GIAI THOẠI THIỀN 6

(ĐC sưu tầm trên NET) 

Phơi nấm hương cô

Trong chùa Vĩnh Bình có một thiền sư tuổi đã ngoài tám mươi, đang phơi nấm hương cô dưới trời nắng chang chang. Hòa thượng trụ trì là thiền sư Đạo Nguyên nhịn không được nói :
- Trưởng lão ! Ông tuổi già sao còn nhọc nhằn làm việc ấy, xin thầy không nên cực khổ như thế ! Tôi có thể kiếm người làm thay thầy !
Thiền sư già không chút do dự, đáp :
- Người khác không phải là tôi.
- Thầy nói không sai, nhưng không nên làm lúc trời nắng chói chang thế này !
- Trời nắng không phơi nấm, chẳng lẽ đợi trời mát hay trời mưa phơi sao ?
Thiền sư Đạo Nguyên là chủ một ngôi chùa, chỉ đạo muôn phương, nhưng gặp thiền sư già này cũng phải chịu thua.
Lời bình :
Trong sinh hoạt của thiền giả, không luận là việc gì cũng không nhờ bàn tay của người khác, cũng không đợi đến ngày mai. Người khác không phải ta, bây giờ không làm, đợi đến chừng nào mới làm ? Đó là vấn đề cho con người thời nay phải suy gẫm.

Nghe và không nghe

Thiền sư Thanh Lâm Sư Kiền ban đầu tham vấn thiền sư Động Sơn. Động Sơn hỏi :
- Ông từ đâu đến ?
Thanh Lâm đáp :
- Vũ Lăng.
Động Sơn lại hỏi :
- Phật pháp của Vũ Lăng có khác gì của ta ở đây không ?
Thanh Lâm đáp :
- Như trên vùng cát đá hoang vu nở một đóa hoa tươi đẹp.
Động Sơn nghe xong, xoay đầu dặn đệ tử :
- Làm một bữa cơm ngon đặc biệt để cúng dường người này.
Thanh Lâm nghe xong phất tay áo ra đi.
Động Sơn nói với đại chúng :
- Ông ấy sau này tất nhiên sẽ làm cho học tăng đua nhau đến tham học trong pháp hội của ông.
Có một hôm, Thanh Lâm đến từ giã Động Sơn ra đi. Động Sơn hỏi :
- Ông chuẩn bị đi đâu ?
Thanh Lâm thưa :
- Mặt trời không che giấu mà không để cho mọi người xem thấy, vì đã là mặt trời tất nhiên sáng soi trùm khắp.
Động Sơn ấn khả :
- Ông cần phải bảo trọng, khéo tự làm lấy !
Khi ấy, Động Sơn đưa Thanh Lâm ra sơn môn, lúc chia tay, Động Sơn chợt nói :
- Lần đi xa này, ông có thể nói được một câu thoại không?
Thanh Lâm không cần suy nghĩ, nói :
Bước bước đạp hồng trần,
Toàn thân không bóng dáng.
Động Sơn trầm tư giây lâu, Thanh Lâm hỏi :
- Lão sư ! Sao thầy không nói thoại ?
- Ta đã nói thoại cho ông nhiều lần như thế, sao ông còn vu khống ta không nói ?
Thanh Lâm quỳ xuống thưa :
- Khi thầy nói, đệ tử không nghe, khi thầy không nói, đệ tử nghe.
Động Sơn đỡ Thanh Lâm dậy, nói :
- Ông có thể đạt đến chỗ không nói, không dạy rồi.
Lời bình :
Các thiền sư rất cẩn thận, không bao giờ dối gạt. Rõ ràng lời của người khác nói mà ngài nói không nghe, còn người khác không nói mà ngài cho rằng nghe. Thực ra, nghe khai thị pháp ngữ vô ngôn vô thuyết, đó mới là nghe được pháp âm thiền ngữ chân chánh.

Hóa nhân thuyết pháp

Vua Đường Văn Tông rất thích ăn sò ốc, dân chúng ven biển ngày nào cũng bắt dâng nộp triều đình. Có một lần, người đầu bếp đang luộc ốc, thấy có một con ốc hả miệng ra, trong vỏ có hình dáng giống như Bồ-tát Quán Âm, đầy đủ tướng thanh tịnh, hết sức trang nghiêm.
Văn Tông bèn dùng hộp gấm báu đựng vỏ ốc để mọi người chiêm lễ. Sò ốc là loài thủy sản mà hiện ra thánh tượng như Bồ-tát Quán Âm, đó là một điều hết sức lạ lùng hiếm có. Do đó, Đường Văn Tông hỏi các quần thần :
- Các khanh có biết trong vỏ ốc hiện ra thánh tượng Bồ-tát Quán Âm đó là tượng trưng cho điềm lành gì không ?
Có một vị đại thần tâu :
- Đó là việc siêu phàm nhập thánh, không phải hạng người tầm thường biết được, thánh thượng cần phải tham cứu việc này. Ở Thái Nhất Sơn có thiền sư Duy Chánh hiểu Phật pháp sâu lắm, học rộng nhớ nhiều, có thể mời đến để thưa hỏi.
Khi thiền sư Duy Chánh vào cung, liền nói với Đường Văn Tông :
- Vật không bao giờ ứng hiện suông, đó là khai mở tín tâm của bệ hạ. Kinh Pháp Hoa nói : “Người đáng dùng thân Bồ-tát để độ liền hiện thân Bồ-tát mà thuyết pháp”. Nay Bồ-tát hiện thân, đó là thuyết pháp cho hoàng thượng !
Văn Tông nói :
- Tuy Bồ-tát đã hiện thân, nhưng chưa nghe ngài thuyết pháp ?
Thiền sư Duy Chánh liền giải thích :
- Bệ hạ có nhận thấy rằng thánh tượng Quán Âm hiện trong vỏ ốc, có khai mở tín tâm của bệ hạ không ?
Vua Văn Tông nói :
- Việc linh dị hiếm có này là tròng mắt của ta, đương nhiên phải tin nhận.
Thiền sư Duy Chánh nói :
- Bệ hạ đã phát khởi lòng tin, đó là Bồ-tát đã thuyết pháp cho ngài rồi.
Lời bình :
Thiền sư Duy Chánh thuyết pháp cho Đường Văn Tông hết sức nhiệm mầu. Trí huệ sáng suốt này là do tâm thiền mà được, nghĩa là tâm thiền nói ra những gì cũng là chân lý. Nếu chúng ta thể ngộ được thiền, thì trên thế gian này tất cả sắc, hương, cỏ cây đều là đạo cả. Nếu chúng ta hiểu được : Dương liễu xanh xanh, hoa vàng rỡ rỡ đều là pháp thân Phật, thì chúng ta sẽ hiểu tiếng sóng sông biển, giọt nước mái hiên đều là âm thanh thuyết pháp của Phật. Vậy thì nơi nào cần Quán Âm hiện thân ? Nơi nào cần Quán Âm thuyết pháp ?

Tâm lìa tướng ngôn ngữ

Ban đầu thiền sư Bảo Thông tham vấn thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu. Thạch Đầu hỏi :
- Cái gì là tâm ông ?
Bảo Thông đáp :
- Thấy ngôn ngữ là tâm.
Thạch Đầu không chấp nhận, nói :
- Có thấy có ngôn ngữ đó là vọng tâm, ở trên ngôn ngữ lại thấy không ra chơn tâm của ông.
Bảo Thông hổ thẹn, ngày đêm tham cứu cái gì là chơn tâm của mình ? Qua mười ngày sau, Bảo Thông trở lại xin chỉ dạy :
- Hôm trước con đáp không trúng, hôm nay con biết được cái gì là tâm con rồi.
Thạch Đầu hỏi :
- Cái gì là tâm ông ?
Bảo Thông đáp :
- Nhướng mày chớp mắt.
Thạch Đầu hỏi tiếp :
- Ngoài nhướng mày chớp mắt hãy đem tâm ra đây xem!
Nghĩa là không thể dùng động tác, tâm không phải ở động tác nhướng mày chớp mắt.
Bảo Thông nói :
- Nếu như thế, không có tâm để đem ra.
Thạch Đầu lớn tiếng nói :
- Muôn vật vốn có tâm, nếu nói không tâm thì đồng lời hủy báng. Thấy, nghe, cảm, biết đều là vọng tâm, nhưng nếu không dùng tâm, làm sao ngộ nhập ?
Ngay lời nói này Bảo Thông đại ngộ.
Lời bình :
Tâm, lìa tất cả tướng, lìa tướng văn tự, lìa tướng ngôn ngữ, lìa tất cả tướng của động tác (nhướng mày chớp mắt) và lìa tất cả tướng tâm duyên hư vọng. Tâm thể lìa tất cả tướng ấy, nói có cũng không đúng, nói không cũng sai luôn. Như Lục Tổ nói : “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa ?”. Người tham thiền phải hiểu như thế.
Vì sao các thiền sư đều nói vô tâm mới là tâm thiền ? Vì có tâm đều là tâm hư vọng, có lúc ở thiên đường, có lúc ở địa ngục, hàng ngày từ thiên đường xuống địa ngục, từ địa ngục lên thiên đường không biết bao nhiêu lần. Nếu thiền giả đem mình an trụ chỗ vô tâm, thì như kinh Kim Cang nói : “Không trụ bất cứ chỗ nào mà sanh tâm kia”.
Chỉ có :
                Sơn cùng thủy tận nghi không lối,
                 Liễu héo hoa tươi ở một làng.

Thâm giao phương ngoại

Thiền sư Duy Chánh ở núi Chung Nam, trì luật rất tinh nghiêm, đã độ được Thái thú Lý Cao quy y Phật pháp và cũng từng vào triều giải thích chuyện con sò Quán Âm cho Đường Văn Tông. Nhưng cuộc sống đạm bạc, không thích nhận quà cáp của người, các đại thần trong triều thường đua nhau cúng dường, sư đều từ chối cả.
Sư và Tương Thị Lang rất thâm giao. Một hôm, Tương Thị Lang thưa với sư :
- Ngày mai các học giả nổi tiếng đều tụ tập trong triều, thỉnh thiền sư đến rưới nước cam lồ, diễn nói diệu pháp, chắc là chúng tôi được vinh hạnh lắm !
Thiền sư Duy Chánh từ chối, Tương Thị Lang không chịu, bất đắc dĩ sư miễn cưỡng nhận lời. Hôm sau, Thị Lang sai người đến đón sư, nhưng sư không có ở trong chùa, họ tìm khắp nơi mà không gặp sư, chỉ thấy để lại trên bàn một bài kệ thế này :
                Hôm qua lỡ hẹn ngày nay,
                Chống gậy ra cửa lòng đầy băn khoăn
                Núi rừng là chỗ chúng tăng,
                La cà phố thị rõ ràng chớ nên.
                Tạc nhật tằng tương kim nhật kỳ,
                Xuất môn ỷ trượng hựu tư duy.
                Vi tăng chỉ hợp cư nham huyệt,
                Quốc sĩ diên trung thậm bất nghi.
Họ đem bài kệ này về trình cho Tương Thị Lang, Tương Thị Lang không những không mất tin xem thường, ngược lại còn tăng trưởng lòng tôn kính thiền sư Duy Chánh, ông cho rằng thiền sư Duy Chánh mới là thâm giao phương ngoại chân chánh.
Lời bình :
Tính cách của người xuất gia có nhiều hạng không giống nhau. Có người phát tâm hoằng pháp độ sanh, trong kinh gọi là nhân gian Tỳ-kheo. Có người thích ở tùng lâm núi sâu, trong kinh gọi là Lan-nhã Tỳ-kheo, đó là bi nguyện Đại thừa hay Tiểu thừa mà chỗ đến không giống nhau. Đức Phật Thích-ca từng sống chung với vương công đại thần, nhưng vẫn cho đệ tử Ca-diếp vào núi rừng tĩnh tọa. Cho nên trong Cao Tăng truyện có chia những hạng Tỳ-kheo khác nhau như : Nghĩa học Tỳ-kheo, hoằng truyền Tỳ-kheo, trì luật Tỳ-kheo, thần dị Tỳ-kheo v.v… Phong cách của các đại sư trong thiền môn có người làm Quốc sư đương triều, có người ẩn tích nơi rừng núi, nhưng đều dựng lập Phật pháp làm lợi ích cho chúng sanh, không hẳn là phải giống nhau cả.

Chim về quên tổ

Có một cư sĩ hỏi thiền sư Phật Quang :
- Kinh nói : “Cúng dường trăm ngàn chư Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm”. Chẳng hay trăm ngàn chư Phật có lỗi gì ? Đạo nhân vô tâm có công đức gì ?
Thiền sư Phật Quang dùng kệ đáp :
                    Một mảnh mây giăng ngang cửa động,
                    Bao chim về tổ quên mất đường.
                    Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu,
                    Kỷ đa quy điểu tận mê sào.
Ý bài thơ này nói rằng chỉ vì một mảnh mây trắng mà chim chóc về tổ đều quên mất đường, không bay về đến nhà. Vì cúng dường chư Phật là có đối tượng ngược lại quên mất chính mình. Còn cúng dường đạo nhân vô tâm là dùng trí vô phân biệt siêu việt tất cả. Trăm ngàn chư Phật tuy không lỗi lầm, nhưng do đạo nhân vô tâm mà nhận biết được mình.
Cư sĩ lại hỏi :
- Đã là Già-lam thanh tịnh, vì sao gõ mõ đánh trống ?
Thiền sư Phật Quang cũng dùng kệ đáp :
                    Cần phải đánh ra ngoài vũ trụ,
                    Không bị long môn điểm trán mình.
                    Trực tu đả xuất thanh tiêu ngoại,
                    Miễn kiến long môn điểm ngạch nhân.
Bài thơ này ý nói rằng đạo tràng tự viện thanh tịnh, sở dĩ gõ mõ đánh trống là vì có ý nghĩa sâu xa riêng. Như đánh mõ là vì cá ở dưới nước khi ngủ không nhắm mắt cho nên dùng mộc ngư để biểu thị sự tinh tấn không lười nhác. Còn đánh trống là vì tiêu nghiệp tăng phước. Tiếng mõ tiếng trống thấu suốt ngoài bầu trời, đâu còn thọ khổ luân hồi.
Cư sĩ lại hỏi :
- Tại gia cũng có thể học Phật đạo, đâu cần xuất gia mặc đồ tu ?
Thiền sư Phật Quang lại dùng kệ đáp :
                    Chim công có sắc trang nghiêm thân,
                    Đâu bằng thiên nga bay cao xa.
                    Khổng tước tuy hữu sắc nghiêm thân,
                    Bất như hồng hộc năng cao phi.
Bài thơ này ý nói rằng tại gia tu hành cố nhiên rất tốt, nhưng không bằng người xuất gia tinh chuyên nhất trí. Vẻ đẹp chim công tuy dễ xem, nhưng không bằng chim nhạn bay cao xa.
Đám mây mù trong tâm cư sĩ được thiền sư Phật Quang quét sạch.
Lời bình :
Có những vấn đề nếu không thông suốt thì tâm có nhiều mắc mứu, nhưng nếu được giải thích thì như mây tan thấy bầu trời xanh. Thiền, có khi giải thích, có khi không giải thích, nhưng đều nói những việc không liên quan. Nếu ngoài lời mà hiểu được ý thì một lời nói một hành động của các thiền sư đều là thiền.

Một bài thơ

Thiền sư Song Khê Bố Nạp và thiền sư Khế Tung là bạn thân với nhau, hai vị đều đã thấu triệt tâm thiền. Một hôm, thiền sư Khế Tung đùa nghịch dùng bài thơ truy điệu gởi cho thiền sư Bố Nạp :
                        Kế Tổ đời ta đây,
                        Sanh duyên quy tắc này.
                        Trọn đời thường tại đạo,
                        Biết bệnh biếng tìm thầy.
                        Dáng xưa bút khó tả,
                        Tình cao chẳng ai hay.
                        Mây từ bủa đâu nhỉ ?
                        Thích hợp trăng tròn đầy.
Khi thiền sư Bố Nạp đọc thơ truy điệu của thiền sư Khế Trung xong, vô cùng hoan hỷ, cầm bút viết một bài thơ đáp lại :
                        Hợp đạo bình sanh lại có ai ?
                        Tôi ở quên nhàn chỉ tâm hay.
                        Buổi đầu gặp gỡ đành chia cách,
                        E lầm đồng đạo thơ một bài.
Thiền sư Bố Nạp viết xong, ném bút ngồi tịch.
Lời bình :
Thiền sư Bố Nạp vốn không có ý đồ nhập diệt, nhưng vì tin cậy đến người bạn đạo biên thơ cho mình, nên liền nhập diệt.
Người xưa có một phen chết để báo đáp người tri kỷ, nhưng đó cũng chỉ là báo ân. Thiền sư Bố Nạp chỉ vì bạn đạo đùa vui bút mực mà dùng cái chết để bảo vệ ý kiến của bạn. Ý bài thơ của thiền sư Khế Tung là lập tức lãnh ngộ thiền pháp của thiền sư Bố Nạp, cũng có thể nói rằng một câu đùa vui, hay là một bài thơ, hoặc là thật có chỗ thấy. Thiền sư Bố Nạp vì nhận biết như thế, cho nên nhập diệt mà không chút do dự. Người không hiểu cho rằng thiền sư Bố Nạp bị thiền sư Khế Tung bức bách mà chết. Thực ra, cách nhìn sống chết đối với các thiền sư đó là một sự khám phá, chỉ cần có người truyền thừa, liền buông tay mà đi, thong dong tự tại, còn có gì đẹp hơn cái này !

Chôn sống một chỗ

Có lần thiền sư Lâm Tế làm công tác với đại chúng, thấy thiền sư Hoàng Bá từ xa đi tới, ông bèn chống cuốc đứng im lặng. Hoàng Bá thấy bèn hỏi :
- Ông mệt lắm phải không ?
Lâm Tế nói :
- Con không làm công tác, cớ sao nói mệt được ?
Hoàng Bá cầm gậy thuận tay đánh Lâm Tế, Lâm Tế nắm chặt gậy đánh Hoàng Bá ngã nhào.
Lâm Tế nói :
- Đúng là đứng dậy không nổi ! Con đánh thầy ngã, con phải đỡ thầy đứng dậy.
Khi Lâm Tế đỡ ngài lên, Hoàng Bá nói :
- Không cần, ta vốn không có động, đâu cần ông đỡ dậy !
Lâm Tế rút tay lại, Hoàng Bá liền gọi :
- Duy-na ! Duy-na ! Mau đến đỡ ta dậy !
Duy-na vội đến đỡ Hoàng Bá lên và hỏi :
- Thưa thầy ! Thầy đâu thể tha thứ cho gã Lâm Tế vô lễ ấy ?
Hoàng Bá vừa đứng dậy, nghe nói như thế, liền giơ tay đánh Duy-na. Lâm Tế đang cuốc bên cạnh, nói :
- Nơi khác đều là hỏa táng, nhưng ta ở đây lại cùng chôn sống một chỗ (nghĩa là người tham thiền phải ném bỏ tất cả ý thức phân biệt động tĩnh, đến đi, vinh nhục, đứng nằm v.v…)
Sau này thiền sư Quy Sơn đem chuyện này hỏi Ngưỡng Sơn :
- Thiền sư Hoàng Bá đánh Duy-na, chẳng hay dụng ý thế nào ?
Ngưỡng Sơn đáp :
- Kẻ trộm đã chạy mất mới cho người đuổi bắt (nghĩa là người siêu việt vĩnh viễn giải thoát mà còn câu nệ, thì chỉ có nước đánh mà thôi).
Lời bình :
Việc đánh chửi trong thiền môn, chúng ta không thể đem quan niệm thế tục mà so sánh được. Bởi vì sự đánh chửi của thiền sư là tiếp tâm, là truyền pháp. Thiền sư Hoàng Bá giơ gậy đánh Lâm Tế, đó là muốn đem thiền pháp trao cho ông ta gánh vác. Thiền sư Lâm Tế xô Hoàng Bá té ngã, nghĩa là chính mình đã lập tức lãnh ngộ, đâu cần truyền thọ. Lâm Tế đưa tay đỡ Hoàng Bá dậy, Hoàng Bá chỉ nói ta đang ở trong như như bất động, đâu cần ông đỡ dậy ! Hoàng Bá đánh Duy-na, bởi vì ông ta lắm lời, không hiểu được tâm thiền.

Ý Tổ sư từ Tây sang

Thiền sư Long Nha Cư Tuần lúc ở chỗ thiền sư Lâm Tế tham học, một hôm xin thiền sư Lâm Tế chỉ dạy :
- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
Lâm Tế bảo :
- Đem hương bản đến đây cho ta !
Khi Long Nha đem hương bản đến cho Lâm Tế, Lâm Tế cầm hương bản đánh Long Nha. Long Nha nói :
- Thầy đánh con không dính dáng gì cả, nhưng thầy phải nói cho con biết thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
Lâm Tế nói :
- Vừa rồi, chẳng lẽ hương bản không có nói với ông sao ?
Sau này, khi Long Nha đến chỗ thiền sư Thúy Vi tham học, lại xin chỉ dạy :
- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
Thúy Vi nói :
- Đem bồ đoàn đến đây cho ta !
Long Nha đem bồ đoàn trao cho Thúy Vi, Thúy Vi thuận tay dùng bồ đoàn đánh lên mình Long Nha. Long Nha nói :
- Chớ có vội đánh con ! Thầy chưa nói với con thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang mà !
Thúy Vi nói :
- Vừa rồi chẳng lẽ bồ đoàn không có nói với ông sao ?
Long Nha trải qua mấy năm tham cứu, cuối cùng mới hiểu rõ ý Tổ sư từ Tây sang nơi hương bản và bồ đoàn.
Một hôm, tại thiền đường có vị học tăng hỏi Long Nha :
- Hòa thượng lúc hành cước, từng tham học với hai vị Đại đức Lâm Tế và Thúy Vi, đối với các ngài có ấn tượng thế nào ?
Long Nha nói :
- Ấn tượng rất tốt, dù không nói với ta thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang.
- Vì sao hai lão ấy không nói cho thầy ?
Long Nha rất vui vẻ đáp :
- Vì hương bản và bồ đoàn mà có tin tức.
Lời bình :
Thiền tông thường dùng pháp khí và pháp vật để tượng trưng cho thiền đạo, truyền y truyền bát, đó là đại biểu cho thiền pháp. Dùng hương bản đánh người, đó cũng là đem thiền trao cho ông ta đảm đương, cho nên hương bản chính là ý Tổ sư từ Tây sang rồi. Dùng bồ đoàn đánh, bồ đoàn là vật để lễ bái, đó là dùng tâm phàm để tiếp xúc tâm Phật, cho nên bồ đoàn cũng nói lên ý Tổ sư từ Tây sang rồi. Nhưng muốn hiểu được ý Tổ sư từ Tây sang ở hương bản và bồ đoàn cũng phải cần nhiều năm tháng tham cứu mới được !

Đến hỏi ông ấy

Môn hạ của thiền sư Kính Sơn có năm trăm vị học tăng, nhưng chơn chánh dụng tâm học đạo không được mấy người. Thiền sư Hoàng Bá bảo Lâm Tế đến chỗ thiền sư Kính Sơn. khi Lâm Tế chuẩn bị đi, thiền sư Hoàng Bá hỏi :
- Khi ông đến chỗ thiền sư Kính Sơn, phải làm sao ?
Lâm Tế đáp :
- Khi đến, con tự có phương pháp.
Khi Lâm Tế đến chỗ Kính Sơn, liền đi thẳng vào pháp đường bái kiến thiền sư Kính Sơn. Kính Sơn vừa ngẩng đầu lên, Lâm Tế liền hét lớn một tiếng. Kính Sơn định mở miệng, Lâm Tế lắc đầu bỏ đi.
Có một học tăng hỏi thiền sư Kính Sơn :
- Vừa có một vị pháp sư nói với thầy cái gì vậy ? Tại sao trước mặt thầy mà dám hét lớn thế ?
Thiền sư Kính Sơn nói :
- Ông ấy là đệ tử của thiền sư Hoàng Bá. Nếu ông muốn biết nói cái gì, sao không tự đến hỏi ông ấy ?
Học tăng thưa :
- Chúng con không biết đến hỏi ông ấy thế nào ?
Kính Sơn nói :
- Các ông hét lớn một tiếng được chăng ?
Các học tăng đều thưa :
- Hét lớn một tiếng, đó là chuyện quá đơn giản.
Thiền sư Kính Sơn liền hét lớn một tiếng, hỏi :
- Tiếng hét này, ý thế nào ?
Nhóm học tăng nhìn nhau không biết trả lời thế nào ?
Kính Sơn nói :
- Một tiếng hét ấy, trên thông đến thiên đường, dưới thấu tới địa ngục, trùm khắp tam giới, mười phương. Năm trăm học nhân các ông, đại đa số đều buông lung giống như người câm kẻ điếc, làm sao hiểu được tiếng rống của loài sư tử ?
Tất cả năm trăm học tăng của thiền sư Kính Sơn mỗi người tự chia tay nhau đi các nơi tham học.
Lời bình :
Thiền sư Kính Sơn là một trong những vị cổ đức chứng ngộ thiền rất cao, nhưng ngài thiếu phương tiện quán cơ khải phát người học. Qua tiếng hét của thiền sư Lâm Tế, quả thật có đủ công lực phấn phát kẻ điếc người mù. Ngài biết mình chỉ dạy thiền giả khế lý dễ dàng mà khế cơ thì không phải dễ, cho nên tự mình cũng hét lớn một tiếng để giải tán người học thập phương đến các nơi tìm người có duyên. Từ xưa đến nay, các bậc đại đức, tuy phong cách mỗi người có khác, nhưng không bao giờ lừa gạt người học.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32