ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 27
-Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV.
Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Về quá trình viết tác phẩm này, trong di cảo hồi ký "Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào" do Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007, ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm bằng hai bài thơ "Lời mẹ dặn" và "Chống tham ô lãng phí" (1957). Khi phong trào này chấm dứt dưới tác động của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phùng Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi.
Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống. Vì thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ông thời kỳ này bằng sáu chữ: "cá trộm, rượu chịu, văn chui".
Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...
Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà nội. Năm 2010, sau khi vợ ông là nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm mất, thể theo nguyện vọng của ông lúc sinh thời, gia đình và bạn bè đã đưa hài cốt ông bà về án táng tại quê nhà: xã Thủy Dương, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 2007, Phùng Quán được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm.
Nhà văn & Nhà Thơ Phùng Quán
Năm 1994, vì một bài viết của Phùng Quán “Cuối Năm Phùng Quán Tìm Thăm Nguyễn Hữu Đang”, chúng tôi cũng có ý định đi tìm người ấy, một người mà chúng tôi tưởng như các nhân vật trong những truyện kiếm hiệp truyền kỳ.
Người đó đã bị tai họa sau vụ Nhân Văn, 15 năm biệt giam, đến đó là chỉ để chờ chết, khó có thể trở về được. Sau đó là 20 năm quản thúc. Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã không chết, đã không bị hủy hoại, đã lấy cóc nhái, rắn rết mà ăn như thuốc tễ trường sinh, lưng đeo lục lạc như lão Ngoan Đồng, và bình tĩnh tìm một chỗ trũng, dưới lũy tre đầu xóm, nếu có chết thì cố bò ra đó để khỏi làm phiền hàng xóm. Nhưng cái chết đã không đến. Tôi tưởng như ngày nào Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung bị giam dưới đáy hồ sâu vừa mới thoát lên khỏi mặt đất để còn nhìn được thấy ánh mặt trời.
Một sự tình cờ, chính Phùng Quán lại là người chở cụ Đang về nhà, để chúng tôi gặp cả hai người. Trong dịp này chúng tôi cũng gặp được cả thi sĩ Hòang Cầm trong cùng nhóm Nhân Văn. Cả ba người sau này đều có liên lạc thư từ với chúng tôi về những chuyện văn thơ và cuộc đời của họ. Về cụ Đang, sau khi sưu tầm trong một số sách bằng Anh ngữ và Pháp ngữ viết về lịch sử Việt Nam trong những năm 1945, tôi đã gửi cho cụ một bản sao tấm hình lễ đài tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 và một số trang có nhắc đến tên cụ. Theo như lời kể, tôi tin là cụ có mặt trong tấm hình đó, vì lúc đó cụ là Bộ trưởng Thanh Niên và người được Hồ Chí Minh giao cho việc dựng lễ đài. Chuyện của họ như những điều không tưởng trong một chế độ hà khắc ở bên kia lằn vĩ tuyến một thời.
Phùng Quán cư ngụ ngay trong khuôn viên trường Trung học Chu Văn An, vì vợ ông là bà Vũ thị Bội-Trâm, một giáo sư dạy văn của trường, nay đã hồi hưu. Căn nhà rộng thoáng mát , ngay cạnh Hồ Tây, có một bể non bộ lớn, bên cạnh rải rác những chậu lan bằng sứ men xanh. Ông lại cất thêm một căn lầu bằng gỗ để tiếp các bạn văn, uống rượu ngâm thơ, mà ông đặt tên là “Chòi Ngắm Sóng”. Khác với nhiều người làm văn nghệ trong nước, Phùng Quán lúc đó có một đời sống tương đối thoải mái, vì theo lời nhà thơ Hoàng Cầm, trong thời gian ít năm trước đó, Phùng Quán đã được phục hồi, và do đó có thêm lợi tức do bản quyền các văn phẩm của ông.
Không hiểu trong những lần gặp gỡ có gì quyến luyến mà Phùng Quán cứ muốn nhận chúng tôi là em. Phần tôi năm đó đã 60 tuổi, trong đời chưa có ai nhận mình như thế và chưa bao giờ muốn nhận làm em ai, Nhưng từ sau khi gặp, chúng tôi lúc nào cũng cảm thấy gần gũi thân thiết với Phùng Quán như người anh em ruột thịt. Sau này, đọc lại lá thư đầu tiên đề, chúng tôi mới hiểu được phần nào tâm trạng của Phùng Quán:
“Hai em cho anh được gọi như vậy, vì anh thấy vui và hạnh phúc khi nghĩ rằng ở xa nửa vòng trái đất, mình cũng có người mà mình có thể coi như anh em ruột thịt. Và thỉnh thoảng lại nhắc nhở, thương nhớ nhau, nghĩ về nhau... Anh chỉ có một mình. Bao nhiêu năm nay, anh vẫn tiếc sao ngày xưa mẹ không cố gắng đẻ thêm cho mình mấy đứa em gái em trai. Chắc cụ cũng định cố gắng, nhưng cụ ông mất sớm, lúc đó mẹ anh mới ngoài hai mươi tuổi, mà không hiểu sao cụ nhất định không đi bước nữa... Nỗi buồn tiếc này luôn luôn ám ảnh anh, từ lúc thiếu thời:
Ngày tôi lên đường cứu nước, cứu nhà
Tôi chẳng được như bao nhiêu anh em đồng chí
Có mẹ gấp áo quần, em gái nắm cơm...
Có cha cầm tay dặn dò: Con cố gắng...
Có người yêu đưa tiễn một quãng đường
Tiễn đưa tôi
Chỉ có sóng nước sông Hương dềnh cao chạm bờ cỏ
Và trăng hạ huyền như một lưỡi gươm cong
Trăng- Sóng thương tôi đưa một quãng đường...
*
Buổi sáng cuối cùng ở Hà-nội, Phùng Quán hẹn chúng tôi đến nghe thơ và thâu băng luôn thể. Trong hơn hai tiếng đồng hồ, Phùng Quán kể chuyện và đọc gần hai chục bài thơ mà nhiều bài chúng tôi chưa bao giờ được biết. Phùng Quán lại tặng tôi thêm một chiếc áo chàm xanh, lúc đem ra mặc, sờ vào trong túi vẫn còn những sợi thuốc lá vụn. Cuốn băng này, sau chúng tôi đặt tên là: “Bên Sóng Hồ Tây, Phùng Quán Kể Lại Một Đời Thơ”. Phải được nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thấm, cái giọng nửa Huế, nửa Hà-nội, rưng rưng, bi hùng, bão táp ấy vẫn còn mê hoặc chúng tôi suốt bao nhiêu ngày sau khi rời Hà-nội cho đến tận bây giờ. Chưa có ai đọc thơ, đọc chứ không phải ngâm, hay đến thế!
*
Nhìn vào số lượng tác phẩm thì có lẽ Phùng Quán là một nhà văn vì trong 40 năm, ông đã viết đến hơn 50 tác phẩm, mà số ấn hành thường là bốn chục hay sáu chục ngàn cuốn mỗi lần, và một số truyện ngắn dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Lý do là ông đã bị đưa đi lao động cải tạo 15 năm vì hai bài thơ chống đối chế độ. Sau đó bị cấm viết, thấy tên Phùng Quán là không ai dám in và đăng tải, nên ông đã phải “viết văn chui”. Trước đó, năm 22 tuổi, ông đã nổi danh vối cuốn tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1955. Cuốn này đã được tái bản đến lần thứ năm, đem lại cho ông một số tiền nhuận bút khá lớn, có thể mua được 70 cây vàng lúc đó. Sau này, bộ truyện “Tuổi Thơ Dữ Dội”, gần như một tự truyện kể lại cuộc tham gia kháng chiến chống Pháp dành độc lập từ khi ông là một lính trinh sát 13 tuổi. Cuốn này cũng được giải thưởng văn học Thiếu Nhi Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1989 và đã được quay thành phim ảnh dài 155 phút và lại được Bộ Văn Hóa tặng giải thưởng phim hay nhất năm 1990. Cuốn truyện này gần ngàn trang, chỉ là một phần tư của một trường thiên mà ông thường gọi là “Chiến Tranh và Hòa Bình” của ông. Trường thiên này ông đã hoàn tất trong 15 năm, ngay khi còn bị khai trừ, nhưng phần lớn đã bị mối xông. Sau đó, ông đã khởi sự viết lại, nhưng chắc đã không đủ thời giờ. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch tại Nga, Trung Quốc..vv.. Ngoài ra, nhiều truyện ngắn của ông, dù dưới bút hiệu khác nhau, cũng được nhiều giải thưởng trong cũng như ngoài nước, trong đó tập truyện “Như Con Cò Vàng Trong Cổ Tích” được giải nhất của Moscow năm 1970 dưới tên Vũ Quang Khải.
Nhưng với Phùng Quán, Thơ mới chính là sứ mạng mà Thượng Đế đã giao phó cho ông: “Thơ là mạng sống, là lý lịch đời tôi”, và dù: “...Một đời lao lực, một đời cơcực... một đời thơ...”. Thơ đã mang họa không ít cho ông, nhưng ông vẫn tin tưởng vào sức mạnh của thơ: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Một câu thơ tâm niệm của ông.
Hầu hết những người ở miền Nam như chúng ta chỉ biết đến Phùng Quán qua hai bài thơ, “Chống Tham Ô Lãng Phí” và bài “Lời Mẹ Dặn”.
Nhưng phải nhìn vào cả cuộc đời và sự nghiệp của Phùng Quán mới thấy ông là một con người khác thường hơn nhiều. Phùng Quán là một nhà văn, một nhà thơ của những kẻ khốn cùng, của những kẻ bị bất công, của cây cỏ, của đồng đội, của những người bạn trong lúc thế cô. Suốt cả cuộc đời, ông hành xử như một người hiệp sĩ đã được trao cho thanh gươm báu để xông pha cứu khốn phò nguy.
*
Tối hôm đó, chúng tôi đáp chuyến tầu tốc hành Bắc-Nam để đi Saigon, thay vì đi bằng máy bay. Chuyến tầu sẽ đưa chúng tôi đi qua những vùng đất nước chưa đi qua, và để đi lại những quãng đường mà chúng tôi đã đi để hoàn thành một cuộc hành trình từ trước đến nay vẫn còn bỏ dở. Non sông muôn đời vẫn gấm hoa, dù có qua những cuộc phế hưng, hưng phế. Đêm hôm đó nằm trong toa tầu, hình ảnh của Phùng Quán lúc nào cũng đậm trong trí chúng tôi. Cái hình ảnh ngang tàng, nhưng lại hiền hòa trong chiếc áo chàm, chòm râu bạc bay phất phơ trong gió in hình trên nền trời chiều, bên Hồ Tây mênh mông sóng nước.
Trong những ngày tháng cuối cùng trong đời, cái thời gian mà trong một lần nói chuyện qua điện thoai, Phùng Quán vẫn cười cợt như không: “Anh đang cụng lyvới Tử Thần”. Ông có trao đổi với chúng tôi mấy lá thư, lá cuối cùng ông viết bẩy ngày trước khi mất. Chúng tôi có đem ra đọc lại, ngoài những đoạn về tâm sự, Phùng Quán viết cả đến quan niệm về thơ, về sứ mạng mà ông nhận lãnh, về nhân sinh quan của cuộc đời và những điều ước muốn trước khi nhắm mắt. Chúng tôi thấy những lá thư đó, có những phần chúng tôi muốn đem chia sẻ với những người đã từng mến mộ và muốn tìm hiểu thêm về Phùng Quán.
Phùng Quán sinh vào tháng 1 năm 1932 tại xã Thùy Dương, thành phố Huế. Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà-nội, có khoảng 800 người đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Chúng tôi chợt nghĩ đến bài thơ mà ông đã tặng Hoàng Cầm, người anh kết nghĩa, trong đó có câu:
Ngày mai anh nhắm mắt
Đi sau linh cữu anh
Ngòai bạn hữu và gia đình
Có cả con sông Đuống!
Sông Đuống mặc đại tang
Khóc bên bồi bên lở
Sóng vỗ bờ nức nở
Ngàn đời chịu tang anh…
Phùng Quán đã sống một quãng đời dài bên cạnh Hồ Tây, chúng tôi tin rằng Hồ Tây cũng sẽ dậy “Sóng vỗ bờ nức nở, ngàn đời chịu tang anh”. Chúng tôi cũng tin rằng ngay cả núi Ba Vì sừng sững, mờ sương trước mặt, cũng đang nhỏ lệ để thương tiếc một người bạn đồng ẩm, vì đã có lần Phùng Quán đã từng nhắn nhủ với Ba Vì:
Thôi bác cứ ngồi yên ở đó
Còn tôi cứ tĩnh tọa ở đây
Tôi thì làm thơ, bác làm núi
Nhớ nhau, tưới rượu xuống Hồ Tây
Phùng Quán nằm xuống, người hiệp sĩ đã để lại một “Thanh gươm Thơ báu” cho đời.
*
Hồ Tây sáng sớm lạnh, đầy sương mù. Ngày 5/11/94
.....Anh ngồi bên cửa sổ nhìn ra Hồ Tây đầy sương mù, và cạnh anh là anh Đang đang ngủ say, đắp chiếc chăn hồ cừu vợ chồng em gửi tặng. Anh bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Du “Gió lạnh cả thế gian thổi thốc vào một người đơn độc”. Với tấm lòng và công trình của hai em và cháu đã ngăn bớt làn gió lạnh đó...Cụ Đang hết lời khen ngợi cái chăn đắp ấm mà nhẹ, nó không đè nặng lên ngực như chăn bông.
.........................................
Ở đây các nhà thơ đều phải bỏ tiền ra in thơ. Mà họ có giầu gì cho cam. Phải dành dụm từng đồng, bớt xén tiền ăn của cả nhà, có khi đến mấy năm mới in được tập thơ. Mà in rồi chỉ đem đi tặng cũng đủ hết hơi. Thì ra trên thế gian này, thơ văn sinh ra để làm vất vả cho con người. Nhưng anh sắp tránh được cái quy luật vất vả đó, Hội Nhà Văn bao cấp in cho anh một tập thơ khoảng 200 trang. Nghĩa là mình không phải mất tiền. Để đền bù lại phần nào họ đã làm khổ mình trong 30 năm. Anh cười ngất. Tưởng là bở. Những một tập thơ để đền bù cho 30 năm thì kể cái giá cũng hơi quá...
.............................
Rất cám ơn hai em đã đọc hết “Tuổi Thơ Dữ Dội” của anh và cả “Trăng Hoàng Cung”. Nói cho đúng ra, anh mới chỉ viết sơ sơ. Sợ độc giả chịu không thấu, nếu viết hết sự thật, thì cả Remarque cũng phải lè lưỡi. Sách anh vốn viết cho con nít đọc, mà trở thành cuốn sách của người già. Mấy ông già cùng thế hệ với anh họ ham đọc cuốn đó lắm. Anh sẽ in tặng hai vợ chồng phim “Tuổi Thơ Dữ Dội”, 2 tập, dài 155 phút, đã được quay màn ảnh rộng. Hôm chiếu ở cổ thành Quảng Trị, năm 1990, cả ngàn người ngồi xem khóc như trong một đám tang lớn, làm anh phát hoảng. Kể với các em như vậy, để nói rằng sách không bịa đặt chút nào hết. Lượm và Mừng, hai nhân vật trong đó chính là một phần đời anh. Anh cũng đang định viết tiếp. Thật ra là viết lại, vì cách đây 15 năm anh đã viết xong cả 4 tập “Chiến Tranh và Hòa Bình” của anh, mà “Tuổi Thơ Dữ Dội” là phần 1. Anh để tất cả vào cái hóm gỗ, hồi anh ở Nghi Tàm. Mối đã xông mất 3 phần. Phần 1 là mối chưa kịp xông, nên còn. Hôm đó anh đã khóc như con nít, vì tiếc cái công trình anh đã làm trong 15 năm.
.........................................
Anh gửi kèm theo đây hai bài thơ của Tào Mạt, bậc danh bút của Việt Nam và là tác giả chèo lớn với bộ ba “Bài Ca Giữ Nước”. Tào Mạt hơn anh 1 tuổi, đã mất cách đây một năm.
.....................................
Cho anh được gửi lời thăm bạn hữu bên đó và rất mong có ngày hội ngộ. Anh hi vọng ngày đó anh còn đủ sức làm đầu bếp để đãi hai em và cháu Th. A. một tiệc cá Tây Hồ.
*
Hồ Tây, ngày 29/12/94
Anh xin thông báo tình hình sức khỏe hiện nay. Chứng bệnh Xơ gan, cổ trướng (Tên bệnh mà nghe như tên minh tinh điện ảnh Đài Loan). Hiện nay anh rất đep trai. Một lão trượng râu tóc bạc trắng, mang cái bụng sắp đến ngày khai hoa mãn nguyệt. Hàng ngày anh vẫn nhúc nhắc đi lại, sửa sang hoa cỏ, mỗi bữa cũng nuốt được lưng cháo, lưng cơm hoăc lưng sữa. Nhất là vẫn còn đọc được thơ (Tuy lực thơ có sút kém). Và viết được văn. Ngồi viết bị tức bụng thì anh nằm viết. Bởi vậy văn anh bây giờ toàn câu văn chỉ thiên. Rất mong hai em và các cháu yên tâm. Nghe tin anh ốm, bạn bè đến thăm đông như hội: “Phùng Quán mà cũng ốm kia à?”. Xưa nay, các bạn đặt anh vào hàng lim, thép, trời vật không chết. Nếu phải chết thì các bạn sẽ được chứng kiến cái chết của người Chiến sĩ-Nghệ sĩ, “Trông chết cười ngạo nghễ!”. Nhờ ốm mà anh được biết Hà-nội mình nhan nhản Hoa Đà, Biển thước, Tuệ Tĩnh, Lãn Ông...Anh hi vọng khỏi bệnh...
...........................
. Hai em khuyên anh bỏ rượu, nhưng rượu nó bỏ anh, vì từ khi anh bệnh, rượu thấy anh mất phong độ cuả bậc ẩm giả.
Thư hai em anh chưa nhận được, chắc chỉ đến trễ, không mất đâu. Cuộc đời vui quá không buồn được!
.............................
*
Hồ Tây, sáng 5/1/1995
Nhìn chữ anh viết chắc hai em cũng thấy anh chưa đến nỗi nào. Anh vẫn đi lại, tiếp khách, cười đùa, đọc thơ với cái bụng A Di Đà. Cơm, cháo, sưã uống rải rác trong ngày. Bác sĩ gan nổi tiếng vẫn thường xuyên chăm sóc anh. Nhờ em chuyển lời cảm tạ các bạn và thầy thuốc bên đó. Tình của các em sẽ góp phần giúp anh khỏi bệnh. Anh là nhà thơ của dân đen, của những ngưòi móc cống, quét rác... Trong đám này có rất nhiều lang vườn. Họ đòi được chữa trị cho anh. Họ mang tới những rễ cây đào trên các đỉnh núi đá tai mèo, và các thứ lá hái bên các đầm nước mặn. Anh cho sắc lên uống tất, vừa uống vừa cười: “Tôi chơi luôn cả Thiên Đường lẫn Địa ngục!”. Anh nói với họ: “Nếu không may tôi phải giã từ cuộc sống, thì điều hạnh phúc là thi thể tôi được các bàn tay hôi mùi nước cống, mùi phân rác, mùi thuốc nổ, bồng bỏ vào căn hộ bằng gỗ tạp”.
Nhiều bạn thơ, trí thức trách cứ anh: “Nhà Phùng Quán có nhiều tạp khách!”. Họ đâu biết, chính vì những tạp khách đó mà anh trở thành nhà thơ. Hai em ạ, anh không đươc Thượng Đế ban cho ân sủng tìm thơ trong sự tinh khiết, đầy mầu sắc và hương thơm, giữa các vì sao và bầu trời .....
Thượng Đế nghiêm khắc nói với anh: “Ngươi phải úp mặt xuống cống rãnh cuộc đời, trên các ao máu chiến trận không bao giờ khô cạn, trong khói đắng nghẹt của thuốc nổ...mà tìm lấy thơ”. Và anh đã phải thực hiện lời nguyền của Thượng Đế, từ lúc tuổi thơ cho đến nay, chương cuối cùng của cuộc đời anh...Anh Hoàng Cầm đến thăm anh luôn, có khi mang theo cả thầy lang, con trai của Yến Lan, tác giả “Ông Gìa Bến Mi Lăng”.
......................................
Nếu chết, anh sẽ hóa thành một cây cỏ dại, cùng cỏ cây xanh tốt đất này...
........................................
*
Hồ Tây sớm sương mù ngày 13/1/95
Anh phải thông báo ngay là anh vẫn đang nằm ở nhà, vừa cười vừa nốc cạn ca đầy, cốc vơi các thứ dược liệu cỏ cây trị bệnh như thần! Anh hi vọng sẽ khỏi. Cỏ cây của cả đất nước lẽ nào không cứu nổi một nhà thơ?
..............
Thư trước anh nhắc chuyện “Thơ và cống rãnh” là cốt để hai em biết thêm một khía cạnh về quan niệm thi ca của anh mà anh thường phát biểu để chống lại quan niệm “Con chim ngứa cổ hót chơi”. Với anh thì lời khen tặng sang trọng về thi ca là của nhà văn Dan Hich nói về Andersen: “Ông ta là người có khả năng kỳ diệu. Bất kỳ cống rãnh nào cũng mò thấy ngọc trai!”. Còn về bệnh thì anh tin sẽ lành, nếu anh vượt qua năm Tuất.
......................... Hiện nay anh đang bị một cú “Nốc ao”, và trọng tài đang đếm đến 6. Hai em cứ ở lại bên đó ăn cái Tết thật vui với các cháu. Thế là ở bên này anh khỏe.....
.......................................... .................
*
Ngay sau khi Phùng Quán mất, chúng tôi có gửi thư về nhắc bà Phùng Quán cố giữ gìn các kỷ vật trong Chòi Ngắm Sóng, các tác phẩm và thâu thập các bài viết rải rác để làm một “Thư Viện Phùng Quán”. Chúng tôi đã gửi lại những lá thư mà Phùng Quán viết cho chúng tôi, đó là bút tích cuối cùng của ông. Cũng theo lời bà ngay cả cuốn băng mà chúng tôi có mấy tháng trước cũng là cuốn băng thơ độc nhất thu được những lời thơ của ông, chúng tôi cũng đã gửi về để bà giữ trong Chòi Ngắm Sóng.
Những lần về thăm Việt Nam sau này, chúng tôi đều gặp cụ Đang, thi sĩ Hòang Cầm và bà Bội Trâm. Mỗi lần gặp lại, mỗi lần chia tay là mỗi lần tưởng như không bao giờ gặp lại. Cụ Đang đã mất và thi sĩ Hòang Cầm cũng đã mất. Cả hai đều được đông người mến mộ đưa tiễn.
Lần cuối, chúng tôi gặp lại bà Bội Trâm vào dịp Tết Canh Dần năm 2009, và cô con gái từ Lào trở về thăm mẹ. Bà cư ngụ tại một cao ốc trong vùng Bưởi, ngọai ô thành phố Hà nội. Chòi Ngắm Sóng đã bị thành phố giải tỏa, không còn nữa, nhưng trong căn hộ mới vẫn còn những di vật của Phùng Quán. Trước khi chia tay, bà đã thu ghém một số sách mới xuất bản viết về Phùng Quán tặng chúng tôi. Hơn năm sau, chúng tôi được tin bà qua đời. Theo ước nguyện, phần mộ của Phùng Quán và bà Bội Trâm được cô con gái của ông bà di chuyển về quê của ông là xã Thùy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế 6 Km về phía nam.
*
Phùng Quán đã được đưa về quê đúng như ý nguyện. Những người tổ chức di quan lại cũng đã hòan thành bổn phận đưa hai ông bà đến nơi có cuộc đời sau an bình hơn, không như những lời di chúc lúc cuối cuộc đời nghiệt ngã trong văn thơ của ông. Ngôi mộ được xây trên một vùng đất đẹp, được gọi tên là “Lăng Mộ Nhà Thơ Phùng Quán Nhà Giáo Vũ Thị Bội Trâm”. Đúng như một cái lăng nhỏ.
Trong đời của Phùng Quán đã để lại nhiều bài di chúc, bài nào cũng dữ dội. Bài “Di Chúc Chiến Sĩ”, viết năm 1952, lúc còn là lính của tiểu đòan Trần Cao Vân trước khi công đồn. Bài thơ có những câu:
Nếu tôi chết
Xin đừng đưa tôi đi đâu hết cả
Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã!
…………….
…quanh mộ tôi
Xin đừng trồng bạch đàn, liễu biếc hay thùy dương
……………..
Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mìn
Xin đừng do dự gì tất cả
Hãy đào mộ tôi lên!
Quẳng hài cốt tôi đi!
Và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ!
Xin đừng đưa tôi đi đâu hết cả
Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã!
Người chiến sĩ qua cuộc trường chinh dành “độc lập, tự do, hạnh phúc” đã không chết, nhưng đã bị phản bội và bị vùi dập khi nói lên quyền tự do của người cầm bút và chống lại tham nhũng. Những tai họa mà cường quyền giáng xuống quãng đời dài của ông đã khiến ông viết ra những câu thơ trong bài “Huyệt“, như một lời di chúc phẫn nộ, tuyệt vọng đến cùng cực:
…………………….
Tôi sẽ đào nấm huyệt
Cạnh mồ cha mẹ tôi
Tôi sẽ lăn xuống đó
Thế là xong một đời!
Đàn mối của quê hương
Sẽ thay phu đào huyệt
Bao nghiệt ngã trần gian
Chỉ dăm ngày vùi hết!
Căn mộ mới đáy huyệt
Rượu đất tôi uống tràn
Cụng ly cùng dòi bọ
Mừng trắng nợ trần gian!
Sau cùng, ít ngày trước khi mất ông đã viết trong một bức thư gửi cho chúng tôi: “Nếu không may tôi phải giã từ cuộc sống, thì điều hạnh phúc là thi thể tôi được các bàn tay hôi mùi nước cống, mùi phân rác, mùi thuốc nổ, bồng bỏ vào căn hộ bằng gỗ tạp”.
*
Chòi Ngắm Sóng không còn nữa, căn hộ của bà Bội Trâm vùng Bưởi không chắc có còn không. Không hiểu những di vật trong chòi Ngắm Sóng, những tác phẩm văn thơ của Phùng Quán nay ở nơi đâu! Thư viện Phùng Quán có được thực hiện ở Hà nội hay ở xã Thùy Dương không? Như ở các nước họ vẫn làm cho các danh nhân văn thi sĩ của họ.
Có hai điều thật là ý nghĩa mà những người tổ chức đã thực hiện được là bên mộ của hai ông bà, một đọan trong bài thơ để đời của Phùng Quán “Lời Mẹ Dặn” đã được khắc lên một bia đá lớn:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Và dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật chọn đời
Đường mật công danh không làm
ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Và một Học Bổng Phùng Quán được thành lập và sẽ tồn tại mãi hàng năm dành cho học sinh tại xã Thùy Dương. Mong rằng những học sinh đọat giải này, nếu có noi theo gương, noi theo cái tinh thần của Phùng Quán, sẽ không bị vùi dập và sống một cuộc đời oan nghiệt như ông.
Nguyễn Công Khanh
Trong sự thật ấy có một triết gia kỳ quặc, cô độc trong căn hộ bề bộn chỉ mải lo cho những vấn đề về con người và triết học mà quên béng đi thực tại, cũng quên luôn cả cơm áo gạo tiền hay danh vọng, địa vị. Đến nỗi cho đến lúc chết, hàng xóm của ông vẫn chẳng tin ông là người được truy điệu mà tivi đưa tin.
Trong sự thật ấy có một nhà thơ trong buổi kháng chiến nghèo khổ bộn bề đã đứng thẳng lưng, ngẩng cao đầu, can đảm, quyết liệt chống lại hiểm hoạ tham nhũng tàn phá đất nước.
Trong sự thật ấy có một nhạc sĩ, người đã viết nên bản Quốc ca hùng tráng cho đất nước Việt Nam, nghiêng ngả trong cơn say giữa đời với hai vế mâu thuẫn “Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền.”

Những câu chuyện còn lại của Phùng Quán, có cái là thực tại, có cái
là quá khứ nhưng đều khiến người đọc xót xa. Biết làm sao, một thời đã
qua của đất nước với bao nhiêu đau thương, bao nhiêu cực đoan, bao nhiêu
tàn nhẫn của những bước chân sai lầm. Chỉ tiếc đến khi người ta nhìn ra
sai lầm ấy, người ta hối hả sửa chữa thì người còn người mất.
Cuộc đời Phùng Quán, cuộc đời những người bạn văn, bạn thơ của Phùng Quán hiện lên trong trang sách với tất cả thiếu thốn, nghèo khổ nhưng lại đầy trách nhiệm với công việc, với con đường mà mình đã chọn. Như triết gia Trần Đức Thảo lôi thôi nhếch nhác quần ống thấp ống cao vẫn nghiên cứu về “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” cho đến khi chết. Hay như Nguyễn Hữu Đang – người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945, sống trong căn chòi rách nát và cố gắng tìm cách tập hợp lại những tài liệu chẳng rõ còn hay mất trong những ngày trọng đại của dân tộc.
Ba phút sự thật không dành cho ai muốn tìm đến những trang viết hào hùng trong sáng như Tuổi Thơ Dữ Dội, cũng sẽ không dành cho ai muốn tìm những “sự thật” để yêu hơn cuộc sống này. Phùng Quán viết bằng trải nghiệm của một đời lính, một đời văn – một đời vất vả. Thấp thoáng trong Ba phút sự thật có những khoảnh khắc của một thời thiếu niên trong sáng chỉ biết cống hiến hết mình cho cách mạng, nhưng rồi nó chỉ thoảng qua để làm nền cho những hồi ức buồn đến ám ảnh của chiến tranh – như chính Phùng Quán nói, Tuổi Thơ Dữ Dội là bản di chúc của ông.
Nhà thơ Tố Hữu đã nói ngay trong chương đầu tiên của Ba phút sự thật. “Thằng Quán nó dại… mà cậu cũng dại…” (nhà thơ Tố Hữu là cậu của nhà văn Phùng Quán). Thì đấy, “Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Ba phút sự thật là tập di cảo, là những gì còn lại của một người tài hoa nhưng đã “lỡ dại” mà chọn nghiệp văn chương.
>> Hồi ký “Ba phút sự thật” của Phùng Quán
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Phùng Quán
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phùng Quán (1932–1995) là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam, bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh Đông Dương và khẳng định được văn tài với Vượt Côn Đảo nhưng ông được biết đến nhiều hơn sau Đổi mới. Ông là cháu gọi Tố Hữu
bằng cậu, nhưng trong tác phẩm "Ba phút sự thật", thì ông nói rằng gọi
"cậu" là do thói quen, thực ra Tố Hữu là bác của Phùng Quán theo cách
nói của người miền Bắc.
Tiểu sử
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại quê xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế.Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV.
Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Về quá trình viết tác phẩm này, trong di cảo hồi ký "Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào" do Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007, ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm bằng hai bài thơ "Lời mẹ dặn" và "Chống tham ô lãng phí" (1957). Khi phong trào này chấm dứt dưới tác động của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phùng Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi.
Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống. Vì thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ông thời kỳ này bằng sáu chữ: "cá trộm, rượu chịu, văn chui".
Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...
Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà nội. Năm 2010, sau khi vợ ông là nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm mất, thể theo nguyện vọng của ông lúc sinh thời, gia đình và bạn bè đã đưa hài cốt ông bà về án táng tại quê nhà: xã Thủy Dương, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 2007, Phùng Quán được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm.
Tác phẩm
- Vượt Côn Đảo, Tiểu thuyết, 1955 - Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007
- Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, Thơ, 1955 - Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007
- Tuổi thơ dữ dội, Tiểu thuyết, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1987 - Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam, 1988. Năm 1990 được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng 2000, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
- Thơ Phùng Quán, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995
- Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nxb Thanh Văn, USA 1993. Năm 2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán viết Trăng hoàng cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán & Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh) kể về những câu chuyện xung quanh thi phẩm này.
- Phùng Quán, Thơ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003
- Ba phút sự thật, Ký, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tái bản bổ sung 2009
- Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào?, Hồi ký, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
- Phùng Quán còn đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
Một vài bài thơ
|
|
|
Mối tình sâu đậm của nhà thơ Phùng Quán
Nhà
thơ Phùng Quán có hai mối tình sâu đậm xuyên suốt cuộc đời. Mối tình
thứ nhất là với vợ anh, cô giáo Vũ Bội Trâm. Người phụ nữ Hà thành phúc
hậu này không chỉ đã chia sẻ mọi gian truân mà còn nhẫn chịu nhiều
chuyện đào hoa của anh, một lòng chung thủy với anh suốt cuộc đời. Mối
tình thứ hai, cũng là với một phụ nữ Hà Nội, họa sĩ H.Q. (xin được viết
tắt theo yêu cầu của nhân vật).
Tuy
không dẫn đến hôn nhân nhưng mối tình thứ hai gắn bó với một phần đời
rất quan trọng của nhà thơ, kéo dài 18 năm, trải qua không biết bao
nhiêu khó khăn, sóng gió, kể từ lúc hai người gặp nhau rồi yêu nhau, lúc
gần lúc xa, cho tới tận những giây phút cuối cùng của nhà thơ. Cả hai
mối tình này, ở những giai đoạn khác nhau đều thực sự là điểm tựa giúp
anh thêm nghị lực sống và viết.
Chị
H.Q nhớ lại, hôm đó vào một buổi sáng mùa thu năm 1978, họa sĩ Đặng
Nam, bấy giờ là Trưởng phòng biên tập mỹ thuật NXB Văn hóa Dân tộc dẫn
một người đàn ông tuổi trung niên giới thiệu với chị, bấy giờ đang phụ
trách mảng tranh truyện của nhà xuất bản: "Đây là nhà thơ Phùng Quán
đang công tác ở Cục Văn hóa quần chúng, chị trao đổi xem anh giúp được
gì".
Như
trời định, hai người vừa nhìn thấy nhau mà như đã phải lòng nhau. Anh,
một nhà văn rất nổi tiếng, có khuôn mặt và dáng người đẹp, ăn nói nhỏ
nhẹ. Chị, mới ngoài 30, tươi ròn, quyến rũ. Khi đó anh đã có một con gái
và một con trai. Chị cũng đã là mẹ của hai cậu con trai còn nhỏ. Sau
đấy anh gửi tới chị một bài thơ thay cho lời tỏ tình: "Lặng ngắm em cười
/Gương mặt hồng như ửng lửa/ Tia mắt em xuyên suốt cả hồn anh/ Từ đáy
lòng anh bỗng trào lên như sóng lũ/ Một nỗi buồn/ không thể gọi thành
tên…".
Trong
mấy năm, Phùng Quán đã giúp soạn lời cho gần như tất cả những cuốn
truyện tranh của nhà xuất bản, đâu chừng bốn, năm chục cuốn. Anh viết
rất nhanh. Yêu cầu đề tài gì là anh đáp ứng ngay. Thiện ý của chị H.Q
nhằm tạo điều kiện giúp đỡ anh. Dù không phải là những tác phẩm văn học
gì ghê gớm nhưng quan trọng, anh có công việc làm, lại có thu nhập nên
phần nào cũng giúp đỡ thêm cho gia đình. Các truyện anh viết thường do
H.Q đặt tên, nhưng có một số truyện thích thì anh lấy tên nhà thơ Thanh
Tịnh. Khi Phùng Quán mang sách đến biếu thì anh Thanh Tịnh ân cần bảo:
"Anh chẳng giúp được gì cho em thì cho em mượn cái tên". Chị H.Q có nói
lại chuyện này và cả chuyện ngày anh làm "Chòi ngắm sóng" trong bài viết
của mình in trong tập "Nhớ Phùng Quán".
Nhớ
lại những ngày ấy, yêu nhau mà để được gần nhau sao khó thế. Đến nhà
chị H.Q thì không được rồi, còn ở chỗ anh Quán, khi ấy anh ở ngay cơ
quan trong ngõ Lê Văn Hưu, đông người ra người vào rất bất tiện. Những
lúc cần gặp nhau, hai người phải hẹn ở các tiệm cà phê, giải khát. Tuổi
trẻ không sao, đằng này anh già rồi, bên một phụ nữ trẻ, ngồi quán lâu
không tiện nên phải hẹn hò, chờ đợi nơi này nơi khác. Có khi hai người
bước bộ bên nhau, cũng chẳng nhớ đã qua những đâu, nói những gì, để khi
chia tay mới biết sương đêm phủ ướt đẫm đầu tóc, áo quần. Thì ra hai
người đã đi bên nhau suốt đêm. Anh bật ra những câu thơ ngay khi ấy:
"Anh đi bên em trong biển sương mù/ Hư và thực hoàn toàn lẫn lộn/ Chỉ
nhìn thấy em anh mới biết mình đang sống/ Và mang trong mình một kho báu
là thơ…".
Chuyện
hai người yêu nhau sau vỡ lở, chị vợ Phùng Quán gặp nhắc nhở H.Q, còn
chồng H.Q thì “đi tìm” Phùng Quán. Là người hiểu tình thế, biết tiến
thoái đúng lúc nên Phùng Quán đã trao đổi với H.Q rồi xin lên trại tăng
gia của cơ quan bấy giờ ở Thái Nguyên để tránh rắc rối… Từ Thái Nguyên,
Phùng Quán gửi về cho H.Q bài thơ "Lá khổ sâm" mà anh nói suốt hơn hai
năm trời anh chỉ làm một bài thơ này: "Nhưng tôi chưa sống cho tròn nợ
sống/ Tôi chưa yêu cho hết nợ tình yêu/ Tôi phải lên rừng/ Hái lá khổ
sâm/ Tự mình cất lấy li rượu sống".
H.Q
là người quyết liệt. Chị thường tâm sự: "Khi đã yêu thì chị như chiếc
xe máy không có phanh, chỉ có thể ngừng lại khi xe đã hết nhiên liệu".
Sau đấy chị ly dị. Phùng Quán cũng hứa hẹn sắt đá. Tưởng H.Q sẽ rất vui
nhưng bất ngờ chị lại có thái độ khác. Chị rất hiểu, anh đâu phải là
người của gia đình và trong thâm tâm chị cũng không muốn các con anh
phải xa bố, chị Trâm phải xa chồng. Nhưng chị vẫn chăm sóc anh chu đáo,
đã làm hết những gì có thể cho anh. Đã chia sẻ cùng anh trong những lúc
anh có tâm sự mà khó nói ra, đã cưu mang anh những khi anh casino
gặp khó khăn, thiếu thốn. Khi yêu nhau chị đã linh cảm đây là mối tình
không có tương lai nào chờ đón, nhưng chị vẫn tự nguyện bước vào mà
không chút toan tính. Nhiều lúc anh rất thương, chua xót nói với chị:
"Hay thôi, em đi lấy chồng đi. Em mãnh liệt thế sống một mình sẽ khổ
lắm"..
Nhà thơ Phùng Quán
Nhưng anh đâu biết rằng chị chỉ có thể mãnh liệt với riêng anh.
Đầu
năm 1984, khi Phùng Quán từ nơi tăng gia về, cách ăn mặc như thay đổi
hẳn. Guốc mộc, áo chàm, bị cói, râu tóc để dài như một ông lão vùng cao.
Trông anh già xấu đi, nhiều người nhầm nghĩ anh chị là hai cha con,
nhưng chị không cảm thấy gì khác, anh vẫn là anh và chị vẫn yêu thương
anh như xưa. Thời gian này hai người thường cùng nhau đi đây đi đó, có
khi còn đáp tàu hỏa lên Thái Nguyên thăm chỗ anh từng ở. Rồi rủ nhau vào
chơi Sài Gòn, vào cả Huế thăm bạn bè, gia đình của anh. Một lần cùng vợ
chồng họa sĩ Hải Anh vào Đại Nội chụp ảnh, trời nắng làm chị nheo mắt,
nói ảnh chắc không đẹp nhưng anh bảo, có nhắm mắt thì em vẫn đẹp. Rồi
anh làm bài thơ "Nắng Cố đô": "Nắng Cố đô nàng cười dim mắt/ Ôi nụ cười
nghiêng thành cổ Hoàng cung/ Vua Hời sống lại vua Hời khóc/ - Ta lại bị
lừa, họ đánh tráo Huyền Trân" và "Chỉ riêng nụ cười nàng dim mắt/ Ta đã
đặt dưới chân nàng cả vương quốc thơ"… Bài thơ này sau có tên là "Đôi
con mắt lim dim" đăng trên Báo Văn hóa đời sống, cơ quan của Sở Văn hóa
và Thông tin Bình Trị Thiên số 9-10, tháng 1/2 năm 1988 với lời đề tặng
của Phùng Quán: "Tặng giai nhân Bắc Hà về thăm cố đô Huế".
Lần
về quê anh, làng Thủy Dương vào đúng dịp sinh nhật chị, anh không có
vật chất làm quà, đã tặng chị bài thơ: "Anh chép lại những câu thơ viết
một thời trẻ dại/ Như tìm hái những bông hoa trong vườn cũ quê anh/ Kết
thành bó hoa mừng sinh nhật em…/Hoa thì quê mùa mà thơ thì quá dở/Anh
ngượng ngùng đâu xứng với em/ Như gáo nước giếng làng anh đựng trong
chum vại/ Múc em tắm tấm thân ngà ngọc/ Trưa hè nào trong gian bếp nghèo
bốn phía trống tênh…".
Giữa
năm 1985, Phùng Quán muốn làm một căn nhà con con bên Hồ Tây mà sau này
anh gọi là "Chòi ngắm sóng" lấy chỗ để anh làm thơ và gặp gỡ bạn bè.
Anh xin được đủ gỗ lạt nhưng chưa có tiền lợp mái. H.Q biết khó khăn ấy
nên đưa tiền để anh mua lá gồi lợp. Ít lâu sau gặp lại, hỏi xong nhà
chưa thì anh cười: "Lúc em đưa tiền cho anh, giá anh làm ngay thì đủ
nhưng anh lại rề rà, sau trượt giá số tiền em cho chỉ đủ lợp một nửa mái
thôi". Nhân thế Phùng Quán có bài thơ: "Em đủ sức/ Che mát đời thơ anh/
Nhưng rốt cục/ Em chỉ che được một nửa/ Nghe anh kể/ Dựng chòi ngắm
sóng/ Em càng xót thương anh/ Em biết/ Anh gào thét vậy/ Nhưng anh chỉ
là gió/ Ôi ngọn gió đời anh/ Đã phải thổi suốt/ Qua những bình nguyên
nghiệt ngã/ Em lặng lẽ vậy/ Nhưng em là bão tố/ Cấp mười hai/ Vùng tâm
bão/ Lên đến cấp hủy diệt".
H.Q
cảm mến Phùng Quán ngay từ những ngày đầu hai người được gặp và làm
việc với nhau. Ban đầu chị chỉ ngưỡng mộ tên tuổi, tài năng và một vẻ
đẹp nam tính ở anh nhưng rồi gần nhau chị càng thấy thêm yêu thương anh.
Anh thường đọc cho chị nghe những bài thơ mà anh tâm huyết, qua đó chị
thêm hiểu tâm sự nơi sâu thẳm trong con người anh. Anh nhiều day dứt.
Anh cũng đã làm nhiều thơ riêng tặng chị. Những lá thư và những bài thơ
anh viết cho chị đầy những lời lẽ yêu thương, cháy bỏng. Những bức ảnh
chụp riêng hai người hay chung với bạn bè, người còn người mất, đến nay
chị vẫn giữ gìn như một kỉ vật vô giá. Anh hay uống rượu và chị thường
rất chiều anh. Có chút men vào anh như khác hẳn, hứng khởi, say đắm, đam
mê. Anh đọc thơ như lên đồng và những lúc đó chị thấy mọi thứ ở anh đều
quyến rũ.
Sống
trong tình yêu nhưng chị không phải không có lúc trạnh buồn. Sau những
lúc gần nhau mặn nồng thế rồi anh lại phải về với cuộc sống của anh, với
vợ con anh, còn chị lại phải về với nỗi cô đơn của mình. Và những khi
ấy không phải lúc nào người ta cũng có thể cứng rắn, vững vàng.
H.Q
là người phụ nữ mà Phùng Quán yêu, biết ơn và rất nể trọng. Lúc khỏe
mạnh nhiều khi anh tung tăng, nhưng mỗi khi đau yếu, khó khăn, có tâm sự
muốn giãi bày, anh lại không thể thiếu vắng chị. Khi mắc bệnh nặng rất
muốn có chị ở bên nhưng anh ngại, không dám nói. Bạn bè thân thiết khi
biết anh khó qua khỏi mới trao đổi với chị Trâm mọi cách đón H.Q tới,
theo nguyện vọng cuối đời của anh. Chị Trâm hiểu hơn ai hết mối tình
này, nên đã không phản đối.
Và những ngày cuối cùng trong cuộc đời nhà thơ Phùng Quán luôn có hai người đàn bà yêu thương nhất ở bên
Tác giả bài viết: Huy Thắng
Nguồn tin: cand.com.vn
VƯỢT CÔN ĐẢO
(*) Bạn chưa đăng nhập, hãy nhanh tay đăng nhập (hoặc đăng kí) để được nghe nhiều hơn!
NHỮNG LÁ THƯ CUỐI CÙNG CỦA NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN
08 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 59132)
Nhà văn & Nhà Thơ Phùng Quán
Năm 1994, vì một bài viết của Phùng Quán “Cuối Năm Phùng Quán Tìm Thăm Nguyễn Hữu Đang”, chúng tôi cũng có ý định đi tìm người ấy, một người mà chúng tôi tưởng như các nhân vật trong những truyện kiếm hiệp truyền kỳ.
Người đó đã bị tai họa sau vụ Nhân Văn, 15 năm biệt giam, đến đó là chỉ để chờ chết, khó có thể trở về được. Sau đó là 20 năm quản thúc. Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã không chết, đã không bị hủy hoại, đã lấy cóc nhái, rắn rết mà ăn như thuốc tễ trường sinh, lưng đeo lục lạc như lão Ngoan Đồng, và bình tĩnh tìm một chỗ trũng, dưới lũy tre đầu xóm, nếu có chết thì cố bò ra đó để khỏi làm phiền hàng xóm. Nhưng cái chết đã không đến. Tôi tưởng như ngày nào Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung bị giam dưới đáy hồ sâu vừa mới thoát lên khỏi mặt đất để còn nhìn được thấy ánh mặt trời.
Một sự tình cờ, chính Phùng Quán lại là người chở cụ Đang về nhà, để chúng tôi gặp cả hai người. Trong dịp này chúng tôi cũng gặp được cả thi sĩ Hòang Cầm trong cùng nhóm Nhân Văn. Cả ba người sau này đều có liên lạc thư từ với chúng tôi về những chuyện văn thơ và cuộc đời của họ. Về cụ Đang, sau khi sưu tầm trong một số sách bằng Anh ngữ và Pháp ngữ viết về lịch sử Việt Nam trong những năm 1945, tôi đã gửi cho cụ một bản sao tấm hình lễ đài tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 và một số trang có nhắc đến tên cụ. Theo như lời kể, tôi tin là cụ có mặt trong tấm hình đó, vì lúc đó cụ là Bộ trưởng Thanh Niên và người được Hồ Chí Minh giao cho việc dựng lễ đài. Chuyện của họ như những điều không tưởng trong một chế độ hà khắc ở bên kia lằn vĩ tuyến một thời.
Phùng Quán cư ngụ ngay trong khuôn viên trường Trung học Chu Văn An, vì vợ ông là bà Vũ thị Bội-Trâm, một giáo sư dạy văn của trường, nay đã hồi hưu. Căn nhà rộng thoáng mát , ngay cạnh Hồ Tây, có một bể non bộ lớn, bên cạnh rải rác những chậu lan bằng sứ men xanh. Ông lại cất thêm một căn lầu bằng gỗ để tiếp các bạn văn, uống rượu ngâm thơ, mà ông đặt tên là “Chòi Ngắm Sóng”. Khác với nhiều người làm văn nghệ trong nước, Phùng Quán lúc đó có một đời sống tương đối thoải mái, vì theo lời nhà thơ Hoàng Cầm, trong thời gian ít năm trước đó, Phùng Quán đã được phục hồi, và do đó có thêm lợi tức do bản quyền các văn phẩm của ông.
Không hiểu trong những lần gặp gỡ có gì quyến luyến mà Phùng Quán cứ muốn nhận chúng tôi là em. Phần tôi năm đó đã 60 tuổi, trong đời chưa có ai nhận mình như thế và chưa bao giờ muốn nhận làm em ai, Nhưng từ sau khi gặp, chúng tôi lúc nào cũng cảm thấy gần gũi thân thiết với Phùng Quán như người anh em ruột thịt. Sau này, đọc lại lá thư đầu tiên đề, chúng tôi mới hiểu được phần nào tâm trạng của Phùng Quán:
“Hai em cho anh được gọi như vậy, vì anh thấy vui và hạnh phúc khi nghĩ rằng ở xa nửa vòng trái đất, mình cũng có người mà mình có thể coi như anh em ruột thịt. Và thỉnh thoảng lại nhắc nhở, thương nhớ nhau, nghĩ về nhau... Anh chỉ có một mình. Bao nhiêu năm nay, anh vẫn tiếc sao ngày xưa mẹ không cố gắng đẻ thêm cho mình mấy đứa em gái em trai. Chắc cụ cũng định cố gắng, nhưng cụ ông mất sớm, lúc đó mẹ anh mới ngoài hai mươi tuổi, mà không hiểu sao cụ nhất định không đi bước nữa... Nỗi buồn tiếc này luôn luôn ám ảnh anh, từ lúc thiếu thời:
Ngày tôi lên đường cứu nước, cứu nhà
Tôi chẳng được như bao nhiêu anh em đồng chí
Có mẹ gấp áo quần, em gái nắm cơm...
Có cha cầm tay dặn dò: Con cố gắng...
Có người yêu đưa tiễn một quãng đường
Tiễn đưa tôi
Chỉ có sóng nước sông Hương dềnh cao chạm bờ cỏ
Và trăng hạ huyền như một lưỡi gươm cong
Trăng- Sóng thương tôi đưa một quãng đường...
*
Buổi sáng cuối cùng ở Hà-nội, Phùng Quán hẹn chúng tôi đến nghe thơ và thâu băng luôn thể. Trong hơn hai tiếng đồng hồ, Phùng Quán kể chuyện và đọc gần hai chục bài thơ mà nhiều bài chúng tôi chưa bao giờ được biết. Phùng Quán lại tặng tôi thêm một chiếc áo chàm xanh, lúc đem ra mặc, sờ vào trong túi vẫn còn những sợi thuốc lá vụn. Cuốn băng này, sau chúng tôi đặt tên là: “Bên Sóng Hồ Tây, Phùng Quán Kể Lại Một Đời Thơ”. Phải được nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thấm, cái giọng nửa Huế, nửa Hà-nội, rưng rưng, bi hùng, bão táp ấy vẫn còn mê hoặc chúng tôi suốt bao nhiêu ngày sau khi rời Hà-nội cho đến tận bây giờ. Chưa có ai đọc thơ, đọc chứ không phải ngâm, hay đến thế!
*
Nhìn vào số lượng tác phẩm thì có lẽ Phùng Quán là một nhà văn vì trong 40 năm, ông đã viết đến hơn 50 tác phẩm, mà số ấn hành thường là bốn chục hay sáu chục ngàn cuốn mỗi lần, và một số truyện ngắn dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Lý do là ông đã bị đưa đi lao động cải tạo 15 năm vì hai bài thơ chống đối chế độ. Sau đó bị cấm viết, thấy tên Phùng Quán là không ai dám in và đăng tải, nên ông đã phải “viết văn chui”. Trước đó, năm 22 tuổi, ông đã nổi danh vối cuốn tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1955. Cuốn này đã được tái bản đến lần thứ năm, đem lại cho ông một số tiền nhuận bút khá lớn, có thể mua được 70 cây vàng lúc đó. Sau này, bộ truyện “Tuổi Thơ Dữ Dội”, gần như một tự truyện kể lại cuộc tham gia kháng chiến chống Pháp dành độc lập từ khi ông là một lính trinh sát 13 tuổi. Cuốn này cũng được giải thưởng văn học Thiếu Nhi Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1989 và đã được quay thành phim ảnh dài 155 phút và lại được Bộ Văn Hóa tặng giải thưởng phim hay nhất năm 1990. Cuốn truyện này gần ngàn trang, chỉ là một phần tư của một trường thiên mà ông thường gọi là “Chiến Tranh và Hòa Bình” của ông. Trường thiên này ông đã hoàn tất trong 15 năm, ngay khi còn bị khai trừ, nhưng phần lớn đã bị mối xông. Sau đó, ông đã khởi sự viết lại, nhưng chắc đã không đủ thời giờ. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch tại Nga, Trung Quốc..vv.. Ngoài ra, nhiều truyện ngắn của ông, dù dưới bút hiệu khác nhau, cũng được nhiều giải thưởng trong cũng như ngoài nước, trong đó tập truyện “Như Con Cò Vàng Trong Cổ Tích” được giải nhất của Moscow năm 1970 dưới tên Vũ Quang Khải.
Nhưng với Phùng Quán, Thơ mới chính là sứ mạng mà Thượng Đế đã giao phó cho ông: “Thơ là mạng sống, là lý lịch đời tôi”, và dù: “...Một đời lao lực, một đời cơcực... một đời thơ...”. Thơ đã mang họa không ít cho ông, nhưng ông vẫn tin tưởng vào sức mạnh của thơ: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Một câu thơ tâm niệm của ông.
Hầu hết những người ở miền Nam như chúng ta chỉ biết đến Phùng Quán qua hai bài thơ, “Chống Tham Ô Lãng Phí” và bài “Lời Mẹ Dặn”.
Nhưng phải nhìn vào cả cuộc đời và sự nghiệp của Phùng Quán mới thấy ông là một con người khác thường hơn nhiều. Phùng Quán là một nhà văn, một nhà thơ của những kẻ khốn cùng, của những kẻ bị bất công, của cây cỏ, của đồng đội, của những người bạn trong lúc thế cô. Suốt cả cuộc đời, ông hành xử như một người hiệp sĩ đã được trao cho thanh gươm báu để xông pha cứu khốn phò nguy.
*
Tối hôm đó, chúng tôi đáp chuyến tầu tốc hành Bắc-Nam để đi Saigon, thay vì đi bằng máy bay. Chuyến tầu sẽ đưa chúng tôi đi qua những vùng đất nước chưa đi qua, và để đi lại những quãng đường mà chúng tôi đã đi để hoàn thành một cuộc hành trình từ trước đến nay vẫn còn bỏ dở. Non sông muôn đời vẫn gấm hoa, dù có qua những cuộc phế hưng, hưng phế. Đêm hôm đó nằm trong toa tầu, hình ảnh của Phùng Quán lúc nào cũng đậm trong trí chúng tôi. Cái hình ảnh ngang tàng, nhưng lại hiền hòa trong chiếc áo chàm, chòm râu bạc bay phất phơ trong gió in hình trên nền trời chiều, bên Hồ Tây mênh mông sóng nước.
Trong những ngày tháng cuối cùng trong đời, cái thời gian mà trong một lần nói chuyện qua điện thoai, Phùng Quán vẫn cười cợt như không: “Anh đang cụng lyvới Tử Thần”. Ông có trao đổi với chúng tôi mấy lá thư, lá cuối cùng ông viết bẩy ngày trước khi mất. Chúng tôi có đem ra đọc lại, ngoài những đoạn về tâm sự, Phùng Quán viết cả đến quan niệm về thơ, về sứ mạng mà ông nhận lãnh, về nhân sinh quan của cuộc đời và những điều ước muốn trước khi nhắm mắt. Chúng tôi thấy những lá thư đó, có những phần chúng tôi muốn đem chia sẻ với những người đã từng mến mộ và muốn tìm hiểu thêm về Phùng Quán.
Phùng Quán sinh vào tháng 1 năm 1932 tại xã Thùy Dương, thành phố Huế. Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà-nội, có khoảng 800 người đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Chúng tôi chợt nghĩ đến bài thơ mà ông đã tặng Hoàng Cầm, người anh kết nghĩa, trong đó có câu:
Ngày mai anh nhắm mắt
Đi sau linh cữu anh
Ngòai bạn hữu và gia đình
Có cả con sông Đuống!
Sông Đuống mặc đại tang
Khóc bên bồi bên lở
Sóng vỗ bờ nức nở
Ngàn đời chịu tang anh…
Phùng Quán đã sống một quãng đời dài bên cạnh Hồ Tây, chúng tôi tin rằng Hồ Tây cũng sẽ dậy “Sóng vỗ bờ nức nở, ngàn đời chịu tang anh”. Chúng tôi cũng tin rằng ngay cả núi Ba Vì sừng sững, mờ sương trước mặt, cũng đang nhỏ lệ để thương tiếc một người bạn đồng ẩm, vì đã có lần Phùng Quán đã từng nhắn nhủ với Ba Vì:
Thôi bác cứ ngồi yên ở đó
Còn tôi cứ tĩnh tọa ở đây
Tôi thì làm thơ, bác làm núi
Nhớ nhau, tưới rượu xuống Hồ Tây
Phùng Quán nằm xuống, người hiệp sĩ đã để lại một “Thanh gươm Thơ báu” cho đời.
*
Hồ Tây sáng sớm lạnh, đầy sương mù. Ngày 5/11/94
.....Anh ngồi bên cửa sổ nhìn ra Hồ Tây đầy sương mù, và cạnh anh là anh Đang đang ngủ say, đắp chiếc chăn hồ cừu vợ chồng em gửi tặng. Anh bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Du “Gió lạnh cả thế gian thổi thốc vào một người đơn độc”. Với tấm lòng và công trình của hai em và cháu đã ngăn bớt làn gió lạnh đó...Cụ Đang hết lời khen ngợi cái chăn đắp ấm mà nhẹ, nó không đè nặng lên ngực như chăn bông.
.........................................
Ở đây các nhà thơ đều phải bỏ tiền ra in thơ. Mà họ có giầu gì cho cam. Phải dành dụm từng đồng, bớt xén tiền ăn của cả nhà, có khi đến mấy năm mới in được tập thơ. Mà in rồi chỉ đem đi tặng cũng đủ hết hơi. Thì ra trên thế gian này, thơ văn sinh ra để làm vất vả cho con người. Nhưng anh sắp tránh được cái quy luật vất vả đó, Hội Nhà Văn bao cấp in cho anh một tập thơ khoảng 200 trang. Nghĩa là mình không phải mất tiền. Để đền bù lại phần nào họ đã làm khổ mình trong 30 năm. Anh cười ngất. Tưởng là bở. Những một tập thơ để đền bù cho 30 năm thì kể cái giá cũng hơi quá...
.............................
Rất cám ơn hai em đã đọc hết “Tuổi Thơ Dữ Dội” của anh và cả “Trăng Hoàng Cung”. Nói cho đúng ra, anh mới chỉ viết sơ sơ. Sợ độc giả chịu không thấu, nếu viết hết sự thật, thì cả Remarque cũng phải lè lưỡi. Sách anh vốn viết cho con nít đọc, mà trở thành cuốn sách của người già. Mấy ông già cùng thế hệ với anh họ ham đọc cuốn đó lắm. Anh sẽ in tặng hai vợ chồng phim “Tuổi Thơ Dữ Dội”, 2 tập, dài 155 phút, đã được quay màn ảnh rộng. Hôm chiếu ở cổ thành Quảng Trị, năm 1990, cả ngàn người ngồi xem khóc như trong một đám tang lớn, làm anh phát hoảng. Kể với các em như vậy, để nói rằng sách không bịa đặt chút nào hết. Lượm và Mừng, hai nhân vật trong đó chính là một phần đời anh. Anh cũng đang định viết tiếp. Thật ra là viết lại, vì cách đây 15 năm anh đã viết xong cả 4 tập “Chiến Tranh và Hòa Bình” của anh, mà “Tuổi Thơ Dữ Dội” là phần 1. Anh để tất cả vào cái hóm gỗ, hồi anh ở Nghi Tàm. Mối đã xông mất 3 phần. Phần 1 là mối chưa kịp xông, nên còn. Hôm đó anh đã khóc như con nít, vì tiếc cái công trình anh đã làm trong 15 năm.
.........................................
Anh gửi kèm theo đây hai bài thơ của Tào Mạt, bậc danh bút của Việt Nam và là tác giả chèo lớn với bộ ba “Bài Ca Giữ Nước”. Tào Mạt hơn anh 1 tuổi, đã mất cách đây một năm.
.....................................
Cho anh được gửi lời thăm bạn hữu bên đó và rất mong có ngày hội ngộ. Anh hi vọng ngày đó anh còn đủ sức làm đầu bếp để đãi hai em và cháu Th. A. một tiệc cá Tây Hồ.
*
Hồ Tây, ngày 29/12/94
Anh xin thông báo tình hình sức khỏe hiện nay. Chứng bệnh Xơ gan, cổ trướng (Tên bệnh mà nghe như tên minh tinh điện ảnh Đài Loan). Hiện nay anh rất đep trai. Một lão trượng râu tóc bạc trắng, mang cái bụng sắp đến ngày khai hoa mãn nguyệt. Hàng ngày anh vẫn nhúc nhắc đi lại, sửa sang hoa cỏ, mỗi bữa cũng nuốt được lưng cháo, lưng cơm hoăc lưng sữa. Nhất là vẫn còn đọc được thơ (Tuy lực thơ có sút kém). Và viết được văn. Ngồi viết bị tức bụng thì anh nằm viết. Bởi vậy văn anh bây giờ toàn câu văn chỉ thiên. Rất mong hai em và các cháu yên tâm. Nghe tin anh ốm, bạn bè đến thăm đông như hội: “Phùng Quán mà cũng ốm kia à?”. Xưa nay, các bạn đặt anh vào hàng lim, thép, trời vật không chết. Nếu phải chết thì các bạn sẽ được chứng kiến cái chết của người Chiến sĩ-Nghệ sĩ, “Trông chết cười ngạo nghễ!”. Nhờ ốm mà anh được biết Hà-nội mình nhan nhản Hoa Đà, Biển thước, Tuệ Tĩnh, Lãn Ông...Anh hi vọng khỏi bệnh...
...........................
. Hai em khuyên anh bỏ rượu, nhưng rượu nó bỏ anh, vì từ khi anh bệnh, rượu thấy anh mất phong độ cuả bậc ẩm giả.
Thư hai em anh chưa nhận được, chắc chỉ đến trễ, không mất đâu. Cuộc đời vui quá không buồn được!
.............................
*
Hồ Tây, sáng 5/1/1995
Nhìn chữ anh viết chắc hai em cũng thấy anh chưa đến nỗi nào. Anh vẫn đi lại, tiếp khách, cười đùa, đọc thơ với cái bụng A Di Đà. Cơm, cháo, sưã uống rải rác trong ngày. Bác sĩ gan nổi tiếng vẫn thường xuyên chăm sóc anh. Nhờ em chuyển lời cảm tạ các bạn và thầy thuốc bên đó. Tình của các em sẽ góp phần giúp anh khỏi bệnh. Anh là nhà thơ của dân đen, của những ngưòi móc cống, quét rác... Trong đám này có rất nhiều lang vườn. Họ đòi được chữa trị cho anh. Họ mang tới những rễ cây đào trên các đỉnh núi đá tai mèo, và các thứ lá hái bên các đầm nước mặn. Anh cho sắc lên uống tất, vừa uống vừa cười: “Tôi chơi luôn cả Thiên Đường lẫn Địa ngục!”. Anh nói với họ: “Nếu không may tôi phải giã từ cuộc sống, thì điều hạnh phúc là thi thể tôi được các bàn tay hôi mùi nước cống, mùi phân rác, mùi thuốc nổ, bồng bỏ vào căn hộ bằng gỗ tạp”.
Nhiều bạn thơ, trí thức trách cứ anh: “Nhà Phùng Quán có nhiều tạp khách!”. Họ đâu biết, chính vì những tạp khách đó mà anh trở thành nhà thơ. Hai em ạ, anh không đươc Thượng Đế ban cho ân sủng tìm thơ trong sự tinh khiết, đầy mầu sắc và hương thơm, giữa các vì sao và bầu trời .....
Thượng Đế nghiêm khắc nói với anh: “Ngươi phải úp mặt xuống cống rãnh cuộc đời, trên các ao máu chiến trận không bao giờ khô cạn, trong khói đắng nghẹt của thuốc nổ...mà tìm lấy thơ”. Và anh đã phải thực hiện lời nguyền của Thượng Đế, từ lúc tuổi thơ cho đến nay, chương cuối cùng của cuộc đời anh...Anh Hoàng Cầm đến thăm anh luôn, có khi mang theo cả thầy lang, con trai của Yến Lan, tác giả “Ông Gìa Bến Mi Lăng”.
......................................
Nếu chết, anh sẽ hóa thành một cây cỏ dại, cùng cỏ cây xanh tốt đất này...
........................................
*
Hồ Tây sớm sương mù ngày 13/1/95
Anh phải thông báo ngay là anh vẫn đang nằm ở nhà, vừa cười vừa nốc cạn ca đầy, cốc vơi các thứ dược liệu cỏ cây trị bệnh như thần! Anh hi vọng sẽ khỏi. Cỏ cây của cả đất nước lẽ nào không cứu nổi một nhà thơ?
..............
Thư trước anh nhắc chuyện “Thơ và cống rãnh” là cốt để hai em biết thêm một khía cạnh về quan niệm thi ca của anh mà anh thường phát biểu để chống lại quan niệm “Con chim ngứa cổ hót chơi”. Với anh thì lời khen tặng sang trọng về thi ca là của nhà văn Dan Hich nói về Andersen: “Ông ta là người có khả năng kỳ diệu. Bất kỳ cống rãnh nào cũng mò thấy ngọc trai!”. Còn về bệnh thì anh tin sẽ lành, nếu anh vượt qua năm Tuất.
......................... Hiện nay anh đang bị một cú “Nốc ao”, và trọng tài đang đếm đến 6. Hai em cứ ở lại bên đó ăn cái Tết thật vui với các cháu. Thế là ở bên này anh khỏe.....
.......................................... .................
*
Ngay sau khi Phùng Quán mất, chúng tôi có gửi thư về nhắc bà Phùng Quán cố giữ gìn các kỷ vật trong Chòi Ngắm Sóng, các tác phẩm và thâu thập các bài viết rải rác để làm một “Thư Viện Phùng Quán”. Chúng tôi đã gửi lại những lá thư mà Phùng Quán viết cho chúng tôi, đó là bút tích cuối cùng của ông. Cũng theo lời bà ngay cả cuốn băng mà chúng tôi có mấy tháng trước cũng là cuốn băng thơ độc nhất thu được những lời thơ của ông, chúng tôi cũng đã gửi về để bà giữ trong Chòi Ngắm Sóng.
Những lần về thăm Việt Nam sau này, chúng tôi đều gặp cụ Đang, thi sĩ Hòang Cầm và bà Bội Trâm. Mỗi lần gặp lại, mỗi lần chia tay là mỗi lần tưởng như không bao giờ gặp lại. Cụ Đang đã mất và thi sĩ Hòang Cầm cũng đã mất. Cả hai đều được đông người mến mộ đưa tiễn.
Lần cuối, chúng tôi gặp lại bà Bội Trâm vào dịp Tết Canh Dần năm 2009, và cô con gái từ Lào trở về thăm mẹ. Bà cư ngụ tại một cao ốc trong vùng Bưởi, ngọai ô thành phố Hà nội. Chòi Ngắm Sóng đã bị thành phố giải tỏa, không còn nữa, nhưng trong căn hộ mới vẫn còn những di vật của Phùng Quán. Trước khi chia tay, bà đã thu ghém một số sách mới xuất bản viết về Phùng Quán tặng chúng tôi. Hơn năm sau, chúng tôi được tin bà qua đời. Theo ước nguyện, phần mộ của Phùng Quán và bà Bội Trâm được cô con gái của ông bà di chuyển về quê của ông là xã Thùy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế 6 Km về phía nam.
*
Phùng Quán đã được đưa về quê đúng như ý nguyện. Những người tổ chức di quan lại cũng đã hòan thành bổn phận đưa hai ông bà đến nơi có cuộc đời sau an bình hơn, không như những lời di chúc lúc cuối cuộc đời nghiệt ngã trong văn thơ của ông. Ngôi mộ được xây trên một vùng đất đẹp, được gọi tên là “Lăng Mộ Nhà Thơ Phùng Quán Nhà Giáo Vũ Thị Bội Trâm”. Đúng như một cái lăng nhỏ.
Trong đời của Phùng Quán đã để lại nhiều bài di chúc, bài nào cũng dữ dội. Bài “Di Chúc Chiến Sĩ”, viết năm 1952, lúc còn là lính của tiểu đòan Trần Cao Vân trước khi công đồn. Bài thơ có những câu:
Nếu tôi chết
Xin đừng đưa tôi đi đâu hết cả
Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã!
…………….
…quanh mộ tôi
Xin đừng trồng bạch đàn, liễu biếc hay thùy dương
……………..
Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mìn
Xin đừng do dự gì tất cả
Hãy đào mộ tôi lên!
Quẳng hài cốt tôi đi!
Và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ!
Xin đừng đưa tôi đi đâu hết cả
Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã!
Người chiến sĩ qua cuộc trường chinh dành “độc lập, tự do, hạnh phúc” đã không chết, nhưng đã bị phản bội và bị vùi dập khi nói lên quyền tự do của người cầm bút và chống lại tham nhũng. Những tai họa mà cường quyền giáng xuống quãng đời dài của ông đã khiến ông viết ra những câu thơ trong bài “Huyệt“, như một lời di chúc phẫn nộ, tuyệt vọng đến cùng cực:
…………………….
Tôi sẽ đào nấm huyệt
Cạnh mồ cha mẹ tôi
Tôi sẽ lăn xuống đó
Thế là xong một đời!
Đàn mối của quê hương
Sẽ thay phu đào huyệt
Bao nghiệt ngã trần gian
Chỉ dăm ngày vùi hết!
Căn mộ mới đáy huyệt
Rượu đất tôi uống tràn
Cụng ly cùng dòi bọ
Mừng trắng nợ trần gian!
Sau cùng, ít ngày trước khi mất ông đã viết trong một bức thư gửi cho chúng tôi: “Nếu không may tôi phải giã từ cuộc sống, thì điều hạnh phúc là thi thể tôi được các bàn tay hôi mùi nước cống, mùi phân rác, mùi thuốc nổ, bồng bỏ vào căn hộ bằng gỗ tạp”.
*
Chòi Ngắm Sóng không còn nữa, căn hộ của bà Bội Trâm vùng Bưởi không chắc có còn không. Không hiểu những di vật trong chòi Ngắm Sóng, những tác phẩm văn thơ của Phùng Quán nay ở nơi đâu! Thư viện Phùng Quán có được thực hiện ở Hà nội hay ở xã Thùy Dương không? Như ở các nước họ vẫn làm cho các danh nhân văn thi sĩ của họ.
Có hai điều thật là ý nghĩa mà những người tổ chức đã thực hiện được là bên mộ của hai ông bà, một đọan trong bài thơ để đời của Phùng Quán “Lời Mẹ Dặn” đã được khắc lên một bia đá lớn:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Và dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật chọn đời
Đường mật công danh không làm
ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Và một Học Bổng Phùng Quán được thành lập và sẽ tồn tại mãi hàng năm dành cho học sinh tại xã Thùy Dương. Mong rằng những học sinh đọat giải này, nếu có noi theo gương, noi theo cái tinh thần của Phùng Quán, sẽ không bị vùi dập và sống một cuộc đời oan nghiệt như ông.
Nguyễn Công Khanh
Ba phút sự thật – Phùng Quán
Ba phút sự thật không phải chỉ ngắn ngủi để người đọc có thể đọc trong ba phút, cũng không xuề xoà hay tương đối như cái cách người ta vẫn hay nói đến sự thật. Ba phút sự thật – thật đến trần trụi, gai góc và đau lòng.Trong sự thật ấy có một triết gia kỳ quặc, cô độc trong căn hộ bề bộn chỉ mải lo cho những vấn đề về con người và triết học mà quên béng đi thực tại, cũng quên luôn cả cơm áo gạo tiền hay danh vọng, địa vị. Đến nỗi cho đến lúc chết, hàng xóm của ông vẫn chẳng tin ông là người được truy điệu mà tivi đưa tin.
Trong sự thật ấy có một nhà thơ trong buổi kháng chiến nghèo khổ bộn bề đã đứng thẳng lưng, ngẩng cao đầu, can đảm, quyết liệt chống lại hiểm hoạ tham nhũng tàn phá đất nước.
Trong sự thật ấy có một nhạc sĩ, người đã viết nên bản Quốc ca hùng tráng cho đất nước Việt Nam, nghiêng ngả trong cơn say giữa đời với hai vế mâu thuẫn “Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền.”
Ba phút Sự thật – Phùng Quán
Cuộc đời Phùng Quán, cuộc đời những người bạn văn, bạn thơ của Phùng Quán hiện lên trong trang sách với tất cả thiếu thốn, nghèo khổ nhưng lại đầy trách nhiệm với công việc, với con đường mà mình đã chọn. Như triết gia Trần Đức Thảo lôi thôi nhếch nhác quần ống thấp ống cao vẫn nghiên cứu về “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” cho đến khi chết. Hay như Nguyễn Hữu Đang – người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945, sống trong căn chòi rách nát và cố gắng tìm cách tập hợp lại những tài liệu chẳng rõ còn hay mất trong những ngày trọng đại của dân tộc.
Ba phút sự thật không dành cho ai muốn tìm đến những trang viết hào hùng trong sáng như Tuổi Thơ Dữ Dội, cũng sẽ không dành cho ai muốn tìm những “sự thật” để yêu hơn cuộc sống này. Phùng Quán viết bằng trải nghiệm của một đời lính, một đời văn – một đời vất vả. Thấp thoáng trong Ba phút sự thật có những khoảnh khắc của một thời thiếu niên trong sáng chỉ biết cống hiến hết mình cho cách mạng, nhưng rồi nó chỉ thoảng qua để làm nền cho những hồi ức buồn đến ám ảnh của chiến tranh – như chính Phùng Quán nói, Tuổi Thơ Dữ Dội là bản di chúc của ông.
Nhà thơ Tố Hữu đã nói ngay trong chương đầu tiên của Ba phút sự thật. “Thằng Quán nó dại… mà cậu cũng dại…” (nhà thơ Tố Hữu là cậu của nhà văn Phùng Quán). Thì đấy, “Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Ba phút sự thật là tập di cảo, là những gì còn lại của một người tài hoa nhưng đã “lỡ dại” mà chọn nghiệp văn chương.
BA PHÚT SỰ THẬT
* PHÙNG QUÁN
(…)
Cách hơn một tháng trước, vợ tôi đến thăm chị Khiêm lúc này đã ốm liệt giường.
Ngoài cân đường biếu người ốm, tôi gửi biếu nhà thơ nửa ìít rượu. Nhà thơ hỏi
vợ tôi: "Thằng Phùng Quán chết rồi hay sao mà lâu nay nó không đến thăm
tôi? Chị Khiêm đưa mắt lườm chồng, nói: "Đừng chấp lão ta làm gì… mồm
miệng lúc nào cũng độc địa như thế…". Vợ tôi kể lại chuyện này và có ý
giận sự độc mồm độc miệng của ông. Nhưng tôi thì rớm nước mắt vì cảm động. Tôi
thấy đằng sau lời rủa độc ấy là tình thương quý của ông đối với tôi -
"Mình là cái con khỉ gì mà được nhà thơ Đoàn Phú Tứ thương quý làm
vậy?". Tôi thầm nghĩ thế và lòng xốn xang tình cảm biết ơn…
Bây giờ nhà thơ đã qua đời. Nhớ lại tất cả những
chuyện đó, tôi càng buồn rầu hơn vì vô phương giúp đỡ gia đình ông trong cảnh
tang gia cùng quẫn. Tôi lục lọi khắp nhà xem tìm được vật gì sớm mai đem bán.
Nhưng cảnh nhà tôi cũng chẳng hơn gì cảnh nhà ông. Vật dụng có giá trị nhất
trong nhà tôi là cái xe đạp mi-ni cũ nát, đem bán chưa chắc đã nổi hai chục
nghìn>> Hồi ký “Ba phút sự thật” của Phùng Quán
Cái khó ló cái khôn. Trong đầu tôi chợt lóe lên
"sáng kiến": Nghe nói Đoàn Phú Tứ đã từng là đại biểu Quốc hội khóa
I, vậy mình sẽ lên thẳng Quốc hội xin tiền làm ma cho ông. Sáng kiến có vẻ hay
đấy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy khó lòng thực hiện nổi. Tôi lấy tư cách
gì để lên tận Quốc hội xin tiền cho ông? Tôi không phải là bà con ruột thịt,
không phải họ hàng, cũng không phải là bạn của ông… Tôi không có chức danh gì
trong các doàn thể văn học nghệ thuật… Xuất thân là một người hnh trinh sát của
một trung đoàn thiện chiến, tôi thường bị kẹt vào những tình huống hiểm nguy
tường chừng không lối thoát, nhưng cuối cùng vẫn thoát. Quân đội đã rèn giũa
cho tôi từ thuở thiếu mên cái ý chí: hãy tìm cho ra một kẽ hở ở những chân
tường kiên cố nhất, để chui qua.
***
Một giờ sáng, trằn trọc trên Chòi ngắm sóng, tôi đã
tìm ra kẽ hở đó. Nhưng kẽ hở này là một hạ sách, vì nó vi phạm nghiêm trọng đạo
lý con người và nhà văn: Nói dối. Nghĩ vậy, tôi cảm thấy chùn tay. Nhưng thời
gian gấp quá rồì, chỉ còn một buổi sáng ngày mai… Tôi tự an ủi: Mục đích sẽ
biện hộ cho phương tiện. Tôi bật đèn, tìm giấy bút và sáng tác một bức thư:
"Kính
gửi đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam.
“ Kính thưa đồng chí, tôi xin báo với đồng chí một tin
buồn: ông Đoàn Phú Tứ, nhà thơ, nhà viểt kịch, nhà dịch thuật, và đồng thời là
đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thọ 80
tuổi, đã từ trần ngày hôm qua. Họa vô đơn chí. Vợ ông là chị Nguyễn Thị Khiêm
vừa mất cách đây hai tháng. Sau ngày vợ mất, ông Đoàn Phú Tứ tìm gặp tôi và
nói: "Mình cảm thấy như ngọn đèn đã cạn dầu, lụi bấc, chưa biết tắt lúc
nào. Tám mươi tuổi rồi, chết không phải là điều đáng sợ, chỉ sợ một nỗi đến lúc
nằm xuống, các con chẳng biết lấy gì để làm ma cho bố. Bởi vậy mình uỷ thác
Phùng Quán một việc. Nếu mình nằm xuống, thì Quán hãy viết thư kêu ông Chủ tịch
Quốc hội, trình bày hoàn cảnh gia đình mình, và chuyển lời mình đến với ông:
"Nểu Quốc hội còn nhớ đến tình cũ nghĩa xưa, thì xin ông một cỗ áo quan và
một chút tiền để mai táng". Bây giờ ông Đoàn Phú Tứ đã nằm xuống. Tôi xin
chuyển đến đồng chí lời uỷ thác của ông. Mong đồng chí lưu tâm giải quyết. Hai giờ
chiều mai, gia đình ông Đoàn Phú Tứ sẽ đưa ông về Văn Điển. Nay kính thư, Phùng
Quán".
Trong cuộc đời làm văn của tôi, chưa bao giờ viết một
đoạn văn nào mà tôi phải đắn đo, cẩn trọng đến như bức thư này. Tôi chép đi
chép lại bức thư nhiều lần, cân nhắc từng chữ một, sửa chữa, thêm bớt.
Tôi chép lại bức thư với nét chữ nắn nót, đề địa chỉ
người nhận, với dòng chữ trong ngoặc đơn: "Kính
nhờ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam chuyển".
Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng.
Tôi đến Trụ sở Hội Nhà văn vào đầu giờ làm việc May
mắn nhà văn Xuân Thiều cũng vừa đến. Tôi trao bức thư và nói gần như năn nỉ:
"Anh cố gắng chuyển thư đến tay anh Đạo vào buổi sáng nay, anh ấy mới giải
quyết kịp". Xuân Thiều xem bức thư rồi trao lại cho tôi, nói: "Không
ăn thua đâu Quán. Chuyện tiền nong đâu có thể giải quyết một cách chóng vánh,
dễ dàng như vậy?".
Tôi buột miệng đọc câu thơ của Uytman: "Dù cho ai thất vọng về người - Ta, ta
vẫn đời đời tin tưởng" Tôi nói: "Đã thế tôi sẽ lên thẳng Quốc hội
gặp anh Đạo". Tôi dắt xe đến thẳng chòi gác, cố lấy dáng đi thật chững
chạc.
Anh công an gác trước Trụ sở Quốc hội (33 Ngô Quyền)
bước ra hỏi:
- Cụ đến có việc gì ạ?
- Cụ đến có việc gì ạ?
- Báo cáo đồng chí, tôi muốn gặp Chủ tịch Lê Quang
Đạo.
- Chắc cụ muốn đưa đơn kiện phải không?
Tôi đoán anh ta cho tôi là một lão nông từ làng quê
lên. Mà các cụ ở nông thôn đã tìm lên đến tận Quốc hội thì chỉ có mỗi việc là
đệ đơn kháng cáo những chuyện bê bối của chính quyền địa phương.
- Không, đồng chí ạ. Tôi không có chuyện kiện cáo gì
đâu. Chỉ cần gặp ông Chủ tịch để đề đạt một công việc cần thiết.
- Thế thì mời cụ dựng xe đằng kia rồi vào gặp bác
thường trực.
Ông già thường trực sau khi nghe tôi trình bày vắn
tắt, liền trá lời với giọng Quảng Trị đặc sệt:
- Ông Lê Quang
Đạo và ông Vũ Mão mới về Hải Phòng chiều qua để kiểm tra việc chuẩn bị bầu cử
hội đồng nhân dân các cấp…
"Thế
thì không ăn thua gì rồi anh Tứ ơi… Anh đen quá, đen cho đến chết. Anh dịch
"Đỏ và đen" mà số anh chỉ nhận được toàn phần đen… Tôi đã hết sức với
anh, nhưng số phận đã được an bài… Mong vong linh anh đừng giận tôi".
Tôi đưa phong thư và bộ "Tuổi thơ dữ dội", nhờ ông thường trực chuyển giúp cho
Chủ tịch Lê Quang Đạo ông ta lên mục kỉnh, đọc tên tôi trên phong bì thư. Ông
ngẩng mặt lên hỏi: "Có phải Phùng Quán "Vượt Côn Đảo"
không?"
- Đúng rồi…
- Dạo ni nom già hớm hí. Cậu quên tớ rồi à?
Tôi chăm chú nhìn ông, lòng lấy làm lạ: "Ở một
nơi uy nghiêm như thế này sao lại nảy nòi ra một anh quen biết hạng người như
mình?"
- Thật tình mình không nhớ được… Tôi bối rối nói.
- Vô đây uống chén nước đã, rồi ta nhắc cho mà nhớ.
Cậu là lính "Trăm lẻ một", tớ là lính "Chín lăm". Cậu có
nhớ trận phục kích đoàn công-voa gần đồn Hòa Lục Nam, chiến dịch Phan Đình Phùng năm
1952 không?
Có, có, nhớ rồi…
- Lúc thu chiến lợi phẩm, cậu với tớ giành nhau khẩu
ga-răng, cậu đạp tớ một cú giữa bụng, tớ nện cậu một cú vô quai hàm, nhớ chưa?
- Nhớ rồi, nhớ rồi… Mà ngày xưa tớ nom cậu to con hơn…
- Xí… già thì người phải teo tóp lại như trái mướp
khô… Rứa cậu gặp ông Đạo có việc chi?
Tôi trình bày tóm tắt câu chuyện và nói: "Thế mà
ông Đạo lại đi vắng…, có hết hơi không?
- Cậu cứ ngồi đó, chưa chi dã
chủ bại. Tớ thấy hồi còn làm lính "Trăm lẻ một" cậu coi bộ cứng cổ
hơn:.. Để tớ gọi điện thoại cho ông Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu
nhân dân", hỏi ý kiến ông ta, liệu có giải quyết được không?
Người
chiến hữu cũ của tôi gọi điện thoại, quay lại nhìn tôi gật gật: "Ông ấy
mời cậu lên gặp. Điệu ni là có hy vọng đấy. Chừ cậu đi lên tầng gác hai, thấy
gian phòng ngoài cửa có tấm biển đề Tổng biên tập. Ông ta đang ngồi ở đó".
Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu nhân dân" kém tôi vài tuổi, tên là Thọ. Anh Thọ không những bỉết Đoàn Phú Tứ mà còn biết cả chuyện ông là người đầu tiên đã ra tay chống tệ nạn tham nhũng, trong vụ Trần Dụ Châu và Lê Sĩ Cửu, từ thời chiến khu Việt Bắc.
Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu nhân dân" kém tôi vài tuổi, tên là Thọ. Anh Thọ không những bỉết Đoàn Phú Tứ mà còn biết cả chuyện ông là người đầu tiên đã ra tay chống tệ nạn tham nhũng, trong vụ Trần Dụ Châu và Lê Sĩ Cửu, từ thời chiến khu Việt Bắc.
Đọc xong bức thư gứi đồng chí Lê Quang Đạo, anh Thọ
nói: "Đây không phải là chuyện nghĩa cử mà còn liên quan đến ảnh hưởng
chính trị… Anh Phùng Quán ngồi đây chờ tôi mười phút, tôi chạy đi mời một số
cán bộ chủ chốt của cơ quan. Chúng ta sẽ cùng họp bàn cách giải quyết trong khi
anh Đạo đi vắng". Lát sau tôi được mời vào phòng họp.
Ngoài anh Thọ có Vụ trưởng Vụ Tài chính, Vụ trưởng Vụ
Chính sách, một chuyên viên đặc trách những việc đột xuất của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội.
Bức thư gửi lên đồng chí Lê Quang Đạo được anh Thọ đọc
to lên cho tất cả cùng nghe. Vụ trưởng Vụ Chính sách trạc năm mươi tuổi, người
cao gầy, ánh mắt sắc sảo, nói: "Trước khi bàn bạc cách giải quyết, chúng
ta phải cần kiểm tra xem ông Đoàn Phú Tứ có phải là đại biểu Quốc hội không đã…"
(!?) Ông đứng lên ra khỏi phòng họp một lúc rồi trở vào, tay cầm cuốn sổ dày
cộp, bìa bọc vải có chữ mạ vàng. Ông đặt cuốn sổ trước mặt tôi, giới thiệu:
"Đây là Kỷ yếu danh sách đại biểu Quốc hội từ khóa I đến nay. Tên đại biểu
được xếp theo vần A, B, C. Đoàn Phú Tứ, ta tra vần T. Ông lật giở kỷ yếu tìm
vần T. Chúng tôi cùng chụm đầu trên ba trang vần T. Không có tên Đoàn Phú Tứ.
Tôi tái mặt… Dò tìm lại lần nữa. Có tên Nguyễn Đình Thi, Phan Tứ… nhưng Đoàn
Phú Tứ thì không. Tôi hoảng sợ thật sự. Thật ra, việc Đoàn Phú Tứ là đại biểu
Quốc hội khóa I thì tôi cũng chỉ nghe nói vậy thôi, chứ chưa bao giờ hỏi thẳng
ông… Nếu Đoàn Phú Tứ không phải là đại biểu Quốc hội thì những con người sắc
sảo này sẽ nhận ra ngay sự gian dối của bức thư. Như vậy thì tôi đã tự chuốc
lấy một hoàn cảnh hết sức lố bịch. Tôi chợt nghĩ: vẫn còn một tia hy vọng. Tôi
nói: "Nhưng nhà thơ Đoàn Phú Tứ chi là đại biểu có mấy năm, sau đó ông bỏ
thành…" Vụ trưởng Chính sách nói: "Đây là Kỷ yếu. Trong số này có cả
tên Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh".
Lúc này tôi chỉ muốn chui xuống đất. Tôi lắp bắp, ấp
úng: "Việc này tôi nghe các anh ở Hội Nhà văn nói chắc lắm. Có lẽ để tôi
về hỏi lại anh Nguyễn Đình Thi xem sao. Anh Thi cũng là đại biểu Quốc hội khóa
I…". Miệng nói, chân tôi dợm đứng lên, cốt làm sao rút được ra nhanh khỏi
gian phòng họp. Bất chợt tôi nhìn thấy trong sổ Kỷ yếu có mục: Những đại biểu
Quốc hội đào nhiệm. Tôi hồi hộp nói: "Thử tra cứu mục này xem có tên ông
Tứ không?"
Ngón tay trỏ tôi lần dọc theo các hàng tên… "Đoàn
Phú Tứ đây rồi!" - Tôi nói gần như reo. Vụ trưởng Chính sách xem xét lại
lần nữa, rồi gật đầu: "Qua khâu kiểm tra, ông Đoàn Phú Tứ đúng là có danh
sách trong đại biểu Quốc hội. Nhưng ông đã đào nhiệm từ năm 1951. Chúng tôi
không còn trách nhiệm gì về ông, nên không có chính sách cấp tiền làm tang lễ
cho ông…".
- Chính sách đất nước quý trọng nhân tài - Tôi nóng
nảy ngắt lời ông. - Tuy ông đào nhiệm, nhưng trước đó ông là nhà thơ đầu tiên
đứng lên chống tệ tham nhũng. Và ông đã chống một cách thật can đảm. Ông đã
vạch mặt Trần Dụ Châu, đại tá Cục trưởng Cục quân nhu phè phỡn trên xương máu
chiến sĩ. Trần Dụ Châu đã bị xử bắn như chúng ta đã biết…
Cảm thấy chừng ấy lý lẽ cũng chưa đủ thuyết phục họ,
tôi liền vận dụng đến thơ. Tôi nói: "Một nhà thơ cộng sản người Đức tên là
Bectôn Brếch, từng viết những câu thơ đầy sức giáo huấn:
Một người đấu tranh một giờ là một người tốt. Một
người đấu tranh nhiều ngày là một người tốt hơn
Một người đấu tranh nhiều năm là một người tốt hơn nữa
Một người đấu tranh suốt đời thì rất hiếm…
Thật ra đoạn thơ này còn có câu cuối cùng:
"Những người đó mới thật cần thiết cho chúng
ta", nhưng tôi đã cắt bỏ câu này để cho việc trích dẫn thơ có lợi cho mục
đích của tôi. Tôi nói tiếp: "Như vậy nhà thơ Đoàn Phú Tứ là "một
người tốt hơn nữa", vì ông đã đấu tranh nhiều năm".
- Thơ hay quá! Mọi người trầm trồ, đề nghị anh đọc lại
cho chúng tôi chép.
Tất cả cùng mở sổ tay, rút bút bi. Tôi đọc chậm rãi
từng câu theo kiểu thầy giáo đọc chính tả cho học sinh… Vụ trưởng Tài vụ hỏi:
- Đồng chí nhà thơ cộng sản này là Đông
Đức hay Tây Đức?
- Cộng hòa dân chủ Đức, người đã sáng lập
ra Đoàn kịch nói quốc gia Béc-lanh.
Tôi không ngờ thơ lại có sức mạnh thuyết
phục đến như thế. Vụ trưởng Vụ Chính sách hăng hái nói:
- Đúng, chúng ta cần phải gửi tiền đến để góp phần tổ
chức tang lễ cho nhà thơ, mặc dầu chưa có chính sách về những trường hợp như
thế này. Chúng ta cần phải linh động chính sách.
Vụ trưởng Tài vụ có vẻ nghĩ ngợi lung lắm, ông nói:
"Nhưng ký duyệt những khoản tiền đột xuất như thế này thì phải đồng chí Lê
Quang Đạo, hoặc đồng chí Vũ Mão… Mà bây giờ cả hai đồng chí đều đi vắng…".
Anh Thọ nói: "Nếu chưa kịp gửi tiền thì chúng ta
có thể gửi một vòng hoa đến viếng". Vụ trưởng Tài vụ gật đầu: "Việc
mua vòng hoa thì quyền hạn tôi có thể giảỉ quyết được". Nhìn lên đồng hồ
đã 11 giờ, ông đứng lên: "Các đồng chí cứ ngồi đây nói chuyện. Tôi cho
người đi đặt vòng hoa thì mới kịp".
Vụ trưởng Chính sách băn khoăn: "Không biết nên
đề lên vòng hoa như thế nào… Vì ông Tứ không còn là đại biểu Quốc hội
nữa…". Tôi nói: "Theo tôi có thể đề: "Kính viếng hương hồn nhà
thơ Đoàn Phú Tứ - Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước”. Quốc hội gửi vòng
hoa viếng một nhà thơ nổi tiếng, việc này vừa hợp với đạo lý vừa có ảnh hưởng
chính trị tốt không những chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài. Mọi người đều tán
thành cách giải quyết của tôi. Anh Thọ gọi điện cho họa sĩ phụ trách
"mi" của báo "Người đại biểu nhân dân", để yêu cầu tạm xếp
công việc "mi", viết ngay một "băng-rôn" vải đỏ chữ vàng
với nội dung trên.
Vụ trưởng chính sách hỏi tôi địa chỉ cua nhà thơ. Tôi
nói: "Nhà ông ở bãi An Dương, hơi khó tìm. Tôi sẽ làm người dẫn đường.
Đúng 1g30 tôi sẽ có mặt ở đây để cùng di với các đồng chí".
Đồng hồ chỉ 12 giờ. Tôi thấy mệt lả và đói mềm người.
Nhưng tôi tính toán: nếu trở về nhà ăn cơm rồi đạp xe đến thì không kịp mất.
Tôi quyết định ở lại đây buổi trưa. Tôi ghé vào phòng thường trực ngồi chơi với
người chỉến hữu cũ của sư đoàn, hút thuốc lào và ôn lại những kỷ niệm chiến
trường để dịu bớt cơn đói.
Đúng 1g30, chiếc Vonga đen choáng lộn mang biển số Văn
phòng Quốc hội, chở một vòng hoa lớn, vắt chéo tấm băng-rôn đỏ nổi bật dòng chữ
nhũ vàng do một họa sĩ trang trí viết: "Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước - Kính viếng hương hồn nhà thơ nổi tiếng Đoàn Phú Tứ" chạy về phía
bãi An Dương.
(…) Nhiều năm tháng đã trôi qua. Mộ nhà thơ Đoàn Phú
Tứ đã được các con cải táng… Nhưng lòng tôi sao vẫn ray rứt mãi không yên.
Trong sự việc này, tôi đã phạm hai lần nói dối. Càng luống tuổi, càng sống,
càng chiêm nghiệm tôi càng không tin rằng "mục đích có thể biện hộ cho
phương tiện". Trên khắp thế gian, người ta đã phạm biết bao nhiêu tội ác
chỉ vì cái lập luận đáng sợ này. Những lỗi lầm mà tôi đã phạm phải trong công
chuyện nhà thơ Đoàn Phú Tứ, có nguồn gốc sâu xa của nó. Năm tôi mười tám tuổi,
là lính trinh sát của Trung đoàn 101. Tôi được cử vào đội bảo vệ một đoàn văn
nghệ sĩ từ vùng tự do Liên khu 4, vào Thừa Thiên đi thực tế chiến trường. Trong
đoàn này có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng: Thanh Tịnh, Phạm Duy, Bửu Tiến…
Đội bảo vệ chúng tôi có 8 người, vừa làm công tác bảo
vệ, vừa dẫn chương trình, trinh sát. Trước khi lên đường nhận công tác, Chính
uỷ Trung đoàn Trần Quý Hai đến gặp chúng tôi, chỉ thị: "Nhân tài là vốn
quý của đất nước. Một đất nước không có nhân tài thì đất nước đó sẽ lụn bại.
Bởi vậy các đồng chí phải bảo vệ văn nghệ sĩ như bảo vệ con ngươi giũa mắt
mình". Chúng tôi đã thi hành chỉ thị của Chính uỷ hết sức nghiêm chỉnh.
Ngày đó chiến trường Thừa Thiên bom đạn đầy trời, giặc càn quét ìiên miên. Suốt
hai tháng, đạn giặc không đụng đến được cái lông chân đoàn văn nghệ sĩ. Đội bảo
vệ chúng tôi hy sinh mất hết hai chiến sĩ, còn tôi bị thương ở cẳng chân, suýt
bị cưa phía trên đầu gối.
Do được ở gần đoàn văn nghệ sĩ, cánh lính bảo vệ chúng
tôi cũng tập tọng bắt chước các anh, làm thơ. Tôi cũng có làm được vài câu nôm
na như sau:
"Nếu các anh bị bốn bề vây súng giặc - Chúng tôi
sẽ xông ra lấy ngực che đạn cho các anh…".
Do đó về sau này, mỗi lần nhìn thấy các anh văn nghệ
sĩ có tên tuổi, có tài năng phải sống khổ cực như nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tôi lại
chợt nhớ đến lời dạy của Chính uỷ năm nào… Khốn nỗi, bây giờ muốn che chở, bảo
vệ nhân tài, không còn cần đến ngực, đến máu (thứ chúng tôi có sẵn) như ngày ở
chiến trường. Mà cần tiền - thứ chúng tôi hoàn toàn không có - Bởi vậy, tôi
phải sứ dụng đòn liều mạng, mà trong thâm tâm tôi biết đó là một biện pháp rất
tồi tệ, không thể nào tha thứ được. Tôi coi thiên hồi ức này là sự tạ tội trước
hương hồn nhà thơ Đoàn Phú Tứ - vì nội dung điều nóỉ dối của tôi không phù hợp
với tính cách con người ông; đồng thời đây cũng là lời tự thú với đồng chí Lê
Quang Đạo mà tôi hết lòng kính trọng, với các anh ở cơ quan Văn phòng Quốc hội
và Hội đồng Nhà nước, và với độc giả!
Tôi trông chờ vào sự phán xét dù nghiêm khắc đến đâu.
Tôi hy vọng có như vậy tôi mới được cứu rỗi.
Hồ Tây – 1993
Nhận xét
Đăng nhận xét