CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II - 5

-Xét được sống còn trong no đủ là mưu cầu cơ bản và ước nguyện chính đáng của mọi cuộc đời, thì sẽ phân biệt được chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa, sự phòng vệ chính đáng cũng như sự bắt buộc hạ sát lực lượng đối kháng. Và khi phải hành động xả thân vì lẽ phải, con người trở nên vô cùng cao quí.
-Nhưng xét trên bình diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! 
-Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì:
trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc!
-Chân lý là đây:
Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau!
-Như vậy, muốn không còn chiến tranh nữa, con người hoặc không còn lòng tham danh lợi và tính tư hữu hoặc trở lại suy nghĩ tăm tối như hươu, nai.
-Nhưng hết chiến tranh rồi, xã hội loài người có hết bạo tàn? 
-Và vô cớ tàn sát sinh linh, con người có phải là ác độc!?

-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Trận chiến cuối cùng Tập 5


Thứ sáu, 8/5/2015, 14:24 (GMT+7)

Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh

Nhiếp ảnh gia người Ukraine Sasha Maslov đã dành 5 năm đến 20 nước để chụp ảnh và lắng nghe những câu chuyện của các cựu binh Thế chiến II. 70 năm sau ngày Đức Quốc xã đầu hàng, chúng trở thành hồi ức xúc động và khó quên của những người còn sống.

Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Jean-Jacques Auduc, Pháp.
Khi tham gia kháng chiến, tôi mới 13 tuổi. Một trong những nhiệm vụ mà tôi từng thực hiện do quân đội Anh giao phó. Họ nhìn thấy một phi đội máy bay và lo ngại về mục đích của chúng. Tôi cầm diều đi đến đó và nhận ra những chiếc máy bay là giả, chúng được làm từ gỗ. Người Anh đã trả đũa bằng cách thả bom gỗ giả.
Cha mẹ tôi bị đưa đến trại tập trung năm 1943 còn tôi phải tiếp tục di chuyển để lẩn trốn Gestapo (lực lượng cảnh sát bí mật của Đức Quốc xã). Cha tôi sau đó quay về còn mẹ tôi bị bán cho một phòng thí nghiệm. 98% phụ nữ ở đó đều bị giết nhưng mẹ tôi đã trở về. Bà qua đời năm 41 tuổi.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Jack J Diamond, Mỹ.
Tôi bị bắt và quân đội Mỹ gửi một bức điện về nhà thông báo rằng tôi đã mất tích khi đang hoạt động ở Đức. Emgái tôi, lúc đó mới 13 tuổi, nhận bức điện. Vì không muốn làm mẹ tôi, một góa phụ, phải buồn nên em tôi đã giấu nó đi. Mẹ tôi chỉ tìm thấy tờ giấy khi quân đội gửi thêm một bức điện khác nói rằng tôi đã trở thành tù binh chiến tranh.
Tôi được người Nga giải cứu vào tháng 5/1945 và quay về Miami. 
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Takeoka Chisaka, Nhật Bản.
Một buổi sáng tháng 8/1945, tôi trở về sau ca làm đêm ở nhà máy tại Hiroshima. Vừa đến cửa tôi bỗng nghe một tiếng nổ lớn. Tôi bị bắn xa 30 m và đầu bê bết máu. Bom nguyên tử đã nổ.
Khi tìm thấy mẹ, tôi nhận ra mắt của bà bị bỏng nặng. Một bác sĩ nói rằng ông ấy sẽ đến nhưng không có dụng cụ chuyên nghiệp vì thế phải dùng tạm một con dao. Tình cảnh lúc đó giống như địa ngục.
Sau chiến tranh, tôi đã trở thành một nhân viên hòa bình. Vào những năm 1960, tại một cuộc gặp ở Liên Hợp Quốc, tôi đã gặp một trong những người chế tạo ra bom nguyên tử. Ông ấy đã xin lỗi tôi.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Ursula Hoffmann, Ba Lan.
Khi chiến tranh nổ ra, tôi là một thành viên của cơ quan do thám Ba Lan. Chúng tôi nhanh chóng gia nhập Hiệp hội Do thám bán quân sự và chuyển trụ sở đến cùng tòa nhà với Arthur Karl Greiser, người giám sát cuộc chiếm đóng của Đức ở Ba Lan. Khi đó chúng tôi thật dũng cảm.
Năm 1940, chúng tôi bắt đầu làm việc cho Armia Krajowa, lực lượng kháng chiến chính. Chúng tôi làm nhiệm vụ phân phát thư từ và phá hoại địch. Trong một lần bất cẩn, một số người trong nhóm bị bắt và giết chết. Những người như tôi may mắn hơn. Thậm chí vài người sau này còn đến dự sinh nhật 90 tuổi của tôi.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Ken Smith, Anh.
Tôi bị trúng đạn ở tay vào năm 1944 khi đang làm lính bắn tỉa. Vết sẹo đến giờ vẫn còn. Khi đó, chúng tôi trèo lên một ngọn núi ở đảo Lusin để kích nổ địa điểm này nhưng quân Đức đã chờ sẵn và nã súng. Tôi biết mình đã trúng đạn, tay tôi ướt đẫm.
Sau đó, chúng tôi phát hiện ra một người Đức trong bụi rậm. Tôi vác anh ta lên vai. Sau đó tôi nghe một tiếng nổ bên tai. Anh ta đã tự bắn mình. Tôi nghe thấy tiếng súng của anh ta rơi xuống và nghĩ "mình sẽ có một kỷ vật".
Chúng tôi chèo thuyền trở lại tàu. Tôi bị chảy máu rất nhiều nhưng không nghiêm trọng.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Munshi Ram, Ấn Độ.
Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông. Năm 1939 tôi tình nguyện nhập ngũ và được đưa đến thành phố Bareilly đào tạo trong 6 tháng. Chúng tôi được dạy không nao núng và sẵn sàng đối đầu với cái chết.
Sau đó, tôi đến châu Âu. May mắn thay, lúc đó Đức Quốc xã bắt đầu gặp khó khăn. Trung đoàn của chúng tôi đã thực hiện một trận đánh lớn.
Thời gian đã làm phai mờ cả ký ức lẫn đôi mắt của tôi nhưng lịch sử cho thấy rằng phe chúng tôi đã thành công. Sau khi rời quân đội, tôi quay lại công việc của gia đình. Tôi và vợ có hai con trai và một con gái.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Anna Nho, Kazakhstan.
Năm 1937, nhiều gia đình Hàn Quốc bị trục xuất khỏi Liên Xô. Gia đình tôi bị chuyển từ Vladivostok đến Kazakhstan. Chúng tôi sống trong những ngôi lều. Trời lạnh đến nỗi ngày nào cũng có người chết. Chú tôi không chấp nhận cuộc sống ấy nên đã đi bộ đến Moscow đến gặp Stalin. Họ từng gặp nhau trước đó. Tất cả chúng tôi nghĩ rằng ông ấy đã chết nhưng ông ấy đã làm được điều đó.
Ông ấy ăn mặc như một người vô gia cư để đến điện Kremlin. Cuối cùng, ông cũng được vào và Stalin vẫn còn nhớ ông ấy. Stalin đã cử ông ấy đến giúp mọi người trồng lúa ở Kavkaz. Sau đó, chúng tôi nhìn thấy thông tin ông ấy đang tìm kiếm chúng tôi ở trên báo và đoàn tụ với nhau. 
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Herbert Killian, Áo.
Tôi nằm trong tổ chức Thanh niên Hitler suốt 12 năm. Tôi không cuồng mộ chế độ này. Năm 15 tuổi, tôi nhập ngũ. Năm 1943, tôi là thành viên của Luftwaffe (đơn vị tác chiến trên không của quân đội Đức).
Tháng 12/1944, tôi nằm trong một đơn vị quân đội phải hành quân từ Đức sang Bỉ vì tất cả các phương tiện vận tải đã bị phá hủy. Chúng tôi rơi vào đói khát. Cả chuyến đi, chúng tôi phải săn hươu làm thức ăn cho binh sĩ. Chúng tôi may áo ấm mùa đông từ rèm và đệm. Tôi thật may mắn khi còn sống sót.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Nicola Struzzi, Italy.
Năm 1942, tôi được gọi nhập ngũ khi đang làm thu vé xe điện ở San Lorenzo. Tôi đã trải qua khóa huấn luyện nhảy dù rồi sau đó chuyển đến Tunisia. Máy bay của chúng tôi bị tấn công và rơi trước khi chúng tôi đến nơi. Chúng tôi bị lính Đồng minh bắt giữ.
Sau đó, tôi bị đưa vào các trại tù. Tại khu trại ở Casablanca, tôi trốn thoát và bị phát hiện khi đang nấp trong một máy bay chở thư đến Italy. Tôi bị tra tấn bằng điện. Sau đó, tôi lại tìm đường về nhà bằng cách trốn trong một tàu hàng. Thật kinh ngạc là gia đình tôi chưa bao giờ từ bỏ hy vọng.
Hồi ức đau đớn về Thế chiến II của các cựu binh
Ichiro Sudai, Nhật Bản.
Tôi nằm trong phi đội kamikaze (phi đội cảm tử Thần phong) nhưng chiến tranh kết thúc trước khi tôi được triển khai. Các phi công kamikaze thường tổ chức tiệc chia tay và uống rượu sake nhưng đến cuối cuộc chiến, chúng tôi thậm chí không có sake mà chỉ uống nước.
Xương cốt của các phi công kamikaze không được trả về cho gia đình. Vì thế, chúng tôi đã cắt tóc và móng tay của mình rồi đặt chúng vào một phong bì để nhắn gửi về nhà.
Tôi không sợ chết. Nếu chết thì đó là số phận của tôi khi làm một phi công. Mọi người khi đó đều bị tẩy não.
Sau chiến tranh, tôi sống với những sở thích của mình. Tôi viết thơ, trồng hoa và chạy bộ rất nhiều. Đến nay tôi vẫn có một cơ thể khỏe mạnh.
Anh Ngọc (Ảnh: Guardian)

Nhật ký của những nhân chứng lịch sử thời thế chiến II

Những dòng nhật ký của nạn nhân bom nguyên tử Nhật, nữ sinh Mỹ hay giáo sĩ quân đội Anh tái hiện phần nào khoảnh khắc lịch sử kinh hoàng cùng sự đấu tranh nội tâm con người trong Thế chiến II. 



hiro-1135-1431249967.jpg
Khung cảnh hoang tàn ở Hiroshima tháng 3/1946. Ảnh: US National Archive
Nạn nhân bom nguyên tử Mỹ ở Hiroshima tự lết tới bệnh viện (1945)
"Chúng tôi bắt đầu ra ngoài, nhưng sau 20 hoặc 30 bước, tôi phải dừng lại. Hơi thở của tôi ngắn lại, tim tôi đập mạnh, và đôi chân ngăn bước tôi. Cơn khát cồn cào đuổi theo tôi và tôi cầu xin Yaeko-san tìm cho tôi ít nước. Nhưng không thấy nước ở đâu. Sau một lúc, sức mạnh của tôi trở lại nhờ cách nào đó, và chúng tôi có thể tiếp tục đi. 
Tôi vẫn trần truồng, và dù không cảm thấy chút xấu hổ nào, tôi thấy buồn phiền khi nhận ra rằng sự nhũn nhặn đã bỏ tôi. ... Bước tiến của chúng tôi tới bệnh viện chậm tới mức dường như kéo dài vô tận, cho đến khi chân tôi cứng đờ vì máu đã khô, từ chối đưa tôi tiến xa hơn. Sức mạnh, và thậm chí cả nguyện vọng để đi tiếp, bỏ rơi tôi, vì vậy tôi bảo vợ đi một mình. Cô cũng đang bị thương nặng như tôi. Cô ấy phản đối điều này, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Cô phải tiến về phía trước để tìm ai đó rồi quay lại vì tôi".
Ngày 6/8/1945, một quả bom nguyên tử phát nổ ở trung tâm Hiroshima, làm khoảng một phần tư dân số thiệt mạng, và khiến những người còn sống phơi nhiễm phóng xạ ở mức nguy hiểm. Khi quả bom rơi xuống, một nhân viên bệnh viện có tên Michihiko Hachiya đang nằm ở nhà, cách trung tâm vụ nổ khoảng 1,5 km. Cuốn nhật ký của Michihiko được xuất bản năm 1955, trong đó kể lại trải nghiệm của ông vào ngày này.
Michihiko Hachiya, author of the book Hiroshima Diary, and his wife, Yaeko, in September 1959.
Michihiko Hachiya, tác giả cuốn sách Nhật ký Hiroshima, và vợ Yaeko trong tấm ảnh chụp tháng 9/1959. Ảnh: rerf
Đoạn trích trên mô tả hành trình ngắn của Michihiko tới bệnh viện, chỉ vài phút sau vụ nổ. Áp lực của vụ nổ xé toạc quần áo khỏi thân thể ông, khiến toàn bộ phần bên phải của ông bị cháy và có những vết thương nghiêm trọng. "Cơn khát cồn cào" mà Michihiko mô tả là hệ quả trực tiếp của việc mất dịch cơ thể vì những vết bỏng nặng. 
Cả Michihiko và vợ ông đều may mắn sống sót. Khu vực họ sống trong thành phố có tỷ lệ tử vong 27%. Chỉ cần lùi vào 0,8 km gần khu vực gần trung tâm vụ nổ hơn, tỷ lệ tử vong đã lên tới 86%. 
Dù một số nhà sử học cho rằng các vụ ném bom nguyên tử vào Nhật là cần thiết, nhằm buộc nước này đầu hàng, lời kể của những nhân chứng như Michihiko đem đến bức tranh rõ ràng hơn về việc vì sao không nên sử dụng vũ khí hạt nhân thêm một lần nữa. 
Nữ sinh chứng kiến vụ không kích Trân châu Cảng (1941)
"Tôi bị một tiếng nổ từ Trân châu Cảng đánh thức lúc 8 giờ sáng. Nhổm dậy, tôi nghĩ điều gì đó thú vị có thể đang diễn ra ở đó. Nào ngờ! Khi tôi tới nhà bếp, cả gia đình, trừ Pop, đang nhìn ra Trân châu Cảng. Nó đang bị khói đen và những vụ nổ khủng khiếp nuốt chửng... Rồi tôi cảm thấy hết sức lo lắng, như tất cả mọi người.
Mẹ và tôi ra ngoài hành lang phía trước để được nhìn kỹ hơn, và ba máy bay kêu vù vù trên đầu chúng tôi, gần đến nỗi chúng tôi đã có thể chạm vào chúng. Chúng có những vòng tròn đỏ trên cánh. Khi đó chúng tôi mới hiểu! Lúc đó, bom bắt đầu được thả xuống khắp Hickam. Chúng tôi đứng bên cửa sổ, không biết làm gì, và nhìn pháo hoa.
Cảnh như thể phim tài liệu về châu Âu, thậm chí còn tồi tệ hơn. 
Chúng tôi thấy một nhóm binh sĩ chạy hết tốc lực từ doanh trại về phía chúng tôi, và ngay sau đó, một loạt bom rơi xuống đằng sau họ, khiến tất cả ngã xuống đất. Chúng tôi ngập trong một đám mây bụi và phải chạy xung quanh đóng hết tất cả cửa sổ. Cùng lúc đó, một nhóm lính phải vào garage nhà chúng tôi để ẩn nấp. Họ hoàn toàn bất ngờ và hầu hết thậm chí còn chẳng có súng hay bất cứ thứ gì".
Trận đánh bom Trân châu Cảng của lực lượng phát xít Nhật hồi tháng 12/1941 biến hai cuộc xung đột khu vực đang diễn ra ở châu Âu và Trung Quốc thành một cuộc chiến tranh thế giới.  
Cuộc tấn công bất ngờ nhằm vào căn cứ hải quân Mỹ ở bờ biển phía nam đảo Oahu, Hawaii làm 2.403 người Mỹ thiệt mạng, và là "chất xúc tác" khiến Mỹ tham chiến. Khu vực xung quanh Trân châu Cảng không chỉ dành riêng cho binh sĩ, mà là nơi sinh sống của các gia đình họ cùng người dân đảo. Đoạn nhật ký trên do một nữ sinh trung học phổ thông 17 tuổi có tên "Ginger" viết. Ginger sống tại Hickam Field, rìa phía đông của căn cứ Trân châu Cảng. 
Đoạn nhật ký thể hiện cơn sốc cuộc tấn công gây ra. Người Nhật chưa tuyên chiến khi thả những quả bom đầu tiên, do đó điều này lý giải nguyên nhân các binh sĩ chưa sẵn sàng, theo lời kể của Ginger. Cuộc tấn công kéo dài chỉ 90 phút nhưng phá hủy cả một khu vực quan trọng của căn cứ. 
Giáo sĩ quân đội Anh lượm xác lính xe tăng (1944)
Leslie Skinner, giáo sĩ quân đội Anh. Ảnh: Telegraph
Leslie Skinner, giáo sĩ quân đội Anh. Ảnh: Telegraph
"Bước đi, tìm những chiếc xe tăng cháy. Chỉ còn tro và kim loại cháy trong xe tăng của Birkett. Tìm trong đống tro và phát hiện những chiếc xương chậu. Tại những chiếc xe tăng khác, ba thi thể vẫn ở trong. Không thể kéo những thi thể ra sau một hồi vật lộn - công việc ghê tởm - phát ốm". 
Nhật ký của Đức cha Leslie Skinner ghi lại trải nghiệm của ông trong cuộc xung đột tàn khốc ngay sau các cuộc đổ bộ trong trận Normandie. Skinner không phải là lính chiến đấu, mà là một linh mục, được phân công làm giáo sĩ quân đội cho trung đoàn xe tăng Sherwood Rangers Yeomanry. Là giáo sĩ đầu tiên đổ bộ ngày 6/6 (D-Day), ông bị thương nặng vì vỏ đạn pháo, nhưng nhanh chóng trở về tiền tuyến và ở cùng trung đoàn suốt chiến dịch ở tây bắc Âu. Công việc của Skinner là xoa dịu tinh thần bằng tôn giáo và thực hiện những nghi lễ cuối cùng cho binh sĩ. Một phần công việc của ông là lượm xác người chết để chôn cất cho đúng nghi thức. 
"Công việc đáng sợ khi phải nhặt những mảnh thi thể, tập hợp lại để xác định danh tính và đắp chăn để chôn. Không có bộ binh giúp đỡ.... Thực sự cảm thấy phát ốm - nôn mửa". 
Cha Skinner gửi cuốn nhật ký của ông tới bảo tàng Chiến tranh Đế quốc năm 1991. Ông qua đời 10 năm sau đó, ở tuổi 89.
Phi công cảm tử Nhật giằng xé nội tâm (1945)
Yukio Araki, phi công cảm tử 17 tuổi trong quân đội phát xít Nhật ôm chó cùng các đồng nghiệp. Ảnh:
Yukio Araki, phi công cảm tử 17 tuổi của phát xít Nhật ôm chó con. Ảnh: USHMM
"Thành thực mà nói, tôi không thể nói nguyện ước hy sinh vì hoàng đế là thật, xuất phát từ trái tim. Tuy nhiên, số phận đã định đoạt rằng tôi phải chết vì hoàng đế. Tôi sẽ không sợ khoảnh khắc của cái chết. Nhưng tôi sợ cái cách nỗi sợ chết sẽ làm xáo trộn cuộc sống của mình...
Kể cả khi cuộc sống ngắn ngủi, vẫn có nhiều kỷ niệm. Với những người có một cuộc sống tươi đẹp, thật khó để chia lìa nó. Nhưng tôi đã đến thời điểm không còn đường lui. Tôi phải lao xuống tàu quân địch. Khi công tác chuẩn bị cho chuyến cất cánh đã gần kề, tôi cảm thấy áp lực nặng nè đè lên mình. Tôi không nghĩ mình có thể nhìn thẳng vào cái chết... Tôi đã cố gắng hết sức để trốn thoát nhưng không thành. Vì vậy, khi giờ đây, không còn lựa chọn khác, tôi phải can đảm". 
Trong hình dung chung, những phi công máy bay Kamikaze của Nhật là những kẻ cuồng tín, theo chủ nghĩa đế quốc, sẵn sàng hy sinh vì đất nước. Dù điều này có thể đúng trong một số trường hợp, những phi công khác lại có câu chuyện rất khác. Một trong những câu chuyện như thế thuộc về Hayashi Ichizo, một sinh viên Nhật nhập ngũ năm 1943 ở tuổi 21.
Hồi tháng 2/1945, Hayashi nhận nhiệm vụ làm phi công cảm tử. Chỉ một tháng trước đó, phi công này bắt đầu viết nhật ký.
Giống như nhiều sinh viên, Hayashi nhập ngũ mà không được huấn luyện, không biết chắc về vai trò của Nhật trong chiến tranh. Dù gia đình phản đối cuộc chiến, Hayashi không có cách nào để trốn tòng quân. Vào cuối cuộc chiến tranh, nhiều sinh viên trở thành "Tokkotai", phi công cảm tử. Đa số đều dưới 25 tuổi. Phi công trẻ nhất từng được ghi nhận là Yukio Araki (trong ảnh), mới 17 tuổi.
Về công khai, tất cả phi công đều tự nguyện, nhưng thực tế, nhiều người về cơ bản bị ép.
Cuốn nhật ký của Hayashi cho thấy những tâm tư triền miên về tình thế của bản thân. Nội tâm nam phi công rõ ràng bị giằng xé giữa tinh thần yêu nước và tình yêu với gia đình, những người anh biết sẽ không bao giờ được gặp lần nữa. Nhiệm vụ cảm tử của anh được hoàn thành ngày 12/4/1945, 5 tháng trước khi Nhật đầu hàng. 
Trọng Giáp (Theo Listverse)

Những cô gái bóc trần bí mật của phát xít Đức

Hai phần ba trong khoảng 10.000 nhân viên thuộc Cơ quan Mã số và Mật mã Chính phủ Anh (GC&CS) trong Thế chiến II là phụ nữ, có nhiệm vụ nghe lén, thu thập tin nhắn và phá các mật mã của phe phát xít để lọc ra thông tin tình báo hữu ích cho quân Đồng minh.



Một số nhà sử học đánh giá hoạt động của đội ngũ này góp phần rút ngắn thời gian chiến tranh từ hai đến 4 năm, theo Tech Republic. Dưới đây là những chia sẻ về công việc phá mã hàng ngày của họ trong Thế chiến II.
Cô gái phá mã
ruth-bourne-6011-1430908519.jpg
Bà Ruth Bourne, khi mới 18 tuổi, mặc bộ đồng phục của lực lượng Nữ hải quân Hoàng gia Anh. Ảnh: Tech Republic
Bà Ruth Bourne vừa tốt nghiệp thì được tuyển dụng làm việc cho GC&SC tại trụ sở chính ở lâu đài Bletchley Park, Milton Keynes, Buckinghamshire. Công việc hàng ngày của bà là phá giải mật mã các thông điệp quan trọng mà quân phát xít gửi đi.
Lâu đài Bletchley Park ngày nay được cả thế giới biết đến là nơi nhà toán học Alan Turing sáng chế ra phương pháp kết nối các máy giải mã lại với nhau để tạo thành bộ bombe, máy điện - cơ có khả năng tìm ra quy tắc mã hóa cài đặt cho máy Enigma của Đức Quốc xã.
Enigma là một loại máy có hệ thống đĩa quay dùng để tạo mật mã và giải mã các thông tin cơ mật do kỹ sư Đức Arthur Scherbius phát minh vào giai đoạn cuối Thế chiến I. Máy sau đó được quân đội nhiều quốc gia, đặc biệt là Đức Quốc xã, sử dụng trong Thế chiến II. Máy có thể mã hóa một thông điệp theo hàng tỷ cách khác nhau. Thêm vào đó, cứ sau một ngày, quy tắc lại thay đổi.
Bởi thành tựu mà Turing đạt được quá lớn nên đôi lúc người ta quên đi những cống hiến của 7.000 phụ nữ làm việc cho GC&CS. Họ từng góp phần giải mã hàng triệu thông điệp của phát xít Đức, đem về những thông tin tình báo quý giá, đủ sức thay đổi cục diện cả một chiến dịch.
Front-of-a-bombe-code-breaking-5210-5901
Máy phá mã Bombe do nhà toán học Alan Turing phát minh. Ảnh: Wikipedia
Chính tầm quan trọng của việc nắm bắt trước kế hoạch của đối phương thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu chế tạo ra loại máy có khả năng phá mã ở tốc độ cao như bombe. Nhưng thực tế, vận hành những cỗ máy này, nhất là đối với một thiếu nữ vừa tròn 18 tuổi như bà Bourne lúc đó, không hề tuyệt vời như nhiều người vẫn tưởng, bà cho hay.
"Đứng trước một cỗ máy 8 tiếng mỗi ngày thì chẳng còn gì thú vị cả", bà Bourne nói.
Tuy nhiên, công tác phá mã, việc làm như một thói quen thường ngày của bà Bourne, đóng vai trò tối quan trọng, giúp phe Đồng minh nhiều phen chuyển bại thành thắng trên chiến trường.
Tại lâu đài Bletchley Park, những người phá mã trung bình được giao từ 2.000 đến 6.000 tin nhắn mỗi ngày,  được viết bằng cả tiếng Đức, Italy, Nhật Bản và Trung Quốc.
10-1150-1430970147.jpg
Bà Bourne năm 2013. Ảnh: Tech Republic
Bourne là thành viên của đơn vị Nữ hải quân Hoàng gia Anh (Wrens), hàng ngày chuẩn bị cài đặt thông số cho các máy giải mã bombe. Nếu được thiết lập tốt, những máy này sẽ cho ra thông tin chính xác và nhanh hơn.
"Chúng tôi phải giải mã tới hàng nghìn thông điệp", bà cho hay. "Cứ sau 24 tiếng mật mã bảo vệ lại biến đổi, vì thế yếu tố thời gian và tính chính xác phải được tuyệt đối đảm bảo".
"Chúng tôi phải chịu áp lực rất lớn. Bạn không cần thiết phải là một nhà khoa học tên lửa nhưng bạn phải chính xác 125%", bà Bourne nhấn mạnh.
Ngoài ra, theo bà Bourne, người vận hành máy bombe có rất ít thời gian nghỉ ngơi. Họ phải điều khiển máy 24/24, chia làm ba ca. Họ thậm chí vẫn phải làm việc lúc nghỉ giữa giờ.
"Bạn có khoảng nửa tiếng để dùng bữa", bà Bourne kể. "Các máy bombe được đặt trong một tòa nhà kiên cố rào bằng dây thép gai và có lính canh gác. Bạn phải lao nhanh ra khỏi đó, chạy một mạch đến canteen, lấy suất ăn và tức tốc quay về vị trí để người thế chỗ lúc bạn vắng mặt được đi ăn".
Người lắng nghe
patriciadavies2-1235-1430908520.jpg
Bà Patricia Davies khi còn trẻ từng làm nhiệm vụ trong nhiều trạm nghe lén khác nhau. Ảnh: Tech Republic
Patricia Davies cũng từng là thành viên của Wrens. Bà cùng nhiều đồng nghiệp dành hàng giờ mỗi ngày suốt giai đoạn Chiến tranh Thế giới II tại một ngôi nhà nằm trên mỏm đất gần Dover, nhìn ra Kênh Anh, để nghe lén và ghi lại những thông tin tưởng như vô nghĩa bắt được qua sóng phát thanh.
Những thông điệp này chắc chắn không gửi tới bà Davies mà được chuyển tới các căn cứ tàu ngầm Đức bên bờ biển phía tây Pháp hay đến các chiến hạm đang hoạt động trên biển Baltic.
Tập hợp những ký tự không tuân theo một trình tự nào mà bà phải nghe chính là các đoạn tin nhắn của quân phát xít được máy Enigma mã hóa. Sau khi chép lại các tổ hợp này, bà Davies sẽ gửi chúng thông qua máy chữ điện báo cho đội phá mã tại lâu đài Bletchley Park.
"Tất cả chúng tôi ngồi trên một hàng ghế dài, đối diện với những máy thu sóng vô tuyến và dò tìm tần số mà hải quân Đức sử dụng", bà Davies chia sẻ. "Thật tuyệt vời nếu bạn tìm được một tin nhắn rõ ràng và biết rằng đó là thông tin quan trọng".
Tuy nhiên, cũng có lúc cả ngày làm việc của bà Davies không đem lại kết quả nào. "Điều khó chịu nhất khi làm công việc này là cảm giác thất vọng khi bạn biết rõ rằng tàu chiến của đối phương đang gửi đi thông điệp nào đó. Bạn cố gắng để tìm hiểu nhưng nó đã bị bóp méo và cứ thế biến mất dần".
Nhưng ngay cả khi phải gửi đi các tin nhắn bị cắt xén, tính chính xác vẫn luôn được đặt lên hàng đầu. Những người truyền tin Đức thường nói 4 từ một lần. Nếu người nghe lén bỏ sót dù chỉ một từ họ sẽ không bao giờ đoán được ý nghĩa của thông điệp, bà Davies cho hay. "Dù vậy bạn không bao giờ được phép bịa ra thông điệp", bà nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, các mệnh lệnh phía Đức phát đi còn được truyền tải bằng các mã Morse. Những tiếng bíp dài ngắn khác nhau mà bà Davies phải nghe 70 năm trước đến nay vẫn thường xuyên vang lên trong đầu người phụ nữ đã ngoài 90 tuổi.
Từ trạm nghe lén, bà Davies thường xuyên chứng kiến cảnh những đoàn tàu của Anh chạy đạn pháo phát xít Đức trên dòng Kênh Anh. Hỏa lực dữ dội tới mức từng có thời người ta gọi khu vực này là Góc Địa ngục, Davies cho hay.
Nhưng điều khiến bà Davies nhớ nhất, hơn cả những đợt dội bom, nã pháo ác liệt ngay trên đầu, là chuỗi ngày bà thực hiện nhiệm vụ xác định vị trí tàu ngầm U-boat của Đức tại một trạm chuyên biệt.
10-8140-1430970147.jpg
Bà Davies ngày nay. Ảnh: Tech Republic
Phe phát xít sử dụng loại tàu ngầm này để đánh chìm tàu buôn từ Mỹ tới Anh nhằm cắt đứt nguồn cung thực phẩm và trang thiết bị cho quân đội Anh.
Trong một dịp hiếm có tàu ngầm U-boat nổi lên mặt nước để liên lạc với căn cứ. Các nhân viên tại trạm của bà Davies phải ngay lập tức tận dụng cơ hội này để tìm vị trí của chúng nhờ vào phương pháp dò tìm phương hướng. Kỹ thuật này cho phép người dò sóng vô tuyến xác định tín hiệu truyền tới đâu bằng cách so sánh những dải sóng mà ăng ten thu được ở những địa điểm khác nhau.
"Chúng rất ít khi ngoi lên mặt nước vì thế vào lúc đó tất cả mọi người như đều nín thở", bà Davies nói.
Theo Davies, đó là thời khắc căng thẳng nhất bà từng trải qua bởi bà biết rõ tàu ngầm U-boat có thể đã ngắm bắn và chuẩn bị khai hỏa tiêu diệt đội tàu phe mình bất cứ lúc nào. Tình thế vô cùng cấp bách khiến bà cảm nhận rõ ràng tầm quan trọng của công việc đang thực hiện.
Trạm nghe lén cũng lần theo cả những đoạn đối thoại không mã hóa liên quan đến hoạt động triển khai quân của đối phương và báo về cho quân đội Anh.
"Quân Đức từng điều một tàu phóng ngư lôi đến bờ biển phía đông để tấn công các đoàn tàu của chúng tôi. Khi đó họ sẽ gửi tin nhắn kiểu như 'Có một tàu khu trục Anh tại tọa độ này'. Những thông tin như thế không thể được mã hóa bởi thời gian rất hạn chế. Khi nắm được tin này, chúng tôi không gửi về Bletchley mà chuyển thẳng tới căn cứ hải quân gần nhất", bà Davies miêu tả quy trình.
Vũ Hoàng (theo Tech Republic)

Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại

Cuộc chiến giữa phe Đồng minh, dẫn đầu là Anh, Liên Xô, Mỹ và phe Trục phát xít gồm các thế lực chính Đức, Italy và Nhật Bản là cuộc chiến rộng và thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại.

Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Tháng 1/1933, Adolf Hitler, lãnh đạo của đảng Đức Quốc xã, trở thành thủ tướng Đức và ngay lập tức bắt đầu củng cố quyền lực, bỏ tù các đối thủ chính trị. Đức bỏ ra nhiều tiền để nghiên cứu vũ khí nguy hiểm và xây dựng nền công nghiệp quân sự mạnh mẽ. Ảnh: National WWII Museum
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Chiến tranh Trung - Nhật tháng 7/1937 nổ ra khi quân Thiên hoàng xâm lược Trung Quốc. Đây là cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Á thế kỷ 20. Ảnh: National WWII Museum
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Ngày 1/9/1939, Đức xâm lược Ba Lan, khiến Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Phần đông ý kiến cho rằng đây là thời điểm Thế chiến II chính thức bắt đầu. Ngày 17/9, Liên Xô tiến vào Ba Lan. Đến ngày 6/10, Ba Lan bị Đức, Liên Xô và các đồng minh của các nước này chiếm giữ hoàn toàn. Năm 1940, Đức kiểm soát Đan Mạch, và tấn công Pháp, khiến nước này phải đầu hàng và bị Đức chiếm đóng phần lớn lãnh thổ. Trong ảnh, máy bay tiêm kích Bf 110 của không quân Đức vượt biên giới Ba Lan trong Thế chiến II. Ảnh: History of World War
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Khi Đức xâm chiếm lãnh thổ mới ở Đông Âu, nước này thành lập các đơn vị bán quân sự đặc biệt gọi là Einsatzgruppen, sát hại người Do Thái và người chống đối, thường trong vụ nổ súng hàng loạt. Người Do Thái và những nạn nhân ở Đức và các quốc gia nằm dưới quyền kiểm soát của nước này bị bắt và đưa đến các trại tập trung, lao động, và hành quyết. Cuộc thảm sát được tiến hành mà không có ngoại lệ nào dành cho trẻ em hoặc trẻ sơ sinh. Tại trại tập trung Auschwitz, Đức còn tiến hành thí nghiệm y khoa trên cơ thể người sống, như nhốt tù nhân vào phòng áp suất, dùng họ thử các loại dược phẩm khác nhau, bắt họ chịu rét cóng đến chết, cũng như tiến hành một số tổn thương chết người khác trên tù nhân. Tội ác tàn sát chủng tộc đối với 6 triệu người Do Thái của Đức được gọi tên là Holocaust hay Shoah. Trong ảnh, người Do Thái tại Hungary bị quân Đức tống vào phòng hơi ngạt tại trại tập trung Auschwitz năm 1944. Ảnh: Yad Vashem
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Với sự thúc đẩy của Tổng thống Mỹ Roosevelt, quốc hội nước này tháng 3/1941 thông qua đạo luật Lend-Lease, cung cấp cho Anh, Pháp Tự do (lực lượng chống Đức Quốc xã tại Pháp) Trung Quốc, Liên Xô và các quốc gia đồng minh khác thực phẩm, dầu, và thiết bị quân sự. Ảnh: National WWII Museum
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Tháng 10/1940, Italy tấn công Hy Lạp nhưng thất bại. Tháng 4/1941, Đức tấn công hai nước Nam Tư và Hy Lạp và chiếm đóng khu vực này.
Trên chiến trường Bắc Phi, Italy tháng 8/1940 tấn công các thuộc địa của Anh nhưng đều thất bại. Đức tăng viện cho Italy và tham gia chiến đấu với Anh ở ven bờ biển Cyrenaica năm 1941-1942. Anh sau đó giành chiến thắng, mang về cho phe Đồng minh thêm quân nhu và vật chất. Tháng 11/1942, Mỹ thực hiện Chiến dịch Bó Đuốc, đổ bộ vào Maroc, bao vây lực lượng phe Trục. Đến tháng 5/1943, phe Trục tại Bắc Phi đã bị đánh bại hoàn toàn. Trong ảnh là quân Anh tại Bắc Phi năm 1942. Ảnh: Imperial War Museums
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Tháng 6/1941, chiến tranh Xô - Đức bắt đầu khi Đức bất ngờ cắt đứt thỏa thuận không xâm lược với Liên Xô và tiến hành chiến dịch Barbarossa, kế hoạch tấn công khổng lồ với 3.300.000 quân Đức và 60 vạn quân các nước chư hầu để chiếm đóng Moscow trước cuối năm. Đây là cuộc tấn công ác liệt nhất trong Thế chiến II. Khi mùa đông đến, Hồng quân Liên Xô phản công và đánh bật Đức ngay tại ngoại ô Moscow. Trong ảnh, quân Đức tiến vào Liên Xô năm 1941. Ảnh: National WWII Museum 
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Đức tái tấn công Liên Xô năm 1942, tiến đến sát dãy núi Kavkaz, nhưng cũng bị Liên Xô phản công vào mùa đông, làm quân Đức tổn thất nặng nề. Trong ảnh là Hồng quân Liên Xô trong trận Stalingrad, diễn ra tại thành phố Stalingrad (nay là Volgograd) ở tây nam Nga từ tháng 7/1942 - 2/1943. Đây được coi là chiến thắng quyết định của Liên Xô, bước ngoặt quan trọng và bước đầu làm xoay chuyển cục diện trong Thế chiến II.
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ (trong ảnh), Philippines và một số thuộc địa của các cường quốc châu Âu tại Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Mỹ, Anh, các thuộc địa của Anh, Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11/12/1941, Đức Quốc xã và Italy cũng tuyên chiến với Mỹ, lấy cớ là Mỹ đã phá vỡ "sự trung lập". Ảnh: National WWII museum
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Ngày 6/6/1944 hay còn gọi là D-day, lực lượng Đồng minh phương Tây đổ bộ vào bờ biển Normandie, một vùng của Pháp bị Đức chiếm đóng. Chiến dịch bắt đầu bằng việc ném bom hàng loạt từ các căn cứ không quân bên kia eo biển nước Anh cùng với sự yểm trợ của khoảng 6000 khu trục hạm. Quân Đức cuối cùng bị đánh bại nhưng lực lượng Đồng minh cũng bị thiệt hại nặng nề. Trong ảnh, quân Mỹ tiến vào bờ biển Normandie năm 1944. Ảnh: ensacarmexico
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Cuối năm 1944, các Đồng minh phương Tây tiến vào biên giới Đức từ phía tây trong khi Liên Xô tấn công từ phía đông khiến Berlin thất thủ. Ngày 30/4/1945, Adolf Hitler được cho là đã tự sát trong hầm ngầm Fuhrer tại Berlin bằng súng lục sau khi uống một viên thuốc độc để khỏi bị rơi vào tay Hồng quân Liên Xô. Eva Braun, cô vợ mới cưới của trùm phát xít, cũng chết cùng ông ta. Ảnh: AP
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Ngày 16/4-9/5/1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan lực lượng vũ trang bảo vệ thành phố Berlin, chiếm thủ đô Đức. Trong ảnh, người lính Hồng quân Meliton Kantaria cắm cờ Liên Xô trên tòa nhà Quốc hội Đức sau khi nơi này được tiếp quản. Ảnh: Yevgeny Khaldei
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Thống chế William Keitel đại diện cho phía Đức ký kết văn kiện đầu hàng không điều kiện. Ngày 9/5/1945 đánh dấu chiến thắng của các nước Đồng minh chống phát xít tại chiến trường châu Âu. Ảnh: archive.gov
Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại
Ngày 6 và 9/8/1945, Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Quân đội Liên Xô tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật đang đóng ở Mãn Châu ngày 9/8. Nhật Bản ngày 15/8 đầu hàng, đánh dấu chiến thắng của quân Đồng minh tại châu Á - Thái Bình Dương, chính thức kết thúc thế chiến II. Trong hình là đám mây hình nấm do quả bom ném xuống Nagasaki tạo thành. Ảnh: archive.org

Berlin hai tháng sau khi kết thúc Thế chiến II
Cuộc chiến gây ra tổn thất lớn về nhân mạng cho cả hai phe. Số người thiệt mạng tại các nước Đồng minh là trên 61 triệu người, còn phe Trục là 12 triệu người. Video trên ghi lại quang cảnh hoang tàn của Berlin vào tháng 7/1945, hai tháng sau Đức Quốc xã đầu hàng. Video: ChronoHistory
Sau khi Thế chiến kết thúc, Mỹ và Liên Xô trỗi dậy trở siêu cường quốc thế giới. Khối Đồng Minh và nhân dân thế giới có nguyện vọng giữ gìn hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới mới, dẫn đến sự ra đời của Liên Hợp Quốc tháng 6/1945. 
Phương Vũ

Putin và những câu chuyện về Thế chiến II của cha mẹ

Những câu chuyện về cuộc chiến đấu với Đức Quốc xã của cha, một người lính Hồng quân, và cuộc sống khổ cực của mẹ, đã theo Tổng thống Vladimir Putin suốt những năm tháng ấu thơ và hình thành nên quan điểm của ông về Thế chiến II.



Cha mẹ của Putin, ông Vladimir Spiridonovich Putin và bà Maria
Cha mẹ của Putin, ông Vladimir Spiridonovich Putin và bà Maria. Ảnh: viola.bz
Những câu chuyện về sự sống sót và chịu đựng ấy cũng giống như hàng triệu câu chuyện khác của những người dân Xô viết từng trải qua nỗi kinh hoàng mang tên chiến tranh. Và chúng có một tác động mạnh mẽ đến cậu bé Putin.
70 năm sau chiến thắng phát xít Đức, người đàn ông quyền lực của điện Kremlin đang chuẩn bị chủ trì một cuộc duyệt binh quy mô lớn trên Quảng trường Đỏ vào cuối tuần này để kỷ niệm cuộc chiến tranh đã hình thành nên quan điểm của ông về vị trí của Nga trên thế giới cũng như những vấn đề nhạy cảm như vai trò lãnh đạo của Stalin và thỏa thuận với Đức Quốc xã.
Sinh năm 1952, hơn 7 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, bản thân Putin chưa bao giờ trải qua thời gian khó khăn mà người Nga vẫn gọi là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại.
Thay vào đó, những ký ức được nhắc đến trong tiểu sử chính thức và nhiều cuộc phỏng vấn của ông xuất phát từ những câu chuyện của gia đình, người thân và bạn bè trong bữa tối. Cha của Putin, người được gọi là Vladimir, được điều động vào một đơn vị thuộc cơ quan tình báo NKDV của Xô viết. Đây là tiền thân của cơ quan tình báo KGB mà sau này Putin gia nhập.
Một ngày nọ, ông Vladimir và 27 đồng đội được điều đến thị trấn Nga Kingisepp, trên biên giới với Estonia. Họ bị rơi vào ổ phục kích của lính Đức sau khi "bị người dân địa phương phản bội", ông Putin kể lại. Trong số 28 binh lính, chỉ có 4 người trở về từ chiến trường.
Sau đó, ông Vladimir được điều đến sát Leningrad, nay là thành phố Saint Petersburg, nơi bị Đức bắn phá ác liệt và phải nhập viện sau khi bị thương trong một vụ nổ lựu đạn.
Vào thời điểm đó, mẹ của ông, bà Maria, đang vật lộn để sống sót qua nạn đói hoành hành thành phố suốt 900 ngày bị Đức Quốc xã bao vây. Một ngày nọ, bà ngất đi vì kiệt sức khi đang ở ngoài đường phố và bị một nhóm đi thu thập xác chết tưởng nhầm.
"Bà vẫn còn sống và ông ấy phải kéo bà ấy ra khỏi đống xác chết", ông Putin kể, nhắc đến cha mình. Tuy nhiên, cũng trong đợt bao vây đó, anh trai của ông, Viktor, qua đời vì bệnh bạch hầu.
Những câu chuyện của cha mẹ giúp Putin hình thành một cái nhìn về cuộc chiến tranh ác liệt và ông luôn bảo vệ vai trò của Liên Xô trong nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến.
Tháng 8/1939, Berlin và Moscow ký hiệp ước bí mật không xâm lược lẫn nhau, trong đó hai bên đồng ý phân chia Ba Lan và công nhận các nước Baltic thuộc Liên Xô. Hiệp ước chỉ được lãnh tụ tối cao của Liên Xô Mikhail Gorbachev chính thức thừa nhận vào năm 1989.
Với ông Putin, Liên Xô không có lựa chọn nào khác là ký một hiệp ước với Đức, sau khi Pháp và Anh ký hiệp ước Munich với Adolf Hitler năm 1938 liên quan đến Tiệp Khắc.
"Các lãnh đạo Xô viết cảm thấy rằng tại Munich, mối lâm nguy không chỉ đang đe dọa Tiệp Khắc mà còn cô lập cả Xô viết và đẩy Hitler tiến đến việc tấn công về phía đông", ông Putin nói.
outin1-8769-1430909181.jpg
Ông Putin thời còn là điệp viên KGB ở Đức vào những năm 1985-1990. Ảnh: Telegraph
Lãnh đạo Xô viết Joseph Stalin đã ký kết một thỏa thuận với Hitler để bảo vệ "an ninh và lợi ích" quốc gia. "Mọi người nói rằng 'thật tồi tệ. Nhưng nếu Liên Xô không muốn đấu tranh thì mọi việc sẽ còn tồi tệ như thế nào?", ông Putin nói.
"Chúng ta có thể đổ lỗi cho các chỉ huy quân sự và Stalin chừng nào chúng ta muốn nhưng ai có thể đảm bảo rằng cuộc chiến này sẽ thắng?", ông Putin.
Những mất mát mà Xô viết phải hứng chịu là rất lớn sau khi Đức Quốc xã tiến hành cuộc xâm lược năm 1941 bằng hỏa lực và quân lực hung tợn chưa từng có trong lịch sử thế giới.
Theo ông Putin, thách thức mà Xô viết phải đối mặt trước lực lượng Đức khiến sự hy sinh của họ đáng nhận được sự trân trọng của thế giới sau 70 năm.
"Anh quốc đã mất bao nhiêu người trong suốt cuộc chiến? Bao nhiêu người? 350.000 người? Còn Mỹ, khoảng nửa triệu người?", ông Putin nói. "Vâng, con số ấy thật nhiều và đáng sợ, nhưng nó chẳng là gì so với 25 triệu người đã thiệt mạng của Liên Xô".
Anh Ngọc (theo AFP)


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32