KÝ ỨC CHÓI LỌI 105/g
-Chiến tranh ai cũng ghét, nhưng nhiều khi chúng ta buộc phải cầm súng vì không còn cách nào khác!
-Cuộc sống là vô giá. Không ai đổi cuộc sống lấy anh hùng mà chỉ thành anh hùng khi bảo vệ cuộc sống!
-Những Dòng Sông
Sinh ra ở đâu, mà ai cũng anh hùng?
Tất cả trả lời: Sinh bên một dòng sông…
Chẳng phải sông Đà, sông Mã, sông Hồng đôi bờ cát mênh mông,
Thì cũng sông Trà, sông Hương, sông Cửu Long uốn chín đầu rồng
Chẳng phải rộng xa một tầm cò vỗ cánh,
Cũng xinh xinh vài sải chèo quẫy mạnh
Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng
Mỗi con người gắn bó một dòng sông
Khi ta bé dòng sông nào cũng rộng
Chiếc thuyền giấy gửi tuổi thơ theo sóng
Một cánh cò vỗ lả xuống lòng ta…
Từ nguồn nào, sông cũng nặng phù sa
Đời ông cha từng cuốc đất, dựng nhà.
Khơi tưởng tượng, những chuyện xưa mẹ kể
Tuổi thơ ngây ngỡ dòng sông nhỏ bé
Cửa quê mình Trần Quốc Toản từng qua…
Rồi biết nghe chuyện anh, chuyện cha
Biết tự hào: Sông đã từng đánh Pháp
Nước lấp mặt những ca nô tan xác
Bãi lau già chuyển cán bộ qua sông…
Những dòng sông ngàn năm ôm cánh đồng
Khi ta vào đời, Đời đã cấy cày chung
Xanh sắc lúa xoá bờ gầy đói khổ
Mặt cánh đồng nhờ mặt người soi hộ
Trên dòng sông – là một tấm gương trong…
Em ta yêu có gì như lòng sông
Một nền xanh tràn xuống chảy theo dòng
Là ruộng đất, anh hiền lành, khoẻ khoắn
Có mía ngọt và bãi hoa mơ mộng…
Đã bao đời gắn bó giữa hai ta,
Sông chia mình thành ngàn nhánh phù sa
Đến bè bạn cùng từng gốc lúa
Trắng lấp lánh là quẫy tung đuôi cá
Xanh mát êm là xoan dọc bờ vùng
Yêu nhau rồi, ta có những vui chung…
Uống bát nước chè bên nòng súng, trưa nắng cháy
Nghe màu xanh bờ bãi mát trong lòng!
Bình tĩnh ngồi bên những trái bom
Đâu trong gió mái chèo xa vọng lại:
Đêm mưa không đèn vững vàng tay lái
Đường dẫn đi như dòng nước tới mênh mông…
Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng?
Tất cả trả lời: Sinh bên một dòng sông…
-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Từ giảng đường đến chiến trường - Phần 2
Nhớ một thời đánh giặc và làm thơ |
Thứ Sáu, 23/04/2010, 07:09:00
|
Ngày mồng 6 tháng 9 năm 1971, hàng trăm thầy giáo, sinh viên của các trường
đại học trên miền bắc lúc bấy giờ theo tiếng gọi của Tổ quốc và trái tim đầy
nhiệt huyết đã "xếp bút nghiên" lên đường chiến đấu. Ðó là đợt tòng quân vào
loại lớn nhất của thầy giáo, sinh viên đại học. Trước đó tròn một năm cũng có
một đợt tuyển quân là sinh viên đại học lớn tương tự.
Nhớ lại, những ngày đầu tháng 9 năm 1971 ấy, các tỉnh miền bắc đang chống chọi với cơn lũ lịch sử. Ngày lên trường để nhập ngũ, không ít sinh viên, thầy giáo phải vượt qua bao đoạn đường hiểm nguy. Ngày giao quân thật sự là ngày hội, nước mắt đương nhiên là có. Nhưng, lời đùa cợt vui vẻ và nụ cười vẫn nhiều hơn rất nhiều. Thời bấy giờ, cuộc sống rất khổ, sinh viên không ngoại lệ. Chính vì vậy, rời sinh viên vào quân ngũ, gian khổ không làm cho chúng tôi bỡ ngỡ, ngoại trừ nếp sinh hoạt. Tuy nhiên, chúng tôi làm quen khá nhanh. Ðiều đặc biệt, tuy là đám "dài lưng tốn vải", nhưng chúng tôi tiếp thu các bài tập, khoa mục chiến đấu rất nhanh. Công việc khó khăn và vất vả nhất của người lính trong thời kỳ tân binh là luyện tập hành quân mang vác nặng thì chúng tôi không phải rèn mấy. Chưa một lần nào chúng tôi phải nhét đất cát vào ba-lô tập hành quân, rèn thể lực. Chính vì thế, lần thật sự hành quân mang vác nặng khó nhọc nhất là đợt chuyển quân từ Nhã Nam, Tân Yên (Hà Bắc cũ) sang huyện Quế Võ. Ngoài tư trang, vũ khí, chúng tôi còn phải chia nhau mang lương thực, nồi niêu quân dụng cho nên khá nặng. Trước đó, theo "sáng kiến" của anh lính sinh viên năm thứ nhất khoa Văn Trường đại học Tổng hợp Hoàng Nhuận Cầm, tôi chia mấy quyển Văn nghệ quân đội, tập thơ, tập truyện ngắn vào ba-lô của mấy người cho "công bằng". Hành quân chưa hết ngày đầu tiên, Hoàng Nhuận Cầm đã lại nảy ra "sáng kiến": "Hay là mình vứt bìa của mấy quyển truyện, Văn nghệ quân đội đi cho đỡ nặng?". Không hiểu sao trong thời kỳ huấn luyện tân binh lại có tin đồn, trong tương lai, chúng tôi sẽ không phải là những người lính trực tiếp chiến đấu mà sẽ trở thành những cán bộ cho các vùng giải phóng. Thực tế, sau ba ngày hành quân từ Tân Yên về Quế Võ, chúng tôi được chia về các đơn vị tên lửa, xe tăng, pháo binh, bộ binh... Ngay lập tức, chúng tôi lao vào các trận đánh ác liệt. Rất nhiều người trong số này lặng lẽ nằm xuống trên khắp các chiến trường, mà có lẽ nhiều nhất là Quảng Trị. Khoác áo lính, chúng tôi, những nhà kiến trúc, kỹ sư cơ khí, kỹ sư nông nghiệp, bác sĩ, giáo viên... tương lai đều tạm gác những ước mơ dự định. Nhưng, với những người có thiên hướng, ý định cầm bút làm thơ thì môi trường mới lại là mảnh đất màu mỡ. Rất nhiều người đã có những bài thơ đầu tiên một cách thật sự. Sở dĩ chỉ có thể làm thơ, còn viết truyện, viết kịch... rất khó. Khó không chỉ là thời gian mà là giấy, mực. Ai cũng chỉ có quyển sổ tay nho nhỏ không đủ dùng để viết truyện vì còn phải ưu tiên cho bao việc khác: Nào là ghi nhật ký, làm giấy viết thư, thay giấy cuốn thuốc lá... Thời đó ai cũng có thể có cái bút máy Trường Sơn hoặc Ba Vì. Nhưng, để có mực viết lại là một kỳ công. Mỗi người đều có một cái lọ nhỏ mà tốt nhất Pênêxilin có nút bằng cao-su dùng để đựng mực. Lúc ấy, chẳng có băng dính như bây giờ, ngay đến miếng ni-lông mỏng, sợi dây chun cũng khó kiếm. Muốn không bị đổ, chỉ có cách nhét ít bông vào lọ mực. Khi nào hút thì dùng đầu bút ép miếng bông vào thành lọ cho nó nhả mực. Trong những người sinh viên khoác áo lính ở đơn vị tôi thời đó có khá nhiều người làm thơ. Ngoài Hoàng Nhuận Cầm còn có Vũ Ðình Văn (về sau là lính tên lửa và hy sinh), Huy Thịnh (hiện ở báo Hà Nội Mới), Phùng Nguyên Bảng (hiện ở báo Tiền Phong)... Người làm thơ đầu tiên, làm nhiều nhất và thành công nhất là Hoàng Nhuận Cầm. Ngay những ngày đầu tiên của đời lính, đôi mắt hồn nhiên của con trai một nhạc sĩ ở phố Hàng Bạc (Hà Nội) đã phát hiện ra: Nhà đá ong âm thầm mang lời đất / Cây xấu hổ giấu bao điều cổ tích / Mắc cỡ gì mà khép cánh ư em? Cho đến giờ, mỗi khi đọc lại những câu thơ của Cầm vẫn luôn gợi nhớ cho chúng tôi những vùng đất, gương mặt đồng đội, những trận đánh, những thử thách... mà chúng tôi đã đối mặt. Bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la đích thị là Cầm nảy tứ tại địa điểm đóng quân ở Ðá Mài (Quảng Bình). Bài Bức tranh dọc đường hành quân Cầm lấy cảm xúc trong những ngày ở Yên Thế, Nhã Nam. Trong thơ của Cầm có khá nhiều khuôn mặt của đồng đội: Huế bảo quê nhà giờ đang mùa cấy. Cả Hùng nữa sao cứ cười hoài vậy. Nhớ cô bạn nào hay hát bâng quơ. Và, Nghe súng nổ biết Thịnh thương mẹ thế... Song, không phải những câu thơ hay, đẹp mượt mà hoặc mang tính chiến đấu cao của Hoàng Nhuận Cầm mới có tác dụng động viên tinh thần đồng đội. Ðến bây giờ rất nhiều người trong đơn vị còn nhớ những câu thơ vui, tếu táo của Hoàng Nhuận Cầm: Nào Lan, Huơng, nào Thương, nào Ðiệp. Những tên người như súng liên thanh... giúp chúng tôi có thêm nhiều tiếng cười sảng khoái trong những giờ phút nghỉ ngơi giữa hai trận đánh. Hoàng Trần Cương cũng là sinh viên Trường Tài chính - Kế toán - Ngân hàng Trung ương "xếp bút nghiên lên đường chiến đấu". Cương nhập ngũ trước chúng tôi một năm. Là dân sổ sách, bàn tính nhưng Hoàng Trần Cương lại thích, lại giỏi làm thơ hơn làm toán. Những ngày tháng trên mạn phía tây đường Trường Sơn, anh lính pháo cao xạ 37 ly Hoàng Trần Cương đã lầm lũi làm thơ trong những giờ phút đợi chờ nổ súng vào không lực Mỹ. Nếu như Hoàng Nhuận Cầm thành công ngay từ những bài thơ đầu tiên viết trong mầu áo lính thì Hoàng Trần Cương ngược lại. Thơ Hoàng Trần Cương viết trong thời quân ngũ không nhiều và ít thành công. Ngay cả trong thời kỳ làm tờ báo của sư đoàn (thật ra là tờ tin), Hoàng Trần Cương có đất dụng võ, nhưng cũng chẳng có mấy bài thơ nào đáng kể. Nhưng, sau ngày ra quân, thơ của Hoàng Trần Cương lại phát tiết. Không nhiều người biết rằng, những tứ thơ, câu thơ, đoạn thơ trong trường ca Trầm tích, Hoàng Trần Cương đã thai nghén từ trong những tháng ngày khoác áo lính. Những sinh viên khoác áo lính, làm thơ và thành danh như Hoàng Nhuận Cầm, Hoàng Trần Cương khá hiếm. Nhưng, những người làm được một vài bài thơ đăng trên sách, báo, thậm chí được ngâm đọc trong các chương trình thơ trên Ðài phát thanh rất nhiều. Nhiều người trong số này sau khi ra quân, trở về trường đại học học tiếp nhưng không theo nghề mà trở thành nhà văn, nhà báo, biên kịch... và chẳng bao giờ còn thấy làm thơ. Cứ như là, hồn thơ trong họ cũng khoác bộ quân phục mầu xanh? Bốn, năm năm bỏ áo sinh viên khoác áo lính quả là thời gian không dài trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng, không thể phủ nhận, đó là quãng thời gian thử thách ác liệt của mỗi một con người. Nhưng, nhờ những câu thơ của đồng đội, đã giúp lứa sinh viên chúng tôi thêm sức mạnh trong quãng đời quân ngũ. Ðược biết, Quỹ Mãi mãi tuổi 20 của Thành Ðoàn Hà Nội đang có kế hoạch xuất bản tập thơ của sinh viên khoác áo lính những năm đánh Mỹ. Hy vọng tập sách chọn được đầy đủ các sinh viên - người lính - nhà thơ của một thời bom đạn.
QUANG HOÀN
|
Lính sinh viên diễn tập đánh trận
Lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu
cao phát ra, cán bộ học viên Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4 (Trường Quân sự
Quân khu 3) nhanh chóng gói buộc quân tư trang và hối hả cơ động trong
đêm mưa tầm tã.
Lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao phát ra, cán bộ
học viên Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4 (Trường Quân sự Quân khu 3) nhanh
chóng gói buộc quân tư trang và hối hả cơ động trong đêm mưa tầm tã.
Vượt chặng đường dài trên địa hình hiểm trở, các đơn vị vào vị trí triển khai chiếm lĩnh, xây dựng trận địa, xuất phát tiến công đúng kế hoạch. Đêm tối như mực. Đùng...! Đùng...! Tín hiệu pháo sáng xé màn đêm, phá vỡ không gian yên tĩnh của núi rừng Phượng Hoàng. Trận đánh bắt đầu.
Các loại hỏa lực dồn dập vào trận địa. Cửa đã thông, bộ phận đánh chiếm đầu cầu vượt qua cửa mở đánh chiếm các mục tiêu đầu cầu. Lực lượng đột kích 1, đột kích 2 tập trung chiến đấu tiêu diệt các mục tiêu bên trong trận địa. Tiếng lựu đạn, hỏa lực, bộc phá nổ liên tiếp, dồn dập.
"Xung phong...! Xung phong...!" - Tiếng hô của các chiến sĩ át tiếng
mưa giông. Sau khi đánh chiếm được mục tiêu, binh nhì Trần Anh Tuấn,
Nguyễn Kiên toàn thân ướt sũng, khẳng định: "Nhờ thường xuyên được huấn
luyện trong mọi điều kiện, nên những khó khăn về thời tiết không ảnh
hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ”.
Trời về sáng, các chiến sĩ đều rạng ngời với niềm vui chiến thắng dù vừa trải qua một đêm vất vả.
Trải qua cung đường hơn 40 km trên địa hình đồi núi hiểm trở thuộc thị xã Chí Linh (Hải Dương), các tình huống do Ban Chỉ đạo cuộc diễn tập đề ra đều được cán bộ, học viên xử lý kịp thời chính xác, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đợt diễn tập tổng hợp cuối khóa thành công tốt đẹp, các chiến sĩ đều thấy mình trưởng thành hơn.
Vượt chặng đường dài trên địa hình hiểm trở, các đơn vị vào vị trí triển khai chiếm lĩnh, xây dựng trận địa, xuất phát tiến công đúng kế hoạch. Đêm tối như mực. Đùng...! Đùng...! Tín hiệu pháo sáng xé màn đêm, phá vỡ không gian yên tĩnh của núi rừng Phượng Hoàng. Trận đánh bắt đầu.
Các loại hỏa lực dồn dập vào trận địa. Cửa đã thông, bộ phận đánh chiếm đầu cầu vượt qua cửa mở đánh chiếm các mục tiêu đầu cầu. Lực lượng đột kích 1, đột kích 2 tập trung chiến đấu tiêu diệt các mục tiêu bên trong trận địa. Tiếng lựu đạn, hỏa lực, bộc phá nổ liên tiếp, dồn dập.
![]() |
Trời về sáng, các chiến sĩ đều rạng ngời với niềm vui chiến thắng dù vừa trải qua một đêm vất vả.
Trải qua cung đường hơn 40 km trên địa hình đồi núi hiểm trở thuộc thị xã Chí Linh (Hải Dương), các tình huống do Ban Chỉ đạo cuộc diễn tập đề ra đều được cán bộ, học viên xử lý kịp thời chính xác, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đợt diễn tập tổng hợp cuối khóa thành công tốt đẹp, các chiến sĩ đều thấy mình trưởng thành hơn.
Theo Tiền Phong
KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN
MAI VIỆT ANH
Chỉ còn khoảng một tuần nữa là tôi sẽ bước vào học năm thứ 4 Khoa Toán Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, nhưng nhận được “Lệnh Tổng động viên”, tôi vẫn vui vẻ lên đường nhập ngũ để làm tròn nghĩa vụ của “Trai thời chiến”.
Cuộc đời “Lính Sinh viên” chỉ vẻn vẹn gần 4 năm nhưng đã để lại cho tôi và đồng đội nhiều kỷ niệm sâu sắc của tuổi thanh xuân không bao giờ phai mờ.
Đầu tiên là cuộc hành quân bộ suốt từ Thái Nguyên đến Tây
Nguyên kéo dài 3 tháng. Khi đó tôi nặng 42 kg nhưng thường xuyên phải
mang vác 45 kg gồm tất cả gia tài người lính (quân trang, vũ khí, lương
thực, thực phẩm, thuốc men ...) trèo đèo, lội suối vượt Trường Sơn qua
Lào và Căm Pu Chia đến mặt trận Tây Nguyên (B3).Nhiều lúc tôi đói và
mệt, tưởng như không thể bước thêm một bước nào nữa. Dọc đường hành quân
bộ có nhiều đồng đội đã phải vĩnh viễn nằm lại do bom đạn, do sốt rét
ác tính, do cây đổ, do rắn độc cắn...Cuộc đời “Lính Sinh viên” chỉ vẻn vẹn gần 4 năm nhưng đã để lại cho tôi và đồng đội nhiều kỷ niệm sâu sắc của tuổi thanh xuân không bao giờ phai mờ.
Đến Tây Nguyên, tôi được biên chế vào đại đội hỏa lực 12 ly 7 của Đại đội 16, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A thường xuyên làm nhiệm vụ bắn mở “cửa mở” cho bộ binh tấn công đồn giặc. Khi chiếm được cứ điểm thì chúng tôi lại dựng súng 12 ly 7 lên đánh trả máy bay giặc đến ném bom hủy căn cứ. Trận đánh đầu tiên của đời Lính Sinh viên là trận đánh cứ điểm Chư Nghé ngày 22/9/1973 tiêu diệt gọn tiểu đoàn 80 của địch và bắt sống hơn 200 tù binh.
Mùa xuân năm 1975, đã đi vào lịch sử của đất nước ta bằng những chiến công oanh liệt. Đơn vị chúng tôi mở màn các trận đánh bằng trận Cẩm Ga ngày 8/3/1975, rồi sau đó là Trư Sê, Thuần Mẫn, Cheo Reo, Phú Bổn...
Ngày 01/4/1975 đơn vị tôi tiến đánh và giải phóng thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bắt sống Trung tướng ngụy quân Hoàng Xuân Cẩm. Đơn vị tiếp tục hành quân tiến về Sài Gòn, đội quân đi trùng trùng, điệp điệp hát vang vang điệp khúc của bài hát “Tiến về Sài Gòn” của Lưu Hữu Phước được biến lời thành: “Sài Gòn ơi ta đã phồng chân, ta đã phồng chân”.
Khi nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!", khí thế của quân ta lên cao hừng hực, ai cũng náo nức muốn mình là người đầu tiên cắm lá cờ Tổ quốc thân yêu trên sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.
Đồng Dù, Củ Chi cách Sài Gòn 30 km, nguyên là căn cứ quân sự của Sư doàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ. Đây là "Cánh cửa thép phía Tây - Bắc Sài Gòn của Mỹ ngụy" do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá chỉ huy. Căn cứ nằm án ngữ đường từ Bình Dương về Sài Gòn, rộng hơn 7 km vuông, có trên 3.500 quân lính, có 15 khấu pháo lớn và 20 xe tăng M41, M48. Đồng Dù được vây quanh bởi hàng chục lớp rào dây thép gai đủ các loại với chiều sâu hàng 300 m. Tiếp theo chúng đắp một con đê cao gần 2 m bao quanh căn cứ, phía trong là các ụ súng đại liên, 12 ly 8...
Khi trinh sát mục tiêu, chúng tôi được nghe người dân Củ Chi nói: "Các ông không đánh thắng đâu, vì bọn chúng mạnh lắm".
Chúng tôi xác định đây là môt trong những trận đánh cuối cùng nên ai cũng mặc cho mình bộ quân phục mới nhất, đẹp nhất để nếu có hy sinh cũng là ở trên tư thế của người chiến thắng. Trong mỗi túi ngực áo của chúng tôi đều có một gói nilon nhỏ ghi rõ họ tên, quê quán, đơn vị để tiện khi sử dụng đến.
Tối ngày 28/4/1975, chúng tôi hành quân tiếp cận chiếm lĩnh trận địa, đơn vị pháo binh không kịp đào hầm cứ để pháo nằm ngay trên mặt đất sẵn sàng chiến đấu. Đây là trận chiến ác liệt nhất, vì bọn địch quyết tâm phòng thủ bảo vệ cho Sài Gòn - thủ đô của Việt Nam Cộng hòa.
Trận đánh Đồng Dù bắt đầu lúc rạng sáng ngày 29/4/1975, pháo binh ta bắn dồn dập vào căn cứ địch, chúng tôi cũng bắn 12 ly 7 xối xả để mở “cửa mở” cho bộ binh xông lên. Bọn địch lợi dụng địa thế trong trong căn cứ điên cuồng nhả đạn chống trả. Quân ta hy sinh rất nhiều vì các mũi tiến công của bộ binh ta đều phơi mình trên đất trống, dễ bị địch phát hiện, còn bọn chúng thì nằm trong công sự bắn ra. Quân ta bắn thấp một chút thì đạn găm vào đê đất, bắn cao một chút thì đạn vọt lên trời. Máy bay A37 và trực thăng vũ trang của địch cũng bắn mãnh liệt nhằm ngăn chặn đường tiến công của quân ta và củng cố tinh thần cho bọn địch trong công sự
Xe tăng của ta tiến đến giúp mở cửa mở nhưng không thể tiến lên được vì phía trước còn có nhiều thương binh, liệt sỹ nằm la liệt ở đó, không thể để xe tăng cán lên các đồng đội của ta. Trong lúc ta còn chần chừ, bọn địch đã bắn cháy một xe tăng ta. Bộ binh lại phải xông lên khênh thương binh và xác các liệt sỹ rẽ ra 2 bên để mở đường cho xe tăng ta tiến lên tiêu diệt địch.
Khẩu đội 12 ly 7 của tiểu đội tôi bắn liên tục đến nóng đỏ cả nòng súng, tích cực bắn yểm trợ cho bộ binh đem bộc phá lên đánh phá các hết lớp hàng rào thép gai này đến hàng rào khác. Quân ta có thêm viện binh nên càng hăng hái tiến lên áp đảo tiêu diệt nhiều tên địch.
"Cánh cửa thép phía Tây - Bắc Sài Gòn" của địch bị mở toang, quân ta đánh chiếm khu trung tâm, thu hàng nghìn loại vũ khí, tiêu diệt được 600 tên địch và bắt sống được trên 2.000 tù binh, trong đó có Chuần tướng Lý Tòng Bá sư đoàn trưởng sư đoàn 25 của địch.
Chính ủy Trung đoàn 48 Đình Hữu Tấn đã thu giữ tấm thẻ căn cước của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá để minh chứng cho một chiến thắng vô cùng oanh liệt của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A.
Sau khi giải phóng Đồng Dù, căn cứ quân sự to lớn của địch, đơn vị chúng tôi tiếp tục hành quân tiến về giải phóng Sài Gòn.
Lúc tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì chúng tôi còn cách dinh Độc Lập khoảng 10 km.Chúng tôi nhận lệnh quay trở lại Đồng Dù để bảo vệ cứ điểm và sẵn sàng ứng cứu khi cần thiết.
Đất nước ta đã thống nhất, nhân dân ta đã có cuộc sống tốt đẹp trong độc lập tự do, 39 năm đã trôi qua, nhưng những kỷ niệm về ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 vẫn in sâu trong tâm khảm những người lính chúng tôi. Đây cũng là nén tâm nhang tưởng nhớ đến những đồng đội của tôi đã ngã xuống ngay trên cửa ngõ Sài Gòn, khi mà thời gian đến thắng lợi cuối cùng chỉ tính bằng giờ.
Chúng tôi tự hào vì lúc Tổ quốc đang trong "tình thế nước sôi lửa bỏng" đã là những người "Lính sinh viên" vui vẻ, hăng hái lên đường tham gia Chống Mỹ cứu nước, đã được đóng góp một phần mồ hôi và xương máu của tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam thân yêu.
Sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ của người lính thời chiến, Bộ Quốc phòng lại chuyển tôi về Bộ Giáo dục, tôi học tiếp năm thứ 4 Khoa Toán trường Đại học sư phạm Việt Bắc. Kiến thức đã vương vãi nhiều sau những năm rời nhà trường đi chiến đấu, nhưng tôi đã cố gắng học tập, vượt qua khó khăn để hoàn thành chương trình Đại học.
Năm học 1977 - 1978, tôi được phân công về trường cấp 3 thị xã Cao Bằng (trường THPT thành phố Cao Bằng ngày nay) trực tiếp giảng dạy môn toán. Với bản chất Anh Bộ đội Cụ Hồ, tôi đã cố gắng học tập theo gương thế hệ giáo viên lớp trước, nhiệt tình giảng dạy kiến thức văn hóa và đạo đức cho đàn em học sinh thân yêu.
Được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp, tôi đã từng bước trưởng thành đảm nhận các công việc: Tổ trưởng bộ môn toán, phụ trách Văn nghệ của trường, phụ trách lao động của trường, Bí thư Đoàn trường, Phó Bí thư Chi bộ nhà trường, Phó Hiệu trưởng và trong chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỷ có 15 đồng chí Hiệu trưởng trường THPT thành phố Cao Bằng thì tôi được đứng vào vị trí thứ 11.
Nhớ lại những năm tôi công tác tại trường, lúc đó trường có nhiều khó khăn, thiếu thốn. Học sinh thì đông, giáo viên đứng lớp thì thiếu, lớp học cũng thiếu, phải học thay ca. Thầy giáo và học sinh phải thường xuyên tham gia lao động xây dựng trường lớp. Có những lần thầy Trịnh Xuân Lục, thầy Trần Nguyên Tỏa và tôi phải thức thâu đêm mưa rét, mua bánh chưng đến xưởng gỗ bồi dưỡng cho công nhân để được mua gỗ về kịp thời xây dựng trường theo đúng kế hoạch. Tôi không quên những lần thầy và trò cơm nắm, cơm đùm đi lao động đào mương Khuổi Lái, mương thủy điện Suối Củn, đi trồng cây ...rất vất vả, có khi phải đổ cả máu, nhưng tình cảm thấy trò trải qua lao động mang lại những ấn tượng tốt đẹp, mà nhiều năm sau các em vẫn còn nhắc đến như những kỷ niệm đáng nhớ của thời học sinh.
Tôi thầm nghĩ, trong 40 năm công tác liên tục, thì 4 năm trong quân ngũ làm chiến sỹ giải phóng Miền Nam và 13 năm công tác tại trường THPT thành phố Cao Bằng đã để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm rất sâu sắc.
Mỗi mùa Khai giảng, mỗi dịp kỷ niệm 20/11 là mỗi lần tôi nhớ đến nhà trường, nhớ đến những lớp học sinh của trường trước đây, ngày nay đã trưởng thành, tỏa đi 4 phương trời, đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng đất nước Việt Nam vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".
Xin cảm ơn nhà trường, cảm ơn các thế hệ học sinh đã giành những tình cảm tốt đẹp cho chúng tôi.
Chúc trường PTTH thành phố Cao Bằng phát huy truyền thống tốt đẹp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "Trăm năm trồng người".
Chúc các đồng chí giáo viên và toàn thể học sinh trường THPT thành phố cao Bằng luôn mạnh khỏe, tiến bộ và trưởng thành.
Dưới đây là tấm ảnh tôi chụp tại Sài Gòn ngày 02/5/1975 với Ngôi sao
Quân giải phóng Miền Nam trên mũ để gửi về gia đình báo tin mình vẫn còn
sống sau cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt.
Trịnh Thúc Doanh trong hồi ức của "Lính Sinh Viên"
27 Tháng Sáu, 2012, 11:44:31 AM
Tháng 8 năm 1971, vừa nghỉ hè năm thứ nhất quay lên trường
thì nhận được giấy báo khám NVQS từ tay bà Định giáo vụ khoa. Thế là cả
lũ con trai của khoa và của cả trường ùn ùn xuống trạm xá nhà trường
khám tuyển. Sau khi nhận được tờ kết luận "sức khỏe B1" tôi linh cảm
mình sẽ trở thành người lính. Thế là tôi cùng với Vũ Hồng Phong, Hoàng
Đình Giang - 3 anh em cùng khóa K15 VTĐ ĐHBK cùng quê HP nhảy tàu hỏa
trốn về nhà.
[...]
Tối ngày 5-9 trường tổ chức liên hoan tiễn chân các SV lên đường nhập ngũ. Bí thư ĐU trường Bùi Nguyên Cát phát biểu "... chúc các đồng chí lên đường... Nhà trường sẽ rải thảm đỏ đón các đồng chí trở về..." Ăn xong nháo nhào chạy lên nhà B5 (KTX nữ) tìm cô bạn gái mà không gặp! Nó là cái điềm "không xong rồi"! Sáng hôm sau tập trung ở sân C2 để lên đừng. Hàng chục xe Hải âu đã chờ sẵn. Sân trường đông nghịt người. Người đi. Người đi tiễn. Tôi lên xe, thẫn thờ nhìn biển người loang loáng trước mắt... Xe nổ máy chuẩn bị chuyển bánh thì cô bạn tôi nhào tới, chỉ nói mỗi câu "Hùng ơi", dúi vào tay tôi chiếc phong bì nhỏ rồi rũ ra khóc... Xe lăn bánh và nước mắt tôi chảy dài trên má.
Đoàn xe chia về các ngả. Chúng tôi được đưa về thôn Vĩnh ninh, xã Vĩnh quỳnh Văn Điển và được phiên chế vào C4 K4 E95 F325. Nhận quân trang, phân về A, B và chia về các nhà dân trong thôn. Tối giở phong bì ra xem thấy một khăn mùi soa trắng viền chỉ đỏ, thêu một bông hoa và một con chim (có 1 con thôi, buồn nhỉ). Lặng lẽ đút vào túi.
Mấy hôm sau lên tàu ở ga VĐ. Tàu qua cầu Long Biên, nước ngập mênh mông mà lòng trống rỗng. Tối tàu tới ga Việt Yên. Lính xuống tàu hành quân bộ đến nơi đóng quân. Trời đêm, bờ tre tường nhà còn ngấn nước trận lũ 71. Các mẹ nấu nước che gánh ra ven đường cho bộ đội uống. Các cô dân quân đẩy xe cải tiến chở đơc ba lô cho các chàng lính cậu... Mờ sáng thì tới nơi đóng quân. Mệt quá, tôi chúi đầu vào một đống rơm ngủ li bì. Sáng hôm sau các A trưởng nháo nhào tìm gọi thu quân. Đại đội 4 của tôi đóng tại thôn Xuân Lạn, cách phố Thắng khoảng 3 km. Tổ 3 người có tôi, Bích học cùng lớp người Nghệ an và Thi K14 Hóa ở cùng một nhà. Dũng bạc ôm cây RPD nên được gọi là Dung ba que (nay gọi lại là Dũng "tử tế") cùng A khác tổ.
Ba tháng rèn binh bắt đầu. Ngoài các bài cơ bản là rèn thể lực. Lính đi xin tre về đan sọt, đóng đất thành từng viên 10kg một, xếp dần vào sọt tập đeo. Một viên, hai viên rồi tới ba, bốn viên. Đôi vai sần lên rồi nhẵn bóng, lên sừng vì đeo nặng. Đại đội trưởng của tôi là trung úy Khúc Quang Xuyền người Vĩnh bảo HP. Ông đi lính từ 1951, người nhỏ thó, đen đúa, rất có "uy" rèn lính. C4 toàn lính Bách Khoa, gồm SV các khoa Động lực, VTĐ, CTM, LK và Hóa, con em miền Nam tập kết có, dân trường Trỗi có. Lại có cả mấy chàng con ông kễnh nữa. Hồi ấy có những chàng "quậy" khét tiếng như Đặng Mạnh (HSMN tập kết, LHS Cuba về học CTM BK), Sâm "trọc"... nhưng ông Xuyền đều "trị" được hết. Phải nói là, sau thời gian huấn luyện, cả C đều "phục" C trưởng KQX. Đến nỗi sau này gặp nhau đều "khoe" tao ở C Xuyền đây.
Lính tập luyện nhiều, bị bệnh ngoài da. Cứ buổi chiều, khoảng 4h30 là trực ban lại tuýt còi cho anh em bị bệnh ngoài da bề tập trung bôi thuốc. Lính bị bệnh nhiều đến nỗi, đại đội phải dựng một bờ rào bằng cót cao để thao tác không bị lộ hình. Khu bôi thuốc trước cửa nhà ăn. Lính đứng sắp hàng ngang sau tấm cót che. Y tá Hải tay cầm một chiếc đũa cả tự chế quấn đầy gạc, nhúng đẫm thuốc. Đi qua đứa nào, anh lại hô "chổng" rồi quệt cho một chữ X. Xót quá, có chàng cắm cổ xuống đầm nước ngay đấy cho đỡ xót... Viết tới đây lại tràn nước mát nhớ anh Hải. Anh tốt lắm, thương và chăm lo cho lũ lính trẻ chúng tôi như một người chị chăm em vậy. Mùa rét, anh lấy tỏi giã, lọc nước thấm bông vê thành từng viên tròn cho từng đứa nút mũi phòng cảm lạnh. Anh hy sinh trong Cổ thành trong khi cứu chữa thương binh.
[...]
Thời gian huấn luyện đã hết.Toàn bộ trung đoàn sinh viên, một số được chia xẻ cho các binh chủng, các sư đoàn khác. Số còn lại được chia thành các đơn vị của chính E95. Lúc này, toàn sư đoàn cũng chuyển nhiệm vụ từ tăng cường sang cơ động. Tiểu đội tôi cũng tan đàn xẻ nghé. Dũng ba que, Thái bọ và một số lính SV có "căn cốt" VTĐ được phân về D18 TT cùa, C18 của E và các B TT của 3 tiểu đoàn 4,5 và 6. Mỗi ngày vài đứa đi, đại đội cứ vơi dần. Khi đã đi quá nửa quân số, C4 lại chuyển vị trí đóng quân sang làng khác, cách Xuân Lạn hơn 2 km. Về nơi ở mới, không luyện tập gì. Tôi được điều xuống nhà bếp với nhiệm vụ nuôi đàn lợn của dv gần chục con. Buồn chán quá, suốt ngày đánh lợn. Rồi một hôm, đang rửa chuồng lợn thì liên lạc xuống bảo lên C bộ. Lên C bộ thì thấy có 2 lính nữa là Lục Văn Long và Trịnh Thúc Doanh cùng có mặt, cùng với một ông cán bộ rất đẹp trai (sau này mới biết đó là trợ lý quân lưc E). Ba chúng tôi được giao nhiệm vụ theo chàng trợ lý này về E bộ. Thế là chúng tôi về E bộ, trở thành "lính trung đoàn là quan...". Lúc đó đã cuối tháng 12 năm 71. Về E bộ, Long được phân công làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân vì hắn có thân hình cao to lừng lững. Tôi và Doanh về trung đội vệ binh. E bộ đóng ở thôn Nếnh, cách ga Việt Yên không xa. Khoảng nửa tháng sau, B vệ binh được bổ sung thêm một số lính Nam Định (F338) và một số lính Hải Hưng nhập ngũ 10-71. B vệ binh có 3 tiểu đội, mỗi A 7 chú đúng phiên chế chiến đấu hồi đó. Lính được trang bị toàn AK báng gấp loại dành cho lính nhảy dù của LX trông oách lắm.
Trung đội vệ binh đóng trong ngôi nhà ngang của đình làng Nếnh, cạnh đấy là bếp ăn của E bộ. Ngôi đình chính làm hội trường E bộ. Đời lính vệ binh bắt đầu bằng các bài tập võ thuật, các bài bắn súng. Đặc biệt, mỗi sáng thứ Hai hàng tuần thì lính vệ binh luân phiên nhau đọc 10 Lời thề và 12 Điều kỷ luật dưới cờ. Cho đến bây giờ vẫn còn nhớ "Chúng tôi, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc xin thề..."
Công việc của lính vệ binh là bảo vệ, canh gác doanh trại, và đi làm KSQN tại khu vực ga Việt Yên và thị trấn Đáp Cầu. Một lần tôi cùng với Khóa, một chiến sĩ VB đi làm nhiệm vụ KSQN tại khu vực ga Việt Yên, băng đỏ KSQN đeo trên ống tay, AK báng gấp máng bên sườn trông oách lắm. Đi qua khu vục ga, thấy mấy cô em xinh đẹp đang cong m...đẩy xe cải tiến chở gạo, chú Khoa nhà ta ngứa mồm trêu một câu. Không ngờ các cô em xổ lại một tràng tiếng Nga. Chết bỏ mẹ! Chú Khóa nhà ta mặt tuỗn ra, hỏi Hùng ơi, chúng nó nói gì đấy. Tôi bảo Khóa mày để tao. Thế rồi cũng xổ ra một tràng ZDrachtvuiche,maia yvuska. Thế là các cô nàng đỏ mặt cười rũ rượi. Sau một hồi làm quen biết các cô nàng là sinh viên ĐHNN sơ tán ở Việt Yên.
[...]
Ra ngoài tết, tôi được gọi lên ban quân lực mấy ngày. Công việc là lập sổ quân lực mới cho toàn trung đoàn.Mỗi người được trói gọn trong một dòng, bắt đầu là họ và tên, kết thúc là ”Khi cần báo tin cho ai”. Linh tính mách bảo sắp đi B. Hoàn thành xong công việc toàn trung đoàn hành quân rời Việt Yên lên đóng quân tại Bố Hạ. E bộ đóng quân ven Đầm Mây trên một khu đồi lúp xúp đầy sim mua xen lẫn bạch đàn. Lính công binh của C17 dựng nhà bạt cho các thủ trưởng và ban Tham mưu. Còn cánh vệ binh mắc võng nằm ở vạt bạch đàn. Được mấy hôm thấy Công binh dựng thêm một lều bạt cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân. Các tham mưu con nhỏ to... Tôi gặp trưởng ban 5 và hỏi thì biết là vợ của thủ trưởng sẽ xuống thăm thủ trưởng vài ngày. Thủ trưởng tôi người dân tộc Tày, đi lính từ hồi chống Pháp khi mới mười mấy tuổi. Thủ trưởng đã có một người vợ nhưng không có con. Thủ trưởng đi chiến trường, bà ở nhà cưới cho ông một bà vợ khác để mong có con. Biết được như vậy, cánh vệ binh chúng tôi lặng người. Trung đoàn trưởng của chúng tôi là một người rất đặc biệt. Rất thương lính. Và nóng tính như lửa. Lúc nóng lên ông quát cấp dưới ầm ầm. Cái lều đã dựng xong. Hôm sau vợ thủ trưởng xuống. Một hôm gặp thủ trưởng tôi đánh bạo xin bố ơi, cho con về thăm nhà mấy hôm nhé. Cụ chỉ cười không nói. Chợt một hôm một chiếc commăngca chạy vào E bộ đón vợ thủ trưởng đi. Chúng tôi biết ngay là đi rồi. Hai hôm sau hành quân ra ga Kép lên tàu xuôi. Qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng một lúc lâu. Vệ binh chúng tôi được lệnh làm nhiệm vụ KSQN. Không biết bao nhiêu lá thư được viết vội, được đưa vội vào tay những công nhân đường sắt, vào tay tất cả những ai có mặt trên sân ga lúc đó. Rồi tàu chuyển bánh. Qua đường Nam bộ, những lá thư viết vội vẫn tới tấp bay xuống mặt đường với những lời nhắn nhủ... Tàu chạy ngang qua trường Bách khoa. Tôi nhìn lên giảng đường C9 với chiếc cầu thang ngoài lồi ra phía đường Nam bộ thấp thoáng bóng người. Rồi tất cả ở lại phía sau. Xẩm tối tàu đến ga Gôi Ninh Bình, rẽ vào đoạn đường tránh. Ở đấy đã có một binh trạm tiếp đón. Chúng tôi xuống tàu lấy cơm. Lấy cơm xong tàu chuyển bánh ngay. Mờ sáng tới ga Quán Hành. Lính xuống tàu hành quân vào trong xóm. Tản ra các nhà dân. Chiều, xe ô tô vào chở lính đi tiếp. Các đơn vị thì cưỡi xe Giải phóng, còn lính E bộ lại cưỡi Hải âu. Đúng là “lính trung đoàn là quan...”. Vượt phà Bến Thủy khi chiều gần tắt nắng. Xe chạy gần tới Đèo Ngang thì dừng nghỉ. Các mẹ các chị ào ra mang nước chè tươi, mang trứng luộc ra cho bộ đội. Hết trứng luộc thì mang trứng sống. Tôi vớ được một quả trứng sống. Khoảng 4 giờ sáng xe tới vị trí tập kết. Đó là một thôn nhỏ thuộc xã Quảng Châu huyện Quảng trạch. B vệ binh chúng tôi vào trú tạm ở một trường học. Nhào vào một phòng học, kéo 2 cái bàn khít lại thế là ngủ thiếp đi. Sáng ra lại tiếp tục hành quân bộ đến vị trí đóng quân. E bộ đóng quân tại thôn Thủy Vực xã Quảng Hợp huyện Quảng trạch.
Thôn này có địa thế rất đẹp. Rìa làng có một con suối uốn quanh, sau lưng là dãy núi. Tiểu đội tôi đóng trong nhà một bà mẹ có 2 con trai đang ở chiến trường. Ông bọ đi thuyền đánh cá dưới Quảng Phú, vài hôm mới về nhà một lần. Mẹ thương chúng tôi lắm. Mẹ bảo các con mang cơm về ăn với mẹ. Ăn cơm với mẹ có cá nục kho, có mít non luộc xé nhỏ bóp mắm ruốc...
Ở cùng địa bàn với chúng tôi còn có trạm quân y 201 (không nhớ có phải là bệnh viện dã chiến của V108 hay V103). Tôi làm quen được với một cô anh nuôi, thỉnh thoảng vác bát sang xin em tí mỡ về cải thiện. Đơn vị bắt đầu ăn chuyển cấp từ 7 hào lên một đồng. Bữa cơm toàn lòng lợn xào bí ngô. Một hôm tôi và một người nữa đi ra HTX mua bán của xã mua mấy thứ lặt vặt, về đến đầu làng thì máy bay bổ đến đánh bom đúng vào vị trí đóng quân. Một cán bộ trợ lý quân lực trúng bom tan nát cả. Hai thằng bọn tôi về đến nơi thì máy bay Mỹ đã đi. Lao vào dọn dẹp. Đi nhặt từng mảnh thịt lẫn đất còn khét mùi khói bom. Một đoạn ruột vắt ngang cành tre... Mấy hôm sau ăn cơm cứ nhìn thấy ruột lợn trắng ởn trên đĩa thức ăn là kinh.
Chiến dịch Quảng Trị 1972 bắt đầu. E18 là đơn vị đầu tiên của F325 lên đường vào QT. Trong khi E 18 lặng lẽ vào, E95 bắt đầu cuộc diễn tập chống đổ bộ ở khu vực Đèo Ngang. Cuối tháng Sáu, đơn vị bổ sung quân trang chuẩn bị vào QT. Gạo nửa tháng đổ đầy ruột tượng, đạn 200 viên, cuốc xẻng, dao tông, cưa tay cấp phát túi bụi. Vào một chiều cuối tháng, đơn vị rời Quảng Hợp, hành quân đến bến đò xã Quảng Liên, xuống xà lan đi dọc sông, bắt đầu chặng đường vào QT. Chặng đi xe, chặng đi bộ. Vào tới Bãi Hà nghỉ dừng chân 1 hôm. Ở đây chúng tôi gặp một đoàn các cháu con em cán bộ miền Nam được đưa ra Bắc học tập. Trên đường từ Bãi Hà vào sông Bến Hải chúng tôi gặp các đoàn dân công hỏa tuyến tải thương binh ra. Bộ đội vượt sông Bến Hải tại ngầm Bến Tắt(hay Bến Than gì đấy). Sông Bến Hải mùa khô, nước cạn lòng sông lởm chởm đá trơn nhẫy, có mấy sợi dây song to bắt ngang sông để bộ đội bám vượt sông. Đến giữa sông, không ai bảo ai mấy mọi người bỏ mũ múc một mũ nước sông, uống tạm biệt miền Bắc. Qua sông, cả đoàn quân chìm ngập trong rừng cỏ tranh. Quảng Trị đang mùa khô, nóng hầm hập. Trên đầu máy bay OV10 lượn vè vè, tiếng bom tiếng pháo từ xa vọng về. Đơn vị dừng chân nghỉ tạm một đêm tại một làng ven sông Cam Lộ. Hôm sau hành quân tiếp. Địa điểm dừng chân tiếp của đơn vị là xá Triệu Ái. E bộ đóng tạm tại thôn Tả Kiên, ở lẫn trong dân. Đến đây hôm trước, hôm sau chúng tôi vào căn cứ Ái Tử lấy tôn vòm về làm hầm. Ở Tả Kiên được vài hôm, E bộ chuyển vào đóng tại thôn Tân Vĩnh ở bờ nam sông Vĩnh phước. Đây là thôn đã bị địch dồn dân bỏ hoang từ lâu rồi, không còn nhà cửa, ruộng mọc toàn cỏ tranh. Ven bờ sông mọc dầy các bụi tre gai, lác đác vài gốc mít. Tiểu đội tôi bố trí ngoài cùng, cùng với hầm anh nuôi và một hầm trực thông tin hữu tuyến. Đêm ngủ hầm đầu tiên ở Quảng trị, đến nửa đêm bị bom B52. Ba đứa ôm nhau trong hầm. Khói bom sặc sụa, hầm rung bần bật. Hết bom, nghe bắn súng báo cứu thương cả lũ cầm cuốc xẻng lao về cuối đơn vị. Đến nơi hối hả bới hầm sập, cứu được một vệ binh sư đoàn đi cùng thủ trưởng TM Sư xuống 95, còn một người khác thì hy sinh. Cùng trận bom B52 đó còn 1 lái xe của E phòng không đóng cùng địa bàn hy sinh. Đóng quân bên cạnh E bộ là C18 TT, bên bờ bắc sông Vĩnh Phước là C24 quân y và một trận địa DKB của E84. Quảng Trị lúc này đã biến thành chảo lửa, mà tâm điểm là thị xã QT. Tiếng bom tiếng pháo ngày đêm không ngớt. Ban ngày, bầu trời xẻ ngang xẻ dọc bởi các vệt khói B52 và pháo tăng tốc từ biển bắn vào, ban đêm từng quầng lửa bùng lên phía sông Thạch Hãn... Mới đầu, cũng sợ lắm, sau quen dần. Chính lúc không gian yên tĩnh nhất lại là lúc cái chết bất chợt đổ ập xuống.
Lính vệ binh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ cứ, bảo vệ thủ trưởng đi thị sát mặt trận hoặc lên Sư bộ họp còn làm tất cả những nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho E bộ và các công tác hỗ trợ khác như tải thương,v.v. Đêm đêm chia nhau canh gác và ra cầu Lai Phước cất giấu đạn dược lương thực do xe chở vào đổ ở bờ Bắc, ngày thì vào Ái Tử, Nham Biều tải thương binh về C24. Khu vực bờ sông Vĩnh Phước thường xuyên bị pháo địch bắn vào. Một hôm máy bay đến ném bom dữ dội vào khu vực C18 và trận địa DKB. Một bạn cùng lớp tôi là lính của E84 hy sinh trong trận bom này. Sau này được đưa vào NTLS xã Triệu Ái cùng với các liệt sĩ khác trong khu vực đóng quân. Cánh vệ binh chúng tôi “may mắn” hơn các đồng đội khác là không trực tiếp chiến đấu nhưng cũng có hy sinh. Anh Chiểu B trưởng vệ binh hy sinh trên đường vào Cổ thành. Trịnh Thúc Doanh hy sinh đêm 16 tháng chín 1972 trong khi vượt sông... Tôi cũng mấy lần thoát chết. Một lần, trong lúc đang làm hầm cho cứ phụ ở Xê Kim Tác thì B52 đánh vào Ái Tử. Bom nổ cách hầm vài chục mét. May là kịp chui vào hầm (hầm làm bằng tôn vòm lấy trong căn cứ Ái Tử. Lần khác đi cáng thương từ Nham Biều về, đi ngang qua trận địa DKB thì bị pháo bắn. May cho 3 anh em đi trên đường cao, quả pháo nổ cắm ngay mép đường dưới thấp nên không ai dính mảnh. Ông thương binh lao từ trên võng qua hố bom bên vệ đường, chúi vào bụi dứa dại, hai ông tải thương đứng như trời trồng giữa đường, rồi cũng lao xuống hố bom tránh pháo...
[...]
Tối ngày 5-9 trường tổ chức liên hoan tiễn chân các SV lên đường nhập ngũ. Bí thư ĐU trường Bùi Nguyên Cát phát biểu "... chúc các đồng chí lên đường... Nhà trường sẽ rải thảm đỏ đón các đồng chí trở về..." Ăn xong nháo nhào chạy lên nhà B5 (KTX nữ) tìm cô bạn gái mà không gặp! Nó là cái điềm "không xong rồi"! Sáng hôm sau tập trung ở sân C2 để lên đừng. Hàng chục xe Hải âu đã chờ sẵn. Sân trường đông nghịt người. Người đi. Người đi tiễn. Tôi lên xe, thẫn thờ nhìn biển người loang loáng trước mắt... Xe nổ máy chuẩn bị chuyển bánh thì cô bạn tôi nhào tới, chỉ nói mỗi câu "Hùng ơi", dúi vào tay tôi chiếc phong bì nhỏ rồi rũ ra khóc... Xe lăn bánh và nước mắt tôi chảy dài trên má.
Đoàn xe chia về các ngả. Chúng tôi được đưa về thôn Vĩnh ninh, xã Vĩnh quỳnh Văn Điển và được phiên chế vào C4 K4 E95 F325. Nhận quân trang, phân về A, B và chia về các nhà dân trong thôn. Tối giở phong bì ra xem thấy một khăn mùi soa trắng viền chỉ đỏ, thêu một bông hoa và một con chim (có 1 con thôi, buồn nhỉ). Lặng lẽ đút vào túi.
Mấy hôm sau lên tàu ở ga VĐ. Tàu qua cầu Long Biên, nước ngập mênh mông mà lòng trống rỗng. Tối tàu tới ga Việt Yên. Lính xuống tàu hành quân bộ đến nơi đóng quân. Trời đêm, bờ tre tường nhà còn ngấn nước trận lũ 71. Các mẹ nấu nước che gánh ra ven đường cho bộ đội uống. Các cô dân quân đẩy xe cải tiến chở đơc ba lô cho các chàng lính cậu... Mờ sáng thì tới nơi đóng quân. Mệt quá, tôi chúi đầu vào một đống rơm ngủ li bì. Sáng hôm sau các A trưởng nháo nhào tìm gọi thu quân. Đại đội 4 của tôi đóng tại thôn Xuân Lạn, cách phố Thắng khoảng 3 km. Tổ 3 người có tôi, Bích học cùng lớp người Nghệ an và Thi K14 Hóa ở cùng một nhà. Dũng bạc ôm cây RPD nên được gọi là Dung ba que (nay gọi lại là Dũng "tử tế") cùng A khác tổ.
Ba tháng rèn binh bắt đầu. Ngoài các bài cơ bản là rèn thể lực. Lính đi xin tre về đan sọt, đóng đất thành từng viên 10kg một, xếp dần vào sọt tập đeo. Một viên, hai viên rồi tới ba, bốn viên. Đôi vai sần lên rồi nhẵn bóng, lên sừng vì đeo nặng. Đại đội trưởng của tôi là trung úy Khúc Quang Xuyền người Vĩnh bảo HP. Ông đi lính từ 1951, người nhỏ thó, đen đúa, rất có "uy" rèn lính. C4 toàn lính Bách Khoa, gồm SV các khoa Động lực, VTĐ, CTM, LK và Hóa, con em miền Nam tập kết có, dân trường Trỗi có. Lại có cả mấy chàng con ông kễnh nữa. Hồi ấy có những chàng "quậy" khét tiếng như Đặng Mạnh (HSMN tập kết, LHS Cuba về học CTM BK), Sâm "trọc"... nhưng ông Xuyền đều "trị" được hết. Phải nói là, sau thời gian huấn luyện, cả C đều "phục" C trưởng KQX. Đến nỗi sau này gặp nhau đều "khoe" tao ở C Xuyền đây.
Lính tập luyện nhiều, bị bệnh ngoài da. Cứ buổi chiều, khoảng 4h30 là trực ban lại tuýt còi cho anh em bị bệnh ngoài da bề tập trung bôi thuốc. Lính bị bệnh nhiều đến nỗi, đại đội phải dựng một bờ rào bằng cót cao để thao tác không bị lộ hình. Khu bôi thuốc trước cửa nhà ăn. Lính đứng sắp hàng ngang sau tấm cót che. Y tá Hải tay cầm một chiếc đũa cả tự chế quấn đầy gạc, nhúng đẫm thuốc. Đi qua đứa nào, anh lại hô "chổng" rồi quệt cho một chữ X. Xót quá, có chàng cắm cổ xuống đầm nước ngay đấy cho đỡ xót... Viết tới đây lại tràn nước mát nhớ anh Hải. Anh tốt lắm, thương và chăm lo cho lũ lính trẻ chúng tôi như một người chị chăm em vậy. Mùa rét, anh lấy tỏi giã, lọc nước thấm bông vê thành từng viên tròn cho từng đứa nút mũi phòng cảm lạnh. Anh hy sinh trong Cổ thành trong khi cứu chữa thương binh.
[...]
Thời gian huấn luyện đã hết.Toàn bộ trung đoàn sinh viên, một số được chia xẻ cho các binh chủng, các sư đoàn khác. Số còn lại được chia thành các đơn vị của chính E95. Lúc này, toàn sư đoàn cũng chuyển nhiệm vụ từ tăng cường sang cơ động. Tiểu đội tôi cũng tan đàn xẻ nghé. Dũng ba que, Thái bọ và một số lính SV có "căn cốt" VTĐ được phân về D18 TT cùa, C18 của E và các B TT của 3 tiểu đoàn 4,5 và 6. Mỗi ngày vài đứa đi, đại đội cứ vơi dần. Khi đã đi quá nửa quân số, C4 lại chuyển vị trí đóng quân sang làng khác, cách Xuân Lạn hơn 2 km. Về nơi ở mới, không luyện tập gì. Tôi được điều xuống nhà bếp với nhiệm vụ nuôi đàn lợn của dv gần chục con. Buồn chán quá, suốt ngày đánh lợn. Rồi một hôm, đang rửa chuồng lợn thì liên lạc xuống bảo lên C bộ. Lên C bộ thì thấy có 2 lính nữa là Lục Văn Long và Trịnh Thúc Doanh cùng có mặt, cùng với một ông cán bộ rất đẹp trai (sau này mới biết đó là trợ lý quân lưc E). Ba chúng tôi được giao nhiệm vụ theo chàng trợ lý này về E bộ. Thế là chúng tôi về E bộ, trở thành "lính trung đoàn là quan...". Lúc đó đã cuối tháng 12 năm 71. Về E bộ, Long được phân công làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân vì hắn có thân hình cao to lừng lững. Tôi và Doanh về trung đội vệ binh. E bộ đóng ở thôn Nếnh, cách ga Việt Yên không xa. Khoảng nửa tháng sau, B vệ binh được bổ sung thêm một số lính Nam Định (F338) và một số lính Hải Hưng nhập ngũ 10-71. B vệ binh có 3 tiểu đội, mỗi A 7 chú đúng phiên chế chiến đấu hồi đó. Lính được trang bị toàn AK báng gấp loại dành cho lính nhảy dù của LX trông oách lắm.
Trung đội vệ binh đóng trong ngôi nhà ngang của đình làng Nếnh, cạnh đấy là bếp ăn của E bộ. Ngôi đình chính làm hội trường E bộ. Đời lính vệ binh bắt đầu bằng các bài tập võ thuật, các bài bắn súng. Đặc biệt, mỗi sáng thứ Hai hàng tuần thì lính vệ binh luân phiên nhau đọc 10 Lời thề và 12 Điều kỷ luật dưới cờ. Cho đến bây giờ vẫn còn nhớ "Chúng tôi, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc xin thề..."
Công việc của lính vệ binh là bảo vệ, canh gác doanh trại, và đi làm KSQN tại khu vực ga Việt Yên và thị trấn Đáp Cầu. Một lần tôi cùng với Khóa, một chiến sĩ VB đi làm nhiệm vụ KSQN tại khu vực ga Việt Yên, băng đỏ KSQN đeo trên ống tay, AK báng gấp máng bên sườn trông oách lắm. Đi qua khu vục ga, thấy mấy cô em xinh đẹp đang cong m...đẩy xe cải tiến chở gạo, chú Khoa nhà ta ngứa mồm trêu một câu. Không ngờ các cô em xổ lại một tràng tiếng Nga. Chết bỏ mẹ! Chú Khóa nhà ta mặt tuỗn ra, hỏi Hùng ơi, chúng nó nói gì đấy. Tôi bảo Khóa mày để tao. Thế rồi cũng xổ ra một tràng ZDrachtvuiche,maia yvuska. Thế là các cô nàng đỏ mặt cười rũ rượi. Sau một hồi làm quen biết các cô nàng là sinh viên ĐHNN sơ tán ở Việt Yên.
[...]
Ra ngoài tết, tôi được gọi lên ban quân lực mấy ngày. Công việc là lập sổ quân lực mới cho toàn trung đoàn.Mỗi người được trói gọn trong một dòng, bắt đầu là họ và tên, kết thúc là ”Khi cần báo tin cho ai”. Linh tính mách bảo sắp đi B. Hoàn thành xong công việc toàn trung đoàn hành quân rời Việt Yên lên đóng quân tại Bố Hạ. E bộ đóng quân ven Đầm Mây trên một khu đồi lúp xúp đầy sim mua xen lẫn bạch đàn. Lính công binh của C17 dựng nhà bạt cho các thủ trưởng và ban Tham mưu. Còn cánh vệ binh mắc võng nằm ở vạt bạch đàn. Được mấy hôm thấy Công binh dựng thêm một lều bạt cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân. Các tham mưu con nhỏ to... Tôi gặp trưởng ban 5 và hỏi thì biết là vợ của thủ trưởng sẽ xuống thăm thủ trưởng vài ngày. Thủ trưởng tôi người dân tộc Tày, đi lính từ hồi chống Pháp khi mới mười mấy tuổi. Thủ trưởng đã có một người vợ nhưng không có con. Thủ trưởng đi chiến trường, bà ở nhà cưới cho ông một bà vợ khác để mong có con. Biết được như vậy, cánh vệ binh chúng tôi lặng người. Trung đoàn trưởng của chúng tôi là một người rất đặc biệt. Rất thương lính. Và nóng tính như lửa. Lúc nóng lên ông quát cấp dưới ầm ầm. Cái lều đã dựng xong. Hôm sau vợ thủ trưởng xuống. Một hôm gặp thủ trưởng tôi đánh bạo xin bố ơi, cho con về thăm nhà mấy hôm nhé. Cụ chỉ cười không nói. Chợt một hôm một chiếc commăngca chạy vào E bộ đón vợ thủ trưởng đi. Chúng tôi biết ngay là đi rồi. Hai hôm sau hành quân ra ga Kép lên tàu xuôi. Qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng một lúc lâu. Vệ binh chúng tôi được lệnh làm nhiệm vụ KSQN. Không biết bao nhiêu lá thư được viết vội, được đưa vội vào tay những công nhân đường sắt, vào tay tất cả những ai có mặt trên sân ga lúc đó. Rồi tàu chuyển bánh. Qua đường Nam bộ, những lá thư viết vội vẫn tới tấp bay xuống mặt đường với những lời nhắn nhủ... Tàu chạy ngang qua trường Bách khoa. Tôi nhìn lên giảng đường C9 với chiếc cầu thang ngoài lồi ra phía đường Nam bộ thấp thoáng bóng người. Rồi tất cả ở lại phía sau. Xẩm tối tàu đến ga Gôi Ninh Bình, rẽ vào đoạn đường tránh. Ở đấy đã có một binh trạm tiếp đón. Chúng tôi xuống tàu lấy cơm. Lấy cơm xong tàu chuyển bánh ngay. Mờ sáng tới ga Quán Hành. Lính xuống tàu hành quân vào trong xóm. Tản ra các nhà dân. Chiều, xe ô tô vào chở lính đi tiếp. Các đơn vị thì cưỡi xe Giải phóng, còn lính E bộ lại cưỡi Hải âu. Đúng là “lính trung đoàn là quan...”. Vượt phà Bến Thủy khi chiều gần tắt nắng. Xe chạy gần tới Đèo Ngang thì dừng nghỉ. Các mẹ các chị ào ra mang nước chè tươi, mang trứng luộc ra cho bộ đội. Hết trứng luộc thì mang trứng sống. Tôi vớ được một quả trứng sống. Khoảng 4 giờ sáng xe tới vị trí tập kết. Đó là một thôn nhỏ thuộc xã Quảng Châu huyện Quảng trạch. B vệ binh chúng tôi vào trú tạm ở một trường học. Nhào vào một phòng học, kéo 2 cái bàn khít lại thế là ngủ thiếp đi. Sáng ra lại tiếp tục hành quân bộ đến vị trí đóng quân. E bộ đóng quân tại thôn Thủy Vực xã Quảng Hợp huyện Quảng trạch.
Thôn này có địa thế rất đẹp. Rìa làng có một con suối uốn quanh, sau lưng là dãy núi. Tiểu đội tôi đóng trong nhà một bà mẹ có 2 con trai đang ở chiến trường. Ông bọ đi thuyền đánh cá dưới Quảng Phú, vài hôm mới về nhà một lần. Mẹ thương chúng tôi lắm. Mẹ bảo các con mang cơm về ăn với mẹ. Ăn cơm với mẹ có cá nục kho, có mít non luộc xé nhỏ bóp mắm ruốc...
Ở cùng địa bàn với chúng tôi còn có trạm quân y 201 (không nhớ có phải là bệnh viện dã chiến của V108 hay V103). Tôi làm quen được với một cô anh nuôi, thỉnh thoảng vác bát sang xin em tí mỡ về cải thiện. Đơn vị bắt đầu ăn chuyển cấp từ 7 hào lên một đồng. Bữa cơm toàn lòng lợn xào bí ngô. Một hôm tôi và một người nữa đi ra HTX mua bán của xã mua mấy thứ lặt vặt, về đến đầu làng thì máy bay bổ đến đánh bom đúng vào vị trí đóng quân. Một cán bộ trợ lý quân lực trúng bom tan nát cả. Hai thằng bọn tôi về đến nơi thì máy bay Mỹ đã đi. Lao vào dọn dẹp. Đi nhặt từng mảnh thịt lẫn đất còn khét mùi khói bom. Một đoạn ruột vắt ngang cành tre... Mấy hôm sau ăn cơm cứ nhìn thấy ruột lợn trắng ởn trên đĩa thức ăn là kinh.
Chiến dịch Quảng Trị 1972 bắt đầu. E18 là đơn vị đầu tiên của F325 lên đường vào QT. Trong khi E 18 lặng lẽ vào, E95 bắt đầu cuộc diễn tập chống đổ bộ ở khu vực Đèo Ngang. Cuối tháng Sáu, đơn vị bổ sung quân trang chuẩn bị vào QT. Gạo nửa tháng đổ đầy ruột tượng, đạn 200 viên, cuốc xẻng, dao tông, cưa tay cấp phát túi bụi. Vào một chiều cuối tháng, đơn vị rời Quảng Hợp, hành quân đến bến đò xã Quảng Liên, xuống xà lan đi dọc sông, bắt đầu chặng đường vào QT. Chặng đi xe, chặng đi bộ. Vào tới Bãi Hà nghỉ dừng chân 1 hôm. Ở đây chúng tôi gặp một đoàn các cháu con em cán bộ miền Nam được đưa ra Bắc học tập. Trên đường từ Bãi Hà vào sông Bến Hải chúng tôi gặp các đoàn dân công hỏa tuyến tải thương binh ra. Bộ đội vượt sông Bến Hải tại ngầm Bến Tắt(hay Bến Than gì đấy). Sông Bến Hải mùa khô, nước cạn lòng sông lởm chởm đá trơn nhẫy, có mấy sợi dây song to bắt ngang sông để bộ đội bám vượt sông. Đến giữa sông, không ai bảo ai mấy mọi người bỏ mũ múc một mũ nước sông, uống tạm biệt miền Bắc. Qua sông, cả đoàn quân chìm ngập trong rừng cỏ tranh. Quảng Trị đang mùa khô, nóng hầm hập. Trên đầu máy bay OV10 lượn vè vè, tiếng bom tiếng pháo từ xa vọng về. Đơn vị dừng chân nghỉ tạm một đêm tại một làng ven sông Cam Lộ. Hôm sau hành quân tiếp. Địa điểm dừng chân tiếp của đơn vị là xá Triệu Ái. E bộ đóng tạm tại thôn Tả Kiên, ở lẫn trong dân. Đến đây hôm trước, hôm sau chúng tôi vào căn cứ Ái Tử lấy tôn vòm về làm hầm. Ở Tả Kiên được vài hôm, E bộ chuyển vào đóng tại thôn Tân Vĩnh ở bờ nam sông Vĩnh phước. Đây là thôn đã bị địch dồn dân bỏ hoang từ lâu rồi, không còn nhà cửa, ruộng mọc toàn cỏ tranh. Ven bờ sông mọc dầy các bụi tre gai, lác đác vài gốc mít. Tiểu đội tôi bố trí ngoài cùng, cùng với hầm anh nuôi và một hầm trực thông tin hữu tuyến. Đêm ngủ hầm đầu tiên ở Quảng trị, đến nửa đêm bị bom B52. Ba đứa ôm nhau trong hầm. Khói bom sặc sụa, hầm rung bần bật. Hết bom, nghe bắn súng báo cứu thương cả lũ cầm cuốc xẻng lao về cuối đơn vị. Đến nơi hối hả bới hầm sập, cứu được một vệ binh sư đoàn đi cùng thủ trưởng TM Sư xuống 95, còn một người khác thì hy sinh. Cùng trận bom B52 đó còn 1 lái xe của E phòng không đóng cùng địa bàn hy sinh. Đóng quân bên cạnh E bộ là C18 TT, bên bờ bắc sông Vĩnh Phước là C24 quân y và một trận địa DKB của E84. Quảng Trị lúc này đã biến thành chảo lửa, mà tâm điểm là thị xã QT. Tiếng bom tiếng pháo ngày đêm không ngớt. Ban ngày, bầu trời xẻ ngang xẻ dọc bởi các vệt khói B52 và pháo tăng tốc từ biển bắn vào, ban đêm từng quầng lửa bùng lên phía sông Thạch Hãn... Mới đầu, cũng sợ lắm, sau quen dần. Chính lúc không gian yên tĩnh nhất lại là lúc cái chết bất chợt đổ ập xuống.
Lính vệ binh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ cứ, bảo vệ thủ trưởng đi thị sát mặt trận hoặc lên Sư bộ họp còn làm tất cả những nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho E bộ và các công tác hỗ trợ khác như tải thương,v.v. Đêm đêm chia nhau canh gác và ra cầu Lai Phước cất giấu đạn dược lương thực do xe chở vào đổ ở bờ Bắc, ngày thì vào Ái Tử, Nham Biều tải thương binh về C24. Khu vực bờ sông Vĩnh Phước thường xuyên bị pháo địch bắn vào. Một hôm máy bay đến ném bom dữ dội vào khu vực C18 và trận địa DKB. Một bạn cùng lớp tôi là lính của E84 hy sinh trong trận bom này. Sau này được đưa vào NTLS xã Triệu Ái cùng với các liệt sĩ khác trong khu vực đóng quân. Cánh vệ binh chúng tôi “may mắn” hơn các đồng đội khác là không trực tiếp chiến đấu nhưng cũng có hy sinh. Anh Chiểu B trưởng vệ binh hy sinh trên đường vào Cổ thành. Trịnh Thúc Doanh hy sinh đêm 16 tháng chín 1972 trong khi vượt sông... Tôi cũng mấy lần thoát chết. Một lần, trong lúc đang làm hầm cho cứ phụ ở Xê Kim Tác thì B52 đánh vào Ái Tử. Bom nổ cách hầm vài chục mét. May là kịp chui vào hầm (hầm làm bằng tôn vòm lấy trong căn cứ Ái Tử. Lần khác đi cáng thương từ Nham Biều về, đi ngang qua trận địa DKB thì bị pháo bắn. May cho 3 anh em đi trên đường cao, quả pháo nổ cắm ngay mép đường dưới thấp nên không ai dính mảnh. Ông thương binh lao từ trên võng qua hố bom bên vệ đường, chúi vào bụi dứa dại, hai ông tải thương đứng như trời trồng giữa đường, rồi cũng lao xuống hố bom tránh pháo...
lexuantuong1972
19 Tháng Bảy, 2012, 08:56:23 AM
Nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thương binh liệt sĩ 27/7, hôm qua các đồng đội, bạn bè của Trịnh Thúc Doanh
đã đến nhà để thắp hương cho bạn mình. Cùng đi có các cháu PV của TH kỹ
thuật số VTC. Trước đấy mọi người cũng đã đến thắp hương cho Nguyễn Văn
Ngọc ở Trần Khánh Dư.
Trịnh Thúc Doanh nguyên SV k15 Cơ khí của ĐHBK, nhập ngũ 6/9/1971, trước đó D là học sinh trường Trỗi với TTNL,PQ... Trịnh Thúc Doanh là lính vệ binh của e95/f325, Anh hy sinh ngày 16/9/1972 trong khi rút ra khỏi Thành. Bao nhiêu năm gia đình anh đi tìm mộ của anh mà không thấy. Tình cờ năm 2003, cô em dâu của Doanh chuyển về công tác cùng phòng với tôi, được biết tôi là lớp SV-CS QT, cô cho tôi biết tình hình. Mặc dù không biết Doanh nhưng cùng là lính SV nên có thể tìm ra thông tin về đồng đội mình. Từ đó tôi liên lạc với Dũng "tử tế", Minh "sứt", là SV k15 BK là lính của e95. Cuối cùng xác định được Doanh là vệ binh của e95 và cũng tìm ta được Toàn quê Hưng Yên (giờ là Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy Hưng Yên) cùng hầm với Doanh, là người chứng kiến phút cuối cùng của Doanh. Được lệnh rút, Doanh từ hầm sát bờ sông chui ra trước và 1 quả pháo nổ tung ngay chỗ Doanh vừa tụt xuống... Toàn ra sau không thấy bạn mình đâu nữa... Đồng đội đã đưa gia đình vào chính nơi ngày xưa Doanh đã hy sinh, bốc một nắm đất bên bờ Thạch Hãn đưa về NTLS quê nhà tại Định Công, Hà Nội.
Trịnh Thúc Doanh nguyên SV k15 Cơ khí của ĐHBK, nhập ngũ 6/9/1971, trước đó D là học sinh trường Trỗi với TTNL,PQ... Trịnh Thúc Doanh là lính vệ binh của e95/f325, Anh hy sinh ngày 16/9/1972 trong khi rút ra khỏi Thành. Bao nhiêu năm gia đình anh đi tìm mộ của anh mà không thấy. Tình cờ năm 2003, cô em dâu của Doanh chuyển về công tác cùng phòng với tôi, được biết tôi là lớp SV-CS QT, cô cho tôi biết tình hình. Mặc dù không biết Doanh nhưng cùng là lính SV nên có thể tìm ra thông tin về đồng đội mình. Từ đó tôi liên lạc với Dũng "tử tế", Minh "sứt", là SV k15 BK là lính của e95. Cuối cùng xác định được Doanh là vệ binh của e95 và cũng tìm ta được Toàn quê Hưng Yên (giờ là Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy Hưng Yên) cùng hầm với Doanh, là người chứng kiến phút cuối cùng của Doanh. Được lệnh rút, Doanh từ hầm sát bờ sông chui ra trước và 1 quả pháo nổ tung ngay chỗ Doanh vừa tụt xuống... Toàn ra sau không thấy bạn mình đâu nữa... Đồng đội đã đưa gia đình vào chính nơi ngày xưa Doanh đã hy sinh, bốc một nắm đất bên bờ Thạch Hãn đưa về NTLS quê nhà tại Định Công, Hà Nội.
linh71 Thành viên
19 Tháng Bảy, 2012, 05:18:55 PM
Nhớ về các bạn tôi
...Trịnh Thúc Doanh học K15 Luyện kim Đại học bách khoa, là con một gia đình quân nhân. Bố mẹ Doanh đều là cán bộ của quân y viện 108. Tháng 9-1971 Doanh nhập ngũ cùng với các bạn bè trường Bách khoa và các trường ĐH khác. Doanh và tôi cùng ở đại đội 4 huấn luyện. Doanh có vóc người hơi nhỏ so với các lính khác trong đại đội.
Hết thời gian huấn luyện bộ binh Doanh được điều về C16. Nhưng do có một tật nhỏ ở gót chân nên Doanh được điều về B vệ binh cùng với tôi. Cùng B nhưng khác tiểu đội. Doanh tính tình hiền lành như con gái, ít nói. Bạn bè trêu đùa chỉ tủm tỉm cười. Vào Quảng Trị, tiểu đội tôi được phân bảo vệ BTM, tiểu đội của Doanh bảo vệ Ban Chính trị. Khi chính ủy Hoàng Thiện vào thành thì một tổ vệ binh vào theo, trong đó có Doanh. Doanh ở trong thành đến ngày cuối cùng. Đêm 15-9-1972, Trịnh Thúc Doanh vượt sông Thạch Hãn cùng với Vũ Đức Toàn, một chiến sĩ vệ binh cùng tiểu đội. Đang vượt sông thì Doanh trúng mảnh pháo, hy sinh. Xác trôi theo dòng nước cùng với bao đồng đội khác...
...Mỗi lần vào Quảng Trị, khi qua sông Thạch Hãn nhìn mặt
sông gợn sóng tôi lại như nhìn thấy các bạn tôi, từng lớp từng lớp trôi
dần xa. Lại thấy vẳng bên tai
...Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm ...
Các bạn tôi, người thịt xương tan vào đất cổ thành, người hóa thân thành con sóng Thạch Hãn, người nằm lại dọc đường giải phóng miền Nam... Mãi mãi không về. Mãi mãi còn sống trong lòng gia đình, đồng đội.
...Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm ...
Các bạn tôi, người thịt xương tan vào đất cổ thành, người hóa thân thành con sóng Thạch Hãn, người nằm lại dọc đường giải phóng miền Nam... Mãi mãi không về. Mãi mãi còn sống trong lòng gia đình, đồng đội.
Binh đoàn sinh viên năm ấy
Thứ năm - 23/10/2014 08:30
LÊ TRÍ DŨNG
Đã
42 năm trôi qua kể từ mùa hè năm 1972 đỏ lửa ấy, cứ mỗi độ thu sang,
lòng tôi lại bổi hổi bồi hồi nhớ về những chuyến tàu ra trận. Đó là đoàn
tàu xuất phát từ ga Hàng Cỏ - Hà Nội chở “binh đoàn sinh viên” vừa nhập
ngũ, tiếp “máu” cho cách mạng Việt Nam vào lúc nước sôi lửa bỏng nhất.
Hẳn
những ai vào thăm thành cổ Quảng Trị sẽ ngạc nhiên trước một tượng đài
kỉ niệm độc đáo mang hình một cuốn sách đang mở rộng. Cuốn sách đó chính
là một lá cờ, góc có ngôi sao đỏ đang bay lên kiêu hãnh. Phía trước,
dưới chân cuốn sách là ngọn đuốc hình cây bút và dòng chữ: Đài chứng
tích sinh viên – chiến sĩ thành cổ Quảng Trị 1972. Giữa cuốn sách là 11
tấm phù điêu xếp hàng ngang kể về chiến công của các anh hùng liệt sĩ từ
lúc nhập ngũ, chiến đấu đến ngày nay… Mặt sau lá – cờ - sách ấy là dòng
chữ: Nơi đây, thành cổ Quảng Trị, bao nhiêu sinh viên đã từng tham gia
chiến đấu, nhiều người trong số họ đã hi sinh anh dũng, các anh vẫn sống
mãi trong lòng đất nước, nhân dân và đồng đội thân yêu.
Binh
đoàn sinh viên ấy bắt đầu hình thành quãng tháng 9 năm 1971, tiếp đó
liên tục được bổ sung thêm từ các đợt tuyển quân suốt năm 1972. Kể từ
sau Mậu Thân 1968, cuộc chiến ở mặt trận phía Nam ngày càng khốc liệt,
sinh viên các trường đại học tạm gác sách vở lần lượt lên đường. Hầu như
trường đại học nào cũng có sinh viên trong đợt tuyển quân ấy từ Tổng
hợp, Nông nghiệp, Bách khoa, Y, Thể dục Thể thao, Mỹ thuật…
Những
người lính sinh viên mang lon binh nhất ấy đem theo ra chiến trường cả
sách vở, đàn ghita. Có người tự may chữa lại quân phục cho đỏm dáng,
sính đệm tiếng Nga khi nói chuyện, thích chuồn đi ngao du mọi lúc mọi
nơi khi có thể, ưa ghi nhật kí và làm thơ mọi lúc… Tuy vậy, khi chiến
đấu họ đặc biệt quả cảm. Dũng cảm và lãng mạn – hai phẩm chất có lẽ là
đặc điểm nổi trội của những người lính sinh viên thời hoa đỏ ấy. Đến
giờ, những câu thơ, những dòng lưu bút, những bức kí họa dở dang, những
bản nhạc chưa hoàn thiện của thế hệ “tài hoa ra trận” ấy vẫn cứ ám ảnh
tôi mãi.
Hoàng
Minh Tích, sinh viên Trường Mĩ thuật, hi sinh cạnh chiếc cặp vẽ còn
nhiều kí họa ngổn ngang. Nguyễn Văn Thạc, sinh viên khoa Toán, Trường
Đại học Tổng hợp khi ra đi đã để lại những vần thơ trong trẻo: Đêm trắng
trong… là đêm của em. Đèn thành phố và sao trời lẫn lộn/ Đêm của anh
xếp kín trời bom đạn/ Pháo sang chập chờn trộn trạo với sao xa.
Anh
lính trẻ Hoàng Nhuận Cầm rời khoa Văn – Đại học Tổng hợp ra trận đã
viết: Mẹ ơi! Trước lúc con vĩnh biệt/ Con không kịp thấy chỗ con nằm/
Con chỉ nhớ rằng sau tiếng nổ/ Vẫn quỳ trước Mẹ, trước vầng trăng. Cũng
là một sinh viên khoa Văn – Đại học Tổng hợp, người lính Phùng Huy Thịnh
của sư đoàn 325 đã viết những câu thơ cảm động về người vợ liệt sĩ: Hoa
xoan giờ bói không ra nữa/ Nhà ngói dựng lên tường sát tường/ Cô gái
làng bên giờ tóc ngả/ Chồng chỉ còn tên lúc thắp hương.
Nguyễn
Hải Nghiêm (sinh viên Đại học Mĩ thuật) viết: Đồng đội tôi trong chiến
dịch bảy hai/ Xương thịt nhiều hơn đất đai thành cổ/ Bao đồng đội ra đi
không về nữa/ Để đất đai mãi mãi tươi màu…
Cây
bút trên tay những sinh viên ra trận đã hóa thành thứ vũ khí tuyệt vời.
Cảm xúc cùng những trải nghiệm của họ là niềm tự hào của bao thế hệ
người lính thời đánh Mĩ, những người vinh dự sống và chiến đấu, đi qua
những thời khắc gian lao mà tột cùng hào hùng của đất nước.
Tôi
còn nhớ trong đêm diễn ra cầu truyền hình “Một thời hoa lửa” vào năm
2007, một người từng tham chiến ở phía bên kia xưng danh: Tôi là Nguyễn
Thanh Quang – Toán trưởng, tiểu đoàn 6 – thủy quân lục chiến – quân đội
Sài Gòn cũ… Anh ta đã chia sẻ một cách rất thật rằng: Khi đó tụi tôi mới
mười tám, hai mươi tuổi, ra trận có hải quân, không quân, pháo binh yểm
trợ mà phía các ông hầu như không có. Chúng tôi tấn công vào các trọng
điểm mà trước đó pháo binh và không quân của chúng tôi đã dập nát rồi,
nhưng sức kháng cự từ phía các ông quả là mãnh liệt, hầu như không thể
nào đè bẹp được… Tôi biết tới trung đoàn 48, sư đoàn 320 thép, trong đó
có nhiều lính – sinh viên… Tôi rất thán phục những người lính đã hi sinh
và đặc biệt hi sinh ở thành cổ. Tôi nghĩ ở mặt trận đó, thực tế Việt
cộng đã thắng.
Năm
tháng trôi đi. Những người lính sinh viên trai trẻ ngày nào ra đi, “đầu
không ngoảnh lại” nay đã trạc tuổi lục tuần, tóc muối tiêu, tóc bạc
phơ, nhiều người vẫn trong quân ngũ, hàm tướng, nhiều người giữ trọng
trách, cương vị quan trọng trong các cơ quan Đảng, Chính phủ và Quốc
hội. Nhiều người trở thành văn nghệ sĩ nổi tiếng được nhân dân yêu quý,
nhiều người trở thành những nhà khoa học tài năng có nhiều đóng góp to
lớn cho đất nước…
Năm tháng gian nan, khổ đau, ác liệt của chiến tranh chỉ khiến các anh thêm yêu, thêm quý cuộc sống an bình.
Nhìn
họ tóc bạc phơ, mặt đầy dọc ngang sương gió vẫn đam mê tấu hài, đọc
thơ, đàn hát… vào mỗi dịp kỉ niệm 30 tháng 4 hoặc 22 tháng 12, tôi lại
thấy tự hào bởi các cựu chiến binh đặc biệt ấy đã làm tròn lời hứa trước
Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1972 khi ông gặp toàn thể binh đoàn sinh
viên dịp tết Nhâm Tí. Khi đó Đại tướng thay mặt Quân ủy Trung ương chúc
tết binh đoàn ở Non Nước – Ninh Bình. Lời chúc tết sang sảng của Đại
tướng mùa xuân năm ấy vang mãi trong tiếng hoan hô vang rền của những
người lính trẻ. Và mãi mãi, trái tim cùng khát vọng của những người lính
binh đoàn sinh viên năm ấy là khúc tráng ca không thể nào quên trong
bao chiến công vang dội của Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong ký ức hào
hùng của dân tộc
L.T.D
Lớp sinh viên ngày ấy và những ngày máu lửa Quảng Trị
Từ năm 1970 đến 1972, hơn 10.000 sinh viên các trường đại học ở Hà Nội
lên đường nhập ngũ, trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Hơn một nửa đã hy sinh tại các mặt trận, nhưng nhiều nhất là trong chiến
dịch bảo vệ thành cổ Quảng Trị.
Năm 1970, nhiều trường đại học trở về Hà Nội sau những năm tạm sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom. Thời gian này, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn căng thẳng, nhu cầu chi viện cho các mặt trận phía Nam trở nên cấp bách. Hưởng ứng phong trào Ba sẵn sàng và thực hiện lệnh tổng động viên, các địa phương đồng loạt gọi thanh niên, sinh viên đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự.
![]() |
Sinh viên Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế quốc dân) trước giờ lên đường nhập ngũ tháng 9/1971.Ảnh tư liệu. |
Đợt tuyển quân đông nhất là vào năm 1971. Hàng nghìn sinh viên bước vào năm học mới cũng là lúc nhận được giấy báo nhập ngũ. Ngày 6/9/1971, lễ xuất quân diễn ra ngay tại sân nhiều trường đại học, có bạn bè, thầy cô đưa tiễn. Những anh lính sinh viên tinh nghịch bắt bạn bè phải gọi là chú bộ đội. Những khuôn mặt thư sinh, mặc nguyên áo trắng lên đường tòng quân.
Toàn bộ sinh viên nhập ngũ đợt tháng 9/1971 được đưa lên huấn luyện tại vùng đồi núi thuộc tỉnh Hà Bắc (cũ). Ở đây, họ được học về chiến thuật, chiến lược, kỹ thuật sử dụng vũ khí và tác chiến. Mỗi đêm các tân binh phải đeo đến 20 kg đất đựng trong sọt tre mà đi, chạy để rèn sức dẻo dai cho chuyến hành quân bộ vào miền Nam.
Cuối đợt huấn luyện, sau khi phân loại là sinh viên trường nào, họ được xếp vào binh chủng cho phù hợp: Bách khoa thì vào pháo binh, thông tin; y thì vào quân y; mỏ địa chất vào công binh; kinh tế, tổng hợp vào bộ binh… Nhưng phần đông sinh viên được biên chế vào các đơn vị chiến đấu như các trung đoàn 95, 101, 18 của Sư đoàn 325; 338; 308, trực tiếp tham chiến ở mặt trận Bình - Trị - Thiên.
Đầu năm 1972, chuyến tàu chở bộ đội, chủ yếu là tân binh sinh viên đi thẳng từ ga Kép (Bắc Giang) đến ga Vinh để từ đây hành quân vào chiến trường. Nhiều cựu sinh viên kể lại, khi tàu đi qua ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội ngày nay), những lá thư từ các toa được thả xuống trắng đường. Ngoài bì thư chỉ ghi vội dòng chữ Nhờ ai nhặt được thư này chuyển đến giúp số nhà... Hẹn trở về, Hà Nội mến yêu hay Đi B, ngày…
![]() |
Thầy trò trường ngoại ngữ (Đại học Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội) chào nhau trước khi xe lăn bánh.Ảnh tư liệu. |
Dọc đường hành quân từ Hà Nội vào miền Nam, những cánh thư của nhiều người vẫn đều đặn gửi về cho thầy cô, bạn bè ở trường đại học. Sau giờ chiến đấu, họ còn tranh thủ viết nhật ký chiến trường. Sự ác liệt của cuộc chiến được ghi lại trong những bài thơ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, sinh viên Đại học Tổng hợp gửi người bạn gái Như Anh: Đêm trắng trong là đêm của em/ Đêm thành phố và sao trời lẫn lộn/ Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn/ Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa…
Lớp lính sinh viên ấy có mặt trên khắp trận tuyến, từ Thành cổ Quảng Trị đến chiến trường Đông Nam Bộ, tham gia giải phóng Buôn Mê Thuột, ở Sài Gòn vào ngày 30/4/1975. Trong hơn 10.000 sinh viên lên đường thì hơn một nửa hy sinh tại các mặt trận phía Nam, trên đất Lào, nhưng nhiều nhất là trong chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972. Có người ngã xuống ở cửa ngõ Sài Gòn như liệt sĩ Nguyễn Văn Tư (sinh viên Bách khoa), hy sinh lúc 10h sáng 30/4/1975, cách giờ phút thống nhất chưa đầy hai tiếng.
Sau ngày thống nhất, những người lính sinh viên lại trở về giảng đường, tiếp tục đi học. Nhiều người mang thương tật chiến tranh, di chứng của những trận sốt rét rừng. Rất nhiều trong số đó trở thành nhà khoa học, giáo sư, cán bộ chủ chốt của các trường đại học, tướng lĩnh quân đội, nhà thơ, nhà văn. Một số người giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước như ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Nguyễn Quốc Triệu, nguyên Bộ trưởng Y tế...
Trong buổi gặp mặt truyền thống của sinh viên lên đường chiến đấu tại Hà Nội ngày 25/4, ông Ngô Quang Năng, cựu sinh viên Đại học Nông nghiệp, chia sẻ: Những sinh viên lên đường nhập ngũ hầu hết rất giỏi mới thi đỗ vào các trường đại học. Ngày ấy rời giảng đường, chúng tôi đều nuối tiếc. Ai chẳng muốn được đi học, được trở thành bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo. Nhưng đất nước có chiến tranh, cầm súng là bổn phận, cũng là vì danh dự của một thế hệ, một lớp người".
![]() |
Các cựu sinh viên Hà Nội trong buổi gặp mặt truyền thống ngày 25/4 tại Hà Nội. Ảnh:Hoàng Phương. |
Nhưng đến nay ước nguyện của người thầy đối với học trò vẫn chưa làm được. Để tưởng nhớ bạn học, đồng đội, nhiều cựu sinh viên các trường đóng góp xây nên các tượng đài, đài kỷ niệm sinh viên lên đường bảo vệ tổ quốc trong khuôn viên các trường Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế quốc dân...
Nói về lớp sinh viên ngày ấy, cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: "Tổ quốc ghi công lớp lớp thầy giáo, sinh viên đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu và đóng góp xứng đáng vào chiến thắng của dân tộc. Tinh thần yêu nước mãi mãi là ngọn lửa soi sáng các thế hệ thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hòa bình và hạnh phúc".
Theo VnExpress
Ngày này năm xưa: Vụ tàn sát sinh viên Mỹ chống chiến tranh Việt Nam
04/05/2018 04:43 GMT+7
Ngày
4/5/1970, lực lượng Vệ binh quốc gia Ohio, Mỹ nổ súng vào đoàn biểu
tình phản đối chiến tranh Việt Nam, làm 4 sinh viên Đại học Kent thiệt
mạng, 9 người khác bị thương.
Thảm
kịch này là bước ngoặt đối với một quốc gia đang bị chia rẽ bởi cuộc
chiến ở Việt Nam, theo History. Về hậu quả tức thời, cuộc biểu tình do
sinh viên đi đầu đã khiến các trường cao đẳng, đại học trên toàn nước Mỹ
phải đóng cửa tạm thời. Một số nhà phân tích chính trị tin rằng sự kiện
xảy ra ở Ohio chứng tỏ dư luận phản đối chiến tranh và nó góp phần vào
sự sụp đổ của Tổng thống Richard Nixon.
Cuộc chiến ở Việt Nam
Việc
Mỹ tham chiến ở Việt Nam đã gây tranh cãi ngay từ lúc mới bắt đầu và đa
phần công chúng nước này phản đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt
Nam. Biểu tình diễn ra trên khắp nước Mỹ vào nửa cuối những năm 1960.
Sở
dĩ Tổng thống Richard M.Nixon đắc cử năm 1968 là do ông cam kết chấm
dứt chiến tranh Việt Nam. Tới tháng 4/1970, dường như nhà lãnh đạo này
đang trên đà thực hiện cam kết tranh cử khi các chiến dịch quân sự của
Mỹ ở Việt Nam giảm dần.
![]() |
Thảm kịch tàn sát sinh viên phản đối chiến tranh Việt Nam |
Tuy
nhiên, tới 30/4/1970, Nixon lại cho phép quân Mỹ xâm chiếm Campuchia.
Quyết định này gây tranh cãi lớn do Nixon phê chuẩn chiến dịch mà không
thông báo cho Ngoại trưởng William Rogers hay Bộ trưởng Quốc phòng
Melvin Laird.
Các quan chức trên, cùng với công chúng
Mỹ chỉ biết về vụ xâm chiếm khi Nixon công khai trên truyền hình hai
ngày sau đó. Các thành viên Quốc hội Mỹ buộc tội Tổng thống mở rộng sự
can dự của quân Mỹ trái phép khi không nhận được sự đồng ý của các nghị
sĩ thông qua bỏ phiếu.
Phản ứng của công chúng với
quyết định của Tổng thống Nixon cuối cùng đã dẫn tới những thảm kịch ở
Kent, thành phố thuộc bang Ohio.
Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam
Trước
khi Tổng thống Nixon có thông báo chính thức về việc xâm chiếm
Campuchia, tin đồn về việc Mỹ chiếm Campuchia đã làm bùng lên các cuộc
biểu tình tại nhiều trường cao đẳng, đại học khắp nước. Tại Kent, biểu
tình bùng nổ từ hôm 1/5.![]() |
Vào
1/5, hàng trăm sinh viên tập trung ở Commons - không gian giống như
công viên ở trung tâm khu trường sở. Một số diễn giả lên tiếng phản đối
chiến tranh nói chung, và cụ thể là Tổng thống Nixon.
Đêm
1/5, tại trung tâm Kent, xung đột bạo lực bùng phát giữa sinh viên và
cảnh sát địa phương. Cảnh sát cáo buộc rằng, xe họ bị trúng các chai
nước và sinh viên đã chặn đường, đốt lửa trên đường phố.
Quân
tiếp viện được điều tới từ các khu vực lân cận và Thị trưởng Kent Leroy
Satrom tuyên bố tình trạng khẩn cấp, yêu cầu các quán bar trong thành
phố đóng cửa. Ông Satrom cũng liên lạc với Thống đốc Ohio James Rhodes
để xin hỗ trợ.
Quyết định đóng cửa các quán bar của ông
Satrom trên thực tế càng khiến người biểu tình tức giận và số lượng đám
đông có mặt trên đường phố càng tăng. Cảnh sát phải dùng hơi cay giải
tán đám đông và đẩy người biểu tình trở lại khu trường học.
Vệ binh quốc gia Ohio nổ súng
![]() |
Sau
khi thảo luận với các quan chức thành phố khác, ông Satrom đề nghị
Thống đốc Rhode điều lực lượng vệ binh quốc gia Ohio tới để làm dịu tình
hình.
Vào thời điểm đó, các thành viên đội Vệ binh
quốc gia đang làm nhiệm vụ trong vùng nên việc huy động diễn ra nhanh
chóng. Khoảng 1.000 lính Vệ binh quốc gia đã có mặt tại trường Kent,
khiến nơi này giống như khu chiến sự thay vì trường học.
Ngày
4/5, biểu tình diễn ra, ban đầu mọi việc diễn ra trong hòa bình, các
nhà hoạt động phát biểu bất chấp sự hiện diện của vệ binh quốc gia.
Khi
nhận được yêu cầu giải tán từ tướng Robert Canterbury thuộc lực lượng
Vệ binh quốc gia, những người biểu tình từ chối và bắt đầu ném gạch đá.
![]() |
Tướng
Canterbury yêu cầu các binh sĩ lên đạn, bắn hơi cay vào đám đông. Tiếp
đó, các binh sĩ tiến lên, ép người biểu tình xuống sân bóng. Do sân bóng
có hàng rào bao bọc, những người lính lọt vào giữa đám đông giận dữ và
trở thành mục tiêu của gạch đá.
Binh sĩ phải rút lên
đồi và từ đây 28 binh sĩ bất ngờ quay lại, nổ súng. Một số người bắn chỉ
thiên, một số chĩa thẳng vào đám đông người biểu tình. Chỉ trong 13
giây, gần 70 viên đạn được bắn ra. Tổng số 4 sinh viên Đại học Kent
thiệt mạng, 9 người khác bị thương.
Vụ nổ súng tại
Kent sau đó đã trở thành biểu tượng cho sự chia rẽ trong dư luận về
chiến tranh nói chung và cuộc chiến ở Việt Nam nói riêng.
![]() |
Hoài Linh
Nhận xét
Đăng nhận xét