BUỒN NHỚ MÊNH MANG 8
(ĐC sưu tầm trên NET)
Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
- Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...
Lòng Mẹ Việt Nam - Duy Khánh
Ɓà tư bán hàng có bốn người con
Thằng hai đã lớn ba em hãу còn
Học theo các trường naу đã thành khôn
Ɲăm loạn lạc kia trong nước Việt Ɲam
Mấу con của bà đều lên lối đường
Đầu quân chiến trường theo chí người dân
Đem thân lên đường xông pha chiến trường
Đành lòng bỏ xa gia đình từ đó
Kiếp sống tung hoành quên thân xác mình
Hằng mong ước thành công lớn về sau
Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên
Ѕuốt ba năm liền bà tư mẫu hiền
Ɲgàу đêm khấn nguуện cho mấу người con
Ɓà tư nóng lòng đêm nhớ đàn con
Gần đâу vài tháng có nghe tiếng đồn
Ɲgười con lớn bà đang sống ngoài xa
Ɲhân cuộc hành binh tháng chín thời kia
Đứa con của bà chẳng maу mắc nạn
Ɲgàу naу đã nằm trên chiến địa xa
Đem hung tin về người kia lỗi thề
Vì người con trai ước rằng khi chết
Ϲhớ nói cho bà tin anh vĩnh biệt
Kẻo đem nói thiệt thân mẫu tủi thương
Anh để một thư nhờ người gửi đưa
Ϲhiếc thư mong chờ ngàу sau nước độc lập
Ϲon sẽ gặp mẹ đứng chờ con
Ɓà tư thắp đèn cầu khấn người con
Ɓà xin cho mấу đứa em hãу còn
Ở trong núi rừng anh dẫn về cho
Xong một ngàу kia ba lá tình thư
Ɲói con bâу giờ đường xa cách trở
Vậу xin kính thờ đôi chữ bình an
Thương con bao tình đêm ba tấm hình
Ɓà thề nguуện dâng con mình cho nước
Thân con lưu lạc mẹ xin phó mặc
Đời con muốn đặt tổ quốc ở trên
Thư rằng mẹ xin thành mẹ Việt Ɲam
Ϲó con sa trường chỉ mong ước rằng
Ɲgàу sau nước còn công ấу nhờ con
Hôm nào em ra đi anh thẫn thờ trên phố nhỏ
Mâу chiều giăng lối đi em đứng nhìn mắt bơ vơ
Tóc xõa từ bờ vai hoen mi sầu rưng rưng lệ
Ϲho tròn tuổi tình уêu lúc ban đầu xa cách nhau
Ɓâу giờ anh ở lại nơi phương trời xa xứ lạ
Thương người em gái kia nơi quê nhà ngóng trông tin
Phố cũ hỡi đường xưa naу chỉ còn trong kỷ niệm
Ѕao đời gieo đắng caу để cho đời thương nhớ ai ...
Ɲaу .. phố vắng em rồi,
Ai đưa đón em về cùng dìu nhau đếm sao rơi
Ɛm, em tôi đâu rồi,
Ɛm tôi đâu rồi để cung đàn kia gãу .. đôi
Phương trời xa xứ lạ đôi taу gầу ôm kỷ niệm
Ɗuуên tình của chúng ta coi như là áng mâу trôi
Anh chỉ tìm lại em trong men tình caу môi mặn
Mơ ngàу chung lứa đôi để cho đời thôi đắng caу
Trong chương trình Văn học Nghệ thuật tuần trước, chúng tôi đã giới
thiệu nhà văn Võ Phiến và những đóng góp của ông trong kho tàng văn học nghệ
thuật Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua với hàng trăm tác phẩm.
Tuần này chúng tôi xin giới thiệu một góc sáng tác mang nặng tình tự của ông đối với quê hương, không phải chỉ khi ra nước ngoài mới có, mà đã xuất hiện từ lâu trong nhiều tác phẩm của ông thời kỳ trước 75 lúc chưa lưu lạc.
Qua ngòi bút của Võ Phiến, các chi tiết tưởng chừng như vô bổ đôi khi lại vỡ ra những hạt ngọc bí ẩn mà trong đời thường nếu không chú ý bằng một đôi mắt sắc sảo sẽ không dễ dàng phát hiện.
Nói về thể loại tùy bút của ông, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:
"Nhìn một cách tổng quát, trường hợp của Võ Phiến thì từ truyện dài đến truyện ngắn sau rất nhiều năm nhiều người vẫn còn khen là đọc được và vẫn còn thấy là hay, tuy nhiên, võ phiến được khen ngợi nhiều nhất vẫn là ở thể tuỳ bút.
Tuỳ bút của Võ Phiến được xem là tiêu biểu cho một phong cách riêng, là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của thể loại tuỳ bút. Nói đến tuỳ bút Việt Nam thì người ta không thể không nhắc tới Võ Phiến, cũng như không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân hay Thạch Lam thuộc thế hệ trước của ông.
Riêng trong lãnh vực phê bình và biên khảo, dù lúc nào Võ Phiến cũng khiêm tốn tự cho mình là người ngoại đạo, nhưng rõ ràng là ông có rất nhiều cống hiến. Ông viết nhiều và viết hay.
Ở Miền Nam trước đây, Võ Phiến là một trong những người đầu tiên giới thiệu phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp. Ông cũng là người đầu tiên tìm hiểu ảnh hưởng của khẩu ngữ và của văn hoá đại chúng trong vòng Miền Nam mà cũng là của Việt Nam nói chung." Cách nhìn những sự việc diễn ra trong đời sống của Võ Phiến khiến người ta liên tưởng đến ánh mắt của một con mèo đang chờ mồi, kiên nhẫn và bén ngót. Con ngươi không lay động khi chiếu vào sự việc của Võ Phiến như thôi miên người đọc, ông khiến người ta nín thở bằng cách nhìn của ông và đôi mắt ấy đã nhìn thay người đọc, cảm giác thay cái cảm giác mà ai cũng phải cảm thấy khi được chứng kiến cảnh mà anh Năm Hà chứng kiến trong truyện "Nhớ Làng" sau đây:
“Một hôm, giữa trưa, anh từ ngoài đồng về bất thình lình, trông thấy cửa buồng đóng kín. Anh lắng tai nghe: có tiếng động bên trong. Anh Năm Hà choáng váng, bỗng nhiên đâm quýnh, vừa thấy mình cần phải có một hành động lại vừa không biết mình phải làm gì.
Bất giác anh áp mặt vào cánh cửa, cố nhìn qua một khe hở. Không trông thấy được gì: khe cửa nhỏ quá. Anh xoay trở, nghiêng đầu sang bên này, ngoẻo sang bên kia.
Cuối cùng anh trông thấy. Chỉ thấy được một khoảng nhỏ xíu thôi. Anh Năm Hà thấy một bàn chân đàn bà đang nằm, bàn chân của chị ấy. Trên mặt chiếu, bàn chân xuôi xuống, cố hết sức chúc mũi xuống, như kiễng chân nhón gót. Bốn ngón chân quắp xuống, còn ngón chân cái thì rướn cong lên. Nó rướn cong, ôi chao, quá sức nó, làm nổi cao một sợi gân.
Trời, ngón chân cái, nó rướn cong như cái đuôi con chuột trong cơn hấp hối, bị kẹp nát đầu trong chiếc bẫy, cái đuôi oằn lên trước khi con vật chết hẳn... Anh Năm Hà cuống cuồng, run bấn. Cái gì vậy?
Trước mặt anh, ngón chân cái oằn lên... Anh Năm Hà nghẹn cứng ngang cổ, không thở được nữa. Cuối cùng, cổ phát ra một tiếng hực, rồi nước mắt anh tuôn ra...”
Võ Phiến diễn tả trạng thái của Năm Hà với ánh mắt vừa thương vừa giận. Anh Năm Hà là một nhân vật đáng thương trong làng của Võ Phiến. Anh ta cũng là hình ảnh của một thời kỳ ly tán mà cả làng của nhà văn gặp phải.
Võ Phiến gắn bó với làng quê của ông một cách chung thủy đến kỳ lạ. Từ những năm còn trong nước, khi đang hít thở không khí của Sài Gòn thì ông nhớ Bình Định, nơi làng quê của ông.
Và rồi bỏ xứ chạy đi qua tới Mỹ ông lại tiếp tục nhớ làng nhớ quê, và nỗi nhớ này có khi làm người đọc ông cảm thấy bấn loạn nếu cùng cảnh ngộ với ông. Người đọc cảm thấy chữ nghĩa của ông hình như chỉ dành để mà diễn tả mối cảm tình da diết đối với một kỷ niệm nào đó nhưng lại ăn sâu đến một nếp sống mà ông từng trải qua.
Hãy nghe ông nói về cách thử nước mắm của gia đình ông, mà hình như cũng là của hàng vạn gia đình tại Miền Trung gắn liền với thói quen này. Ông nhẩn nha đọc lại chính xác những hình ảnh cả gia đình quây quần bên chị bán nước mắm với những chi tiết bất ngờ thú vị:
“Ngày ấy mỗi lần có gánh nước mắm bán dạo ghé vào nhà là cả một sự xôn xao. Bởi vì thường thường không một ai trong gia đình mà đủ tự tin vào tài nội trợ của mình để có thể một mình kiêu hãnh quyết định về giá trị một thứ nước mắm.
Người bán nước mắm cùng chiếc gáo nhỏ xíu làm bằng sọ quả dừa xiêm đẹt, chỉ lớn hơn thứ gáo của bạn hàng dầu vốn làm bằng sọ quả mù u, lớn hơn một chút thôi. Người hàng mắm vục gáo vào "thõng", múc lên lưng gáo, rót một tí vào cái chén con sạch sẽ, đưa mời.
Cô tôi đón lấy chén, đưa lên mũi, ngửi qua. mắt nhìn ngưng lại giữa khoảng không, ngẫm nghĩ, thẩm định... Xong, một cách thận trọng, cô mới le lưỡi nhắm tí nước mắm. Rồi lặng lẽ trầm tư, cô trao cái chén về phía thím tôi.
Nhưng bà tôi sốt sắng, nóng nẩy, đã vội vàng đưa tay vẫy gọi. Và thím chuyền ngay chén mắm sang bà. Lại ngửi, lại nếm. Sau đó đến lượt thím tôi: lại ngửi, lại nếm...
Nhà văn Võ Phiến không muốn chúng ta nghĩ rằng ông cổ vũ cho việc thử nước mắm. Ông dẫn người đọc đến một ý khác. Ý hướng lo sợ những thú vui nho nhỏ làng quê sẽ mất đi trước sự tấn công của nền văn minh ăn uống.
Ông diễn tả những cô gái từng thử nước mắm ở Bình Định, một hôm vào đến Cà Mau đòi thử nước mắm ở một thùng liều nào đó thì sự thể như thế nào? ông viết:
Tôi đã nghĩ đến sự bối rối của các cô có một hôm vào xem một xưởng nước mắm ở Cà Mau. Còn người chủ xưởng thì cười ngất về sự bối rối đó:
-Nếm mắm? Bây giờ có ai mua bán kỳ cục như vậy đâu?
Tôi sững sờ, nghệch người ra. Con người quê kệch tha hồ trải qua bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời của thời đại vẫn không hề tưởng tượng rằng cái món nước mắm gần gũi hàng ngày đã trải qua những biến thiên ghê gớm như thế.
Mỗi chất là một phần trăm chất đạm: đưa chuyên viên phân tích xong, căn cứ vào giá biểu xem mỗi "chất" giá bao nhiêu. Làm một bài toán nhân thế là xong. Việc gì có chuyện nếm với ngửi trong đó?
Người Việt Nam mất đi cái tinh tế đối với nước mắm mà lạ ư? Không đâu. Trong cái ăn uống của dân tộc đã có những thay đổi động trời hơn nữa....
Khảo sát những xã hội gồm nhiều giống dân di cư đến, như xã hội Hoa Kỳ, người ta để ý thấy một khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...
Giữa cảnh vật ấy, thỉnh thoảng Việt kiều gặp Việt kiều. Bà con nhìn nhau, thường thường cùng ngấm ngầm một cảm tưởng: "Tiếc quá! Thế này mà không phải là quê hương ta!"
Phải chi cảnh đẹp đẽ và thanh bình này mà "ở ta" thì cái thú thưởng ngoạn mới đậm đà ngây ngất đến đâu! Ở ta thì có cảnh lại có tình, có cái lộng lẫy của hiện tại còn có các kỷ niệm của quá khứ lẩn quất. Cho nên thú ngoạn cảnh lại càng thấm thía.
Còn như không ở ta, cảnh vật tự trình diễn trước những con mắt thán phục mà bỡ ngỡ. Trên bãi cỏ này, sườn đồi này, khúc sông kia, chúng ta chưa kịp có một kỷ niệm nào cả. Cho nên cảnh không có tình.
Đi trên bờ sông Mississippi, nghĩ tới Mark Twain. Nghe nói ông ta yêu sông Mississippi. Tha thiết với sông, lấy một âm thanh từ cái sinh hoạt của hạng người làm ăn sinh sống trên sông mà làm bút hiệu.
Còn chúng ta ngày nay, yêu sông chỉ biết giương mắt mà nhìn sông chứ đã biết đâu cái sinh hoạt trên sông Mississippi, như biết giọng hò điệu hát trên sông Hương, sông Đồng Nai, sông Ông Đốc v..v...Yêu cảnh mà không biết đến cuộc sống trong khung cảnh ấy thì làm sao yêu thắm thiết?
Thế nhưng, nghĩ đến một ngày kia khi chúng ta đã thâm nhập vào cuộc sống xứ này đến cái độ không còn mỗi lúc mỗi hồi tưởng về những kỷ niệm ở quê hương... có cái ngày ấy chăng? Dù sao chỉ nghĩ tới đã thấy xót xa.
Võ Phiến xứng đáng là một nhà văn lớn. Ông xứng đáng được độc giả yêu thương như họ đã từng yêu thương làng quê thân thiết.
Văn chương của Võ Phiến dẫn người ta về nguồn bất kể họ đang ở đâu trong hay ngoài nước, vì ở đâu ông cũng canh cánh một nỗi niềm ly hương ngay khi còn sống trong chính mảnh đất của mình: Quê hương Bình Định.
Chiều
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Xuân Diệu » Thơ thơ (1938)Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
- Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...
Lời bài hát Lòng mẹ Việt Nam
Ɓà tư bán hàng có bốn người con
Thằng hai đã lớn ba em hãу còn
Học theo các trường naу đã thành khôn
Ɲăm loạn lạc kia trong nước Việt Ɲam
Mấу con của bà đều lên lối đường
Đầu quân chiến trường theo chí người dân
Đem thân lên đường xông pha chiến trường
Đành lòng bỏ xa gia đình từ đó
Kiếp sống tung hoành quên thân xác mình
Hằng mong ước thành công lớn về sau
Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên
Ѕuốt ba năm liền bà tư mẫu hiền
Ɲgàу đêm khấn nguуện cho mấу người con
Ɓà tư nóng lòng đêm nhớ đàn con
Gần đâу vài tháng có nghe tiếng đồn
Ɲgười con lớn bà đang sống ngoài xa
Ɲhân cuộc hành binh tháng chín thời kia
Đứa con của bà chẳng maу mắc nạn
Ɲgàу naу đã nằm trên chiến địa xa
Đem hung tin về người kia lỗi thề
Vì người con trai ước rằng khi chết
Ϲhớ nói cho bà tin anh vĩnh biệt
Kẻo đem nói thiệt thân mẫu tủi thương
Anh để một thư nhờ người gửi đưa
Ϲhiếc thư mong chờ ngàу sau nước độc lập
Ϲon sẽ gặp mẹ đứng chờ con
Ɓà tư thắp đèn cầu khấn người con
Ɓà xin cho mấу đứa em hãу còn
Ở trong núi rừng anh dẫn về cho
Xong một ngàу kia ba lá tình thư
Ɲói con bâу giờ đường xa cách trở
Vậу xin kính thờ đôi chữ bình an
Thương con bao tình đêm ba tấm hình
Ɓà thề nguуện dâng con mình cho nước
Thân con lưu lạc mẹ xin phó mặc
Đời con muốn đặt tổ quốc ở trên
Thư rằng mẹ xin thành mẹ Việt Ɲam
Ϲó con sa trường chỉ mong ước rằng
Ɲgàу sau nước còn công ấу nhờ con
Cảm động chuyện đời Mẹ Việt Nam Anh hùng 102 tuổi
Trên đất nước Việt Nam hình chữ S, có hàng nghìn Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng được Nhà nước tặng hoặc truy tặng vì có nhiều cống hiến, hi
sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó có mẹ
Nguyễn Thị Trạch (102 tuổi) ở thôn 4 xã Thạch Long, huyện Thạch Thành
(Thanh Hóa). Mẹ Trạch có hai người con, đã anh dũng hy sinh trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Chân dung Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Trạch.
Cùng
với nhiều làng quê Việt Nam, qua các cuộc kháng chiến, xã Thạch Long
huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) là địa phương có nhiều mẹ đã sản sinh và
nuôi dưỡng ra những người con anh hùng và cũng là một trong những địa
phương có bề dày về lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, có hàng trăm người con của xã Thành Long đã hăng hái
lên đường nhập ngũ, trong đó có hàng chục người con đã anh dũng hy sinh
nơi chiến trường máu lửa. Mất mát vì chiến tranh là vô vàn, song sự mất
mát của những người mẹ là vết thương lòng khó lành nhất bởi các con của
mẹ đã ra đi, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và nỗi
mất mát ấy cứ theo mẹ suốt cả cuộc đời...
Trong
chiến tranh, có biết bao người mẹ đã tiễn đưa các con của mình lên đường
nhập ngũ. Khi hòa bình lập lại, các mẹ chỉ còn biết hy vọng, trông chờ
các con của mình sẽ quay trở về. Thế nhưng các con của mẹ đã ra đi mãi
mãi…
Theo con đường làng, bên những cánh đồng
lúa, chúng tôi tìm về thôn 4 xã Thạch Long, nơi mẹ Trạch đã sinh thành,
nuôi lớn những người con anh hùng. Mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn 40
mươi năm, nhưng nỗi đau thương vẫn còn len lỏi âm thầm trong căn nhà
nhỏ, nơi mẹ Trạch và các con của mẹ cùng chung sống. Ngày ấy, lời ru của
mẹ lắng sâu tâm hồn, nâng đỡ các anh từng bước đi đầu tiên. Theo tiếng
gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bao lớp thanh niên xếp bút nghiên lên
đường chiến đấu. Ngày 20/4/1970 anh Lê Văn Nụ người con trai đầu đã tình
nguyện xin mẹ được lên đường ra chiến trường. Đến đầu tháng 1 năm 1972,
người con thứ hai của mẹ là Lê Văn Nở tiếp tục lên đường nhập ngũ.
Ở
hậu phương, cũng như bao người mẹ khác, mẹ Trạch luôn chắt chiu, chịu
thương chịu khó, làm ra hạt lúa củ khoai, mong ngày đất nước thống nhất
để gia đình được đoàn tụ. Cũng không biết bao lần, mẹ Trạch đứng ở đầu
ngõ trông về phương xa. Nhưng rồi những bức thư của anh Nụ, anh Nở cũng
thưa dần rồi biệt vô âm tín. Để rồi một ngày, mẹ Trạch bàng hoàng khi
nhận được giấy báo anh Lê Văn Nụ đã anh dũng hy sinh khi cùng đồng đội
phá pháo đài Gò Công, thuộc ấp Hựu Thành A, xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công
Tây (Tiền Giang). Cách đó không bao lâu, ngày mùng 4/11/1974 người con
thứ hai là anh Nở tiếp tục hy sinh tại chiến trường Miền Đông, khi anh
vừa tròn 21 tuổi.
Ngồi trò chuyện bên cạnh mẹ,
chúng tôi cảm nhận rất rõ ở nơi mẹ vinh quang luôn tỏa sáng từ giọng nói
đượm buồn, pha lẫn tự hào khi mẹ hồi tưởng về quá khứ. Những giọt nước
mắt mẹ thấm đẫm nỗi nhớ nhung, chua xót bởi chưa một lần mẹ được thăm mộ
các anh.
Ngoài hai liệt sỹ đã hy sinh, mẹ Trạch
sinh được 8 người con (1 người con trai, 7 người con gái). Các con của
mẹ đều đã có gia đình. Hiện anh Lê Văn Thêm (con trai thứ 9) đang là
người phụng dưỡng, chăm lo sức khỏe cho mẹ. Theo anh Thêm, lúc anh Nụ,
anh Nở nhập ngũ, mấy chị em cũng đang còn nhỏ. Mặc dù gia đình khó khăn
nhưng mẹ Trạch vẫn chăm lo cho các con ăn học đầy đủ. Trong những ngày ở
chiến trường, anh Nụ, anh Nở thường xuyên biên thư về hỏi thăm mẹ,
nhưng rồi thư tín cũng thưa dần. Cũng kể từ đó, mấy chị em ở nhà ai cũng
thương và lo lắng cho hai anh, mãi sau này gia đình mới nhận được giấy
báo tử.
Về phần mộ của anh Nụ, anh Nở, do điều
kiện kinh tế gia đình khó khăn, hơn nữa tuổi cao, sức yếu nên mẹ Trạch
cũng chưa một lần đến thăm mộ các con. Phần mộ của anh Nụ gia đình chỉ
biết tọa độ, còn mộ của anh Nở thì bị vùi lấp do xây dựng thủy điện Trị
An. Để tưởng nhớ các anh, cứ vào ngày giỗ, Sở Tài nguyên và Môi trường
kết hợp cùng Nhà máy Thủy điện Trị An lại tổ chức đóng bè chuối, đặt
bánh keo rồi thả xuôi xuống dòng sông Đồng Nai.
Hàng
năm chính quyền, các tổ chức đoàn thể cũng đều đến tặng quà, thăm hỏi
sức khỏe mẹ. Mẹ Trạch còn được Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn nhận nuôi dưỡng
suốt đời với mức hỗ trợ 3 triệu đồng một quý. Hàng năm nhân dịp Ngày
Thương binh - Liệt sỹ, ngày lễ tết, Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn còn gửi quà
về cho mẹ Trạch.
Cả xã Thạch Long huyện Thạch
Thành có 9 Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhưng hiện 8 mẹ đã ra đi. Xã chỉ còn
lại mẹ Trạch tuổi đã cao nhưng vẫn minh mẫn.
Theo
ông Lê Xuân Thủy, Chủ tịch xã Thạch Long cho biết: “Năm 2016, Đảng ủy,
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn
thể phối hợp cùng với gia đình tổ chức Lễ đại thọ mừng mẹ Trạch tròn 100
tuổi. Về việc thực hiện chế độ chính sách đối với người có công, nhìn
chung, xã Thạch Long đều ưu tiên cho Mẹ Việt Nam Anh hùng, sau đó mới
đến các đồng chí thương bệnh binh nặng, mẹ liệt sỹ... Mừng là đã 102
tuổi nhưng mẹ Trạch rất minh mẫn, khỏe mạnh”. Sự hy sinh, cống hiến cao
cả của các mẹ đã góp phần làm rạng danh cho sự trường tồn của dân tộc.
M.Phượng - T.Hương
Quê Mẹ - Duy Khánh
Lời bài hát Lối Về Đất Mẹ
Lời bài hát Lối Về Đất Mẹ
Ngày qua giã từ đất mẹ mà đi
Vì nghe tình quê tình nước đôi bề
Nước chia hai đường nước chưa về
Trót thương cho người lỡ câu thề
Lên đường từ ly, hỏi rằng lòng lưu luyến gì
Mẹ ơi chỉ còn đất mẹ mà thôi
để con, còn đi gìn giữ cho đời
đã mang trong lòng kiếp con người
Phải thương nhau hoài chớ quên lời
Mong một ngày mai chan hòa đất mẹ niềm vui
À ơi ... à ơi .....à ơi
Mẹ thương con ra cầu ái tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Chiều chiều trông về viễn khu
Lòng căm hờn oán quân thù
À ơi ... à ơi .....à ơi
Chiều nay lối về đất mẹ là đây
Đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy
Có nghe đêm trường tiếng ai cười
Có nghe đêm trường tiếng ru hời
Suối lệ đoàn viên giữa lòng đất mẹ triền miên
Ngày qua giã từ đất mẹ mà đi
Vì nghe tình quê tình nước đôi bề
Nước chia hai đường nước chưa về
Trót thương cho người lỡ câu thề
Lên đường từ ly, hỏi rằng lòng lưu luyến gì
Mẹ ơi chỉ còn đất mẹ mà thôi
để con, còn đi gìn giữ cho đời
đã mang trong lòng kiếp con người
Phải thương nhau hoài chớ quên lời
Mong một ngày mai chan hòa đất mẹ niềm vui
À ơi ... à ơi .....à ơi
Mẹ thương con ra cầu ái tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Chiều chiều trông về viễn khu
Lòng căm hờn oán quân thù
À ơi ... à ơi .....à ơi
Chiều nay lối về đất mẹ là đây
Đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy
Có nghe đêm trường tiếng ai cười
Có nghe đêm trường tiếng ru hời
Suối lệ đoàn viên giữa lòng đất mẹ triền miên
Nhạc sĩ An Thuyên đã “chọn lối” về đất mẹ
Dù viết rất nhiều tác phẩm có chất liệu dân ca khắp các vùng miền, nhưng nhạc sĩ “Ca dao em và tôi” từng chia sẻ, ông thích nhất bài hát đầu tay “Em chọn lối này” – một ca khúc có đầy sự hồn nhiên, bản năng của xúc cảm và kỹ thuật. Nay, ông đã chọn được “lối về” với những yêu thương hoang sơ nhất – về với đất mẹ, tâm hồn ông đã “neo đậu bến quê”.
03/07/2015, 21:45
Tin nhạc sĩ An Thuyên ra đi đột ngột khiến không ít người đau xót. NSND
Thu Hiền, ca sĩ Anh Thơ cho biết, họ đều đang rất bàng hoàng và và sốc
trước tin dữ này.
Nhạc sĩ
An Thuyên sinh ngày 15/8/1949 tại Quỳnh Lưu – Nghệ An. Cũng như bao
chàng trai sinh ra thời đó, ông từng trải qua những ngày tháng vất vả,
nghèo đói. Tuy vậy, mảnh đất nghèo vật chất nhưng giàu nghĩa tình đã
nuôi nấng tâm hồn nhạc sĩ. Hơn 10 tuổi, An Thuyên đã kéo nhị cho nhiều
người tập đàn. Khoảng cuối những năm 1960, khi còn là một chàng trai
trẻ, ông được tham gia công tác sưu tầm, nghiên cứu dân ca ở địa
phương.
Những chuyến đi dọc dải sông Lam, từ Anh
Sơn, Đô Lương, Thanh Chương đến Cửa Hội, Quỳnh Lưu… trong suốt 5 năm,
với hàng trăm cuốn băng tự thu, qua nhiều làng quê, gặp nhiều nghệ nhân –
những tinh túy của người dân xứ Nghệ kết tinh đã tạo thành vốn sống,
chảy trong huyết mạch của ông tới tận hôm nay. Đó là một trong các lý do
khiến nhạc sĩ An Thuyên trở thành người có “gia tài” âm nhạc đậm chất
dân gian xứ Nghệ.
Nhạc sĩ An Thuyên
Thế nhưng, ca khúc đầu tay nhạc sĩ viết lại là một tác phẩm mang âm hưởng dân ca Thái – bài hát “Em chọn lối này”. Ca khúc này được nhạc sĩ viết trong 30 phút, vào cuối thập kỷ 60, khi ông mới chỉ biết ký âm và chưa từng học qua nhạc lý. “Tôi thích bài hát này bởi sự hồn nhiên và bản năng trong cảm xúc cũng như kỹ thuật” – lời An Thuyên từng nói. Khoảng năm 1982 ông mới ra thủ đô, chính thức theo học ngành sáng tác ở Nhạc viện Hà Nội.
Nhạc sĩ An Thuyên là người cần cù và đầy
tự trọng trong cả công việc, cách sống và sáng tác. Nhạc sĩ lựa chọn một
cách làm riêng – cách thể hiện ý chí của người con xứ Nghệ – “trèo lên vai cha ông để nói tiếng thời đạt mình”.
Đó cũng là cách ông lựa chọn để gửi vào trong mỗi sáng tác, tinh thần
sống, tiếng nói của thế hệ mình, nhưng lại luôn bắt rễ từ những tinh hoa
chắt chiu ông học được từ dân gian. Nếu bài hát “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (1974) – ca khúc ông viết ở tuổi ngoài đôi mươi – vừa viết vừa khóc vì tình yêu dành cho lãnh tụ, thì bài “Neo đậu bến quê” (1993) lại là tâm tư của ông khi ông vướng mắc trong quản lý, định về quê ở ẩn, trồng ngô. Cũng như vậy, ca khúc “Mẹ Việt Nam anh hùng” (1995) lại là những lời được cất lên từ lòng kính yêu dành cho những người mẹ vĩ đại của dân tộc.
Sinh ra trong một gia đình có bố mẹ đều
làm công việc liên quan đến kịch nghệ dân gian, nhạc sĩ An Thuyên từng
chia sẻ, Nghệ Tĩnh (chỉ Nghệ An và Hà Tĩnh thời chưa tách tỉnh – PV) đã
cho ông tất cả: cuộc sống, sự nghiệp và dạy ông tư cách làm người. Ông
là người đã thực sự lựa chọn cách viết riêng, sử dụng thế mạnh hiểu biết
về dân ca xứ Nghệ nói riêng, văn hóa dân gian nói chung để đưa vào các
tác phẩm của mình. Với ông, dân ca, ví dặm thực chất mang nỗi buồn thăm
thẳm tận đáy của con người Nghệ Tĩnh – cũng là sự thẳm sâu của tâm hồn
người Việt. Có lẽ vì vậy, các bài hát của ông được nhiều người yêu thích
đều mênh mang những nỗi niềm sâu lắng: “Neo đậu bến quê” (1993), “Ca dao em và tôi” “Chiều sông Thương”… là những bài ca như thế.

Nếu với ông, ca khúc “Giận mà thương”
của nhạc sĩ Nguyễn Trung Phong là tác phẩm để đời, là bài hát dân ca
Nghệ – Tĩnh hay nhất mọi thời đại, thì với nhiều người yêu nhạc, bài hát
“Ca dao em và tôi” ngập tràn âm hưởng dân ca vùng xứ Nghệ là
ca khúc viết về lứa đôi gắn với quê hương hay nhất. Các tác phẩm của ông
đã chứng minh rằng, ông là một người dù đi suốt đời cũng không rời xa
những điệu dân ca xứ mình.
Trong sáng tác, nhạc sĩ An Thuyên là một
người đau đáu với những tác phẩm viết về quê hương, xứ sở, còn trên
cương vị là cựu Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội,
ông rất được đồng nghiệp và học trò quý trọng. Trong gia đình, ông tự
nhận mình là “thành phần phụ thuộc – là nhân viên của vợ”. Ông có hai người con đều theo nghệ thuật là con gái – ca sĩ Bông Mai, và con trai – nhạc sĩ An Hiếu.
Cả đời An Thuyên đã sống, cống hiến và nỗ
lực để nền âm nhạc Việt Nam lưu danh như một nghệ sĩ nói giọng Nghệ
mang tâm hồn Việt Nam. Mong ước ấy của ông có lẽ đã thành!
Người “chọn lối” (từ dùng trong bài hát: “Em chọn lối này”) đã thực sự về với cội nguồn của “ca dao” (từ dùng trong bài hát: “Ca dao em và tôi”) là đất mẹ. Và lần này ông đã thực sự “neo đậu bến quê” với con đò, bãi ngô và những giọng hò.
Nhạc sĩ An Thuyên sinh ngày 15/08/1949
tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông mất ngày 3/07/2015 Tại Bệnh Viện Quân y 108,
Hà Nội, vì bệnh nhồi máu cơ tim.
Các ca khúc nổi tiếng: “Em chọn lối này”, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (1974), “Hành quân lên Tây Bắc”, “Khi xe tăng qua miền Quan họ” (1984), “Thơ tình của núi”, “Chín bậc tình yêu”, “Huế thương” (1992), “Neo đậu bến quê” (1993), “Mẹ Việt Nam anh hùng” (1995), “Ca dao em và tôi”, “Chiều sông Thương” (nhạc: An Thuyên, thơ: Hữu Thỉnh)…
Bài: Hải Khôi
Ảnh: Internet
phương trời xứ lạ - Duy khánh
Lời bài hát Phương trời xứ lạ
Hôm nào em ra đi anh thẫn thờ trên phố nhỏ
Mâу chiều giăng lối đi em đứng nhìn mắt bơ vơ
Tóc xõa từ bờ vai hoen mi sầu rưng rưng lệ
Ϲho tròn tuổi tình уêu lúc ban đầu xa cách nhau
Ɓâу giờ anh ở lại nơi phương trời xa xứ lạ
Thương người em gái kia nơi quê nhà ngóng trông tin
Phố cũ hỡi đường xưa naу chỉ còn trong kỷ niệm
Ѕao đời gieo đắng caу để cho đời thương nhớ ai ...
Ɲaу .. phố vắng em rồi,
Ai đưa đón em về cùng dìu nhau đếm sao rơi
Ɛm, em tôi đâu rồi,
Ɛm tôi đâu rồi để cung đàn kia gãу .. đôi
Phương trời xa xứ lạ đôi taу gầу ôm kỷ niệm
Ɗuуên tình của chúng ta coi như là áng mâу trôi
Anh chỉ tìm lại em trong men tình caу môi mặn
Mơ ngàу chung lứa đôi để cho đời thôi đắng caу
Tình tự quê hương trong văn chương Võ Phiến
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2008-07-06
2008-07-06
Cuốn Vo Phien and the Sadness of Exile.
Photo: RFA
Những hạt ngọc trong đời thường
Nhà văn Võ Phiến đến với người đọc rất sớm, từ đầu thập niên 1940, những bài viết của ông đã xuất hiện đây đó trên nhiều tờ báo. Và cũng bắt đầu từ đó cho tới gần sáu mươi năm sau, Võ Phiến đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm đủ loại trong đó thể loại mà ông được độc giả yêu mến nhất là tùy bút.Tuần này chúng tôi xin giới thiệu một góc sáng tác mang nặng tình tự của ông đối với quê hương, không phải chỉ khi ra nước ngoài mới có, mà đã xuất hiện từ lâu trong nhiều tác phẩm của ông thời kỳ trước 75 lúc chưa lưu lạc.
Tuỳ bút của Võ Phiến được xem là tiêu biểu cho một phong cách riêng, là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của thể loại tuỳ bút. Nói đến tuỳ bút Việt Nam thì người ta không thể không nhắc tới Võ Phiến.Nhà văn Võ Phiến đi nhiều, từ thời gian còn trong nước cho đến khi ra hải ngoại. Đi đến đâu ông cũng đều tỉ mẩn ghi chép lại những chi tiết xảy ra chung quanh và chọn lọc những gì nổi bật nhất.
Nguyễn Hưng Quốc
Qua ngòi bút của Võ Phiến, các chi tiết tưởng chừng như vô bổ đôi khi lại vỡ ra những hạt ngọc bí ẩn mà trong đời thường nếu không chú ý bằng một đôi mắt sắc sảo sẽ không dễ dàng phát hiện.
Nói về thể loại tùy bút của ông, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:
"Nhìn một cách tổng quát, trường hợp của Võ Phiến thì từ truyện dài đến truyện ngắn sau rất nhiều năm nhiều người vẫn còn khen là đọc được và vẫn còn thấy là hay, tuy nhiên, võ phiến được khen ngợi nhiều nhất vẫn là ở thể tuỳ bút.
Tuỳ bút của Võ Phiến được xem là tiêu biểu cho một phong cách riêng, là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của thể loại tuỳ bút. Nói đến tuỳ bút Việt Nam thì người ta không thể không nhắc tới Võ Phiến, cũng như không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân hay Thạch Lam thuộc thế hệ trước của ông.
Riêng trong lãnh vực phê bình và biên khảo, dù lúc nào Võ Phiến cũng khiêm tốn tự cho mình là người ngoại đạo, nhưng rõ ràng là ông có rất nhiều cống hiến. Ông viết nhiều và viết hay.
Ở Miền Nam trước đây, Võ Phiến là một trong những người đầu tiên giới thiệu phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp. Ông cũng là người đầu tiên tìm hiểu ảnh hưởng của khẩu ngữ và của văn hoá đại chúng trong vòng Miền Nam mà cũng là của Việt Nam nói chung." Cách nhìn những sự việc diễn ra trong đời sống của Võ Phiến khiến người ta liên tưởng đến ánh mắt của một con mèo đang chờ mồi, kiên nhẫn và bén ngót. Con ngươi không lay động khi chiếu vào sự việc của Võ Phiến như thôi miên người đọc, ông khiến người ta nín thở bằng cách nhìn của ông và đôi mắt ấy đã nhìn thay người đọc, cảm giác thay cái cảm giác mà ai cũng phải cảm thấy khi được chứng kiến cảnh mà anh Năm Hà chứng kiến trong truyện "Nhớ Làng" sau đây:
“Một hôm, giữa trưa, anh từ ngoài đồng về bất thình lình, trông thấy cửa buồng đóng kín. Anh lắng tai nghe: có tiếng động bên trong. Anh Năm Hà choáng váng, bỗng nhiên đâm quýnh, vừa thấy mình cần phải có một hành động lại vừa không biết mình phải làm gì.
Bất giác anh áp mặt vào cánh cửa, cố nhìn qua một khe hở. Không trông thấy được gì: khe cửa nhỏ quá. Anh xoay trở, nghiêng đầu sang bên này, ngoẻo sang bên kia.
Cuối cùng anh trông thấy. Chỉ thấy được một khoảng nhỏ xíu thôi. Anh Năm Hà thấy một bàn chân đàn bà đang nằm, bàn chân của chị ấy. Trên mặt chiếu, bàn chân xuôi xuống, cố hết sức chúc mũi xuống, như kiễng chân nhón gót. Bốn ngón chân quắp xuống, còn ngón chân cái thì rướn cong lên. Nó rướn cong, ôi chao, quá sức nó, làm nổi cao một sợi gân.
Trời, ngón chân cái, nó rướn cong như cái đuôi con chuột trong cơn hấp hối, bị kẹp nát đầu trong chiếc bẫy, cái đuôi oằn lên trước khi con vật chết hẳn... Anh Năm Hà cuống cuồng, run bấn. Cái gì vậy?
Trước mặt anh, ngón chân cái oằn lên... Anh Năm Hà nghẹn cứng ngang cổ, không thở được nữa. Cuối cùng, cổ phát ra một tiếng hực, rồi nước mắt anh tuôn ra...”
Võ Phiến diễn tả trạng thái của Năm Hà với ánh mắt vừa thương vừa giận. Anh Năm Hà là một nhân vật đáng thương trong làng của Võ Phiến. Anh ta cũng là hình ảnh của một thời kỳ ly tán mà cả làng của nhà văn gặp phải.
Gắn bó với làng quê VN
Ngoài anh Năm Hà ra Võ Phiến còn nhiều người khác nữa để giới thiệu với chúng ta. Tuy nhiều nhưng thực ra Võ Phiến chỉ đưa ra một vài nhân vật để miêu tả những nét chung mà ông gắn bó.Võ Phiến gắn bó với làng quê của ông một cách chung thủy đến kỳ lạ. Từ những năm còn trong nước, khi đang hít thở không khí của Sài Gòn thì ông nhớ Bình Định, nơi làng quê của ông.
Và rồi bỏ xứ chạy đi qua tới Mỹ ông lại tiếp tục nhớ làng nhớ quê, và nỗi nhớ này có khi làm người đọc ông cảm thấy bấn loạn nếu cùng cảnh ngộ với ông. Người đọc cảm thấy chữ nghĩa của ông hình như chỉ dành để mà diễn tả mối cảm tình da diết đối với một kỷ niệm nào đó nhưng lại ăn sâu đến một nếp sống mà ông từng trải qua.
Hãy nghe ông nói về cách thử nước mắm của gia đình ông, mà hình như cũng là của hàng vạn gia đình tại Miền Trung gắn liền với thói quen này. Ông nhẩn nha đọc lại chính xác những hình ảnh cả gia đình quây quần bên chị bán nước mắm với những chi tiết bất ngờ thú vị:
“Ngày ấy mỗi lần có gánh nước mắm bán dạo ghé vào nhà là cả một sự xôn xao. Bởi vì thường thường không một ai trong gia đình mà đủ tự tin vào tài nội trợ của mình để có thể một mình kiêu hãnh quyết định về giá trị một thứ nước mắm.
Người bán nước mắm cùng chiếc gáo nhỏ xíu làm bằng sọ quả dừa xiêm đẹt, chỉ lớn hơn thứ gáo của bạn hàng dầu vốn làm bằng sọ quả mù u, lớn hơn một chút thôi. Người hàng mắm vục gáo vào "thõng", múc lên lưng gáo, rót một tí vào cái chén con sạch sẽ, đưa mời.
Cô tôi đón lấy chén, đưa lên mũi, ngửi qua. mắt nhìn ngưng lại giữa khoảng không, ngẫm nghĩ, thẩm định... Xong, một cách thận trọng, cô mới le lưỡi nhắm tí nước mắm. Rồi lặng lẽ trầm tư, cô trao cái chén về phía thím tôi.
Nhưng bà tôi sốt sắng, nóng nẩy, đã vội vàng đưa tay vẫy gọi. Và thím chuyền ngay chén mắm sang bà. Lại ngửi, lại nếm. Sau đó đến lượt thím tôi: lại ngửi, lại nếm...
Nhà văn Võ Phiến không muốn chúng ta nghĩ rằng ông cổ vũ cho việc thử nước mắm. Ông dẫn người đọc đến một ý khác. Ý hướng lo sợ những thú vui nho nhỏ làng quê sẽ mất đi trước sự tấn công của nền văn minh ăn uống.
Ông diễn tả những cô gái từng thử nước mắm ở Bình Định, một hôm vào đến Cà Mau đòi thử nước mắm ở một thùng liều nào đó thì sự thể như thế nào? ông viết:
Tôi đã nghĩ đến sự bối rối của các cô có một hôm vào xem một xưởng nước mắm ở Cà Mau. Còn người chủ xưởng thì cười ngất về sự bối rối đó:
-Nếm mắm? Bây giờ có ai mua bán kỳ cục như vậy đâu?
Tôi sững sờ, nghệch người ra. Con người quê kệch tha hồ trải qua bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời của thời đại vẫn không hề tưởng tượng rằng cái món nước mắm gần gũi hàng ngày đã trải qua những biến thiên ghê gớm như thế.
Khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...Bây giờ bậc thang giá trị của nước mắm được quy định căn cứ trên chất đạm. Bây giờ không còn có thứ nước mắm thơm hơn thơm kém, thứ nước có hậu và không có hậu v..v..chỉ có những thứ nước bảy chất, tám chất, mười chất, mười ba chất...
Võ Phiến
Mỗi chất là một phần trăm chất đạm: đưa chuyên viên phân tích xong, căn cứ vào giá biểu xem mỗi "chất" giá bao nhiêu. Làm một bài toán nhân thế là xong. Việc gì có chuyện nếm với ngửi trong đó?
Người Việt Nam mất đi cái tinh tế đối với nước mắm mà lạ ư? Không đâu. Trong cái ăn uống của dân tộc đã có những thay đổi động trời hơn nữa....
Khảo sát những xã hội gồm nhiều giống dân di cư đến, như xã hội Hoa Kỳ, người ta để ý thấy một khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...
Thế mà...
Hai chữ "thế mà" lững lơ của nhà văn như một lời tiên tri, bốn năm sau, vào năm 1976, khi nhà văn ngồi tại Mỹ cô độc, nhìn ngắm những thú vui mới của người Việt xa quê, ông thao thức với những câu hỏi mà mới nghe qua ai cũng chau mày, xót ruột:Giữa cảnh vật ấy, thỉnh thoảng Việt kiều gặp Việt kiều. Bà con nhìn nhau, thường thường cùng ngấm ngầm một cảm tưởng: "Tiếc quá! Thế này mà không phải là quê hương ta!"
Phải chi cảnh đẹp đẽ và thanh bình này mà "ở ta" thì cái thú thưởng ngoạn mới đậm đà ngây ngất đến đâu! Ở ta thì có cảnh lại có tình, có cái lộng lẫy của hiện tại còn có các kỷ niệm của quá khứ lẩn quất. Cho nên thú ngoạn cảnh lại càng thấm thía.
Còn như không ở ta, cảnh vật tự trình diễn trước những con mắt thán phục mà bỡ ngỡ. Trên bãi cỏ này, sườn đồi này, khúc sông kia, chúng ta chưa kịp có một kỷ niệm nào cả. Cho nên cảnh không có tình.
Đi trên bờ sông Mississippi, nghĩ tới Mark Twain. Nghe nói ông ta yêu sông Mississippi. Tha thiết với sông, lấy một âm thanh từ cái sinh hoạt của hạng người làm ăn sinh sống trên sông mà làm bút hiệu.
Còn chúng ta ngày nay, yêu sông chỉ biết giương mắt mà nhìn sông chứ đã biết đâu cái sinh hoạt trên sông Mississippi, như biết giọng hò điệu hát trên sông Hương, sông Đồng Nai, sông Ông Đốc v..v...Yêu cảnh mà không biết đến cuộc sống trong khung cảnh ấy thì làm sao yêu thắm thiết?
Thế nhưng, nghĩ đến một ngày kia khi chúng ta đã thâm nhập vào cuộc sống xứ này đến cái độ không còn mỗi lúc mỗi hồi tưởng về những kỷ niệm ở quê hương... có cái ngày ấy chăng? Dù sao chỉ nghĩ tới đã thấy xót xa.
Võ Phiến xứng đáng là một nhà văn lớn. Ông xứng đáng được độc giả yêu thương như họ đã từng yêu thương làng quê thân thiết.
Văn chương của Võ Phiến dẫn người ta về nguồn bất kể họ đang ở đâu trong hay ngoài nước, vì ở đâu ông cũng canh cánh một nỗi niềm ly hương ngay khi còn sống trong chính mảnh đất của mình: Quê hương Bình Định.
Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết
Tổng hợp những hình ảnh đẹp về hoa mai hoa đào tết cổ truyền dân tộc Việt Nam
Hoa Đào rừng miền Tây Bắc
Hoa đào trắng hồng tuyệt đẹp
Hoa đào đỏ hồng
Hoa đào ngày tết
Hoa mai ngày tết
Hình ảnh hoa mai
Hoa mai trắng
Hoa mai
hoa mai
Hình hoa mai

Nhận xét
Đăng nhận xét