TT&HĐ I - 4/a


                                         
Hành trình đi tìm giới hạn nhiệt độ của vũ trụ vĩ đại

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
Lepnit.


CHƯƠNG IV: ĐỒNG HÓA VÀ DỊ HÓA 

-Thế giới hiện thực có giới hạn; thế giới tưởng tượng là vô hạn.  

Jean Jacques Rousseau 

-Không gì giới hạn thành tựu hơn là suy nghĩ tủn mủn; không gì mở rộng những khả năng hơn là trí tưởng tượng được giải phóng.

                William Arthur Ward 

             -Con người tạo ra các vị thần trong trí tưởng tượng          của họ.


              Xenophanes

             -Trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và tâm
              hồn năng động, đó chính là thiên tài.

               Khuyết danh


"Trí tưởng tượng bị bóp méo dạy chúng ta rằng ánh sáng và bóng tối, dài và ngắn, đen và trắng là những điều khác nhau và phải được phân biệt rõ ràng; tuy nhiên, chúng không độc lập với nhau; chúng chỉ là những mặt khác nhau của cùng một sự vật; chúng là những ngôn từ của một mối quan hệ, chứ không phải là một hiện thực.”.
(Đức Phật)

 Chúng ta đã đi được một quãng đường khá dài, ấy vậy mà nhìn lại vẫn thấy điểm xuất phát rõ mồn một. Thì ra đi dài chưa chắc đã là đi xa. Con đường của chúng ta thật là quanh co (quanh co nhưng không phải là quanh quẩn kiểu “gà què ăn quẩn cối xay” đâu đấy nhé(!), chúng ta cực lực phản đối ai nói chúng ta như thế!). Quanh co cũng phải thôi, vì con đường mà chúng ta đang đi không có sẵn, vừa luồn lách tránh né những con đường dành riêng cho các bậc hàn lâm (tương tự như những xa lộ ngạo nghễ, thẳng tắp chỉ dành riêng cho các phương tiện giao thông hiện đại, cấm tiệt các loại xe thô sơ như: xe ngựa, xe bò… chẳng hạn), vừa ngẫu hứng ghé đây tạt đó. Con đường của chúng ta gần giống với con đường của những nhà khảo cổ nhưng trong khi những nhà khảo cổ chăm chăm đào bới tìm ngọn nguồn gốc gác tổ tiên một cách nghiêm túc, thì chúng ta có cái vẻ như một kẻ vô công rỗi nghề vừa đi vừa ngó ngang ngó ngửa, hiếu kỳ đến phát sợ.

Hỡi anh em bằng hữu, nói vui cho đỡ mệt vậy chứ chúng ta đâu phải vậy, đúng không nào? Chúng ta thực sự là những con người tâm huyết, đã đồng tâm nhất trí, hiến dâng quãng đời còn lại (hiến dâng tuổi trẻ thì đáng kể, chứ quãng đời già nua vô tích sự, tiếc mà làm gì?!) cho cuộc hành trình không biết bao giờ mới đến đích vì chẳng biết cái đích đó ở đâu cả, thậm chí không biết nó có tồn tại không nữa. Nhưng lạy chúa tôi, thà rằng nó không tồn tại (tồn tại ảo trong mơ!) chứ đừng để nó ngoài Tồn Tại. Vì như thế, quan niệm về Tồn Tại mà chúng ta vừa “dựng đứng” lên sẽ rệu rã tan tành và chúng ta phải cấp báo cho loài người rằng còn có cái “ngoài Tồn Tại”, kỳ dị và khó hiểu hơn Tồn Tại nữa; không nhận thức nổi đâu; lực lượng các triết gia hãy chuyển sang những công việc khác đi, có ích hơn!


* * *
Kệ! Chúng ta cứ đi và không cần tới đích vì rõ ràng là ngay từ bước đầu tiên của cuộc hành trình, chúng ta có đặt ra cái đích nào đâu? Chúng ta định đi tìm cái gì đó chứ đâu định đi tới đích? Anh em bằng hữu ơi cứ nhớ lại xem, chúng ta là những người mắc chứng hoang tưởng, đi tìm cái gì đó mông lung. Đến đây, chúng ta đã biết rằng nguồn gốc Vũ Trụ là không có, Tồn Tại thì đâu cũng có, ngay chúng ta cũng là một “tiểu tồn tại” rồi, tìm làm gì. Nhớ lại xem, cái gì đó có phải là căn nguyên Tồn Tại của mọi tồn tại không? Nếu đúng, thì chính xác là chúng ta định đi tìm căn nguyên của Vũ Trụ, cái nguyên nhân làm cho Vũ Trụ sự vật - hiện tượng, trong đó cả chúng ta nữa, nhìn từ phía này thì “lộn xộn” đến “phát khiếp”, nhìn từ phía kia thì “trật tự” đến “tê liệt cả người”!... 

 Nhưng chúng ta vừa mới bịa ra được nguyên lý có tính tiên đề cơ bản nhất, tổng quát nhất về Tự Nhiên Tồn Tại và chúng ta cũng đã tạm đặt tên là “nguyên lý Tự Nhiên”. Như thế, đó có phải là căn nguyên của Vũ Trụ chưa? Có lẽ chưa, vì phải tìm ra (nghĩa là trước hết phải chứng minh được là nguyên lý đó có thực đã!) chứ không phải là bịa đặt ra! Không, chúng ta có lý lẽ hẳn hoi cơ mà? Ôi dào ơi, nếu tin vào lý luận mơ hồ, tin vào suy diễn thiếu căn cứ thì nếu cần, mỗi triết gia đều có thể “đẻ” ra một nguyên lý như thế và ai cũng tự nhận là đúng cả. Vũ Trụ sẽ có một đống cộng với cái của chúng ta nữa thành một đống lẻ một nguyên lý tổng quát đúng đắn! Vũ trụ vận hành đồng thời theo ngần ấy nguyên lý thì có lẽ không "nhúc nhích" được, sẽ lập tức phát nổ còn dữ dội hơn tỷ lần vụ nổ Big Bang nữa! Hay là Tự Nhiên Tồn Tại không theo nguyên lý vì... làm gì có nguyên lý nào trong thực tại khách quan? Đúng, Tồn Tại là...Tồn Tại, Vận Động là Tự Nhiên, vốn dĩ như thế và vô thủy vô chung như thế, tự thân tuyệt đối không hề "hay biết" gì nên cũng không hề "đề ra" bất cứ nguyên lý nào, cứ thản mặc cho mọi sự vật-hiện tượng, mọi quá trình xảy ra trong Vũ Trụ muốn ra sao thì ra, muốn thế nào thì thế, muốn theo cách nào thì theo, miễn "phải biết bảo ban, nhường nhịn" nhau, sao cho tuyệt đối không "xúc phạm" đến Tự Nhiên Tồn Tại. Sai! Cũng vì chỉ là vốn dĩ thế thôi nên Tự Nhiên Tồn Tại tuyệt đối không tạo dựng, nghĩa là cũng tuyệt đối không sáng tạo, như vậy, đồng thời cũng có nghĩa là tuyệt đối không có lựa chọn, hay nói "toạc móng heo" ra, Tồn Tại chỉ có duy nhất một lựa chọn là Tự Nhiên (nghĩa là không có mà cũng không thể lựa chọn!), và mọi sự vật-hiện tượng tồn tại, mọi quá trình xảy ra trong Vũ Trụ, xét theo góc độ "nhìn nhận" này, buộc phải tuyệt đối phục tùng Tự Nhiên, phải thể hiện ra như chúng ta đã và đang quan chiêm chứ không thể khác! (Cảm thán ngoài lề một chút : Ai ơi, chính bản tính "nước đôi" của Tồn Tại thể hiện ra thành một Vũ Trụ huyền linh vĩ đại trước chúng ta đấy! Tiện đây cũng khấn Phật, cầu Trời đừng để cho những nhà trí thức đang "hùng hổ" đi đòi được đáp ứng tự do, dân chủ, nhân quyền đến mức...tuyệt đối (tức là vô lối) biết điều này, vì sẽ làm tụt nhuệ khí đang "hăng tiết vịt" của họ, tội họ!). Rốt cuộc, phải dứt khoát rằng, bản thân Tồn Tại là tuyệt đối bất biến, vì thế mà cũng để đảm bảo thế nên "nội tại" của Tồn Tại lại phải tuyệt đối thường biến và thường biến có tính "xoay vần" (tạm hiểu: tính chu kỳ vĩ đại!) theo cách duy nhất (qui ước gọi) là Tự Nhiên. Cách Tự Nhiên ấy, sau khi đã được một chủ thể quan sát và nhận thức, sẽ "chuyển hóa" thành nguyên lý Tự Nhiên (như chúng ta đã đặt tên), tồn tại trong tư duy của chủ thể đó. Nguyên lý Tự Nhiên, không thể khác, phải có vai trò là giềng mối, nguồn cội của mọi nguyên lý, định lý, quy luật, định luật có thể "rút ra" được từ Vũ Trụ mà loài người đã thiết lập được hoặc chưa thiết lập được. Nói cách khác, mọi nguyên lý, qui luật tồn tại và vận động trong tự nhiên đều chỉ là hệ quả không trực tiếp thì cũng gián tiếp của nguyên lý Tự Nhiên, Đến đây, có thể khẳng định một cách dứt khoát và "không sợ hãi" rằng Vũ Trụ là Thực Tại Khách Quan hay cũng có thể gọi là Hiện Thực Khách Quan của Tồn Tại và căn nguyên của tồn tại Vũ Trụ chính là: Tồn Tại vốn dĩ thế, phải Thể Hiện một cách Tự Nhiên thế. Nói rõ hơn, Vũ Trụ là sự thể hiện của Tự Nhiên Tồn Tại "trước" chính Nó đồng thời "trước" mọi thực thể tồn tại tương đối của Nó (trong số đó có chúng ta, một trong những thực thể ("lúc này" được gọi là chủ thể) biết tư duy trừu tượng). Bản chất tối hậu và cũng là đặc tính vốn dĩ cơ bản nhất của Tồn Tại là Sự Thể Hiện! Tồn Tại phải Thể Hiện để khẳng định bản thân Nó, cũng tức là phủ định Hư Vô, và trước một chủ thể quan sát, Sự Thể Hiện ấy(tùy thuộc vào năng lực quan sát cũng như trình độ nhận thức mà trở nên không toàn vẹn, nghĩa là chỉ ở mức tương đối!) cũng chính là Vũ Trụ Vận Động (mà ở mức độ tương đối, viết là Vũ Trụ vận động). Có thể nói Vũ Trụ vận động một cách tự nhiên và truy cho đến cùng cực là theo nguyên lý Tự Nhiên....Kết luận lại, chúng ta nói thế này: không có Hư Vô, chỉ có Tồn Tại, Tồn Tại thì phải thể hiện tính Tồn Tại của nó đến tận "chân tơ kẽ tóc", đến tận khoảng khắc thời gian nhỏ nhất mà chúng ta đã gọi là "sự chuyển hóa". Sự chuyển hóa ấy là một quá trình tự nhiên, vốn dĩ, không lựa chọn vì mục đích duy nhất (tương đương với sự lựa chọn duy nhất!) là bảo toàn Tồn Tại, tuyệt đối không làm xuất hiện Hư Vô. Và đó chính là cái nguyên lý Tự Nhiên tối thượng vô song mà chúng ta rút ra được từ Tồn Tại!
Chúng ta, dù là những kẻ thất phu dốt nát, cũng sẵn sàng đối đầu với khoa học khi phán một câu "xanh rờn": "Vũ Trụ vận động và chuyển hóa tuân theo răm rắp Tinh Thần Vũ Trụ, Ý Chí Tự Nhiên của Linh Hồn Tồn Tại vĩ đại! 

Quá mệt! Nhưng cũng...sướng quá, vì sau một hồi "thả mồi bắt bóng", "rào trước đón sau", và dù bị lũng đoạn bởi trạng thái hoang tưởng quá độ làm cho "mớ" suy luận trên có vẻ rối rắm lẫn kỳ dị, thì căn nguyên của tồn tại Vũ Trụ coi như đã bị chúng ta khám phá. Thế nào, hỡi anh em bằng hữu? Mục đích của chúng ta là tìm biết căn nguyên Vũ Trụ, và đến đây, nếu thấy tự mãn rồi thì...giải tán, ai quay về nhà nấy thôi chứ? Không được! Đó mới là kết quả của "suy đoán" chứ có phải là thành quả của "biết chắc" đâu? Nhưng muốn "biết chắc" được điều lớn lao tột cùng đó thì trước hết phải "phanh phui" cho tỏ tường Tồn Tại là gì, Vật Chất thực ra là gì, có mối liên quan bản chất nào với không gian và thời gian không, tại sao Vận Động Vật Chất được thấy vô cùng đa dạng nhưng lại nhất nhất phải tuân thủ nguyên lý Tự Nhiên một cách không lựa chọn và sự tuân thủ ấy xảy ra theo cách cụ thể như thế nào, và..., và...? Choáng váng chưa "quân ta"? Rõ ràng, muốn "biết chắc" căn nguyên Vũ Trụ thì phải cố "phanh phui" ra hết "cái đống khổng lồ đầy u ám" vừa mới sơ bộ liệt kê đó để có cơ may "biết chắc", và muốn thế, điều "biết chắc" đầu tiên là chúng ta sẽ còn phải hành trình rất dài lâu nữa để cố "gặt hái" cho được sự toại nguyện cơ bản đối với "biết chắc", chứ "biết chắc" rằng không thể "biết chắc" tất cả được, thì...Ái dà!...Ha,ha,ha!...Là lá la!!!... 

Đi thôi anh em bằng hữu ơi! Hãy bình tĩnh đi, kiên nhẫn đi, hy vọng đi, cần mẫn đi, đừng ngại gì gian khó! Niềm đam mê vô tận sẽ nâng đỡ và tiếp sức cho chúng ta. Cũng chính nhờ niềm đam mê hiểu biết ấy mà trắc trở vô vàn làm nảy sinh vui thú vô biên! Và đây là tiêu chí, đường lối: Muốn "biết chắc" cái mới thì trước hết phải "biết chắc" cái cũ, nghĩa là trước hết phải "biết chắc" lại những cái đã từng được "biết chắc" nhưng biết đâu chừng chưa chắc đã phải "biết chắc", để "biết chắc" lần nữa về sự đã "biết chắc" nhằm chắc chắn yên tâm trên bước đường hành trinh đến chân trời mới rằng trong hành trang đúng là toàn chứa những "biết chắc thứ thiệt"!...Sòn, sí, rê..., nào lăn lê!...Đố, mi, fá..., khó ghê quá!...Si, đồ, là...sướng thấy bà!...Hu...u, há...á, ha...a!!!


* * *


Hô hào thế để lấy tinh thần chứ kể cũng nản. Trước lúc lên đường, gieo quẻ thế nào mà đâm xầm ngay "ông" triết học, để rồi lạc vào một rừng khái niệm “trên trời dưới biển”. Mới biết đóng vai triết gia đâu phải dễ. Chỉ riêng việc vật lộn với những khái niệm trong cái rừng ấy để tìm lối ra thôi cũng đã mệt nhoài.

Trong đời thường, khái niệm sao dễ hiểu thế! Chẳng hạn khái niệm “tiền”: nếu ta hỏi bất cứ người thường nào: tiền là gì? thì sẽ nhận được câu trả lời đại loại: tiền là thứ dùng để mua hàng. Đơn giản thế thôi. Ấy vậy, nhưng nếu chúng ta hỏi một nhà kinh tế học thì mở đầu sẽ là: “Tiền là vật ngang giá chung, là hàng hóa có giá trị đặc biệt”, tiếp theo sẽ tràng giang đại hải nào là: giao dịch, thương mại, lưu thông tiền tệ, hối đoái, lạm phát, cổ phiếu, thị trường chứng khoán…, nhiều đến nỗi khi nghe xong ta có cảm tưởng như tiền là "đấng toàn năng" làm nên con người chân chính vậy, vì nó không chỉ có công dụng mua vật dụng và thực phẩm, mà còn được dùng để bán, cho, biếu, tặng, lót đường công danh, gửi gắm tình cảm, ăn đám cưới, đi đám ma, làm thước đo danh phận, làm vũ khí chinh phục lý trí con người..., thậm chí còn được “xài” với những chức năng tương tự như thế cả ở dưới Âm Phủ nữa. Thế cũng còn đỡ vì dù sao vẫn còn thấy được tiền là thứ đáng quí, giữ được càng nhiều càng tốt! Nếu chúng ta hỏi một triết gia về tiền thì ôi thôi, tùy vào trường phái triết học mà ông ta đặt cược niềm tin vào đó; chúng ta sẽ nhận thức được câu trả lời mở đầu với những khái niệm “ù tai”: vật chất, tinh thần, là nguyên nhân của nguyên nhân, là quá trình biến đổi, là thành quả nhân tạo, là sự thống nhất trong đa dạng, là mầm mống của sự tha hóa, thậm chí là ảo mộng, là qui ước của ý niệm, là mồ hôi nước mắt của người làm thuê… Nghe xong, chúng ta sẽ vô cùng hoang mang vì đến ngay cả chức năng tối thiểu của nó là “mua” thôi cũng không biết là có chính đáng không nữa, và có lẽ sẽ chẳng còn dám ước mơ có nhiều tiền làm gì vì sợ mang tội “bóc lột”; mang tiếng giàu... phi tự nhiên, nghĩa là bất chính.

Anhstanh từng nói: “Cái khó hiểu nhất là làm sao Vũ Trụ lại có thể hiểu được”. Có phải là do dịch thuật hay không mà chúng ta vẫn chưa biết ý Anhstanh muốn nói về điều gì, Vũ Trụ hiểu được hay hiểu được Vũ Trụ? Nếu nói theo ý thứ nhất thì Anhstanh sai, vì Vũ Trụ không thể hiểu được. Vũ Trụ mà hiểu được thì loài người đã bị diệt vong từ lâu rồi vì nó sẽ không thể dung thứ cho một loài không những tàn phá không thương tiếc cái thế giới đã sinh ra và cưu mang nó mà còn có một lịch sử đày đọa, tàn sát lẫn nhau không biết ghê tay. Còn nói theo ý thứ hai thì Anhstanh… cũng sai nốt. Thế giới khách quan lúc nào cũng lồ lộ ra, vận hành lặp đi lặp lại trước mắt con người nhận thức, bét ra cũng hàng vạn năm và phải nói là toàn bộ những thuộc tính cơ bản của Vũ Trụ đều được phản ánh đầy đủ, trực tiếp, rõ ràng, và sẽ còn lồ lộ như thế mãi mãi. Chủ thể tư duy nhận thức không hiểu được nó đã đành, còn vì muốn hiểu nó mà hình dung ra đủ dạng Vũ Trụ quái dị và cố chứng minh là chúng đều có thật mới lạ chứ? Chỉ có điều, tìm hiểu để biết là một quá trình cần có thời gian. Cho nên đến tận ngày nay loài người vẫn còn cứ mơ mơ hồ hồ về nó. Đó thật sự là điều dễ hiểu! Đây mới là điều khó hiểu: dù đến nay loài người vẫn chưa "biết chắc" Vũ Trụ như thế nào thì cũng khó mà tìm thấy một ông triết gia nào lại không am tường Vũ Trụ. Ông nào cũng có một luận thuyết “kín kẽ” về Vũ Trụ, nghe đều “bùi tai” cả (chỉ có một ghi nhớ nhỏ, không đáng kể lắm, đó là: chả ông nào hiểu giống ông nào, thế thôi!). Nhưng điều khó hiểu hơn là: con người đã “nghĩ ra” ý niệm và khái niệm từ việc quan sát thực tại để nhận thức rõ hơn về thực tại, để làm nên ngôn từ câu chữ nhằm diễn đạt nhận thức ấy, do đó, đáng lẽ những khái niệm đóng vai trò nhãn mác gắn cho “Tự Nhiên Tồn Tại” phải được mở rộng, làm sâu sắc hơn, chính xác hơn theo từng bước đi lên của nhận thức thì trái lại, bị gắn kết chết cứng để làm nền móng cho cơ thể ngày càng nặng nề của triết học (đến nay đã bị bệnh béo phì, và đang béo phì!). Rất có thể chính điều đó đã gây ra hiện tượng: lúc khởi đầu, triết học lãnh nhiệm vụ tiên phong trong việc nhận thức Tự Nhiên Tồn Tại và thực tế đã đạt được những thành quả to lớn, nhưng càng về sau càng lún sâu vào vũng lầy khái niệm (đã lạc hậu và bị "bảo thủ hóa"), hoặc mê lầm, lẫn lộn giữa khái niệm (sự đặt tên, qui ước, định nghĩa "trong" tư duy của con người) với thực tại khách quan … và nó đã phải nhường vai trò tiên phong đó cho vật lý học. Sự khủng hoảng của vật lý học ở thế kỷ XIX là một tất yếu nói lên sự nhận thức chưa đầy đủ và còn méo mó của con người về Tư Nhiên Tồn Tại. Nhờ giải quyết được cuộc khủng hoảng đó, con người huyễn tưởng đã có thể quan sát được rõ ràng hơn, sâu sắc hơn nên cũng đúng đắn hơn về thế giới tự nhiên, đã nghiệm chứng được tốt hơn cái bản chất sâu xa của vật chất - vận động, cùng với tính thống nhất và tính thể hiện “nước đôi”(như tính tương đối của chuyển động, lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng...), những đặc tính mà triết học Phương Đông cổ đại đã tiên tri từ rất lâu trong quá khứ nhưng không có khả năng kiểm chứng thực nghiệm.

Chúng ta có cảm nhận rằng vật lý học đang đến gần tới một chân trời khủng hoảng mới, với những mâu thuẫn đã dần bộc lộ và ngày một sâu sắc. Thuyết Vụ Nổ Lớn (Big Bang) dù hiện nay đang đóng vai trò chính, then chốt trong việc giải thích các hiện tượng Vũ Trụ vĩ mô, nhưng sẽ có một ngày không xa, tương tự như thuyết Địa Tâm của Ptôlêmê, nó sẽ được xếp vào kho tàng truyện cổ tích của nhân lọai. Hay nói như Hannes Alfrén, nhà vũ trụ học không thuộc trường phái chính thống người Thụy Điển: “Big Bang là một chuyện thần thoại, có thể là một thần thoại như thần thoại Hindu về Vũ Trụ luân hồi, thần thoại về quả trứng Vũ Trụ của Trung Hoa, thần thoại kinh thánh về sự sáng thế trong sáu ngày, thần thoại vũ trụ học của Ptôlêmê và nhiều thần thoại khác” ("Thực Tại và Hoang Đường" được cho là không cùng loại này, vì chúng ta, những người đang trên bước đường vừa thu thập thông tin vừa trực tiếp tường thuật lại, cam đoan rằng, đã từng mắt thấy tai nghe!!!).

Khi nhận thức khoa học tự nhiên lâm vào khủng hoảng thật sự, thực nghiệm cũng không giải thoát" được thì đến lúc đó, như lịch sử đã chỉ ra, triết học sẽ "xen vào" cất lên tiếng nói của nó, sẽ lại đóng vai trò tiên phong mở đường cho nhận thức khoa học tiếp tục tiến lên, như thuở ban đầu. Sẽ có một triết thuyết cuối cùng, duy nhất, giải thích xác đáng nhất về Tự Nhiên Tồn Tại, một triết thuyết đóng vai trò cơ sở lý luận cho tất cả các ngành khoa học, nhận thức mọi mặt của con người từ căn nguyên của Vũ Trụ, nguồn gốc sự sống cho đến những hiện tượng tâm linh. Không còn xa nữa đâu! Chúng ta tin tưởng chắc chắn vào điều đó!
Triết học sẽ là kẻ gợi mở tư duy, phá lối mở đường, để khoa học sẽ là người cất tiếng phán xử cuối cùng về căn nguyên của Vũ Trụ!

                                                * * *

Loài người biết nói từ bao giờ? Chẳng ai có thể xác định chắc chắn được. Lời nói theo gió bay đi, chẳng thể đọng lại ở những lớp trầm tích để cho các nhà khảo cổ có thể khai quật được.

Những dấu vạch, khắc cổ sơ nhất mà người ta phát hiện được là những dấu vạch cách khoảng đều nhau trên xương động vật, trên đá có từ hơn 50.000 năm trước đây (tại hang Moustie ở Dordogeve, nước Pháp). Nếu cho rằng tiếng nói, dù sơ khai, chỉ là những âm thanh rời rạc khác nhau, nhưng đã cho người nghe liên tưởng được đến điều gì đó, thì có lẽ đã xuất hiện còn lâu hơn nữa. Ý niệm hình thành nên từ lúc đó chăng? Nếu thế thì, những vết vạch đầu tiên loài người chỉ là một sự đánh dấu, “đếm”, phân chia những thức ăn kiếm được; dần dà là sự mô tả (đóng vai trò như định nghĩa có thể gọi là “chữ vẽ”) những khái niệm (những từ ngữ của tiếng nói), và cuối cùng là hình thành nên chữ viết (xuất hiện khoảng 5.000 năm trước Công nguyên. Chúng ta ước đoán thế vì các nhà khảo cổ đã khai quật được những di tích khác nhau có các mã hiệu thể hiện có hệ thống trên đó có thời gian hơn 3.000 năm trước Công nguyên. Do đó theo chúng ta suy luận thì chữ viết phải có sớm hơn nhiều).
Theo Daniel Everett, giáo sư của Trường ĐH Bentley (Massachusetts, Mỹ) đồng thời là tác giả của quyển How Language Began (Ngôn ngữ bắt đầu ra sao?), đưa ra mới đây, thì  Từ 1,8 triệu năm trước, người đứng thẳng (Homo Erectus) đã biết dùng ngôn ngữ để giao tiếp, đã sáng tạo ra ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ khi săn bắn hay khi đóng tàu chinh phục những hòn đảo xa như Flores ở Indonesia và Crete ở Hi Lạp, tức sớm hơn 1 triệu năm so với chúng ta vẫn nghĩ. GS Everett khẳng định: "Có thể họ chưa nói được những câu dài nhưng họ chắc chắn đã có thể dùng ngôn ngữ. Có thể so sánh ngôn ngữ của họ như một chiếc Ford, còn ngôn ngữ của chúng ta kiểu Tesla. Nhưng ngôn ngữ 'kiểu Ford' đó không phải là tiền ngôn ngữ mà chính là một ngôn ngữ". Tuy nhiên đến nay giả thuyết về người đứng thẳng có ngôn ngữ của GS Everett gặp phải không ít ý kiến trái chiều.


Cũng nên nói thêm rằng sự phán đoán trên là theo thiển ý của chúng ta thôi, và đó là quá trình dài lâu, có tác động qua lại giữa các mặt, cái này tạo điều kiện cho cái kia phát triển và ngược lại. Nhưng tiền đề, cơ sở cho quá trình ấy hình thành và triển khai được chính là bộ não người đã được trang bị trí nhớ dài lâu (hồi ức) ở mức độ thích ứng, hay nói chung qui lại, tiến hóa là công cuộc thích nghi để sinh tồn, nhờ có tiến hóa mà tự nhiên đã làm hình thành nên một bộ não phát triển, có trí nhớ dài lâu (hồi ức). Bộ não có trí nhớ dài lâu ấy (phải nói rằng được sinh ra không phải từ sự ưu ái mà là sự nghiêm khắc!) không thụ động nữa, đã biết tích cực thích nghi, đúc kết kinh nghiệm, chọn cách thức thích nghi tối ưu để sống còn. Khái niệm, tiếng nói, chữ viết và sự nhận biết tất yếu, xuất hiện trong tình hình ấy và xuất hiện để “thấy rõ hơn” môi trường xung quanh nhằm chủ động sống còn tốt hơn.
Phải nói rằng như một lẽ tự nhiên, ý niệm sinh ra từ cuộc đấu tranh sinh tồn dài lâu của loài người. Nhờ có ý niệm mà khái niệm, tiếng nói, hình vẽ và chữ viết hình thành, tác động tích cực trở lại cuộc đấu tranh sinh tồn ấy và cùng với nó làm cho con người nhận biết ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn về thế giới xung quanh cũng như chính bản thân mình, về cuộc sống và sự mưu sinh. Do đó, theo cách nhìn này, khái niệm đóng vai trò như “đơn vị ngôn ngữ” làm nên nhận thức xuất hiện ra từ chân lý khách quan, theo yêu cầu của tự nhiên, có nguồn gốc từ tồn tại và cũng chính là một tồn tại, mang bản chất vật chất và là một hiện thực sống động, phát triển và suy tàn nhường chỗ cho những khái niệm mới có nội dung chính xác và đầy đủ hơn, theo trình độ nhận thức của loài người. Sự phát triển của triết học và khoa học minh chứng cho điều đó. Chẳng hạn như từ mà chúng ta thường xuyên nhắc đến, thường xuyên sử dụng và ai cũng biết, đó là từ “triết học”; có nghĩa đen lúc khởi thủy đơn giản là “yêu mến sự thông thái”; nhưng ngày nay nếu có hỏi “triết học là gì?” thì chúng ta sẽ trả lời rất “rụt rè” và “ngọng nghịu”. Ước gì được về lại thăm thú cái thời hồng hoang vô cùng xa xôi trong dĩ vãng của loài người thì tuyệt vời biết mấy! Lúc đó, chúng ta sẽ lùng sục khắp nơi; tìm cho ra nhân vật trong số những nhân dạng tiền sử, đã thốt lên những ý niệm đầu tiên, thông báo cho Đấng Tối Cao về sự bắt đầu hiện diện của con người có ý thức; chụp ảnh lại hình hài ấy đem về cho thế kỷ XXI tạc tượng đặt vào vị trí kính trọng bậc nhất, cũng thờ như một vị Đại Thần Linh, một Đấng Sáng Tạo bậc nhất mà con người có toàn quyền tự hào.
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32