BỘ MẶT CHIẾN TRANH 74
Tâm sự người thương binh - Trường vũ
Lá thư tiền tuyến Trường Vũ
-Trong tình trạng chiến tranh đầy chết chóc và tan hoang, bản chất sống của loài người trở nên cực hạn về mọi phía:
+Yêu thương vô vàn mà cũng hận thù vô song
+Thông minh trí tuệ bao nhiêu thì cũng ngu ngốc, mù quáng bấy nhiêu.
+Tuyệt đỉnh dũng cảm thì cũng tột cùng hèn nhát.
+Vừa là thánh thần vừa là quỉ dữ.
...
-Chiến tranh mang bộ mặt gớm ghiếc, tởm lợm đến khủng khiếp, không thể tả được, dù bôi son trát phấn như thế nào, tung hô ra sao.
-Chiến tranh là thể hiện sự thờ ơ, vô cảm khốn nạn tột cùng về việc hủy diệt tàn bạo cuộc sống và thân phận con người.
-Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh "nặn ra" lý do từ không có lý do, hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách không chính đáng. Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh nảy sinh từ việc chống chiến tranh phi nghĩa, được hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách chính đáng (?).
-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng rồi thì nên lấy tang lễ mà xử".
-Giống như bóng tối không thể làm tiêu tan bóng tối, thì hận thù không thể xoa dịu được hận thù, và chiến tranh không thể xóa bỏ được chiến tranh.
-Chỉ có sự thấu hiểu ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống, sự thấu hiểu về tính bất hạnh, vô nghĩa tột cùng của cái chết và sự cảm thông, yêu thương sâu sắc đồng loại mới có thể ngăn chặn được chiến tranh!
-Một khi còn tình cảm dân tộc hẹp hòi, lòng tham vị kỷ và cái tâm hận thù của con người, thì vẫn còn chiến tranh.
Yootab Anti War Song
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tại Sao Liên Xô Che Giấu Vụ " VA CHẠM TỬ THẦN " Giữa Không Trung Khiến Cả Thế Giới Bàng Hoàng
Sự thực trận đánh của Liên Xô khiến Nhật khiếp đảm
Tháng 4/1918, quân đội Nhật cùng với Anh, Mỹ chiếm Vladivostok, hải cảng quan trọng ở miền cực đông nước Nga.
Cuối tháng 7/1938, quân Nhật tấn công vào lãnh thổ Liên Xô ở khu
vực hồ Khasan, nhưng chỉ trong mấy ngày bị đánh bại thảm hại và phải ký
kết hiệp định chấm dứt chiến sự.
Sau nhiều lần khiêu khích, trong tháng 5 và đầu tháng 6/1939, các lực lượng quân phiệt Nhật Bản đóng tại Khala (Trung Quốc) đã bất ngờ xâm nhập lãnh thổ Mông Cổ ở khu vực sông Khalkhyn Gol. Trong suốt tháng 6, quân Nhật tập trung tại đây một cụm quân lớn và tiến hành các công việc chuẩn bị để mở một chiến dịch quân sự mang tên “Giai đoạn 2 của biến cố Mông-Hán”.
Mục tiêu của chiến dịch là: Hợp vây và tiêu diệt các đơn vị quân đội Liên Xô và Mông Cổ đóng tại phía đông sông Khalkhyn Gol; Vượt sang bờ tây sông Khalkhyn Gol và đánh tan lực lượng dự bị Hồng quân Liên Xô; Đánh chiếm, mở rộng khu vực phía tây sông Khalkhyn Gol để làm bàn đạp cho những hành động tiếp theo là yểm hộ cho việc xây dựng tuyến đường sắt chiến lược chạy tới biên giới miền Zabaikal, tiến tới đánh chiếm miền Viễn Đông của Liên Xô.
Thực hiện cam kết trong hiệp ước hữu nghị giữa hai nước Xô-Mông, Liên Xô mở chiến dịch đánh đuổi quân Nhật khỏi lãnh thổ Mông Cổ. Tư lệnh chiến dịch là Thượng tướng Zhukov, Phó tư lệnh Quân khu Belorussia.
Sau khi thị sát mặt trận, tướng Zhukov đề nghị sử dụng cho chiến dịch 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn xe tăng và các đơn vị pháo binh. Tổng binh lực liên quân Xô-Mông là 57.000 người, 542 pháo, cối, 495 xe tăng, 385 xe chiến đấu, 300 máy bay. Đơn vị chủ yếu của quân Nhật tham gia chiến dịch là Tập đoàn quân 6 với 75.000 người, 500 pháo, 182 xe tăng, 515 máy bay.
Để đánh lừa địch và giữ bí mật tuyệt đối các hành động tác chiến, Bộ Chỉ huy Hồng quân đã vạch kế hoạch nghi binh, gây cho quân Nhật ấn tượng Hồng quân không có dấu hiệu gì chứng tỏ đang chuẩn bị tấn công, mà chỉ triển khai việc xây dựng phòng ngự và chỉ có phòng ngự mà thôi.
Mọi việc chuyển quân, tập trung quân và điều chỉnh lực lượng chỉ tiến hành vào ban đêm, được nguỵ trang bằng động cơ máy bay, tiếng pháo, súng cối.. bắn theo một kế hoạch ăn khớp với kế hoạch chuyển quân. Các đơn vị, cá nhân không được tự ý có mặt tại khu vực từ đó dự kiến đột kích vào sườn và phía sau lực lượng bố trí của quân Nhật.
Các cán bộ khi đi trinh sát thực địa phải mặc trang phục chiến sĩ và nhất thiết phải đi bằng xe tải. Các cuộc đàm thoại vô tuyến chỉ nói về việc xây dựng tuyến phòng ngự và chuẩn bị cho chiến cục thu đông. Nhiều tài liệu hướng dẫn tác chiến phòng ngự được phát hành và cố tình để lọt vào tay quân Nhật. Ngoài ra, Hồng quân còn dùng những mạng nguỵ trang làm bằng vật liệu kiếm được tại địa phương để giấu kín súng pháo, cối, xe kéo và các khí tài khác. Các đơn vị xe tăng đi thành từng tốp nhỏ từ nhiều hướng tiến ra khu vực xuất phát ngay trước lúc pháo binh và không quân bắn chuẩn bị.
Ngày 20/8/1939, Bộ Chỉ huy Nhật tin rằng liên quân Xô-Mông chưa hoàn tất công tác chuẩn bị cho tấn công, nên đã cho phép các tướng lĩnh và sĩ quan cao cấp được nghỉ ngơi. Tuy nhiên, liên quân Xô-Mông đã mở chiến dịch tổng tấn công nhằm hợp vây và tiêu diệt quân Nhật vào đúng hôm đó. Sau khoảng một tiếng rưỡi đầu bị pháo và máy bay Hồng quân chế áp, quân Nhật bắt đầu điên cuồng đánh trả.
Để nhanh chóng giải quyết trận đánh, Bộ Chỉ huy Hồng quân quyết định đưa Lữ đoàn xe bọc thép số 9 vốn nằm trong lực lượng dự bị vào chiến đấu, và tăng cường thêm pháo binh. Các trận đánh quyết liệt diễn ra suốt một tuần. Chiều 26/8, sau khi đánh tan các cụm quân địch đóng hai bên sườn, các đơn vị xe tăng, xe bọc thép Hồng quân hợp vây xong toàn bộ Tập đoàn quân 6 của Nhật, và từ ngày hôm sau bắt đầu cắt địch ra thành từng bộ phận và tiêu diệt chúng… Ngày 30/8, Tập đoàn quân 6 bị tiêu diệt hoàn toàn. Phía Nhật Bản mất 61.000 người chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, 600 máy bay cùng nhiều trang bị khác.
Đòn đánh trả quyết liệt của quân đội Xô-Mông đã buộc nhà cầm quyền Nhật Bản lúc đó phải gác lại âm mưu đánh chiếm miền Viễn Đông. Ám ảnh từ thất bại trong trận Khalkhyn Gol còn theo đuổi người Nhật trong nhiều năm, đến mức sau đó, ngay cả khi phát xít Đức đã tấn công xâm lược Liên Xô từ phía tây, quân Nhật vẫn e ngại rồi huỷ bỏ tấn công Liên Xô từ phía đông.
Trong trận Khalkhyn Gol, lần đầu tiên Hồng quân áp dụng thành công học thuyết “Tác chiến thọc sâu” mà cha đẻ là Mikhail Tukhasevsky - một trong 5 vị Nguyên soái Liên Xô đầu tiên. Bộ Chỉ huy Hồng quân đã sử dụng các lực lượng phối hợp tấn công sâu vào phòng tuyến của đối phương để tiêu diệt hậu phương và hậu cần của chúng; sử dụng lực lượng xe tăng, cơ giới, máy bay và hỏa pháo mạnh để phản kích một cách kiên quyết, đánh chia cắt và bao vây gây tổn thất nặng nề cho quân Nhật.
Cũng lần đầu tiên, tướng Zhukov thể hiện được tài năng về mặt chỉ huy và hiệp đồng tác chiến ở cấp chiến dịch, qua đó gây sự chú ý và lòng tin đối với Stalin. Sau chiến dịch, Georghy Konstantinnovich được thăng quân hàm Đại tướng và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu đặc biệt Kiev.
Theo Nguyên Phong (Vietnamnet)Sau nhiều lần khiêu khích, trong tháng 5 và đầu tháng 6/1939, các lực lượng quân phiệt Nhật Bản đóng tại Khala (Trung Quốc) đã bất ngờ xâm nhập lãnh thổ Mông Cổ ở khu vực sông Khalkhyn Gol. Trong suốt tháng 6, quân Nhật tập trung tại đây một cụm quân lớn và tiến hành các công việc chuẩn bị để mở một chiến dịch quân sự mang tên “Giai đoạn 2 của biến cố Mông-Hán”.
Mục tiêu của chiến dịch là: Hợp vây và tiêu diệt các đơn vị quân đội Liên Xô và Mông Cổ đóng tại phía đông sông Khalkhyn Gol; Vượt sang bờ tây sông Khalkhyn Gol và đánh tan lực lượng dự bị Hồng quân Liên Xô; Đánh chiếm, mở rộng khu vực phía tây sông Khalkhyn Gol để làm bàn đạp cho những hành động tiếp theo là yểm hộ cho việc xây dựng tuyến đường sắt chiến lược chạy tới biên giới miền Zabaikal, tiến tới đánh chiếm miền Viễn Đông của Liên Xô.
Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh trong
Thế chiến 2, Georgy Konstantinovich Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng
trận thắng nhiều và quy mô lớn.
Theo tính toán của Bộ Chỉ huy Nhật khi đó, chiến dịch sẽ phải thực
hiện xong trong nửa đầu tháng 7/1939 để trước khi mùa thu sang, có thể
hoàn thành toàn bộ các hoạt động chiến sự trong phạm vi biên giới Mông
Cổ.Thực hiện cam kết trong hiệp ước hữu nghị giữa hai nước Xô-Mông, Liên Xô mở chiến dịch đánh đuổi quân Nhật khỏi lãnh thổ Mông Cổ. Tư lệnh chiến dịch là Thượng tướng Zhukov, Phó tư lệnh Quân khu Belorussia.
Sau khi thị sát mặt trận, tướng Zhukov đề nghị sử dụng cho chiến dịch 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn xe tăng và các đơn vị pháo binh. Tổng binh lực liên quân Xô-Mông là 57.000 người, 542 pháo, cối, 495 xe tăng, 385 xe chiến đấu, 300 máy bay. Đơn vị chủ yếu của quân Nhật tham gia chiến dịch là Tập đoàn quân 6 với 75.000 người, 500 pháo, 182 xe tăng, 515 máy bay.
Để đánh lừa địch và giữ bí mật tuyệt đối các hành động tác chiến, Bộ Chỉ huy Hồng quân đã vạch kế hoạch nghi binh, gây cho quân Nhật ấn tượng Hồng quân không có dấu hiệu gì chứng tỏ đang chuẩn bị tấn công, mà chỉ triển khai việc xây dựng phòng ngự và chỉ có phòng ngự mà thôi.
Mọi việc chuyển quân, tập trung quân và điều chỉnh lực lượng chỉ tiến hành vào ban đêm, được nguỵ trang bằng động cơ máy bay, tiếng pháo, súng cối.. bắn theo một kế hoạch ăn khớp với kế hoạch chuyển quân. Các đơn vị, cá nhân không được tự ý có mặt tại khu vực từ đó dự kiến đột kích vào sườn và phía sau lực lượng bố trí của quân Nhật.
Các cán bộ khi đi trinh sát thực địa phải mặc trang phục chiến sĩ và nhất thiết phải đi bằng xe tải. Các cuộc đàm thoại vô tuyến chỉ nói về việc xây dựng tuyến phòng ngự và chuẩn bị cho chiến cục thu đông. Nhiều tài liệu hướng dẫn tác chiến phòng ngự được phát hành và cố tình để lọt vào tay quân Nhật. Ngoài ra, Hồng quân còn dùng những mạng nguỵ trang làm bằng vật liệu kiếm được tại địa phương để giấu kín súng pháo, cối, xe kéo và các khí tài khác. Các đơn vị xe tăng đi thành từng tốp nhỏ từ nhiều hướng tiến ra khu vực xuất phát ngay trước lúc pháo binh và không quân bắn chuẩn bị.
Ngày 20/8/1939, Bộ Chỉ huy Nhật tin rằng liên quân Xô-Mông chưa hoàn tất công tác chuẩn bị cho tấn công, nên đã cho phép các tướng lĩnh và sĩ quan cao cấp được nghỉ ngơi. Tuy nhiên, liên quân Xô-Mông đã mở chiến dịch tổng tấn công nhằm hợp vây và tiêu diệt quân Nhật vào đúng hôm đó. Sau khoảng một tiếng rưỡi đầu bị pháo và máy bay Hồng quân chế áp, quân Nhật bắt đầu điên cuồng đánh trả.
Để nhanh chóng giải quyết trận đánh, Bộ Chỉ huy Hồng quân quyết định đưa Lữ đoàn xe bọc thép số 9 vốn nằm trong lực lượng dự bị vào chiến đấu, và tăng cường thêm pháo binh. Các trận đánh quyết liệt diễn ra suốt một tuần. Chiều 26/8, sau khi đánh tan các cụm quân địch đóng hai bên sườn, các đơn vị xe tăng, xe bọc thép Hồng quân hợp vây xong toàn bộ Tập đoàn quân 6 của Nhật, và từ ngày hôm sau bắt đầu cắt địch ra thành từng bộ phận và tiêu diệt chúng… Ngày 30/8, Tập đoàn quân 6 bị tiêu diệt hoàn toàn. Phía Nhật Bản mất 61.000 người chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, 600 máy bay cùng nhiều trang bị khác.
Đòn đánh trả quyết liệt của quân đội Xô-Mông đã buộc nhà cầm quyền Nhật Bản lúc đó phải gác lại âm mưu đánh chiếm miền Viễn Đông. Ám ảnh từ thất bại trong trận Khalkhyn Gol còn theo đuổi người Nhật trong nhiều năm, đến mức sau đó, ngay cả khi phát xít Đức đã tấn công xâm lược Liên Xô từ phía tây, quân Nhật vẫn e ngại rồi huỷ bỏ tấn công Liên Xô từ phía đông.
Trong trận Khalkhyn Gol, lần đầu tiên Hồng quân áp dụng thành công học thuyết “Tác chiến thọc sâu” mà cha đẻ là Mikhail Tukhasevsky - một trong 5 vị Nguyên soái Liên Xô đầu tiên. Bộ Chỉ huy Hồng quân đã sử dụng các lực lượng phối hợp tấn công sâu vào phòng tuyến của đối phương để tiêu diệt hậu phương và hậu cần của chúng; sử dụng lực lượng xe tăng, cơ giới, máy bay và hỏa pháo mạnh để phản kích một cách kiên quyết, đánh chia cắt và bao vây gây tổn thất nặng nề cho quân Nhật.
Cũng lần đầu tiên, tướng Zhukov thể hiện được tài năng về mặt chỉ huy và hiệp đồng tác chiến ở cấp chiến dịch, qua đó gây sự chú ý và lòng tin đối với Stalin. Sau chiến dịch, Georghy Konstantinnovich được thăng quân hàm Đại tướng và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu đặc biệt Kiev.
Bí ẩn đoàn binh mã đất nung tạc đúng kích cỡ người thật
Chủ Nhật, ngày 01/05/2016 00:59 AM (GMT+7)
Đội quân đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng có khuôn mặt, kích cỡ, màu sơn... sống động như một đội quân thật.
| Lăng mộ Tần Thủy Hoàng được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm
246 đến 208 trước Công nguyên, cùng thời điểm Tần Thủy Hoàng - vị hoàng
đế nổi tiếng tàn bạo và nghiêm khắc vẫn còn sống và trị vì đất nước
Trung Hoa ngàn năm lịch sử. Tần Thủy Hoàng - tên thật là Doanh Chính, trị vì nước Tần (Trung Quốc) từ năm 246 đến năm 221 trước Công nguyên. Địa danh lịch sử nổi tiếng này đến nay vẫn có những bí ẩn mà người đời sau vẫn chưa thể tìm ra lời giải đáp. Loạt bài Bí ẩn lăng mộ Tần Thủy Hoàng sẽ giúp độc giả biết nhiều hơn về những bí ẩn này. |
Hơn 8.000 là số tượng binh sĩ bằng đất nung mà các nhà khảo cổ học ước tính được hiện có trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Con số hơn 2.000 tượng đã khám phá được quá ít so với phần bí ẩn còn lại.
Đây còn được gọi là tượng binh mã Tần Thủy Hoàng hay tượng đội quân và ngựa, lần đầu tiên con người phát hiện được là ngày 29 tháng 3 năm 1974, trước khi người ta xác định đây chính là lăng mộ Tần Thủy Hoàng ít hôm.

Đội hùng binh bằng đất nung được điêu tạc theo đúng kích cỡ người thật.
Đội quân đất nung được chôn theo Hoàng đế Tần Thủy Hoàng trong thời gian từ năm 210 đến năm 209 trước Công nguyên.Việc khai quật kéo dài do binh mã bằng đất nung rất dễ vỡ và nó khiến cho việc bảo vệ những bức tượng này rất khó khăn do những tác động của tự nhiên như quá trình phong hóa, bị vi khuẩn hủy hoại. Các bức tượng được nặn từ đất sét, nung trong lò ở nhiệt độ thấp và được phết một lớp sơn bên ngoài để tăng độ bền.

Tượng xe tứ mã ở hầm mộ thứ ba.
Những bức tượng này có khuôn mặt, kích cỡ, màu sơn không tượng nào giống nhau, sống động như một đội quân thật.Vẻ mặt đầy bí ẩn của các bức tượng được cho là mô phỏng theo chính xác từng người trong một đội quân thân tín của vị vua Tần. Các bức tượng trong nhiều tư thế như đứng thẳng cúi đầu, cầm những vũ khí thật như cung, giáo, mác hay cưỡi xe ngựa với các cỗ xe và ngựa cũng làm bằng đất.

Số lượng tượng binh sĩ phát hiện được ngày càng tăng và chưa có dấu hiệu kết thúc.
Cho đến nay, người ta vẫn chưa thể hình dung ra lí do xác thực nhất
cho việc Tần Thủy Hoàng muốn đem nguyên cả một đội quân đất nung này
xuống lăng mộ cùng mình. Quần thể này được đặt trong 3 hầm mộ riêng
biệt.Hầm mộ thứ nhất nằm ở mặt Tây có pho tượng của 6.000 binh mã, là đội quân chủ lực của Tần Thủy Hoàng. Hầm mộ thứ hai chứa khoảng 1.400 pho tượng kỵ binh và bộ binh đi cùng xe ngựa trên diện tích 19.659 mét vuông. Hầm mộ thứ ba là đội chỉ huy các cấp khác nhau và một xe tứ mã gồm 68 pho tượng nằm trên diện tích 1524 mét vuông.
Con sông tử thần chia cắt thế giới âm – dương
Đó là thế giới trong lăng mộ với thế giới bên ngoài của con người. Con sông tử thần được nhắc đến ở đây chính là dòng sông thủy ngân lỏng. Lớp thủy ngân bao bọc và ngăn cách lăng mộ với sự khai phá từ bên ngoài có nồng độ cực kỳ lớn, cao gấp 280 lần mức bình thường.
Thiết kế đặc biệt và vô cùng hiểm độc này do chính Tần Thủy Hoàng nghĩ ra. Với việc ông cho linh cữu của mình được chôn trong quan tài cùng nhiều ngọc ngà châu báu, nhiều tác phẩm thủ công và một mô hình vũ trụ hoàn chỉnh được khảm ngọc.
Vì thế, ông muốn sử dụng chính dòng sông thủy ngân để bảo quản, tránh sự xâm hại của vi khuẩn và đặc biệt là giết ngay lập tức kẻ nào có ý định xâm nhập lăng mộ; mặt khác nó giúp ông đạt được tham vọng trường sinh bất tử bằng "thuốc tiên" thủy ngân.

Mô hình dòng sông thủy ngân được cho là "bức tường thành" nguy hiểm nhất bảo vệ lăng mộ.
Nguồn thủy ngân khổng lồ đã được đưa từ đâu về để tạo thành hàng trăm
con sông lớn nhỏ chảy khắp phần lăng mộ vẫn đang là một câu hỏi chưa có
lời giải đáp.Nhiều người liên hệ đến lịch sử hai thiên niên kỷ trước, tại quận Ba thời Tần (tức thành phố Trùng Khánh ngày nay) có người quả phụ họ Thanh, chuyên nghề khai thác đá chu sa mà trở nên giàu có. Thậm chí Tần Thủy Hoàng còn cho xây dựng "Hoài Thanh Đài" ca ngợi công lao của người phụ nữ này.

Đá chu sa
Xâu chuỗi các dữ kiện, các nhà khoa học cho rằng chính nguồn đá chu
sa của người phụ nữ này là nguyên liệu chính để luyện nên số lượng thủy
ngân khổng lồ trong lăng mộ Hoàng đế nhà Tần. Chu sa có thành phần chính
là sulfur thủy ngân (II) (HgS) vốn được người Trung Hoa cổ đại sử dụng
để luyện thủy ngân, thuốc và thủ cung sa đánh dấu trinh tiết người phụ
nữ.Theo Trọng Đạt (Dân Việt)
Bí ẩn cái chết của vua Tần Thủy Hoàng
Chủ Nhật, ngày 01/05/2016 12:14 PM (GMT+7)
Năm 13 tuổi, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh lựa chọn địa điểm và bắt đầu xây dựng lăng mộ cho mình.
| Lăng mộ Tần Thủy Hoàng được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm
246 đến 208 trước Công nguyên, cùng thời điểm Tần Thủy Hoàng - vị hoàng
đế nổi tiếng tàn bạo và nghiêm khắc vẫn còn sống và trị vì đất nước
Trung Hoa ngàn năm lịch sử. Tần Thủy Hoàng - tên thật là Doanh Chính, trị vì nước Tần (Trung Quốc) từ năm 246 đến năm 221 trước Công nguyên. Địa danh lịch sử nổi tiếng này đến nay vẫn có những bí ẩn mà người đời sau vẫn chưa thể tìm ra lời giải đáp. Loạt bài Bí ẩn lăng mộ Tần Thủy Hoàng sẽ giúp độc giả biết nhiều hơn về những bí ẩn này. |
Tần Thủy Hoàng là người bị ám ảnh bởi cái chết. Đó cũng là nguyên nhân lí giải vì sao ngay từ khi lên ngôi, năm 13 tuổi, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh lựa chọn địa điểm và bắt đầu xây dựng lăng mộ cho mình.
Vị vua tàn ác, giết người không ghê tay này còn là một vị vua hoang tưởng với giấc mơ bất tử. Ông từng trở nên điên khùng bởi các hóa chất kỳ dị nhằm duy trì sự bất tử để "vĩnh viên trị vì trên ngôi báu".
Điều này cũng được chứng minh bằng việc Tần Thủy Hoàng cho xây dựng cả một thế giới thu nhỏ trong lăng mộ của ông, để khi chết đi vẫn còn duy trì quyền lực ở thế giới khác.

Bức họa cổ về Tần Thủy Hoàng.
Điều có lẽ khó lí giải nhất đối với hậu thế là dường như Tần Thủy
Hoàng đã định lượng được cái chết của mình, để mà xây lăng mộ xong đúng
thời điểm mình qua đời? Điều này ngay lập tức gặp phải những ý kiến phủ
nhận. Họ cho rằng nguồn gốc sâu xa cho cái chết của vị vua này lại chính
là phương cách ông dùng để chạy trốn cái chết.Vị thuốc trường sinh bất tử
Tần Thủy Hoàng sợ cái chết. Vị vua sẵn sàng giết người thân cận để bảo toàn bí mật, ám sát hoàng thân, thiêu đốt dân quân để đoạt mộng làm chủ thiên hạ,...nhưng lại vô cùng sợ cái chết.
Những năm cuối đời. Tần Thủy Hoàng sợ cái chết và tuyệt vọng tìm kiếm thuốc trường sinh, được cho là sẽ giúp ông sống và an vị mãi mãi. Nhiều kẻ nịnh thần cũng nhân cơ hội để lừa bịp vị vua đáng thương.

Tàu của vị quan tên Từ Phúc ra khơi năm 219 trước Công nguyên để tìm kiếm thuốc trường sinh cho Tần Thủy Hoàng.
Thủy Hoàng cấp cho quan Từ Phúc một tàu chở hàng trăm đồng nam và
đồng nữ tìm kiếm núi Bồng Lai thần bí. Truyền thuyết của Bồng Lai tam
đảo tức ba đảo tiên gồm Bồng Lao. Phương Trượng và Doanh Châu nằm ở vinh
Bột Hải.Liệt Tử Xung Hư Chân Kinh của người Trung Hoa viết: "Phía đông của Bột Hải, không rõ là xa bao nhiêu dặm, có một vùng nước lớn… Nước từ tám phương trời và chín vùng đất, và nước sông Ngân Hà đều chảy đổ vào nơi đây... Cầm thú ở đó có màu trắng tinh khiết. Cây cối bằng ngọc trai và san hô. Hoa trái có vị thơm ngon dễ chịu. Ai mà ăn được hoa quả ấy sẽ không già và không chết."
Đây có thể là nguyên nhân khiến Tần Thủy Hoàng sẵn sàng sai người đi tìm thuốc ở núi Bồng Lai, nơi được cho là thành phố Bồng Lai, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) ngày nay.

Bồng Lai tam đảo.
Sau khi nhiệm vụ trên thất bại, Tần Thủy Hoàng quay sang đầu tư
nghiên cứu giả kim thuật. Song dường như vì quá lo sợ cái chết sẽ ập đến
nên mọi vị thuốc được người đời đồn đại, ca tụng, Tần Thủy Hoàng đều
thử.Và một trong những vị thuốc kịch độc được giới nghiên cứu cho là nguyên nhân gây nên cái chết của Thủy Hoàng. Đó chính là thủy ngân. Một số nguồn sử kí cho rằng, Thủy Hoàng đã uống các viên thuốc trường sinh có nguyên liệu từ thủy ngân để biến mình thành bất tử. Song chính những thứ đó đã gây nên cái chết oan ức cho vị vua này.

Thủy ngân - được cho là nguyên nhân gây ra cái chết cho Tần Thủy Hoàng ở tuổi 39 (Ảnh minh họa).
Nhưng cũng theo sử ký, Tần Thủy Hoàng từ nhỏ đã mắc bệnh, thể trạng
yếu, lớn lên lại ương ngạnh bảo thú, mọi việc tự mình quyết định, mỗi
ngày phê duyệt văn thư lên đến 60 cân nên cơ thể bị suy nhược trầm
trọng.Hay như cuốn "Sử ký - Tần Thủy Hoàng bản kỷ" ghi chép: "Tần vương mũi gẫy, mắt dài, lưng chim ó, ít tạo ân đức, tâm địa thâm độc", từ đây các nhà khoa học phỏng đoán vị vua Tần từ nhỏ mắc chứng xương mềm, khó thở, lớn lên ngực giống chim ó, tiếng giống như chó sói.
Sau này do công việc triều chính nặng nề, hay tuần du vào những ngày nắng nóng nên mắc thêm chứng viêm màng não và động kinh. Thủy ngân được vua Tần Thủy Hoàng dùng vào lúc cuối đời cũng chỉ là dấu chấm cuối cùng cho cuộc đời ông.
Theo Trọng Đạt (Dân Việt)
Nhận xét
Đăng nhận xét