CHUYỆN ÍT BIẾT 88

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
6 cung thủ ‘bách phát bách trúng’ trong lịch sử Việt Nam

Cung thủ nào giỏi nhất thời Trần, bắn chết kẻ bán nước ngay trên lưng ngựa?






Tài bắn cung của ông đương thời nổi danh thiên hạ, được suy tôn là cung thủ số một của nhà Trần với biệt danh 'Thần tiễn đương thời'.
Nguyễn Địa Lô là một trong những
cung thủ tài năng nhất trong lịch sửphong kiến Việt Nam. Tài bắn cung của ông đương thời nổi danh thiên hạ, được suy tôn là cung thủ số một của nhà Trần với biệt danh “Thần tiễn đương thời”.
Nguyễn Địa Lô là mãnh tướng, thuộc hạ trung thành của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Trong kháng chiến chống chống quân xâm lược Nguyên - Mông, Nguyễn Địa Lô từng bắn chết kẻ phản quốc Trần Kiện khi y đang theo quân Nguyên cố chạy trốn.
Trần Kiện là con Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang, được phong tước Chương Hiến Hầu. Y là người có tài, giỏi thơ văn, thông thạo cưỡi ngựa, bắn cung, được triều đình tin tưởng, cho thay cha làm Tĩnh Hải quân Tiết Độ sứ và được Trần Quang Khải gả con gái. Tuy nhiên, Trần Kiện lại lầm đường lạc lối, hàng quân Nguyên để rồi cuối cùng bị bắn chết trên đường chạy trốn.
Giống Nguyễn Địa Lô, hổ tướng Phạm Ngũ Lão cũng là cung thủ rất giỏi thời Trần. Theo một số tài liệu, ông từng bắn gãy lá cờ đang bay từ khoảng cách rất xa.
Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô là 5 thuộc hạ giỏi, trung thành của Trần Hưng Đạo. Họ cùng Hưng Đạo Vương đánh bại quân Nguyên - Mông xâm lược.
Yết Kiêu là một trong những tướng tài giỏi nhất của Trần Hưng Đạo. Ông có tài bơi lội, ban đêm thường lặn xuống nước, khoan thủng thuyền địch, được phong làm "Trần triều đệ nhất đô soái thủy quân".
Sau chiến thắng quân Nguyên - Mông xâm lược, Yết Kiêu từng được cử đi sứ nhà Nguyên. Vị vua người Mông Cổ mến tài, có ý định gả công chúa cho ông nhưng Yết Kiêu từ chối.
Nguyễn Thanh Điệp/Zing




Chuyện về Huyền Thiên Trấn Vũ xây thành Cổ Loa

(PLVN) - Các nghi lễ rước vua, rước chúa cũng như chém ma gà… đã trở thành nét thu hút riêng biệt của lễ hội đền Sài (Đông Anh, TP. Hà Nội), phần nào khiến người từ phương xa cảm thấy vô lý và kỳ lạ khi tận mắt chứng kiến những điều này. 

Chuyện về Huyền Thiên Trấn Vũ xây thành Cổ Loa
Đền Sài nơi lưu giữ lễ hội về Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ độc đáo
Cứ vào ngày 11 tháng Giêng (Âm lịch) hàng năm, dân làng Thụy Lôi, huyện Đông Anh (Hà Nội) tổ chức lễ hội Đền Sài để tưởng nhớ Vua An Dương Vương và vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ đã xây thành Cổ Loa năm xưa. Người dân nơi đây vẫn tin vào sự hiển linh của Đức Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ.
Từ truyền thuyết về vị thần phương Bắc…
Cũng như nhiều huyền thoại khác, truyền thuyết về một vị thần phương Bắc là Huyền Thiên Trấn Vũ cũng có rất nhiều dị bản. 
Tuy nhiên, các truyền thuyết đều thống nhất rằng, Huyền Vũ xuất hiện vào khoảng đời nhà Tuỳ ở Trung Quốc, tương ứng với khi Đạo giáo phát triển hệ thống thần điện của mình. Đến khoảng năm Nguyên Phong đời Tống thì đổi thành Chân Vũ và tên này được giữ nguyên tại Trung Quốc cho đến nay.
Một trong những sự tích đầu tiên cổ đại nhất ghi chép lại nói, Huyền Vũ mới đầu là một thánh thú sinh ra ở Sơn Hải Giới vào thời đại viễn cổ niết bàn khai thiên lập địa. Sơn Hải Giới được biết đó một thế giới của Thần Ma nơi có rất nhiều dị thú, thần thú và những vị Thần Tiên lớn cũng được sinh ra ở nơi này. 
Sơ khai Huyền Vũ là một sinh vật mang giống như rùa cổ đại, rắn cuốn quanh... Về sau, thần thú hóa thành hình người rồi trở thành một vị Thần lỗi lạc trong chư Thần, trở thành Bắc Đẩu Tinh Quân ở trên Thiên Giới. Tiếp tục gia nhập Tứ Tượng (Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ). Huyền Vũ trở thành một đấng Đế vương trị vì một vùng trời Phương Bắc.
Còn trong tâm thức của nhiều người dân Việt, nhất là ở vùng miền Bắc, Huyền Thiên Trấn Vũ là một vị thần tối cao, có sức mạnh trừ tà sát quỷ, đẩy lùi quân giặc và giữ bình yên cho muôn dân. Chính vì thế, vị thần này được thờ rất nhiều nơi ở Hà Nội như: đền Quán Thánh (Ba Đình), Huyền Thiên Đại Quán (Thụy Lâm - Đông Anh), Huyền Thiên Cổ Quán (Đồng Xuân), đền Trấn Vũ (Thạch Bàn - Long Biên); đền Sài (Đông Anh) ... 
ADVERTISEMENT
Trong đó, chỉ duy nhất lễ hội đền Sài có nghi thức rước vua, chúa còn sống, cùng nghi lễ chém ma gà. Những nghi lễ này bắt nguồn từ truyền thuyết huyền thoại Bạch Kê tinh trên núi Thất Diệu quấy phá Vua Thục Phán xây thành Cổ Loa vẫn được người dân ở ngôi làng cổ Thụy Lôi lưu giữ. Bấy giờ, Thục Vương đắp thành ở đất Việt Thường rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc nên gọi Loa Thành.
Thành cứ đắp xong lại đổ, vua lấy làm lo mới trai giới để khấn trời đất và thần sông núi rồi khởi công đắp lại. Vua hỏi nguyên cớ vì sao thành xây lại đổ nhiều lần, Rùa Vàng đáp đó là tinh khí của núi sông vùng này có con quỷ Bạch Kê tinh nấp trong núi Thất Diệu. Sau khi thần Kim Quy trợ giúp vua trừ diệt Bạch Kê Tinh, thành Cổ Loa mới xây xong. Tưởng nhớ công tích đó, nhà vua cho xây đền để thờ Huyền Thiên Trấn Vũ trên đỉnh núi Sái. 
Tới nghi lễ “rước vua giả” có một không hai
Đền Sài là nơi Vua Thục An Dương Vương bái yết Đức Thánh Huyền Thiên. Đôi câu đối tại đền Sài ghi rõ: “Trên đỉnh núi, lầu gác nguy nga, qui hợp lĩnh, thuỵ ứng trời nam sinh Thái Đức. Trước ngũ quan, tướng quan triều bái, hùng bưu quỳ lậy, vang truyền đất Bắc tỏ công thần”. Hàng năm, vua xa giá về đền bái yết.
Sau đó, vua thấy đi lại từ Cổ Loa về đền Sài hao tốn công sức của dân nên cho phép dân làng Thụy Lôi thực hiện việc của thiên tử, xưng quan tước, theo lệ vua mà làm cho quốc thái dân an. Từ đó, làng Thụy Lôi có tục lệ chọn người đóng thế vua, rước vua nên gọi là “rước vua giả” trong lễ hội. 
Những nghi thức trong lễ hội đền Sài được được hình thành có sự liên hệ chặt chẽ với những truyền thuyết, tựa như linh hồn và thể xác. Lễ hội đền Sái được dân Thụy Lôi chuẩn bị rất công phu trong tháng Giêng. Bắt đầu từ mồng 5, dân làng lo sửa đường sá, cầu cống để đón vua về. Mồng 6, dân làng ra đình cắm chỗ dựng dinh cho vua chúa và các quan gọi là lễ dựng dinh.
Mồng 8, dân làng làm làm bánh chưng, bánh giày, bánh tét để làm cỗ thí được gọi là “bánh tiến vua”. Mồng 9, dân làng làm lễ sỉnh sinh tức là làng cho giết trâu, bò, lợn để làm lễ Thánh sau đó khao dân làng và binh lính. Mồng 10, dân làng làm lễ tại đình làng Nhội. 

 Nghi lễ rước vua, chúa tại lễ hội đền Sài hàng năm
Ngày 11, bắt đầu ngày hội chính. Người được chọn đóng vua tự lên Đền Thượng làm lễ tế Đức Thánh Cao Sơn Đại Vương; còn người được chọn đóng chúa lên đền Sái làm lễ thỉnh Đức Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ. Sau đó, chúa vòng sang Đền Thượng cùng vua làm lễ ướm gươm, chém ba nhát vào tảng đá lớn, tượng trưng cho việc chém đầu gà trắng -Bạch Kê Tinh thuở trước.  

Theo Ths. Nguyễn Thị Hường-Đại học Sư phạm Hà Nội, chi tiết chỉ có Chúa mới tới bái kiến Đức Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ đã gợi cho bà một số suy nghĩ: “Có lẽ, bản chất hành động này đã xác định vị trí của vua độc lập với Huyền Thiên chứ không bị lụy, không chịu khuất phục, vua cảm tạ chứ không hành lễ tế.
Đền thờ Trấn Vũ cũng ở vị trí thấp hơn đề thờ Cao Sơn Đại Vương - một vị thần núi bản địa. Phải chăng đây cũng chính là ngụ ý của dân gian, muốn thể hiện lòng tự tôn cùng vai trò độc lập của mình, bởi dẫu sao, Đức Thánh Trấn cũng vẫn là một vị thần gốc gác từ phương Bắc chứ không phải là vị thần nội sinh”.
Tiếp đó là “lễ mừng tựa, bêu đầu gà” tượng trưng cho Bạch Kê Tinh đã bị tiêu diệt để vua yên tâm xây thành ốc. Công việc chuẩn bị khá công phu. Trước đó, làng phân công cho 4 giáp trong làng chuẩn bị mỗi giáp làm một đầu gà để mang bêu trong lễ mừng tựa.
Đầu gà được làm bằng tre lấy cả phần gốc đẽo thành hình đầu gà, phần dưới sơn trắng toàn bộ, phần trên cùng sơn màu đỏ giả làm mào gà. Cây tre phải được lấy nơi sạch sẽ, gọt đẽo cẩn thận, chau chuốt. Chúa cũng tham gia vào lễ mừng tựa, chúa mặc áo thụng may bằng vải xô màu vàng, thắt lưng, mũ, giày, kiếm cũng màu vàng – màu của Thanh Giang Sứ.
Chiêng trống, kèn nổi lên, chúa diễn xướng bằng bài mừng tựa sau mỗi câu chúa xướng là các quan viên giơ cao đầu gà chạy vòng quanh sân trong tiếng hú, hò reo của người dự hội. Bài mừng tựa không theo một nguyên mẫu chung mà năm nào người được đóng làm chúa thảo ra nhưng nội dung chính là việc chúa diệt Bạch Kê Tinh ở Núi Sái để Vua Thục An Dương Vương xây xong thành Loa. 
Trên tảng đá lớn, chúa làm lễ ướm gươm, chém ba nhát vào tảng đá, tượng trưng cho việc chém đầu gà trắng-Bạch Kê Tinh thuở trước. Sau lễ ướm gươm và mừng tựa, cả đoàn vua, chúa, kiệu, phướn, cờ, quạt… lên đền Sái, bái yết Huyền Thiên Trấn Vũ và làm lễ Thỉnh sinh, cầu cho mưa thuận gió hòa, mọi người an lành, no ấm.
Sau lễ này, yến tiệc được bày ra để mọi người thụ hưởng lộc. Tiệc tan, chúa vào yết kiến vua theo đúng nghi lễ truyền thống. Chúa phải đi bộ đúng ba vòng quanh đình mới được vào yết kiến.
Lễ bái xong, vua chúa mới được rước trên kiệu. Đám rước đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống trầm hùng trang nghiêm mà vẫn nhộn nhịp tưng bừng. Khi đến cánh đồng Chầu, vua làm lễ bái vọng đức thánh Huyền Thiên trên đền Sái rồi cùng các quan trở về đình. Đình làng trang trí lộng lẫy, cờ xí rợp trời, dinh vua đóng trong sân đình, dinh chúa đặt ngoài đình. 
Vua ngồi trên ngai sơn son thếp vàng đặt trên một sập cao gần chính giữa đình. Thềm đình bên phải là dinh Quan Đề Lĩnh và dinh Quan Tán Lý. Thềm đình bên trái là dinh Quan Thự Vệ. Phía đầu hồi đình bên phải là dinh chúa, phía sau dinh chúa là dinh Quan Trấn Thủ. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều hoạt động khác như đấu vật cổ truyền, hát dân ca, thi chọi gà...
Đặc biệt sau lễ rước, “vua” trở về dinh là… nhà mình, ngự trên ngai vàng, bà con làng xóm vui mừng tới dinh “vua” chúc mừng. Theo các cụ cao niên trong làng, những người được phong “vua” phải đáp ứng nhiều yêu cầu khắt khe về đức độ, sức khỏe, tuổi tác (trên 70 tuổi) … 
Phong tục tốt đẹp này và lễ hội rước vua giả được khôi phục từ những năm 80 của thế kỷ XX, đến nay vẫn được UBND xã Thụy Lâm và UBND huyện Đông Anh chỉ đạo tổ chức, duy trì rất đều đặn, đem lại đời sống văn hóa sinh hoạt phong phú, phát huy được giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. 
Vũ Lành

Hành trình may cờ Tổ quốc trong chiến dịch Tây Nguyên lịch sử

Dân trí Nhận được tin Buôn Ma Thuột giải phóng, lá cờ Tổ quốc do chính mình tự tay may tung bay khắp nơi trong ngày chiến thắng, giành độc lập, bà Lan cùng đồng đội ôm nhau khóc vì hạnh phúc vỡ òa.

May cờ Tổ quốc trong chiến tranh khốc liệt
Đã 45 năm trôi qua kể từ ngày chiến thắng Buôn Ma Thuột, chiến dịch Tây Nguyên thành công rực rỡ, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan (SN 1942, quê gốc tỉnh Bình Định) vẫn không bao giờ quên được những ký ức đẹp trong ngày chiến thắng lịch sử ấy.



Hành trình may cờ Tổ quốc trong chiến dịch Tây Nguyên lịch sử - 1
Nhấn để phóng to ảnh
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan kể về quá trình may cờ Tổ quốc trong hoàn cảnh gian nan, vất vả của năm tháng kháng chiến
Bà tham gia cách mạng từ khi còn là cô thiếu nữ đôi mươi, do biết nhiều về may vá nên bà được cấp trên cho về Tổ may mặc, Ban kinh tài của huyện H4 (nay thuộc khu vực huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk), giao nhiệm vụ hậu cần, tăng gia sản xuất và may quần áo, mũ tai bèo, ruột ghé (túi đựng gạo đeo trước ngực)… cho các chiến sĩ bộ đội địa phương.
Lúc ấy, tổ may của bà chỉ có 3 người, trong đó chỉ có 1 máy may và bà cũng là người phụ nữ duy nhất trong tổ may này. Từ năm 1967 trở đi, ngoài việc may đồ, tổ may của bà nhận nhiệm vụ may cờ Tổ quốc.
Bà Lan kể, khi nhận nhiệm vụ may cờ Tổ quốc bà rất bỡ ngỡ vì lá cờ Tổ quốc bà chưa từng được cầm trên tay, cũng chưa hề biết được kích thước phù hợp và cách may sao cho đúng chuẩn. “Ban đầu tôi lấy giấy ra cắt, ước lượng chiều dài, chiều rộng cho chính xác. Sau đó, cắt ngôi sao 5 cánh thật đều rồi lấy cơm nguội dán vào chính giữa để mường tượng ra được lá cờ Tổ quốc thiêng liêng”, bà Lan bồi hồi nhớ lại.
Vừa nói, bà Lan vừa lấy lá cờ Tổ quốc ra chỉ cách may cờ chuẩn, đặt ngôi sao 5 cánh ở trọng tâm, các đường may mũi chỉ phải khéo léo nếu không cờ sẽ bị lệch và không sử dụng được.



Hành trình may cờ Tổ quốc trong chiến dịch Tây Nguyên lịch sử - 2
Nhấn để phóng to ảnh
Những tấm huân chương, huy chương minh chứng cho những cống hiến, đóng góp của bà cho Tổ quốc
Theo bà Lan, sau nhiều lần cắt may thử, tổ may của bà xác định lá cờ Tổ quốc theo đúng chuẩn sẽ dài 120cm và rộng hơn 80cm. Tuy nhiên, vấn đề lúc bấy giờ là nguyên liệu để may cờ, đặc biệt màu đỏ và vàng quân địch rất chú ý, nếu lục soát phát hiện sẽ rất nguy hiểm cho người vận chuyển vải.
Bà kể tiếp, vải thời điểm đó vô cùng khan hiếm, bà và người trong tổ may phải liên hệ với các cơ sở, điểm công tác để nhận vải. Điểm tập kết vải được lựa chọn là Đồn điền Rosi (nay thuộc huyện Krông Năng), khi nhận được tin báo có vải thì tổ may phân công người đến lấy. Quá trình lấy vải rất gian nan vì địch chốt chặn ở nhiều nơi, nếu nghi ngờ sẽ bị xét hỏi, kiểm tra rất kỹ nên mọi người đều phải lựa chọn thời điểm phù hợp để vận chuyển vải về khu căn cứ.
Có những lúc nhận vải xong, bà Lan và đồng đội phải đào hố cất giấu rồi dùng lá cao su phủ lên trên để che mắt quân địch. Tại các tuyến đường chính địch chốt chặn, tổ may của bà đành dùng nilon bọc kỹ vải bỏ trôi dưới dòng suối rồi người đi hoặc bơi theo, bằng mọi cách lấy được vải về.
Bà cho biết, quá trình đi lấy vải đã vất vả nhưng sau khi may cờ xong lại còn vất vả hơn khi tổ công tác phải mang cờ Tổ quốc đi chỗ khác giấu để địch khi càn quét khu căn cứ không phát hiện. Nơi giấu cờ an toàn được tổ công tác lựa chọn bằng cách đi dọc các con suối, nhấc những hòn đá ven bờ lên, bỏ cờ Tổ quốc vào túi và nhét vào rồi lấy đá đè lên lại.
Một cách khác cũng được tổ may áp dụng đó là đào hố đặt cờ và dùng cỏ tranh phủ lên trên. Quá trình đi giấu cờ, tổ may của bà Lan không dám đi tiến về phía trước mà phải đi ngược lùi về phía sau để không tạo ra lối mòn, tránh tối đa việc để lại giấu vết.
Lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa ngày đại thắng
Đầu tháng 2/1975, tổ may của bà Lan nhận lệnh phải may cờ đỏ sao vàng liên tục, lúc này mọi người chưa nghĩ là có chiến dịch lớn sẽ diễn ra trên địa bàn. Tổ may của bà hoạt động liên tục, người may người cắt vải, làm cả ngày cả đêm, khoảng 3 – 4 ngày thì tổ làm xong 100 lá cờ. Cứ làm xong đợt cờ nào là có người trong đội công tác tới mang đi ngay.



Hành trình may cờ Tổ quốc trong chiến dịch Tây Nguyên lịch sử - 3
Nhấn để phóng to ảnh
45 năm đã trôi qua nhưng ký ức về ngày đại thắng luôn ở trong tâm trí của người phụ nữ tổ may kiên cường năm xưa
“Đêm đến chúng tôi thắp đèn để may cờ nhưng lo bị địch phát hiện sẽ dội bom nên phải dùng cỏ tranh bện lại che chắn xung quanh căn cứ và dùng vải bịt kín xung quanh để may cờ. Lúc đó, giữa gió lạnh Tây Nguyên, tổ may làm việc cả đêm, lo địch phát hiện nhưng ai nấy vẫn quyết tâm hoàn thành thật tốt nhiệm vụ”, bà Lan xúc động nhớ lại.
Đến đêm ngày 10/3, nghe tin chiến thắng Buôn Ma Thuột phát sóng trên chiếc radio cũ, bà Lan và đồng đội nhảy lên vì vui sướng. “Chúng tôi ai nấy đều vỡ òa vui sướng, nước mắt cứ vậy trào ra. Nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng do chính mình may được tung bay khắp thị xã, cả đêm tôi không ngủ được vì hạnh phúc”, bà Lan nói trong tự hào.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Lan lập gia đình với Đại tá Nguyễn Du - người đã cùng đại đội được lệnh tiến quân giải phóng Quảng Phú (nay là xã Quảng Tiến và Quảng Phú, huyện Cư M’gar). Hai vợ chồng bà lưu giữ rất nhiều kỷ vật của những năm kháng chiến và đã tặng lại cho Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk.
Riêng lá cờ Tổ quốc bà Lan may trong ngày giải phóng Buôn Ma Thuột, bà xem như 1 kỷ vật quý báu của gia đình và luôn gìn giữ, nâng niu suốt 44 năm. Đến năm 2019, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ nhiều lần ngỏ lời muốn mang lá cờ này về trưng bày nên bà đã tặng lại bảo tàng để nhiều thế hệ sau cùng có cơ hội chiêm ngắm lá cờ thiêng liêng, đầy ý nghĩa lịch sử ấy.
Thúy Diễm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32