TT&HĐ I - 4/b


                                         
Khám phá sự tận cùng của vũ trụ - Thuyết minh

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
Lepnit.


CHƯƠNG IV: ĐỒNG HÓA VÀ DỊ HÓA 

-Thế giới hiện thực có giới hạn; thế giới tưởng tượng là vô hạn.  

Jean Jacques Rousseau 

-Không gì giới hạn thành tựu hơn là suy nghĩ tủn mủn; không gì mở rộng những khả năng hơn là trí tưởng tượng được giải phóng.

                William Arthur Ward 

             -Con người tạo ra các vị thần trong trí tưởng tượng          của họ.


              Xenophanes

             -Trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và tâm
              hồn năng động, đó chính là thiên tài.

               Khuyết danh


"Trí tưởng tượng bị bóp méo dạy chúng ta rằng ánh sáng và bóng tối, dài và ngắn, đen và trắng là những điều khác nhau và phải được phân biệt rõ ràng; tuy nhiên, chúng không độc lập với nhau; chúng chỉ là những mặt khác nhau của cùng một sự vật; chúng là những ngôn từ của một mối quan hệ, chứ không phải là một hiện thực.”.
(Đức Phật)


(Tiếp theo)

* * *


Chúng ta nói sự nhận thức của con người về Tự Nhiên Tồn Tại mang tính vừa tất yếu vừa không tất yếu, vừa tự do vừa bắt buộc là vì thế. Đã là con người thì không thể không tò mò, không thể không muốn biết!

Nhưng có người sẽ “cãi”: đồng ý là muốn biết, nhưng chỉ cần biết những gì liên quan đến đời sống thường nhật cũng đủ rồi, nhu cầu “biết” của một đời người như thế là thỏa mãn rồi, cần gì phải tìm hiểu những gì quá xa vời, ở tận đẩu tận đâu trong tít cùng Vũ Trụ. Và đó không phải là thiết yếu mà chỉ là sự ham thích có tính ngẫu nhiên ở một số ít người. Không phải vậy đâu! Tò mò và tìm hiểu nằm trong máu xương của con người, thuộc về bản chất của những quá trình tồn tại có tư duy (bậc thấp cũng như bậc cao). Thực ra thuở ban đầu, loài người đâu có nghĩ tới và cũng không tham vọng nhận thức Vũ Trụ, họ chỉ cố gắng nhận thức thế giới gần gũi xung quanh, nhận thức những gì liên quan đến sống còn của chính bản thân họ. Nhưng họ đâu ngờ rằng Vũ Trụ là thống nhất, muốn nhận thức rốt ráo đến chân tơ kẽ tóc bất cứ phạm vi, khoảng nhỏ hẹp nào của Vũ Trụ cũng phát sinh những đòi hỏi dẫn đến việc phải nhận thức toàn bộ Vũ Trụ, nhận thức căn nguyên của mọi căn nguyên mà mục đích xuyên suốt chẳng có gì khác, chỉ là vì sự tự do, giải thoát khỏi sự tồn tại thiếu hiểu biết của chính bản thân mình.

Mai kia mốt nọ, nếu có thể gặp gỡ giao lưu với các nền văn minh khác ngoài Trái Đất, loài người sẽ thấy rằng bản chất của quá trình nhận thức ở đâu cũng vậy: từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông cạn đến sâu sắc và đều hướng đến cái đích cuối cùng, không cưỡng lại được, đi tìm căn nguyên của Tự Nhiên Tồn Tại; dẫn đến việc do điều kiện hoàn cảnh đặc thù, các khái niệm cơ bản về Tự Nhiên Tồn Tại của các nền văn minh sẽ có những dị biệt về hình thức (ký hiệu ngôn từ chẳng hạn), nhưng sẽ tương đồng về nội dung và ý nghĩa vì đều nói về Cái Ấy, cái Duy Nhất; cái chung tuyệt đối của mọi cái riêng.

Đến đây chúng ta có thể đi đến kết luận: khái niệm vừa là sự phản ánh của thế giới khách quan lên tư duy con người, vừa là qui ước của con người về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan. Tự Nhiên Tồn Tại không cần con người phải nhận thức, định danh về Nó, nhưng con người vẫn buộc phải nhận thức và định danh về Nó vì chính sự tồn tại tự nhiên của mình. Muốn nhận thức được Tự Nhiên Tồn Tại không có con đường nào khác là trước tiên phải xây dựng một hệ thống các khái niệm tương xứng và hoàn chỉnh. Hệ thống các khái niệm được hình thành và phát triển như một sự vật - hiện tượng có nguyên nhân từ yêu cầu mưu sinh của con người cùng với sự tham gia xây dựng tích cực của chính con người. Do vậy các khái niệm vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan, vừa tuyệt đối bị ràng buộc vừa  tương đối tự thân vận động, tác động chuyển hóa nhau theo cách riêng của chúng. Con người chỉ có thể hình dung, phán đoán và nhận biết Tự Nhiên Tồn Tại thông qua hệ thống khái niệm của mình, trên cơ sở nhận thức cái trước đó, cái đã qua, cái đã là quá khứ (hoàn chỉnh hay chưa hoàn chỉnh). Những điều đó đã giải thích vì sao mà có hiện tượng từ buổi đầu tiên cho đến tận ngày nay, bộ não biết suy nghĩ của con người đã hình dung ra biết bao nhiêu quang cảnh về Vũ Trụ, từ Vũ Trụ thần thoại, thần linh, đến Vũ Trụ tín ngưỡng của Đấng Sáng Thế, rồi Vũ Trụ địa tâm, Vũ Trụ nhật tâm, rồi Vũ Trụ cơ học tất định, cho đến ngày nay là Vũ Trụ Big Bang có xuất phát từ một điểm đầu tiên kỳ dị, đang giãn nở lạm phát và chưa biết số phận cuối cùng của Nó ra sao; đồng thời cũng nói lên rằng: Sự Thực Khách Quan đích thực là chân chính, chỉ có cái sự thực khách quan mà chúng ta quan niệm là méo mó, chứa đựng những mâu thuẫn, những phi lý vì quan niệm của chúng ta phải dựa vào hệ thống những khái niệm, những qui ước chưa thỏa đáng, chưa chính xác, nặng tính chủ quan. Tự nhiên là như thế! Có bao giờ Sự Thực Khách Quan theo qui ước của chúng ta trùng với Tự Nhiên Tồn Tại không? Không bao giờ, vì một đàng là chân lý tuyệt đối, một đàng là chân lý tương đối, một đàng là Thực, một đàng là Ảo. Chúng chỉ có thể giống nhau; còn giống nhau đến mức nào là tùy thuộc vào trình độ nhận thức của chúng ta. Tự Nhiên cũng phải là như thế!

                                            * * *


Câu chuyện về anh chàng bán cá chưa hết, còn một đoạn sau thế này:
“… Sau khi cất đi cái bảng, anh chàng ngồi “vêu mõm” cả buổi mà chẳng bán được con cá nào. Vợ anh ta đi đâu đó từ sáng sớm (có thể đoán là đi tập thể dục nhịp điệu, chơi tenis, đi bơi… nói chung là đi lang thang một mình: đàn bà thời hiện đại năng động đáo để lắm!) trở về, thấy chồng đang lúi húi đốt “phông lông” (đốt giấy huơ huơ trên mặt đất quanh chỗ bán để đuổi xui xẻo, tà ma?!), nói:
- Không bán được à? - Chợt thấy cái bảng để ở góc xó, vợ chàng lớn tiếng - Ối giời ơi, ế là phải! Muốn bán mà không treo bảng thì chỉ có ma nó mua!
Anh chồng nổi tự ái, cãi:
- Ai mà không biết bày cá ra như “núi” thế này là để bán, họa có thằng điên mới nghĩ tôi bày ra để khoe.
- Ông điên thì có! Không treo bảng thì ít ra mồm ông phải rao bán, may ra còn có người biết mà mua. Ông thử đi hỏi người ta xem có đời thuở nào mở cửa hàng bán cá lại không treo bảng không?
Anh chàng đuối lý lẳng lặng nghe theo vợ, treo lại cái bảng có đề chữ “bán” lên chỗ cũ. Một lúc sau, có một người hổn hển chạy tới:
- Giá bao nhiêu? Bao nhiêu tiền?…
Anh bán cá ngạc nhiên:
- Cái gì,… giá bao nhiêu? Ở đây tôi bán cá theo ký (kg)…
- Không, không! Tôi nói cái bảng ấy, ông định bán nó bao nhiêu? May quá, tôi đang cần một cái giống thế…
- Cái nhà anh này… Ai mà bán cái bảng? Ở đây bán cá, chỉ có bán cá thôi, hiểu chưa? – Anh bán cá tức tối quát ông nọ.
Ông nọ quát lại:
- Bán cá thì phải đề là “bán cá” chứ? Viết mỗi chữ “bán” thế, bố ai mà biết!
… Cuối cùng, cái bảng được treo ổn định với hàng chữ: “BÁN CÁ”.
Câu chuyện vừa kể tiếp ấy, cho chúng ta một nụ cười ý nhị về sự đời. Chỉ việc treo cái bảng hiệu thôi mà đã có bao nhiêu là quan niệm. Sống cho hợp lẽ, thật chẳng dễ dàng chút nào. Nếu cũng quầy cá ấy, đem đặt ngay vào trong chợ thì rõ ràng chẳng cần bảng làm gì, nhưng ở chỗ khác mà không quảng cáo bằng bảng hoặc lời rao thì quả là khó bán. V I. Lênin từng nói “Lý trí tỉnh táo là thành kiến xã hội”, hay ông bà ta nói “thức thời thì tuấn kiệt”, có lẽ là vậy chăng? Nếu vậy, cần phải có một nhận thức, muốn nhận thức thì cần phải học, “học ăn, học nói, học gói, học mở”!


Có rất nhiều câu chuyện tiếu lâm khá hay về cái sự học, chẳng hạn như câu chuyện dưới đây:


CÒN GÌ BẰNG
Có một anh chàng ngốc ơi là ngốc, đi đâu vợ cũng phải dạy trước dạy sau, từ cách ăn đến cách nói. Vì vậy dân làng gọi anh là Ngốc. 
Một hôm, chàng ngốc ra tỉnh thăm bà con. Trước khi đi vợ dặn: 
-Đến nơi, nếu có ai hỏi: “Phải anh Ngốc đó không?”, thì bảo: “Vâng, chính tôi đây ạ!”; nếu hỏi: “Anh đi với ai?” thì bảo: “Có mình tôi thôi ạ!”; nếu nói: “Anh ở lại chơi vài ba hôm nhé!” thì phải đáp: “Xin đa tạ! Tôi ở nhà chỉ mong được thế, nay thỏa lòng ao ước bấy lâu, thật còn gì bằng!” 
Ngốc vừa đi vừa nhẩm cho thuộc lời vợ dặn, sợ nhỡ quên, người ta chê cười cho. 
Ra đến chợ, thấy một đám đông, anh ta len vào xem. Thì ra đó là một vụ giết người, nạn nhân còn nằm đó mà hung thủ đã tẩu thoát. 
Khi thấy nhà chức trách đến lập biên bản, mọi người sợ vạ lây, lánh ra xa, chỉ còn mình Ngốc đứng lớ ngớ ở đó. Quan hỏi: 
- Anh có biết ai giết không? 
Nhớ lời vợ dặn, Ngốc nói luôn: 
- Vâng, chính tôi đây ạ! 
- Một mình hay còn ai nữa không? 
Ngốc thản nhiên nói: 
- Có mình tôi thôi ạ. 
Quan vội quát lính: 
- Bay đâu, trói cổ thằng này lại, giải đi. 
Ngốc chẳng hiểu chuyện gì, nói luôn cho đủ lời vợ dặn: 
- Xin đa tạ! Tôi ở nhà chỉ mong được thế, nay thỏa lòng ao ước bấy lâu, thật còn gì bằng! 
(Truyện cười dân gian Việt Nam)



Hay chuyện này:
THEO SAO NỔI

Có một anh ngốc (không phải anh ngốc nói trên!) được mời đi ăn tiệc. Sợ anh ta không biết ăn uống cho phải phép, vợ dặn:
- Mình cứ học theo bác Lý mà ăn uống, đừng tự ý!
Anh ngốc vâng lời. Trong bữa tiệc, anh ta cứ nhìn theo ông Lý mà nhất nhất làm theo. Ông Lý nâng rượu, anh ta cũng nâng rượu uống; ông Lý gắp thịt, anh ta cũng gắp thịt; ông Lý bỏ đũa chùi miệng, anh ta cũng bỏ đũa chùi miệng. Ông Lý thấy thế lấy làm lạ; nghĩ bụng: “Hay là thằng này xỏ mình? Phải thử xem sao!”. Ông Lý bèn múc bún tàu vào bát, và (lùa) liên tục vào miệng. Anh ta cũng múc bún tàu rồi cũng và lấy và để.
Thấy vậy, ông Lý phì cười, sặc bún tàu, có mấy sợi lòng thòng ra lỗ mũi.
Anh ngốc trân trân nhìn ông Lý, vùng bỏ đũa đứng dậy, chắp hai tay vái:
- Bác làm tài quá, tôi học theo sao nổi?
(Truyện cười dân gian Việt Nam)



Chuyện này nữa:


NHÀ THÔNG THÁI VÀ ÔNG LÁI ĐÒ

Một hôm có một nhà thông thái uyên thâm, qua sông trên một con đò. Giữa trời mây sông nước, cho đỡ buồn, nhà thông thái gợi chuyện, hỏi ông lái đò:
- Bác có biết gì về toán học không?
- Dạ, thưa không biết tí gì đâu ạ!
- Ôi, đáng tiếc, thế là bác bị coi như mất một phần tư cuộc đời rồi!... Còn về sử học, bác có biết không?
- Dạ, cũng không ạ!
- Nếu thế thì coi như bác mất nửa cuộc đời rồi! Thế còn thiên văn học, về các vì sao trên trời ấy?
- Dạ, tôi chưa bao giờ được nghe đến ạ!
- Thật thế ư? Coi như bác đã mất đứt ba phần tư cuộc đời rồi còn gì, đáng tiếc cho bác quá!
Đúng lúc đó, bão nổi lên, mưa gió đùng đùng, con đò chòng chành dữ dội như muốn lật úp. Ông lái đò lớn tiếng hỏi nhà thông thái:
- Thưa ông, ông có biết bơi không ạ?
Nhà thông thái có phần hốt hoảng:
- Làm sao bây giờ, tôi đã học bơi bao giờ đâu mà biết?
- Dạ, thế thì ông sắp mất cả cuộc đời rồi đấy ạ!”
(Truyện cười bốn phương)



Và chuyện cuối cùng:


CHỈ ĐÁNG HAI XU

Xưa có một thiền sư và một đạo sĩ cùng đi xuống núi, hai vị kết làm bạn đường. Đến chân núi thì phải đi qua một con sông. Đạo sĩ vén áo đi phơi phới trên mặt nước đến bờ bên kia. Thiền sư tìm đò qua sông, phải trả hai xu. Lên bờ gặp nhau, Đạo sĩ có vẻ tự đắc.
Thiền sư hỏi:
- Huynh luyện tập bao lâu mới được như vậy?
Đạo sĩ đáp:
- Phải ba mươi năm!
Thiền sư bảo:
- Công phu luyện tập ba mươi năm của huynh đáng giá hai xu. Tôi chỉ tốn hai xu cũng qua sông được.
(Giai thoại thiền)



Không, chuyện này mới là chuyện cuối cùng:


HỌC ĐỂ LÀM GÌ?

Chuyện ở bên Ý. Hôm ấy người cha dẫn đứa con tám tuổi đi học đàn violon. Trên đường đi, nhìn thấy một hành khất đứng kéo đàn violon, đứa bé phụng phịu nói với cha:
- Đó, bố thấy không?
- Thấy gì?
- Ông già kéo đàn đó.
- Ông ấy làm sao?
- Ông ấy phải kéo đàn để xin tiền bố thí. Bố cứ bắt con học violon, mai sau chắc con lại như ông ấy thôi!
(Chuyện cười bốn phương)


Cười đùa thế là tạm đủ thư giãn rồi. Chúng ta quay lại với câu chuyện lớn:


Lại bước tiếp trên con đường muôn nẻo
Đầy gian nan mà thơm ngát tình đời…

Chúng ta lại bắt đầu từ câu hỏi của muôn năm: “Tồn tại hay không tồn tại?”. 

Chúng ta đã khẳng định và bây giờ chúng ta vẫn khẳng định: Tồn Tại! Tồn Tại, theo quan niệm là cái vốn dĩ thế, tự nhiên như thế, rõ ràng khó có ai có thể phản bác được. Từ Niết Bàn, chân không Phật Giáo, Thiên Đàng, Địa Ngục, Cõi Trần, Chúa, Thánh,… nhất nhất đều là những hình dung về một mặt, một miền nào đó được sự nhận thức hình dung trong tư duy của Tồn Tại, đều thuộc về Tồn Tại. Có thể cãi chày cãi cối về chuyện này chuyện nọ, có thể tranh giành nhau vị trí tối cao trong tín ngưỡng cho tinh thần hay vật chất thì cũng chẳng làm cho tính tồn tại của Tồn Tại “yếu đi”, trái lại càng xác nhận Tồn Tại là vốn dĩ thế, thường hằng, an nhiên, và con người muốn tranh biện kiểu gì thì kiểu về nó, nhận thức như thế nào thì thế về nó, muốn chống đối, phá phách nó cỡ nào thì cỡ mặc lòng, muốn bóp méo ra sao thỉ bóp, nó vẫn tuyệt đối bền vững, vẫn...thế! Ở đây nữa, xin "thủ thỉ nhắn nhủ" với các "nhà" đang "gào thét" đòi tự do, nhân quyền, dân chủ một cách thái quá đến vô lối rằng, các vị đã lạc đường rồi, hãy quay lại với cuộc đấu tranh phanh phui, lôi ra ánh sáng những kẻ "bất tài vô tướng" nhưng "tham quyền cố vị", những kẻ cơ hội "miệng phật tâm xà", những kẻ "đội lốt người" nhưng đầy "mưu ma chước quỉ", đang "trà trộn" trong bộ máy công quyền kia kìa, mới đích đáng! Đạt được thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó và không cần phải thay đổi mấy thứ "vụn vặt vớ vẩn" như thiết chế xã hội, tên nước, hiến pháp...gì cả, thì không những riêng quí vị mà toàn thể đất nước Việt Nam này, nghĩa là cả chính phủ và dân chúng đều lập tức cảm nhận bầu gió mát lành của tự do, nhân quyền, dân chủ. Lúc đó, các vị thực sự là những người có công lao đối với dân tộc Việt, không chỉ quần chúng mà cả nhà nước sẽ biết ơn các vị! Đòi tồn tại yên ổn và bền vững một hiện thực xã hội có tự do, nhân quyền, dân chủ vô lối, "vô tội vô vạ" như các vị nghĩ thì ngay trong phạm vi gia đình đã không thể chứ chưa cần nói đến phạm vi cả nước, vì đó là...ảo tưởng! Đừng nên đi đòi cái mà kể cả Vũ Trụ cũng không thể có, vì làm như thế chỉ uổng công vô ích, gây "lãng phí" cuộc đời vốn dĩ đã rất ngắn ngủi, làm mất bớt cơ hội hưởng thụ cái hay cái đẹp trong cuộc sống, thậm chí còn mắc tội với non sông!

Tiếp tục, chúng ta cũng đã nói nhờ có khái niệm mà chúng ta nhận thức được và nhờ nhận thức được mà Tồn Tại được khẳng định trước chúng ta. Có thể nói bóng bẩy, hoa mỹ cho vui rằng, con người nhận thức được là nhờ có Tự Nhiên Tồn Tại và Tự Nhiên Tồn Tại được là vì con người biết nhận thức. Tự Nhiên Tồn Tại sẽ trở thành Hư Vô trước một Hư Vô nhận thức nhưng một Hư Vô nhận thức lại chẳng bao giờ làm cho Tự Nhiên Tồn Tại thành Hư Vô được. Vì sao vậy? Đơn giản thôi, vì Tự Nhiên Tồn Tại có một đặc tính cơ bản, vốn dĩ là sự thể hiện trước hết là vì Nó và cho Nó (sau đó là cho cả nhận thức). Còn việc nhận thức đúng, sai, tròn trịa, méo mó hay bất lực là tại… nhận thức thôi! Tư duy trừu tượng là vô địch, không có thứ gì ngăn cản được. Nhưng dù thế, con người không bao giờ tư duy trừu tượng được Hư Vô. Tự Nhiên Tồn Tại không bao giờ chịu trách nhiệm trước chuyện ấy, vì nó vô tình!

Có lẽ bất cứ một nhận thức tỉnh táo nào đều không thể tưởng tượng nổi một Tự Nhiên Tồn Tại không thể hiện. Tồn Tại mà không thể hiện cái gì cả thì sao gọi là Tồn Tại được, khi quan niệm về Tồn Tại của chúng ta là “một cái gì đó” cơ mà?! Nhờ có sự thể hiện vĩ đại ấy mà Tự Nhiên Tồn Tại bộc lộ được mình; làm cho nhận thức trở thành khả năng, “thấy” được cái bản chất “nước đôi” vốn dĩ của Tự Nhiên Tồn Tại: vừa thế này, vừa thế kia, vừa không phải cả hai, vừa bất biến vừa thường biến, vừa là tất cả vừa là duy nhất, vừa đồng nhất vừa mâu thuẫn… Nhờ có sự thể hiện vĩ đại ấy mà có chúng ta ở đây để chiêm ngưỡng một Vũ Trụ làm Blaise Pascal phải thốt lên: “Sự im lặng vĩnh cửu của không gian vô hạn khiến tôi hoảng sợ!”, còn Alah Guth, tác giả của lý thuyết Vũ Trụ lạm phát, thì lại nhận định đầy hả hê: “Vũ Trụ là một bữa tiệc cực kỳ sảng khoái!”.

Để tạm "hòa hoãn" với quan niệm đã thành "tập quán" hiện nay về Vũ Trụ, cũng như để tạm "nhân nhượng" những khái niệm được dùng đã thành "thói quen" nhằm dễ dàng hơn trong quá trình suy tưởng, khi nói Tự Nhiên Tồn Tại thì chúng ta cũng hiểu là vật chất vận động và cũng chính là Vũ Trụ tổng thể bao gồm tất cả các sự vật - hiện tượng. Về mặt hình thức, nếu nhãn mác “Tự Nhiên Tồn Tại” cho ta một cảm giác mơ hồ, mông lung, huyền bí của một cái gì đó choáng ngợp, an nhiên, tĩnh tại thì nhãn mác “vật chất vận động” lại cho ta cái cảm giác trực giác, quen thuộc của một cái tràn ngập, sống động, ẩn hiện đâu đó xung quanh. Ta có thể dùng dấu bằng giữa chúng:


Tự Nhiên Tồn Tại = Vật chất vận động

Nếu ở đây chúng ta qui ước rằng về mặt lượng:


Tự Nhiên = vật chất

Và Tồn Tại là sự biểu hiện của cái Tự Nhiên thì vận động cũng phải được coi là sự biểu hiện của vật chất:


Tồn Tại = Vận động

Nhưng chúng ta đã quan niệm Tồn Tại là duy nhất, chẳng có gì ngoài nó cả, do đó Tự Nhiên không thể khác Tồn Tại được. Ta phải viết:


Tự Nhiên = Tồn Tại

Rốt cuộc: Tự Nhiên = Tồn Tại = Vận động = Vật chất = Duy nhất

Thật là một kết quả phi phàm đến mức quái dị, gây “thất vọng hoàn toàn”! Một cái đầu quan niệm bình thường, một người lớn, sẽ rú lên như vậy. Nhưng đối với chúng ta, một bộ não hoang tưởng như "Hoàng Tử bé", thì coi kết quả đó là hoàn toàn đúng đắn: một chân lý! (Nếu nhớ đến nguyên lý "nước đôi" thì chân lý này có lẽ cũng không đến nỗi...sai bét!!!).
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32