TT&HĐ I - 4/d


                                      
Tiểu Sử QUỶ CỐC TỬ - Nhân Vật Bí Ẩn, Ông Tổ Của Tử Vi Lý Số Có Thật Trong Cổ Sử TRUNG QUỐC

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
Lepnit.


CHƯƠNG IV: ĐỒNG HÓA VÀ DỊ HÓA 

-Thế giới hiện thực có giới hạn; thế giới tưởng tượng là vô hạn.  

Jean Jacques Rousseau 

-Không gì giới hạn thành tựu hơn là suy nghĩ tủn mủn; không gì mở rộng những khả năng hơn là trí tưởng tượng được giải phóng.

                William Arthur Ward 

             -Con người tạo ra các vị thần trong trí tưởng tượng          của họ.


              Xenophanes

             -Trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và tâm
              hồn năng động, đó chính là thiên tài.

               Khuyết danh


"Trí tưởng tượng bị bóp méo dạy chúng ta rằng ánh sáng và bóng tối, dài và ngắn, đen và trắng là những điều khác nhau và phải được phân biệt rõ ràng; tuy nhiên, chúng không độc lập với nhau; chúng chỉ là những mặt khác nhau của cùng một sự vật; chúng là những ngôn từ của một mối quan hệ, chứ không phải là một hiện thực.”.
(Đức Phật)


(Tiếp theo)

* * *
Không biết trong câu chuyện vừa kể, sau cú đấm vào mặt, anh chàng có ngộ ra được không hay thiền sư gặp… đại họa? Rất tiếc là chúng ta không thể biết được điều đó (he he!)!

Riêng chúng ta, tuy không bị đấm, chỉ thấy thôi đã giật mình đại ngộ rồi! Phải có một cái gì đó và chỉ là nó thôi, luôn luôn đầy, muôn vàn sóng xô, nhưng không bao giờ vơi và cũng không bao giờ tràn!

Chúng ta gọi cái gì đó, theo thông lệ, là tồn tại. Tồn Tại (viết hoa) là Vũ Trụ lấp đầy tồn tại, là một khối thống nhất không thể tách rời được, không có bất cứ một “kẻ hở” nào cho Hư Vô, “cái không có gì” tuyệt đối, có cơ hội hiện diện.


Nếu giả sử rằng Vũ Trụ đang đầy tồn tại và vận hành tuân theo nguyên lý Tự Nhiên một cách hoàn hảo bỗng bị trục trặc (một tưởng tượng mê sảng nhất!) làm xuất hiện một lỗ Hư Vô (dù vô cùng nhỏ) thì vì Vũ Trụ không có ngoài cũng không có trong, không biết “lượng” tồn tại bị Hư Vô chiếm chỗ ấy biến đi đâu? Nếu nó không thể biến đi đâu được thì nó phải là tồn tại và vẫn ở đó, nghĩa là lỗ đó không phải là Hư Vô và Vũ Trụ vận hành không có một trục trặc nào. Nhưng lượng tồn tại vẫn ở đó lại có nghĩa là  cái có vĩnh hằng và tuyệt đối. Trong khi đó, Tồn Tại phải vừa bất biến vĩnh cửu, vừa thường biến đến tuyệt cùng của nó. Vậy thì lượng tồn tại đang nói đến đó phải chính là vật chất vận động (nói tổng quát hơn là không gian chuyển hóa), không được “vô công rỗi nghề”, phải luôn luôn biến đổi. Cuối cùng, tuân theo Định mệnh, cái định mệnh “oái oăm” mà chúng ta đã “dựng đứng” (không, phát hiện ra trong… hoang tưởng chứ?) phải luôn vừa là nó vừa không phải nó. Hay nói một cách “rùng rợn” hơn, có thể vừa sống vừa chết nhưng không được Hư Vô! Đó là một sự thể hiện cực kỳ huyền bí, huyền bí nhất trong số những huyền bí; khó lòng hình dung ra được.


Việc không thể hình dung được một cái gì đó, thì cái gì đó ấy hoặc là Hư Vô, hoặc não của chúng ta “có vấn đề”. Bộ não con người có một sức tưởng tượng phi thường; có thể tưởng tượng ra đủ mọi quái tượng được cho là phi lý nhất trên đời. Nhưng xin nhắc lại rằng dù có quái tượng cỡ nào đi chăng nữa thì cứ vẫn là tồn tại; không thể vượt thoát khỏi Tồn Tại được. Đã có biết bao nhiêu bộ phim kinh dị ra đời với đủ mọi dị dạng khủng khiếp, đủ kiểu hù dọa, nhưng quanh đi quẩn lại, gây “lạnh gáy” nhất vẫn cứ phải ác quỉ nhân dạng hay hồn ma nhân tính. Đó phải chăng là sự giới hạn của trí tưởng tượng hay cũng có thể là giới hạn của kết quả cảm giác?
Thôi thì chúng ta cứ tạm hình dung cái lượng vật chất vừa là nó vừa không phải nó ấy theo cách mà Hêraclite đã hình dung. Hầu hết chúng ta, ai cũng có một dòng sông quê hương để mà thương mà nhớ. Hình ảnh của nó với những cây đa, bến nước, con đò đã được khắc trong tâm khảm chúng ta sâu đậm đến không thể nào quên. Trong những năm tháng tha phương, mỗi lần buồn nhớ quê hương, dòng sông ấy lại hiện lên như nó là thế, như ta đã từng thấy trong quãng đời tuổi thơ. Rồi mỗi lần về thăm quê ta lại đứng nhìn ngắm nó và thấy vẫn là những gì quen thuộc mà ta hằng tưởng. Dòng sông quê hương, qua năm tháng đời người, đối với chúng ta, trong niềm tin yêu, là không đổi, bất biến. Chỉ có điều chúng ta chẳng bao giờ được tắm hai lần trên dòng sông quê hương, dù vẫn là cây đa ấy, bến nước ấy, con đò ấy nhưng nước thì cứ trôi mãi qua cầu. Ôi con sông quê hương, qua bao nhiêu năm tháng vẫn là nó, vẫn mang hình dáng ấy, vẫn ở đó vỗ về đồng ruộng làng quê nhưng lại luôn như không phải là nó vì nước chẳng bao giờ ngừng cuồn cuộn trôi xuôi làm cho hai bờ thành bên lở bên bồi liên tục! (Ngày xưa mới "sướt mướt" được như thế thôi, chứ bây giờ đừng có mà mong, nhấp nháy là đã "vật đổi sao dời" rồi! Nổi hứng là "qui hoạch", bất kể! Và chỉ cần "đùng một phát", một danh lam thắng cảnh hàng ngàn năm lập tức biến thành "khu sinh thái" với vô số khối bê tông nhám nhúa lạ hoắc!).

Hay chúng ta có thể coi lượng tồn tại nói ở trên như một lượng vật chất vận động, một giọt nước (tưởng tượng) nằm đâu đó giữa một đại dương mênh mông đầy biến động và giọt nước tưởng tượng ấy (được xác định bằng tọa độ) luôn là nó nhưng cũng luôn đổi mới (luôn tan hòa và luôn tái hợp)?


A! Nhắc đến đại dương, chúng ta bỗng nảy ra một ý mới: Vì Vũ Trụ là lấp đầy tồn tại nên ta có thể hình dung Vũ Trụ là một đại dương nước bao la? Thế còn vô vàn những sự vật - hiện tượng quan sát được thì tính sao? Thì cứ nghĩ chúng như những loài sống trong biển cả vậy thôi. Không được! Các sinh vật sống trong nước thật đấy, nhưng có phải chúng được cấu thành từ nước đâu. Trong khi Vũ Trụ được cho là chỉ toàn tồn tại thôi? Nếu thế, chúng ta tưởng tượng thêm rằng các sự vật - hiện tượng (vật chất) tương tự như các sinh vật sống trong nước và cũng được cấu thành từ nước, giống như băng đá ấy, như mọi loại hình thù băng đá do nước đông lại mà thành và khi tan ra lại là nước. Khiên cưỡng, nhưng kể ra cũng hơi giống và có lẽ hình dung như thế là dễ cảm nhận nhất. Để hoàn hảo hơn, cần phải thêm một điều kiện như thế này: một khối lượng băng nào đó tan ra thì đồng thời phải có một lượng nước tạo thành băng. Như vậy sẽ đảm bảo cho Vũ trụ không thể trở thành toàn nước hoặc toàn băng mà lúc nào cũng vừa nước vừa băng và không vơi cũng không tràn.
Chà! Cũng được đấy chứ! Nhưng sao tối tăm, buồn thảm quá! Một thành phố đêm chẳng có đèn đóm thì bộc lộ được cái gì? Với lại, một hũ nước đầy bị bịt kín thì nước trong đó làm sao tạo được sóng, và nếu chỉ có nước với băng thôi thì quá trình nước hóa băng, băng hóa nước xảy ra như thế nào? Điều cơ bản nhất là nước vận động như thế nào khi không có sóng mà sóng thì nước không tự làm ra được, và cũng không có “khoảng trống” nào cho nước thi triển?
Chịu thua!

Mà tại sao phải tưởng tượng ra một Vũ Trụ như thế khi mà cứ ngước mắt lên, là chúng ta đã thấy trực tiếp Vũ Trụ rồi?

Có lẽ cũng không cần phải ngước mắt lên! Tự nhiên tồn tại phải luôn thể hiện và thể hiện một cách chi tiết nhất, cụ thể nhất. Hình như mọi sự vật - hiện tượng đều bộc lộ ra những bản chất cơ bản nhất, cốt lõi nhất của Tự Nhiên Tồn Tại. Con người cũng đã thấy tất cả nhưng lại không đưa được tất cả những điều đã thấy ấy về một mối. Về mặt triết học, những điều chúng ta thừa nhận ngày nay về Tự Nhiên Tồn Tại đều đã được nhắc đến từ thời cổ đại. Thật lạ lùng!


Một Tự Nhiên Tồn Tại vốn dĩ thế, không lựa chọn, thì cũng rất giản dị. Một tia sáng phản xạ từ một mặt phẳng đồng nhất nào đó, chỉ theo một cách và một hướng duy nhất, hướng mà nguyên lý Tự Nhiên buộc phải như thế.
Chỉ tại chúng ta thấy Nó phức tạp vì không ngờ một sự choáng ngợp vô tiền khoáng hậu như thế lại có thể đơn giản được.

Ở đời, mấy ai mà biết sống giản dị? Nghèo đói, khắc khổ, không trưng diện, không phấn son … chưa chắc đã là giản dị. Ai biết sống giản dị, người đó hiểu lẽ Tự Nhiên và ngược lại, ai ngộ được lẽ Tự Nhiên, người đó biết sống giản dị! Chúng ta ước gì được sống giản dị để mà an nhiên, tự do, tự tại.



* * *
Tồn Tại là Vũ Trụ lấp đầy tồn tại. Nói vậy có vẻ buồn cười quá, nên chúng ta nói: Tồn Tại là Vũ Trụ lấp đầy vật chất và các khoảng trống rỗng (trống rỗng ở đây không có nghĩa là Hư Vô). Tồn Tại là duy nhất (vì không có ngoài Tồn Tại) và thống nhất (vì không thể có cái gì khác, kể cả Hư Vô). Vì vậy vật chất, hiểu là một phạm trù triết học, cũng duy nhất, thống nhất và như vậy vật chất cũng mang tính đồng nhất, giống như F. Ănghen hay I. Lênin đã nói, rất gần với khái niệm tồn tại của chúng ta.

Thể hiện gần nhất, rõ ràng nhất của Tự Nhiên Tồn Tại là vật chất vận động. vận động là sự thể hiện tính tồn tại của vật chất. Nhưng vật chất đồng nhất trong Vũ Trụ thì vận động như thế nào và động lực nào đã giúp cho vật chất vận động được? Nhờ Thượng Đế chăng? Phải thừa nhận rằng, vận động là vốn dĩ, cũng bảo toàn như Tồn Tại!

Ngày xưa, sau khi đọc xong cuốn “Luận về cơ học thiên thể”, hoàng đế Napoleon có ý trách Laplace (1749-1827), nhà toán học và vật lý học nổi tiếng người Pháp: “Cuốn sách của khanh rất hay, nhưng tiếc rằng trong đó không đề cập đến vai trò của Thượng Đế”, thì Laplace đáp lại: “Tâu bệ hạ, thần không cần đến giả thuyết này.”

Chúng ta bắt chước Laplace: Không cần giả thuyết về Thượng Đế!


Chân dung sau khi Pierre-Simon Laplace mất do Bà Feytaud vẽ, 1842
Sinh 23 tháng 3 năm 1749
Beaumont-en-Auge, Normandy, Pháp
Mất 5 tháng 3, 1827 (77 tuổi)
Paris, Pháp
Nơi cư trú Pháp Pháp
Quốc tịch Pháp
Ngành

Thiên văn học
Toán học
Tồn Tại phải tự thể hiện mình thì mới được gọi là Tồn Tại. Vì Nó là duy nhất nên sự tự thể hiện ấy không phải trước, cho bất cứ cái gì ngoài Nó cả mà là trước bản thân Nó, cho Nó. 
Có thể nói vật chất là biểu hiện rõ nhất về mặt lượng của Tồn Tại và cùng với những khoảng "trống rỗng" hợp thành tổng thể Tồn Tại. Do đó vật chất cũng phải tự thể hiện trước bản thân nó và cho nó. Sự thể hiện ấy phải là phổ biến, rộng khắp, mọi lúc mọi nơi, từ toàn thể cho đến giới hạn nhỏ tột cùng có thể có của nó. Có thể hình dung sự thể hiện như là sự khác biệt đối với đối tượng mà nó muốn thể hiện sao cho đối tượng “biết” được sự thể hiện ấy và như vậy ở tầng sâu thẳm nhất của vật chất, một “điểm vật chất” nào đấy vừa là nó vừa là không phải nó và đồng thời phải khác biệt với những “điểm vật chất” khác, bao xung quanh nó. Chính vì phải thể hiện như thế nên vật chất lại có tính không đồng nhất. Sự tồn tại của “điểm vật chất” ấy là bất biến, nhưng lại thể hiện như là thường biến đối với những “điểm vật chất” khác, bao xung quanh nó, cũng bất biến và thường biến như nó, chỉ có điều là không bao giờ giống nó (chúng ta tạm gọi đó là sự lệch pha, không đồng thời cùng trạng thái!).


Phương thức thể hiện ấy của vật chất cũng chính là bản chất của Tốn Tại và là nguyên nhân làm nên vận động của nó. Vận động là bắt buộc, là tất yếu nên nó cũng mang tính phổ biến, tính vĩnh cửu nhằm đảm bảo sự thể hiện của toàn thể vật chất nói riêng và của Tồn Tại nói chung.
Nếu Tự Nhiên Tồn Tại chỉ là thế, chỉ là vật chất và vận động vật chất cùng các khoảng rỗng rang (hay gọi là không gian) thôi (mà suy cho cùng vận động là một thuộc tính của vật chất, là một yếu tố cấu thành nên vật chất chứ không thể là một cái gì đó độc lập, ngoài vật chất) thì không còn cách nào khác, chúng ta “đành” chấp nhận rằng: vận động vật chất chính là nguyên nhân trực tiếp của việc hiện diện một Vũ Trụ các sự vật - hiện tượng quan sát được và không quan sát được, muôn màu muôn vẻ, biến hóa đến vô cùng và xoay vần đến vĩnh cửu. Ta có thể gọi các sự vật - hiện tượng ứng với sự biến hóa của nó là vật chất và vận động vật chất cũng không sai, vì thực chất cũng là thế, cũng chính là vật chất vận động.

Vật chất là đồng nhất nhưng vì phải thể hiện một cách toàn diện nên lại không đồng nhất. Để dung hòa hai mặt ấy thì vật chất phải vận động. Vận động là quá trình làm dung hòa hai mặt trái ngược của vật chất: đồng nhất (tính không phân biệt được) và dị biệt (tính phân biệt được); là quá trình vừa cố đạt đến đồng nhất vừa làm xuất hiện dị biệt.
 Đến đây, có thể nói một cách nôm na, Tự Nhiên Tồn Tại vừa là nguyên nhân vừa là kết quả, vừa là động lực vừa chịu tác động của vận động. Và như vậy vận động là quá trình vốn dĩ của vật chất; vật chất vận động một cách vốn dĩ, tuân theo nguyên lý Tự Nhiên và bảo toàn, “trời sinh ra thế!”. (Ở đây tuyệt đối không được đánh đồng giữa hai khái niệm vật chất và sự vật. Rồi đây chúng ta sẽ "thấy", không thể có bất cứ một sự vật nào trong Vũ Trụ tuyệt đối tự thân vận động được, nhưng vật chất, xét theo nghĩa nào đó, có thể tự thân).
Giordano Bruno.jpg
Chân dung hiện đại của Giordano Bruno dựa trên bản khắc gỗ của "Livre du recteur", 1578


Giordano Bruno
Nhà triết học
Giordano Bruno là một tu sĩ dòng Đa Minh, nhà triết học, nhà toán học và nhà thiên văn học người Ý. Wikipedia
Sinh: 1548, Nola, Ý
Mất: 17 tháng 2, 1600, Roma, Ý
  
Một khi vận động vật chất là tự thân vận động thì nó chẳng cần một “cú hích” nào cả, chẳng cần đến sự “chiếu cố” của Thượng Đế mà ngược lại sự xuất hiện một “cú hích” hay sự có mặt của Thượng Đế là không được phép. Đó cũng chính là niềm tin sắt đá, là “tín ngưỡng” của chúng ta. Nếu có một áp lực nào vẫn khăng khăng rằng có Thượng Đế và bắt chúng ta phải tin như vậy thì chúng ta, lũ hèn nhát, sẽ hét to lên rằng: “Vâng, Thượng Đế là hiển nhiên” rồi thầm thì: “Dù sao thì cũng chỉ là Tồn Tại!”, và còn thêm rằng: "Sẽ là Hư Vô, tức không có Tồn Tại (?), nếu không có chuyển hóa hay vận động. Nếu chuyển hóa làm nên không gian thì vận động làm nên vật chất!". Chỉ có xử sự như vậy mới dung hòa được giữa đức tin và chân lý, mới có thể sống còn mà tiếp tục cuộc hành trình. Bài học Galilê vẫn còn nóng hôi hổi:
Vào buổi sáng ngày 22-6-1633, trước hàng giáo phẩm cao cấp của pháp đình La mã; Galilê, nhà vật lý thiên tài, người đã có những đóng góp vô giá, thuộc hàng quan trọng nhất của khoa học nhân loại; đã đánh dấu sự bắt đầu thực sự của vật lý học, phải khoác trên người chiếc áo vải bao bố của kẻ phạm tội, quì gối thề trước giáo hội từ bỏ những học thuyết của mình và phải ký vào một tờ giấy thú nhận những học thuyết đó là sai lầm, là “tà thuyết” chống lại Thiên Chúa. Dù vẫn bị đọa đày, truy sát, nhưng ông đã thoát cái số phận bi đát mà Brunô đã phải chịu (Brunô, 1548-1600, nhà thông thái suốt đời truyền bá thuyết nhật tâm của Copenic, vì không công khai từ bỏ lý thuyết của mình trước tòa án giáo hội, đã bước lên giàn lửa, bị thiêu sống ngày 17-2-1600). Lưu truyền rằng sau khi bước ra khỏi tòa án, Galilê nói ngay với người xung quanh: “Dù sao thì Trái đất vẫn quay!”. Đúng vậy, giáo hội không thể bóp méo được Tự Nhiên và Galilê vẫn gan góc đi theo con đường của mình, con đường của những phát kiến to lớn về Tự Nhiên. “Mặc dù tôi yên lặng, nhưng tôi sẽ không sống những ngày tàn mà không hành động”, ông đã viết như vậy!

Brunô và Galilê đều là hai con người quả cảm tuyệt vời dù theo những cách khác nhau. Chúng ta kính phục Brunô nhưng học theo Galilê, chịu nhục để còn có cơ hội phục vụ chân lý.
Galileo.arp.300pix.jpg
Chân dung của Galileo Galilei,
do Giusto Sustermans vẽ
Galileo Galilei
Nhà thiên văn học
Galileo Galilei là một nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Wikipedia
Sinh: 15 tháng 2, 1564, Pisa, Ý
Mất: 8 tháng 1, 1642, Arcetri


* * *


Nói đến nhẫn nhục lại nhớ trường hợp của Tôn Tẫn, Bàng Quyên. Có lẽ trên đời này không ai nhẫn nhục bằng Tôn Tẫn.
Sun Bin.jpg
Chân dung Tôn Tẫn
Nhà chiến lược quân sự
Tôn Tẫn, người nước Tề, là một quân sư, một nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tương truyền, Tôn Tẫn là cháu của Tôn Tử, cùng với Bàng Quyên là học trò môn binh pháp của Quỷ Cốc Tử 
  
Quỉ Cốc Tử là một nhân vật trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, một cao sĩ ẩn dật ở thâm sơn cùng cốc nhưng việc gì cũng biết; là bậc kỳ tài, được người đời tôn vinh là “thiên cổ kỳ nhân”. Họ tên ông không rõ ràng. Con người ông được người đời sau hư cấu nên mang tính huyền bí, theo sách Đông Chu liệt quốc tên ông là Vương Hủ, người đời Tấn Bình công. Quỷ Cốc Tử còn có một tên khác nữa là Vương Thiền nên ông có có hiệu là Vương Thiền lão tổ. Quỷ Cốc Tử là một nhà tư tưởng, nhà truyền giáo, có rất nhiều học trò theo học, trong số đó có nhiều người trở nên nổi tiếng thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bốn học trò được nổi tiếng hay được nhắc đến là Tôn Tẫn người nước Tề, Bàng Quyên và Trương Nghi người nước Ngụy, Tô Tần người Lạc Dương (kinh đô nhà Chu). Ngoài ra ông còn có hai học trò nổi tiếng khác là Lã Bất Vi (theo Tây Hán diễn nghĩa) và Địch Thanh (theo Vạn Hoa lâu diễn nghĩa). 

Theo các sách sử và truyền thuyết, ông là người thông thạo pháp thuật, kiến thức sâu rộng, sau khi về ở ẩn, ông sống trong một hang núi gọi là Quỷ Cốc (hang quỷ), bởi chỗ đó núi cao, rừng rậm, âm khí nặng nề, không phải chỗ cho người ở. Tên Quỷ Cốc Tử do ông tự đặt ra cho mình. Người đời thường gọi ông là Quỷ Cốc tiên sinh. Ông đã đắc đạo thành tiên do biết thuật tu tiên và được coi là ông tổ của các thuật tướng số, bói toán, phong thuỷ...
Tuy thu nhận nhiều đệ tử và dạy dỗ rất tận tâm. Trong số đó có bốn người tài nổi danh kim cổ là: Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi. Những người này đã tung hoành ngang dọc, ảnh hưởng quyết định đến cuộc tranh hùng dữ dội giữa bảy nước thời Chiến Quốc.

Tôn Tẫn và Bàng Quyên cùng học binh pháp, quan hệ với nhau khăng khít như anh em.

Nghe tin nước Ngụy chiêu dụ người tài, Bàng Quyên động lòng bèn xin thầy xuống núi. Trước lúc từ biệt, Bàng Quyên nói với Tôn Tẫn: 
- Tôi với anh đã kết tình anh em, thề cùng chung phú quí. Chuyến đi này nếu có dịp tiến thân, tôi sẽ tiến cử anh để cùng nhau dựng cơ đồ.

Vua nước Ngụy là Huệ Vương thấy Bàng Quyên có tài thao lược bèn tôn làm quân sư. Bàng Quyên đánh đông dẹp bắc, lập được nhiều công lớn, trong đó có trận đánh bại quân Tề tiếng tăm lừng lẫy các chư hầu. Lúc này Huệ Vương đã tin yêu Bàng Quyên hết mực và chính là dịp tốt để tiến cử Tôn Tẫn. Nhưng Bàng Quyên vốn là người ích kỷ, vẫn biết tài của Tôn Tẫn hơn xa mình, sợ có ngày bị tiếm quyền cho nên đổi lòng, trước sau vẫn không tiến cử.

Quỉ Cốc Tử rất thân với Mặc Tử (một hiền triết của Trung Quốc cổ đại). Một lần Mặc Tử qua thăm Quỉ Cốc Tử, gặp được Tôn Tẫn, qua trò chuyện, biết là người kỳ tài.

Sau đó Mặc Tử có dịp sang nước Ngụy; đã tiến cử Tôn Tẫn, nói với Ngụy Vương rằng Tôn Tẫn là người duy nhất được Quỉ Cốc Tử bí truyền binh pháp Tôn Tử, không có đối thủ trong thiên hạ. Huệ Vương cả mừng, truyền lệnh thảo thư cho người đi mời.

Quỉ Cốc Tử rất giỏi thuật âm dương, bấm độn biết tiền đồ của học trò yêu là Tôn Tẫn có trắc trở nhưng không thể tiết lộ thiên cơ (thiên cơ bất khả lậu), bèn trao cho Tôn Tẫn một gói cẩm nang, dặn rằng chỉ được mở lúc nguy cấp nhất.

Tôn Tẫn vái chào thầy xuống núi, lên xe theo sứ giả sang nước Ngụy.

Trong buổi yết kiến, Huệ Vương hỏi về binh pháp, Tôn Tẫn đối đáp như cháo chảy. Huệ Vương mến phục, tôn làm phó quân sư, cùng Bàng Quyên nắm giữ binh quyền. Bàng Quyên thấy vậy, nói:
- Thần và Tôn Tẫn là đồng môn kết nghĩa. Tẫn là anh của thần, sao nỡ để anh làm phó, chi bằng quyền bái làm khách khanh, sau này có công, thần sẽ nhường vị!
Có Tôn Tẫn, Bàng Quyên tỏ vẻ vui mừng nhưng đã ngầm có ý xấu, muốn hại người để khỏi lụy về sau.

Một lần, Bàng Quyên tâu với Huệ Vương rằng Tôn Tẫn ở nước Ngụy nhưng lòng lại hướng về nước Tề, ngầm thông với nước Ngu. Huệ Vương giận lắm, bắt giam Tôn Tẫn chờ ngày định tội. Thừa dịp, Bàng Quyên tâu rằng tuy Tôn Tẫn có tội, song chưa đến tội chết, chi bằng chặt hai chân đi cho thành người tàn tật, không thể về nước Tề được nữa. Huệ Vương y lời tâu. Bàng Quyên chưa muốn giết ngay Tôn Tẫn chỉ vì còn mưu đoạt được những bài chú giải của Quỉ Cốc Tử về Tôn Tử binh pháp mà Tôn Tẫn đã được truyền thụ.

Ngay tối hôm ấy, Bàng Quyên gặp Tôn Tẫn nói:
- Đại Vương muốn xử cực hình. Tiểu đệ van nài mãi mới mừng cho huynh trưởng được toàn tính mạng, nhưng phải chịu tội chặt chân và thích chữ vào trán. Mong huynh trưởng hiểu cho lòng tiểu đệ.

Tôn Tẫn đáp:
- Tiên sinh đã nói thế, dẫu Tẫn này có bị tàn hại nhưng không phải đại hung, nay được toàn mệnh là nhờ ơn tiên sinh, Tẫn này không dám quên ơn.

Bàng Quyên sai đao phủ trói Tôn Tẫn lại, chặt bỏ hai xương bánh chè, rồi thích bốn chữ “tư thông ngoại quốc” lên trán. Tôn Tẫn rú thét, lăn ra bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, thấy Bàng Quyên vừa khóc lóc vừa lấy thuốc rịt vết thương, dùng lụa quấn bọc, sai người kiệu ra thư quán, tìm đủ lời ngon ngọt để an ủi mình, Tôn Tẫn vô cùng cảm kích.

Sau một thời gian ngắn, các vết thương tuy lành nhưng Tôn Tẫn đã là phế nhân, chịu ơn Bàng Quyên lo cơm bưng nước rót ngày ba bữa, lấy làm buồn. Bàng Quyên bèn hỏi Tôn Tẫn về binh pháp Tôn Tử. Tôn Tẫn chân thành đồng ý, kêu mang thẻ tre đến để viết ra hết cho Bàng Quyên. 

Được ít hôm, Bàng Quyên cho gọi Thành Nhi, là người hầu hạ Tôn Tẫn, hỏi rằng Tôn Tẫn ngày viết được bao nhiêu chữ. Thành Nhi đáp rằng mỗi ngày Tôn Tẫn, vì đau yếu, chỉ viết được đôi ba bản. Tính ra mười phần chưa được một.

Bàng Quyên nổi giận nói:
- Chậm như thế biết bao giờ cho xong? Ngươi phải hối thúc luôn cho ta.

Thành Nhi sợ hãi lui ra, gặp quan thị vệ, bảo:
- Quân sư nhờ Tôn Tẫn viết, sao cứ thúc dục như thế?

Quan thị vệ nói nhỏ:
- Anh không biết đâu, quân sư bề ngoài tỏ vẻ thương xót nhưng trong lòng ghen ghét, chỉ chờ Tôn Tẫn viết xong là sẽ bỏ đói cho chết. Nói vậy, tuyệt đối anh không được để lộ với ai. 

Thành Nhi nghe vậy thất kinh, sẵn lòng thương xót kẻ vô cớ bị hại, mật báo cho Tôn Tẫn biết. Tôn Tẫn cả sợ, nghĩ thầm: Bàng Quyên bất nghĩa như thế, há có nên truyền bảo binh pháp? Nhưng nếu không viết, hắn sẽ rất nổi giận, mình khó mà bảo toàn tính mạng.

Nghĩ đi nghĩ lại mãi để tìm kế thoát thân, chợt nhớ ngày trước Quỉ Cốc Tiên Sinh có trao cho một cẩm nang dặn mở ra lúc nguy cấp nhất, Tôn Tẫn bèn lấy cẩm nang giở ra xem. Đó là một giải lụa vàng, trên viết vỏn vẹn hai chữ: “Giả điên”. Tôn Tẫn thở ra nhẹ nhõm: “Thì ra vậy!”.

Đến buổi chiều, khi mâm cơm mới được bưng lên, Tôn Tẫn cầm đũa ăn, bỗng làm như mê man, chực nôn ọe hồi lâu, rồi giương mắt hét to:
- Mày sao dùng thuốc độc hại tao!

Tiếp đó, hất tung cơm canh xuống đất, lấy những thẻ tre đã viết ném vào lửa đốt sạch, mồm lảm nhảm chẳng câu nào ra câu nào.

Thành Nhi nào biết Tôn Tẫn đóng kịch, thấy vậy, vội chạy đi báo. Hôm sau Bàng Quyên tới thăm, thấy Tôn Tẫn mặt đầy mũi dãi, phục dưới đất cười sằng sặc, ngay sau đó lại ôm mặt khóc. Bàng Quyên hỏi:
- Huynh trưởng làm sao lại vừa cười vừa khóc thế?
- Ta cười Ngụy Vương muốn hại ta mà không biết ta có mười vạn thiên binh giúp sức. Ta khóc là vì nước Ngụy trừ Tôn Tẫn ra không còn ai là đại tướng.

Nói xong, trừng mắt nhìn Bàng Quyên, rồi lại gục đầu xuống vừa lạy vừa nói tiếp:
- Thưa thầy Quỉ Cốc, thầy cứu con với!

Bàng Quyên nói:
- Tôi là Bàng Quyên, chớ có lầm người.

Tôn Tẫn cứ túm chặt lấy áo Bàng Quyên, luôn miệng la lớn:
- Thầy cứu con với!

Bàng Quyên sai người giằng ra, hỏi Thành Nhi:
- Tôn Tẫn phát bệnh bao lâu rồi?

Thành Nhi nói từ chiều hôm trước. Bàng Quyên về phủ, lòng nghi hoặc, cho rằng có thể Tôn Tẫn giả ngây giả dại. Để thử thật giả ra sao, Bàng Quyên sai tả hữu lôi Tôn Tẫn bỏ vào chuồng lợn, phân rác ngập ngụa, hôi thối không chịu nổi. Tôn Tẫn râu tóc xõa rối tung, không hề biết bẩn, nằm lăn ngay ra nền. Có người mang cơm rượu đến, nói rằng trộm giấu quân sư, chỉ vì thương người bị giam cầm mà làm. Tôn Tẫn trừng mắt chửi lớn:
- Mày lại đến đầu độc ta à? - Rồi đổ hết cơm rượu xuống đất.

Người đó thuận tay nhặt mấy cục phân lợn đưa cho. Tôn Tẫn liền chụp lấy nhét ngay vào miệng, ăn ngon lành. Người đó về báo lại với Bàng Quyên. Bàng Quyên nói:
- Hắn ta điên thật rồi, không còn phải lo gì nữa.

Từ đó không đề phòng, thả lỏng cho lê la, chỉ cắt người theo dõi chiếu lệ mà thôi. “Thằng điên” Tôn Tẫn mặc sức ra vào chuồng lợn, có khi cả đêm không về, ngủ đâu đó vệ đường, xó chợ.

Lúc này, Mặc Tử vân du đến Tề, thăm đại thần Điền Kỵ. Điền Kỵ có con là Cầm Hoạt mới từ nước Ngụy về. Mặc Tử nói:
- Tôn Tẫn ở nước Ngụy có được vừa lòng không?

Cầm Hoạt đem việc Tôn Tẫn bị chặt chân thuật lại. Mặc Tử nghe xong, than:
- Ngày ấy ta đã tiến cử Tôn Tẫn, nào ngờ lại làm hại người tài!

Thế là Mặc Tử nói hết cho Điền Kỵ nghe về tài năng của Tôn Tẫn và về sự đố kỵ ganh ghét của Bàng Quyên. Điều Kỵ liền tâu lên Tề Uy Vương. Uy Vương thấy rằng người nước Tề có tài, lại bị nhục ở nước khác, chẳng những là sự hổ thẹn mà còn là điều mất mát, bèn nói:
- Quả nhân sẽ đem quân đi, đón Tôn Tẫn về nước.

Điều Kỵ tâu:
- Ném chuột phải tránh đồ. Việc này chỉ có thể dùng trí, không thể dùng vũ lực…
Uy Vương thuận theo, lệnh cho Thuần Vũ Đốn làm sứ giả, Cầm Hoạt làm tùy tùng, mượn cớ đi tiến trà, sang nước Ngụy để thực hiện ý đồ.

Hai người đã lập kế thành công, mau chóng đưa được Tôn Tẫn về nước Tề. 

Sau này, Tôn Tẫn thành tướng nước Tề. Trong cuộc chiến giữa nước Triệu và nước Ngụy, Tôn Tẫn dùng kế "vây Ngụy cứu Triệu", đánh bại Bàng Quyên. Trong cuộc chiến tranh giữa nước Hán với nước Ngụy, Tôn Tẫn lại dùng kế “tăng quân giảm bếp”, nhử cho địch vào sâu, phục binh bắn chết Bàng Quyên ở Mã Lăng

 Bàng Quyên | Wiki CHIẾN QUỐC THẤT HÙNG | Fandom
Bàng Quyên
Bàng Quyên là một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc thời Chiến Quốc. Ông được biết tới thông qua những ghi chép về câu chuyện Bàng Quyên-Tôn Tẫn trong sách Sử ký Tư Mã Thiên cùng vai trò đại tướng nước Ngụy trong hai trận chiến nổi tiếng thời Chiến

 Câu chuyện Tôn Tẫn nhẫn nhục là như thế đấy! Giết được Bàng Quyên, có lẽ Tôn Tẫn cũng hả dạ, nhưng mục đích đời ông đâu phải đi chăm chăm trả thù kẻ đã từng làm mình phải đau đớn nhục nhã. Những người có tâm hồn lớn không bao giờ làm những chuyện thù vặt, tàn nhẫn và hèn mọn. Trong binh sử thiếu gì chuyện những kẻ phàm phu tục tử đã làm những điều hết sức tàn độc, đê hèn đối với những người mà trước đó vô tình hay hữu ý, trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, đã làm hoặc cho là làm nhục chúng.

Việt Vương Câu Tiễn cúi đầu nếm phân Ngô Phù Sai, sau đó ngóc đầu lên ăn gan Ngô Vương, còn kết tội Ngô Vương, trong đó có một tội là nhẹ dạ tha chết cho Câu Tiễn.
Nghe mà nổi da gà!
  
Nhưng như thế chưa bằng Nguyễn Ánh trả thù triều Tây Sơn ở Việt Nam chúng ta, ngoài những cuộc tử hình cho voi dày ngựa xé tan thây nát thịt, còn là đào mả đào mồ, gông xiềng xương cốt bỏ vào ngục thất, giã nát xương cốt nhồi làm thuốc súng để bắn phi tang…Sau này, để lấp liếm hành động trả thù hèn hạ của Nguyễn Ánh đối với vua Quang Trung, Nguyễn Ánh (hoặc những kẻ theo ông ta sau này) cho phao tin lên rằng: Tây Sơn, cụ thể là vua Quang Trung đã cho người đào lăng mộ 8 đời chúa Nguyễn và đời thứ 9 là mộ cha Nguyễn Ánh cho vứt xuống sông vào năm 1792. (Chính sử nhà Nguyễn từ Đại Nam Thực Lục lẫn Đại Nam Liệt Truyện đều ghi lại: ''Sau Huệ đánh trận hay thua (tướng lĩnh không diệt được Nguyễn Ánh ở Gia Định), người ta đều nói các lăng liệt thánh (lăng các chúa Nguyễn) khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực'').
Dù sao thì đó vẫn là những hành động hèn hạ, tự làm nhục mình và sự ô nhục tột cùng ấy sẽ không bao giờ được biện minh trong muôn đời hậu thế của Nguyễn Ánh.

Thật là ghê sợ, mà cũng thật khinh bỉ!



* * *


Trong Vũ Trụ các sự vật - hiện tượng, ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, bản chất “nước đôi” của Tự Nhiên Tồn Tại cũng được thể hiện, cũng bộc lộ ra. Loài người đã nhận biết được cái bản chất ấy từ thời xa xưa, tuy chưa sâu sắc và có phần phiến diện.


Héraclite (530-470 TCN) là người đầu tiên coi mâu thuẫn là nguyên nhân của vận động, nguồn gốc của vận động không phải là ở bên ngoài mà ở ngay chính trong bản thân nó. Ông nói:
“Ở vào mọi thời, vạn vật đều tụ hội trong nó tất cả những mâu thuẫn”,
“Họ không thể nào hiểu nổi: cái đối lập tạo thành cái hài hòa, giống như chiếc cung và đàn sáu dây.
Thiện và ác chỉ là một
Đường lên dốc và đường xuống dốc chỉ là một con đường
Không chết tức là chết, chết cũng tức là không chết”
“Chúng ta vừa bước xuống vừa không bước xuống cùng một dòng sông. Chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn tại”.

Đáng tiếc là hơn một trăm năm sau, người khổng lồ Aristote đã không hiểu được Heraclite mà còn cực lực phản bác lại:
“Nguyên lý chắc chắn nhất của toàn bộ phải là không thể sai lầm; phải vừa được hiểu rõ nhất vừa phi-giả thuyết … Đó là cùng một thuộc tính không thể đồng thời thuộc về và không thuộc về cùng một chủ thể trong cùng một khía cạnh. Chẳng ai có thể tin một sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại”.

Aristote đã nhận định đúng nhưng chưa đủ! Sau này Ph. Anghen đánh giá quan niệm thông tuệ đó của Heraclite: 
“Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Hécraclite: mọi vật đều trôi đi, mọi vật không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến đi”

Anghen cũng nhận định đúng, nhưng cũng chưa đủ nốt! 
Thực ra, quan niệm về một Vũ Trụ hình thành nên từ những sự trái ngược, một sự vật - hiện tượng tồn tại trái ngược, đã được đề xuất ở Trung Quốc cổ đại trước thời Heraclite rất lâu rồi.


Quan niệm âm – dương là quan niệm hết sức độc đáo của người Trung Hoa. Nó xuất hiện có trễ lắm thì cũng vào đầu thời nhà Chu (khoảng 1066-771 TCN). Từ sự quan sát thấy sự biểu hiện song hành của những mặt trái ngược như đực - cái, nóng - lạnh, sống - chết, sáng - tối…, người Trung Quốc cổ đại đã từ rất sớm khái quát lại thành hai khái niệm tương phản nhau là “Dương” và “Âm”. họ cho rằng âm - dương là hai “khí”, động lực vận hành của thiên nhiên, là hai nguyên lý tạo dựng của Vũ Trụ. Điều đáng nói là âm – dương không mang ý nghĩa như hai mặt, hai đặc tính hoàn toàn trái ngược, hoàn toàn mâu thuẫn nhau một cách “khô cứng” mà là “tương khắc để tương thành”, chúng tuy khác nhau “một trời một vực” nhưng lại phải cần có nhau, hòa quyện vào nhau, chuyển hóa nhau làm nên vạn vật, Vũ Trụ. Nhưng chúng ta tin quan niệm âm - dương có nguồn gốc xuất phát ban đầu từ ý niệm lưỡng phân lưỡng hợp (hình tượng đôi đũa, hình tượng linga - joni...) của người phương nam cổ, cụ thể là từ người Việt cổ.

Phùng Hữu Lan trong “Trung Quốc triết học sử” viết:
“Ngay từ thời cổ cũng đã có nhiều cố gắng giải thích hiện tượng vũ trụ bằng thuyết âm dương, hai lực đại diện cho giống cái và đực, tối và sáng, mềm và rắn, tĩnh và động chống đối nhau. Sau này, nhất là trong quan niệm Vũ Trụ dịch, người ta giả định có sự hỗ tương hành động của hai lực Âm – Dương mà sinh ra tất cả hiện tượng Vũ Trụ. Giải thích như thế đã thấy có ở ngay từ trong sách Quốc ngữ vào khỏang 780 năm TCN”

Theo Trương Kỳ Quân:
“Các bậc thánh triết Trung Quốc thời xưa cho rằng bất kỳ sự vật gì cũng là một thể mà hai mặt: chỉ là biến hóa tương đối chứ không phân lập tuyệt đối, tương phản mà tương thành chứ không mâu thuẫn đấu tranh”.

Sau này, kế thừa thuyết âm - dương của tiền nhân, trong sách “Thái cực đồ thuyết”, Chu Đôn Di (1017 - 1073) đã đề xuất: 

“Vô cực mà là Thái cực. Thái cực động sinh dương, động đến cực điểm thì tĩnh, tĩnh sinh âm. Tĩnh đến cực điểm thì lại động. Một động một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau. Khi phân chia âm dương, lưỡng nghi thành lập. Dương biến âm hợp mà sinh ra: thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Năm khí đó sắp xếp thuận ứng với nhau thì bốn mùa vận hành. Ngũ hành hợp nhất là âm dương, âm dương hợp nhất là thái cực. Gốc của thái cực là vô cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính duy nhất. Cái chân không của vô cực, cái tinh của âm dương và ngũ hành phối hợp một cách kỳ diệu và ngưng tụ lại. Và đạo KIỀN thành giống đực, đạo KHÔN thành giống cái, hai khí giao cảm nhau sinh hóa ra muôn vật. muôn vật sinh, sinh rồi biến hóa mãi mãi”.

Kết quả hình ảnh cho Chu Đôn Di
Chu Đôn Di
Triết gia
Chu Đôn Di là một triết gia của đời Tống, sinh ở Vĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam. Tôn xưng là Chu Liêm Khê. Ông được xây dựng nền lý học lúc đời nhà Tống, và đã có công làm sống động lại đạo Nho. Wikipedia
Ngày nay, dưới ánh sáng của vật lý học, chúng ta mới thấy hết được cái tuyệt vời của thuyết âm dương. Theo chúng ta, việc giải thích Vũ Trụ trên tinh thần của thuyết này, tuy còn sơ lược bởi hạn chế của thời cổ đại, nhưng về nguyên tắc lại là đúng đắn nhất, đúng hơn quan niệm của Heraclite nhiều, thậm chí còn “hay hơn” cả lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập, cốt lõi của phép biện chứng của Hêghen nữa. Ở đây chúng ta không nói phép biện chứng của Hêghen là sai. Nó vẫn đúng nhưng đúng có giới hạn, trong một mức độ và phạm vi qui ước nhất định, chứ không thể “toàn năng”. Việc áp dụng nó vào giải thích Vũ Trụ các sự vật - hiện tượng, muốn “hanh thông”, trước hết phải “rào trước đón sau”, phải … biện chứng cái đã!.

Thuyết âm dương, theo ngôn ngữ Trung Quốc, nghe thật khúc chiết mà thật giản dị, giản dị như chính Tồn Tại. Có lẽ vì thế mà chúng ta cảm thức rằng nó có lý chăng?

Trong vật lý học, chúng ta đều biết có hai loại hạt điện tích gọi là hạt điện tích âm và hạt điện tích dương, hay gọi gọn lại là hạt âm và hạt dương. Hai hạt đó rõ ràng là mâu thuẫn tới mức đối kháng. Nhưng vì sao chúng không “kỵ” nhau mà lại “cần” đến nhau như vậy. Giữa chúng chẳng có một cuộc đấu tranh nào mà luôn luôn “thèm khát” gặp nhau. Nhưng khi gặp nhau thì thống nhất được hay không thống nhất được không thành vấn đề, chỉ cần biết rằng tính âm dương mất đi và như vậy tính mâu thuẫn đối kháng cũng không còn. Hình như hai hạt điện trái dấu luôn tìm nhau để giải quyết mâu thuẫn giữa chúng và trong bản thân chúng để làm cho thế giới đồng nhất (bất luận hai hạt ấy có cùng trong một sự vật hay không).

Còn nếu cho rằng trái dấu không phải là mâu thuẫn thì đồng dấu là mâu thuẫn, chính vì vậy mà chúng đẩy nhau, chưa kịp thống nhất đã đấu tranh với nhau, không thể tự hòa hợp được? Nhưng làm sao hai hạt không có bất cứ sự khác biệt nào (hai hạt cùng điện tích), nghĩa là mang tính đồng nhất cao độ lại mâu thuẫn với nhau được? Nếu một sự vật là thống nhất của các hạt ấy thì sự hình thành lúc ban đầu xảy ra như thế nào, thế lực nào “gom” những hạt ấy lại, Thượng Đế chăng?

Nguyên tử là một hạt, một hệ thống, hay cũng có thể được gọi là một sự vật. Nó được cấu thành từ các điện tử mang điện âm, proton mang điện dương và nơtron trung hòa. Sự đấu tranh giữa điện tử và proton xảy ra như thế nào? Lực lượng nào là đối lập với nơtron?

Khi một vật có chỗ nóng chỗ lạnh thì ta nói trong nó đang tồn tại mâu thuẫn về nhiệt. Sự nóng và lạnh của vật đó thống nhất với nhau, liên hệ với nhau, nương tựa lẫn nhau, không tách rời nhau, là tiền đề của nhau, đồng nhất với nhau, chuyển hóa nhau, bài trừ nhau … như thế nào? Hay giản đơn chúng chỉ hòa hợp với nhau để không còn nóng, lạnh nữa?


Chúng ta có cảm giác khái niệm mâu thuẫn biện chứng bao hàm cả sự không mâu thuẫn, nghĩa là vừa mâu thuẫn vừa không mâu thuẫn. Có thể thỏa thuận nó với khái niệm âm – dương được không?
Hoang mang tột độ!

Đến lượt mình, có lẽ chúng ta chưa "giác" và cũng chưa "ngộ" nốt!!!



* * *

Bản tính “nước đôi” của Tồn Tại cũng là một Tự Nhiên, cũng là vốn dĩ như thế; và chỉ có như thế mới đảm bảo được sự đầy đủ, toàn vẹn của Tự Nhiên Tồn Tại, mới không làm xuất hiện Hư Vô. 
Tồn Tại là không thể thiếu! Chính sự đầy đủ của Tự Nhiên Tồn Tại làm nảy sinh ra mọi thứ. Có cái này thì phải có cái kia, có thường biến thì phải có bất biến, có đồng nhất thì phải có dị biệt, có thống nhất thì phải có mâu thuẫn, có trái thì có phải, có cao thì có thấp, có sinh thì có tử … Chính vì thế mà thực tại khách quan phân hóa thành hai lực lượng tương phản, nghĩa là thực tại phơi bày như là được xây dựng nên từ những phần có đặc tính trái ngược; hay như dân tộc Trung Hoa nói, theo nguyên lý âm dương. 

Có thể do thói quen, do sức ỳ tâm lý mà từ “trái ngược” luôn làm chúng ta liên tưởng đến sự đối kháng, sự bài trừ, sự xung khắc, không tương hợp, không thỏa thuận được. Vì vậy để khỏi bị ngộ nhận hay lẫn lộn với từ “mâu thuẫn” chúng ta dùng từ “âm dương” (thực ra dùng thuật ngữ "tương phản" là hợp ý hợp tình nhất). 

Trong cùng một sự vật, âm - dương có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, cái này là tiền đề tồn tại của cái kia; chúng là hai mặt, hai trạng thái tưởng mâu thuẫn nhau nhưng mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ tương hợp, nhờ vận động mà chúng được sinh ra như là sự dị biệt từ sự đồng nhất để luôn hướng về nhau, luôn có xu hướng hòa hợp trở về sự đồng nhất; làm cho sự vật có vận động nội tại, tồn tại tương đối. Nhờ có vận động nội tại đặc thù, nhờ có tồn tại tương đối nên bản thân sự vật thể hiện được so với thế giới xung quanh, phân biệt được với các sự vật xung quanh nó và cùng với sự vật xung quanh nó tạo nên những mối quan hệ tương hỗ, đan xen nhau, tương tác, chuyển hóa nhau để đồng nhất hóa nhưng đồng thời cũng vì thế mà xuất hiện những dị biệt mới. Theo “cái đà ấy”, toàn thể Vũ Trụ các sự vật - hiện tượng vận động không ngừng để đồng hóa và dị hóa. Vì Tồn Tại là duy nhất, vật chất là bảo toàn nên hai quá trình trái ngược đồng hóa và dị hóa ấy là bình đẳng, là cân bằng. Vận động cân bằng là vĩnh cửu, không bao giờ đạt đến sự ổn định tĩnh tại, bất động nếu không có một cú “hích”, một Thượng Đế "chặn lại". Hay chúng ta có thể coi Vũ Trụ là một hệ cân bằng động vĩ đại, luôn luôn và mãi mãi!
Dù có thể xuất hiện một Thượng Đế hay một “cú hích” thì, hãy tin đi, sẽ lập tức xuất hiện một Thượng Đế thứ hai, một “cú hích” thứ hai, trái ngược, dung hòa. 

 Ngay các nhà triết học duy vật, luôn luôn yêu cầu phải biện chứng trong việc tìm hiểu thế giới khách quan, cũng vẫn nhìn một cách siêu hình đối với vận động nội tại của sự vật. Nội tại của một sự vật luôn có mối quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài, do đó vận động nội tại của một vật cũng chịu sự chi phối của những vận động thuộc thế giới bên ngoài. Nếu không thế, vận động nội tại của một vật sẽ trở thành vận động tự thân tuyệt đối và sau “một vài” vận động sẽ phải ngừng lại vì nội tại đã được đồng hóa hoàn toàn, không còn nguyên nhân và đông lực cho vận động nữa. Có thể nói vận động nội tại là vận động vừa tự thân vừa lệ thuộc. Một sự vật hiện diện được là do có thế giới bên ngoài và hiện diện như thế nào là do mối quan hệ giữa sự vật mà thực chất là vận động tương đối bên trong của nó và thế giới bên ngoài qui định. Vì vậy muốn tìm hiểu nguyên nhân biến đổi nội tại của một vật, không phải chỉ tìm kiếm duyên cớ bên trong mà còn phải tìm những “cú hích” ở bên ngoài sự vật nữa.
Một giọt nước đọng trên một chiếc lá cây là một sự vật. Sự vật ấy có một nội tại vận động vừa tự nó vừa phụ thuộc vào áp suất, nhiệt độ… của môi trường. Nếu đem giọt nước ấy cho vào trong hồ nước nó sẽ chấm dứt sự tồn tại, không hiện diện nữa và nội tại của nó bị hồ nước đồng nhất hóa.
Đồng hóa và dị hóa là hai tác động trái ngược nhau của vận động.
Nơi này, vật này, miền này bị đồng hóa thì lập tức phải có nơi kia, vật kia, miền kia bị dị hóa; làm cho dị biệt trở lại đồng nhất và sự đồng nhất bị phân định và thành những dị biệt. Vận động chính là hành động thống nhất của hai quá trình ấy nhằm mục đích “chiều chuộng” Tồn Tại. 

Trong thực tại quan sát được, chúng ta còn thấy một hiện tượng rất lạ lùng là: những cái trái ngược, được sinh ra dù là cần đến nhau, dù muốn gặp nhau để giải quyết “bức xúc” của mình nhưng không phải lúc nào cũng “gặp may”. Hạt điện tử là một điển hình. Hãn hữu lắm (theo nhận định ngày nay) nó mới gặp được pozitron (giống hệt điện tử nhưng có điện tích trái dấu) để cùng “thỏa mãn hoàn toàn”, còn không nó cứ lang thang đi tìm một đời, “tá túc” tạm đâu đó hoặc chạy “bở hơi tai” theo proton nhưng luôn bị “cự tuyệt” … Hành động của điện tử “vô tình” làm cho gia đình các nguyên tử trở nên bất ổn, lúc tan lúc hợp, lúc trùng phùng lúc chia ly “loạn xạ cả lên”, để cuối cùng đến lượt thế giới thường nhật mà chúng ta đang sống trở nên thiên biến vạn hóa, “chẳng biết đường nào mà mò” nữa. 

Một cây lúa lúc nảy mầm trên cánh đồng là sự xuất hiện một dị biệt trên cánh đồng ấy. Cây lúa ấy lớn lên trổ bông rồi héo úa đi: dị biệt không còn nữa. Hình như cánh đồng lúc đầu “ủng hộ” cho sự dị biệt ấy xuất hiện và phát triển nhưng đến một mức độ nào đó, nó lại không “ủng hộ” nữa, mặc cho sự dị biệt suy tàn và mất đi, nhường chỗ cho (những) sự dị biệt mới. Bản thân cây lúa là một sự nỗ lực vận động nội tại trong điều kiện hoàn cảnh của cánh đồng ấy để khẳng định sự tồn tại của mình. Sự đồng hóa và dị hóa vì thế cũng diễn ra trong nó, làm cho nó ngày hôm nay khác với nó ngày hôm qua, giai đoạn đầu “sung sức” gọi là sự phát triển, giai đoạn sau “đuối sức” gọi là sự suy tàn.
Sinh lão bệnh tử là một quá trình phải trải qua của một cơ thể sống. Hay nói rộng ra: phát sinh phát triển suy tàn và tiêu vong là những giai đoạn phải trải qua của quá trình tồn tại tương đối của bất cứ sự vật hiện tượng nào có khởi đầu trong Vũ Trụ. Dù chúng ta còn chưa biết cụ thể nguyên nhân nào dẫn đến việc chuyển hướng từ phát triển sang suy tàn nhưng chắc chắn là do có một sự trục trặc không thể tránh khỏi trong vận động nội tại của sự vật, trong mối tương quan giữa đồng hóa và dị hóa của sự vận động ấy, bị chi phối không ít của môi trường (thế giới các sự vật - hiện tượng bên ngoài sự vật, xung quanh sự vật, có quan hệ với sự vật). 

Không ai có thể phủ nhận được rằng “vòi rồng” (lốc xoáy) là một sự vật - hiện tượng. Sự xuất hiện những dị biệt (vì áp suất, nhiệt độ…) của một vùng khí quyển, trong điều kiện chín muồi nào đó làm cho nó vận động để đồng nhất hóa những dị biệt ấy, làm hình thành nên vòi rồng. Vòi rồng, đóng vai trò một sự vật - hiện tượng (một giả hợp theo ý Phật Giáo), do đó nó cũng tồn tại tương đối, có một nội tại và vận động tự thân tương đối. Đến lượt vận động nội tại của nó, cũng một cách tương đối thôi, thực hiện đồng thời đồng hóa và dị hóa (thể hiện như vừa cân bằng vừa phá vỡ cân bằng, vừa hút vừa đẩy, vừa cố đứng yên nhưng cũng lại di chuyển…). Vận động nội tại ấy sẽ giảm dần dị biệt của vùng không khí và vòi rồng sẽ chấm dứt tồn tại khi vùng không khí ấy trở nên đồng nhất (để lại một “dị biệt” ngổn ngang trên mặt đất !!!). 

Trong sự kiện vòi rồng, nhắc đến “mâu thuẫn”, “đấu tranh” nghe còn được, chứ nhắc đến “phủ định của phủ định” e chừng… ngộ ghê! 

Vũ Trụ chẳng phát triển mà cũng không suy tàn, cho nên sự phát triển và suy tàn phải được nhận thức trong cái nghĩa tương đối thôi… Béo phì có phải là một sự phát triển không nhỉ? Nếu chiếc dép không phải là một sự vật thì… thôi. Còn nếu nó được cho là một sự vật thì nó có phát triển không hay chỉ có suy tàn?...

Cuối cùng quan niệm của chúng ta về vấn đề này: Vì Tồn Tại phải thể hiện đến chân tơ kẽ tóc và cực tiểu khoảng khắc để thể hiện sự Tồn Tại của nó nên tất cả tồn tại trong Vũ Trụ phải khác nhau. Tuy nhiên khả năng phân biệt của Tồn Tại là hữu hạn trong một Vũ Trụ vô cùng lớn nên mặc nhiên đã phân tồn tại thành hai lực lượng tương phản nhau, vận động theo xu thế như đấu tranh nhằm xóa đi những dị biệt của nhau, đồng hóa nhau, hư vô hóa lẫn nhau. Nhưng dù thế nào thì kết quả cuối cùng vẫn là Tồn Tại. Vậy Tự Nhiên Tồn Tại chuyển hóa là gồm hai lực lượng tồn tại tương phản nhau, vận động như cố gắng triệt tiêu lẫn nhau, tuân theo nguyên lý Tự Nhiên, hay tuân theo các nguyên lý cơ bản được suy ra như những hệ quả của nguyên lý Tự Nhiên, đó là nguyên lý bảo toàn, nguyên lý nhân-quả và nguyên lý tác động tương hỗ. Đây có thể là những nguyên lý nền tảng của Tự Nhiên, là nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp của các nguyên lý, qui luật khác đã được khám phá ra trong khoa học.
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32