ĐÂU LÀ BIA MIỆNG? 24
-Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Lê Đức Anh (sinh 1 tháng 12 năm 1920) là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 09 năm 1997. Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1986-1987), bộ trưởng bộ Quốc phòng Việt Nam, mang quân hàm Đại tướng.
Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958). Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Năm 1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.
Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
Từ tháng 5 năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Đến tháng 6 năm 1978, là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây-Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1984, ông được phong hàm Đại tướng.
Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987 đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Năm 1991 là Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước.
Ông cũng là Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.
Từ tháng 9 năm 1997, ông nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, sau đó trở thành Cố vấn Trung ương Đảng. Đến năm đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.
Bài phỏng vấn được thực hiện vào dịp đầu xuân năm 2012, nhưng những ý kiến của Đại tướng Lê Đức Anh vẫn gợi nên những suy nghĩ về tình hình hiện nay.
- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng "chỉnh đốn Đảng" là một việc có tính chất "sống còn". Nguyên Chủ tịch nước suy nghĩ thế nào về việc này?
- Đất nước ta phát triển là nhờ có Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập. Các lớp kế tục vẫn giữ được bản chất của Đảng vô sản. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng vô sản mang bản chất giai cấp công nhân mà chúng ta mới giành và bảo vệ được độc lập, chủ quyền.
- Theo nguyên Chủ tịch nước, vì sao việc xây dựng chỉnh đốn Đảng hiện nay lại trở nên cấp bách và sống còn như vậy?
- Trước đây, Nikita Khrutsov đã làm nhạt bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Chính điều này đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô hơn 30 năm sau đó. Tôi lấy ví dụ thực tế đó để nói rằng, nếu Đảng Cộng sản mà mất bản chất giai cấp thì sẽ dần dần sụp đổ. Vì thế, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cấp bách và mang tính chất sống còn.
- Để lần chỉnh đốn Đảng này thực sự hiệu quả, chúng ta phải làm gì, thưa nguyên Chủ tịch nước?
- Một giai cấp có thể có nhiều đảng chứ không thể có đảng mang bản chất của nhiều giai cấp. Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập là đảng đại diện cho cả quốc gia, dân tộc nhưng nó là Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân.
Muốn xây dựng được xã hội chủ nghĩa thì phải giữ bằng được bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Cái gốc của mọi vấn đề liên quan đến Đảng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là giữ được bản chất giai cấp.
Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất trong chỉnh đốn Đảng là phải củng cố lại Đảng của Hồ Chí Minh, khôi phục lại bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Phải khôi phục cả về tổ chức và bản chất giai cấp.
- Vậy thưa nguyên Chủ tịch nước, phải làm gì để người dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng?
- Giải quyết được các vấn đề của Đảng sẽ giải quyết được nhiều vấn đề xã hội còn đang tồn tại. Lúc đó, nhân dân sẽ luôn tin tưởng vào Đảng.
- Xin cảm ơn Đại tướng đã trả lời phỏng vấn!
https://www.youtube.com/watch?v=84lNFfQrCVU
LTS : Sau đây là nguyên văn một thư của ba nhân vật lịch sử của đảng
Cộng Sản Việt Nam. Đó là các ông Hai Xô (95 tuổi), Bảy Cống (87 tuổi) và
Năm Thi (85 tuổi). Các vị này nói ra những điều họ biết về nhân vật Lê
Đức Anh, con người có quyền lực nhất, hầu như quyết định tất cả, tại
Việt Nam trong 15 năm qua sau khi Lê Đức Thọ qua đời.
Giá trị của tài liệu này là ở chỗ nó do những người trong cuộc, biết rõ về ông Lê Đức Anh và một phần nào đó quyết định giai đoạn đầu của sự nghiệp của nhân vật này. Độc giả không khỏi thắc mắc tại sao ông Lê Đức Anh chỉ được kết nạp vào đảng cộng sản tháng 4-1945 mà ngay sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945 đã là một cấp chỉ huy khá quan trọng ? Mâu thuẫn này, nếu có thể gọi là mâu thuẫn vì tình hình lúc đó rất phức tạp, càng nói lên sự trung thực của những điều họ viết ra, biết sao nói vậy, không thêm bớt.
Qua những điều họ viết ra thì Lê Đức Anh là một nhân vật rất thủ đoạn và nhẫn tâm, tuy không phải là người lãnh đạo tài ba. Nhân vật Lê Đức Anh có rất nhiều bí ẩn. Lên chức rất nhanh trong giai đoạn đầu, năm 1956 đã là thượng tá tham mưu phó quân khu Hữu Ngạn (do thiếu tướng Trần Độ làm chính ủy), được gửi vào miền Nam từ 1960 với quân hàm đại tá, ông đã bị thất sủng, không được thăng chức trong suốt 15 năm chiến đấu tại miền Nam với chức vụ tư lệnh quân khu 9. Sau ngày 30-4-1975, ông bỗng nhiên được Lê Đức Thọ, con người nắm hầu hết quyền lực trong đảng cộng sản, đặc biệt chiếu cố, được thăng đột ngột lên trung tướng không qua cấp thiếu tướng, rồi trở thành đại tướng, ủy viên bộ chính trị năm 1982. Từ đó ông trở thành tay mặt của Lê Đức Thọ. Từ đại hội 7, ông trở thành nhân vật quyền lực nhất Việt Nam, thay thế Lê Đức Thọ.
Lê Đức Anh đã đóng vai trò quyết định trong việc cản trở tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. có thể nói nếu không có Lê Đức Anh thì đợt đổi mới bắt đầu từ cuối năm 1986 với tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tiếp tục và lịch sử Việt Nam đã thay đổi. Như vậy Lê Đức Anh đúng là một nhân vật lịch sử, dù là một nhân vật lịch sử rất tác hại cho đất nước. Hiện nay Lê Đức Anh dù không còn nắm một chức vụ chính thức nào, vẫn là người đứng đầu phe chống dân chủ, đang khống chế đảng cộng sản. Địa vị của Lê Đức Anh tương tự như Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc trong những năm cuối đời. Nhưng Lê Đức Anh không có cái tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình.
Từ năm năm qua, Lê Đức Anh là đối tượng của những đả kích phẫn nộ từ những người dân chủ và những đảng viên lão thành cao cấp của đảng cộng sản. Lê Đức Anh sẽ còn kiểm soát được tình hình đến bao giờ ? Điều chắc chắn là ông đã mất hầu hết uy tín và không còn là một chỗ dựa cho phe bảo thủ chống dân chủ nữa. Trần Đức Lương, người được ông chỉ định kế vị sẽ không thể khống chế đảng cộng sản được nữa sau khi ông qua đời. Phe bảo thủ sẽ không thể duy trì được và tình hình Việt Nam chắc chắn sẽ có thay đổi lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005
Kính gởi :
- Bộ chính trị
- Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
- Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9
Đồng kính gởi :
- Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
- Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương
Chúng tôi gồm :
1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp ; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam - trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng ; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp ; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp ; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây :
Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp ; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7 ; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3 ; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.
Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.
Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.
Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.
Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau :
1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé", do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande ?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.
Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời : "Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".
Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Nghe người ta nói cậu là surveillant ?". Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp : "Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì) ?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời : "Tôi làm công chức cho đồn điền".
Đến Đại hội đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam Bộ cùng dự đại hội, sinh hoạt trong đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Sao cậu khai là công nhân ?". Lê Đức Anh ấp úng trả lời : "Họ ghi sai, tôi là công chức !".
2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi ban cán sự đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của mặt trận Việt Minh.
Do man khai đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước !
Đầu năm 2002, để tiếp tục "hợp thức hóa" đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề "Đồng chí Lê Đức Anh" vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được "nhân chứng lịch sử" nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận "Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (bằng Thành Chung) và vào đảng năm 1938 !".
3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.
Trong cuộc đảo chánh Nhật-Pháp ngày 9-3-1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam Kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y !
Tháng 9-1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn!
4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.
Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc thiết bị, vật tư, lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam Bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó, Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong ba ngày đêm liền. Nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng chi đội I Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).
5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.
- Về chính trị : ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.
- Về quân sự : đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn". Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Pôn Pốt !
Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.
Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính !
Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích" của "tàn quân Pôn Pốt". Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719 ! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường !".
Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước !
6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội : Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch ! Đ/c Đồng Văn Cống nói : "Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết ; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch ? Tôi không tán thành".
Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng !
Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức !
Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng !
Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.
Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm !
Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.
Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận : khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu : "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng !".
Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào !".
Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là "không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây".
Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố ; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!
Chúng tôi cho rằng : không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.
Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không ! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được ! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu !
Không thể vin vào lý do : "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói : "Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng !". Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.
Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo : "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.
Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.
Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.
Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta !
Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời !
Xin cám ơn.
Phạm Văn Xô
Địa chỉ : 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.991300
Đồng Văn Cống
Địa chỉ : 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.447328
Nguyễn Văn Thi
Địa chỉ : 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.655878
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!
-Nhưng mấy ai thoát được sự cám dỗ của danh lợi - quyền lực?
-Và khi đã mù quáng về nhận thức mà lại còn khuếch trương quyền lực thì thật là đáng sợ!
--------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Lê Đức Anh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lê Đức Anh | |
|---|---|
Chức vụ
|
|
| Nhiệm kỳ | 23 tháng 9, 1992 – 23 tháng 9, 1997 5 năm, 0 ngày |
| Tiền nhiệm | Võ Chí Công |
| Kế nhiệm | Trần Đức Lương |
| Khu vực | Việt Nam |
| Nhiệm kỳ | 16 tháng 2, 1987 – 10 tháng 8, 1991 |
| Tiền nhiệm | Văn Tiến Dũng |
| Kế nhiệm | Đoàn Khuê |
| Khu vực | Bộ Quốc phòng Việt Nam |
| Nhiệm kỳ | tháng 12, 1986 – tháng 2, 1987 |
| Tiền nhiệm | Lê Trọng Tấn |
| Kế nhiệm | Đoàn Khuê |
| Khu vực | Quân đội Nhân dân Việt Nam |
| Nhiệm kỳ | 31 tháng 3, 1982 – 29 tháng 12, 1997 |
| Khu vực | Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam |
Thông tin chung
|
|
| Đảng phái | Đảng Cộng sản Việt Nam |
| Danh hiệu | ... |
| Sinh | 1 tháng 12, 1920 Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế |
| Dân tộc | Việt |
Binh nghiệp
|
|
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1945-1992 |
| Cấp bậc | |
| Chỉ huy | |
| Tham chiến | Chiến dịch Mậu Thân 1968 Chiến dịch Hồ Chí Minh Chiến tranh biên giới Tây Nam |
Quá trình công tác
Lê Đức Anh quê tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 1944, ông tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958). Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Năm 1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.
Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
Từ tháng 5 năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Đến tháng 6 năm 1978, là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây-Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1984, ông được phong hàm Đại tướng.
Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987 đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Năm 1991 là Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước.
Ông cũng là Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.
Từ tháng 9 năm 1997, ông nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, sau đó trở thành Cố vấn Trung ương Đảng. Đến năm đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.
Lịch sử thụ phong quân hàm
| Năm thụ phong | 1958 | 1974 | 1974 | 1980 | 1984 | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Quân hàm | |||||||||||
| Cấp bậc | Đại tá | Thiếu tướng (phong vượt cấp) |
Trung tướng | Thượng tướng | Đại tướng | ||||||
Phong tặng
Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,... Năm 2008, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Năm 2013, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.Gia đình
- Vợ là bà Võ Thị Lê.
- Con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ nhiệm văn phòng chính phủ.
Câu nói
| “ | Sử dụng cả hàng chục công an, bộ đội đến cưỡng chế với một gia đình làm ăn tử tế thì tôi thấy rất băn khoăn. Đây là một chuyện rất hiếm, tôi chưa nghe thấy chuyện này bao giờ. Nếu nơi nào mà làm việc đó thì tôi phản đối, sử dụng bộ đội để cưỡng chế với dân là tuyệt đối sai. | ” |
—Lê Đức Anh trả lời phỏng vấn báo Giáo dục Việt Nam về vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng
|
||
Đại tướng Lê Đức Anh: "Phải giữ được bản chất của Đảng"
Thứ ba, 03/02/2015 | 07:39 GMT+7
Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh nhấn mạnh: “Cái gốc của chỉnh đốn Đảng là phải giữ được bản chất của giai cấp”.
Kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng tôi đăng tải nội dung trả lời phỏng vấn của nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh về vấn đề chỉnh đốn Đảng.Bài phỏng vấn được thực hiện vào dịp đầu xuân năm 2012, nhưng những ý kiến của Đại tướng Lê Đức Anh vẫn gợi nên những suy nghĩ về tình hình hiện nay.
- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng "chỉnh đốn Đảng" là một việc có tính chất "sống còn". Nguyên Chủ tịch nước suy nghĩ thế nào về việc này?
- Đất nước ta phát triển là nhờ có Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập. Các lớp kế tục vẫn giữ được bản chất của Đảng vô sản. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng vô sản mang bản chất giai cấp công nhân mà chúng ta mới giành và bảo vệ được độc lập, chủ quyền.
Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh. Ảnh: Bá Mạnh.
Gần đây, nhiều Đảng viên nói về giai cấp, về cộng sản, về xã hội chủ nghĩa mà không biết thực ra nó là gì. Việc chỉnh đốn Đảng là yêu cầu cấp thiết và cần làm thật mạnh mẽ.- Theo nguyên Chủ tịch nước, vì sao việc xây dựng chỉnh đốn Đảng hiện nay lại trở nên cấp bách và sống còn như vậy?
- Trước đây, Nikita Khrutsov đã làm nhạt bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Chính điều này đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô hơn 30 năm sau đó. Tôi lấy ví dụ thực tế đó để nói rằng, nếu Đảng Cộng sản mà mất bản chất giai cấp thì sẽ dần dần sụp đổ. Vì thế, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cấp bách và mang tính chất sống còn.
- Để lần chỉnh đốn Đảng này thực sự hiệu quả, chúng ta phải làm gì, thưa nguyên Chủ tịch nước?
- Một giai cấp có thể có nhiều đảng chứ không thể có đảng mang bản chất của nhiều giai cấp. Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập là đảng đại diện cho cả quốc gia, dân tộc nhưng nó là Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân.
Muốn xây dựng được xã hội chủ nghĩa thì phải giữ bằng được bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Cái gốc của mọi vấn đề liên quan đến Đảng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là giữ được bản chất giai cấp.
Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất trong chỉnh đốn Đảng là phải củng cố lại Đảng của Hồ Chí Minh, khôi phục lại bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản. Phải khôi phục cả về tổ chức và bản chất giai cấp.
- Vậy thưa nguyên Chủ tịch nước, phải làm gì để người dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng?
- Giải quyết được các vấn đề của Đảng sẽ giải quyết được nhiều vấn đề xã hội còn đang tồn tại. Lúc đó, nhân dân sẽ luôn tin tưởng vào Đảng.
- Xin cảm ơn Đại tướng đã trả lời phỏng vấn!
Bá Mạnh (thực hiện)
Nguồn : Người đưa tin
https://www.youtube.com/watch?v=84lNFfQrCVU
Đại tướng Lê Đức Anh nói về chủ quyền biển đảo
Đại tướng Lê Đức Anh, người từng giữ nhiều
trọng trách trong Đảng, Nhà nước và quân đội, đã đưa ra nhiều ý kiến,
quan điểm sâu sắc về việc bảo vệ chủ quyền đất nước.
-
Gần đây, vấn đề chủ quyền quốc gia, đặc biệt là các vấn đề liên quan
đến Biển Đông được đề cập đến rất nhiều. Theo Đại tướng, điều gì là quan
trọng nhất để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình trong thời kỳ hiện nay?
-
Vấn đề biển đảo, chủ quyền quốc gia là chuyện của lịch sử, phải hiểu
được điều này thì mới có thể xử lý được vấn đề này. Việt Nam chúng ta
thì ba chìm bảy nổi trong suốt chiều dài lịch sử. Việt Nam đã từng bị
coi là một quận của Trung Quốc. Trong suốt thời gian đó, dân ta chịu sự
cai trị hết sức tàn độc của người phương Bắc. Nhưng trong hoàn cảnh như
vậy, dân ta vẫn chịu đựng được mọi cực khổ, cơ bản giữ được nước, giữ
được những nét văn hóa truyền thống, không để bị đồng hóa. Như vậy,
chúng ta phải học ông cha ta: phải hiểu rõ lịch sử để giữ nước.
-
Đại tướng đã từng đảm nhận vị trí bộ trưởng Quốc phòng trong giai đoạn
việc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc và giữ hòa khí với một số nước khác không
hề dễ dàng. Xin ông chia sẻ những kinh nghiệm quý báu đó.
-
Bảo vệ chủ quyền Tổ quốc phải đặc biệt chú ý đến vấn đề con người. Hiện
nay, có rất nhiều người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam,
nhiều người không có phép. Những người này đã biến một số nơi của
Việt Nam thành các khu vực gần như riêng biệt. Đây rõ ràng là một nguy
cơ lớn về nhiều mặt, đặc biệt là về an ninh, quốc phòng. Tôi thấy chúng
ta xử lý chưa tốt vấn đề người nước ngoài, đặc biệt là người
Trung Quốc đang lao động và sinh sống trên đất nước ta.
| Đại tướng Lê Đức Anh: "Dù Trung Quốc có làm gì để chi phối Việt Nam thì chúng ta cũng sẽ vượt qua được mọi khó khăn như đã từng làm". |
Năm 1988, Trung Quốc định chiếm toàn bộ Trường Sa.
Lúc đó, tôi đang là Bộ trưởng Quốc phòng, đã trực tiếp ra Trường Sa.
Trung Quốc luôn muốn chiếm luôn cả Biển Đông. Chúng ta phải hiểu rõ để
phá âm mưu này...
- Ý kiến của Đại tướng về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông như thế nào?
-
Về vấn đề trên Biển Đông, tôi có thế nói rằng, cả thế giới biết Hoàng
Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa
của Việt Nam. Ngay chính quyền Thiệu và chính quyền Cách mạng miền Nam
Việt Nam trước cũng đã lên tiếng bảo vệ và khẳng định chủ quyền của
Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc đã sai
trong các tranh chấp trên Biển Đông, không chỉ sai so với pháp luật Việt
Nam mà sai cả luật pháp quốc tế.
Nói về vấn đề Biển
Đông, tôi không nói về những điều xa xôi nữa. Tôi muốn lấy một ví dụ nhỏ
như sau để nói về thực hiện chủ quyền. Tại sao hàng hóa Việt Nam cũng
tốt mà hàng hóa của Trung Quốc vẫn tràn ngập nước ta. Người Việt Nam có
ưu tiên dùng hàng Việt được không? Muốn làm được điều nay, từng cơ sở
sản xuất kinh doanh, từng người dân phải làm tốt để cạnh tranh được với
hàng ngoại, trong đó có hàng Trung Quốc. Qua câu chuyện trên, tôi muốn
nói là để bảo vệ chủ quyền biển đảo thì không chỉ bảo vệ từ ngoài khơi,
mà còn phải bảo vệ từ trong nội địa.
- Nếu chúng
ta tôn trọng luật lệ, quy định và giữ hòa khí mà các nước khác không
làm như vậy thì chúng ta phải làm thế nào, thưa Đại tướng?
-
Tôi khẳng định lại một lần nữa, giữ độc lập, chủ quyền đất nước là mục
tiêu, là nhiệm vụ tối thượng, số một, quan trọng nhất. Chúng ta luôn
muốn hòa bình, hợp tác, hữu nghị nhưng quyết không đổi chủ quyền để lấy
những điều đó. Hòa bình, hợp tác ngang bằng với chủ quyền là cách nói,
là mưu đồ của Trung Quốc. Chúng ta nhất quyết không đổi chủ quyền, không
đổi đất đai, biển đảo Tổ quốc để lấy hòa bình.
Theo Đất Việt
LÊ ĐỨC ANH: ÔNG LÀ AI?
Giá trị của tài liệu này là ở chỗ nó do những người trong cuộc, biết rõ về ông Lê Đức Anh và một phần nào đó quyết định giai đoạn đầu của sự nghiệp của nhân vật này. Độc giả không khỏi thắc mắc tại sao ông Lê Đức Anh chỉ được kết nạp vào đảng cộng sản tháng 4-1945 mà ngay sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945 đã là một cấp chỉ huy khá quan trọng ? Mâu thuẫn này, nếu có thể gọi là mâu thuẫn vì tình hình lúc đó rất phức tạp, càng nói lên sự trung thực của những điều họ viết ra, biết sao nói vậy, không thêm bớt.
Qua những điều họ viết ra thì Lê Đức Anh là một nhân vật rất thủ đoạn và nhẫn tâm, tuy không phải là người lãnh đạo tài ba. Nhân vật Lê Đức Anh có rất nhiều bí ẩn. Lên chức rất nhanh trong giai đoạn đầu, năm 1956 đã là thượng tá tham mưu phó quân khu Hữu Ngạn (do thiếu tướng Trần Độ làm chính ủy), được gửi vào miền Nam từ 1960 với quân hàm đại tá, ông đã bị thất sủng, không được thăng chức trong suốt 15 năm chiến đấu tại miền Nam với chức vụ tư lệnh quân khu 9. Sau ngày 30-4-1975, ông bỗng nhiên được Lê Đức Thọ, con người nắm hầu hết quyền lực trong đảng cộng sản, đặc biệt chiếu cố, được thăng đột ngột lên trung tướng không qua cấp thiếu tướng, rồi trở thành đại tướng, ủy viên bộ chính trị năm 1982. Từ đó ông trở thành tay mặt của Lê Đức Thọ. Từ đại hội 7, ông trở thành nhân vật quyền lực nhất Việt Nam, thay thế Lê Đức Thọ.
Lê Đức Anh đã đóng vai trò quyết định trong việc cản trở tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. có thể nói nếu không có Lê Đức Anh thì đợt đổi mới bắt đầu từ cuối năm 1986 với tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tiếp tục và lịch sử Việt Nam đã thay đổi. Như vậy Lê Đức Anh đúng là một nhân vật lịch sử, dù là một nhân vật lịch sử rất tác hại cho đất nước. Hiện nay Lê Đức Anh dù không còn nắm một chức vụ chính thức nào, vẫn là người đứng đầu phe chống dân chủ, đang khống chế đảng cộng sản. Địa vị của Lê Đức Anh tương tự như Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc trong những năm cuối đời. Nhưng Lê Đức Anh không có cái tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình.
Từ năm năm qua, Lê Đức Anh là đối tượng của những đả kích phẫn nộ từ những người dân chủ và những đảng viên lão thành cao cấp của đảng cộng sản. Lê Đức Anh sẽ còn kiểm soát được tình hình đến bao giờ ? Điều chắc chắn là ông đã mất hầu hết uy tín và không còn là một chỗ dựa cho phe bảo thủ chống dân chủ nữa. Trần Đức Lương, người được ông chỉ định kế vị sẽ không thể khống chế đảng cộng sản được nữa sau khi ông qua đời. Phe bảo thủ sẽ không thể duy trì được và tình hình Việt Nam chắc chắn sẽ có thay đổi lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005
Kính gởi :
- Bộ chính trị
- Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
- Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9
Đồng kính gởi :
- Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
- Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương
Chúng tôi gồm :
1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp ; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam - trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng ; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp ; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp ; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây :
Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp ; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7 ; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3 ; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.
Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.
Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.
Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.
Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau :
1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé", do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande ?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.
Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời : "Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".
Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Nghe người ta nói cậu là surveillant ?". Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp : "Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì) ?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời : "Tôi làm công chức cho đồn điền".
Đến Đại hội đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam Bộ cùng dự đại hội, sinh hoạt trong đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Sao cậu khai là công nhân ?". Lê Đức Anh ấp úng trả lời : "Họ ghi sai, tôi là công chức !".
2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi ban cán sự đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của mặt trận Việt Minh.
Do man khai đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước !
Đầu năm 2002, để tiếp tục "hợp thức hóa" đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề "Đồng chí Lê Đức Anh" vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được "nhân chứng lịch sử" nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận "Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (bằng Thành Chung) và vào đảng năm 1938 !".
3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.
Trong cuộc đảo chánh Nhật-Pháp ngày 9-3-1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam Kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y !
Tháng 9-1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn!
4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.
Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc thiết bị, vật tư, lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam Bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó, Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong ba ngày đêm liền. Nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng chi đội I Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).
5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.
- Về chính trị : ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.
- Về quân sự : đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn". Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Pôn Pốt !
Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.
Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính !
Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích" của "tàn quân Pôn Pốt". Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719 ! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường !".
Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước !
6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội : Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch ! Đ/c Đồng Văn Cống nói : "Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết ; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch ? Tôi không tán thành".
Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng !
Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức !
Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng !
Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.
Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm !
Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.
Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận : khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu : "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng !".
Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào !".
Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là "không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây".
Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố ; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!
Chúng tôi cho rằng : không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.
Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không ! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được ! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu !
Không thể vin vào lý do : "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói : "Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng !". Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.
Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo : "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.
Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.
Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.
Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta !
Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời !
Xin cám ơn.
Phạm Văn Xô
Địa chỉ : 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.991300
Đồng Văn Cống
Địa chỉ : 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.447328
Nguyễn Văn Thi
Địa chỉ : 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại : 8.655878
Nhận xét
Đăng nhận xét