CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 318
(ĐC sưu tầm trên NET)
Toàn Bộ Sự Thật Về Sự Kiện Vịnh Bắc Bộ Qua Các Tài Liệu Giải Mật Của Thế Giới
Mỹ đã ngụy tạo tin tức tình báo về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ra sao?
Nhà báo Scott Shane của tờ The New York Times vừa công bố những nghiên cứu mới nhất của các nhà sử học về cái gọi là "sự kiện Vịnh Bắc Bộ" - cái cớ của việc Mỹ can thiệp sâu hơn vào chiến tranh Việt Nam. ANTG xin giới thiệu bài báo này với độc giả.
Bi hài Chiến dịch “Giờ đi chợ” của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
Soi cứ điểm thảm nhất của lính dù Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
Vì sao phi công Mỹ hắt hủi “ngôi sao” F-104 trong chiến tranh Việt Nam?
Phi công tù binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được đối xử như thế nào?
Hình ảnh F-105 bị bắn nát đuôi vẫn bay được trong chiến tranh Việt Nam
Cơ quan An ninh quốc gia (NSA) đã giấu giếm những phát hiện của một
nhà sử học vào năm 2001 về việc chính cơ quan này đã cố tình bóp méo
những tin tức tình báo để biện minh cho việc can thiệp vào Việt Nam của
chính quyền Hoa Kỳ.
Nhà sử học chuyên nghiên cứu về NSA, ông Robert J. Hanyok, kết luận rằng, các thông tin nghe trộm đã bị NSA - Cơ quan chuyên tiến hành việc nghe trộm và phá khóa mật mã - thay đổi, dẫn đến việc thông tin sai sự thật về cái gọi là “Việt Nam tấn công tàu khu trục Mỹ vào ngày 4/8/1964”. Tổng thống Mỹ, Lyndon B. Johnson, sau đó đã sử dụng những nguồn tin này để thuyết phục Hạ viện chấp nhận sự can thiệp ồ ạt của lực lượng quân sự Mỹ vào Việt Nam.
Những phát hiện của ông Hanyok đã được đăng tải 5 năm trước đây trong một chuyên san nội bộ nhưng từ năm 2002, ông Hanyok và các sử gia chính phủ khác tiếp tục yêu cầu công bố rộng rãi những phát hiện này. Nhưng những cố gắng của họ bị các cơ quan chức năng tại Mỹ cự tuyệt vì họ sợ phát hiện này có thể làm dân chúng nghi ngờ về lý do của cuộc chiến Iraq vốn cũng bắt đầu bằng những thông tin tình báo chắp vá về việc Iraq đang sản xuất các loại vũ khí giết người hàng loạt như bom hạt nhân hay bom hóa học.
Matthew M. Aid, một sử gia độc lập, người đã bỏ nhiều công sức phỏng vấn các cựu sĩ quan NSA và CIA về những phát hiện của Hanyok, cho biết, ông quyết định công bố những phát hiện của Hanyok cho công chúng Mỹ. Sử gia Aid - người đang viết cuốn lịch sử cho NSA - nói thêm: “Đáng ra, người dân có quyền được biết những tài liệu có giá trị như thế này từ lâu rồi”. Một sĩ quan tình báo giấu tên cũng xác nhận những phát hiện của ông Hanyok.
Đầu tiên, Hanyok cho rằng việc dịch sai tài liệu của Bắc Việt chỉ là một lỗi vô ý. Nhưng sau vài tháng điều tra tại NSA, ông này lại kết luận những nhân viên tình báo trung cấp đã cố tình sử dụng những bản dịch sai này để làm cái cớ cho việc leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam. Sử gia Aid ví von: “Thay vì sửa lỗi, các nhân viên tình báo lại đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài 10 năm”.
Khi được hỏi về những nghiên cứu của ông Hanyok, người phát ngôn của NSA, ông Don Weber, nói rằng, cơ quan này đã có ý định công bố những bài báo của Hanyok vào cuối tháng 11/2001. “Nhưng việc công bố này bị trì hoãn vì NSA muốn công bố không chỉ bài báo của Hanyok mà cả những tài liệu gốc nhằm giúp công chúng thẩm định phát hiện của Hanyok một cách rõ ràng hơn”.
Trợ lý của tướng Michael V. Hayden, người vừa mới rời chức Giám đốc NSA để làm Phó giám đốc thường trực Cơ quan Tình báo quốc gia, thì từ chối trả lời câu hỏi của các nhà báo về tính xác thực của những phát hiện này mà “kính chuyển” về phát ngôn viên của NSA trả lời.
Nhiều sử gia tin rằng, chẳng cần “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, Johnson cũng có thể tìm ra cớ khác để biện minh cho sự leo thang chiến tranh chống miền Bắc Việt Nam.
“Cuộc tấn công của Bắc Việt vào 2 tàu khu trục Maddox và C. Turner Joy” không chỉ có ý nghĩa lịch sử. Sau khi nhận được những báo cáo của cơ quan tình báo về “cuộc tấn công” này, Johnson đã trả đũa bằng việc ném bom hàng loạt vị trí tại Bắc Việt Nam và cũng sử dụng “sự kiện” này để thuyết phục Quốc hội thông qua “Nghị quyết về sự kiện Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 7/8/1964. Nghị quyết này cho phép Tổng thống Mỹ “tiến hành các biện pháp cần thiết kể cả sử dụng vũ lực” để bảo vệ miền Nam Việt Nam và các nước láng giềng. Dựa vào đó, Tổng thống Johnson và Nixon đã tiến hành leo thang chiến tranh gây ra tổn thất không nhỏ cho cả 2 phía: 58.226 lính Mỹ và hơn 1 triệu người Việt Nam bị chết.
Còn nhiều chi tiết về những phân tích của Hanyok, được đăng tải trên bản tin hàng quý của NSA, vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nhưng nó có liên quan đến sự trái ngược nhau giữa tài liệu của các sĩ quan tình báo và những thông tin từ các trạm nghe trộm của NSA tại Phú Bài (Nam Việt Nam) và San Miguel tại Philippines. Ví dụ, như việc dịch một số cụm từ. Cụm từ “chúng ta đã hy sinh 2 đồng chí” mà NSA nghe trộm được từ Bắc Việt, được dịch thành “chúng ta mất 2 tàu chiến”. Cụm từ này được coi như báo cáo về thương vong của quân đội Bắc Việt Nam trong “trận chiến ngày 4/8”. Sĩ quan tình báo giấu tên kể trên, cho biết: Nhiều tài liệu nghe trộm gốc từ Bắc Việt Nam cũng đã biến mất khỏi hồ sơ lưu của NSA. Rõ ràng, các tài liệu tình báo đã bị bóp méo có chủ ý.
Tiến sĩ Prados, Cơ quan Lưu trữ An ninh quốc gia, tỏ ra thích thú với những phát hiện của Hanyok. “Nếu những phát hiện này đúng, nó bổ sung thêm một chương tồi tệ về sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam".
Nam Anh An Ninh Thế GiớiNhà sử học chuyên nghiên cứu về NSA, ông Robert J. Hanyok, kết luận rằng, các thông tin nghe trộm đã bị NSA - Cơ quan chuyên tiến hành việc nghe trộm và phá khóa mật mã - thay đổi, dẫn đến việc thông tin sai sự thật về cái gọi là “Việt Nam tấn công tàu khu trục Mỹ vào ngày 4/8/1964”. Tổng thống Mỹ, Lyndon B. Johnson, sau đó đã sử dụng những nguồn tin này để thuyết phục Hạ viện chấp nhận sự can thiệp ồ ạt của lực lượng quân sự Mỹ vào Việt Nam.
Tranh về tàu Maddox tại Vịnh Bắc Bộ trên trang của Trung tâm Lịch sử Hải quân Mỹ.
Ông Hanyok tìm thấy những lỗi trong bản dịch cùng nhiều tài liệu tình
báo khác chứng tỏ một số nhân viên tình báo trung cấp đã sửa đổi các
tin tức tình báo.Những phát hiện của ông Hanyok đã được đăng tải 5 năm trước đây trong một chuyên san nội bộ nhưng từ năm 2002, ông Hanyok và các sử gia chính phủ khác tiếp tục yêu cầu công bố rộng rãi những phát hiện này. Nhưng những cố gắng của họ bị các cơ quan chức năng tại Mỹ cự tuyệt vì họ sợ phát hiện này có thể làm dân chúng nghi ngờ về lý do của cuộc chiến Iraq vốn cũng bắt đầu bằng những thông tin tình báo chắp vá về việc Iraq đang sản xuất các loại vũ khí giết người hàng loạt như bom hạt nhân hay bom hóa học.
Matthew M. Aid, một sử gia độc lập, người đã bỏ nhiều công sức phỏng vấn các cựu sĩ quan NSA và CIA về những phát hiện của Hanyok, cho biết, ông quyết định công bố những phát hiện của Hanyok cho công chúng Mỹ. Sử gia Aid - người đang viết cuốn lịch sử cho NSA - nói thêm: “Đáng ra, người dân có quyền được biết những tài liệu có giá trị như thế này từ lâu rồi”. Một sĩ quan tình báo giấu tên cũng xác nhận những phát hiện của ông Hanyok.
Đầu tiên, Hanyok cho rằng việc dịch sai tài liệu của Bắc Việt chỉ là một lỗi vô ý. Nhưng sau vài tháng điều tra tại NSA, ông này lại kết luận những nhân viên tình báo trung cấp đã cố tình sử dụng những bản dịch sai này để làm cái cớ cho việc leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam. Sử gia Aid ví von: “Thay vì sửa lỗi, các nhân viên tình báo lại đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài 10 năm”.
Khi được hỏi về những nghiên cứu của ông Hanyok, người phát ngôn của NSA, ông Don Weber, nói rằng, cơ quan này đã có ý định công bố những bài báo của Hanyok vào cuối tháng 11/2001. “Nhưng việc công bố này bị trì hoãn vì NSA muốn công bố không chỉ bài báo của Hanyok mà cả những tài liệu gốc nhằm giúp công chúng thẩm định phát hiện của Hanyok một cách rõ ràng hơn”.
Trợ lý của tướng Michael V. Hayden, người vừa mới rời chức Giám đốc NSA để làm Phó giám đốc thường trực Cơ quan Tình báo quốc gia, thì từ chối trả lời câu hỏi của các nhà báo về tính xác thực của những phát hiện này mà “kính chuyển” về phát ngôn viên của NSA trả lời.
Nhiều sử gia tin rằng, chẳng cần “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, Johnson cũng có thể tìm ra cớ khác để biện minh cho sự leo thang chiến tranh chống miền Bắc Việt Nam.
“Cuộc tấn công của Bắc Việt vào 2 tàu khu trục Maddox và C. Turner Joy” không chỉ có ý nghĩa lịch sử. Sau khi nhận được những báo cáo của cơ quan tình báo về “cuộc tấn công” này, Johnson đã trả đũa bằng việc ném bom hàng loạt vị trí tại Bắc Việt Nam và cũng sử dụng “sự kiện” này để thuyết phục Quốc hội thông qua “Nghị quyết về sự kiện Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 7/8/1964. Nghị quyết này cho phép Tổng thống Mỹ “tiến hành các biện pháp cần thiết kể cả sử dụng vũ lực” để bảo vệ miền Nam Việt Nam và các nước láng giềng. Dựa vào đó, Tổng thống Johnson và Nixon đã tiến hành leo thang chiến tranh gây ra tổn thất không nhỏ cho cả 2 phía: 58.226 lính Mỹ và hơn 1 triệu người Việt Nam bị chết.
Còn nhiều chi tiết về những phân tích của Hanyok, được đăng tải trên bản tin hàng quý của NSA, vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nhưng nó có liên quan đến sự trái ngược nhau giữa tài liệu của các sĩ quan tình báo và những thông tin từ các trạm nghe trộm của NSA tại Phú Bài (Nam Việt Nam) và San Miguel tại Philippines. Ví dụ, như việc dịch một số cụm từ. Cụm từ “chúng ta đã hy sinh 2 đồng chí” mà NSA nghe trộm được từ Bắc Việt, được dịch thành “chúng ta mất 2 tàu chiến”. Cụm từ này được coi như báo cáo về thương vong của quân đội Bắc Việt Nam trong “trận chiến ngày 4/8”. Sĩ quan tình báo giấu tên kể trên, cho biết: Nhiều tài liệu nghe trộm gốc từ Bắc Việt Nam cũng đã biến mất khỏi hồ sơ lưu của NSA. Rõ ràng, các tài liệu tình báo đã bị bóp méo có chủ ý.
Tiến sĩ Prados, Cơ quan Lưu trữ An ninh quốc gia, tỏ ra thích thú với những phát hiện của Hanyok. “Nếu những phát hiện này đúng, nó bổ sung thêm một chương tồi tệ về sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam".
Điệp viên Phạm Xuân Ẩn làm gì sau ngày 30/4/1975?
Dù vui mừng với chiến thắng ngày 30/4/1975, nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn vẫn chưa được phép lộ diện.
Vợ và bốn con đã di tản theo máy bay của tạp chí Time, ông Ẩn ở lại Sài Gòn với mẹ già.
Trong cuốn sách Nhà tình báo và những phi công tù binh của tác giả Nguyễn Ngọc Phúc (NXB Quân đội Nhân dân, 2009), sau ngày giải phóng, cơ quan tình báo Miền còn cử cán bộ đến để thẩm vấn nhà báo Phạm Xuân Ẩn.
Cơ quan tình báo ta xác định Phạm Xuân Ẩn là nhà báo Mỹ có uy tín, tại sao lại không di tản theo Mỹ? Ông ta ở lại đây nhằm mục đích gì? Hay Phạm Xuân Ẩn là người của ta?
Người được giao nhiệm vụ thẩm vấn ông Ẩn là sĩ quan tình báo kỳ cựu Mạc Lâm, người từng hỏi cung rất nhiều tướng tá địch, cũng như hỏi cung đa số phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc.
Ông Mạc Lâm kể lại trong sách khoảng 9h sáng, ông cùng một cán bộ tình báo của Miền đến khách sạn Continental. Phạm Xuân Ẩn là nhà báo hay tình báo? Điều đó làm cho Mạc Lâm trăn trở.
Phạm Xuân Ẩn ra mở cửa mời khách. Mạc Lâm hơi sững lại, không như những điều mình nghĩ về ông Ẩn. Phạm Xuân Ẩn không to cao, trắng trẻo, mà gầy, nước da đen, cặp mắt linh lợi, tay cầm điếu thuốc đang hút dở. Cất giọng miền Nam, ông Ẩn mời khách vào.
Liếc nhanh bao quát căn phòng, ông Mạc Lâm nhìn Phạm Xuân Ẩn rồi tự giới thiệu là cán bộ của Viện Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam. Ông muốn gặp nhà báo để được biết thêm về giai đoạn cuối cùng người Mỹ ở Việt Nam, nhất là cuộc di tản vừa qua.
Phạm Xuân Ẩn nhìn Mạc Lâm, trả lời với giọng nhỏ nhẹ là sẵn sàng kể những điều ông biết với tư cách một nhà báo. Còn những nội dung khác, ông xin phép buổi chiều sẽ kể tiếp.
Ông Mạc Lâm nhận xét Phạm Xuân Ẩn không tỏ ra lúng túng khi gặp người của cách mạng như một số người của chế độ cũ. Ông tự nhiên, thân tình, gọi cà phê mời khách rồi vừa hút thuốc vừa kể chuyện về người Mỹ ở Sài Gòn những ngày trước 30/4/1975. Những gì ông Mạc Lâm cần biết đã được giải đáp.
Khoảng hơn 11h, khách ra về, Phạm Xuân Ẩn hẹn chiều làm việc tiếp. Ông Mạc Lâm thấy bằng lòng với buổi gặp nhà báo. Ông Ẩn biết nhiều chuyện, kể tỉ mỉ nhiều điều Mạc Lâm chưa hề biết. Ông suy đoán: Có thể anh ta là một nhà báo thành thạo Sài Gòn.
Ăn cơm trưa xong, Mạc Lâm định ngủ một giấc chiều làm việc tiếp thì có điện thoại. Đầu dây bên kia từ Hà Nội của Cục Quân báo cho biết: Phạm Xuân Ẩn là người của ta đang chờ nhận nhiệm vụ.
Cuốn sách Điệp viên hoàn hảo của tác giả Larry Berman nói khá rõ: Phạm Xuân Ẩn đã biết rằng khi quân giải phóng tấn công Sài Gòn, có ba nơi an toàn, đó lại đại sứ quán Pháp, bệnh viện Grall và khách sạn Continental của Pháp.
Phạm Xuân Ẩn có đầy những chìa khóa mà các bạn đồng nghiệp khi ra đi để lại. Ông quyết định tốt nhất là cùng mẹ đến ở tại phòng số 407 của Bob Shaplen tại khách sạn Continental.
Giáo sư Larry Berman cũng đã trực tiếp hỏi những nhà lãnh đạo Việt Nam để hiểu lý do Phạm Xuân Ẩn không di tản sang Mỹ cùng gia đình của mình.
"Có một điều mà Phạm Xuân Ẩn không hề biết, đó là thời điểm ấy đang có sự cân nhắc rất nghiêm túc của Quân ủy Trung ương thuộc Bộ Chính trị về việc có nên để ông tiếp tục công tác tình báo của mình tại Hoa Kỳ hay không”, Berman viết.
Chính đại tướng Văn Tiến Dũng cuối cùng đã quyết định nên để Phạm Xuân Ân ở lại Việt Nam.
"Nếu Phạm Xuân Ẩn tiếp tục công tác đó chắc chắn ông ấy sẽ thu được nhiều thông tin tình báo có giá trị cho đất nước. Tuy nhiên, sớm muộn gì, ông ấy cũng bị lộ ở nước ngoài và như vậy thì sự tổn thất sẽ rất lớn", tướng Dũng nói.
Giáo sư Larry Berman cũng hỏi ông Mai Chí Thọ về ý tưởng tiếp tục để ông Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo ở nước ngoài.
Ông Thọ nói: "Về mặt nghiệp vụ, đó là một ý tưởng hay. Vỏ bọc vẫn còn nguyên vẹn, ông ấy lại được người Mỹ tin cậy. Bản thân ông ấy cũng đã chuẩn bị ra đi và sẵn sàng ra đi. Nhưng đồng thời cũng có những ý kiến ngược lại rằng Phạm Xuân Ẩn đã sẵn sàng, nhưng còn các điều kiện khác nữa. Ông ấy đã làm việc quá nhiều rồi".
Bắt đầu lộ diện
Tại Sài Gòn, Phạm Xuân Ẩn buồn và lo lắng. Sau vài ngày ở khách sạn Continental, ông và mẹ về ở nhà. Ông cũng phải ra trình diện trước các nhà chức trách địa phương.
Ông điền vào tờ khai nghề nghiệp là nhà báo, làm việc cho tạp chí Time. Phạm Xuân Ẩn, theo nghĩa đen, là người của tạp chí Time ở Sài Gòn, giữ mối liên hệ với các đồng nghiệp cũ và đang đóng góp bài vở cho số báo sau 30/4/1975 của tạp chí này.
Ông gửi bằng telex bức điện tới New York, Mỹ: “Tất cả phóng viên Mỹ đã di tản vì tình trạng khẩn cấp. Văn phòng tạp chí Time hiện nay do Phạm Xuân Ẩn điều hành”.
Bài báo cuối cùng của ông phát đi được đăng trên tạp chí Time số ra ngày 12/5, mang tựa đề “Cuộc chia tay cuối cùng nghiệt ngã”.
Vài tuần sau ngày giải phóng, có người của lực lượng an ninh đến gặp ông và nói: “Ông thì OK”. Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Ông ta chỉ nói có vậy. Nhưng tôi hiểu tôi được an toàn rồi”.
Tài liệu về danh tính thật của Phạm Xuân Ẩn cuối cùng cũng được chuyển đến. Phạm Xuân Ẩn được xác nhận là “người 30 năm cách mạng” - một thuật ngữ được dùng để nói về những người đã tham gia đánh ngoại xâm trong ba thập kỷ qua.
Tác giả Điệp viên hoàn hảo cho biết đến lúc này, Phạm Xuân Ẩn được chính thức chuyển sang bên thắng trận. Điều này dễ nhận thấy vì số lượng gạo của ông được tăng thêm, được cấp phát quân phục hàm cấp tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Cuối tháng 3/1976, Phạm Xuân Ẩn được khuyên nên gọi gia đình trở về nước. Đối với nhiều người bạn của ông, cũng như các nhân viên trước đây làm việc cho tạp chí Time, đây là tín hiệu đầu tiên cho thấy Phạm Xuân Ẩn có thể từng làm việc cho phía bên kia.
Theo Lê Tiên Long (Zing)Trong cuốn sách Nhà tình báo và những phi công tù binh của tác giả Nguyễn Ngọc Phúc (NXB Quân đội Nhân dân, 2009), sau ngày giải phóng, cơ quan tình báo Miền còn cử cán bộ đến để thẩm vấn nhà báo Phạm Xuân Ẩn.
Phạm Xuân Ẩn trên đường phố Sài Gòn trong ngày cuối cùng của chiến tranh. Ảnh từ sách Điệp viên hoàn hảo.
Bị tình báo của ta thẩm vấnCơ quan tình báo ta xác định Phạm Xuân Ẩn là nhà báo Mỹ có uy tín, tại sao lại không di tản theo Mỹ? Ông ta ở lại đây nhằm mục đích gì? Hay Phạm Xuân Ẩn là người của ta?
Người được giao nhiệm vụ thẩm vấn ông Ẩn là sĩ quan tình báo kỳ cựu Mạc Lâm, người từng hỏi cung rất nhiều tướng tá địch, cũng như hỏi cung đa số phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc.
Ông Mạc Lâm kể lại trong sách khoảng 9h sáng, ông cùng một cán bộ tình báo của Miền đến khách sạn Continental. Phạm Xuân Ẩn là nhà báo hay tình báo? Điều đó làm cho Mạc Lâm trăn trở.
Phạm Xuân Ẩn ra mở cửa mời khách. Mạc Lâm hơi sững lại, không như những điều mình nghĩ về ông Ẩn. Phạm Xuân Ẩn không to cao, trắng trẻo, mà gầy, nước da đen, cặp mắt linh lợi, tay cầm điếu thuốc đang hút dở. Cất giọng miền Nam, ông Ẩn mời khách vào.
Liếc nhanh bao quát căn phòng, ông Mạc Lâm nhìn Phạm Xuân Ẩn rồi tự giới thiệu là cán bộ của Viện Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam. Ông muốn gặp nhà báo để được biết thêm về giai đoạn cuối cùng người Mỹ ở Việt Nam, nhất là cuộc di tản vừa qua.
Phạm Xuân Ẩn nhìn Mạc Lâm, trả lời với giọng nhỏ nhẹ là sẵn sàng kể những điều ông biết với tư cách một nhà báo. Còn những nội dung khác, ông xin phép buổi chiều sẽ kể tiếp.
Ông Mạc Lâm nhận xét Phạm Xuân Ẩn không tỏ ra lúng túng khi gặp người của cách mạng như một số người của chế độ cũ. Ông tự nhiên, thân tình, gọi cà phê mời khách rồi vừa hút thuốc vừa kể chuyện về người Mỹ ở Sài Gòn những ngày trước 30/4/1975. Những gì ông Mạc Lâm cần biết đã được giải đáp.
Khoảng hơn 11h, khách ra về, Phạm Xuân Ẩn hẹn chiều làm việc tiếp. Ông Mạc Lâm thấy bằng lòng với buổi gặp nhà báo. Ông Ẩn biết nhiều chuyện, kể tỉ mỉ nhiều điều Mạc Lâm chưa hề biết. Ông suy đoán: Có thể anh ta là một nhà báo thành thạo Sài Gòn.
Ăn cơm trưa xong, Mạc Lâm định ngủ một giấc chiều làm việc tiếp thì có điện thoại. Đầu dây bên kia từ Hà Nội của Cục Quân báo cho biết: Phạm Xuân Ẩn là người của ta đang chờ nhận nhiệm vụ.
Bìa cuốn Điệp viên hoàn hảo của Larry Berman (NXB Thông tấn, 2007).
Vì sao Phạm Xuân Ẩn không di tản?Cuốn sách Điệp viên hoàn hảo của tác giả Larry Berman nói khá rõ: Phạm Xuân Ẩn đã biết rằng khi quân giải phóng tấn công Sài Gòn, có ba nơi an toàn, đó lại đại sứ quán Pháp, bệnh viện Grall và khách sạn Continental của Pháp.
Phạm Xuân Ẩn có đầy những chìa khóa mà các bạn đồng nghiệp khi ra đi để lại. Ông quyết định tốt nhất là cùng mẹ đến ở tại phòng số 407 của Bob Shaplen tại khách sạn Continental.
Giáo sư Larry Berman cũng đã trực tiếp hỏi những nhà lãnh đạo Việt Nam để hiểu lý do Phạm Xuân Ẩn không di tản sang Mỹ cùng gia đình của mình.
"Có một điều mà Phạm Xuân Ẩn không hề biết, đó là thời điểm ấy đang có sự cân nhắc rất nghiêm túc của Quân ủy Trung ương thuộc Bộ Chính trị về việc có nên để ông tiếp tục công tác tình báo của mình tại Hoa Kỳ hay không”, Berman viết.
Chính đại tướng Văn Tiến Dũng cuối cùng đã quyết định nên để Phạm Xuân Ân ở lại Việt Nam.
"Nếu Phạm Xuân Ẩn tiếp tục công tác đó chắc chắn ông ấy sẽ thu được nhiều thông tin tình báo có giá trị cho đất nước. Tuy nhiên, sớm muộn gì, ông ấy cũng bị lộ ở nước ngoài và như vậy thì sự tổn thất sẽ rất lớn", tướng Dũng nói.
Giáo sư Larry Berman cũng hỏi ông Mai Chí Thọ về ý tưởng tiếp tục để ông Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo ở nước ngoài.
Ông Thọ nói: "Về mặt nghiệp vụ, đó là một ý tưởng hay. Vỏ bọc vẫn còn nguyên vẹn, ông ấy lại được người Mỹ tin cậy. Bản thân ông ấy cũng đã chuẩn bị ra đi và sẵn sàng ra đi. Nhưng đồng thời cũng có những ý kiến ngược lại rằng Phạm Xuân Ẩn đã sẵn sàng, nhưng còn các điều kiện khác nữa. Ông ấy đã làm việc quá nhiều rồi".
Bắt đầu lộ diện
Tại Sài Gòn, Phạm Xuân Ẩn buồn và lo lắng. Sau vài ngày ở khách sạn Continental, ông và mẹ về ở nhà. Ông cũng phải ra trình diện trước các nhà chức trách địa phương.
Ông điền vào tờ khai nghề nghiệp là nhà báo, làm việc cho tạp chí Time. Phạm Xuân Ẩn, theo nghĩa đen, là người của tạp chí Time ở Sài Gòn, giữ mối liên hệ với các đồng nghiệp cũ và đang đóng góp bài vở cho số báo sau 30/4/1975 của tạp chí này.
Ông gửi bằng telex bức điện tới New York, Mỹ: “Tất cả phóng viên Mỹ đã di tản vì tình trạng khẩn cấp. Văn phòng tạp chí Time hiện nay do Phạm Xuân Ẩn điều hành”.
Bài báo cuối cùng của ông phát đi được đăng trên tạp chí Time số ra ngày 12/5, mang tựa đề “Cuộc chia tay cuối cùng nghiệt ngã”.
Vài tuần sau ngày giải phóng, có người của lực lượng an ninh đến gặp ông và nói: “Ông thì OK”. Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Ông ta chỉ nói có vậy. Nhưng tôi hiểu tôi được an toàn rồi”.
Tài liệu về danh tính thật của Phạm Xuân Ẩn cuối cùng cũng được chuyển đến. Phạm Xuân Ẩn được xác nhận là “người 30 năm cách mạng” - một thuật ngữ được dùng để nói về những người đã tham gia đánh ngoại xâm trong ba thập kỷ qua.
Tác giả Điệp viên hoàn hảo cho biết đến lúc này, Phạm Xuân Ẩn được chính thức chuyển sang bên thắng trận. Điều này dễ nhận thấy vì số lượng gạo của ông được tăng thêm, được cấp phát quân phục hàm cấp tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Cuối tháng 3/1976, Phạm Xuân Ẩn được khuyên nên gọi gia đình trở về nước. Đối với nhiều người bạn của ông, cũng như các nhân viên trước đây làm việc cho tạp chí Time, đây là tín hiệu đầu tiên cho thấy Phạm Xuân Ẩn có thể từng làm việc cho phía bên kia.
Israel và thủ đoạn tình báo - tình dục trên đất Mỹ
Mossad (Cơ quan Tình báo hải ngoại của Israel) là cơ quan tình báo sử dụng đòn tình báo - tình dục (sexpionnage) thành công nhất. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và bắt đầu cuộc chiến chống lại người Hồi giáo do Mỹ khởi xướng, Israel đã tăng cường các hoạt động tình báo - tình dục trên khắp thế giới và nhất là ở Mỹ.
Bi thảm số phận 6 vị Hoàng hậu của vị vua đa tình, bạo ngược
Mỹ đã ngụy tạo tin tức tình báo về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ra sao?
Hé lộ nhân vật tình báo từng là người tình của Albert Einstein
Tình báo Anh đã sát hại cựu Tổng thống Ghana Kwame Nkrumah?
Cuộc đời bí ẩn của Hoa hậu Ba Lan trở thành nhân viên tình báo Anh
Để làm công việc này, Mossad đã thành lập hẳn một trung tâm tuyển
mộ và chỉ huy, dưới lốt một cơ quan nghiên cứu có tên gọi Viện Nghiên
cứu chống khủng bố 9/11, địa chỉ ở số 3811, phố Fairfax, quận Arlington,
thủ đô Washington. Người chỉ huy trực tiếp của cơ quan này không ai
khác hơn là Shabtai Shavit, chỉ huy các hoạt động hải ngoại của Mossad.
Năm 1998, Cipel được tuyển vào làm việc tại Lãnh sự quán Israel ở thành phố New York. Năm 2002, Cipel nhận nhiệm vụ tiếp cận McGreevey để làm mê mệt viên thống đốc trẻ này với thủ thuật đã được huấn luyện của mình. Nhờ sự nâng đỡ của “người tình” McGreevey, chẳng mấy chốc Cipel được bổ nhiệm làm thành viên Ban lãnh đạo Sở An ninh nội địa bang New Jersey.
Trở thành bạn tình của McGreevey, Golan Cipel tha hồ moi móc thông tin nhưng vẫn không lay chuyển được hành động trừng phạt hành vi kỳ thị chủng tộc của người Israel đối với người Hồi giáo tại bang New Jersey. Vì thế, Mossad lệnh cho Cipel phải làm cho McGreevey thân bại danh liệt. Vào tháng 4/2005, những thông tin về mối quan hệ tội lỗi của Thống đốc McGreevey bỗng xuất hiện trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Sau đó, xuất hiện lời thú nhận và tố cáo của Cipel rằng mình đã bị McGreevey quấy rối tình dục hàng chục lần suốt nhiều năm liền. Cipel còn tiết lộ đã bị ép buộc sinh hoạt tình dục với McGreevey tại căn hộ mà viên thống đốc này mua cho bạn tình không xa với căn nhà của hai vợ chồng ông ta. Tai tiếng này đã khiến McGreevey phải từ chức thống đốc vào tháng 7/2005.
Có lẽ nổi tiếng nhất trong các vụ tình báo - tình dục trên lãnh thổ Mỹ của Mossad phải kể đến vụ nữ thực tập sinh tại Nhà Trắng Monica Lewinsky có quan hệ tình ái với Tổng thống Bill Clinton và được giới tình báo xếp vào hàng siêu kinh điển của đòn tình báo - tình dục. Là một "Chim Nhạn" được tuyển mộ và đào tạo bởi Mossad ngay trên lãnh thổ Mỹ, Monica Lewinsky được Mossad dàn dựng trở thành thực tập sinh tại Nhà Trắng qua giới thiệu của một viên chức làm việc tại văn phòng Nhà Trắng, vốn là thành viên của Nhà thờ Do Thái giáo ở thành phố Los Angeles. Nhiệm vụ của Lewinsky là dùng những thủ thuật đã được huấn luyện bài bản của mình để quyến rũ ông Bill Clinton rồi sau đó yêu cầu vị Tổng thống đào hoa này trả tự do trước thời hạn cho một điệp viên Mossad đang bị giam giữ tại Mỹ là Jonathan Pollard.
Trong một cố gắng nhằm thoát khỏi sự khống chế của Mossad, Tổng thống Bill Clinton đã tìm cách đẩy Lewinsky đến làm việc tại Lầu Năm Góc. Tại đây, Lewinsky lại tiếp tục quyến rũ hai viên chức cao cấp để moi thông tin và đã mang thai đến nỗi phải được lệnh phá bỏ. Chỉ cho đến khi mối quan hệ giữa Mỹ - Isarel trở nên căng thẳng về vấn đề Palestine và để chuẩn bị cho chuyến công du đến Mỹ của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, Mossad mới quyết định cho bùng nổ vụ tai tiếng tình ái của ông Bill Clinton để gây áp lực. Cho đến nay, người ta vẫn không biết đã có bao nhiêu bí mật quốc gia của nước Mỹ đã được "Chim Nhạn" Lewinsky thu thập, nhưng có điều chắc chắn là Mossad đã rất thành công trong sử dụng đòn tình báo - tình dục của mình trên lãnh thổ Mỹ.
Văn Hòa An Ninh Thế Giới
"Chim Nhạn" Chandra Levy bị giết chết trong khi thi hành nhiệm vụ.
Một trong những nạn nhân của đòn tình báo - tình dục này là James
McGreevey, Thống đốc bang New Jersey, từ chức vào tháng 7/2005, do bị tố
cáo có quan hệ đồng tính với Golan Cipel, thành viên của Ban lãnh đạo
Sở An ninh nội địa bang New Jersey. Là thống đốc trẻ của một bang có
nhiều cộng đồng người Israel sinh sống, nhưng McGreevey lại thường xuyên
mạnh tay với các hành động kỳ thị sắc tộc và tôn giáo của người Israel
đối với người Hồi giáo, nhất là sau sự kiện 11/9/2001. Vì vậy, Mossad
lên kế hoạch hạ bệ McGreevey. Nhiệm vụ này được giao cho "Con Quạ" (điệp
viên nam) Golan Cipel, một người Mỹ gốc Israel, khi biết rằng viên
thống đốc trẻ có sở thích quan hệ tình dục đồng tính mặc dầu đã có vợ.Năm 1998, Cipel được tuyển vào làm việc tại Lãnh sự quán Israel ở thành phố New York. Năm 2002, Cipel nhận nhiệm vụ tiếp cận McGreevey để làm mê mệt viên thống đốc trẻ này với thủ thuật đã được huấn luyện của mình. Nhờ sự nâng đỡ của “người tình” McGreevey, chẳng mấy chốc Cipel được bổ nhiệm làm thành viên Ban lãnh đạo Sở An ninh nội địa bang New Jersey.
Trở thành bạn tình của McGreevey, Golan Cipel tha hồ moi móc thông tin nhưng vẫn không lay chuyển được hành động trừng phạt hành vi kỳ thị chủng tộc của người Israel đối với người Hồi giáo tại bang New Jersey. Vì thế, Mossad lệnh cho Cipel phải làm cho McGreevey thân bại danh liệt. Vào tháng 4/2005, những thông tin về mối quan hệ tội lỗi của Thống đốc McGreevey bỗng xuất hiện trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Sau đó, xuất hiện lời thú nhận và tố cáo của Cipel rằng mình đã bị McGreevey quấy rối tình dục hàng chục lần suốt nhiều năm liền. Cipel còn tiết lộ đã bị ép buộc sinh hoạt tình dục với McGreevey tại căn hộ mà viên thống đốc này mua cho bạn tình không xa với căn nhà của hai vợ chồng ông ta. Tai tiếng này đã khiến McGreevey phải từ chức thống đốc vào tháng 7/2005.
"Chim nhạn" Monica Lewinsky và Tổng thống Bill Clinton.
Trước đó vào năm 2001, một vụ tai tiếng tình ái khác cũng làm rúng
động chính trường Mỹ và kết thúc bằng cái chết khó hiểu của một phụ nữ
trẻ tên Chandra Levy. Là một "Chim Nhạn" (điệp viên nữ) của Mossad,
Chandra Levy nhận lệnh tiếp cận và dùng sắc đẹp của mình để quyến rũ
nghị sĩ Quốc hội thuộc đảng Dân chủ Gary Condit. Vào lúc đó, Condit là
thành viên Ủy ban Tình báo của Quốc hội Mỹ và nắm được nhiều thông tin
quan trọng liên quan đến Israel. Biết viên nghị sĩ, tuy đã lập gia đình,
nhưng vẫn còn thích trăng hoa nên Chandra Levy đã tìm cách mồi chài và
đã moi không biết bao nhiêu thông tin tình báo mật. Thế nhưng, điệp vụ
này lại kết thúc một cách bi thảm đối với Chandra Levy. Vào tháng
5/2002, những phần còn lại của thi thể Chandra Levy đã được phát hiện
tại một khu rừng trong Công viên quốc gia Rock Creek, phía bắc thủ đô
Washington, không xa căn nhà của nghị sĩ Gary Condit. Biết Chandra Levy
là một điệp viên của Mossad dùng mỹ nhân kế để thu thập thông tin từ
Gary Condit, nên bộ phận phản gián của FBI đã quyết định ra tay.Có lẽ nổi tiếng nhất trong các vụ tình báo - tình dục trên lãnh thổ Mỹ của Mossad phải kể đến vụ nữ thực tập sinh tại Nhà Trắng Monica Lewinsky có quan hệ tình ái với Tổng thống Bill Clinton và được giới tình báo xếp vào hàng siêu kinh điển của đòn tình báo - tình dục. Là một "Chim Nhạn" được tuyển mộ và đào tạo bởi Mossad ngay trên lãnh thổ Mỹ, Monica Lewinsky được Mossad dàn dựng trở thành thực tập sinh tại Nhà Trắng qua giới thiệu của một viên chức làm việc tại văn phòng Nhà Trắng, vốn là thành viên của Nhà thờ Do Thái giáo ở thành phố Los Angeles. Nhiệm vụ của Lewinsky là dùng những thủ thuật đã được huấn luyện bài bản của mình để quyến rũ ông Bill Clinton rồi sau đó yêu cầu vị Tổng thống đào hoa này trả tự do trước thời hạn cho một điệp viên Mossad đang bị giam giữ tại Mỹ là Jonathan Pollard.
Trong một cố gắng nhằm thoát khỏi sự khống chế của Mossad, Tổng thống Bill Clinton đã tìm cách đẩy Lewinsky đến làm việc tại Lầu Năm Góc. Tại đây, Lewinsky lại tiếp tục quyến rũ hai viên chức cao cấp để moi thông tin và đã mang thai đến nỗi phải được lệnh phá bỏ. Chỉ cho đến khi mối quan hệ giữa Mỹ - Isarel trở nên căng thẳng về vấn đề Palestine và để chuẩn bị cho chuyến công du đến Mỹ của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, Mossad mới quyết định cho bùng nổ vụ tai tiếng tình ái của ông Bill Clinton để gây áp lực. Cho đến nay, người ta vẫn không biết đã có bao nhiêu bí mật quốc gia của nước Mỹ đã được "Chim Nhạn" Lewinsky thu thập, nhưng có điều chắc chắn là Mossad đã rất thành công trong sử dụng đòn tình báo - tình dục của mình trên lãnh thổ Mỹ.
Nhận xét
Đăng nhận xét