Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II - 4
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Xét
được sống còn trong no đủ là mưu cầu cơ bản và ước nguyện chính đáng
của mọi cuộc đời, thì sẽ phân biệt được chiến tranh phi nghĩa và chiến
tranh chính nghĩa, sự phòng vệ chính đáng cũng như sự bắt buộc hạ sát
lực lượng đối kháng. Và khi phải hành động xả thân vì lẽ phải, con người
trở nên vô cùng cao quí. -Nhưng xét trên bình
diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn
nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con
người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn
vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! -Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì: trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc! -Chân lý là đây: Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau! -Như
vậy, muốn không còn chiến tranh nữa, con người hoặc không còn lòng tham danh lợi
và tính tư hữu hoặc trở lại suy nghĩ tăm tối như hươu, nai. -Nhưng hết chiến tranh rồi, xã hội loài người có hết bạo tàn? -Và vô cớ tàn sát sinh linh, con người có phải là ác độc!?
-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trận chiến cuối cùng Tập 4
Những vũ khí kỳ dị nhất Thế chiến II
28/07/2015 08:00 GMT+7
Có
một thực tế không may là chiến tranh lại thúc đẩy các sáng chế. Có một
số tiến bộ được thiết lập trong Thế chiến II đã trở thành nền tảng cho
công nghệ hiện đại, một số khác thì không.
Dưới đây là thống kê của trang Business Insider về một số vũ khí kỳ dị và vô dụng nhất được các phe trong Thế chiến II sử dụng. Bệ phóng hỏa tiễn loại nhỏ trên tàu
Thủy thủ đoàn trên tàu HMS King George V của Anh cùng với các bệ phóng phòng không UP (Unrotated Projectile)
Bệ phóng hỏa tiễn không xoay là một biện pháp phòng không đặc biệt có
vấn đề. Hệ thống này được chế tạo nhằm bảo vệ các tàu khỏi máy bay của
địch. Theo đó, hỏa tiễn được phóng từ tàu, với độ cao có thể đạt tới hơn
300m, có thể cho phát nổ và phân tán mìn gắn vào các dù, thông qua đoạn
dây cáp dài hơn 100m.
Ý tưởng chung cho thiết bị này là nhằm tạo
ra một bãi mìn trên không, và máy bay địch có thể bị mắc vào đống dây
cáp, kéo mìn về phía thân và sau đó hạ gục cả máy bay. Tuy nhiên, số mìn
và dây cáp, cùng với dù đều dễ dàng bị phát hiện, và phi công đối
phương không hề hấn gì khi bay phía trên hay phía dưới ‘bãi mình trên
không’ này.
Số mìn chưa phát nổ lại bị phó mặc cho gió, và thường
thì các thiết bị này lại bay trở lại các tàu của Anh đã bắn chúng lên
trời.
Theo thông tin từ con tàu mang hệ thống này, “chưa có thông
tin nào ghi lại việc hệ thống UP hạ được bất kỳ máy bay nào. Nhưng
trong trường hợp bị hỏa hoạn hay tai nạn, thì hệ thống này hoàn toàn có
khả năng gây sát thương cho các binh sĩ Anh hơn là kẻ thù”. Chó mang bom tự sát
Lính biên phòng nổi tiếng của Liên Xô là Nikita Karatsupa cùng với chú chó Ingus năm 1936.
Năm 1942, bộ binh của Phát xít Đức đổ bộ vào Liên Xô bằng xe tăng ‘Panzer’.
Lính
Nga đã đưa chó vào quân đội từ năm 1924. Một số trong các binh sĩ này
đã tìm cách biến những chú chó này thành lính cảm tử, khi chất hàng loạt
thuốc nổ lên người các chú chó.
Những chú chó chiến binh được
huấn luyện bằng cách bỏ đói, và sau đó tìm thức ăn ở phía dưới các xe
tăng. Một khi các chú chó này ở phía dưới xe tăng, chúng sẽ được huấn
luyện để kéo ngòi nổ bằng răng.
Tuy nhiên, hầu hết các chú chó
này không thể hiểu hoặc đảm đương nhiệm vụ trong bối cảnh chiến sự dữ
dội với hình ảnh, âm thanh và mùi vị của chiến trường.
Hệ quả là chúng thường chạy vòng quanh và trở về phía những người huấn luyện của chúng, và bị bắn ngay lập tức. Khẩu súng lớn nhất từ trước tới nay
Vì
mong muốn xâm lược Pháp nên trùm Phát xít Đức Adoft Hitler đã yêu cầu
một loại vũ khí mới nhằm chọc thủng phòng tuyến Magino (ở Đông Bắc Pháp)
– đường ranh giới tự nhiên cuối cùng ngăn cách Hitler và phần còn lại
của Tây Âu.
Theo tài liệu ‘các vũ khí tối mật’, năm 1941, một năm
sau khi phòng tuyến bị chọc thủng, nhà sản xuất thép và chế tạo vũ khí
của Đức - Friedrich Krupp A.G. bắt đầu thiết kế loại súng dành riêng cho
Hitler, có tên là Gustav.
Khẩu súng Gustav cao bốn tầng, dài 47m, nặng 1.350 tấn, bắn đạn nặng 4,5 tấn từ nòng súng khổng lồ dài 30m.
Khẩu
súng khổng lồ này chỉ có thể vận chuyển bằng xe hỏa, và dễ dàng bị các
máy bay ném bom của quân đồng minh phát hiện. Dự án này phá sản chỉ
trong vòng một năm. Thần công V-3
Khẩu thần công V-3 cực kỳ dài của Đức
V-3
là phiên bản thừa của các tên lửa V-1 và V-2 trước đó của Đức từng nã
trên bầu trời London (Anh) trong chiến dịch Blitzkrieg.
Được sáng
chế năm 1944, V-3 được thiết kế với nòng dài 126m để tăng vận tốc phóng
ra các quả đạn pháo, sao cho có thể bay tới London từ cách đó hơn 100
dặm (khi đặt khẩu thần công từ thị trấn Mimoyecques của Pháp).
Nhưng
khi V-3 chính thức tham gia tác chiến, vận tốc phóng hỏa tiễn chỉ bằng
chưa đầy một nửa so với tốc độ cần thiết để bay tới London.
Hitler
ra lệnh sản xuất 50 khẩu thần công loại này. Nhưng trước khi các kế
hoạch V-3 ban đầu được thực thi, quân Đồng minh đã oanh tạc và phá hủy
khẩu thần công, bất chấp nỗ lực của Đức nhằm giấu loại vũ khí này. Thiết bị phá hoại điều khiển từ xa ‘giống xe tăng’
Hệ
thống Goliath của Đức còn được quân đội Mỹ gọi là ‘bọ cánh cứng’, vận
hành bằng điều khiển từ xa. Đây là một chiếc xe tăng mini, chạy bằng hai
mô-tơ điện, sau đó được thay thế bằng gas, có khả năng mang theo 45kg
thuốc nổ.
Xe tăng mini này có nhiệm vụ trượt xuống bên dưới và đặt
thuốc nổ ở mặt dưới xe tăng quân Đồng minh. Tuy nhiên, hệ thống Goliath
này có vấn đề với hệ thống điều khiển từ xa, nên sau đó các mô hình
điều khiển bằng sóng radio được đưa vào thay thế.
Đức sản xuất
7.500 hệ thống Goliath trong suốt Thế chiến II, nhưng thành công thực sự
của hệ thống này là nó đã mở đường cho các vũ khí điều khiển bằng sóng
radio, mà trong thời đại ngày nay đang trở thành một phương thức chiến
tranh mới. Lê Thu
Vào ngày thứ ba 23/8 vừa qua, Tòa án hạt
Tokyo (Nhật Bản) thừa nhận: Trong thời gian quân đội Nhật chiếm đóng
thành phố Nam Kinh (Trung Quốc) vào năm 1937, quả thực có hai sĩ quan
Nhật là trung úy Tosiaki Mukai và trung úy Takesi Noda đã chơi trò thách
đố nhau xem ai là người đầu tiên chặt được đầu 100 người dân vô tội ở
nơi đây. Trước đó gia đình của hai trung úy này đã đâm đơn kiện đòi 330
ngàn USD bồi thường danh dự, vì cho rằng Báo Mainichi Shimbun miêu tả vụ
việc nêu trên bằng hình thức phóng sự thể thao và Báo Asahi Shimbun sau
đó đăng tải lại sự kiện đau thương này.
Tòa án hạt Tokyo bác đơn kiện của gia đình của hai viên sĩ quan
quân đội Nhật hoàng Tosiaki Mukai và Takesi Noda kiện Báo Mainichi
Shimbun và Báo Asahi Shimbun và xác nhận rằng, hai trung úy Nhật này vào
năm 1937 mở "cuộc thi" giết người bằng cách chặt đầu người dân bản địa ở
Nam Kinh. Câu chuyện bi thương này được biết rộng rãi là nhờ báo Tokyo
Nichi Nichi Shimbun (sau này đổi tên là Mainichi Shimbun). Ngày
13/12/1937, trên trang nhất tờ báo này in ảnh của hai viên sĩ quan Mukai
và Noda với tựa đề: Cuộc thi xem ai là người đầu tiên chặt được 100 đầu
người Trung Quốc bằng kiếm. Kết thúc Mukai được 106 điểm, còn Noda -
105. Trong cuộc "đua chặt đầu" cứ 1 điểm là sinh mạng của một người.
Vào tháng 12/1937 quân đội Nhật hoàng đánh chiếm thành phố Nam Kinh ở
trung tâm Trung Quốc. Nạn cướp bóc, hiếp, giết người liên tục trong
vòng 3 tháng trời. Và cuộc "thi thố" của Mukai và Noda diễn ra trong bối
cảnh đó. Theo tài liệu thống kê của Trung Quốc thì có 300 ngàn người
dân thường Nam Kinh bị chết trong khoảng thời gian này. Trong cuốn nhật
ký của Jon Rabe - thủ lĩnh đảng Quốc xã bản địa, người chứng kiến trực
tiếp những diễn biến trong tháng 12/1937 có ghi: Những người lính Nhật
đã săn lùng người dân trên khắp thành phố, đâm chết họ bằng lưỡi lê hoặc
bằng kiếm. Khadzime Kondo - cựu chiến binh quân đội Nhật hoàng, người
tham gia vào các vụ việc ở Nam Kinh nhớ lại: "Phần lớn lính Nhật "cho
rằng, bị giết chết bằng gươm đối với người Trung Quốc là còn khá, bởi vì
người ta thường dùng đá để ném họ cho đến chết".
Cho dù Mukai và Noda giết người bằng kiếm, nhưng đó không thể là hành
động có thể biện minh cho tội ác của họ. Báo Tokyo Nichi Nichi Shimbun
lúc ấy mô tả hành động của họ bằng tinh thần phóng sự thể thao: "Các sĩ
quan Nhật chạy đua với nhau khắp Nam Kinh" trong cuộc tìm kiếm những nạn
nhân. Kết quả Mukai đã chiến thắng trong "Cuộc thi săn đầu người".
Vào năm 1971, sự kiện này lại được Báo Asahi Shimbun đăng tải lại.
Nhưng không hiểu sao gia đình của Mukai và Noda mãi đến năm 2003 mới đệ
đơn ra tòa để biện minh cho hành động của những viên sĩ quan Nhật ấy? Họ
đệ đơn lên Tòa án hạt Tokyo kiện những người thừa kế Báo Tokyo Nichi
Nichi Shimbun, tức Báo Mainichi Shimbun ngày nay và Báo Asahi Shimbun
với yêu cầu, phải phủ nhận vụ việc và bồi thường danh dự 330 triệu yen
(330 ngàn USD). Nhà báo Kasuiti Honda của Asahi Shimbun cũng bị kiện, vì
anh này không chỉ viết bài báo nêu trên vào năm 1971 mà sau đó còn cho
in cả cuốn sách về sự kiện Nam Kinh, trong đó có nêu lại "cuộc thi săn
đầu người".
Trong quá trình xét xử, nhà báo Kasuiti Honda tuyên bố: “Cuộc thi săn
đầu người" là sự kiện lịch sử mà chúng ta không thể phủ nhận. Một vài
người vẫn cố tình phủ nhận sự xâm chiếm của quân đội Nhật ở Nam Kinh
cũng như các sự kiện diễn ra sau đó từ năm 1931 - 1945 ở Trung Quốc".
Theo nhà báo này, kiện hai tờ báo không phải là ý nguyện của gia đình
của viên sĩ quan Nhật này, mà là lực lượng cánh hữu của Nhật Bản".
Sau khi nghe các bên tranh cãi, tòa ra phán quyết như nêu trên. Hơn
thế nữa, trong quá trình xét xử tội phạm chiến tranh vào năm 1947 ở
Trung Quốc, Noda và Mukai đứng trước vành móng ngựa của tòa án binh thừa
nhận: Họ đã giết 100 người bằng "cuộc thi thể thao". Kết quả là "hai
đối thủ" trong "cuộc thi săn đầu người" lĩnh án tử hình và bị xử bắn
ngay sau đó. Sự công minh của tòa án Trung Quốc lúc ấy được các thành
viên bồi thẩm đoàn Tòa án hạt Tokyo công nhận. Ngoài ra, luật pháp hiện
hành của Nhật không cho phép đòi bồi thường (kể cả trường hợp đúng) khi
vụ việc diễn ra đã hơn 20 năm.
Câu chuyện cảm động về người lính "vượt ngục 200 lần để đến với tình yêu" trong Thế chiến II.
Đây là một trong những câu chuyện tình yêu có thật cảm động nhất trong
Thế chiến thứ II, kể về một tù binh "vượt ngục" hơn 200 lần chỉ để được ở
gần với người mình yêu trong chốc lát…
Câu chuyện kể về Horace
Greasley - một người lính Anh thuộc hàng ngũ quân Đồng Minh chống lại
phát xít Đức. Trong một trận phục kích ngày 25/5/1940, Greasley bị bắt
làm tù binh.
Sau thời gian chịu đựng cực khổ tàn tệ ở trại tù
binh, một thời gian sau, Greasley được chuyển tới nhà tù ở Silesia, Ba
Lan để tham gia khai thác than cùng đá cẩm thạch cho quân đội Đức. Cuộc
sống ở đây có phần dễ thở hơn, mỗi phòng giam có nhà vệ sinh cùng nước
sinh hoạt đầy đủ, thức ăn cũng nhiều hơn tuy nhiên các tù binh phải lao
động vô cùng vất vả.
Nhưng chẳng ai ngờ, giữa hoàn cảnh chiến
tranh, trong nhà tù vô nhân đạo và đầy nghiệt ngã ấy, có một tình yêu
đẹp lại nở hoa. Lúc này, Greasley là người đứng đầu trong nhóm các tù
nhân khai thác cẩm thạch nên thường xuyên được tham gia cuộc họp với các
sỹ quan cấp cao của Đức. Tại đây, Greasley đã gặp Rosa Rauchbach - một
phiên dịch viên cho quân đội Đức, đồng thời cũng là con gái của Herr
Rauchbach - người quản lý nhà tù.
Điều kỳ diệu đã xảy ra, tình
yêu của họ đã sớm "đơm hoa kết trái" ngay từ cái nhìn đầu tiên đó. Vẻ
ngoài lãng tử, bất cần, phong thái ăn nói ngang tàng của Greasley đã
khiến Rosa vô cùng ấn tượng, cô thường lén tới khu mỏ nơi Greasley làm
việc để gặp mặt người tình.
Tuy nhiên, họ chỉ được hạnh phúc
trong một thời gian ngắn ngủi. Ít lâu sau, Horace Greasley bị buộc
chuyển tới một nhà xưởng mới cùng các tù nhân khác. Dù vô cùng buồn bã,
nhưng Rosa không thể can thiệp để giúp đỡ người yêu của mình. Cô quyết
tâm đi theo dù người tình có bị chuyển đi bất cứ nơi đâu.
Về
phần Greasley, sau khi được chuyển đến trại tập trung mới, nỗi nhớ người
yêu da diết khiến ông vô cùng khó chịu. Trong một lần đi cắt tóc, một
tên quản tù lén đưa cho Greasley lá thư của Rosa và khi biết người yêu
vẫn đợi mình trong đau khổ, ông đã quyết tâm vượt ngục.
Được sự
giúp đỡ của một người bạn tù, Greasley đã đào một đường hầm phía dưới
hàng rào dây thép gai của trại và thoát ra ngoài. Sau khi các tù nhân đã
yên giấc, trại giam trở nên yên ắng và đám lính canh Đức thưa thớt dần,
Horace Greasley đã một mình thoát ra khỏi buồng giam để gặp bạn gái.
Lần đầu tiên sau hơn 1 năm, Greasley được nếm mùi vị của tự do. Trong
hoàn cảnh đó, chỉ cần ông tiếp tục di chuyển qua biên giới sẽ đến các
nước trung lập và an toàn thoát khỏi kiếp nô lệ. Nhưng Greasley đã không
làm như vậy, người đàn ông dũng cảm ấy sau khi gặp bạn gái đã trở lại
trại giam để tránh cho việc đồng đội mình bị vạ lây.
Cứ như vậy
ba tuần một lần, kéo dài suốt 2 năm, anh thanh niên người Anh lại vượt
ngục để gặp người yêu bất chấp mọi hiểm nguy và sự canh gác nghiêm ngặt
của đám lính Đức. Nơi gặp mặt của đôi tình nhân là một căn nhà hoang nhỏ
gần đó.
Sau những cuộc gặp ngắn ngủi, Greasley lại cầm theo
thức ăn mà chính tay Rosa làm để phân phát cho những bạn tù đang dần
kiệt sức vì đói. Tính ra trong khoảng thời gian ấy, có tới 200 lần
Greasley vượt ngục rồi quay trở lại.
Một điều đáng nể khác của
Greasley chính là việc dám hiên ngang đối mặt với một trong những nhân
vật quyền lực nhất của Đức Quốc Xã bấy giờ là Heinrich Himmler. Một lần
nọ, bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức quyết định đi tham quan tình hình giam giữ
tù nhân ở các trại trên khắp đất nước.
Tại trại Freiwaldau,
Heinrich Himmler gặp một tù nhân ung dung tiến đến trước mặt và ngạo mạn
đưa ra yêu cầu cung cấp nhiều thực phẩm hơn cho các tù binh Đồng Minh,
người đó không ai khác đó chính là anh thợ làm đầu Horace Greasley.
_ Một kết cục buồn
Năm 1945, khi quân Mỹ đến giải phóng nhà tù, Greasley được tự do trở về
Anh. Rosa tiếp tục đầu quân cho lính Mỹ đảm nhận vai trò phiên dịch
viên, cả hai ban đầu giữ liên lạc với nhau nhưng bỗng dưng Rosa không
hồi âm thư từ cho Greasley nữa.
Cho đến khi ông nhận được lá thư
từ một người bạn ở Đức cho hay, Rosa đã qua đời vì sinh khó. Đến lúc
này, Horace Greasley vẫn không biết đứa con của Rosa chính là con đẻ của
mình. Nghĩ rằng đã bị phản bội nên Greasley vô cùng đau đớn, tuyệt
vọng.
Mãi sau này khi biết rằng, đó là con của chính mình,
Greasley lại hoàn toàn vô vọng khi truy tìm tung tích của đứa trẻ. Từ
đó, để quên đi đau khổ, Greasley dốc tâm vào sự nghiệp, gây dựng tiệm
cắt tóc tại quê nhà, rồi mở thêm một công ty cho thuê xe vận chuyển. Đến
năm 1970, ông gặp và cưới người vợ hiện tại là Brenda, hai vợ chồng
chuyển đến Tây Ban Nha hưởng tuổi già vào năm 1988.
Horace
Greasley qua đời vào tháng 2/2010, thọ 91 tuổi. Chuyện tình đầy bi kịch
của ông, được viết thành một cuốn sách mang tựa đề “Chim có hót trong
địa ngục?” bởi Ken Scott. #AdM16
Nghìn lẻ một sáng kiến làm đẹp của phụ nữ Anh thời Thế chiến 2
Với phụ nữ Anh, ngay cả chiến tranh thế giới cũng
không thể ngăn cản họ mặc đẹp và bỏ qua các tiêu chuẩn thời trang.
Một mẫu quần liền áo giúp chị em chạy tránh bom mà vẫn đẹp.
“Đẹp là nghĩa vụ”
Trong
thực tế, ăn mặc đẹp chính là một phần nghĩa vụ mà phụ nữ Anh thời Thế
chiến 2 phải thực hiện vì quyền lợi của Nhà vua và quốc gia. Phụ nữ Anh
thời đó được khu yến khích mạnh mẽ đóng góp cho nỗ lực thời chiến bằng
cách lúc nào cũng phải trông đẹp nhất, như một khẩu hiệu tuyên truyền
trong chiến tranh mà chính phủ Anh đưa ra: “Đẹp là nghĩa vụ”.
Khẩu
hiệu này đã khiến phụ nữ Anh nảy ra những sáng kiến thông minh để giải
quyết tình trạng thiếu quần áo, mỹ phẩm không thể tránh khỏi do chế độ
phân phối thời chiến.
Quần áo bắt đầu được phân phối ở Anh từ
tháng 6/1941, tức một năm sau khi chế độ phân phối thực phẩm được thực
hiện. Theo quy định phân phối, mỗi người Anh lúc đầu được phát 66 phiếu
để đổi lấy quần áo. Mỗi loại quần áo cần một lượng phiếu khác nhau để
đổi, tùy vào thời gian may và lượng vải. Ví dụ, bạn có thể cần tới 11
phiếu mới đổi được một cái váy nhưng chỉ cần 2 phiếu là đổi được một đôi
tất dài.
Mỗi năm, phiếu sẽ được cấp bổ sung dù càng ngày lượng
phiếu càng giảm. Người lớn chỉ nhận được 24 phiếu trong giai đoạn từ
tháng 9/1945 tới tháng 4/1946. Có các trường hợp ngoại lệ là trẻ em và
phụ nữ mới sinh con. Trẻ em được phát thêm 10 phiếu vì các em lớn nhanh,
còn phụ nữ mới sinh được thêm 50 phiếu để mua quần áo trẻ em và chăn.
Tuy nhiên, số lượng phiếu cho hai đối tượng ưu tiên này cũng thay đổi
trong suốt cuộc chiến vì nguồn cung ngày càng khan hiếm.
Do
nguồn cung quần áo hạn chế nên Bộ Thông tin Anh đã phát động chiến dịch
“Make Do and Mend” (tạm dịch: Dùng tạm và sửa) trong chị em phụ nữ, phổ
biến cho chị em những cách để làm cho quần áo bền và dùng được lâu. Ví
dụ như Bộ này khuyên chị em mua quần áo rộng cho trẻ em để nếu các em
lớn nhanh thì cũng mặc được thêm một thời gian nữa. Các mẹo thay đổi và
sửa quần áo bằng các thứ vải có sẵn cũng được phổ biến. Bộ thậm chí còn
mở các lớp dạy kỹ năng khâu vá cơ bản cho dù đa số phụ nữ Anh thời này
vốn đã giỏi khâu vá.
Chị em thanh lịch trên đường phố London năm 1941.
Một
điều quan trọng cần phải lưu ý, đó là người dân Anh vẫn phải trả tiền
quần áo. Phiếu được phát chỉ là để đổi lấy quyền mua quần áo đầu tiên.
Nhờ thế, ngành thời trang không chỉ sống sót qua Thế chiến 2 mà còn phát
triển, thậm chí còn có nhiều nhà sản xuất quần áo cao cấp. Lý do là vì
một chiếc váy may đo đắt tiền nhìn chung cũng có số phiếu mua ngang với
một chiếc váy rẻ tiền do hai chiếc váy đều dùng lượng vải như nhau.
Trong khi đó, các nhà sản xuất quần áo lại nâng giá để bù lại doanh số
bán quần áo sụt giảm do thiếu vải và do chế độ phân phối.
Với
những người không thể mua quần áo đắt tiền hơn, họ phải khâu lại quần áo
đã rách hoặc dùng những phiếu quý giá để mua quần áo hoặc vải chất
lượng thấp cho dù biết là không bền. Điều này khiến chị em khó mà thực
hiện nghĩa vụ “đẹp” theo khẩu hiệu của chính phủ.
Quần áo “dầm mưa dãi nắng”
Để
giải quyết vấn đề, chính phủ Anh đã có sáng kiến gọi là “Quần áo dầm
mưa dãi nắng” năm 1942. Sáng kiến này tác động mạnh tới ngành thời trang
và may mặc ở Anh một thời gian dài sau khi chiến tranh kết thúc.
“Quần
áo dầm mưa dãi nắng” thực ra là quần áo được sản xuất hàng loạt theo
một số mẫu và màu hạn chế để giảm thiểu chi phí sản xuất. Điều quan
trọng là ngoài việc làm giảm chi phí, mục tiêu thứ hai của dòng thời
trang “dầm mưa dãi nắng” là để làm cho quần áo trở nên cực kỳ bền. Khi
mà mọi người mặc quần áo mãi không rách thì sẽ có nhiều vải vóc, nhà
máy, công nhân để phục vụ cuộc chiến thay vì may quần áo cho dân thường.
Tuy nhiên, làm quần áo rẻ và bền vẫn là chưa đủ. Sau cùng, mục tiêu bao
trùm, đặc biệt với chị em, là để đẹp. Do đó, chính phủ Anh đã nhờ đến
sự hỗ trợ của Hiệp hội Nhà thiết kế Thời trang London để cung cấp cho
đất nước những mẫu quần áo đẹp nhất và giám sát thiết kế quần áo “dầm
mưa dãi nắng” cho cả nam giới và nữ giới.
Nhờ có tầm nhìn này,
quần áo “dầm mưa dãi nắng” thực sự trở thành cơn sốt với người dân Anh
và nhiều mẫu quần áo vẫn được coi là thời thượng ngày nay. Những bộ vét
tối màu truyền thống, váy bó và giày đế mềm đen thực sự sẽ không bao giờ
lỗi mốt. Thậm chí, các nhà thiết kế còn cho ra đời một bộ quần áo khá
thời trang được gọi là áo liền quần, để nếu một phụ nữ phải bật dậy khỏi
giường và lao vào hầm trú bom thì trông cô ấy vẫn thật tuyệt cho dù
đang chạy thục mạng.
Tranh tuyên truyền phụ nữ tự may và vá sửa quần áo.
Nghìn lẻ sáng kiến để đẹp
Tiếp
theo quần áo là chuyện trang điểm. Không giống như mọi thứ khác thời
Thế chiến 2, đồ trang điểm và mỹ phẩm không bị phân phối nhưng là mặt
hàng xa xỉ bị đánh thuế nặng. Tất cả những thứ gì bị chính phủ coi là
không cần thiết đều bị áp thuế rất cao. Tất nhiên, nhiều chị em không
coi mỹ phẩm và đồ trang điểm là “không cần thiết”. Các công ty mỹ phẩm
lớn cũng vậy. Họ sẵn sàng chi tiền để đăng những quảng cáo hoành tráng
trên báo và tạp chí để giới thiệu sản phẩm làm đẹp cho chị em.
Nhưng
có một điều kỳ lạ: Nhiều hãng mỹ phẩm vẫn kiên trì quảng cáo cho dù
những thứ họ quảng cáo không còn hoặc còn rất ít trong kho hàng. Vậy tại
sao họ lại mất tiền quảng cáo? Đó là vì họ sợ rằng phụ nữ sẽ quen với
việc không trang điểm và khi chiến tranh kết thúc, một số chị em sẽ
không quay lại dùng mỹ phẩm nữa.
Vì thế, các công ty làm mọi
thứ có thể để thúc giục chị em tiếp tục tìm cách nào đó để trang điểm.
Quảng cáo có những câu kiểu như: Nếu chị em không trang điểm thì họ đang
để Hitler thắng cuộc. Đó không phải là cách nói ngoa dụ mà là thực tế.
Hitler vốn rất ghét ai trang điểm và dùng mỹ phẩm. Hắn ta thậm chí còn
đánh phụ nữ xức nước hoa hoặc dùng thuốc nhuộm tóc. Khi Hitler cầm
quyền, hắn thành lập Ban Thời trang Đức để thúc đẩy thương hiệu thời
trang riêng, trong đó nhấn mạnh vào ba điều: không trang điểm, tóc tự
nhiên và đường cong - trái với kiểu thân hình trẻ con mà thời trang
Paris tôn vinh. Mục đích thời trang cuối cùng của Hitler là phụ nữ
Berlin phải ăn mặc đẹp nhất châu Âu.
Vậy một phụ nữ Anh ghét
Hitler và yêu nước sẽ làm gì khi không có phiếu hay tiền để mua váy mới
và không ai có mỹ phẩm đề dùng? Câu trả lời là họ tự chế. Phụ nữ làm
quần áo mới từ mọi thứ: rèm cửa, vải bọc đồ đạc, vải dù cũ rồi lục tung
tủ quần áo để tái sử dụng, sửa chữa hoặc thay đổi các bộ cánh để làm cho
chúng thời trang hơn. Thiếu vải vóc cũng làm cho chị em trở nên táo bạo
hơn trong ăn mặc. Gấu váy ngắn hơn đáng kể trong thời chiến là vì thế.
Thế nhưng, váy ngắn quyến rũ lại gây ra một vấn đề là hở nhiều chân mà
không có cách nào để che bớt vì chị em thiếu tất dài.
Để giải
quyết vấn đề, chị em bắt đầu nhuộm chân bằng đủ thứ, kể cả bôi chất tạo
màu nước sốt để làm cho da chân nâu hơn, trông như là đang đi bít tất
dài. Họ thậm chí còn vẽ một đường may nối ở đằng sau chân để trông y như
tất thật. Để khắc phục tình trạng thiếu son môi, chị em nhuộm môi bằng
củ cải đường và thậm chí dùng cả xi đánh bóng giày làm mascara. Chị em
còn mang theo hoa và thảo mộc trong túi để thay thế nước hoa. Một số
chị em làm việc trong nhà máy còn dùng bột bảo vệ mặt khỏi hơi nóng để
làm phấn hồng. Một số còn cho tóc vào bột thuốc nổ TNT để nhuộm vàng.
Khi
mới ra đời hồi giữa thế kỷ 19, TNT ban đầu được dùng làm chất nhuộm
vàng chứ không phải để làm vật liệu nổ. Đó là lý do tại sao chị em làm
trong nhà máy đạn dược lại có tóc màu vàng. Mà cho dù họ muốn hay không
thì tóc họ và da họ cũng sẽ có màu vàng sáng vì tiếp xúc loại bột này
khi làm việc. Tóm lại, khi “đẹp là nhiệm vụ” thì phụ nữ Anh có thể nghĩ
ra đủ cách để khiến mình không thể xấu hơn phụ nữ Berlin, nhất quyết
không thể để Hitler thắng trong cuộc chiến thời trang.
Thùy Dương/Báo Tin tức
9 quyển sách hay về chiến tranh thế giới thứ 2 đọc để trân trọng cuộc sống hoà bình
9 quyển sách hay về chiến tranh thế giới thứ 2
không chỉ kể về những cuộc chiến đẫm máu, những mất mát, sự đấu tranh
sinh tồn của con người trong thời chiến mà còn cho ta thấy tình nguời
luôn hiện hữu ngay cả ở những nơi chiến tranh ác liệt nhất.
Ánh Sáng Vô Hình
Xem giá bánĐây
là cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Thế giới thứ II kể về
số phận một cô gái mù người Pháp và cậu bé mồ côi người Đức.“Marie
Laure sống cùng cha tại Paris, gần bảo tàng Lịch sử tự nhiên, nơi cha
cô làm thợ khóa chính. Khi lên 6 tuổi, Marie Laure bị mù. Cha cô đã dựng
một mô hình thu nhỏ hoàn chỉnh về khu phố hai cha con đang sống để cô
có thể ghi nhớ bằng cách chạm và lần tìm đường về nhà. Năm Marie Laure
12 tuổi, Đức Quốc xã chiếm giữ Paris, cô cùng cha chạy trốn đến thành
phố nằm trong tường thành, Saint-Malo, nơi ông chú thích ẩn dật của cha
cô sống trong một ngôi nhà cao ven biển. Hai cha con họ đã mang theo một
viên đá quý giá trị nhất và cũng nguy hiểm nhất viện bảo tàng.
Cậu
bé mồ côi Werner lớn lên cùng em gái trong một khu mỏ than ở Đức. Cậu
bị một chiếc điện đài thô sơ mà hai anh em tìm được thu hút, sau này
Werner trở thành chuyên gia lắp ráp và sửa chữa những thiết bị thông
tin. Tài năng ấy đem lại cho cậu một vị trí trong học viện tàn bạo của
Đoàn Thanh niên Hitler, sau đó là nhiệm vụ đặc biệt theo dấu quân kháng
chiến. Ngày càng nhận thức được cái giá sinh mệnh con người phải trả cho
trí tuệ của mình, Werner đi qua trung tâm cuộc chiến, cuối cùng, đến
Saint-Malo, nơi cậu gặp gỡ Marie-Laure.”
“Cảm nhận tinh tế về từng
chi tiết vật chất và những phép ẩn dụ tài tình” của Doerr ( theo báo
San Francisco Chronicle ) thật tuyệt vời. Khéo léo đan cài cuộc đời của
Marie-Laure và Werner, ông đã làm sáng tỏ cái cách con người cố gắng đối
tốt với nhau bất chấp bao khó khăn chồng chất. Mất đến 10 năm sáng tác,
” Ánh sáng vô hình” thực sự là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời và vô
cùng xúc động của Anthony Doerr – nhà văn của ” những câu chữ không bao
giờ mất đi sức lay động” ( theo thời báo Los Angeles Times ).
Không Số Phận
Xem giá bánKhông
số phận – gần như một tự truyện. Cũng như nhân vật thiếu niên trong
cuốn tiểu thuyết, Imre Kertész đã từng rơi vào trại tập trung của Hitler
năm 15 tuổi. Ông đã may mắn, bởi khác với hàng triệu nạn nhân của
Holocaust, Kertész vượt qua được cả Auschwitz lẫn Buchenwald, và sống
sót. Tác phẩm đầy sức nặng và ám ảnh này của Kertész Imre mô tả thế giới
khủng khiếp và phi lí của nhà nước toàn trị kiểu phát xít, trong đó con
người bị tước đoạt số phận cá nhân, và, không chỉ kiến thức về cuộc
sống thực tế và lịch sử, mà khả năng nhận biết thường nhật của cá thể
cũng đã hóa đá và biến dạng. Ẩn sâu vào đó là sự phản kháng đầy cay đắng
trước cái bất nhẫn phổ quát của thế giới. Một thế giới đang thể hiện dữ
tợn trong những học thuyết tự cho phép đối xử với cả một dân tộc như
những sinh linh hạ cấp, tước đoạt quyền sống, xua đuổi vào các trại tập
trung, và hủy diệt.
Kẻ Trộm Sách
Xem giá bánChọn
một đề tài tưởng như đã có quá nhiều cây bút đào xới – cuộc chiến tranh
thế giới lần thứ 2 – nhưng Markus Zusak vẫn gây bất ngờ cho người đọc.
Người kể chuyện trong tác phẩm này là Thần Chết – một “gương mặt” quen
thuộc của chiến tranh, gắn liền với cái chết, với sự bi thương, sự tăm
tối. Nhưng câu chuyện mà thần chết kể ra, về sự dữ dội của những gì con
người gây ra đối với chính đồng loại của họ thì đến ngay cả Thần Chết
cũng phải rùng mình. Lật giở những trang sách, người đọc như bước vào
cuộc trò chuyện với Thần Chết, một nhân vật có khiếu hài hước, với một
lời cảnh báo nho nhỏ đầy hóm hỉnh ngay khi mở đầu câu chuyện rằng “Bạn
sẽ chết”. Đây là một câu chuyện với quá nhiều cái chết nhưng cũng đầy ắp
tình yêu thương và thấm đẫm tính nhân văn.
Chiến Tranh Không Có Một Khuôn Mặt Phụ Nữ
Xem giá bánChiến
tranh không có một khuôn mặt phụ nữ – Một tác phẩm của tác giả Svetlana
Alexievich – Nobel văn chương 2015, bản dịch đầy đủ nhất từ trước tới
nay, không cắt gọt, không kiểm duyệt của chính tác giả do dịch giả
Nguyên Ngọc dịch mới hoàn toàn. Có một cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
mà bạn chưa từng nghe nói tới, những câu chuyện chưa bao giờ được đưa
ra ánh sáng, những số phận gắn liền với chiến tranh, đã được tác giả tái
hiện lại một cách chân thực nhất, đầy đủ nhất trong “Chiến tranh không
có một khuôn mặt phụ nữ”. “Ở đấy, ta không thấy anh hùng cũng chẳng thấy
chiến công không tưởng tượng nổi, mà chỉ đơn giản có những cá nhân bị
cuốn vào một công việc phi nhân của nhân loại. Và trong ấy, không chỉ có
họ (con người!) phải chịu đau đớn vì chiến tranh: cùng với con người là
đất đai, chim chóc, cây cỏ. Toàn bộ thiên nhiên. Chúng chịu đau đớn mà
chẳng nói được một lời, thế càng kinh khủng hơn… Thậm chí một sai lầm
lớn. Còn có một cuộc chiến tranh khác mà chúng ta không biết.”
Erwin Rommel Danh Tướng Đức
Xem giá bánErwin
Rommel với biệt hiệu “Cáo sa mạc” trong Thế chiến II – là một trong
những nhà cầm quân nổi tiếng nhất nước Đức và cả thế giới với những
chiến thắng lừng lẫy tại chiến trường Bắc Phi trong Thế chiến 2. Dù phục
vụ cho quân đội Quốc xã nhưng tài năng, tinh thần thượng võ và sự hào
hiệp của ông được nhân dân Đức lẫn các đối thủ kính trọng. Tuy nhiên,
chính tinh thần hiệp sĩ trong con người Rommel đã dẫn ông đến cái chết.Phần
mộ của Rommel hiện ở Blaustein,nhà sách online tây nam nước Đức. Rommel
luôn nằm trong danh sách Erwin Rommel danh tướng Đức với biệt hiệu cáo
sa mạc trong thế chiến thứ II những nhà quân sự vĩ đại trong lịch sử và
là thành viên duy nhất của Đế chế thứ 3 có một bảo tàng tôn vinh. Thủ
tướng Anh Winston Churchill đã nhận xét : “Ông xứng đáng được tôi ngả
mũ. Ông cũng xứng đáng được kính trọng vì dù là một người lính Đức trung
thành, ông đã căm ghét Hitler và những hành động của hắn… và ông đã trả
giá bằng mạng sống. Trong những cuộc chiến ngày nay, không còn nhiều
tinh thần thượng võ như vậy”.
Nhật Hoàng Hirohito Và Công Cuộc Kiến Thiết Nước Nhật Hiện Đại
Xem giá bán“Nhật
hoàng Hirohito là người quảng giao. Ông có bạn bè thuộc nhiều tuýp
người khác nhau và có những người trong số họ thích viết về ông một cách
thẳng thắn. Ông là người kín tiếng, đôi khi với ông những lời hùng biện
nhất chính là không nói gì cả. Là người của công chúng, ông đã học được
cách thận trọng khi nói về những vấn đề riêng của mình. Những tác phẩm
có bút tích của ông để lại không nhiều. Nhưng chúng cho chúng ta thấy
được tâm tư tình cảm của ông và giúp chúng ta hiểu được phản ứng của ông
trước những sự kiện trọng đại đã trải qua trong đời. Sự thật là trong
các dịp lễ tiết quan trọng, ông có sáng tác những bài thơ waka (hòa ca)
theo phong cách của ông nội Nhật hoàng Minh Trị. Tất cả khoảng hơn 860
bài, hầu hết được viết sau năm 1945 và đã được xuất bản. Nhưng ông không
cho xuất bản bất kỳ hồi ký nào của mình và thường chỉ bày tỏ chính kiến
hoặc dự định của mình thông qua những người khác, mà những người này
lại cho rằng thật là bất kính và không thích hợp chút nào nếu một thần
dân Nhật Bản viết bài chỉ trích Nhật hoàng của mình.
Tác
phẩm này cố gắng nghiên cứu một cách chính xác các sự kiện và các hệ tư
tưởng, cho dù sâu sắc hay chỉ thoáng qua, đã ảnh hưởng đến ông, với tư
cách là Nhật hoàng và với tư cách là một con người.
Những Đứa Con Của Tự Do
Xem giá bánNhững
đứa con của tự do được kể lại dựa trên câu chuyện có thật ở Pháp tôn
vinh những người con dũng cảm, kiên gan đã chiến đấu không mệt mỏi cho
tự do, khi mà mỹ từ ấy trở nên xa xỉ trong thời đại hỗn loạn của đại
chiến thế giới. Đặc biệt, những người anh hùng ấy tuổi đời con rất non
nớt mà có tư tưởng và con tim vĩ đại.Những người con ngoại
quốc đến từ nhiều quốc gia Ba Lan, Rumani, Hungari, Italia, Tây Ban Nha…
lại yêu tha thiết mảnh đất đã dung nạp mình, để rồi họ cống hiến tuổi
trẻ và tinh thần của mình cho quốc gia Pháp, nơi họ vĩnh viễn thuộc về,
nơi mà họ tin là mùa xuân sẽ trở lại…vào một ngày nào đó…
Cha ruột
của Marc Levy là một nhân chứng sống động trong thời đại hỗn loạn, nước
Pháp bị Đức quốc xã chiếm đoạt không còn một chút quyền lợi nào. Và
ông, một chiến sỹ cách mạng nhiều trọng trách là nhân vật chính trong
câu chuyện, mang biệt hiệu Jeannot. Jeannot và cả một thế hệ trẻ chủ yếu
là dân ngoại quốc đã từng sống trên đất Pháp đã tập hợp lại thành lữ
đoàn 35 mang tên Marcel Langer. Ở đó họ “chưa bao giờ thừa nhận thân
phận mà người ta muốn áp đặt cho mình, chưa bao giờ chấp nhận cho người
ta xâm phạm đến phẩm giá con người”.
Lý
tưởng chiến đấu cho tự do đã gắn kết những con người ấy lại với nhau.
Họ mang trong mình niềm tin mãnh liệt, lòng dũng cảm đôi lúc vượt lên
tất cả mọi trở ngại để chiến đấu. Và đó cũng là cảm hứng xuyên suốt toàn
bộ câu chuyện.
Lữ đoàn 35 phối hợp với quân đội địa phương chiến
đấu chống lại lực lượng chiếm đóng. Họ thực hiện nhiều nhiệm vụ khác
nhau nhưng tựu chung cho mục tiêu gây tổn thất, làm suy giảm lực lượng
địch, tạo thời cơ cho quân đồng minh đánh trả và giành lại nền độc lập
tự do cho tổ quốc.
Những Câu Chuyện Lịch Sử Khác Thường – Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
Xem giá bánChiến
tranh thế giới thứ Hai là một cuộc chiến tàn khốc và điên rồ nhất trong
lịch sử. Những hậu quả của nó không gì đo đếm được. Cuốn sách này sâu
chuỗi những câu chuyện, những sự kiện của cuộc chiến, mang đến cho bạn
một cái nhìn hoàn cảnh, bằng cách dẫn dắt khéo léo và những con số biết
nói.
Lịch Sử Sống Động Của Đệ Nhị Thế Chiến
Xem giá bánHiệp
ước đình chiến kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ I (Armistice de
Compiegne, 1918) lại là mầm mống của một cuộc chiến tranh mới – Đệ nhị
Thế chiến. Đây là một cuộc chiến khốc liệt mà ở đó tham vọng con người
đã trở thành một thứ cuồng vọng không còn nhân tính. Thật vậy, làm sao
hình dung được cái chết của 17 triệu binh sĩ và 18 triệu dân thường hay
35 triệu con người bị loại trừ chỉ trong 5 năm rưỡi. Làm sao hiểu được
nạn diệt chủng của 6 triệu người Do Thái, 6 triệu người Ba Lan và 6
triệu người Nga, chưa kể hàng trăm ngàn nạn nhân khác bị ám sát, bị chặt
đầu, bị đánh đập, bị bỏ đói, bị làm nhục bởi Quốc xã Đức và phát xít
Nhật. Những tổn thất không dừng lại ở con số 1.100 tỉ đô la chi phí quân
sự và 2.100 tỉ đô la thiệt hại bởi chiến tranh mà còn gây ra hậu quả
lâu dài cho cả thế giới.Cho đến nay đã có rất nhiều cuốn sách
lịch sử, văn học, triết học, xã hội học của nhiều nước viết về cuộc
chiến tranh này. Tuy nhiên, cách nhìn và trình bày nêu bật được nhiều
khía cạnh khác biệt quá phức tạp của cuộc chiến này là ưu điểm rõ nhất
trong cuốn Lịch sử sống động của Đệ nhị Thế chiến của Abraham Rothberg.
Thêm vào đó, trên 500 bức ảnh minh họa quý hiếm của những phóng viên
chiến trường tay nghề cao đã cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn toàn
cảnh, sống động về Thế chiến thứ hai như một thiên anh hùng ca hào hùng
nhưng đẫm máu trong nỗi kinh hoàng mà nhân loại phải gánh chịu mới có
được hòa bình – một nền hòa bình khó khăn – như ngày nay.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét