CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 242
(ĐC sưu tầm trên NET)
Những địa điểm đối đầu giữa tình báo Liên Xô và phương Tây giữa lòng Moskva
Thủ đô Moskva của Liên Xô từng là nơi chứng kiến nhiều duyên nợ giữa KGB và các cơ quan tình báo của Anh, Mỹ.
![]() |
Khách sạn Bắc Kinh ở Moskva năm 1962. Ảnh: RBTH.
|
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thủ đô Moskva của Liên Xô là một trong
những nơi diễn ra các hoạt động tình báo sôi động nhất thế giới. Tại đây
có nhiều địa điểm mà các nhân viên tình báo Nga nhiều lần chạm mặt với
các đồng nghiệp Mỹ, theo RBTH.
Khách sạn Pekin
Tổ hợp khách sạn nổi tiếng này được xây dựng dưới thời Joseph Stalin, trong đó phần
lớn nhân viên phục vụ và người quản lý là điệp viên của Ủy ban An ninh
Quốc gia (KGB), cơ quan tình báo nổi tiếng của Liên Xô.
Các căn phòng và nhà hàng của khách sạn đều được KGB gài thiết bị
nghe lén. Tình báo Liên Xô còn sử dụng khách sạn này để đón tiếp điệp
viên được tuyển mộ từ các nước và thành phố khác thuộc Liên bang Xô Viết
khi họ tới Moskva công tác.
Năm 1961-1962, điệp viên người Anh Greville Maynard Wynne nhiều
lần tiếp xúc với đại tá Oleg Penkovsky thuộc cơ quan Tình báo Quân sự
Liên Xô (GRU), đồng thời là một điệp viên của CIA và cơ quan tình báo
Anh, tại khách sạn Pekin. Penkovsky đã trao cho Wynne
khoảng 5.000 tấm hình chụp tài liệu mật liên quan tới các hệ thống vũ
khí của Liên Xô để đổi lấy tiền và những quà tặng đắt giá.
Đại tá Penkovsky sống tại một căn hộ ở số 36 đường
Kosmodamianskaya, nay là đường Maxim Gorky. Sau nhiều dấu hiệu nghi vấn,
KGB bắt đầu theo dõi sĩ quan tình báo này từ năm 1963.
Từ ban công của căn hộ phía trên nơi ở của Penkovsky, các nhân
viên phản gián của KGB đặt một chiếc camera nhỏ vào chậu hoa để quay
cảnh Penkovsky chụp tài liệu mật bằng chiếc camera hiệu Minox. Cùng năm,
Penkovsky bị bắt và lĩnh án tù chung thân.
Cầu Krasnoluzhsky
![]() |
Cầu Luzhnetsky hiện nay. Ảnh: RBTH.
|
Cầu Krasnoluzhsky nằm ở tây nam Moskva, từng là nơi diễn ra hoạt
động liên lạc mật giữa điệp viên của CIA với nhân viên Bộ Ngoại giao
Liên Xô Alexander Ogorodnik, người bị tình báo Mỹ tuyển mộ khi làm việc
tại Colombia năm 1974.
Ogorodnik gửi thông tin mật cho CIA trong các hộp được ngụy trang
thành hòn đá hoặc thanh gỗ và giấu trong gầm cầu. Ogorodnik bị bắt ngày
22/6/1977 và sau đó tự sát. KGB nỗ lực giấu thông tin về cái chết của
Ogorodnik nhằm dẫn dụ mạng lưới tình báo của Mỹ lộ diện.
Trò chơi trao đổi thông tin tình báo tiếp tục được duy trì đến
ngày 15/7/1977, khi nhân viên CIA tại Đại sứ quán Mỹ Martha Peterson bị KGB bắt quả tang đang tìm cách chuyển tài liệu cho Ogorodnik. Peterson bị trục xuất khỏi Liên Xô vào ngày hôm sau.
Đầu thập niên 2000, cầu Krasnoluzhsky bị tháo dỡ để xây cầu mới
Luzhnetsky, song các trụ đỡ cũ của nó, nơi từng là hộp thư mật của CIA
giữa lòng Moskva, vẫn được giữ lại.
Ga Severyanin
![]() |
Sân ga Severyanin. Ảnh: Mos.ru.
|
Năm 1985, KGB theo dõi điệp viên CIA Paul Zalakt giấu một "hòn đá"
tại vị trí cách không xa sân ga Severyanin trên tuyến xe lửa Moskva -
Yaroslavl.
Vài tuần sau đó, phản gián Liên Xô phát hiện và bắt giữ Leonid Poleshuk,
nhân viên của KGB làm gián điệp cho CIA, khi anh này tới ga Severyanin và nhặt "hòn đá" này.
"Hòn đá" mà Poleshuk nhặt chứa 25.000 rúp, số tiền đủ mua 4 chiếc ô tô
thời kỳ đó. Đây là tiền công mà CIA trả cho thông tin được Poleshuk cung
cấp về mạng lưới điệp viên của Liên Xô tại Nepal và Nigeria. Poleshuk bị tử hình vào năm 1986.
Nhà thờ Saint Basil
![]() |
Nhà thờ Saint Basil hiện nay. Ảnh: RBTH.
|
Nhìn bên ngoài, nhà thờ Saint Basil ở giữa Quảng trường Đỏ khó có
khả năng trở thành một địa điểm lý tưởng của hoạt động tình báo, nhưng
với CIA, đây lại là ngoại lệ.
Đoạn cầu thang xoắn ốc giữa tầng một và tầng hai của nhà thờ được
CIA biến thành nơi liên lạc mật với điệp viên, do đây là nơi giới ngoại
giao nước ngoài tại Liên Xô có thể thoải mái tới tham quan.
Năm 1985, đại tá tình báo KGB Oleg Gordievsky, gián điệp của cơ
quan tình báo Anh SIS (hay MI6), tìm cách gặp những điệp viên nước ngoài
tại nhà thờ này để nhận chỉ dẫn trốn khỏi Liên Xô, nhưng nhà thờ này
lúc đó bị đóng cửa.
Gordievsky sau đó tìm cách cắt đuôi nhân viên KGB theo dõi và chạy trốn sang Anh. Liên Xô sau đó tuyên án tử hình vắng mặt Gordievsky vì tội phản quốc.
Nguyễn Hoàng
Siêu tin tặc của tình báo Liên Xô lộ mặt chỉ vì 0,75 USD năm 1986
Một trong những tin tặc giỏi nhất lịch sử tình báo Liên Xô bị phát hiện vì chênh lệch rất nhỏ trong số tiền sử dụng máy tính tại Mỹ.
![]() |
Markus Hess khi bị bắt. Ảnh: Alchetron.
|
Vào thập niên 1980, Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), cơ quan tình báo hàng
đầu của Liên Xô, muốn thu thập tài liệu tuyệt mật của quân đội Mỹ thông
qua hệ thống mạng ARPANET và MILNET. Họ tuyển mộ thanh niên người Đức
có tên Markus Hess, người sau này trở thành một trong những tin tặc nổi
tiếng nhất của tình báo Liên Xô, theo Listverse.
Quá trình KGB tiếp cận và tuyển mộ Hess không được tiết lộ, lực lượng
phản gián phương Tây chỉ biết thanh niên này tiến hành hoạt động đánh
cắp dữ liệu từ đại học Bremen tại Tây Đức. Hess đã xâm nhập tổng cộng
400 máy tính quân đội Mỹ, trong đó có nhiều hệ thống tại Đức và Nhật
Bản. Tin tặc người Đức còn đoán được mật khẩu quản lý cơ sở dữ liệu
Optimis của Lầu Năm Góc, cho phép truy cập số lượng tài liệu mật khổng
lồ của lục quân Mỹ.
KGB được cho là đã trả hàng chục nghìn USD để mua dữ liệu từ Hess, đồng
thời đề ra mục tiêu cho tin tặc này tấn công. Hoạt động thu thập dữ liệu
tinh vi của Hess chỉ bị phát hiện bởi một lỗi kế toán rất nhỏ trong
phòng nghiên cứu máy tính ở bang California, Mỹ vào năm 1986.
Nhà quản trị mạng Clifford Stoll phát hiện chênh lệch 75 cent (0,75 USD)
trong số tiền sử dụng máy tính tại Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley
(LBL), nơi tiến hành nhiều thí nghiệm cho Bộ Năng lượng Mỹ.
Khi điều tra để truy ra nguồn gốc số tiền chênh lệch, Stoll nhận
ra rằng có một người dùng giấu mặt đã truy cập máy tính của LBL trong 9
giây mà không trả tiền. Stoll nhận thấy người dùng này là một tin tặc có
trình độ rất cao, đã chiếm được quyền quản trị hệ thống bằng cách khai
thác lỗ hổng bảo mật của LBL.
Nhà quản trị người Mỹ dành ra 10 tháng để tìm ra tung tích tin tặc bí
ẩn. Ông gặp may khi Hess tìm cách đột nhập máy tính của một tập đoàn
quốc phòng ở bang Virginia. Stoll ghi lại mọi hoạt động của đối phương,
nhận ra người này có quyền truy cập mạng máy tính tại nhiều căn cứ quân
sự khắp nước Mỹ, thường xuyên tìm kiếm dữ liệu tác chiến tuyệt mật và
công nghệ vũ khí hạt nhân.
![]() |
Clifford Stoll, người phát hiện ra hoạt động của Hess. Ảnh: News Week.
|
Stoll lập tức liên hệ với Lầu Năm Góc, Cơ quan Tình báo Trung ương
(CIA), Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) và Cục điều tra liên bang (FBI).
Lực lượng phản gián Mỹ phát hiện tin tặc đối phương đang hoạt động ở một
trường đại học Tây Đức, nhưng không có địa chỉ cụ thể.
Stoll và phản gián Mỹ xây dựng kế hoạch để dụ tin tặc lộ diện, bằng cách
thành lập một phòng ban giả thuộc LBL và tung tin cho biết cơ quan này
đang hợp tác chặt chẽ với quân đội Mỹ. Khi Hess sập bẫy và cố truy cập
dữ liệu của cơ quan giả này, tình báo Mỹ tìm được chính xác địa chỉ nhà
riêng của anh ta ở thành phố Hannover.
Vào thời điểm đó, hình thức tấn công của Hess vẫn còn rất mới mẻ, gây
nhiều khó khăn cho quá trình hợp tác giữa FBI và chính phủ Tây Đức. Cuối
cùng, cảnh sát Hannover đã tiến hành cuộc đột kích và bắt tin tặc người
Đức này. Hess phải ra tòa vào năm 1990 và bị kết tội gián điệp, nhưng
chỉ phải nhận án tù treo 20 tháng.
Tử Quỳnh
Những vũ khí của gián điệp phương Tây từng bị Liên Xô thu giữ
Điệp viên phương Tây mang theo nhiều thiết bị tinh vi, dễ che giấu trong quá trình hoạt động tại Liên Xô.
Ảnh: RBTH
Chiến dịch dùng cà rốt giấu công nghệ radar của tình báo Anh
Để che giấu bí mật công nghệ radar trước phát xít Đức, tình báo Anh đã tung ra chiến dịch tuyên truyền về sức mạnh thần kỳ của củ cà rốt.
![]() |
"Thị lực ban đêm có thể là vấn đề sống chết" - áp phích tuyên truyền cổ vũ việc ăn cà rốt của Anh trong Thế chiến II. Ảnh: Smithsonianmag.
|
Ngày nay, rất nhiều người tin rằng ăn thật nhiều cà rốt sẽ giúp có
đôi mắt sáng tinh tường. Quan niệm này có thể xuất phát từ một trong
những chiến dịch tuyên truyền thành công nhất của tình báo Anh về sức
mạnh thần kỳ của củ cà rốt, nhằm che giấu những bí mật quân sự góp phần
đánh bại phát xít Đức trong Thế chiến II, theo tạp chí Smithsonianmag.
Khoa học đã chứng minh cà rốt chứa lượng lớn vitamin A tốt cho đôi
mắt, nhưng không thể giúp người bình thường tăng thị lực. Tuy nhiên,
tình báo Anh đã khiến cho người dân cả nước lẫn kẻ thù phải tin rằng cà
rốt có thể giúp họ có đôi mắt "tinh như cú vọ" bằng chiến dịch tuyên
truyền tung hỏa mù của mình.
Trong chiến dịch Blitzkrieg năm 1940, không quân Đức tăng cường chiến
dịch không kích, lợi dụng đêm tối điều máy bay đánh bom các mục tiêu
quan trọng ở Anh. Để đối phó, chính phủ Anh quyết định cắt điện ở các
thành phố lớn vào ban đêm để máy bay Đức khó quan sát mục tiêu.
Trong chiến dịch này, Không quân Hoàng gia Anh (RAF) có thể đẩy lùi máy
bay Đức một phần là nhờ công nghệ radar bí mật mới có tên Radar Đánh
chặn Đường không (AI) lắp trên chiến đấu cơ từ năm 1939, có khả năng xác
định các oanh tạc cơ địch trước khi chúng tiếp cận eo biển Manche.
Để giữ bí mật về công nghệ radar rất quan trọng này, tình báo Anh quyết
định khiến người dân lẫn quân Đức tin rằng phi công của họ có thị lực
tuyệt vời có thể phát hiện máy bay địch từ xa, và tất cả là nhờ cà rốt.
Năm 1940, phi công tiêm kích đêm John Cunningham là người đầu tiên sử
dụng công nghệ radar AI bắn hạ một chiến đấu cơ Đức. Sau đó, phi công
này lập chiến công ấn tượng, diệt 20 máy bay địch, trong đó có 19 chiến
đấu cơ bị bắn hạ trong đêm. Bộ Thông tin Anh đã nói với báo giới rằng
các phi công của họ đạt được chiến công tuyệt vời như vậy là nhờ ăn rất
nhiều cà rốt để có thị lực hơn người.
![]() |
Phi công John Cunningham được quảng bá là có thị lực ban đêm tuyệt vời nhờ ăn nhiều cà rốt. Ảnh: Telegraph
|
Mục đích của tình báo Anh khi tung ra thông tin trên là khiến các chiến
lược gia Đức mất thời gian tìm hiểu điều không có thực, theo John
Stolarczyk, giám đốc Bảo tàng Cà rốt Thế giới.
"Câu chuyện về việc phi công Anh có thị lực vượt trội nhờ ăn cà rốt ấn
tượng đến mức có tin cho rằng không quân Đức tin sái cổ và cũng bắt đầu
cho phi công của mình ăn nhiều cà rốt để đối phó với quân Anh",
Stolarczyk nói.
Trong khi đó, báo chí, đài phát thanh của Anh đều tuyên truyền rằng ăn
nhiều cà rốt sẽ giúp người dân nhìn đường tốt hơn ở khu vực thành phố bị
cắt điện khi đêm xuống. Các tờ quảng cáo với khẩu hiệu "Cà rốt tốt cho
sức khỏe và giúp bạn nhìn rõ trong đêm" xuất hiện ở mọi nơi.
Ngoài tác dụng che giấu công nghệ vũ khí, chiến dịch tuyên truyền này
còn góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng lương thực ở Anh trong thời
chiến. Khi tàu ngầm Đức phong tỏa các tàu tiếp tế lương thực ở ngoài khơi, nước Anh lâm vào tình trạng khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng.
Để giải quyết cuộc khủng hoảng này, chính phủ Anh vận động người
dân quay sang sử dụng các loại rau củ quả dễ trồng, dễ kiếm, điển hình
như cà rốt. Chiến dịch tuyên truyền trên đã có tác động mạnh mẽ, khiến
người Anh thời kỳ đó "phát sốt" vì cà rốt.
"Đây là một cuộc chiến tranh lương thực. Việc ăn thêm rau củ trong
khẩu phần ăn giúp giảm bớt gánh nặng vận chuyển đường biển. Cuộc chiến
trên mặt trận nhà bếp không thể thắng lợi nếu không có sự hỗ trợ từ khu
vườn nhà. Dành một giờ ở vườn vẫn tốt hơn một giờ xếp hàng mua thực
phẩm", Lord Woolton, bộ trưởng Lương thực Anh, tuyên bố năm 1941.
Cũng trong năm này, Bộ Lương thực Anh phát động "Chiến dịch Trồng vườn
để Chiến thắng" qua các phim hoạt hình như "Tiến sĩ Cà rốt" và "Pete
Khoai tây" để khuyến khích người dân ăn nhiều rau củ tự trồng hơn. Cà
rốt được quảng cáo là chất tạo ngọt cho món tráng miệng khi nguồn cung
đường thiếu hụt trầm trọng.
![]() |
Áp phích tuyên truyền về Pete Khoai tây và Tiến sĩ Cà rốt ở Anh năm 1941. Ảnh: Smithsonianmag
|
Chương trình "Mặt trận Nhà bếp" của đài BBC gợi ý các cách chế
biến thực đơn mới từ món cà rốt trở thành một trong những chương trình
phát thanh được yêu thích nhất thời kỳ đó. Theo Stolarczyk, chiến dịch
quảng bá về công dụng thần kỳ của cà rốt thành công tới mức nước Anh dư
thừa tới 100.000 tấn cà rốt vào năm 1942.
Duy Sơn
'Đội quân ma' giăng bẫy điệp viên phát xít Đức của Liên Xô
Chiến dịch Scherhorn thành công tới mức khi kết thúc Thế chiến II, Đức vẫn tưởng họ có một đội quân vũ trang hơn 2.000 người trên lãnh thổ Liên Xô.
![]() |
Kế hoạch phản gián quy mô lớn đã khiến Đức mất hàng chục điệp viên. Ảnh: Bashny.
|
Năm 1941, điệp viên Alexander Demyanov của Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), lực lượng cảnh sát mật của Liên Xô,
trong vai một kẻ đào ngũ đã phát hiện một mạng lưới gián điệp bí mật
của Đức ngay trong lòng Liên Xô, từ đó giúp Moscow lên kế hoạch xây dựng
một "đội quân ma" đánh lừa phát xít suốt nhiều năm, theo War History.
Demyanov đóng vai là một điệp viên hai mang, cung cấp thông tin
tình báo cho Đức từ trong lòng Liên Xô, áp dụng chiến thuật nghi binh
khiến hàng chục điệp viên Đức rơi vào bẫy. Từ kết quả này, nhà
lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin yêu cầu NKVD tiến hành chiến dịch phản
gián quy mô lớn có tên "Scherhorn" (mật danh khi đó là chiến dịch
Berezino) từ tháng 8/1944 đến tháng 5/1945.
Một "đội quân ma" do trung tướng Pavol Sudoplatov đứng đầu được thành lập, đóng quân tại một "trại lính Đức" ngay trong lòng Liên Xô để dụ đối phương điều điệp viên đến phối hợp hành động và hỗ trợ.
Mật vụ Liên Xô chọn trung tá Heinrich Scherhorn, tù binh Đức bị
bắt giữ vào tháng 6/1944, để đóng vai chỉ huy trại lính giả và duy trì
liên lạc với bộ chỉ huy Đức.
Tháng 8/1944, chiến dịch Berezino bắt đầu với việc Max (mật danh
của Demyanov) bắn tin cho tình báo Đức, nói rằng một nhóm vũ trang 2.500
thành viên của mạng lưới điệp viên Scherhorn đang bị Hồng quân Liên Xô
bao vây dọc sông Berezina.
Đại tá Đức Hans-Heninrich Worgitzsky nghi ngờ, đoán rằng đây là
hoạt động phản gián của Liên Xô. Tuy nhiên, sĩ quan Gehlen, liên lạc
viên tin tưởng Max, thúc giục ông này tiến hành kế hoạch giải cứu.
Otto Skorzeny, người đứng đầu đội cận vệ SS, đã cử một nhóm biệt kích Đức xâm nhập lãnh thổ Liên Xô bằng oanh tạc cơ Heinkel He 111 để thực hiện chiến dịch giải
cứu. Các binh sĩ Hồng quân Liên Xô mặc quân phục Đức đã đợi sẵn và dẫn
lực lượng này đến trại. Khi bước vào lều của Scherhorn, tất cả lính Đức
đều bị mật vụ NKVD bắt giữ.
Nhóm lính biệt kích bị ép tham gia chiến dịch phản gián, sau đó báo cáo
rằng nhiệm vụ đã thành công và cần thêm quân chi viện. Skorzeny nhanh
chóng điều thêm 3 đội đặc nhiệm đến hỗ trợ. Tất cả đều bị tóm gọn tại
địa điểm do điệp viên Liên Xô thông báo.
![]() |
Otto Skorzeny giao nhiệm vụ cho biệt kích Đức đến giải cứu Scherhorn. Ảnh: Wikipedia.
|
Chiến dịch phản gián tiếp diễn cho đến khi phản ứng của Đức bắt đầu chậm
dần. NKVD chỉ thị cho Scherhorn liên lạc với Đức thông báo nhiệm vụ
giải cứu đã thành công, nhưng không thể trở về Đức do số lượng thương
vong leo thang. Đáp lại, bộ chỉ huy Đức thông báo đang điều máy bay đến
sơ tán những người bị thương và đưa họ đến sau phòng tuyến Đức. Hành
động này có nguy cơ làm phá sản kế hoạch của Liên Xô.
Để duy trì vỏ bọc, mật vụ NKVD dàn dựng một trận giao tranh nhỏ trong
đêm giữa lính của Scherhorn và Hồng quân Liên Xô khi các máy bay Đức
chuẩn bị hạ cánh. Trong lúc giao tranh hỗn loạn, đèn trên đường băng bị
tắt khiến cho máy bay Đức không thể hạ cánh. Nhờ đó bí mật về chiến dịch
này vẫn được duy trì.
Trong nhiều tháng, cả Gehlen và Skorzeny đã làm theo những gì Liên Xô
sắp đặt, khiến các chỉ huy Đức tin rằng 2.000 lính phe mình vẫn bị mắc
kẹt trong lãnh thổ đối phương. Skorzeny ra lệnh cho Scherhorn chia nhỏ
lực lượng đi qua Ba Lan để đến nơi an toàn. Tuy nhiên, kế hoạch này cũng
không thành công do Sudoplatov đã đập tan đường dây điệp viên hỗ trợ
của Đức ở Ba Lan.
Biện pháp hỗ trợ duy nhất quân Đức có thể làm là thả hàng tiếp tế và
lương thực cho nhóm vũ trang. Trong suốt chiến dịch, phát xít Đức đã
điều 39 chuyến bay cùng 12 điệp viên và 12 thiết bị liên lạc vô tuyến
đến hỗ trợ nhóm của Scherhorn. Số biệt kích Đức bị bắt lớn đến mức NKVD
có nguy cơ mất kiểm soát do chiến dịch leo thang vượt xa dự đoán. Dù
vậy, liên lạc vô tuyến giữa Đức và điệp viên Liên Xô vẫn diễn ra trong
nhiều tháng.
Cuối cùng, sự hỗ trợ của Đức cũng bắt đầu suy giảm. Tháng 1/1945, lực
lượng Đức vẫn ở cách xa đội quân của Scherhorn, trong khi không quân Đức
nhanh chóng cạn kiệt nguồn lực. Scherhorn lúc này vẫn tiếp tục gửi yêu
cầu giúp đỡ nhưng không có phản hồi.
Tháng 3/1945, Scherhorn được phát xít Đức vinh danh là anh hùng dân tộc
vì các nỗ lực khi bị giam cầm trong lãnh thổ Liên Xô, thậm chí ông ta
còn được trao Huân chương Hiệp sĩ.
Khi Thế chiến II đến hồi kết cũng là lúc chiến dịch phản gián của Liên Xô hạ màn. Cho
đến đầu tháng 5/1945, Đức vẫn duy trì liên lạc với Scherhorn, hy vọng
nhóm vũ trang hơn 2.000 lính của ông ta vẫn còn sống mà không hề biết
rằng đó là "đội quân ma" chưa từng tồn tại.
Duy Sơn
Nhận xét
Đăng nhận xét