TIẾNG THƠ 25
(ĐC sưu tầm trên NET)
Một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ XIX, người được gọi là “Shelley điên rồ” có một cuộc đời ngắn ngủi nhưng hết sức lãng mạn. Trong số 1821 bài viết của Shelley, nhiều lần, nhà thơ xuất thân quý tộc đã đề cập tới cái nhìn đối với thơ ca. Trong đó, nổi bật nhất là những nhận định sau:
Cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson là cây bút thơ đặc sắc nhất của Mỹ thế kỉ XIX. Bà đã để lại cho hậu thế tới 2000 bài thơ với nhiều bài có ý tưởng hết sức độc đáo. Trong quan điểm về thơ ca, bà cũng có cách nhìn rất ấn tượng: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi cảm thấy giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó là thơ. Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ. Đó là cách duy nhất để tôi biết những điều này, liệu còn cách nào khác nữa không?”
Robert Frost là một nhà thơ Mỹ từng bốn lần đoạt giải Pulitzer, cũng là cây bút thơ từng vinh dự được Tổng thống John F. Kennedy mời đọc thơ trong ngày nhậm chức của ông. Được các nhà phê bình hiện đại nhận định là một nhà thơ dễ hiểu mà vẫn khó hiểu, giản dị mà phức tạp, cách Robert Frost nghĩ về thể loại văn học ông theo đuổi cũng có phần kỳ bí: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt chúng”; “Thơ ca là những gì đã thất lạc trong quá trình chuyển đổi”.
Nhà thơ người Italia, Salvatore Quasimodo nổi tiếng nhờ những vần thơ trữ tình với ngôn ngữ tinh lọc và đẹp đẽ một cách chuẩn mực. Ông nói: “Thơ là sự mặc khải rằng người làm thơ tin rằng cảm xúc của họ chính là tiếng lòng của độc giả”.
Edgar Allan Poe được gọi là “nhà thơ điên” cũng là một cây bút kỳ tài trong thể loại văn chương trinh thám và hình sự. Ông là tác giả của những phát ngôn nổi tiếng như: “Nỗi buồn là giọng điệu phù hợp nhất của thơ ca” ; “Tôi định nghĩa rất ngắn về thơ ca, ngôn ngữ thơ là nhịp điệu thẫm mỹ. Trọng tài duy nhất của chúng là khẩu vị. Trí khôn và nhận thức chỉ khiến nó trở thành một tài sản. Trừ yếu tố tình cờ, thơ không quan tâm tới bất cứ điều gì, dù là nghĩa vụ hay chân lý”.
Từng là thư ký cho nhà thơ Edna St. Vincent Millay, Mary Oliver đã vươn lên trở thành một cây bút thơ ăn khách, nhất là về đề tài thiên nhiên, giành được giải thưởng sách quốc gia và giải thưởng Pulitzer. Với công việc của mình, Mary Oliver vô cùng nghiêm túc và rõ ràng. “Thơ không phải là một nghề, đó là một cách sống. Nó là một chiếc giỏ không, bạn đặt cuộc sống của mình vào đó và khiến một cái gì đó ra đời từ đó”.
T.S. Eliot, chủ nhân giải Nobel 1948 cũng là nhà thơ vĩ đại của nước Anh thế kỷ 20. Sinh thời, ông từng nói: “Thơ không phải là một vòng quay chậm rãi của cảm xúc mà là một lối thoát của cảm xúc, không phải là sự biểu hiện của tính cách, nhưng một lối thoát cho cá tính. Nhưng, tất nhiên là chỉ những người có cá tính và cảm xúc biết ý nghĩa của việc muốn thoát khỏi những điều này.”
Không chỉ cuốn hút độc giả với những vần thơ đơn giản, chất phác, William Wordsworth còn gây được cảm tình với những phát ngôn về thơ ca. Trong đó có câu nói nổi tiếng: “Thơ tràn ra tự phát khi cảm xúc dâng cao. Nó bắt nguồn từ sự hồi tưởng trong yên tĩnh, cảm xúc dự tính sẽ đến nhờ một phản ứng. Từ đó, sự yên tĩnh dần biến mất và một cảm xúc đồng điệu với sự chiêm nghiệm ra đời. Đó cũng chính là điều thực sự tồn tại trong tâm trí chúng ta”.
Năm ngoái, trong một cuộc bình chọn của tạp chí Times, nhà nhà thơ Philip Larkin chiếm vị trí quán quân trong danh sách 50 nhà văn vĩ đại nhất nước Anh kể từ 1945. Từng là một thủ thư ở Leicester, Philip Larkin với những vần thơ “khắc khổ” cũng là một tiếng thơ được yêu thích nhất nhì ở nước Anh. Ông từng nói: “Tôi tin rằng mỗi bài thơ là một vũ trụ duy nhất, do đó không có cái gọi là truyền thống, một huyền thoại chung trong mỗi bài thơ của các nhà thơ khác nhau…”
Nhà thơ, nhà phê bình văn hóa thời Victoria của nước Anh, Matthew Arnold ra đời trong một gia đình trí thức nổi tiếng. Ông đồng thời cũng được công chúng Anh gọi là nhà văn hiền triết vì những nhận định sắc sảo, trong đó bao gồm cả nhận định về thơ ca: “Thơ ca ở dưới đáy của chỉ trích về cuộc sống, rằng sự vĩ đại của một nhà thơ nằm trong những ý tưởng đẹp đẽ và mạnh mẽ để sống và trả lời cho câu hỏi làm thế nào để sống”.
Dylan Thomas là nhà thơ Xứ Wales nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng nhất của Dylan Thomas đều được ông sáng tác ở độ tuổi 20. Tên ông đã được đặt cho một giải thưởng 30.000 bảng Anh cho các tác giả dưới 30 tuổi của Xứ Wales hàng năm. Cách định nghĩa về thơ của ông cũng hết sức độc đáo và sôi nổi : “Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm cho các móng chân của bạn lấp lánh, làm bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ, khiến bạn thấy rằng mình cô độc trong thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình đã được mãi mãi sẻ chia”.
Không chỉ là một nhạc sĩ, triết gia tiên phong của nước Mỹ trong thế kỉ XX, John Cage còn là một cây bút thơ, truyện ngắn có tiếng tăm và sung sức bậc nhất trong thi đàn Mỹ. Ông cũng chính là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Còn có thơ ngay khi chúng ta nhận ra rằng mình không sở hữu bất cứ điều gì”.
Kahlil Gibran chính là tác giả của các câu thơ nổi tiếng Wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving (Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta được thêm ngày nữa để yêu thương) hay Ask not what your country can do for you, but ask what you can do for your country (Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước). Với thơ, ông cũng có một định nghĩa rất ấn tượng: “Thơ là thỏa thuận giữa niềm vui, nỗi đau và băn khoăn, với một dấu gạch ngang của từ điển”.
Nhớ Huế làm sao, nhớ quá chừng
Tràng Tiền, Thượng Tứ nhớ rưng rưng …
Tương Tư, Lưu Thủy, Nam Ai điệu
Bềnh bồng trên sóng…. nước đêm xuân …
Ngày mai bạn trở lại quê nhà
Luống cải vườn sau chắc nở hoa ?
Liếp cúc tần ô, bờ giậu biếc
Nồng nàn, đằm thắm đón người….. xa …
Tháng chạp Huế mình chắc lạnh lắm ?
Mưa phùn lất phất trắng trời bay
Đường vô Thành Nội xanh xao phượng
Nhớ Huế đêm đêm tính tháng ….ngày …
Đâu những chiều qua xóm Ngự Viên
Đường về Diệu Đế ướt…. mưa đêm
Chuông ngân lơ lửng tan niềm tục
Bến nước Đông Ba thấp…. thoáng thuyền…
Đi dọc sông đào…. nước uốn quanh
Mượt mà khóm trúc chốn Bao Vinh
Ngã ba con nước mênh mông đổ
Đại Lược về đâu gởi chút … tình……
Đường về quê ngoại bao nhung nhớ
Vỹ Dạ hàng cau nhuốm nắng chiều
Ngọc Anh, Nam Phổ, thơm hương bưởi
Tây Thượng vi vu…. tiếng….. sáo diều.…
Nhớ phượng đỏ trời ngày tháng hạ…….
Ve sầu ra rả, nắng….. chang chang…..
Tiếng chim tu hú trong vườn vải
Ngọt ngào hương cỏ lối….. đi quen ……
Ngày về quê cũ xa lăng lắc…..
Đất khách trời quê dõi….. mắt…… trông….
Tìm bóng tre xanh đan bóng nắng
Bèo tím mơ màng…. dưới…. bến sông ……
Đại nội rêu phong vạn cổ sầu
Trăng tà tiếng cuốc lạnh đêm thâu
Cung miếu, điện đài nay vắng ngắt
Người xưa hồn thấp thoáng….. nơi đâu ..…?
Nhớ Huế làm sao…..nhớ quá chừng….
Tràng Tiền, Thượng Tứ nhớ rưng rưng …
Tương Tư, Lưu Thủy, Nam Ai điệu
Bềnh bồng trên sóng nước…… đêm xuân .…
Huế ơi, thương biết mấy cho vừa
Quê người thèm tiếng võng ban trưa
Thương Huế thu vàng, chiều nắng nhạt
Giọng hò vời vợi…. vẳng….. xa đưa ..…
Đồng Khánh trường xưa tuổi học trò
Tường hồng, ngói đỏ thuở còn thơ……
Ngày đông hai buổi qua Thừa Phủ
Sương bạc trên sông….. tỏa…. mịt mờ .…
Quốc Học rời xa mấy chục năm
Biết bao kỷ niệm, dấu yêu thầm
Ngày đầu rón rén chân vào lớp
E thẹn nhìn bóng lá….. ngoài……. sân .…
Huế đó, tình đây còn…… muôn thuở…….
Núi Ngự, sông Hương vẫn đợi….. chờ
Tuy xa, nhưng vẫn gần gang tấc
Thương hoài áo lụa, nón bài…….. thơ ………………
Di sản của các vị vua thi sỹ
Hay như viết về mùa xuân, thơ trên di tích Huế không dừng lại ở ngợi ca cảnh đẹp của mùa xuân, mà qua đó gửi gắm tâm tư, ước vọng của người viết về sự hưng thịnh trường tồn của đất nước như ở Điện Thái Hòa: “Hà xứ xuân sinh tảo/ Xuân sinh vũ lộ nghi/ Kỳ lâm phù chúng vọng/ Khản trạch hiệp nông thì. (Nguyễn Phước Hải Trung dịch)
Tiếng thơ - nhạc hiệu - Đài tiếng nói Việt Nam
Định nghĩa về thơ của những cây bút thơ
“Thơ là sự thần thánh hóa thực tại” (Edith Sitwell), “Thơ là những gì đáng ghi nhớ trong cuộc sống” (William Hazlitt), “Thơ là ngôn ngữ chưng cất mạnh mẽ nhất của bản thân tác giả” (Rita Dove).
Ngoài những định nghĩa trên đây, nhiều cây bút thơ nổi tiếng khác cũng bày tỏ cách nhìn ấn tượng về thơ.
Percy Bysshe Shelley
Chân dung “Shelley điên rồ”
Một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ XIX, người được gọi là “Shelley điên rồ” có một cuộc đời ngắn ngủi nhưng hết sức lãng mạn. Trong số 1821 bài viết của Shelley, nhiều lần, nhà thơ xuất thân quý tộc đã đề cập tới cái nhìn đối với thơ ca. Trong đó, nổi bật nhất là những nhận định sau:
“Thơ
thực sự là một điều gì đó rất thiêng liêng. Nó vừa là trung tâm, đồng
thời là chu vi của tri thức, là bao gồm các khoa học, nguồn gốc và thành
quả của các hệ thống tư tưởng. Đó là sự hồi sinh của mùa xuân…”
“Thơ ghi lại những khoảnh khắc đỉnh cao và hạnh phúc nhất của tâm hồn”.
“Thơ
ca, trong ý thức chung có thể định nghĩa là biểu hiện của trí tưởng
tượng, và thơ ca cũng là khả năng thiên bẩm khi con người sinh ra”.
“Thơ ca là một tấm gương có thể khiến cái đẹp cũng có thể bị biến dạng”.
Emily Dickinson
Thơ giúp Emily Dickinson "cất cánh"
Cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson là cây bút thơ đặc sắc nhất của Mỹ thế kỉ XIX. Bà đã để lại cho hậu thế tới 2000 bài thơ với nhiều bài có ý tưởng hết sức độc đáo. Trong quan điểm về thơ ca, bà cũng có cách nhìn rất ấn tượng: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi cảm thấy giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó là thơ. Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ. Đó là cách duy nhất để tôi biết những điều này, liệu còn cách nào khác nữa không?”
Robert Frost
Robert Frost - Nhân vật quan trọng của các diễn đàn thơ ca Mỹ
Robert Frost là một nhà thơ Mỹ từng bốn lần đoạt giải Pulitzer, cũng là cây bút thơ từng vinh dự được Tổng thống John F. Kennedy mời đọc thơ trong ngày nhậm chức của ông. Được các nhà phê bình hiện đại nhận định là một nhà thơ dễ hiểu mà vẫn khó hiểu, giản dị mà phức tạp, cách Robert Frost nghĩ về thể loại văn học ông theo đuổi cũng có phần kỳ bí: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt chúng”; “Thơ ca là những gì đã thất lạc trong quá trình chuyển đổi”.
Salvatore Quasimodo
Salvatore Quasimodo nhấn mạnh sự đồng cảm giữa người làm thơ và độc giả
Nhà thơ người Italia, Salvatore Quasimodo nổi tiếng nhờ những vần thơ trữ tình với ngôn ngữ tinh lọc và đẹp đẽ một cách chuẩn mực. Ông nói: “Thơ là sự mặc khải rằng người làm thơ tin rằng cảm xúc của họ chính là tiếng lòng của độc giả”.
Edgar Allan Poe
"Nhà thơ điên" Edgar Allan Poe
Edgar Allan Poe được gọi là “nhà thơ điên” cũng là một cây bút kỳ tài trong thể loại văn chương trinh thám và hình sự. Ông là tác giả của những phát ngôn nổi tiếng như: “Nỗi buồn là giọng điệu phù hợp nhất của thơ ca” ; “Tôi định nghĩa rất ngắn về thơ ca, ngôn ngữ thơ là nhịp điệu thẫm mỹ. Trọng tài duy nhất của chúng là khẩu vị. Trí khôn và nhận thức chỉ khiến nó trở thành một tài sản. Trừ yếu tố tình cờ, thơ không quan tâm tới bất cứ điều gì, dù là nghĩa vụ hay chân lý”.
Mary Oliver
Với Mary Oliver, thơ là một cách sống
Từng là thư ký cho nhà thơ Edna St. Vincent Millay, Mary Oliver đã vươn lên trở thành một cây bút thơ ăn khách, nhất là về đề tài thiên nhiên, giành được giải thưởng sách quốc gia và giải thưởng Pulitzer. Với công việc của mình, Mary Oliver vô cùng nghiêm túc và rõ ràng. “Thơ không phải là một nghề, đó là một cách sống. Nó là một chiếc giỏ không, bạn đặt cuộc sống của mình vào đó và khiến một cái gì đó ra đời từ đó”.
T.S. Eliot
Với T.S. Eliot, chỉ những người có cá tính và cảm xúc mạnh mẽ mới có thể làm thơ
T.S. Eliot, chủ nhân giải Nobel 1948 cũng là nhà thơ vĩ đại của nước Anh thế kỷ 20. Sinh thời, ông từng nói: “Thơ không phải là một vòng quay chậm rãi của cảm xúc mà là một lối thoát của cảm xúc, không phải là sự biểu hiện của tính cách, nhưng một lối thoát cho cá tính. Nhưng, tất nhiên là chỉ những người có cá tính và cảm xúc biết ý nghĩa của việc muốn thoát khỏi những điều này.”
William Wordsworth
William Wordsworth nhấn mạnh sự chiêm nghiệm trong thơ ca
Không chỉ cuốn hút độc giả với những vần thơ đơn giản, chất phác, William Wordsworth còn gây được cảm tình với những phát ngôn về thơ ca. Trong đó có câu nói nổi tiếng: “Thơ tràn ra tự phát khi cảm xúc dâng cao. Nó bắt nguồn từ sự hồi tưởng trong yên tĩnh, cảm xúc dự tính sẽ đến nhờ một phản ứng. Từ đó, sự yên tĩnh dần biến mất và một cảm xúc đồng điệu với sự chiêm nghiệm ra đời. Đó cũng chính là điều thực sự tồn tại trong tâm trí chúng ta”.
Philip Larkin
Philip Larkin - Cây bút thơ số một ở Anh
Năm ngoái, trong một cuộc bình chọn của tạp chí Times, nhà nhà thơ Philip Larkin chiếm vị trí quán quân trong danh sách 50 nhà văn vĩ đại nhất nước Anh kể từ 1945. Từng là một thủ thư ở Leicester, Philip Larkin với những vần thơ “khắc khổ” cũng là một tiếng thơ được yêu thích nhất nhì ở nước Anh. Ông từng nói: “Tôi tin rằng mỗi bài thơ là một vũ trụ duy nhất, do đó không có cái gọi là truyền thống, một huyền thoại chung trong mỗi bài thơ của các nhà thơ khác nhau…”
Matthew Arnold
Matthew Arnold đề cao vai trò thơ ca với lối thoát của cuộc sống
Nhà thơ, nhà phê bình văn hóa thời Victoria của nước Anh, Matthew Arnold ra đời trong một gia đình trí thức nổi tiếng. Ông đồng thời cũng được công chúng Anh gọi là nhà văn hiền triết vì những nhận định sắc sảo, trong đó bao gồm cả nhận định về thơ ca: “Thơ ca ở dưới đáy của chỉ trích về cuộc sống, rằng sự vĩ đại của một nhà thơ nằm trong những ý tưởng đẹp đẽ và mạnh mẽ để sống và trả lời cho câu hỏi làm thế nào để sống”.
Dylan Thomas
Dylan Thomas có một tuổi thanh xuân huy hoàng với vị trí đỉnh cao trong thơ ca Xứ Wales
Dylan Thomas là nhà thơ Xứ Wales nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng nhất của Dylan Thomas đều được ông sáng tác ở độ tuổi 20. Tên ông đã được đặt cho một giải thưởng 30.000 bảng Anh cho các tác giả dưới 30 tuổi của Xứ Wales hàng năm. Cách định nghĩa về thơ của ông cũng hết sức độc đáo và sôi nổi : “Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm cho các móng chân của bạn lấp lánh, làm bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ, khiến bạn thấy rằng mình cô độc trong thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình đã được mãi mãi sẻ chia”.
John Cage
Theo John Cage, thơ là giá trị trường tồn mãi mãi
Không chỉ là một nhạc sĩ, triết gia tiên phong của nước Mỹ trong thế kỉ XX, John Cage còn là một cây bút thơ, truyện ngắn có tiếng tăm và sung sức bậc nhất trong thi đàn Mỹ. Ông cũng chính là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Còn có thơ ngay khi chúng ta nhận ra rằng mình không sở hữu bất cứ điều gì”.
Kahlil Gibran

Kahlil Gibran là tác giả của những vần thơ đầy tính nhân văn
Kahlil Gibran chính là tác giả của các câu thơ nổi tiếng Wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving (Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta được thêm ngày nữa để yêu thương) hay Ask not what your country can do for you, but ask what you can do for your country (Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước). Với thơ, ông cũng có một định nghĩa rất ấn tượng: “Thơ là thỏa thuận giữa niềm vui, nỗi đau và băn khoăn, với một dấu gạch ngang của từ điển”.
----------------------------------------------------------------------
Sóng (Xuân Quỳnh) - Ngâm thơ: Minh Ngọc
sóng
dữ dội và dụi êm
ồn ào và lặng lẽ
sóng không hiểu nổi mình
sóng tìm ra tận bể
ôi con sóng ngày xưa
và ngày sau vẫn thế
nỗi khát vọng tình yêu
bồi hồi trong ngực trẻ
trước muôn trùng sóng bể
em nghĩ về anh, em
em nghĩ về biển lớn
từ khi nào sóng nên?
sóng bắt đầu từ gió
gió bắt đầu từ đâu
em cũng không biết nữa
khi nào ta yêu nhau
con sóng dưới lòng sâu
con sóng trên mặt bể
những con sóng nhớ bờ
ngày đêm không ngủ được
lòng em nhớ đến anh
cả trong mơ còn thức
dẫu xuôi về phương bắc
dẫu ngược về phương nam
nơi nào em cũng nghĩ
hướng về anh một phương
ở ngoài kia đại dương
trăng nghìn con sóng đó
con nào chẳng nhớ bờ
dẫu muôn trùng cách trở
ồn ào và lặng lẽ
sóng không hiểu nổi mình
sóng tìm ra tận bể
ôi con sóng ngày xưa
và ngày sau vẫn thế
nỗi khát vọng tình yêu
bồi hồi trong ngực trẻ
trước muôn trùng sóng bể
em nghĩ về anh, em
em nghĩ về biển lớn
từ khi nào sóng nên?
sóng bắt đầu từ gió
gió bắt đầu từ đâu
em cũng không biết nữa
khi nào ta yêu nhau
con sóng dưới lòng sâu
con sóng trên mặt bể
những con sóng nhớ bờ
ngày đêm không ngủ được
lòng em nhớ đến anh
cả trong mơ còn thức
dẫu xuôi về phương bắc
dẫu ngược về phương nam
nơi nào em cũng nghĩ
hướng về anh một phương
ở ngoài kia đại dương
trăng nghìn con sóng đó
con nào chẳng nhớ bờ
dẫu muôn trùng cách trở
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Cập nhật lúc: 03:06:57/11-06-2016
Mục tin: Thông tin mới nhất về thi thpt quốc gia 2018
Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Sóng trong tác phẩm cùng tên của nhà thơ mang hình ảnh ẩn dụ . Nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình đầy mơ mộng của thi nhân
Xuân Quỳnh
là nhà thơ của hạnh phúc đời thường . Thơ bà là tiếng lòng của một tâm
hồn luôn luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sống hàng
ngày, trân trọng, nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc đời thường. Trong
các nhà thơ nữ Việt Nạm, Xuân Quỳnh xứng đáng được gọi là nhà thơ của
tình yêu . Bà viết nhiều , viết hay về tình yêu nhưng có lẽ Sóng là bài
thơ đặc sắc hơn cả. Bởi nó nói lên được một tâm hồn khao khát yêu đương,
một tình yêu vừa hồn nhiên chân thật, vừa mãnh liệt, sôi nổi của một
trái tim phụ nữ .
Tình yêu là đề tài
muôn thuở của thi ca . Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã viết về tình yêu với
tất cả sự nồng nhiệt của một trái tim tuổi trẻ . Ta bắt gặp một Xuân
Diệu nồng nàn, đắm say và khát khao dâng hiến cho tình yêu, một Nguyễn
Bính mơ màng tìm về tình yêu đồng nội, một Anh Thơ tha thiết nhưng thẹn
thùng cái duyên con gái… nhưng chỉ đến Xuân Quỳnh, cái khát vọng rất đỗi
đời thường của con người đó mới được bộc bạch , mà bộc bạch một cách
chân thành như chính cuộc đời nhà thơ vậy : một thứ tình yêu vừa phong
phú, phức tạp, vừa thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo
rực, đang khao khát yêu đương .
Sóng
trong tác phẩm cùng tên của nhà thơ mang hình ảnh ẩn dụ . Nó là sự hóa
thân của cái tôi trữ tình đầy mơ mộng của thi nhân . Sóng và em tuy hai
mà một, có lúc phân đôi để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng,
có lúc lại hòa nhập để tạo nên âm vang cộng hưởng . Và có thể nói qua
hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã bày tỏ một tình yêu dạt dào, mênh mông và
một khát vọng vĩnh hằng về tình yêu đôi lứa
Mở
đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt của một tâm hồn đang khao
khát yêu đương, đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn. Xuân Quỳnh diễn
tả thật cụ thể cái trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp
trong một trái tim cồn cào khao khát tình yêu. Tính khí của người con
gái đang yêu, cũng như sóng vậy thôi, vốn mang trong nó nhiều trạng thái
đối cực: “Dữ dội và dịu êm, Ồn ào và lặng lẽ” … Và cũng như sóng, trái
tim người con gái đang yêu không chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn
vươn tới cái lớn lao để có thể đồng cảm, đồng điệu với mình “Sông không
hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể” . Có thể thấy, ngay trong khổ thơ đầu
tiên này một nét mới mẻ trong quan niệm về tình yêu. Người con gái khao
khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa . Nếu “Sông
không hiểu nổi mình” thì sóng sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó “Tìm
ra tận bể”, đến với cái cao rộng, bao dung. Thật là minh bạch và cũng
thật là quyết liệt !
Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực
trong trái tim con người, trong quan niệm của Xuân Quỳnh, là khát vọng
muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ . Nó cũng như
sóng, mãi mãi trường tồn , vĩnh hằng với thời gian. Từ ngàn xưa, con
người đã đến với tình yêu và mãi mãi cứ đến với tình yêu . Với con
người, tình yêu bao giờ cũng là một khát vọng bồi hồi:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày nay vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Và ngày nay vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Khi
tình yêu đến, như một tâm lý tự nhiên và thường tình, người ta luôn có
nhu cầu tự tìm hiểu và phân tích . Nhưng tình yêu là một hiện tượng tâm
lý khác thường, đầy bí ẩn, không thể giải quyết được bằng lý lẽ thông
thường, làm sao có thể giải đáp được câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu,
về thời điểm bắt đầu của một tình yêu. Cái điều mà trước đó đã từng là
Xuân Diêu băn khoăn “Làm sao cặt được nghĩa tình yêu? ” thì nay một lần
nữa Xuân Quỳnh bộc bạch một cách hồn nhiên, thật dễ thương . Tình yêu
cũng như sóng biển, như gió trời vậy thôi, làm sao có thể hiểu hết được.
Nó cũng tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên , và cũng khó hiểu, nhiều
bất ngờ như tự nhiên vậy :
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đàu từ đâu
Em cũng không biết nưa
Khi nào ta yêu nhau
Gió bắt đàu từ đâu
Em cũng không biết nưa
Khi nào ta yêu nhau
Tình
yêu thường cũng gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách. Nỗi nhớ của một trái
tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật mãnh liệt . Một nỗi nhớ thường
trực cả khi thức, cả khi ngủ, bao trùm lên cả không gian . Một nỗi nhớ
còn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi . Nó cuồn cuộn,
dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn . Nhịp thơ
trong suốt bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, dào dạt, hăm hở, náo
nức nhất , mãnh liệt nhất là ở đoan thơ này :
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Và,
như trên đã nói, vẫn là hình tượng song hành của sóng và em bổ sung đắp
đổi cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc hơn, ám ảnh hơn tình yêu và nỗi nhớ
cùng với lòng thủy chung vô hạn của một trái tim đang rạo rực yêu thương
. Nỗi nhớ được diễn tả qua hình tượng con sóng nhớ bờ “ Ngày đêm không
ngủ được” vẫn chưa đủ, chưa thỏa, lại được thể hiện một lần nữa qua nỗi
nhớ của nhà thơ : “ Lòng em nhớ đến anh, Cả trong mơ còn thức”. Nỗi nhớ
tràn đầy lòng yêu của thi sĩ. Nỗi nhớ thường trực trong mọi không gian
và thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi trong ý
thức, xâm nhập vào cả trong giấc mơ. Những đòi hỏi, khao khát yêu đương
của người con gái được bộc lộ thật mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị :
sóng chỉ khao khát tới bờ cũng như em khao khát có anh ! Tình yêu của
người con gái ở đây vừa thiết tha, mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị,
vừa thủy chung duy nhất. Qua hình tượng sóng và em . Xuân Quỳnh đã nói
lên thật chân thành, táo bạo , không hề giấu giếm cái khát vọng tình yêu
sôi nổi, mãnh liệt của mình, một phụ nữ, một điều hiếm thấy trong văn
học Việt Nam .
Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967,
khi mà nhà thơ đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song, người phụ
nữ hồn hiên tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn
phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong trương lai. Vừa tự động viên,
an ủi mình, tác giả vừa tin vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn
như con sóng nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vời cách trở”. Tương lai
hạnh phúc như đang còn ở phía trước . Và vì thế, ý thức về thời gian
chưa làm nhà thơ lo âu mà chỉ làm tăng thêm niềm tin tưởng:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Xuân
Quỳnh vừa thổ lộ trực tiếp, vừa mượn hình tượng sóng để nói và suy nghĩ
về tình yêu. Những ý nghĩ này có vẻ tự do, tản mạn, nhưng từ trong
chiều sâu của thi tứ vẫn còn sự vận động nhất quán . Đó là cuộc hành
trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình
yêu bao la, rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong
tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thủa:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ .
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ .
Người
con gái mong muốn hòa mình vào bể đời rộng lớn , bứt mình ra khỏi những
lo toan tính toán , để ngập chìm trong bể lớn tình yêu . Phải có mọt
tình yêu như thế nào thì mới có được một mong muốn cao cả đến chừng ấy .
Khát vọng tình yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt đủ đầy . Cuộc đời
còn tình yêu thì cuộc đời còn tươi đẹp và đáng sống và sống trong tình
yêu là một điều hạnh phúc . Xuân Quỳnh mong ước được sống mãi trong tình
yêu, bất tử với tình yêu .
Sóng là
một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân
Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng, vừa mãnh
liệt, sôi nổi, vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa ý nhị sâu xa. Sau này khi
đã nếm trải nhiều cay đắng trong tình yêu, giọng thơ Xuân Quỳnh không
còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn tồn tại
mãi mãi trong trái tim tràn ngập yêu thương của nhà thơ .
Tuyensinh247.com
Tuong Tu . Nguyen Binh . Hong Van
tương tư
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một ngườị
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi\...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho !
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?
Một người chín nhớ mười mong một ngườị
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi\...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho !
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?
Xao xuyến vẻ đẹp của người con gái thôn quê
Sinh ra và lớn lên ở làng quê nên Vũ
Phương luôn trân quý, yêu thương tất cả mọi thứ thuộc về nông thôn, cô
giản dị và ấm áp như chính con người ở thôn quê.
Cô gái sinh năm 1999 chia sẻ: “Thời gian
và công việc khá bận nên lâu lâu mình mới về nhà được, nhưng chắc ai xa
nhà cũng sẽ có nỗi nhớ như mình thôi. Bộ ảnh này được chụp chỉ trong
vòng một buổi chiều và mọi khoảnh khắc đều rất chân thật”.
Vũ Phương có đam mê làm mẫu ảnh, nên cô luôn cố gắng để từng ngày hoàn thiện bản thân và thực hiện ước mơ.
Khi được hỏi rằng giữa cuộc sống thành thị
và nông thôn Phương sẽ chọn nơi nào thì cô gái nở nụ cười nhẹ nhàng mà
bộc bạch: “Ở thành phố thì cuộc sống hiện đại, nhịp sống cũng rất chóng
mặt, thú thật thời gian được về quê bản thân mình cảm thấy mọi thứ rất
nhẹ nhàng, tình cảm. Sẽ chẳng ai lựa chọn được nơi mình sinh ra, nên cứ
làm những gì mình cảm thấy không hổ thẹn với chính mình mà thôi”.
Ngoài thời gian làm mẫu ảnh thì cô bạn còn
học tập thêm những kiến thức về kinh doanh, có thể đây cũng là con
đường trong tương lai Vũ Phương chọn để phát triển.
Cô chia sẻ thêm: “Ngoài mẫu
ảnh thì mình mong sau này sẽ mở một cửa hàng kinh doanh, có thể là thời
trang, trước khi thực hiện được điều đó thì cứ sống tốt ở hiện tại đã”.
Cảm xúc Vũ Phương không quá khó để thực hiện bộ ảnh bởi từ bé cô gái này đã quen với cuộc sống nông thôn.
Nhiếp ảnh gia Đồng Văn Hùng,
người thực hiện bộ ảnh này cho biết: “Bộ ảnh với những cảm xúc, khoảnh
khắc giản dị đời thường của một cô gái thôn quê. Thế nên mọi thứ đều rất
tự nhiên, không bị gò bó hay diễn”.
Đặc biệt hơn bộ ảnh được chụp ở cánh đồng gần cầu Nhật Tân (Hà Nội).
Thi Thi
Ảnh: Đồng Văn Hùng
Vẻ đẹp “chân quê” trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính.
Thứ sáu - 06/10/2017 08:43Đã là thi sĩ của yêu thương, ngoài đời Nguyễn Bính hẳn phải nhiều lần tương tư mới đúng. Nhưng lần này, “tương tư” trở thành một thi phẩm độc đáo, nó là thơ hiện đại – Thơ mới, nhưng vẫn đậm chất “chân quê”, làm nên một phong cách tài hoa mà giản dị, một tiếng nói của “thôn dân” (Đỗ Lai Thúy) vừa hiện đại, tinh tế mà cũng rất mực chân thành, thấm đẫm hồn quê!
Viết về tình yêu được xem là đề tài “tủ”
của Thơ mới. Có tình yêu tan vỡ, có tình yêu vừa chớm nở… với không
biết bao sắc màu đầy biến hóa trong tình trường xưa nay. Nguyễn Bính
viết Tương tư và xem đó như là một “bệnh” của riêng cái tôi trữ tình trong giờ phút ấy:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Mượn thôn làng để ẩn mình trong đó là cách quen thuộc của ca dao, khi mà “cái tôi” phải nhập vào cộng đồng mới có thể yên vị! Cái điều muốn giãi bày là ở chuyện người nhớ kia: chín nhớ mười mong là một thành ngữ được đặt giữa câu thơ, hai đầu còn lại là một người và còn lại bên kia nữa, vẫn một người. Như vậy là có khoảng cách không gian (và cả thời gian) để đo đếm. Nhớ và mong là biểu hiện của tương tư? Khác rất xa với Anh trong Tương tư, chiều của Xuân Diệu.
Cách lấy trời đất ra để thề thốt, hoặc đế trách cứ, hoặc là so sánh vốn của ca dao (“Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời… “Thấy anh như thấy mặt trời…”, “Núi che mặt trời không thấy người thương”…). Nguyễn Bính cũng mượn, nhưng mượn “bệnh của giời” để so với “bệnh của tôi” thì to gan quá, chỉ có thể có ở một nhà thơ hiện đại thôi. Tuy nhiên, “cái tôi” của Nguyễn Bính không lộ rõ như Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác, họ nghênh ngang hơn, họ ngạo mạn hơn nhiều. Nguyễn Bính có so sánh như vậy cũng chỉ vì cớ khép người ta nghe mình cho thuận lòng trời thôi! vẫn chân quê là chỗ ấy.
Kể lể và giãi bày là cách quen thuộc của ca dao được nhà thơ triệt để sử dụng. Nó phù hợp với tâm trạng nhớ nhung của kẻ tương tư. Đi qua cả giãi bày là hờn trách, kiếm cớ mà trách hờn cho khéo: Vì hai thôn mà thật ra là một làng, vì ngỡ không gần nhưng có xa gì đâu! Chẳng đò ngang, chẳng còn cơn cớ để xa mặt cách lòng được nữa. Lối nói vòng vo khéo léo ấy cũng nhuốm màu sắc của ca dao như “Hôm qua tát nước đầu đình”, khiến người nghe hờn trách mà vẫn dễ chấp nhận, vẫn thương yêu. Và, quan trọng hơn là … lại nhớ hơn, bồi hồi khắc khoải, bâng khuâng … nghĩa là “trúng” vào cái “bay” của người than vãn kia tự bao giờ! Tài hoa của Nguyễn Bính là ở chỗ ấy. Có sắp đặt bài bản mà vẫn như vô hình, như vô lí; hay là dùng cái vô lí, vô lí để nói cho được cái hữu duyên?
Khát khao cháy bỏng được cất lên:
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Đây là hai câu thơ hiện đại nhất trong bài thơ. Hình ảnh bến và đò thì không lạ, nhưng hoa và bướm thì đã có phần mới mẻ. Nó có chất thị thành, có ánh sáng của “đèn điện” chứ không phải là “nến sáp”. Chưa kể đến chuyện ao ước ngược đời, vô lí: bến gặp dò mà không phải đò gặp bến, hoa đi tìm bướm chứ không phải thuận lẽ xưa nay!
Nhưng, dù sao, sự “vô lí” vẫn được chấp nhận vì nằm trong toàn bộ hệ thống “lí lẽ” của kẻ tương tư suốt chiều dọc của bài thơ. Vì “tương tư” mà, với tâm trạng “bồi hồi” lạ lùng nên mới thế! Nào ai trách cứ gì những kẻ tương tư.
Cuối cùng, bài thơ vẫn “chân quê” ở cái tình người, tình thơ.
Chất chân quê ấy của Tương tư thể hiện ở nội dung tình cảm sâu sắc của bài thơ: Mặc dù viết về tình yêu nhưng không sầu mộng; viết về nhớ nhung nhưng không tuyệt vọng, tỏ tình có vẻ đơn phương nhưng vẫn tin vào duyên cau – trầu như một quy luật hợp lòng trời và nhất là hợp với truyền thống văn hóa thôn làng bền vững xưa nay “Hai thôn chung lại một làng”. Tất cả đều đã có, trầu cau đã sẵn, còn chờ gì nữa nhỉ? Tình yêu ở đây gắn liền với khao khát hạnh phúc, với hôn nhân đôi lứa, rất gần với tình trong ca dao xưa.
Vẻ đẹp “chân quê” trong bài thơ này không chỉ ở cách sử dụng thể loại lục bát dân tộc cùng những hình ảnh quen thuộc, biện pháp so sánh truyền thống, mà còn cả ở cách kết cấu “có hậu” này nữa ở phần cuối của bài thơ:
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Hàng loạt những “cặp đôi” xuất hiện ngay từ đầu bài thơ, đến đoạn cuối này, lặp lại với một mức đậm đặc hơn: thôn Đoài thôn Đông, nhà em nhà anh, giàn giầu – hàng cau.
Lối nói bóng gió nhưng rất tinh tế, nên cũng khá rõ ràng, mạch lạc. Tương tư, hờn trách, ước mong … để tỏ tình. Các bước tuần tự như vậy ta cũng thường bắt gặp trong một số bài ca dao tỏ tình (Anh làm thợ mộc Thanh Hoa, Đêm qua tát nước dầu đình…). Nguyễn Bính sáng tạo hơn, in dấu ấn hiện đại hơn, nhưng nét đẹp “chân quê”, hồn quê vẫn vương vấn trong hồn vía của bài thơ. Trong khi không ít thi sĩ cùng thời, dù ít nhiều vẫn in dấu ấn của một số nhà thơ Tây phương, thì Nguyễn Bính vẫn thủy chung với thơ dân gian truyền thống. Vẫn hiện đại khi “thôn dân” Nguyễn Bính có “gian díu với kinh thành” đôi ba lần, song cốt cách thơ của ông, vẫn “giữ chân quê”, thật duyên dáng và hấp dẩn.
Lấy không gian quê làm không gian tỏ tình, cảnh sắc rất gần gũi với những miền quê Bắc Bộ, con đò, hàng cau, mái đình, bến nước… Bài thơ phảng phất không gian vừa lãng mạn, vừa bình dị, quen thuộc.
Hồn quê còn được thể hiện ở hầu hết mọi yếu tố của bài thơ, kể cả ngôn từ, thứ ngôn từ mộc mạc, khiêm nhường, kín đáo, hình ảnh đến giọng điệu trữ tình vừa kể lể, than trách, vừa giãi bày tha thiết…
Chân quê được xem là một nét đặc biệt tạo nên hồn thơ Nguyễn Bính. Trong khi các nhà thơ mới hướng ngoại, thậm chí là vọng ngoại, mới thấy Nguyễn Bính có duyên gắn bó với văn hóa dân gian tài hoa đến mức nào. Sẽ chẳng bao giờ mất được “hồn quê” hay chất “chân quê” trong mỗi người Việt, dù xã hội có “đô thị hóa” đến đâu, trong sâu thẳm của tiếng nói tâm hồn, vẫn vọng về hồn quê từ cõi lòng Nguyễn Bính!
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Mượn thôn làng để ẩn mình trong đó là cách quen thuộc của ca dao, khi mà “cái tôi” phải nhập vào cộng đồng mới có thể yên vị! Cái điều muốn giãi bày là ở chuyện người nhớ kia: chín nhớ mười mong là một thành ngữ được đặt giữa câu thơ, hai đầu còn lại là một người và còn lại bên kia nữa, vẫn một người. Như vậy là có khoảng cách không gian (và cả thời gian) để đo đếm. Nhớ và mong là biểu hiện của tương tư? Khác rất xa với Anh trong Tương tư, chiều của Xuân Diệu.
Cách lấy trời đất ra để thề thốt, hoặc đế trách cứ, hoặc là so sánh vốn của ca dao (“Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời… “Thấy anh như thấy mặt trời…”, “Núi che mặt trời không thấy người thương”…). Nguyễn Bính cũng mượn, nhưng mượn “bệnh của giời” để so với “bệnh của tôi” thì to gan quá, chỉ có thể có ở một nhà thơ hiện đại thôi. Tuy nhiên, “cái tôi” của Nguyễn Bính không lộ rõ như Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác, họ nghênh ngang hơn, họ ngạo mạn hơn nhiều. Nguyễn Bính có so sánh như vậy cũng chỉ vì cớ khép người ta nghe mình cho thuận lòng trời thôi! vẫn chân quê là chỗ ấy.
Kể lể và giãi bày là cách quen thuộc của ca dao được nhà thơ triệt để sử dụng. Nó phù hợp với tâm trạng nhớ nhung của kẻ tương tư. Đi qua cả giãi bày là hờn trách, kiếm cớ mà trách hờn cho khéo: Vì hai thôn mà thật ra là một làng, vì ngỡ không gần nhưng có xa gì đâu! Chẳng đò ngang, chẳng còn cơn cớ để xa mặt cách lòng được nữa. Lối nói vòng vo khéo léo ấy cũng nhuốm màu sắc của ca dao như “Hôm qua tát nước đầu đình”, khiến người nghe hờn trách mà vẫn dễ chấp nhận, vẫn thương yêu. Và, quan trọng hơn là … lại nhớ hơn, bồi hồi khắc khoải, bâng khuâng … nghĩa là “trúng” vào cái “bay” của người than vãn kia tự bao giờ! Tài hoa của Nguyễn Bính là ở chỗ ấy. Có sắp đặt bài bản mà vẫn như vô hình, như vô lí; hay là dùng cái vô lí, vô lí để nói cho được cái hữu duyên?
Khát khao cháy bỏng được cất lên:
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Đây là hai câu thơ hiện đại nhất trong bài thơ. Hình ảnh bến và đò thì không lạ, nhưng hoa và bướm thì đã có phần mới mẻ. Nó có chất thị thành, có ánh sáng của “đèn điện” chứ không phải là “nến sáp”. Chưa kể đến chuyện ao ước ngược đời, vô lí: bến gặp dò mà không phải đò gặp bến, hoa đi tìm bướm chứ không phải thuận lẽ xưa nay!
Nhưng, dù sao, sự “vô lí” vẫn được chấp nhận vì nằm trong toàn bộ hệ thống “lí lẽ” của kẻ tương tư suốt chiều dọc của bài thơ. Vì “tương tư” mà, với tâm trạng “bồi hồi” lạ lùng nên mới thế! Nào ai trách cứ gì những kẻ tương tư.
Cuối cùng, bài thơ vẫn “chân quê” ở cái tình người, tình thơ.
Chất chân quê ấy của Tương tư thể hiện ở nội dung tình cảm sâu sắc của bài thơ: Mặc dù viết về tình yêu nhưng không sầu mộng; viết về nhớ nhung nhưng không tuyệt vọng, tỏ tình có vẻ đơn phương nhưng vẫn tin vào duyên cau – trầu như một quy luật hợp lòng trời và nhất là hợp với truyền thống văn hóa thôn làng bền vững xưa nay “Hai thôn chung lại một làng”. Tất cả đều đã có, trầu cau đã sẵn, còn chờ gì nữa nhỉ? Tình yêu ở đây gắn liền với khao khát hạnh phúc, với hôn nhân đôi lứa, rất gần với tình trong ca dao xưa.
Vẻ đẹp “chân quê” trong bài thơ này không chỉ ở cách sử dụng thể loại lục bát dân tộc cùng những hình ảnh quen thuộc, biện pháp so sánh truyền thống, mà còn cả ở cách kết cấu “có hậu” này nữa ở phần cuối của bài thơ:
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Hàng loạt những “cặp đôi” xuất hiện ngay từ đầu bài thơ, đến đoạn cuối này, lặp lại với một mức đậm đặc hơn: thôn Đoài thôn Đông, nhà em nhà anh, giàn giầu – hàng cau.
Lối nói bóng gió nhưng rất tinh tế, nên cũng khá rõ ràng, mạch lạc. Tương tư, hờn trách, ước mong … để tỏ tình. Các bước tuần tự như vậy ta cũng thường bắt gặp trong một số bài ca dao tỏ tình (Anh làm thợ mộc Thanh Hoa, Đêm qua tát nước dầu đình…). Nguyễn Bính sáng tạo hơn, in dấu ấn hiện đại hơn, nhưng nét đẹp “chân quê”, hồn quê vẫn vương vấn trong hồn vía của bài thơ. Trong khi không ít thi sĩ cùng thời, dù ít nhiều vẫn in dấu ấn của một số nhà thơ Tây phương, thì Nguyễn Bính vẫn thủy chung với thơ dân gian truyền thống. Vẫn hiện đại khi “thôn dân” Nguyễn Bính có “gian díu với kinh thành” đôi ba lần, song cốt cách thơ của ông, vẫn “giữ chân quê”, thật duyên dáng và hấp dẩn.
Lấy không gian quê làm không gian tỏ tình, cảnh sắc rất gần gũi với những miền quê Bắc Bộ, con đò, hàng cau, mái đình, bến nước… Bài thơ phảng phất không gian vừa lãng mạn, vừa bình dị, quen thuộc.
Hồn quê còn được thể hiện ở hầu hết mọi yếu tố của bài thơ, kể cả ngôn từ, thứ ngôn từ mộc mạc, khiêm nhường, kín đáo, hình ảnh đến giọng điệu trữ tình vừa kể lể, than trách, vừa giãi bày tha thiết…
Chân quê được xem là một nét đặc biệt tạo nên hồn thơ Nguyễn Bính. Trong khi các nhà thơ mới hướng ngoại, thậm chí là vọng ngoại, mới thấy Nguyễn Bính có duyên gắn bó với văn hóa dân gian tài hoa đến mức nào. Sẽ chẳng bao giờ mất được “hồn quê” hay chất “chân quê” trong mỗi người Việt, dù xã hội có “đô thị hóa” đến đâu, trong sâu thẳm của tiếng nói tâm hồn, vẫn vọng về hồn quê từ cõi lòng Nguyễn Bính!
Bản quyền bài viết thuộc về Sachgiai.com. Ghi nguồn Sách giải.com khi đăng lại bài viết này.
Chút tình riêng gửi Huế-Thu Hương ngâm thơ
chút tình riêng gửi huế
Tràng Tiền, Thượng Tứ nhớ rưng rưng …
Tương Tư, Lưu Thủy, Nam Ai điệu
Bềnh bồng trên sóng…. nước đêm xuân …
Ngày mai bạn trở lại quê nhà
Luống cải vườn sau chắc nở hoa ?
Liếp cúc tần ô, bờ giậu biếc
Nồng nàn, đằm thắm đón người….. xa …
Tháng chạp Huế mình chắc lạnh lắm ?
Mưa phùn lất phất trắng trời bay
Đường vô Thành Nội xanh xao phượng
Nhớ Huế đêm đêm tính tháng ….ngày …
Đâu những chiều qua xóm Ngự Viên
Đường về Diệu Đế ướt…. mưa đêm
Chuông ngân lơ lửng tan niềm tục
Bến nước Đông Ba thấp…. thoáng thuyền…
Đi dọc sông đào…. nước uốn quanh
Mượt mà khóm trúc chốn Bao Vinh
Ngã ba con nước mênh mông đổ
Đại Lược về đâu gởi chút … tình……
Đường về quê ngoại bao nhung nhớ
Vỹ Dạ hàng cau nhuốm nắng chiều
Ngọc Anh, Nam Phổ, thơm hương bưởi
Tây Thượng vi vu…. tiếng….. sáo diều.…
Nhớ phượng đỏ trời ngày tháng hạ…….
Ve sầu ra rả, nắng….. chang chang…..
Tiếng chim tu hú trong vườn vải
Ngọt ngào hương cỏ lối….. đi quen ……
Ngày về quê cũ xa lăng lắc…..
Đất khách trời quê dõi….. mắt…… trông….
Tìm bóng tre xanh đan bóng nắng
Bèo tím mơ màng…. dưới…. bến sông ……
Đại nội rêu phong vạn cổ sầu
Trăng tà tiếng cuốc lạnh đêm thâu
Cung miếu, điện đài nay vắng ngắt
Người xưa hồn thấp thoáng….. nơi đâu ..…?
Nhớ Huế làm sao…..nhớ quá chừng….
Tràng Tiền, Thượng Tứ nhớ rưng rưng …
Tương Tư, Lưu Thủy, Nam Ai điệu
Bềnh bồng trên sóng nước…… đêm xuân .…
Huế ơi, thương biết mấy cho vừa
Quê người thèm tiếng võng ban trưa
Thương Huế thu vàng, chiều nắng nhạt
Giọng hò vời vợi…. vẳng….. xa đưa ..…
Đồng Khánh trường xưa tuổi học trò
Tường hồng, ngói đỏ thuở còn thơ……
Ngày đông hai buổi qua Thừa Phủ
Sương bạc trên sông….. tỏa…. mịt mờ .…
Quốc Học rời xa mấy chục năm
Biết bao kỷ niệm, dấu yêu thầm
Ngày đầu rón rén chân vào lớp
E thẹn nhìn bóng lá….. ngoài……. sân .…
Huế đó, tình đây còn…… muôn thuở…….
Núi Ngự, sông Hương vẫn đợi….. chờ
Tuy xa, nhưng vẫn gần gang tấc
Thương hoài áo lụa, nón bài…….. thơ ………………
Độc đáo thơ trên di tích ở cố đô Huế
(VOV) - Đó là hàng nghìn bài thơ, văn chạm khắc trên các cung điện và văn bia ở hoàng thành, các lăng vua ở cố đô Huế.
Lâu
nay, du khách đến Huế thăm thú đền đài lăng tẩm, nhưng ít người để ý
đến các ô thơ, hộc thơ được chạm khắc tỷ mỹ tinh xảo trên từng dải liên
ba, cổ diềm, bờ nóc, hoành phi của các công trình kiến trúc chính trong
kinh thành và lăng tẩm. Ngay cả những nơi được coi là uy nghiêm tôn cẩn
nhất như Điện Thái Hòa, Thế Miếu, lầu Ngọ Môn, Điện Long An và lăng tẩm
các vua Nguyễn… đều có mặt của các ô thơ, hộc thơ trong họa tiết trang
trí chạm khắc theo kiểu “nhất thi nhất họa”. Đây là điều mà không một di
tích cố đô nào trên thế giới có được.
Thơ
trên di tích Huế hầu hết là thơ ngự chế của các vua Nguyễn, trong đó
nổi tiếng nhất là vua Minh Mạng (1820 – 1840), vua Thiệu Trị (1840 –
1847), vua Tự Đức (1847– 1883) đồng thời là ba nhà vua thi sỹ có số
lượng tác phẩm để lại nhiều nhất trong 13 vị vua triều Nguyễn.
Vua Minh Mạng là tác giả của "Ngự chế thi tập" 73 quyển, được đóng thành 6 tập gồm 3.500 bài thơ chữ Hán, vua Thiệu Trị là tác giả của 10 tác phẩm với gần 4000 bài thơ chữ Hán, trong đó, nổi tiếng như “Ngự chế Bắc thành thi tập”, “Ngự chế danh thắng đô hội thi”, “Thần kinh nhị thập cảnh”.
Vua Tự Đức là tác giả của 19 tác phẩm với hàng ngàn bài thơ, trong đó nổi tiếng như “Ngự chế thi tập”, “Cơ dư tự tỉnh thi tập”, “Việt sử tống vịnh thi tập”… Chính sự yêu thơ, say thơ của các thế hệ các ông vua thi sỹ như thế cho nên thơ văn có mặt trên các di tích nghiêm cẩn của Huế là một điều dể hiểu.
Vua Minh Mạng là tác giả của "Ngự chế thi tập" 73 quyển, được đóng thành 6 tập gồm 3.500 bài thơ chữ Hán, vua Thiệu Trị là tác giả của 10 tác phẩm với gần 4000 bài thơ chữ Hán, trong đó, nổi tiếng như “Ngự chế Bắc thành thi tập”, “Ngự chế danh thắng đô hội thi”, “Thần kinh nhị thập cảnh”.
Vua Tự Đức là tác giả của 19 tác phẩm với hàng ngàn bài thơ, trong đó nổi tiếng như “Ngự chế thi tập”, “Cơ dư tự tỉnh thi tập”, “Việt sử tống vịnh thi tập”… Chính sự yêu thơ, say thơ của các thế hệ các ông vua thi sỹ như thế cho nên thơ văn có mặt trên các di tích nghiêm cẩn của Huế là một điều dể hiểu.
|
| Thơ trên tranh gương Huế |
Theo
số liệu của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, số lượng thơ văn Hán -
Nôm trang trí trên di tích Huế hết sức phong phú và đa dạng, với hơn
4.000 bài thơ, văn chạm khắc trên các cung điện và văn bia tại khu vực
Hoàng thành, các lăng vua và nhiều di tích khác của Huế…. Trong đó, tập
trung nhiều nhất ở điện Thái Hoà với gần 200 bài, lăng Minh Mạng (Hiếu
Lăng) 120 bài…
Đó là chưa kể đến hàng ngàn bài thơ ngự chế đã được khắc chạm trên các loại chén, dĩa gốm sứ, biển đồng, bia đá... Chỉ tính riêng số lượng thơ khắc in trên quần thể di tích cố đô cũng cho ta thấy di tích cố đô không chỉ là di sản đặc sắc trong kiến trúc xây dựng, mà còn là “Bảo tàng thơ” độc nhất vô nhị trên thế giới.
Đó là chưa kể đến hàng ngàn bài thơ ngự chế đã được khắc chạm trên các loại chén, dĩa gốm sứ, biển đồng, bia đá... Chỉ tính riêng số lượng thơ khắc in trên quần thể di tích cố đô cũng cho ta thấy di tích cố đô không chỉ là di sản đặc sắc trong kiến trúc xây dựng, mà còn là “Bảo tàng thơ” độc nhất vô nhị trên thế giới.
Tuy
nhiên để giải mã được các ô thơ, hộc thơ trang trí trên các di tích Huế
không phải là điều đơn giản, bởi có ô thơ chạm khắc nguyên vẹn cả bài
thơ, nhưng có ô thơ chỉ có một câu, phải liên kết nhiều ô thơ, hộc thơ
mới được một bài. Ví dụ như ở Hiếu lăng – lăng vua Minh Mạng có gần 500 ô
thơ, sau khi dịch nghĩa, các nhà nghiên cứu Huế mới xác định được
nguyên vẹn 120 bài thơ tứ tuyệt. Hay như hai bài thơ “Vũ trung sơn thủy”
(Cảnh trong mưa) và “Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm” (Đêm thơ ở
Phước Viên) của Vua Thiệu Trị được thể hiện một cách lạ lùng.
Mỗi bài có 54 chữ, không trình bày theo lối thường mà được viết thành 5 vòng tròn theo lối đồng tâm, nhìn vào như một trận đồ bát quái, mỗi vòng tròn có một số chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú và sắp xếp biến hóa thành 64 bài thơ khác nhau theo kiểu “chơi thơ”hết sức độc đáo.
Mỗi bài có 54 chữ, không trình bày theo lối thường mà được viết thành 5 vòng tròn theo lối đồng tâm, nhìn vào như một trận đồ bát quái, mỗi vòng tròn có một số chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú và sắp xếp biến hóa thành 64 bài thơ khác nhau theo kiểu “chơi thơ”hết sức độc đáo.
Tiếng vọng của thời gian
Hình
thức thể hiện của thơ trên di tích Huế đa dạng đặc sắc qua các kiểu thư
pháp chân, thảo, triện, lệ…với chất liệu đa dạng: khảm xà cừ, dát vàng,
bạc, khắc chìm, chạm nổi, sơn son, thếp vàng, viết trên nền pháp lam;
đắp nổi sành sứ... Đó là bức tranh tổng thể về quan điểm tư tưởng, tình
cảm của triều Nguyễn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: Đề
cao độc lập dân tộc, tự hào về truyền thống văn hóa Việt, ca ngợi mùa
xuân, cảnh đẹp non sông đất nước, chăm lo đời sống muôn dân, khuyến
khích phát triển nông nghiệp…
Hàng
ngàn bài thơ trên các di tích Huế, đã thực sự là tiếng vọng của thời
gian, chuyển tải những giá trị văn hóa lịch sử đặc sắc mà vương triều
Nguyễn để lại cho hậu thế. Ngay dưới bức hoành phi chính giữa điện Thái
Hòa, là bài thơ được coi như “Tuyên ngôn độc lập” của triều Nguyễn.
“Văn hiến thiên niên quốc/ Xa thư vạn lý đồ/ Hồng Bàng khai tịch hậu/ Nam phục nhất Đường Ngu”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung (dịch)
Nước ngàn năm văn hiến
Thống nhất muôn dặm xa
Từ Hồng Bàng mỡ cõi
Trời Nam vững sơn hà.
Hay
như trên lĩnh vực khuyến khích nông nghiệp, các vị vua Nguyễn đã để lại
nhiều bài thơ đặc sắc như, “Nông Lạc” của vua Thiệu Trị, được chạm khắc
trên Điện Hòa Khiêm của Lăng vua Tự Đức.
Chung tuế cần cù lực bá canh,
Thu thành vạn bửu toại tư sanh.
Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,
Ức úc thương sương ngọc lạp doanh.
Phủ ngưỡng hàm hân gia cấp túc,
Trưng khoa bất nhiễu pháp nghiêm minh.
Chiêu diên tửu thực hương thôn hội,
Tuý bảo mao nghê hỷ uỷ tình.
Thu thành vạn bửu toại tư sanh.
Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,
Ức úc thương sương ngọc lạp doanh.
Phủ ngưỡng hàm hân gia cấp túc,
Trưng khoa bất nhiễu pháp nghiêm minh.
Chiêu diên tửu thực hương thôn hội,
Tuý bảo mao nghê hỷ uỷ tình.
Bài thơ được dịch giả Vũ Bạch Ngô dịch như sau.
Cần cù ruộng thấp đồng cao,
Sang thu cái sống được bao đền bù.
Mây vàng giăng hạt ruộng khô,
Ngọc làng ăm ắp đầy bồ chật kho.
Cảnh nhà giờ đỡ phải lo,
Làm theo phép nước trưng thu đàng hoàng.
Tiệc mừng tấp nập xóm làng,
No say ai cũng rộn ràng niềm vui.
Sang thu cái sống được bao đền bù.
Mây vàng giăng hạt ruộng khô,
Ngọc làng ăm ắp đầy bồ chật kho.
Cảnh nhà giờ đỡ phải lo,
Làm theo phép nước trưng thu đàng hoàng.
Tiệc mừng tấp nập xóm làng,
No say ai cũng rộn ràng niềm vui.
|
| Thơ trên điện Thái Hòa |
Hay như viết về mùa xuân, thơ trên di tích Huế không dừng lại ở ngợi ca cảnh đẹp của mùa xuân, mà qua đó gửi gắm tâm tư, ước vọng của người viết về sự hưng thịnh trường tồn của đất nước như ở Điện Thái Hòa: “Hà xứ xuân sinh tảo/ Xuân sinh vũ lộ nghi/ Kỳ lâm phù chúng vọng/ Khản trạch hiệp nông thì. (Nguyễn Phước Hải Trung dịch)
Nơi nào xuân đến sớm
Đúng độ cơn mưa về
Cầu mưa làm thỏa nguyện
Mùa màng vui sơn khê.
Chính
vì sự đa dạng phong phú trong chủ đề phản ánh, cũng như với số lượng
tác phẩm đồ sộ được “xuất bản” độc đáo trên các đền đài, lăng tẩm Huế,
nên thơ văn Hán Nôm trên di tích Huế được đánh giá như là kho “dương
bản” (ngược với mộc bản là âm bản, đã được công nhận là di sản ký ức
nhân loại) độc đáo của văn hóa Huế. Trên bình diện văn hóa, lịch sử, thơ
trên di tích Huế chưa được khám phá hết, nhưng ẩn chứa những giá trị
nhân văn đặc biệt tạo nên phần “hồn” cho quần thể di tích Huế.
Vì
thế, vừa qua Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô cùng với các nhà nghiên
cứu Huế đã triển khai lập hồ sơ hệ thống văn tự Hán - Nôm trên quần thể
di tích Huế để đệ trình UNESCO công nhận là di sản ký ức thế giới vào
năm 2015. Đây là tin vui không chỉ của người dân cố đô, mà còn là niềm
tự hào của người dân Việt trước di sản của ông cha./.
Màu tím hoa sinh - Hữu Loan - NS Quốc Anh diễn ngâm


Nhận xét
Đăng nhận xét