Chuyển đến nội dung chính

BUỒN NHỚ MÊNH MANG 8

(ĐC sưu tầm trên NET)

Chiều

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Xuân Diệu » Thơ thơ (1938)

Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...

Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
- Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...


                                                      Lòng Mẹ Việt Nam - Duy Khánh

Lời bài hát Lòng mẹ Việt Nam


Ɓà tư bán hàng có bốn người con
Thằng hai đã lớn ba em hãу còn
Học theo các trường naу đã thành khôn
Ɲăm loạn lạc kia trong nước Việt Ɲam
Mấу con của bà đều lên lối đường
Đầu quân chiến trường theo chí người dân
Đem thân lên đường xông pha chiến trường
Đành lòng bỏ xa gia đình từ đó
Kiếp sống tung hoành quên thân xác mình
Hằng mong ước thành công lớn về sau
Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên
Ѕuốt ba năm liền bà tư mẫu hiền
Ɲgàу đêm khấn nguуện cho mấу người con
Ɓà tư nóng lòng đêm nhớ đàn con
Gần đâу vài tháng có nghe tiếng đồn
Ɲgười con lớn bà đang sống ngoài xa
Ɲhân cuộc hành binh tháng chín thời kia
Đứa con của bà chẳng maу mắc nạn
Ɲgàу naу đã nằm trên chiến địa xa
Đem hung tin về người kia lỗi thề
Vì người con trai ước rằng khi chết
Ϲhớ nói cho bà tin anh vĩnh biệt
Kẻo đem nói thiệt thân mẫu tủi thương
Anh để một thư nhờ người gửi đưa
Ϲhiếc thư mong chờ ngàу sau nước độc lập
Ϲon sẽ gặp mẹ đứng chờ con
Ɓà tư thắp đèn cầu khấn người con
Ɓà xin cho mấу đứa em hãу còn
Ở trong núi rừng anh dẫn về cho
Xong một ngàу kia ba lá tình thư
Ɲói con bâу giờ đường xa cách trở
Vậу xin kính thờ đôi chữ bình an
Thương con bao tình đêm ba tấm hình
Ɓà thề nguуện dâng con mình cho nước
Thân con lưu lạc mẹ xin phó mặc
Đời con muốn đặt tổ quốc ở trên
Thư rằng mẹ xin thành mẹ Việt Ɲam
Ϲó con sa trường chỉ mong ước rằng
Ɲgàу sau nước còn công ấу nhờ con

Cảm động chuyện đời Mẹ Việt Nam Anh hùng 102 tuổi

Trên đất nước Việt Nam hình chữ S, có hàng nghìn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được Nhà nước tặng hoặc truy tặng vì có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó có mẹ Nguyễn Thị Trạch (102 tuổi) ở thôn 4 xã Thạch Long, huyện Thạch Thành (Thanh Hóa). Mẹ Trạch có hai người con, đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Chân dung Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Trạch.
Cùng với nhiều làng quê Việt Nam, qua các cuộc kháng chiến, xã Thạch Long huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) là địa phương có nhiều mẹ đã sản sinh và nuôi dưỡng ra những người con anh hùng và cũng là một trong những địa phương có bề dày về lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có hàng trăm người con của xã Thành Long đã hăng hái lên đường nhập ngũ, trong đó có hàng chục người con đã anh dũng hy sinh nơi chiến trường máu lửa. Mất mát vì chiến tranh là vô vàn, song sự mất mát của những người mẹ là vết thương lòng khó lành nhất bởi các con của mẹ đã ra đi, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và nỗi mất mát ấy cứ theo mẹ suốt cả cuộc đời...
Trong chiến tranh, có biết bao người mẹ đã tiễn đưa các con của mình lên đường nhập ngũ. Khi hòa bình lập lại, các mẹ chỉ còn biết hy vọng, trông chờ các con của mình sẽ quay trở về. Thế nhưng các con của mẹ đã ra đi mãi mãi…
Theo con đường làng, bên những cánh đồng lúa, chúng tôi tìm về thôn 4 xã Thạch Long, nơi mẹ Trạch đã sinh thành, nuôi lớn những người con anh hùng. Mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn 40 mươi năm, nhưng nỗi đau thương vẫn còn len lỏi âm thầm trong căn nhà nhỏ, nơi mẹ Trạch và các con của mẹ cùng chung sống. Ngày ấy, lời ru của mẹ lắng sâu tâm hồn, nâng đỡ các anh từng bước đi đầu tiên. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bao lớp thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Ngày 20/4/1970 anh Lê Văn Nụ người con trai đầu đã tình nguyện xin mẹ được lên đường ra chiến trường. Đến đầu tháng 1 năm 1972, người con thứ hai của mẹ là Lê Văn Nở tiếp tục lên đường nhập ngũ.
Ở hậu phương, cũng như bao người mẹ khác, mẹ Trạch luôn chắt chiu, chịu thương chịu khó, làm ra hạt lúa củ khoai, mong ngày đất nước thống nhất để gia đình được đoàn tụ. Cũng không biết bao lần, mẹ Trạch đứng ở đầu ngõ trông về phương xa. Nhưng rồi những bức thư của anh Nụ, anh Nở cũng thưa dần rồi biệt vô âm tín. Để rồi một ngày, mẹ Trạch bàng hoàng khi nhận được giấy báo anh Lê Văn Nụ đã anh dũng hy sinh khi cùng đồng đội phá pháo đài Gò Công, thuộc ấp Hựu Thành A, xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây (Tiền Giang). Cách đó không bao lâu, ngày mùng 4/11/1974 người con thứ hai là anh Nở tiếp tục hy sinh tại chiến trường Miền Đông, khi anh vừa tròn 21 tuổi.
Ngồi trò chuyện bên cạnh mẹ, chúng tôi cảm nhận rất rõ ở nơi mẹ vinh quang luôn tỏa sáng từ giọng nói đượm buồn, pha lẫn tự hào khi mẹ hồi tưởng về quá khứ. Những giọt nước mắt mẹ thấm đẫm nỗi nhớ nhung, chua xót bởi chưa một lần mẹ được thăm mộ các anh.
Ngoài hai liệt sỹ đã hy sinh, mẹ Trạch sinh được 8 người con (1 người con trai, 7 người con gái). Các con của mẹ đều đã có gia đình. Hiện anh Lê Văn Thêm (con trai thứ 9) đang là người phụng dưỡng, chăm lo sức khỏe cho mẹ. Theo anh Thêm, lúc anh Nụ, anh Nở nhập ngũ, mấy chị em cũng đang còn nhỏ. Mặc dù gia đình khó khăn nhưng mẹ Trạch vẫn chăm lo cho các con ăn học đầy đủ. Trong những ngày ở chiến trường, anh Nụ, anh Nở thường xuyên biên thư về hỏi thăm mẹ, nhưng rồi thư tín cũng thưa dần. Cũng kể từ đó, mấy chị em ở nhà ai cũng thương và lo lắng cho hai anh, mãi sau này gia đình mới nhận được giấy báo tử.
Về phần mộ của anh Nụ, anh Nở, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, hơn nữa tuổi cao, sức yếu nên mẹ Trạch cũng chưa một lần đến thăm mộ các con. Phần mộ của anh Nụ gia đình chỉ biết tọa độ, còn mộ của anh Nở thì bị vùi lấp do xây dựng thủy điện Trị An. Để tưởng nhớ các anh, cứ vào ngày giỗ, Sở Tài nguyên và Môi trường kết hợp cùng Nhà máy Thủy điện Trị An lại tổ chức đóng bè chuối, đặt bánh keo rồi thả xuôi xuống dòng sông Đồng Nai.
Hàng năm chính quyền, các tổ chức đoàn thể cũng đều đến tặng quà, thăm hỏi sức khỏe mẹ. Mẹ Trạch còn được Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn nhận nuôi dưỡng suốt đời với mức hỗ trợ 3 triệu đồng một quý. Hàng năm nhân dịp Ngày Thương binh - Liệt sỹ, ngày lễ tết, Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn còn gửi quà về cho mẹ Trạch.
Cả xã Thạch Long huyện Thạch Thành có 9 Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhưng hiện 8 mẹ đã ra đi. Xã chỉ còn lại mẹ Trạch tuổi đã cao nhưng vẫn minh mẫn.
Theo ông Lê Xuân Thủy, Chủ tịch xã Thạch Long cho biết: “Năm 2016, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể phối hợp cùng với gia đình tổ chức Lễ đại thọ mừng mẹ Trạch tròn 100 tuổi. Về việc thực hiện chế độ chính sách đối với người có công, nhìn chung, xã Thạch Long đều ưu tiên cho Mẹ Việt Nam Anh hùng, sau đó mới đến các đồng chí thương bệnh binh nặng, mẹ liệt sỹ... Mừng là đã 102 tuổi nhưng mẹ Trạch rất minh mẫn, khỏe mạnh”. Sự hy sinh, cống hiến cao cả của các mẹ đã góp phần làm rạng danh cho sự trường tồn của dân tộc.
M.Phượng - T.Hương


 
Quê Mẹ - Duy Khánh

Lời bài hát Lối Về Đất Mẹ

Lời bài hát Lối Về Đất Mẹ
Ngày qua giã từ đất mẹ mà đi
Vì nghe tình quê tình nước đôi bề
Nước chia hai đường nước chưa về
Trót thương cho người lỡ câu thề
Lên đường từ ly, hỏi rằng lòng lưu luyến gì

Mẹ ơi chỉ còn đất mẹ mà thôi
để con, còn đi gìn giữ cho đời
đã mang trong lòng kiếp con người
Phải thương nhau hoài chớ quên lời
Mong một ngày mai chan hòa đất mẹ niềm vui

À ơi ... à ơi .....à ơi
Mẹ thương con ra cầu ái tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Chiều chiều trông về viễn khu
Lòng căm hờn oán quân thù
À ơi ... à ơi .....à ơi

Chiều nay lối về đất mẹ là đây
Đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy
Có nghe đêm trường tiếng ai cười
Có nghe đêm trường tiếng ru hời
Suối lệ đoàn viên giữa lòng đất mẹ triền miên

Nhạc sĩ An Thuyên đã “chọn lối” về đất mẹ

Dù viết rất nhiều tác phẩm có chất liệu dân ca khắp các vùng miền, nhưng nhạc sĩ “Ca dao em và tôi” từng chia sẻ, ông thích nhất bài hát đầu tay “Em chọn lối này” – một ca khúc có đầy sự hồn nhiên, bản năng của xúc cảm và kỹ thuật. Nay, ông đã chọn được “lối về” với những yêu thương hoang sơ nhất – về với đất mẹ, tâm hồn ông đã “neo đậu bến quê”.

03/07/2015, 21:45

Tin nhạc sĩ An Thuyên ra đi đột ngột khiến không ít người đau xót. NSND Thu Hiền, ca sĩ Anh Thơ cho biết, họ đều đang rất bàng hoàng và và sốc trước tin dữ này.
Nhạc sĩ An Thuyên sinh ngày 15/8/1949 tại Quỳnh Lưu – Nghệ An. Cũng như bao chàng trai sinh ra thời đó, ông từng trải qua những ngày tháng vất vả, nghèo đói. Tuy vậy, mảnh đất nghèo vật chất nhưng giàu nghĩa tình đã nuôi nấng tâm hồn nhạc sĩ. Hơn 10 tuổi, An Thuyên đã kéo nhị cho nhiều người tập đàn. Khoảng cuối những năm 1960, khi còn là một chàng trai trẻ, ông được tham gia công tác sưu tầm, nghiên cứu dân ca ở địa phương. 
Những chuyến đi dọc dải sông Lam, từ Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương đến Cửa Hội, Quỳnh Lưu… trong suốt 5 năm, với hàng trăm cuốn băng tự thu, qua nhiều làng quê, gặp nhiều nghệ nhân – những tinh túy của người dân xứ Nghệ kết tinh đã tạo thành vốn sống, chảy trong huyết mạch của ông tới tận hôm nay. Đó là một trong các lý do khiến nhạc sĩ An Thuyên trở thành người có “gia tài” âm nhạc đậm chất dân gian xứ Nghệ.
Nhạc sĩ An Thuyên
Thế nhưng, ca khúc đầu tay nhạc sĩ viết lại là một tác phẩm mang âm hưởng dân ca Thái – bài hát “Em chọn lối này”. Ca khúc này được nhạc sĩ viết trong 30 phút, vào cuối thập kỷ 60, khi ông mới chỉ biết ký âm và chưa từng học qua nhạc lý. “Tôi thích bài hát này bởi sự hồn nhiên và bản năng trong cảm xúc cũng như kỹ thuật” – lời An Thuyên từng nói. Khoảng năm 1982 ông mới ra thủ đô, chính thức theo học ngành sáng tác ở Nhạc viện Hà Nội.
Nhạc sĩ An Thuyên là người cần cù và đầy tự trọng trong cả công việc, cách sống và sáng tác. Nhạc sĩ lựa chọn một cách làm riêng – cách thể hiện ý chí của người con xứ Nghệ – “trèo lên vai cha ông để nói tiếng thời đạt mình”. Đó cũng là cách ông lựa chọn để gửi vào trong mỗi sáng tác, tinh thần sống, tiếng nói của thế hệ mình, nhưng lại luôn bắt rễ từ những tinh hoa chắt chiu ông học được từ dân gian. Nếu bài hát “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (1974) – ca khúc ông viết ở tuổi ngoài đôi mươi – vừa viết vừa khóc vì tình yêu dành cho lãnh tụ, thì bài “Neo đậu bến quê” (1993) lại là tâm tư của ông khi ông vướng mắc trong quản lý, định về quê ở ẩn, trồng ngô. Cũng như vậy, ca khúc “Mẹ Việt Nam anh hùng” (1995) lại là những lời được cất lên từ lòng kính yêu dành cho những người mẹ vĩ đại của dân tộc.
Sinh ra trong một gia đình có bố mẹ đều làm công việc liên quan đến kịch nghệ dân gian, nhạc sĩ An Thuyên từng chia sẻ, Nghệ Tĩnh (chỉ Nghệ An và Hà Tĩnh thời chưa tách tỉnh – PV) đã cho ông tất cả: cuộc sống, sự nghiệp và dạy ông tư cách làm người. Ông là người đã thực sự lựa chọn cách viết riêng, sử dụng thế mạnh hiểu biết về dân ca xứ Nghệ nói riêng, văn hóa dân gian nói chung để đưa vào các tác phẩm của mình. Với ông, dân ca, ví dặm thực chất mang nỗi buồn thăm thẳm tận đáy của con người Nghệ Tĩnh – cũng là sự thẳm sâu của tâm hồn người Việt. Có lẽ vì vậy, các bài hát của ông được nhiều người yêu thích đều mênh mang những nỗi niềm sâu lắng: “Neo đậu bến quê” (1993), “Ca dao em và tôi” “Chiều sông Thương”… là những bài ca như thế.
Nếu với ông, ca khúc “Giận mà thương” của nhạc sĩ Nguyễn Trung Phong là tác phẩm để đời, là bài hát dân ca Nghệ – Tĩnh hay nhất mọi thời đại, thì với nhiều người yêu nhạc, bài hát “Ca dao em và tôi” ngập tràn âm hưởng dân ca vùng xứ Nghệ là ca khúc viết về lứa đôi gắn với quê hương hay nhất. Các tác phẩm của ông đã chứng minh rằng, ông là một người dù đi suốt đời cũng không rời xa những điệu dân ca xứ mình.
Trong sáng tác, nhạc sĩ An Thuyên là một người đau đáu với những tác phẩm viết về quê hương, xứ sở, còn trên cương vị là cựu Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, ông rất được đồng nghiệp và học trò quý trọng. Trong gia đình, ông tự nhận mình là “thành phần phụ thuộc – là nhân viên của vợ”. Ông có hai người con đều theo nghệ thuật là con gái – ca sĩ Bông Mai, và con trai – nhạc sĩ An Hiếu.
Cả đời An Thuyên đã sống, cống hiến và nỗ lực để nền âm nhạc Việt Nam lưu danh như một nghệ sĩ nói giọng Nghệ mang tâm hồn Việt Nam. Mong ước ấy của ông có lẽ đã thành!
Người “chọn lối” (từ dùng trong bài hát: “Em chọn lối này”) đã thực sự về với cội nguồn của “ca dao” (từ dùng trong bài hát: “Ca dao em và tôi”) là đất mẹ. Và lần này ông đã thực sự “neo đậu bến quê” với con đò, bãi ngô và những giọng hò.
Nhạc sĩ An Thuyên sinh ngày 15/08/1949 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông mất ngày 3/07/2015 Tại Bệnh Viện Quân y 108, Hà Nội, vì bệnh nhồi máu cơ tim.  
Các ca khúc nổi tiếng: “Em chọn lối này”, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (1974), “Hành quân lên Tây Bắc”, “Khi xe tăng qua miền Quan họ” (1984), “Thơ tình của núi”, “Chín bậc tình yêu”, “Huế thương” (1992), “Neo đậu bến quê” (1993), “Mẹ Việt Nam anh hùng” (1995), “Ca dao em và tôi”, “Chiều sông Thương” (nhạc: An Thuyên, thơ: Hữu Thỉnh)…
Bài: Hải Khôi
Ảnh: Internet

  
phương trời xứ lạ - Duy khánh

Lời bài hát Phương trời xứ lạ


Hôm nào em ra đi anh thẫn thờ trên phố nhỏ
Mâу chiều giăng lối đi em đứng nhìn mắt bơ vơ
Tóc xõa từ bờ vai hoen mi sầu rưng rưng lệ
Ϲho tròn tuổi tình уêu lúc ban đầu xa cách nhau
Ɓâу giờ anh ở lại nơi phương trời xa xứ lạ
Thương người em gái kia nơi quê nhà ngóng trông tin
Phố cũ hỡi đường xưa naу chỉ còn trong kỷ niệm
Ѕao đời gieo đắng caу để cho đời thương nhớ ai ...
Ɲaу .. phố vắng em rồi,
Ai đưa đón em về cùng dìu nhau đếm sao rơi
Ɛm, em tôi đâu rồi,
Ɛm tôi đâu rồi để cung đàn kia gãу .. đôi
Phương trời xa xứ lạ đôi taу gầу ôm kỷ niệm
Ɗuуên tình của chúng ta coi như là áng mâу trôi
Anh chỉ tìm lại em trong men tình caу môi mặn
Mơ ngàу chung lứa đôi để cho đời thôi đắng caу

Ngắm đào, mai xứ lạ nhớ quê nhà

Thứ Năm, 02/02/2017, 09:50:24

Con trai nhà văn Hiệu Constant đang gói bánh chưng.
NDĐT - Ngày càng có nhiều người Việt Nam sinh sống làm ăn ở nước ngoài. Đó là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc. Bằng nhiều cách thức khác nhau, họ đã và đang tích cực đóng góp trí tuệ và công sức cho sự phát triển của đất nước, đồng thời góp phần đưa văn hóa Việt Nam lan xa.
Luôn nỗ lực mỗi ngày để khích lệ, động viên con tìm hiểu về nền văn hóa truyền thống, lịch sử cha ông dựng nước và giữ nước... là cách mà nhà văn Hiệu Constant (hiện đang sinh sống tại Paris) mong muốn chia sẻ và nuôi dưỡng tình yêu Việt Nam với các con của mình. Dù ông xã là người Pháp, không thạo tiếng Việt, chỉ biết nói “xin chào”, “cảm ơn” và tên một số món ăn Việt thì chị vẫn cố gắng duy trì “không khí Việt Nam” trong ngôi nhà mình. Chị nấu cơm hằng ngày theo kiểu Việt Nam và chỉ nói tiếng Việt với các con. Nhờ sự kiên trì ấy, hai con của nhà văn Lê Thị Hiệu rất giỏi tiếng Việt. Không chỉ dạy con ngôn ngữ của ông bà tổ tiên, chị còn gợi mở, giúp các con khám phá cái hay cái đẹp trong những làn điệu dân ca, những câu chuyện cổ tích, giai thoại thấm đẫm tình người... của dân tộc Việt Nam, từ đó giúp các con hiểu hơn về tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết của người Việt. Chính cách dậy đó nên các con của chị đều yêu quý và trân trọng văn hóa dân tộc Việt Nam.
Cách đây ít lâu, khi thấy các con đã chín chắn trong nhận thức và những hiểu biết về “quê ngoại” cũng tương đối phong phú, chị quyết định đưa các con về nước để “trải nghiệm”. Ba mẹ con chị đã có chuyến đi xuyên Việt từ Lào Cai đến tận mũi Cà Mau. Chuyến đi dù có lúc còn gặp khó khăn trong việc di chuyển, điều kiện sinh hoạt, nhưng khi được đến các vùng miền, tận mắt chứng kiến những danh lam thắng cảnh của đất nước, sự hồn hậu hiếu khách của những người dân lam lũ... đã giúp các con chị có những kỷ niệm khó quên và càng yêu hơn đất nước Việt Nam. Nhà văn Hiệu Constant kể, khi về Pháp, con trai chị đã ôm hôn mẹ rất chặt và nói "Con cảm ơn mẹ!” Nghe con nói, chị mừng rơi nước mắt. Những nỗ lực của chị vậy là đã được các con đón nhận và giúp các con trưởng thành hơn trong nhận thức.
Làm “nàng dâu Việt” trên nước Pháp, nhà văn Lê Thị Hiếu luôn tranh thủ những dịp đặc biệt như ngày Tết cổ truyền Việt Nam để trổ tài nấu các món ăn truyền thống của dân tộc. Việc mua lá dong, mộc nhĩ, nấm hương, măng, miến… không quá khó tại Paris nên các món ăn Việt trên đất Pháp vẫn đậm đà hương vị quê nhà. Chị tâm sự: “Vốn quen với các ngày lễ Pháp, chỉ có một số món nhất định, nhưng khi đến lễ Tết Việt thì chao ôi bao nhiêu là món. Các cháu rất ngạc nhiên, cũng như những người bạn Pháp của tôi. Tôi nhớ được món nào mà ngày xưa mẹ tôi vẫn làm là tôi thực hiện ngay. Bắt đầu là món bánh chưng, đồ xôi, nem, măng ninh, miến xào, giò chả… Đã có lần các cháu đếm được hơn hai chục món. Những ngày giáp Tết ấy, tôi chú tâm vào từng món, sao cho thật giống như ngày xưa mà mẹ đã từng làm cho tôi ăn, bởi tôi muốn các con mình ít nhiều cũng cảm nhận được chút hương vị đặc biệt của ngày Tết cổ truyền. Các con lớn dần và bắt đầu giúp mẹ, tôi thật vui những lúc ấy, tôi thấy mình như được sống lại cảnh tíu tít ở quê nhà. Đôi lần, giáp Tết, tôi cố giả đò chẳng làm gì để xem các cháu có nhớ không? Hóa ra chẳng đứa nào quên cả, thấy các cháu giục mẹ làm Tết, tôi vui lắm. Bố thấy mấy mẹ con tíu tít, cũng sốt sắng đi chợ… và không mấy than phiền nữa khi phải ăn liền mấy bữa cũng một thứ”. Bên mâm cỗ tất niên, những câu chuyện về Việt Nam càng trở nên sôi nổi. Việt Nam tuy xa nhưng vẫn thật gần trong tâm hồn những người con luôn hướng về quê nhà.
Làm ăn, sinh sống ở CHLB Đức đến nay thấm thoát đã 30 năm, tóc đã ngả sang mầu bạc nhưng “chất Hà Nội” vẫn đậm nét trong phong cách của nhà thơ Trương Anh Tú. Đặc biệt trang facbook của anh chưa khi nào vắng những tâm tư hướng về quê cha đất mẹ và đây cũng là địa chỉ để anh có thể trò chuyện thường xuyên với các bạn bè Việt Nam cho vơi bớt nỗi nhớ nhà. Giờ đây, khi cô con gái của anh đã cứng cáp, những chuyến trở về thăm nhà của gia đình anh đều đặn hơn. Cuối năm 2016 vừa qua, dù về thăm nhà chưa đầy ba tuần, nhưng anh đã cố dành thật nhiều thời gian để một mình dạo bước qua từng con phố nhỏ của Hà Nội, hồi tưởng kí ức một thời đã xa nhưng chưa khi nào mờ phai trong tâm tưởng. Cô con gái của hai vợ chồng anh sinh ra và lớn lên ở Đức, tưởng chừng thấm đẫm văn hóa phương Tây, khó thích nghi, hòa nhập với môi trường, văn hóa Việt Nam, nhưng như một bản năng xứ sở thúc giục, từ lúc nhỏ, cô bé luôn muốn tìm hiểu về Việt Nam. Mỗi khi có điều kiện, con gái anh luôn muốn giới thiệu về đất nước Việt Nam tới nhiều bạn bè mình, bằng niềm tự hào của người con đất Việt. Điều đó khiến nhà thơ Trương Anh Tú rất đỗi tự hào. Anh mong muốn trong tương lai, con gái mình sẽ góp phần nhỏ bé để nối nhịp cầu văn hóa Việt Nam - CHLB Đức
Sống ở xứ người, những ngày Tết luôn là khoảng thời gian mang đến nhiều cảm xúc nhất cho gia đình nhà thơ Trương Anh Tú. Anh kể, ngày bé khi nghe bố mẹ kể về Tết Việt, con gái của anh chị đã reo lên: “Thế thì mình có hai Tết liền!”. Năm nào gia đình anh cũng đón Giáng sinh và Tết Dương lịch cùng với người bản xứ, rồi lại “riêng mình” bồi hồi, thấp thỏm với Tết Nguyên đán! Thực ra với gia đình nhà thơ Trương Anh Tú, không cần phải đến Tết mới nhớ Tết, mới náo nức chuẩn bị đón Tết! Chỉ cần bất chợt, khi gặp những bông tuyết đầu mùa, hình ảnh quê hương cùng những tháng ngày tuổi thơ - như một cuốn phim quay chậm - đã kịp giăng mắc trước mắt những người xa xứ! Anh tâm sự: những bông tuyết đầu mùa - giống như một cái vỗ vai, như một tiếng thì thầm gợi nhớ về những con đường, dòng sông, khu vườn nơi quê nhà, với những kí ức thật khó quên. Và khi mùa Giáng sinh ở thành phố Frankfurt - nơi anh đang sinh sống - hiện hữu tưng bừng với đèn hoa, với cây thông Noel thì những ký ức về Tết nơi quê nhà trong anh lại càng có cơ hội được vẫy vùng! Có lần đứng ngắm chợ Giáng sinh ở “xứ người”, trong lòng anh bỗng dậy lên cảm giác như thấy mình đang nợ một buổi đi chợ Tết cùng mẹ, đỡ trên tay mẹ vài cân gạo nếp, một gói đỗ xanh, một gói miến, những bó rau thơm… thấy mình nợ bố một buổi dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị quét vôi đón năm mới. Anh luôn ước những ngày Tết ta đúng vào thứ bẩy và chủ nhật vì như vậy cộng đồng người Việt ở thành phố Frankfurt có thể tụ để cùng nấu nướng, cùng đón Tết. Trong khói hương, trong hương vị các món ăn dân tộc, đôi khi may mắn có cả bánh chưng (mà nhiều khi không có lá dong phải gói bằng lá chuối, bằng giấy bạc) những người Việt xa quê ngồi bên nhau, sẽ cảm thấy vơi đi phần nào những trống vắng trong những ngày đón Tết xa nhà. Không thể thiếu ở bữa tiệc Tất niên ấy là những cuộc điện thoại gọi về Việt Nam để chúc Tết người thân, họ hàng và cho cả những bè bạn cũng đang cùng cảnh “đất khách quê người”, cùng chung nỗi nhớ quê nhà. Những lời chúc vang lên trong không khí linh thiêng, xúc động, đôi khi nghẹn ngào không nói thành lời!
Nhà thơ Trương Anh Tú và các nghệ sĩ Việt Nam trong chương trình đón xuân tại Đức.
Nhà thơ Trương Anh Tú kể: Có lần Tết Nguyên đán không trùng vào ngày nghỉ và vì yêu cầu của công việc nên anh đã đón Tết tại nơi làm việc. Bước ra đường chỉ một màu tuyết trắng mênh mông. Vừa chạy xe đến nơi làm việc mà anh cứ ngỡ mình đang chạy đi đâu đó rất xa! Quãng đường trở nên trống trải và buồn hơn. Kỷ niệm đáng nhớ nhất về Tết với anh đó là khi đang gọi điện về nhà chúc Tết thì đúng lúc trên Đài truyền hình Việt Nam đang đọc một bài thơ của anh viết về nỗi nhớ, về quê hương! Vô tình mà như hẹn trước! Người em trai đã kịp cho anh nghe những câu thơ qua điện thoại: “Đâu nào giọt nắng - Đâu nào giọt mưa - Đâu nào mắt em - Xanh trời Hà Nội”… Anh đã cùng cả nhà nghe những vần thơ mình đã viết bằng hoài niệm, dù câu được câu mất và chẳng ai kịp nhớ ra để thu âm lại nhưng đều mang lại cho mọi người thật nhiều cảm xúc. Trong lòng anh khi đó bỗng lâng lâng một nỗi nhớ không tên. Anh thấy mình như đang đi trên cánh đồng hoa bát ngát ngay trong lòng Hà Nội, dù những cánh đồng hoa ngày ấy giờ chỉ còn trong mơ, trong thơ, trong nhạc! Và rồi trong anh lại vang lên những câu thơ: “Ngó mai, đào xứ lạ/Nhớ hương sắc quê nhà.”
Ngày càng có nhiều người Việt làm ăn sinh sống ở xứ người. Câu chuyện của nhà thơ Trương Anh Tú và nhà văn Hiệu Constat cho thấy văn hóa Việt - bằng nhiều cách thức đã được lan tỏa đi muôn phương. Nhờ đó, bạn bè quốc tế thêm hiểu và yêu hơn đất nước, con người Việt Nam hiền hòa, hiếu khách.
Người Việt sắm Tết ở Paris.
THÀNH NAM

Tình tự quê hương trong văn chương Võ Phiến

Trong chương trình Văn học Nghệ thuật tuần này, Mặc Lâm giới thiệu một góc sáng tác mang nặng tình tự của nhà văn Võ Phiến đối với quê hương, qua nhiều thăm trầm củ lịch sử dân tộc.
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2008-07-06

Cuốn Vo Phien and the Sadness of Exile.
Cuốn Vo Phien and the Sadness of Exile. Photo: RFA
Trong chương trình Văn học Nghệ thuật tuần trước, chúng tôi đã giới thiệu nhà văn Võ Phiến và những đóng góp của ông trong kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua với hàng trăm tác phẩm.

Những hạt ngọc trong đời thường

Nhà văn Võ Phiến đến với người đọc rất sớm, từ đầu thập niên 1940, những bài viết của ông đã xuất hiện đây đó trên nhiều tờ báo. Và cũng bắt đầu từ đó cho tới gần sáu mươi năm sau, Võ Phiến đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm đủ loại trong đó thể loại mà ông được độc giả yêu mến nhất là tùy bút.
Tuần này chúng tôi xin giới thiệu một góc sáng tác mang nặng tình tự của ông đối với quê hương, không phải chỉ khi ra nước ngoài mới có, mà đã xuất hiện từ lâu trong nhiều tác phẩm của ông thời kỳ trước 75 lúc chưa lưu lạc.
Tuỳ bút của Võ Phiến được xem là tiêu biểu cho một phong cách riêng, là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của thể loại tuỳ bút. Nói đến tuỳ bút Việt Nam thì người ta không thể không nhắc tới Võ Phiến.
Nguyễn Hưng Quốc
Nhà văn Võ Phiến đi nhiều, từ thời gian còn trong nước cho đến khi ra hải ngoại. Đi đến đâu ông cũng đều tỉ mẩn ghi chép lại những chi tiết xảy ra chung quanh và chọn lọc những gì nổi bật nhất.
Qua ngòi bút của Võ Phiến, các chi tiết tưởng chừng như vô bổ đôi khi lại vỡ ra những hạt ngọc bí ẩn mà trong đời thường nếu không chú ý bằng một đôi mắt sắc sảo sẽ không dễ dàng phát hiện.
Nói về thể loại tùy bút của ông, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:
"Nhìn một cách tổng quát, trường hợp của Võ Phiến thì từ truyện dài đến truyện ngắn sau rất nhiều năm nhiều người vẫn còn khen là đọc được và vẫn còn thấy là hay, tuy nhiên, võ phiến được khen ngợi nhiều nhất vẫn là ở thể tuỳ bút.

Tuỳ bút của Võ Phiến được xem là tiêu biểu cho một phong cách riêng, là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của thể loại tuỳ bút. Nói đến tuỳ bút Việt Nam thì người ta không thể không nhắc tới Võ Phiến, cũng như không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân hay Thạch Lam thuộc thế hệ trước của ông.

Riêng trong lãnh vực phê bình và biên khảo, dù lúc nào Võ Phiến cũng khiêm tốn tự cho mình là người ngoại đạo, nhưng rõ ràng là ông có rất nhiều cống hiến. Ông viết nhiều và viết hay.

Ở Miền Nam trước đây, Võ Phiến là một trong những người đầu tiên giới thiệu phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp. Ông cũng là người đầu tiên tìm hiểu ảnh hưởng của khẩu ngữ và của văn hoá đại chúng trong vòng Miền Nam mà cũng là của Việt Nam nói chung." Cách nhìn những sự việc diễn ra trong đời sống của Võ Phiến khiến người ta liên tưởng đến ánh mắt của một con mèo đang chờ mồi, kiên nhẫn và bén ngót. Con ngươi không lay động khi chiếu vào sự việc của Võ Phiến như thôi miên người đọc, ông khiến người ta nín thở bằng cách nhìn của ông và đôi mắt ấy đã nhìn thay người đọc, cảm giác thay cái cảm giác mà ai cũng phải cảm thấy khi được chứng kiến cảnh mà anh Năm Hà chứng kiến trong truyện "Nhớ Làng" sau đây:
“Một hôm, giữa trưa, anh từ ngoài đồng về bất thình lình, trông thấy cửa buồng đóng kín. Anh lắng tai nghe: có tiếng động bên trong. Anh Năm Hà choáng váng, bỗng nhiên đâm quýnh, vừa thấy mình cần phải có một hành động lại vừa không biết mình phải làm gì.
Bất giác anh áp mặt vào cánh cửa, cố nhìn qua một khe hở. Không trông thấy được gì: khe cửa nhỏ quá. Anh xoay trở, nghiêng đầu sang bên này, ngoẻo sang bên kia.
Cuối cùng anh trông thấy. Chỉ thấy được một khoảng nhỏ xíu thôi. Anh Năm Hà thấy một bàn chân đàn bà đang nằm, bàn chân của chị ấy. Trên mặt chiếu, bàn chân xuôi xuống, cố hết sức chúc mũi xuống, như kiễng chân nhón gót. Bốn ngón chân quắp xuống, còn ngón chân cái thì rướn cong lên. Nó rướn cong, ôi chao, quá sức nó, làm nổi cao một sợi gân.
Trời, ngón chân cái, nó rướn cong như cái đuôi con chuột trong cơn hấp hối, bị kẹp nát đầu trong chiếc bẫy, cái đuôi oằn lên trước khi con vật chết hẳn... Anh Năm Hà cuống cuồng, run bấn. Cái gì vậy?
Trước mặt anh, ngón chân cái oằn lên... Anh Năm Hà nghẹn cứng ngang cổ, không thở được nữa. Cuối cùng, cổ phát ra một tiếng hực, rồi nước mắt anh tuôn ra...”
Võ Phiến diễn tả trạng thái của Năm Hà với ánh mắt vừa thương vừa giận. Anh Năm Hà là một nhân vật đáng thương trong làng của Võ Phiến. Anh ta cũng là hình ảnh của một thời kỳ ly tán mà cả làng của nhà văn gặp phải.

Gắn bó với làng quê VN

Ngoài anh Năm Hà ra Võ Phiến còn nhiều người khác nữa để giới thiệu với chúng ta. Tuy nhiều nhưng thực ra Võ Phiến chỉ đưa ra một vài nhân vật để miêu tả những nét chung mà ông gắn bó.
Võ Phiến gắn bó với làng quê của ông một cách chung thủy đến kỳ lạ. Từ những năm còn trong nước, khi đang hít thở không khí của Sài Gòn thì ông nhớ Bình Định, nơi làng quê của ông.
Và rồi bỏ xứ chạy đi qua tới Mỹ ông lại tiếp tục nhớ làng nhớ quê, và nỗi nhớ này có khi làm người đọc ông cảm thấy bấn loạn nếu cùng cảnh ngộ với ông. Người đọc cảm thấy chữ nghĩa của ông hình như chỉ dành để mà diễn tả mối cảm tình da diết đối với một kỷ niệm nào đó nhưng lại ăn sâu đến một nếp sống mà ông từng trải qua.
Hãy nghe ông nói về cách thử nước mắm của gia đình ông, mà hình như cũng là của hàng vạn gia đình tại Miền Trung gắn liền với thói quen này. Ông nhẩn nha đọc lại chính xác những hình ảnh cả gia đình quây quần bên chị bán nước mắm với những chi tiết bất ngờ thú vị:
“Ngày ấy mỗi lần có gánh nước mắm bán dạo ghé vào nhà là cả một sự xôn xao. Bởi vì thường thường không một ai trong gia đình mà đủ tự tin vào tài nội trợ của mình để có thể một mình kiêu hãnh quyết định về giá trị một thứ nước mắm.
Người bán nước mắm cùng chiếc gáo nhỏ xíu làm bằng sọ quả dừa xiêm đẹt, chỉ lớn hơn thứ gáo của bạn hàng dầu vốn làm bằng sọ quả mù u, lớn hơn một chút thôi. Người hàng mắm vục gáo vào "thõng", múc lên lưng gáo, rót một tí vào cái chén con sạch sẽ, đưa mời.
Cô tôi đón lấy chén, đưa lên mũi, ngửi qua. mắt nhìn ngưng lại giữa khoảng không, ngẫm nghĩ, thẩm định... Xong, một cách thận trọng, cô mới le lưỡi nhắm tí nước mắm. Rồi lặng lẽ trầm tư, cô trao cái chén về phía thím tôi.
Nhưng bà tôi sốt sắng, nóng nẩy, đã vội vàng đưa tay vẫy gọi. Và thím chuyền ngay chén mắm sang bà. Lại ngửi, lại nếm. Sau đó đến lượt thím tôi: lại ngửi, lại nếm...
Nhà văn Võ Phiến không muốn chúng ta nghĩ rằng ông cổ vũ cho việc thử nước mắm. Ông dẫn người đọc đến một ý khác. Ý hướng lo sợ những thú vui nho nhỏ làng quê sẽ mất đi trước sự tấn công của nền văn minh ăn uống.
Ông diễn tả những cô gái từng thử nước mắm ở Bình Định, một hôm vào đến Cà Mau đòi thử nước mắm ở một thùng liều nào đó thì sự thể như thế nào? ông viết:
Tôi đã nghĩ đến sự bối rối của các cô có một hôm vào xem một xưởng nước mắm ở Cà Mau. Còn người chủ xưởng thì cười ngất về sự bối rối đó:
-Nếm mắm? Bây giờ có ai mua bán kỳ cục như vậy đâu?
Tôi sững sờ, nghệch người ra. Con người quê kệch tha hồ trải qua bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời của thời đại vẫn không hề tưởng tượng rằng cái món nước mắm gần gũi hàng ngày đã trải qua những biến thiên ghê gớm như thế.
Khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...
Võ Phiến
Bây giờ bậc thang giá trị của nước mắm được quy định căn cứ trên chất đạm. Bây giờ không còn có thứ nước mắm thơm hơn thơm kém, thứ nước có hậu và không có hậu v..v..chỉ có những thứ nước bảy chất, tám chất, mười chất, mười ba chất...
Mỗi chất là một phần trăm chất đạm: đưa chuyên viên phân tích xong, căn cứ vào giá biểu xem mỗi "chất" giá bao nhiêu. Làm một bài toán nhân thế là xong. Việc gì có chuyện nếm với ngửi trong đó?
Người Việt Nam mất đi cái tinh tế đối với nước mắm mà lạ ư? Không đâu. Trong cái ăn uống của dân tộc đã có những thay đổi động trời hơn nữa....
Khảo sát những xã hội gồm nhiều giống dân di cư đến, như xã hội Hoa Kỳ, người ta để ý thấy một khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...

Thế mà...

Hai chữ "thế mà" lững lơ của nhà văn như một lời tiên tri, bốn năm sau, vào năm 1976, khi nhà văn ngồi tại Mỹ cô độc, nhìn ngắm những thú vui mới của người Việt xa quê, ông thao thức với những câu hỏi mà mới nghe qua ai cũng chau mày, xót ruột:
Giữa cảnh vật ấy, thỉnh thoảng Việt kiều gặp Việt kiều. Bà con nhìn nhau, thường thường cùng ngấm ngầm một cảm tưởng: "Tiếc quá! Thế này mà không phải là quê hương ta!"
Phải chi cảnh đẹp đẽ và thanh bình này mà "ở ta" thì cái thú thưởng ngoạn mới đậm đà ngây ngất đến đâu! Ở ta thì có cảnh lại có tình, có cái lộng lẫy của hiện tại còn có các kỷ niệm của quá khứ lẩn quất. Cho nên thú ngoạn cảnh lại càng thấm thía.
Còn như không ở ta, cảnh vật tự trình diễn trước những con mắt thán phục mà bỡ ngỡ. Trên bãi cỏ này, sườn đồi này, khúc sông kia, chúng ta chưa kịp có một kỷ niệm nào cả. Cho nên cảnh không có tình.
Đi trên bờ sông Mississippi, nghĩ tới Mark Twain. Nghe nói ông ta yêu sông Mississippi. Tha thiết với sông, lấy một âm thanh từ cái sinh hoạt của hạng người làm ăn sinh sống trên sông mà làm bút hiệu.
Còn chúng ta ngày nay, yêu sông chỉ biết giương mắt mà nhìn sông chứ đã biết đâu cái sinh hoạt trên sông Mississippi, như biết giọng hò điệu hát trên sông Hương, sông Đồng Nai, sông Ông Đốc v..v...Yêu cảnh mà không biết đến cuộc sống trong khung cảnh ấy thì làm sao yêu thắm thiết?
Thế nhưng, nghĩ đến một ngày kia khi chúng ta đã thâm nhập vào cuộc sống xứ này đến cái độ không còn mỗi lúc mỗi hồi tưởng về những kỷ niệm ở quê hương... có cái ngày ấy chăng? Dù sao chỉ nghĩ tới đã thấy xót xa.
Võ Phiến xứng đáng là một nhà văn lớn. Ông xứng đáng được độc giả yêu thương như họ đã từng yêu thương làng quê thân thiết.
Văn chương của Võ Phiến dẫn người ta về nguồn bất kể họ đang ở đâu trong hay ngoài nước, vì ở đâu ông cũng canh cánh một nỗi niềm ly hương ngay khi còn sống trong chính mảnh đất của mình: Quê hương Bình Định.

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Tổng hợp những hình ảnh đẹp về hoa mai hoa đào tết cổ truyền dân tộc Việt Nam


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết
Hoa Đào rừng miền Tây Bắc


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hoa đào trắng hồng tuyệt đẹp

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hoa đào đỏ hồng

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hoa đào ngày tết

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết
Hoa mai ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hình ảnh hoa mai
Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hoa mai trắng

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hoa mai

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

hoa mai

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Hình hoa mai

Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết


Hình ảnh hoa mai hoa đào đẹp ngày tết

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32