài toán cần được cân nhắc kỹ vì trong vấn đề này, chỉ cần “sai một ly” cũng có thể “đi một dặm”. Việt Nam là một nước nông nghiệp lấy sản xuất lúa nước làm chính. Có tới 69,4% cư dân đang sống ở nông thôn (2011). Trong thu nhập quốc nội (GDP 2011) thì nông lâm thủy sản còn tới 22,02%. "Hồn" Việt chính vẫn là nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Tuy nhiên, cái "hồn" đó đang ngày càng mờ nhạt mà tiêu điểm là vấn đề sử dụng đất đai và thiếu định hướng cho một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp.
Với các làng ven đô, cơ cấu kinh tế được định hình vào việc phát triển theo các nhu cầu của đô thị. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đang là bài toán khó để duy trì được tính ổn định của quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Một mét vuông ở vùng thuần nông có thể chỉ tạo ra một đồng, nhưng ở vùng ven đô, nhất là ven Hà Nội thì phải tạo ra gấp nhiều lần mới thu hút được người dân tham gia. Khi việc trồng lúa, trồng màu không mang lại thu nhập bằng việc vào thành phố làm thêm thì đương nhiên, họ sẽ không ngần ngại mà bán lại cho các dự án công nghiệp, khu đô thị mới. Những mô hình hoạt động phi nông nghiệp, dịch vụ mới mang tính tự phát hình thành. Các làng nghề ngổn ngang, môi trường ô nhiễm, các hàng quán bám theo đường làng đến những tụ điểm mang tính tiêu cực xã hội. Điều này cho thấy kinh tế phi nông nghiệp mới đang trên con đường hình thành, chưa ổn định vững chắc và tiềm ẩn nhiều thách thức. 
Trên thế giới, rất nhiều nước đã cho ra đời khá thành công mô hình nông thôn mới. Trong đó phải kể đến mô hình “mỗi làng một nghề” của Nhật Bản, mô hình làng nông nghiệp ở Israel (Ki bút và Mô sáp) hay tại Đài Loan, Philippin, Hà Lan. Các mô hình này diện tích đất nông nghiệp tuy không nhiều, nhân công ít nhưng sản phẩm tạo ra lại dư thừa nhu cầu trong nước và mang lại giá trị xuất khẩu cao. Họ làm được, chúng ta cũng không ngoại trừ khả năng. Tuy nhiên, việc áp dụng những mô hình đó vào nước ta lại là vấn đề cần nghiên cứu kỹ.
Về lý thuyết, các nghiên cứu về Desakota (nông thôn - thành phố) cho khu vực châu Á (Từ các nghiên cứu làng ở Indonesia, McGee 1991) đã được nhiều nhà nghiên cứu phát triển khá sâu rộng rất đáng để chúng ta học tập. Các làng đô thị được nhìn nhận hữu cơ hơn với đô thị, nông thôn không tách rời sự phát triển của đô thị trên cả khía cạnh kinh tế, môi trường sinh thái, hạ tầng và đời sống xã hội. Điều này không phải không được nhận thấy ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tế các quy hoạch phát triển đô thị, kiểm soát, quy định các vấn đề nông thôn chưa được nhìn nhận song hành với vấn đề đô thị. 
Làng nghề cũng là một mô hình cần được đẩy mạnh theo hướng đầu tư chuyên nghiệp và bền vững. Theo báo cáo của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, hiện nay cả nước có 3.355 làng nghề và làng có nghề. Trong đó có hơn 1.600 làng nghề được công nhận, gần 400 làng nghề truyền thống và hàng trăm nghệ nhân được phong tặng danh hiệu với 53 nhóm nghề. Cả nước ước tính có khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong đó có rất nhiều sản phẩm có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm: Tơ lụa Vạn Phúc, the lụa La Khê; kim hoàn Châu Khê; đồng Ðịnh Công, Ðồng Xâm, Ý Yên, Ðại Bái; gốm Bát Tràng, Chu Ðậu; gỗ Ðồng Kỵ, thêu Quất Ðộng, thổ cẩm Mai Châu, dừa Bến Tre... Ðời sống của người dân nơi có làng nghề thường cao hơn từ 3 đến 5 lần so với các làng nghề thuần nông. Các làng nghề thu hút khoảng 12 triệu lao động, tạo việc làm cho hàng triệu lao động phụ lúc nông nhàn. Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu ở các làng nghề đã đạt hơn một tỷ USD/ năm. Đây là một thuận lợi lớn để chúng ta tập trung cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng này. 
Từ các mô hình kinh tế mới, trang trại, làng sinh thái hay làng nghề, làng nông nghiệp công nghệ cao... các chức năng mới sẽ xuất hiện trong cấu trúc làng xã như các khu vực sản xuất tập trung, khu thí nghiệm, khu dịch vụ quảng bá sản phẩm, giao dịch, nhà ở mới và hệ thống hạ tầng giao thông mới tương ứng. Các chức năng mới này cùng với các khu vực hiện có của làng xã được nâng cấp tạo thành một mô hình cư trú mới. Điều khác biệt là tạo được sức sống thực sự cho các làng xã và cả sự chủ động trong đầu tư phát triển. 
Với vùng thuần nông, việc dồn điền, đổi thửa để canh tác trên diện tích lớn, phù hợp với máy móc hiện đại là điều cần thiết. Việc lập các trang trại canh tác, định hướng trồng cây gì, nuôi con gì cần thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp tư nhân, chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo thuận lợi cho đầu vào, đầu ra của sản phẩm. Các hội nghề nghiệp, hợp tác xã phát huy vai trò, thế mạnh của mình. Với mô hình nông thôn mới, nhiều làng xã đã tìm được hướng đi trong đó có việc kết hợp lãnh đạo xã và người dân, thành lập những hợp tác xã trồng rau sạch hoặc trồng hoa... mang lại những tín hiệu tích cực cho người dân.
Ngoài ra, có một nhóm đối tượng nữa, đó là những lao động làm việc song song cả ở vùng quê, cả ở thành thị. Ở Trung Quốc, người ta gọi những người nông dân ra thành thị, khu công nghiệp làm việc là tầng lớp “nông dân công”. Việt Nam chưa có thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn cũng là một con số không nhỏ. Tầng lớp nông dân công này chịu rất nhiều rủi ro và ngày càng gia tăng. Nếu chúng ta không có chính sách an sinh xã hội tốt thì đây sẽ là vấn đề nan giải. Ai cũng muốn làm giàu trên mảnh đất quê hương cha ông để lại, nhưng để có được mong muốn đó không chỉ là sự nỗ lực của chính mỗi người dân mà quan trọng hơn, đó là việc xác định khả năng, thế mạnh và các bước đi cụ thể, phù hợp cho từng địa phương trong tiến trình hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
ThS.KTS Nguyễn Phúc Đức 
Nguồn: KTVN
___________________
ĐOẠN KẾT: 

Công ty TNHH Đông-Tây được thành lập trên cơ sở thằng Đông góp đất, thằng Tây góp tiền. Một khu liên hiệp sản xuất thuốc lá  to "khủng hoảng" mọc lên sừng sững trên đất cả dòng họ nhà thằng Đông. Từ đó thằng Đông thành "đại gia". Không biết có phải vì tình xưa nghĩa cũ hay không mà lâu lâu nó lại rủ thằng Nam (vẫn là nông dân quèn) đi nhậu. Trong những lần nhậu đó, thường thằng Đông oang oang đủ chuyện, còn thằng Nam dương mắt ngồi nghe, miệng uống bia của thằng Đông mà trong sâu thẳm đáy lòng buồn rười rượi... 
ĐC  ---------------------------------------
MÀN MỚI:

Tỉnh nghèo xây tượng đài ngàn tỉ

04/08/2015 23:38

Nói về đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ ở Sơn La với vốn đầu tư 1.400 tỉ đồng, đại diện Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch nhắc nhở sinh thời, Bác là người rất tiết kiệm, chống lãng phí, phô trương, hình thức

Kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh Sơn La khóa XIII vừa ban hành Nghị quyết thông qua đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc gắn với quảng trường tại TP Sơn La. Dư luận đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng tượng đài này khi ngốn số vốn đầu tư rất lớn, khoảng 1.400 tỉ đồng.
Tượng đài “siêu khủng”
Đề án xây dựng trên quy mô diện tích khoảng 10-15 ha. Các hạng mục chính gồm: đền thờ Bác Hồ (tượng cao từ 5 m đến 8 m), đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, bảo tàng tổng hợp, khu điều hành và đón tiếp, khuôn viên cây xanh và quảng trường có sức chứa 20.000 người. Đây có thể xem là tượng đài quy mô nhất tại Việt Nam từ trước đến nay với tổng mức đầu tư của dự án khoảng 1.400 tỉ đồng, bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được xây dựng ở Gia LaiẢnh: HOÀNG NGUYỄN
Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được xây dựng ở Gia Lai Ảnh: HOÀNG NGUYỄN

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động ngày 4-8, ông Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) tỉnh Sơn La, cho biết mục đích chính của đề án là nhằm đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của đồng bào các dân tộc Tây Bắc nói chung và nhân dân các dân tộc Sơn La nói riêng đối với Bác Hồ kính yêu. “Với tình cảm biết ơn lãnh tụ sâu sắc, chúng tôi đề xuất tỉnh, Bộ VH-TT-DL và được trung ương nhất trí cho phép xây dựng tượng đài tại Sơn La” - ông Quyến nói.
Ông Quyến nhấn mạnh xây dựng tượng đài cũng là một nét văn hóa đặc biệt quan trọng, mang tính lịch sử, giáo dục, tính truyền thống và nhân văn sâu sắc, là di sản văn hóa vô giá cho các thế hệ. Dự kiến lễ động thổ khởi công xây dựng công trình vào ngày 11-10, nhân kỷ niệm 120 năm thành lập tỉnh Sơn La.
“Nghèo mà làm được thì mới giá trị”
Về ý kiến băn khoăn Sơn La là tỉnh nghèo mà xây dựng tượng đài với tổng vốn đầu tư đến 1.400 tỉ đồng, ông Quyến cho rằng “nói vậy thì… rất vô vàn”. “Tình cảm của Bác Hồ với đồng bào Tây Bắc cũng như tình cảm của đồng bào Tây Bắc đối với Bác Hồ thì không thể đong đếm được. Làm sao mà đong đếm được? Làm sao có thể nói giá trị của tình cảm là bao nhiêu tiền” - ông Quyến bày tỏ.
Tình cảm của người dân đối với Bác đúng là thiêng liêng, vô hạn, không thể đong đếm bằng tiền được. Vậy thì cũng đâu cần phải chi lắm tiền để xây dựng tượng đài bày tỏ tình cảm? Nhiều người cho rằng Sơn La là tỉnh nghèo, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, xây tượng đài trên ngàn tỉ đồng thì thật không hợp lý. Thế nhưng, ông Quyến vẫn quả quyết: “Theo quan điểm, suy nghĩ của cá nhân tôi, nếu nghèo mà làm được thì mới giá trị, chứ giàu rồi mới làm thì đó là chuyện nhỏ, bình thường”!
Nói về nguồn kinh phí 1.400 tỉ đồng để xây dựng, ông Quyến cho biết đề án này nằm trong quy hoạch. Vì vậy, sau khi được phê duyệt, chắc chắn việc xây dựng sẽ bao gồm cả kinh phí hỗ trợ từ trung ương và ngân sách của tỉnh. Tuy nhiên, việc xây dựng cũng sẽ sử dụng kinh phí xã hội hóa từ người dân, doanh nghiệp. Hiện Sơn La cũng đã có chủ trương vận động doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh ủng hộ một cách rộng rãi bằng tấm lòng của mình.
“Quan điểm của tỉnh là tăng cường tối đa nguồn vốn xã hội hóa và các nguồn lực khác để giảm tối đa sử dụng tiền ngân sách. Hiện chưa thể biết từng nguồn vốn để đầu tư là bao nhiêu nhưng chắc chắn nguồn tiền từ xã hội hóa sẽ rất nhiều, chứ tỉnh không chỉ ỷ lại vào kinh phí của nhà nước” - ông Quyến cho biết.

Bác Hồ không muốn phô trương, hình thức
Chiều 4-8, ông Phan Đình Tân - Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ VH-TT-DL - cho biết bộ đang giao Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm xây dựng quy hoạch hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2030. Tuy nhiên, quy hoạch là một chuyện, còn quy mô xây dựng tượng đài lớn đến đâu lại là chuyện khác.
Nói về việc làm thế nào để hệ thống tượng đài ở Việt Nam vừa đẹp, ý nghĩa mà lại không quá tốn kém, ông Tân nhấn mạnh: “Không phải chúng ta cứ đưa quy mô lớn, tính đến kinh phí quá lớn như thế trong bối cảnh hiện nay. Tôi thấy có những bức tượng trên thế giới, những bức tranh rất nhỏ nhưng tính ảnh hưởng của nó rất lớn, như bức tượng “Mùa xuân vĩnh cửu”. Sự hoành tráng không phụ thuộc vào khối lượng mà vào tính chất, giá trị. Người ta vĩ đại ở những đóng góp cho nhân loại chứ không phải ở những tượng đài khổng lồ”.
“Tinh thần của Bác lúc sinh thời là Người cực kỳ tiết kiệm. Bác luôn có những chỉ đạo rất cụ thể về tiết kiệm, chống lãng phí, chống phô trương, hình thức. Điều này chúng ta cần học tập, làm theo Bác” - ông Tân bày tỏ.

Giá trị nằm ở nghệ thuật
Với quan điểm cá nhân, ông Phan Đình Tân cho rằng một tác phẩm có ý nghĩa là ở giá trị nghệ thuật chứ không phải ở giá trị khối lượng, có đầu tư lớn đến mấy mà giá trị nghệ thuật không có thì cũng không là cái gì. Ông Tân lấy ví dụ Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ ở đường Bắc Sơn (Hà Nội), tuy quy mô không lớn nhưng rất ý nghĩa.

Văn Duẩn - Yến Anh

LỀ TRÁI ĐÚNG:

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VỀ NHỮNG DỰ ÁN TƯỢNG ĐÀI TRĂM TỶ, NGÀN TỶ

Đất nước đang đứng trước những thử thách sống còn. Độc lập, toàn vẹn lãnh thổ bị đe dọa, uy hiếp từng ngày, từng giờ. Quản lý kinh tế yếu kém cùng tham nhũng bạo phát làm thất thoát trầm trọng tiền vốn và nguồn lực đất nước, làm ngân sách trống rỗng; dẫn đến:
Công nợ ngập đầu. Theo World Bank (Ngân hàng Thế giới), đến cuối 2014, nợ công của Việt Nam đã lên tới 110 tỉ USD (2,35 triệu tỶ đồng). Số nợ đó, bổ theo đầu dân thì một đứa trẻ sơ sinh vừa ra đời ở Việt Nam đã mang nợ hơn 1.200 USD (gần 30 triệu đồng).

Vắt kiệt sức dân. Nhà nước túng quẫn, bần cùng đến nỗi đè thu phí đến cả chiếc xe máy – phương tiện mưu sinh và đi lại thiết yếu của tuyệt đại bộ phận dân chúng. Thuế, phí chồng chất, vét đến đồng tiền còm cõi của dân nghèo bù đắp phần nào ngân sách trống rỗng. Nhưng sức dân bị vắt kiệt, đời sống càng khốn cùng, điêu đứng, không đủ tái sản xuất.
Giật gấu vá vai, tiền vay mượn mọi nguồn, trong đó có nguồn vay ẩn chứa nhiều hiểm họa là từ Trung Quốc – kẻ đã đánh chiếm nhiều đất đai, biển đảo và đang uy hiếp ngày càng trắng trợn độc lập chủ quyền của ta, quyết khuất phục ta bằng sức mạnh cứng và mềm. Cắn răng, ngửa tay vay Trung Quốc là chấp nhận bị lệ thuộc, chi phối, khống chế ngày một thêm khó gỡ.
Tiền vay ai thì cũng là vay vào tương lai, vào trách nhiệm của các thế hệ người Việt mai sau. Tài lực sức dân hôm nay lẽ ra phải được sử dụng hiệu quả nhất, đầu tư cho sản xuất, khoa học công nghệ, vực dậy kinh tế, quốc phòng. Nhưng giới chức từ trung ương đến địa phương đã ném đồng tiền phải kí cược bằng vận mệnh đất nước, bằng sự hi sinh to lớn của nhân dân vào những dự án phô trương phù phiếm, vì thế không những không giúp vực dậy mà còn trở thành gánh nặng cho nền kinh tế vốn ốm yếu, khoét sâu thêm những bất ổn, mâu thuẫn xã hội. Những văn miếu, tượng đài, quảng trường, công sở, nhà văn hóa, bảo tàng… hoành tráng, nguy nga, lộng lẫy, mênh mông hoang vắng, vô cùng lạc lõng, phản cảm và bất nhẫn trước cuộc sống nghèo khổ, lam lũ, thiếu thốn trăm bề của tuyệt đại bộ phận dân chúng.
Quảng Nam đất nghèo, dân đói, giáp hạt nhiều năm phải xin nhà nước cứu đói mỗi năm hơn ngàn tấn thóc. Không có tiền cho những dự án, công trình kinh tế, cho hạ tầng cơ sở vật chất nhưng tỉnh vẫn thản nhiên dốc hơn 400 tỷ đồng ngân sách xây tượng đài Mẹ Việt Nam rồi để tượng xuống cấp nhanh chóng, không cần biết dân chúng có ngó ngàng hay không.
Sơn La miền núi heo hút, kinh tế chỉ trông vào rừng, mà rừng đã bị tàn phá trống trơ. Tỉnh có tới 71.000 hộ nghèo, không đủ cơm ăn, áo mặc. Các bản làng đều trường học tranh tre mái lá dột nát, xiêu vẹo, tuềnh toàng như chòi canh nương, học trò còm cõi, tả tơi. Nghèo đói thiếu thốn hơn cả Quảng Nam, vậy mà HĐND Sơn La vừa thông qua chủ trương xây dựng tượng đài và quảng trường Hồ Chí Minh với chi phí 1.400 tỷ đồng – số tiền đủ ngói hóa toàn bộ các điểm trường, các ký túc xá cho Sơn La và các tỉnh miền núi!
Không phải chỉ có một tượng đài Hồ Chí Minh ở Sơn La. Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư trung ương ĐCSVN, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch vừa quy hoạch một hệ thống tượng đài Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2030 đã được Thủ tướng phê duyệt, với 58 tượng đài Hồ Chí Minh sẽ còn tiếp tục được dựng lên khắp 3 miền ở Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Điện Biên, Hải Phòng, Hải Dương, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc… Nguồn vốn còm cõi của đất nước sẽ còn bị cơn bão tượng đài oan nghiệt tới tấp thổi bay hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng tiền tận thu suy kiệt sức dân, ngửa tay vay nước ngoài đầy rủi ro, hiểm họa.
Đất nước đang vô cùng khó khăn, đang đứng trước những thử thách ngặt nghèo và đang thiếu tài lực trầm trọng để vượt qua. Chủ trương xây dựng hàng loạt tượng đài Hồ Chí Minh nguy nga, hoành tráng, tốn kém lúc này là một chủ trương nguy hại, hướng nguồn lực đất nước vào nhu cầu giả – một ảo tưởng áp đặt toàn trị mãi mãi lên đầu dân chúng – trong khi nhu cầu thật bị phớt lờ, khó khăn càng gay gắt hơn.
Chủ trương xây hàng loạt tượng đài Hồ Chí Minh với chi phí mỗi công trình từ vài trăm đến vài ngàn tỷ đồng tiền thuế của dân không những hết sức tương phản với cuộc sống còn vô cùng thiếu thốn của số đông dân chúng nhiều vùng miền, mà còn đặc biệt nguy hại vì tạo cơ hội béo bở cho quan tham đục khoét, bộ máy công quyền hư hỏng công khai tham nhũng tập thể. Đó là tội ác không thể dung thứ.
Thực tế cho thấy, công trình, dự án nào những người dính dáng vào đều cố kiếm một tỷ lệ phần trăm rất lớn chia chác, đặc biệt các công trình tượng đài – không theo quy chuẩn xây dựng đại trà. “Xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh hoành tráng, đồ sộ, xứng đáng với công đức của Người là đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của đồng bào đối với Người” chỉ là cách ngụy biện vụng về, trơ trẽn nhằm lấp liếm cho những chục tỷ, trăm tỷ đồng rút ruột công trình tư túi.
Nhu cầu cấp thiết nóng bỏng của người dân là có con đường ra con đường về đến bản, có cây cầu vững chãi, an toàn bắc qua sông suối dân qua lại hàng ngày, có bệnh xá, trường học kiên cố, chứ không phải là tượng đài, quảng trường nguy nga ở những nơi mà người dân vùng sâu vùng xa không biết trong đời có khi nào bước chân đến.
Vì những lẽ trên, chúng tôi – các tổ chức xã hội dân sự độc lập và những công dân Việt Nam ký tên dưới đây nghiêm khắc đòi hỏi nhà nước khẩn cấp hủy bỏ những dự án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, chặn đứng nguy cơ vơi hụt đáng kể ngân sách đang eo hẹp, tạo thêm bất ổn mâu thuẫn xã hội vốn đã và đang chồng chất.
Các tổ chức XHDS và cá nhân ký tên dưới đây:
1.Diễn đàn XHDS Dân quyền, đại diện TS Nguyễn Quang A
2. Hội Nhà báo Độc lập, đại diện TS Phạm Chí Dũng
3. Diễn đàn Bauxite Việt Nam, đại diện GS Phạm Xuân Yêm
4. Ban vận động Văn đoàn Độc lập, đại diện nhà văn Nguyên Ngọc
5. Nhà văn Phạm Đình Trọng, TP HCM
6. Dịch giả Phạm Duy Hiển (bút danh Phạm Nguyên Trường), Vũng Tàu
7. Nhà thơ Hoàng Hưng, Vũng Tàu
8. Nguyễn Khắc Mai, Hà Nội
9. Nhà báo Võ Văn Tạo, Nha Trang, Khánh Hòa
10. GS Nguyễn Huệ Chi, Hà Nội
11. TS Chu Hảo, Hà Nội
12. Nhà báo Nguyễn Tường Thụy, Hà Nội
13. TS Phạm Gia Minh, TP HCM
14. TS Hà Sĩ Phu, Đà Lạt
15. Trần Minh Thảo, Bảo Lộc, Lâm Đồng
16. PGS TS Hoàng Dũng, ĐHSP TP HCM
17. Mai Thái Lĩnh, Đà Lạt
18.Hồ Ngọc Nhuận, TP HCM
19. Đạo diễn, diễn viên, NSƯT Nguyễn Thị Kim Chi, Hà Nội
20. Vũ Linh, cựu Chủ nhiệm khoa Đại học Bách khoa, Hà Nội
21. Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, Hà Nội
22. Nhà thơ Bùi Minh Quốc, cựu Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Lâm Đồng, Đà Lại
23. Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang, Hà Nội
24. TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện, Hà Nội
25. Nhà báo, đạo diễn Trần Tiến Đức
26. TS Phan Thị Hoàng Oanh, TP HCM
27. Nguyễn Nguyên Bình, Hội Nhà văn Hà Nội
28. Nhà văn Vũ Thư Hiên, cựu tù nhân lương tâm VN, Paris.
 Địa chỉ tiếp nhận ghi danh của quý Anh Chị:
VO VAN Tao <vvtao.nb@gmail.com>
(Chép lại từ "Bà đầm xòe")


Kết quả hình ảnh cho giàu-nghèoThủ tướng tán thành là ý Thủ tướng, đâu phải ý dân! Sao "vì dân" mà không hỏi ý dân!?

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32