TT&HĐ I - 4/c
Siêu không gian : Chúng ta đến từ đâu? | Khám phá vũ trụ (Thuyết Minh)
PHẦN I: CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ
“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
Lepnit.
CHƯƠNG IV: ĐỒNG HÓA VÀ DỊ HÓA
-Thế giới hiện thực có giới hạn; thế giới tưởng tượng là vô hạn.
Jean Jacques Rousseau
-Không gì giới hạn thành tựu hơn là suy nghĩ tủn mủn; không gì mở rộng những khả năng hơn là trí tưởng tượng được giải phóng.
William Arthur Ward
"Trí
tưởng tượng bị bóp méo dạy chúng ta rằng ánh sáng và bóng tối, dài và
ngắn, đen và trắng là những điều khác nhau và phải được phân biệt rõ
ràng; tuy nhiên, chúng không độc lập với nhau; chúng chỉ là những mặt
khác nhau của cùng một sự vật; chúng là những ngôn từ của một mối quan
hệ, chứ không phải là một hiện thực.”.
(Đức Phật)
(tiếp theo)
Từ xưa đến nay, các nhà triết học (duy vật) trong nhiều trường hợp đã
quan niệm khá đúng đắn về vật chất và vận động, nhưng chỉ dừng lại ở mức
độ coi vận động là thuộc tính của vật chất. Họ cho rằng thực thể của
thế giới là vật chất, cái tồn tại vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật - hiện
tượng. Thay vì chỉ quan niệm vận động đến mức độ là thuộc tính của vật chất, chúng ta cho rằng phải nhận thức vận động có vai trò cao hơn nữa, tức vận động phải là lý do tồn tại của vật chất. Nếu không là lý do, thì vật chất vận động để làm gì!? Vì chưa nhận thức được đích xác vật chất là gì nên quan niệm đó
của các nhà triết học duy vật vẫn hàm chứa mâu thuẫn nội tại. Có thể nói Tồn Tại là thể hiện, muốn tồn tại, thì phải thể hiện. Muốn thể hiện phải chuyển hóa. Do đó mà có vận động. Thế giới này chỉ là sự tồn tại cho nên vận động là một quá trình liên tục, tận cùng ngõ ngách của tồn tại, không có bắt đầu cũng như kết thúc.
Như chúng ta đã từng đề cập, các nhà triết học cổ đại đã đồng nhất vật
chất với những dạng cụ thể của nó như không khí, đất, nước, lửa, nguyên
tử… hoặc sự kết hợp giữa chúng.
| Quốc tịch | Người Anh |
|---|---|
| Thời đại | Phục hưng Anh, Cách mạng khoa học |
| Lĩnh vực | Triết học phương Tây |
| Chữ ký | |
Ở Châu Âu, từ thời phục hưng đến thời cận đại (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XVIII), nhờ sự phát triển mạnh của khoa học tự nhiên, khái niệm vật chất
đã có bước phát triển mới. Phranxi Bêcơn coi thế giới vật chất tồn tại
khách quan, vật chất là tổng hợp các hạt, coi tự nhiên là gồm những vật
thể muôn màu muôn vẻ và vận động là thuộc tính không tách rời khỏi vật
chất. Đêcactơ đã xuất phát từ vật chất vận động để giải thích thế giới.
Ông cho rằng: Vũ Trụ là vật chất; vật chất bao gồm những hạt nhỏ có thể
phân chia đến vô tận, các hạt vật chất luôn vận động thay đổi vị trí
trong không gian (nghĩa là trong cái thể tích tuyệt đối trống rỗng đến
vô hạn hay Hư Vô!!!). Nhà triết học Xpinôza quan niệm: chỉ có tự nhiên là tồn tại, tự
nhiên là nguyên nhân tự nó, để tồn tại thì tự nhiên chẳng cần cái gì
khác. Ông phân biệt thế giới của những sự vật hữu hạn với thực thể; thực
thể là thống nhất còn vật hữu hạn thì nhiều vô kể. Theo Điđơrô, trong
Vũ Trụ, trong con người, trong mọi sự vật chỉ có một thực thể duy nhất
là vật chất. Vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác. Bản tính
cố hữu của vật chất là vận động, vận động là năng lực sống động của vật
chất…
Nhà triết học Baruch Spinoza
| Thời đại |
Triết học thế kỉ 17 |
|---|---|
| Lĩnh vực | Triết học phương Tây |
| Trường phái | Chủ nghĩa duy lý, sáng lập chủ nghĩa Spinoza |
| Sở thích | Luân lý học, Nhận thức luận, Siêu hình học |
| Ý tưởng nổi trội | Thuyết phiếm thần, Thuyết nhất nguyên trung hòa, Tự do tôn giáo và tri thức/sự tách biệt giữa Nhà thờ và Nhà nước, Criticism of Mosaic authorship of certain Old Testament books, Xã hội chính trị xuất phát từ quyền lực, không phải khế ước |
Triết học duy vật biện chứng ra đời là đỉnh cao mới của nhận thức con
người về Tồn Tại (nó là sự kế thừa những tinh hoa của nền triết học
Phương Tây và được phát triển thêm nhờ ba bộ não thiên tài: F.Hêghen, C. Mác, Ph.
Anghen, và những người sáng lập). Nó đã là một học thuyết có
quan niệm, trong vài quan niệm đúng đắn nhất từ trước đến nay của loài
người về Tồn Tại, Tự Nhiên, vật chất và vận động, nhưng vẫn chưa triệt
để và toàn diện, thậm chí là không ít khiếm khuyết (xin nhấn mạnh là chỉ
nói riêng về mặt nhận thức Tự Nhiên thôi chứ ở đây không bao gồm cả mặt
nhận thức xã hội, nhưng muốn nói bao gồm cả thì nhận định như thế...vẫn
đúng phóc luôn!!!). Nói thêm, dù sao triết học duy vật biện chứng vẫn
là triết học có sự giải thích "kín kẽ" nhất về Tự Nhiên cho đến nay mà
loài người có được.
Theo quan niệm của triết học duy vật biện chứng thì thế giới khách quan
tồn tại như một chỉnh thể mà bản chất của nó là vật chất. Chỉ có một thế
giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất, tồn tại khách quan,
có trước và không phụ thuộc vào ý thức con người. V. I. Lênin viết: “Vật
chất là cái gì tác động vào giác quan chúng ta gây ra cảm giác; vật
chất là thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm
giác,v.v…
… đặc tính duy nhất của vật chất… là cái đặc tính thực tại khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta.”
Triết học duy vật biện chứng cho rằng vật chất là vô hạn, vô tận, không
sinh ra, không mất đi và vận động là thuộc tính không thể tách rời vật
chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc được sáng
tạo ra. Ph. Anghen viết: “… chúng ta biết rằng người ta không thể sáng
tạo ra vật chất cũng như không thể sáng tạo ra phương thức tồn tại của
vật chất, tức sự vận động, rằng do đó vật chất và phương thức tồn tại
của nó là nguyên nhân cuối cùng của bản thân chúng…”; “… Tồn tại, rốt
cuộc, vẫn là một vấn đề còn phải giải quyết. Tính thống nhất chân chính
của thế giới là ở tính vật chất của nó, tính vật chất ấy được chứng minh
không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà do
một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự
nhiên”.
Cần phải thấy điều này: triết học duy vật biện chứng dù đã suy luận
đúng, sắc sảo về nhiều mặt nhưng chưa phải tất cả, thậm chí vẫn chưa
nhận chân được căn nguyên của Tự Nhiên Tồn Tại, vẫn chưa nhận thức được
sự khác biệt tương đối giữa vật chất vận động trong không-thời gian và
tổng thể thống nhất không-thời gian, các sự vật - hiện tượng cùng với
những tác động qua lại không ngừng giữa chúng, điều mà Phật Giáo đã phần
nào mường tượng ra được trong mơ hồ . (Tuy nhiên, cả hai quan niệm đều
hàm chứa mâu thuẫn nội tại "chết người", không thể khắc phục được trong
bản thân chúng!). Họ đâu biết rằng vận động vật chất chính là biểu hiện của không gian chuyển hóa.
Theo chúng ta thì vật chất và vận động vật chất vừa chính là Tự Nhiên
Tồn Tại, vừa là sự thể hiện của Tự Nhiên Tồn Tại. Sự thể hiện ấy bộc lộ
ra thành một Vũ Trụ tổng thể bao gồm mọi sự vật - hiện tượng vừa vận
động nội tại, vừa tác động chuyển hóa lẫn nhau, đóng vai trò độc lập
tương đối để tác động ngược lại vật chất và vận động vật chất, sự vật -
hiện tượng nền tảng, căn nguyên. Hơn nữa (đây mới là điều tuyệt diệu của
tuyệt diệu!), chính đặc tính Thể Hiện của Tồn Tại đã là tiền đề dẫn đến
cho phép chúng ta, dù chỉ là một trong vô kể các sự vật - hiện tượng,
có khả năng có thể cảm giác được sự tác động, chuyển hóa của các sự vật -
hiện tượng khác, thông qua đó mà cũng có khả năng (gián tiếp thôi nhé!)
nhận thức được vật chất và vận động vật chất cũng như Tự Nhiên Tồn Tại.
Đó là điều quá lạ lùng! Nhưng nếu không quan niệm như thế thì sẽ không
còn cách nào hiểu được sự thực khách quan và đồng thời cũng chẳng bao
giờ lý giải được các hiện tượng tồn tại trong tư duy cũng như những hiện
tượng tâm linh.
Tin rằng một ngày không xa, bản chất của vật chất sẽ bị phơi bày ra
trước loài người; trước một trong những vật thể tò mò nhất và thông minh
nhất Vũ Trụ! (chưa chắc là thông minh nhất!)
Chưa hết, còn một điều quá lạ lùng nữa là phải quan niệm vận động vừa là
thuộc tính của vật chất lại vừa là chính vật chất. Quan niệm như thế sẽ
dẫn đến mâu thuẫn gay gắt không thể dung hòa được trong hệ thống khái
niệm, và không thể nhận thức được, nhưng nếu không quan niệm như thế thì
chỉ còn cách quay trở lại đi theo vết xe đổ hoặc là phải thừa nhận tồn
tại thực thể Tinh Thần Tối Cao, buộc phải có cái “hích” đầu tiên ngoài
Tồn Tại, và như thế thì thà chúng ta dừng cuộc hành trình ở đây còn hơn,
đi nữa sẽ gặp “tai biến”, dẫn đến bế tắc. (Hình như bệnh béo phì của
triết học có nguyên nhân từ đây thì phải?!)
Hệ thống khái niệm của con người được xây dựng nên bắt đầu từ những đơn
vị khái niệm rời rạc mà chúng ta đã cực đoan bứt, hái ra khỏi thực tại
khách quan: Do đó nhận thức của chúng ta về vật chất vận động, thông qua
hệ thống khái niệm ít nhiều không thoát được tính chủ quan, siêu hình
ấy, đã vấp phải những mâu thuẫn logic không dung hòa được. Đáng lẽ phải
thấy được tính không toàn năng của hệ thống khái niệm mà chúng ta đã tạo
dựng (vì nếu là toàn năng thì nó lại là công trình của Chúa mất rồi! Mà Chúa, như chúng ta đã nói tới, là không thể có, hoặc nếu có thì chỉ là tồn tại ảo trong tâm tưởng)
để tìm cách vượt qua những mâu thuẫn lôgic (chấp nhận có mâu thuẫn logic
vì đó cũng là sự phản ánh tính mâu thuẫn của Tồn Tại trước nhận thức),
thì chúng ta lại quay sang bóp méo Tồn Tại để thỏa hiệp (trong tư duy).
Có lẽ vì thế mà nhiều nhà triết học xưa và nay chỉ nhìn thấy sự trái
ngược, sự mâu thuẫn, sự thể hiện hai mặt như là những biểu hiện hình
thức của sự vật - hiện tượng chứ chưa thấy được chúng vừa là những phản
ánh cái đặc tính cơ bản vừa chính là cái bản chất “nước đôi” của Tự
Nhiên Tồn Tại. Hơn nữa một số người còn cho mâu thuẫn có một tầm quyết
định đối với sự sống còn của các sự vật - hiện tượng. Heghen
(1770-1831), đại biểu xuất sắc của nền triết học cổ điển Đức còn cho
rằng: mâu thuẫn là nguồn gốc bên trong của sự vận động và phát triển của
các sự vật - hiện tượng. Khi kế thừa có phê phán phép biện chứng của
Hêghen để xây dựng nên thuyết triết học duy vật biện chứng của mình, Mác
cũng thừa nhận luận điểm của Hêghen về mâu thuẫn và coi như là một
trong những qui luật cơ bản, phổ biến của tự nhiên: qui luật thống nhất
và đấu tranh giữa các mặt đối lập (còn gọi là qui luật mâu thuẫn)
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Nhà triết học
Georg
Wilhelm Friedrich Hegel là một nhà triết học người Đức. Cùng với Johann
Gottlieb Fichte và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, Hegel được coi
là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức. Wikipedia
Sinh: 27 tháng 8, 1770, Stuttgart, Đức
Mất: 14 tháng 11, 1831, Berlin, Đức
Khái niệm mâu thuẫn ban đầu là để chỉ những mặt, những tác động, những
quá trình trái ngược nhau và có lẽ chỉ có thế. Việc đề cao quá đáng vai
trò của mâu thuẫn như là nguồn gốc của sự vận động và phát triển đã buộc
phải làm hình thành nên cái gọi là mâu thuẫn biện chứng. Sự thêm vào từ
“biện chứng” đã làm cho khái niệm mâu thuẫn trở nên có “quyền lực” to
lớn đến mức huyền bí. Trong tư duy, khi vấp phải một mâu thuẫn logic
hình thức mà không giải quyết nổi (không phải là do ngụy biện, không
phạm vào luật đồng nhất! …, nghĩa là không phải là kết quả của một sự
sai lầm nào) thì lúc đó, như một cứu cánh cuối cùng, “biện chứng” được
đưa ra (và cũng chưa chắc đã giải quyết được!). Người ta nói rằng mâu
thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và
là nguồn gốc phát triển của nhận thức chứ không phải là ngẫu nhiên, chủ
quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong logic hình thức, cái thể hiện
sai lầm của tư duy. Nói như thế e rằng chưa đúng hẳn. Nếu cho rằng nhận
thức là quang cảnh của sự thực khách quan trong tư duy và tư duy cũng
chính là tồn tại thì cả hai “kiểu” mâu thuẫn ấy đều cùng là sự phản ánh
của tính mâu thuẫn phổ biến của sự thực khách quan. Chúng ta không hiểu
được điều đó! Thực ra, do bị hạn chế bởi nhận thức có tính thời đại về
Tự Nhiên mà cái qui luật được Hêghen nêu ra và sau đó được Mác kế thừa,
làm sâu sắc thêm, vẫn chỉ là một suy kết máy móc nặng tính hình thức từ
quan sát trực giác hiện thực, mới đạt mức "mô tả" gần đúng một hiện
tượng đặc trưng có tính phổ biến của vận động vật chất.
Nếu tư duy như là một tấm gương soi trước một sự vật - hiện tượng thì
hình ảnh trong gương sẽ là những mặt được phản ánh của sự vật - hiện
tượng đó. Nếu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài gương (ảnh
hưởng khách quan) và nếu gương là đồng nhất, phẳng phiu, không tỳ vết
thì hình ảnh trong gương được coi là sự phản ánh chính xác hiện thực
(những mặt, phần của sự vật - hiện tượng soi lên gương). Ngược lại, do
ảnh hưởng chủ quan (gương bị méo, tỳ vết, cong vênh …) thì sự phản ánh
ấy không còn chính xác nữa mà đã bị sai lệch, thậm chí thành hai hay
nhiều hình ảnh méo mó kỳ dị. Nhưng cho dù có đạt mức độ chính xác đến
mấy đi nữa thì gương cũng không thể phản ánh một cách toàn diện sự
vật-hiện tượng trong cùng một lúc được. Đó cũng chính là vấn đề của quan
sát và tư duy nhận thức.
Có lẽ cũng đã xảy ra tình hình như thế trong quá trình nhận thức triết
học về Tự Nhiên Tồn Tại chăng? Phải chăng những mâu thuẫn, nghịch lý xảy
ra trong logic hình thức cũng như trong khoa học khác đã mách bảo về sự
còn hạn chế nhiều mặt của trình độ nhận thức của chúng ta? Có thể coi
mâu thuẫn logic là trường hợp riêng của mâu thuẫn và mâu thuẫn biện
chứng là nói về sự vận động của mâu thuẫn được không? Hay hơn nữa, chúng
ta có thể đặt ra giả thuyết thế này: bản thân Tự Nhiên Tồn Tại không có
mâu thuẫn gì cả, chỉ khi qua nhận thức nó mới trở nên có mâu thuẫn, có
nghịch lý, thậm chí là có cả phi lý và phép biện chứng là một trong
những cố gắng của con người nhằm lý giải những “trớ trêu” của một hiện
thực méo mó?
Hêghen đã cố gắng chứng minh rằng tư duy với tư cách là một bản chất
mang tính thực thể thì không tồn tại ở bên ngoài thế giới, mà tồn tại
ngay trong chính thế giới, làm thành nội dung bên trong của thế giới và
thể hiện ra trong toàn bộ sự phong phú đa dạng muôn vẻ của các hiện
tượng. Theo nghĩa đó, Hêghen quả quyết rằng bất luận một triết học chân
chính nào thì cũng đều mang tính chất “phiếm chân lý”.
Lôgic học là một khoa học làm say mê lòng người bởi tính chân lý của nó
cũng như bởi biết bao nhiêu câu chuyện vừa thi vị vừa trí tuệ vừa lạ
lùng sinh ra từ nó. Nó như một khối hoa cương đẹp đẽ, sáng ngời một cách
huyền hoặc mà con người đã khắc tạc nên được từ hệ thống khái niệm của mình. Lôgic hình thức đã, đang, và
mãi là một pho tượng duy lý đượm màu chủ quan của tư duy con người.
Rồi đây, nó sẽ được "minh oan" (thoát khỏi cái mác “hình thức” mà người ta
đã gán cho nó) khi mà bản chất “nước đôi” của Tồn Tại được nhận thức
phanh phui đến tận cội rễ; khi mà phép biện chứng biết trở về như một bộ
phận của nó, hỗ trợ nó làm cho nó lớn mạnh lên, thành một logic học duy nhất đúng chứ không phải ngược lại …
Nhưng thôi, chúng ta chuyển hành trình theo hướng khác, đừng để sự sa lầy nuốt chửng!
Chúng ta đã định tìm cách chứng minh vận động cũng chính là vật chất
nhưng thật là khó khăn. Chúng ta đã lưu lạc và bắt đầu dở trò nhảm nhí, gàn
bướng. Cần phải biết dừng lại và đổi hướng rong chơi trước khi quá muộn,
không cần phải thanh minh gì thêm vì như Aristote, ông tổ của logic học
nói: “Con người có trí lực ngắn thì lời nói thường rất dài”. Và “Người
nào thừa nhận cái chia rẽ là chia rẽ, cái liên kết là liên kết thì người
đó có lý; người nào có kiến giải không phù hợp với sự vật thì người đó
sai lầm”. Thật khó mà hiểu nổi Aristote-một thiên tài bách khoa thời cổ
đại với khối quan niệm lẫn lộn đúng-sai khổng lồ của ông!
Nếu chúng ta sai lầm? Có sao đâu? Khoa học thiên văn, tin theo thuyết địa tâm của Ptôlêmê, mắc sai lầm đến hơn 1000 năm còn chưa sao nữa kia mà!
Dù sao thì ở đây có một khẳng định dứt khoát: vì không có thứ vật chất đứng im nên vận động không chỉ là thuộc tính của vật chất mà hơn thế nữa, vận động chính là vật chất thể hiện trong thời gian. Không có thời gian, tức không còn vận động, thì không những vật chất sẽ biến mất mà Tồn Tại cũng không còn!
* * *
Để
xoa dịu căng thẳng vì chút xíu nữa thì lọt vào bãi lầy. Chúng ta có
quyền tự thưởng cho mình vài ba câu chuyện nhẹ nhàng mang tính kinh
điển.
“Mâu thuẫn” là từ mượn của Trung Quốc. Nguồn gốc của nó là thế này:
“Ngày xưa, có người nước Sở vừa bán mộc (Thuẫn) vừa bán giáo (Mâu). Ai
hỏi mua mộc thì anh ta khoe rằng mộc của anh ta rất chắc, không gì đâm
thủng được. Ai hỏi mua giáo thì anh ta lại khoe giáo của anh ta rất sắc,
rất cứng, đâm thủng bất cứ cái gì.
Có người thấy vậy hỏi rằng: “thế lấy cái giáo của bác đâm vào cái mộc của bác thì thế nào?”Anh ta chịu, không đáp được.”
Như thế, vô tình người bán mộc và giáo đã nói dối.
Nói đến sự nói dối, chúng ta nhớ đến một nghịch lý cổ xưa mà đến nay vẫn còn được nhắc đến rất nhiều, nó có tên là “nghịch lý về lời nói dối”. Đã có rất nhiều câu chuyện dùng để diễn tả nghịch lý này. Một trong số những chuyện đó như sau:
“Empimenid là một tín đồ Cơ đốc giáo. Ông đã tuyên bố một cách “xanh rờn”:
- Tất cả các con chiên Cơ đốc giáo đều nói dối!
Tuyên bố như thế có nghĩa bản thân ông cũng là người nói dối. Do đó câu
nói trên phải là câu nói thật. Nếu thế thì ông phải là người nói thật.
Nhưng nếu ông nói thật thì ông lại phải là người nói dối …” Thế thì
Empimenid nói thật hay nói dối? Đó chính là một câu hỏi “mù tịt” và
chúng ta chỉ có thể trả lời theo cách “nước đôi”: nếu lời tuyên bố đó là
thật thì ông ta là kẻ nói dối trong quá khứ và cả ở tương lai, chỉ ngay
lúc tuyên bố là nói thật, ngược lại nếu lời tuyên bố đó là dối trá thì
chỉ lúc đó ông ta là người dối trá còn cả quá khứ lẫn tương lai ông đều
nói thật. Trường hợp cuối cùng là ông ta chẳng nói dối mà cũng chẳng nói
thật, ông ta tuyên bố bừa bãi (câu chuyện sẽ hay hơn, loại bỏ mọi phiền
toái có thể xảy ra nếu cho một người bình thường tuyên bố: “tôi là
người nói dối!”).
Nghe đâu “nghịch lý về người nói dối” đã làm nhà triết học cổ Hy Lạp
Kronos phát uất lên mà chết và triết gia nào đó có tên Phillip Kossky đã
tự kết liễu đời mình vì không giải được.
Liên quan đến cách trả lời “nước đôi” còn có nghịch lý mang tên “nghịch lý người thợ cạo”:“Ở một làng nọ có duy nhất một ông thợ cạo. Quan trên phán rằng:
- Thợ cạo chỉ được cạo râu cho dân làng nào không tự cạo râu cho mình.
Để khỏi vi phạm lệnh trên, ông thợ cạo không bao giờ được cạo râu cho mình. Vì nếu ngược lại thì ông là người tự cạo râu và như thế ông không được cạo cho chính ông”.
Trước phán quan mù tịt ấy, có cách nào ông thợ cạo cạo được râu cho mình
mà không phạm lệnh không? Trước hết, tuân lệnh quan, ông thợ cạo để
râu. Râu không được cạo, mọc dài mãi ra. Điều đó có nghĩa là ông thợ cạo
không tự cạo râu; suy ra được cạo râu cho mình. Cạo râu cho mình xong
thì rõ ràng là ông ta đã tự cạo râu nên không được cạo râu cho mình nữa.
Râu ông lại mọc dài ra mãi, vì không ai cạo râu cho ông cả. Ông trở
thành người không tự cạo râu và như vậy ông được tự cạo râu cho mình. Cứ
thế… cái lệnh “mù tịt” luôn được tuân thủ như là chưa từng có lệnh ấy.
Còn một cách nữa, hơi có vẻ gàn một chút: là ông thợ cạo không phải là
không cạo râu mà cũng không phải là không không cạo râu. Ông ta “gặt”
râu!!!
Tương tự, còn có câu chuyện: “chém đầu hay treo cổ”:
“Một vị vua ban án tử hình cho phạm nhân rồi còn cho phép tử tội nói một câu cuối cùng. Có hai lối hành quyết, nếu nó nói đúng thì bị chém đầu, còn nói không đúng thì bị treo cổ.
Người tử tội nói:
- Tôi bị treo cổ.
Cả triều đình và vị vua họp bàn mãi mà không tìm ra được giải pháp nào nên đành phải trả tự do cho người tử tù”.
Và chuyện này cũng rất hay:
“Prôtagoras vừa là một nhà triết học ngụy biện (?) vừa là một luật gia. Có một người theo học về thuật ngụy biện tên là Evalt. Thấy Evalt nghèo, túng tiền, Protagoras đã ra điều kiện: Evalt học xong, làm trạng sư, nếu cãi thắng trong vụ kiện đầu tiên thì lúc đó hẵng trả tiền học phí, còn thua thì thôi.
Evalt học xong, ra đời làm thầy kiện, chưa tham gia được vụ kiện nào đã tuyên bố vung vít rằng sẽ không trả một xu nào cho Protagoras, thầy dạy mình.
Tức quá, Protagoras đâm đơn kiện đứa học trò “trời đánh”, đòi tiền học phí.
Biết tin, Evalt bèn viết gửi cho thầy mình như sau: “Thầy đưa tôi ra tòa để làm gì? Vì theo lời cam kết khi xưa, tôi có thắng kiện hay thua kiện thì đằng nào tôi cũng khỏi phải trả học phí cho thầy mà!”
Prôtagoras mỉm cười, cho rằng đứa học trò của mình đã đắc đạo ngụy biện!”
Kể cũng hay! Nếu Evalt thua kiện thì rõ ràng theo thỏa thuận không phải trả tiền; còn nếu thắng kiện thì có nghĩa tòa phán nó khỏi trả tiền, nhưng theo thỏa thuận thì nó phải trả tiền mà đã trả tiền thì nó đâu thắng kiện… Do vậy nó chẳng trả tiền!
Thật là trơ tráo! Nhưng cái trơ tráo ấy cũng dễ bề tha thứ đối với một anh học trò nghèo láu lỉnh, dù là cũng “tệ” nhưng không tệ bằng cái trơ tráo của những ông vua bà chúa hợm hĩnh.
“Cũng thời cổ Hi lạp có ông vua tên là Đôni, sính văn chương nên cũng tập tành làm thơ. Quần thần là một lũ nịnh hót nên bao giờ cũng khen lấy khen để thơ của nhà vua.
Nghe tiếng Philôxen, một nhà thơ nổi tiếng, vua liền sai người triệu về kinh và đưa bài thơ được cho là hay nhất ra.
Nhà thơ xem xong thật thà nói:
- Tâu bệ hạ, bài thơ này cần phải sửa chữa nhiều mới gọi là thơ được.
Bẽ mặt trước quần thần, nhà vua nổi giận tống giam nhà thơ.
Vài hôm sau, có tiệc, vua hạ lệnh cho nhà thơ ở trong ngục ra dự. Vua lại đưa một bài thơ khác. Nhà thơ xem xong, buồn bã quay lại nói người lính canh:
- Xin làm ơn đưa tôi trở lại nhà giam!”
Có lẽ rút kinh nghiệm từ chuyện này mà nhà văn Boalô (1636 - 1711) đã nhanh trí thoát được oái oăm:
“Một hôm vua Lui XIV của nước Pháp gọi nhà văn đến cho xem một bài thơ nhà vua mới sáng tác. Sau khi nhà văn đọc xong, vua hỏi:
- Khanh nghĩ thế nào về bài thơ của trẫm?
Nhà văn điềm tĩnh đáp:
- Tâu bệ hạ, với bệ hạ thì không có việc gì lại không thể làm được. Hạ thần nghĩ là bệ hạ đã cố ý làm một bài thơ thật dở và đã thành công mĩ mãn.”
Bồ-đề-đạt-ma, 9 năm diện bích.
Chuyện vui, giai thoại, điển tích liên quan đến khái niệm, chữ nghĩa thì
nhiều vô cùng. Chúng ta có nghe có đọc cả đời cũng chưa hết. Để gọi là
đủ Đông Tây Kim Cổ, chúng ta sẽ kể thêm vài câu chuyện cổ Phương Đông
nữa (trích từ những điển tích, truyền thuyết Phật Giáo):
“Bồ Đề Đạt Ma xuất gia, theo Bát Nhã Đa La học Phật pháp. Lúc lâm chung, Bát Nhã Đa La có dặn rằng:- Sau khi ta mất 60 năm, con hãy đến Chấn Đán truyền bá Thiền pháp!”
Chấn Đán là cách gọi của người Ấn Độ thời cổ đối với Trung Quốc.
Năm 527, theo di huấn của thầy, Đạt Ma sang Trung Hoa, được vua nhà
Lương là Vũ Đế, cho mời gặp (Vũ Đế là vị vua sùng tín, có tên tuổi lẫy
lừng trong lịch sử Phật pháp Trung Quốc, trong thời gian trị vì đã cho
xây cất vô số chùa, viết vô số kinh, độ vô số tăng), hỏi Đạt Ma:
- Đời trẫm làm chùa, viết kinh, độ tăng được nhiều lắm, không biết bao nhiêu mà kể. Công đức như thế sẽ như thế nào?Trước câu hỏi nặng nghĩa kể công ấy, nhà vua đã không ngờ Đạt Ma lại trả lời:
- Làm như thế, dẫu là công đức cũng chỉ là sự quả báo giữa trời, còn kém xa công đức của Đại Thừa (một tông phái Phật Giáo).
Vũ Đế ngỡ ngàng hỏi lại:
- Công đức của Đại Thừa như ngài nói là thế nào?
Đạt ma đáp:
- Tĩnh trí diệu minh, thể tự không tịch. Đó là công đức của Đại Thừa. Công đức ấy, người đời khó làm nổi.
Vũ Đế nghĩ: “Công đức phải là do người làm ra, đó là đạo lý mà mọi người
đều biết; vậy mà lại nói người đời khó làm nổi, như thế có trái với lẽ
thường chăng?” bèn thử xem học vấn của Đạt Ma ra sao, liền hỏi:
- Thế nào là nghĩa lý cao tột nhất của bậc thánh?Đạt Ma đáp:
- Trong chỗ rỗng rang chẳng có bậc thánh.
Khổ tập diệt đạo là thánh đế của Phật pháp, người học Phật Giáo ai mà
chẳng hiểu. Vậy mà vị tăng này lại trả lời như vậy há không phải là kẻ
tầm thường ư? Nghĩ vậy, Vũ Đế không giữ phép cung kính nữa, lớn tiếng
hỏi:
- Trước mặt trẫm đây là kẻ nào vậy?Đạt Ma đáp:
- Không biết!
Thế là Vũ Đế sai người đưa Đạt Ma ra khỏi cung, mặc cho phiêu dạt. Đạt Ma ra đi, vượt sông lên phía Bắc, vào chùa Thiếu Lâm ở núi Tung Sơn; trở thành tổ sư đầu tiên của Thiền Tông Trung Quốc.”
Vua Vũ Đế, vốn đầy nhiệt tình với Phật pháp nhưng mới hiểu biết ở mức độ
đơn thuần trong phạm vi tạo phước, làm lành mà chưa thấu được đạo lý
của Thiền, vì vậy cũng không tỉnh ngộ được điều gì từ những ẩn ngữ then
chốt, tàng ẩn, căn cơ của Thiền trong lời lẽ của Bồ Đề Đạt Ma.
Câu “tĩnh trí diệu minh, thể tự không tịch” là chỉ trạng thái khai ngộ
của người theo thiền, nghĩa là mỗi người chỉ có tính phật khi mở mang ra
cho mình và tự mình khai ngộ (nhận ra chân lý), đó mới là công đức chân
chính. Theo đạo lý của Thiền, người khai ngộ thực sự là người đã vượt
qua tất cả mọi sự khác biệt, vượt ra khỏi tôn ti, trên dưới, tốt xấu,
vinh nhục, phàm tục, thánh nhân. Tất cả sự khác biệt đều chỉ là sự bất
đồng về khái niệm, ngôn từ mà thôi.
Điều thú vị nhất, gây cảm xúc mạnh nhất là câu trả lời cuối cùng của Bồ Đề Đạt Ma.
Có người hiểu rằng: Bồ Đề Đạt Ma trả lời như thế là vì hờn dỗi trước câu
hỏi có phần khiếm nhã của Vũ Đế. Cũng có người hiểu rằng: vì Bồ Đề Đạt
Ma không muốn nói về mình, tránh mọi sự tranh luận về ngôn ngữ, khái
niệm. Những cách hiểu đó đều không đúng vì một người thông hiểu phật
pháp và đang hành đạo không câu nệ như thế.
Sự thật lại rất giản đơn: Bồ Đề Đạt Ma đã thực sự không biết phải trả
lời như thế nào cả. Theo quan niệm của Thiền thì một thực tại là chính
nó chứ không phải là một thực tại nào khác, và ở mức cùng tột thì cũng
chỉ là cái “không” như nhất (mất hết khái niệm). Bồ Đề Đạt Ma đang là
chính mình và không thể là bất cứ ai khác, chẳng là ai cả nên chẳng trả
lời được câu hỏi “là kẻ nào vậy?”.
Theo chúng ta thì câu hỏi “Trước mặt trẫm là kẻ nào vậy?” là câu hỏi
cũng thuộc về những câu hỏi “mù tịt”. Trước đó Vũ Đế phải biết Bồ Đề Đạt
Ma là ai rồi mới vời đến yết kiến; biết rằng đó là Bồ Đề Đạt Ma, là một
sư tăng, là một người Ấn Độ … Bồ Đề Đạt Ma ắt hẳn là cũng biết điều đó,
cho nên trước câu hỏi của nhà vua, ngài đã không thể hiểu nổi “kẻ nào
vậy” là ai nữa nên câu trả lời sẽ phải như thế: chính xác và … mù tịt
nốt.
Nên nhớ rằng khi bắt đầu có khái niệm thì chỉ là những khái niệm đơn,
Cái đó, cái này, cái kia … là những qui ước để chỉ một cách trực tiếp sự
vật - hiện tượng rời rạc, đơn lẻ. Trước sự đa dạng phong phú của sự vật
- hiện tượng, để nhận biết được, truyền đạt được thì phải hệ thống hóa
khái niệm, phải phân biệt cái giống nhau và cái khác nhau để sắp xếp
phân loại cho dễ nhớ, dễ truyền đạt mà sự so sánh ra đời. Logic hình
thức được xây dựng nên (như một tất yếu) từ phép so sánh bằng: nếu sự
vật - hiện tượng này (qui ước là S) mà giống sự vật - hiện tượng kia
(qui ước là P) thì được gọi. S là P (và ký hiệu: S = P) (cây là thực
vật).
Ngôn ngữ Thiền không chấp nhận điều đó: S là S hoặc không S chứ không
thể là P được (tôi là tôi hoặc không tôi chứ không thể là ai đó được!).Dung hòa thế nào đây? Có một cách gọi là cách trung dung. Chúng ta sẽ trình bày ngắn gọn thôi:
Một thực tại, ngay lúc ấy, chỉ là nó chứ không thể là bất cứ cái nào
khác. Đó là chân lý tuyệt đối. Khi nó được đặt tên là S (hoặc P) thì S
là một nhãn mác (tên gọi), ý niệm (khái niệm), một qui ước về nó và đồng
thời nó đã được nhận thức; hay ta nói S là thực tại "đã qua" tư duy. Dù
sao S cũng chính là thực tại đó chứ không bị hiểu như là cái khác, do
vậy trong tư duy, S là S cũng là một chân lý tuyệt đối.
Theo quan niệm Phật Giáo, cái thực tại quan sát được đặt tên là S ấy,
bản thân nó chỉ là một giả hợp, nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
chằng chịt xét cho cùng là thuộc về chân không như nhất cho nên S chỉ
là cái vỏ khái niệm, cái tên qui ước mà người ta gán cho nó chứ nó cũng
chẳng phải là S. Dù là giả hợp nhưng vẫn tồn tại tương đối (Phật Giáo
đồng ý như vậy), nên có thể gọi nó là S, và ngay lúc ấy (ta có thể mở
rộng “ngay lúc ấy” là một khoảng thời gian thí dụ khoảng thời gian quả
táo chín tồn tại trước khi bị thối) S là S (và không thể là cái khác).
Cách nhìn thực tại của Phật Giáo, đến đây, quả là chính xác và là chân lý khó bắt bẻ đối với mọi tư duy logic.
Có lẽ những rắc rối, bất đồng nảy sinh là từ việc xuất hiện mối quan hệ S
là P. Aristote là người đề xướng ra mối quan hệ ấy (thực ra mối quan hệ
ấy là một tồn tại tất yếu, nảy sinh ra do đòi hỏi của nhận thức trong
tư duy. Aristote là người phát hiện và công thức hóa nó. Đó là chiến
công của thiên tài!).
Xuất phát từ đòi hỏi phải cảm nhận trực tiếp để ta “biết” thực tại như nó vốn dĩ thế, thì S là S mang tính tuyệt đối, tối thượng, Phật Giáo chối bỏ mối quan hệ S là P.
Nhưng từ quan niệm (theo Phật Giáo) thực tại khách quan là giả hợp, nằm
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, sẽ phải có những sự vật - hiện
tượng phân biệt được và không phân biệt được với nhau một cách tương đối
(quan sát trực giác cũng thấy rõ điều này!). Trong một điều kiện hoàn
cảnh nào đấy, trong một phạm vi, góc nhìn nào đấy hay đơn thuần là do
yêu cầu của chính nhận thức mà, tương đối, phải tồn tại mối quan hệ S là
P.
Mối quan hệ S là P là hạt nhân "vận động" trong hệ thống khái niệm, là
hình thức cơ bản của tư duy. Không có nó sẽ không nhận thức được thực
tại.
Phật Giáo, dù có muốn chối bỏ thì cũng không thể chối bỏ được mối quan
hệ đó và trong thực tế, dù có cố gắng đến mấy cũng không thể “bất lập
văn tự” được nếu muốn tồn tại. Nếu ai đó cho rằng không cần nó vẫn giác
ngộ được thì đó chỉ là ngộ nhận.
Có thể nói chữ với nhau rằng S là S là mối quan hệ của chân lý tuyệt
đối, là nhận thức chính xác khi bước đầu nhận thức (nhận thức của tuổi
thơ) và cũng là nhận thức thâm hậu, cuối cùng, tối thượng về thực tại,
là bức tranh chính xác một cách lý tưởng về Tồn Tại mà nếu thay S bằng
bất cứ ký hiệu nào khác thì vẫn là bức tranh ấy. Còn mối quan hệ S là P
là mối quan hệ tương đối, tồn tại ở giữa hai đầu của quá trình nhận
thức; quyết định đến quá trình nhận thức; nhận thức chính xác ban đầu bị
méo đi, phức tạp lên thành một nhận thức tương đối chính xác, rồi từ
nhận thức tương đối này phát triển lên nhận thức tương đối khác, phức
tạp hơn, méo hơn mà cũng chính xác hơn, cứ thế đến một ngày tươi sáng sẽ
đạt đến nhận thức chính xác tối hậu (gần lý tưởng nhất!).
Khi ta hỏi một đứa trẻ con về cái kẹo là: “Cái này là cái gì?”, nó sẽ
trả lời không chút do dự: “Cái này là cái kẹo”. Câu trả lời ấy chính là
thuộc về mối quan hệ S là P (ở mức độ giản đơn, chất phác). Nếu ta hỏi
tiếp: “Cái kẹo là cái gì?”, thì câu trả lời hay nhất mà chúng ta nhận
được sẽ là: “Cái kẹo là cái kẹo chứ còn là cái gì nữa!”. Câu trả lời này
thuộc về mối quan hệ S là S (chứ không thể là cái khác) và đó là nhận
thức rốt ráo, trực tiếp và chính xác.
Khi ta hỏi một nhà thông thái về con cá chẳng hạn thì tình hình sẽ trở
nên khác hẳn. Trước câu hỏi: “Đó là con gì?” nhà thông thái sẽ trả lời:
“Con đó là con cá!”. Ta hỏi tiếp: “Con cá là con gì?” thì nhà thông thái
(đâu phải là đứa con nít!) sẽ trả lời một cách… thông thái: “Con cá là
loài động vật biết bơi!”. Câu hỏi mới được đặt ra: “Động vật biết bơi là
gì?”. Trước câu hỏi này, nhà thông thái bắt đầu phải chuẩn bị một cuộc
trường chinh hỏi và đáp ngày một rối mù, ngày một mở rộng đến tận căn
nguyên của Tự Nhiên Tồn Tại để rốt cuộc đạt được kết quả cuối cùng: “Con
cá là con cá!”, S là S. Nhưng S là S này không phải là sự chính xác
ngây thơ nữa, mà là sự chính xác của uyên bác, chính xác đến tận chân tơ
kẽ tóc nhờ cả một quá trình nhận thức dài lâu, vượt qua biết bao nhiêu
lầm lạc mới có được. (nhưng phải cảnh giác vì ngày mai có thể sẽ lại bộc
lộ sai lầm, dù rằng là cần thiết cho nhận thức thâm hậu hơn kế tiếp
sau!!!) ……
Mối quan hệ S là P còn xuất hiện trong trường hợp này nữa: đối với cùng
một sự vật - hiện tượng và cùng “lúc ấy”, ngôn ngữ này qui ước gọi là S,
ngôn ngữ kia qui ước gọi là P, thì cũng sẽ tồn tại mối quan hệ S là P
(và ngược lại). Có thể suy rộng trường hợp này ra toàn Vũ Trụ được
không? “Không biết!”. Đối với một thực tại, có thể gắn cho nó một lô
nhãn mác khác nhau thì nó vẫn là nó, không thể là cái khác.
Ấy chết, suýt nữa thì sa lầy thật! Không bình luận thêm, chúng ta tiếp tục kể chuyện.
Những câu chuyện, những điển tích Phật Giáo bao giờ cũng kỳ thú. Chúng
ta có thể học được ở đó biết bao nhiêu điều đẹp đẽ về quan niệm sống,
thái độ sống, về đối nhân xử thế trong đời. Biết bao nhiêu bậc chân nhân
đã để lại tấm gương sáng ngời về lối sống giản dị, ung dung, từ bi bác
ái; lối sống nhân văn nhất mà chúng ta từng biết. Nhân đây, chúng ta xin
nói thêm ý này: tuy vật lý học hiện đại đã có những phát hiện tương
đồng đáng ngạc nhiên với cách nhìn của Phật Giáo về Vũ Trụ và chỉ đến
giới hạn đó thôi, vì nhiệm vụ của vật lý cũng như các ngành khoa học tự
nhiên khác là phục vụ triết học, xác nhận những suy lý của triết học và
tương lai sẽ về chung dưới mái nhà triết học. Chỉ có các triết thuyết
(học thuyết triết học) là có thể so sánh được với nhau một cách toàn
diện về mọi mặt mà thôi. Theo nhận định của riêng chúng ta thì ngày nay
hai triết thuyết sáng sủa nhất, gần với sự thực khách quan nhất và giàu
tính nhân văn nhất là: triết học duy vật biện chứng và đạo lý Phật Giáo.
Thoạt nhìn tưởng chúng là hai sự trái ngược nhau đến mức khó có thể
thỏa thuận được nhưng càng suy ngẫm chúng ta càng thấy chúng đồng thuận với
nhau ở rất nhiều mặt, thậm chí là ở cả những mặt cơ bản nhất. Chẳng hạn,
cả hai đều vô thần, đều không chấp nhận hư vô. Nếu triết học duy vật
biện chứng cho rằng thế giới các sự vật hiện tượng được cấu thành từ vật
chất và chính là vật chất và vận động vật chất; thế giới biến đổi đến
vô tận, thì triết lý Phật Giáo cho rằng thế giới các hiện tượng là sự
giả hợp, có nguồn gốc từ “cõi không” (có thể là cách gọi khác của vật
chất, hay vật chất là tên gọi khác của cõi không Phật Giáo, thậm chí,
phải chăng cõi không là...không gian!!!???) phụ thuộc lẫn nhau, tác động
nhau theo luật nhân quả đến vô vi vô thường. Đó chẳng qua là hai cách
mô tả có "xu hướng" như nhau về Thực Tại. Và sự đồng thuận đáng trân
trọng nhất của hai triết thuyết là đều cố gắng tìm hiểu nguyên nhân,
nguồn gốc của khổ đau để tìm cách giải thoát con người khỏi khổ đau hay
nói đúng hơn là mở đường chỉ lối cho con người tự giải thoát khổ đau
(cho dù đó là hai con đường khác nhau: một đường đòi chủ động cải tạo,
một đường khuyên thụ động tu tập. Nếu chúng ta hợp nhất được hai con
đường ấy và đặt tên chúng là con đường CẢI THIỆN thế giới thì đẹp biết
chừng nào?!) ….
Thôi! Không “lải nhải” nữa, chúng ta kể chuyện này:
Thiền sư Pháp Dung là môn đồ của vị tổ đời thứ tư tên là Đạo Tín. Nhưng trước khi qui y Đạo Tín, Pháp Dung đã là một nhà sư có học thức.
Tương truyền, một hôm Đạo Tín lên núi Ngưu Đầu thăm hỏi Pháp Dung, hai
người ngồi nói chuyện phiếm ở mỏm đá ngoài thiền đường. Bỗng nhiên có
đàn hổ kéo đến vây quanh, gầm thét. Pháp Dung thường cho chúng ăn, thành
quen, nên tất nhiên Pháp Dung không sợ hãi. Đạo Tín cũng chẳng sợ gì,
nhưng lại vờ sợ hãi. Thiền sư Pháp Dung thấy vậy hỏi:
- Ngài vẫn còn cái ấy ư?
Nói “cái ấy” là chỉ sự sợ hãi. Thiền Tông cho rằng, khi tu hành đạt đến
trình độ nhất định thì phải vứt bỏ được cảm giác hư vọng, chỉ còn trái
tim an nhiên tự tại, “không vui bởi ngoại cảnh, không buồn vì nội tình”.
Thiền sư Pháp Dung vì vậy, có ý coi thường Đạo Tín, bỏ về thiền đường
làm việc riêng. Đạo Tín nhân cơ hội đó, viết ngay ở chỗ ngồi của Pháp
Dung một chữ “Phật”, rồi điềm tĩnh ngồi chờ.
Xong việc riêng, thấy Đạo Tín vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, lòng tự thấy có
phần lãnh đạm với người, Pháp Dung bèn trở lại. Vừa định ngồi xuống,
chợt thấy chữ “Phật” to tướng trên chỗ ngồi, Pháp Dung luống cuống,
miệng niệm: “A di đà Phật, chút nữa thì làm nhục Phật Tổ”. Đạo Tín bèn
cười lớn:
- Ngài cũng vẫn còn cái ấy ư?
Nghe Đạo Tín nói, Pháp Dung bừng tỉnh ngộ, quy y Đạo Tín. (Pháp Dung
không sợ hổ báo nhưng lại sợ ngồi lên chữ “Phật”. Khinh nhìn, phỉ báng
Phật trước nay là “ngũ nghịch ác tội”. Tư tưởng Thiền Tông trái ngược
với điều này. Họ cho rằng tâm mỗi con người chính là Phật, việc đi đứng
nằm ngồi hàng ngày chính là Phật pháp. Như vậy tính “thánh” của Phật bị
thủ tiêu, sự tồn tại của Phật bị phủ nhận. Họ còn cho rằng nếu quá ràng
buộc vào Phật sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến sự giác ngộ. Đạo Tín giác ngộ
được tư tưởng này!).
Có rất nhiều chuyện Phật Giáo nói lên tư tưởng ấy của Thiền Tông: Dưới đây là hai chuyện nữa:
Một hôm trời rất rét, Thiền sư Đan Hà bị lạnh cóng trong một ngôi chùa.
Bên ngoài thì mưa bão, không thể kiếm ra một que củi, Đan Hà bèn lấy
tượng Phật (bằng gỗ) xuống chẻ ra nhóm lửa sưởi. Sư trụ trì thấy vậy
mắng. Đan Hà nói:
- Tôi đốt để lấy xá lỵ.Sư trụ trì nói:
- Tượng gỗ thì lấy đâu ra xá lỵ!
Đan Hà cười tiếp luôn:
- Nếu không có xá lỵ thì kiêng gì mà không lấy thêm mấy vị nữa xuống đốt.
Mã Tổ Đạo Nhật là đồ đệ của Nam Nhạc Hoài Nhượng, khi giảng pháp, thường nói: “Chính là tâm, chính là Phật”. Có người hỏi ông:
- Tại sao hòa thượng nói: “Chính là tâm, chính là Phật”?
Mã Tổ đáp:
- Để dỗ đứa trẻ khỏi khóc.
Người kia lại hỏi:
- Đứa trẻ nín khóc rồi thì sao?
Mã Tổ đáp:
- Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật.
Xin phép kể câu chuyện cuối cùng:
Có một anh chàng học được chút ít về thiền; đến viếng một thiền sư. Để tỏ sự sở đắc của mình, anh ta nói:
- Tâm, Phật, loài hữu hình, rốt ráo chẳng có. Bổn tánh chân thật của mọi hiện tượng là cái không. Không có cái có, không có huyền ảo, không có thánh, không có phàm. Không có cho và cũng không có thọ nhận.
Thiền sư ngồi lim dim, không nói gì, rồi bất thình lình đấm vào mặt anh chàng một cái làm anh ta phát nổi khùng. Thiền sư lúc này mới hỏi:
- Nếu không có gì cả, thế thì cái giận của anh từ đâu mà có?
(Còn tiếp)
Nhận xét
Đăng nhận xét