BUỒN NHỚ MÊNH MANG 9
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chiều
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Xuân Diệu » Thơ thơ (1938)Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
- Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...
Xin Tròn Tuổi Loạn | Duy Khánh
Xin Tròn Tuổi Loạn
Tôi không tham không tham kho tàng vô tận
Tôi không mê nét đẹp lộng lẫy giai nhân.
Tôi không mơ quyền quý cung son vàng
Bạo chúa hay ông hoàng quyền uy cao nhất thế gian.
Thương quê hương qua non thế kỷ điêu tàn
Thương quê hương thăng trầm chuyển biến không nguôi
Lam Sơn ơi hồn Chí Linh sông Đằng Vạn Kiếp hay Hạ Hồi
Những dòng lịch sử đâu rồi?
Tơi chỉ xin chỉ xin đầy lúa thơm quê mẹ hiền
Hàn gắn quê cha buồn phiền với niềm thương
Cho tôi xin đóa hoa tình nụ còn phong kín
Những chân thành ngọt lời trinh nguyên
Tiếng ban đầu tôi ngỏ lời yêu em.
Xin an vui cho anh lứa tuổi đăng trình
Xin cho em chuỗi ngày buồn thoáng qua nhanh
Cho xin thêm ngày tháng xanh màu hoài
Để lớp trai thơ dại đốt đèn đọc sách đêm dài.
Tôi không mê nét đẹp lộng lẫy giai nhân.
Tôi không mơ quyền quý cung son vàng
Bạo chúa hay ông hoàng quyền uy cao nhất thế gian.
Thương quê hương qua non thế kỷ điêu tàn
Thương quê hương thăng trầm chuyển biến không nguôi
Lam Sơn ơi hồn Chí Linh sông Đằng Vạn Kiếp hay Hạ Hồi
Những dòng lịch sử đâu rồi?
Tơi chỉ xin chỉ xin đầy lúa thơm quê mẹ hiền
Hàn gắn quê cha buồn phiền với niềm thương
Cho tôi xin đóa hoa tình nụ còn phong kín
Những chân thành ngọt lời trinh nguyên
Tiếng ban đầu tôi ngỏ lời yêu em.
Xin an vui cho anh lứa tuổi đăng trình
Xin cho em chuỗi ngày buồn thoáng qua nhanh
Cho xin thêm ngày tháng xanh màu hoài
Để lớp trai thơ dại đốt đèn đọc sách đêm dài.
Đỗ Phủ, tấm lòng người chí sĩ giữa loạn lạc binh đao: Lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ
Binh đao loạn lạc ở thời nào
cũng có, đó như là cơn ác mộng kinh hoàng, là nỗi sợ hãi của bất kì ai.
Và dưới con mắt của một bậc thi sĩ tài hoa, từng vần thơ như tái hiện
lại cảnh loạn lạc thời cổ xưa. Mỗi câu chữ như lời bày tỏ nỗi lòng chua
xót và cũng là lời gửi gắm của một sĩ phu yêu nước thương dân.
Đỗ Phủ biểu tự Tử Mỹ hiệu Thiếu Lăng dã
lão, Đỗ Lăng dã khách 野客) hay Đỗ Lăng bố y, là một nhà thơ Trung Quốc
nổi bật thời kì nhà Đường. Cùng với Lý Bạch, ông được coi là một trong
hai nhà thơ vĩ đại nhất của lịch sử văn học Trung Quốc. Ông tài năng
tuyệt vời và đức độ cao thượng nên từng được các nhà phê bình Trung Quốc
gọi là Thi Sử và Thi Thánh.
Ông sở hữu rất nhiều những tác phẩm thơ ca đặc sắc. Những tác phẩm ấy ảnh hưởng không nhỏ tới văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản.

Nếu như độc giả phương Tây yêu thích và
coi những tác phẩm của Virgil, Horace, Ovid, Shakespeare, Milton, Burns,
Wordsworth, Béranger, Hugo là những báu vật nghệ thuật thì ở phương
Đông những tác phẩm thi ca của Đỗ Phủ được sánh ngang bằng.
Một trong những tác phẩm được cho là nổi tiếng nhất của ông là bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca.
Bài thơ là bức tranh khốn khổ của cảnh loạn lạc binh đao
Bài thơ là bức tranh khốn khổ của cảnh loạn lạc binh đao
Trong suốt cuộc đời của mình, Đỗ Phủ một
lòng ôm ấp một ước vọng là tham gia chính trường để dốc sức giúp dân
giúp nước. Thế nhưng cuộc đời của ông giống như cả đất nước đều bị điêu
đứng vì loạn đảng An Lộc Sơn năm 755.
Có một thời gian ngắn ông làm quan nhưng
lại không được trọng dụng nên ông đã từ quan đưa ra đình về vùng Tây
Nam, một thời gian sống ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Năm 760, được
bạn bè và người thân giúp đỡ, Đỗ Phủ dựng được một ngôi nhà tranh bên
cạnh khe Cán Hoa ở phía tây Thành Đô.
Những năm tháng còn lại ở đời của ông
trong cảnh đau ốm bệnh tật. Nhưng có lẽ căn bệnh lớn nhất và cơn đau lớn
nhất của ông không nằm ở thân xác này. Đó là nỗi đau của cảnh binh đao,
loạn lạc.
Chữ “tranh” (mao) được nhắc lại 2, 3
lần, lối viết liệt kê đã tái hiện lại trận cuồng phong lần lượt bóc đi
từng tấm tranh, nhà thơ ngơ ngác nhìn, bất lực. Cả 5 câu thơ đều được
gieo vần bằng: “hào – mao – giao – sao – ao “, đó là những vần có âm
vang diễn tả âm điệu thơ như tiếng khóc, tiếng thở than, về vần thơ,
Khương Hữu Dụng thể hiện đúng dụng ý nghệ thuật của Đỗ Phủ trong nguyên
tác: “gịà – ta – xa – sa”.
Tháng tám, trời cao, thu nổi gió
Cuốn tung ba lớp cỏ mái nhà
Qua sông rớt xuống đất xa
Cao thì vắt vẻo rừng già ngọn cây
Thấp tơi tả chìm đầy ao nước.
Cuốn tung ba lớp cỏ mái nhà
Qua sông rớt xuống đất xa
Cao thì vắt vẻo rừng già ngọn cây
Thấp tơi tả chìm đầy ao nước.
Câu thơ miêu tả là cảnh gió thổi cuộn
tung cả lớp cỏ mái nhà tranh của Đỗ Phủ. Ngọn gió ấy như kẻ vô tình cuốn
đi tất cả những gì mà ông có. Nhìn mái nhà bị bay đi mỗi nơi một mảnh,
như sự oanh tạc tan tành của cơn gió dữ.
Nếu như Đỗ Phủ nhìn theo gió cuốn đi mái nhà tranh tạm bợ mà lòng buồn đau thê thảm, thì cũng chính là cảnh của những người dân nghèo đang tìm chốn yên thâm trong cảnh loạn lạc binh đao.
Nếu như Đỗ Phủ nhìn theo gió cuốn đi mái nhà tranh tạm bợ mà lòng buồn đau thê thảm, thì cũng chính là cảnh của những người dân nghèo đang tìm chốn yên thâm trong cảnh loạn lạc binh đao.
Họ đều chẳng còn gì trong cái tạm bợ
khốn cùng. Đỗ Phủ thương xót cảnh mình bao nhiêu thì lại đau lòng trước
thế sự bấy nhiêu. Nỗi đau ấy không phải của một thi sĩ bình thường nữa
mà là nỗi buồn của một bậc sĩ phu yêu nước. Nước tan thì nhà cũng mất.
Trẻ xóm nam bọn nhóc khinh già
Nhẫn tâm cướp trước mặt ta
Ngang nhiên ôm cỏ tranh về xóm tre.
Rát cổ họng kêu nghe không được.
Chống gậy về bực tức than thân.
Nhẫn tâm cướp trước mặt ta
Ngang nhiên ôm cỏ tranh về xóm tre.
Rát cổ họng kêu nghe không được.
Chống gậy về bực tức than thân.

Tác giả mượn hình ảnh những đứa trẻ
thích thú tranh dành nhau mái nhà cỏ bay tung trời mà nô đùa ám chỉ cho
phường cướp bóc. Chẳng đoái hoài tới những sinh mạng yếu ớt già nùa hay
những thân phận cơ cực nghèo hèn. Sự nhẫn tâm mà ông khéo léo mô tả đó
ám chỉ tới phường loạn đảng An Lộc Sơn. Chứng kiến cảnh đó mà chính Đỗ
Phủ cũng như biết bao văn nhân sĩ phu yêu nước khác đau lòng mà bực tức
than thân.
Trách mình sao võ hèn văn kém chẳng mang
được cho thiên hạ thái bình. Tác giả như kêu gào đau xót cho chính mình
hay chính cuộc đời. Tiếng kêu thét như tiếng thất thanh của những người
dân chạy loạn trong ánh đuốc bập bùng. Kêu tới rát cổ họng mà chẳng
đặng được tiếng vó ngựa hung tàn.
Gió yên phút chốc mây vần
Ùn ùn phủ kín trời gần tối tăm.
Chăn vải cũ lâu năm lạnh sắt
Ngũ không yên con đạp rách bương
Ùn ùn phủ kín trời gần tối tăm.
Chăn vải cũ lâu năm lạnh sắt
Ngũ không yên con đạp rách bương
Mưa rơi dột ướt đầu giường
Mưa gai nhỏ giọt đêm trường chẳng ngưng
Từ loạn lạc, ngã lưng ít ngũ
Đêm mưa dầm ướt đẫm chưa tan
Mưa gai nhỏ giọt đêm trường chẳng ngưng
Từ loạn lạc, ngã lưng ít ngũ
Đêm mưa dầm ướt đẫm chưa tan
Loạn chưa dẹp thì mưa lại tới, cuồng
phong rồi giông bão vùi lấp con người. Gia đình của Đỗ Phủ cũng như biết
bao nhiêu số phận của dân thường như bị dồn lấp tới đường cùng, thiên
tai rồi đạo tặc. Đây là thể hiện cho nỗi khổ cùng cực lại càng làm cho
nỗi đau buồn của tác giả trước cảnh xã hội loạn lạc, đảo điên. Người dân
lâm cảnh lầm than bởi lũ “quần đông” vừa láo hỗn vừa gian tham.
Đêm thu với mưa gió lạnh mà chứng kiến
cảnh vợ con co ro với chiếc chăn cũ, mỏng, lâu năm bình thường đắp đã
không đủ ấm, đêm nay lại bị con thơ đạp rách nát trong cảnh mưa rét, nhà
thủng mái… là những chi tiết nghệ thuật nói lên cái nghèo khổ, cái cùng
cực của một gia đình tàn tạ giữa thời loạn lạc. Lòng tác giả như đau
thắt lại. Nỗi đau đời làm ông như bị dồn nén mà phẫn uất tâm can.
Nếu như ở khổ thơ đầu, ông sử dụng toàn
vần bằng thì trong khổ thơ thứ ba này ông lại sử dụng toàn vần trắc:
“sắc – hắc – thiết – liệt – tuyệt – triệt”. Đó cũng là một dụng ý nghệ
thuật: vần thơ như diễn tả nỗi đau khổ đang thắt lại, dồn nén, uất ức
đọng kết lại trong lòng nhà thơ.
Sau nỗi khổ cùng cực là niềm ước ao cho thiên hạ thái bình, dân tình bớt cảnh lâm than
Ông mang theo một giấc mơ đời tốt đẹp. Nay nhà tan, mái nhà rách nát, thì ông lại một lần ước ao:
Mong sao nhà lớn ngàn gian
Giúp cho hàn sĩ hân hoan ở đời
Vững như núi, gió mưa rơi không động
Bao giờ trông nhà to rộng, hởi ôi!
Nhà ta bay, chết rét, cũng đành thôi.
Giúp cho hàn sĩ hân hoan ở đời
Vững như núi, gió mưa rơi không động
Bao giờ trông nhà to rộng, hởi ôi!
Nhà ta bay, chết rét, cũng đành thôi.

Đây được coi là những câu thơ hay nhất,
có giá trị về tư tưởng sâu sắc nhất của nhà thơ. Chỉ vẻn vẹn trong năm
câu cuối thể hiện tấm lòng cao cả của một kẻ sĩ chân chính: thương dân
và lo đời.
Nếu như con người nằm sâu trong nỗi đau
thương tang tóc tới phũ phàng của cuộc đời, thì họ dễ bị rơi vào sự bi
trầm rồi gục đầu cam chịu, khi thì than thân trách phận, khi cùng quẫn
mà bế tắc làm liều. Giống như kẻ bần cùng sinh đạo tặc. Thế nhưng với Đỗ
Phủ, thì ông chịu cái cảnh ngồi suốt đêm trong mưa lạnh rét buốt, thay
vì ông nghĩ tới ước mơ cho riêng mình và gia đình của mình thì thì ông
lại một lần nữa làm người đọc thêm bất ngờ trước cái chí của một kẻ sĩ
chân chính.
Ông mơ ước có một nhà “muôn ngàn gian ”
vô cùng vững chắc “Gió mưa chẳng núng vững như thạch bàn”. Ngôi nhà mà
ông ước đó có phải là kì vọng về một xã hội hòa bình yên ổn, thiên hạ ấm
no? Đọc tới đây ta có thể thấy được tấm lòng của một nhà nho chân
chính: nghĩ cho đời mà quên mình, “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng, diễn tả ước mơ to lớn và hoài bão rộng khắp bao trùm thiên hạ của một nho sĩ yêu nước thương dân.
Bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng, diễn tả ước mơ to lớn và hoài bão rộng khắp bao trùm thiên hạ của một nho sĩ yêu nước thương dân.
Trong cái khốn cùng ấy mà xót cảnh mình,
trách thân mình kém tài kém đức. Giận chính mình vì bất lực mà chẳng
đem lại cho bách tính con đường thoát khỏi lầm than. Tâm tình của ông
như viên ngọc bừng sáng với lòng nhân ái bao la với sự thấu hiểu và
thương xót cho những mảnh đời bất hạnh trong binh đao loạn lạc.
Trong bể dâu của thế sự điên cuồng, ông
mong mỏi một ngôi nhà rộng lớn có thể dung chứa tất thảy những tấm thân
bé nhỏ khốn cùng. Chứng kiến thảm cảnh đói, khát, rét mướt, mưa gió
chẳng nơi nương thân thì Đỗ Phủ như bao nhiêu anh hùng kẻ sĩ khác, đều
ôm trong mình nỗi lo đời và thương người, khao khát hạnh phúc cho muôn
dân.
Tác giả nêu ra một giả định rất chân
thành cảm động. Nếu thấy ngôi nhà “muôn ngàn gian” trong mơ trở thành
hiện thực thì riêng Đỗ Phủ “lều ta nát, chịu chết rét cũng được”.

Chỉ trong mấy câu thơ mà Đỗ Phủ đã chân
thực nói lên cảm xúc chân thành của mình. Cảm xúc và ước nguyện của ông
mang tính nhân văn cao cả, câu thơ của ông như ngọn lửa sưởi ấm tình
người trong đêm thu mưa lạnh.
Khổ thơ cuối cùng của bài là sự kết hơp
giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn đã tạo nên giá trị nhân bản sâu
sắc. Do đó mà qua rất nhiều thế hệ người đọc, họ đều đưa ra nhận định
khổ thơ này là hình ảnh đẹp nhất và đắt giá nhất trong bài.
Trải qua hơn 130 năm lịch sử, bài Mao ốc
vị thu phong sở phá ca của Đỗ Phủ để lại cho ta rất nhiều cảm xúc rung
động, những hình ảnh thơ của ông khắc sâu trong tâm trí người đọc. Đâu
đó vẫn còn vương lại những hình ảnh đau khổ và nỗi cay đắng của một nhà
thơ vĩ đại lỗi lạc đời Đường đã phải trải qua. Rồi những khoảnh khắc
rung động con tim khi những ước mơ bình dị tuyệt đẹp mang đầy tính nhân
văn khi con người ở tận cùng của đau khổ.
Trong cái cảnh loạn lạc, binh đao khói
lửa ấy giấc mơ của ông bao trùm cả những ước vọng của bách tính muôn
dân. Một giấc mơ mang đậm tình nhân ái sau cái vị đắng cay cùng cực của
cuộc đời.
(Bài viết sử dụng bản dịch thơ của Khương Hữu Dụng)
Tịnh Tâm
Ngày Trở Về - Duy Khánh
Ngày Trở Về
Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê
Chiều lặn tà, anh bước ra
Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu
Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa.
Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hòa bình.
Ngày trở về, những đóa hoa
Thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa
Có nhiều khi đời hoa chóng già vì thiếu mặn mà
Đàn trẻ đùa bên lũ trâu
Tiếng hát bình minh thoáng trên bãi dâu
Gió về đâu, còn thương tiếc người giọng hát rầu rầu.
Người kể rằng : Ai hỡi ai
Ai nhớ chuyện ai, chuyện người con gái
Chiến binh ơi, vì sao nát tan gia đình yên vui
Đừng giận hờn, thôi tiếc thương
Vì Xuân đã về trên khắp quê hương
Chớ thẹn thuồng vì nếu tôi quen em ngoài đồng vắng.
Ngày trở về, có anh thương binh lấy vợ hiền lành
Người đẹp bên anh, ta cùng học hành
Những khi tan công, hết việc, xếp gánh
Ngày lại ngày có em vui tươi xách gạo bến nước
Có nắm cơm ngon, ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng
Ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê
Chiều lặn tà, anh bước ra
Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu
Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa.
Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hòa bình.
Ngày trở về, những đóa hoa
Thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa
Có nhiều khi đời hoa chóng già vì thiếu mặn mà
Đàn trẻ đùa bên lũ trâu
Tiếng hát bình minh thoáng trên bãi dâu
Gió về đâu, còn thương tiếc người giọng hát rầu rầu.
Người kể rằng : Ai hỡi ai
Ai nhớ chuyện ai, chuyện người con gái
Chiến binh ơi, vì sao nát tan gia đình yên vui
Đừng giận hờn, thôi tiếc thương
Vì Xuân đã về trên khắp quê hương
Chớ thẹn thuồng vì nếu tôi quen em ngoài đồng vắng.
Ngày trở về, có anh thương binh lấy vợ hiền lành
Người đẹp bên anh, ta cùng học hành
Những khi tan công, hết việc, xếp gánh
Ngày lại ngày có em vui tươi xách gạo bến nước
Có nắm cơm ngon, ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng
Ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng
Hạnh phúc ngày trở về quê hương
Rải rác một số nơi trên địa bàn các tỉnh
Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, bọn phản động Fulrô vẫn lén lút
tuyên truyền lừa mị, kích động một bộ phận đồng bào nhẹ dạ, cả tin vượt
biên trái phép sang Campuchia để được đi Mỹ… “Thiên đường” giàu có đâu
không biết, mà chỉ thấy cảnh bị đánh đập, nghèo nàn, đói khổ, 121 người ở
Gia Lai đã trở về sau một năm sống biệt lập trong rừng…
Nụ cười bên dòng sông Pô Cô
Những ngày đầu tháng 9, không khí làng Kuk (xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) náo nhiệt, nhiều gia đình mừng vui tổ chức cho dân làng uống rượu vì gặp lại những đứa con “lạc bước” trở về...
Cũng như những người dân trong làng Kuk, chúng tôi được bà Ksor H’Lal mời những chén rượu gọi là mừng cho đứa con vừa thoát khỏi cuộc sống “giam cầm” gần một năm giữa rừng núi hoang tàn nơi xứ lạ. Đây cũng là ly rượu mong bà con dân làng “xá tội” cho đứa con trai duy nhất của bà…
Gặp chúng tôi, Ksor Yeu - con trai bà Ksor H’Lal - mừng vui cho biết: “Đến nay 1 năm trôi qua nhưng cái ngày 11-9-2007 thì mình không bao giờ quên được”. Hôm đó, Yeu đã cùng 5 người khác ở làng Chăp và làng Trâm vượt biên trái phép qua Campuchia. Đêm tối đen như mực, đoàn người lén lút, lúc thì bám cây rừng lần đi từng bước một, lúc lại bò như con rắn, con rết qua các bụi cây để tìm đường đến bến sông.
Sau đó tất cả lắc lư trên chiếc thuyền gỗ nhỏ, nước cứ chảy vào mỗi khi gặp sóng hay những tảng đá mồ côi giữa dòng, khi đến gần bờ phía Campuchia thì chiếc thuyền đập mạnh vào một cây gỗ, vỡ ra và chìm rất nhanh… Cả 6 người bì bõm, ngụp lặn trong cái rét như cắt da, cắt thịt bơi vào bờ. Sau hơn 10 ngày sống chui lủi trong rừng rậm, họ đã gặp những người mà khi đi bọn Fulrô tuyên truyền là “đại diện của Liên Hiệp Quốc”!
Không được đi Mỹ hay một nước phương Tây giàu có để “không làm cũng có ăn, tiền nhiều như lá rụng, gửi về cho cha mẹ xây nhà to, sống sung sướng…” như đã được Fulrô hứa hẹn, Ksor Yeu và 5 người trong nhóm bị đưa đến một trại tập trung. Trong trại có khoảng 300 người khác, sống tách biệt với thế giới bên ngoài, không có một phương tiện thông tin gì, lâu lâu có một chiếc xe chạy đến, cuốn theo một đám bụi đỏ, nhóm người nước ngoài và có cả mấy người Jơrai tự xưng là “anh em Ksor Kơk” đến gặp gỡ, “lấy cung” rồi ra về với những lời hứa: Ngày mai…
Kể đến đây, Ksor Yeu dừng lại, nâng ly và uống hết cả ly rượu đầy như muốn trút đi cơn bực tức. Anh nói: “Mình bị chúng nó lừa, bà con mình cũng bị chúng nó lừa nên nhiều người phải chịu cảnh khổ cực. Nếu gặp lại được thằng Siu Nham (kẻ tự xưng là tỉnh trưởng Fulrô, chuyên đi câu móc, lừa mị đồng bào ở Gia Lai vượt biên, PV) mình sẽ chặt nó ra trăm khúc.
Sống trong trại một thời gian ngắn, biết được cái bụng của nó thâm độc, nói những lời không đúng giống như con rắn, con rết… mình quyết định xin về với mẹ H’Lal và bà con làng Kuk. Không nơi đâu sống sung sướng, hạnh phúc và giàu có bằng ở Gia Lai - Tây Nguyên mình”.
Nước mắt người mẹ
Chúng tôi cùng ông Rơ Lan Hin - Trưởng làng Kuk - đến nhà Pli, đối tượng vượt biên cùng với Yeu và cũng tình nguyện trở về vào những ngày đầu tháng 9. Trong ngôi nhà thoáng rộng, Pli tiếp chúng tôi lúc đầu còn dè dặt, tỏ vẻ lo sợ… Nhưng khi nghe Trưởng làng Rơ Lan Hin giới thiệu, anh vui vẻ và kể lại câu chuyện “ra đi”: “Hôm đó, sau khi uống rượu say say, Pli nghe mấy đứa bạn trong làng rủ trốn qua Campuchia để được đi nước giàu có. Không kịp cả lấy mấy bộ quần áo, PLi bám theo đoàn người trong đêm tối. Ở trong trại được mấy ngày, PLi nhớ gia đình, nương rẫy và cây đa đầu đường nơi hằng ngày cả bọn gặp nhau đi lấy nước giọt, đi hái măng rừng… Nước Mỹ sung sướng đâu không thấy mà chỉ thấy toàn cảnh đánh đập, đói khát, khổ cực…
PLi quyết định tự nguyện trở về. Về quê, bà con thân tình, cởi mở, chính quyền đến thăm. Thế mà bọn Fulrô cứ tuyên truyền là ai về lại làng bản sẽ bị chính quyền bắt, đánh đập, cắt chân tay; bà con làng bản xa lánh, nhà cửa bị đốt… Đừng ai dại dột mà tin lời nói của bọn chúng”.
Có mặt trong buổi gặp mặt của gia đình của Ksor Yeu, bà Puih Prên nước mắt cứ chảy hoài trên khuôn mặt gầy khô. Năm 2004, khi đang làm rẫy trồng mì cách nhà 4km, cái tin “Con Vét và chồng nó đã bỏ làng Kuk vượt biên qua Campuchia” đến với bà thật bất ngờ và đau khổ.
Gần một năm sau, bà lại nghe tin bọn nó đã được người “Liên Hiệp Quốc” đón qua Mỹ. Cái buồn nhiều hơn, nhưng trong thâm tâm bà vẫn le lói hy vọng “thôi thế cũng được”, bọn chúng nó sẽ gửi tiền về, rồi đây mình sẽ giàu có…
Nhưng đến nay, chỉ một lần con Vét gọi điện thoại về từ bên nước Mỹ, nó nói khổ quá, muốn về quê mà không có tiền rồi nói thêm cái chi đó nữa mà bà không nghe rõ… Tiền bạc đâu không thấy, chỉ thấy bóng hình con xa dần theo tuổi tác và nỗi nhớ ngày một dài thêm. Nhiều đêm nhớ con không ngủ được, nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt u sầu, bà gọi tên: Vét ơi, trở về với mẹ và làng quê đi con….
Ái Hàn
Nụ cười bên dòng sông Pô Cô
Những ngày đầu tháng 9, không khí làng Kuk (xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) náo nhiệt, nhiều gia đình mừng vui tổ chức cho dân làng uống rượu vì gặp lại những đứa con “lạc bước” trở về...
Cũng như những người dân trong làng Kuk, chúng tôi được bà Ksor H’Lal mời những chén rượu gọi là mừng cho đứa con vừa thoát khỏi cuộc sống “giam cầm” gần một năm giữa rừng núi hoang tàn nơi xứ lạ. Đây cũng là ly rượu mong bà con dân làng “xá tội” cho đứa con trai duy nhất của bà…
Gặp chúng tôi, Ksor Yeu - con trai bà Ksor H’Lal - mừng vui cho biết: “Đến nay 1 năm trôi qua nhưng cái ngày 11-9-2007 thì mình không bao giờ quên được”. Hôm đó, Yeu đã cùng 5 người khác ở làng Chăp và làng Trâm vượt biên trái phép qua Campuchia. Đêm tối đen như mực, đoàn người lén lút, lúc thì bám cây rừng lần đi từng bước một, lúc lại bò như con rắn, con rết qua các bụi cây để tìm đường đến bến sông.
Sau đó tất cả lắc lư trên chiếc thuyền gỗ nhỏ, nước cứ chảy vào mỗi khi gặp sóng hay những tảng đá mồ côi giữa dòng, khi đến gần bờ phía Campuchia thì chiếc thuyền đập mạnh vào một cây gỗ, vỡ ra và chìm rất nhanh… Cả 6 người bì bõm, ngụp lặn trong cái rét như cắt da, cắt thịt bơi vào bờ. Sau hơn 10 ngày sống chui lủi trong rừng rậm, họ đã gặp những người mà khi đi bọn Fulrô tuyên truyền là “đại diện của Liên Hiệp Quốc”!
Không được đi Mỹ hay một nước phương Tây giàu có để “không làm cũng có ăn, tiền nhiều như lá rụng, gửi về cho cha mẹ xây nhà to, sống sung sướng…” như đã được Fulrô hứa hẹn, Ksor Yeu và 5 người trong nhóm bị đưa đến một trại tập trung. Trong trại có khoảng 300 người khác, sống tách biệt với thế giới bên ngoài, không có một phương tiện thông tin gì, lâu lâu có một chiếc xe chạy đến, cuốn theo một đám bụi đỏ, nhóm người nước ngoài và có cả mấy người Jơrai tự xưng là “anh em Ksor Kơk” đến gặp gỡ, “lấy cung” rồi ra về với những lời hứa: Ngày mai…
Kể đến đây, Ksor Yeu dừng lại, nâng ly và uống hết cả ly rượu đầy như muốn trút đi cơn bực tức. Anh nói: “Mình bị chúng nó lừa, bà con mình cũng bị chúng nó lừa nên nhiều người phải chịu cảnh khổ cực. Nếu gặp lại được thằng Siu Nham (kẻ tự xưng là tỉnh trưởng Fulrô, chuyên đi câu móc, lừa mị đồng bào ở Gia Lai vượt biên, PV) mình sẽ chặt nó ra trăm khúc.
Sống trong trại một thời gian ngắn, biết được cái bụng của nó thâm độc, nói những lời không đúng giống như con rắn, con rết… mình quyết định xin về với mẹ H’Lal và bà con làng Kuk. Không nơi đâu sống sung sướng, hạnh phúc và giàu có bằng ở Gia Lai - Tây Nguyên mình”.
Nước mắt người mẹ
Chúng tôi cùng ông Rơ Lan Hin - Trưởng làng Kuk - đến nhà Pli, đối tượng vượt biên cùng với Yeu và cũng tình nguyện trở về vào những ngày đầu tháng 9. Trong ngôi nhà thoáng rộng, Pli tiếp chúng tôi lúc đầu còn dè dặt, tỏ vẻ lo sợ… Nhưng khi nghe Trưởng làng Rơ Lan Hin giới thiệu, anh vui vẻ và kể lại câu chuyện “ra đi”: “Hôm đó, sau khi uống rượu say say, Pli nghe mấy đứa bạn trong làng rủ trốn qua Campuchia để được đi nước giàu có. Không kịp cả lấy mấy bộ quần áo, PLi bám theo đoàn người trong đêm tối. Ở trong trại được mấy ngày, PLi nhớ gia đình, nương rẫy và cây đa đầu đường nơi hằng ngày cả bọn gặp nhau đi lấy nước giọt, đi hái măng rừng… Nước Mỹ sung sướng đâu không thấy mà chỉ thấy toàn cảnh đánh đập, đói khát, khổ cực…
PLi quyết định tự nguyện trở về. Về quê, bà con thân tình, cởi mở, chính quyền đến thăm. Thế mà bọn Fulrô cứ tuyên truyền là ai về lại làng bản sẽ bị chính quyền bắt, đánh đập, cắt chân tay; bà con làng bản xa lánh, nhà cửa bị đốt… Đừng ai dại dột mà tin lời nói của bọn chúng”.
Có mặt trong buổi gặp mặt của gia đình của Ksor Yeu, bà Puih Prên nước mắt cứ chảy hoài trên khuôn mặt gầy khô. Năm 2004, khi đang làm rẫy trồng mì cách nhà 4km, cái tin “Con Vét và chồng nó đã bỏ làng Kuk vượt biên qua Campuchia” đến với bà thật bất ngờ và đau khổ.
Gần một năm sau, bà lại nghe tin bọn nó đã được người “Liên Hiệp Quốc” đón qua Mỹ. Cái buồn nhiều hơn, nhưng trong thâm tâm bà vẫn le lói hy vọng “thôi thế cũng được”, bọn chúng nó sẽ gửi tiền về, rồi đây mình sẽ giàu có…
Nhưng đến nay, chỉ một lần con Vét gọi điện thoại về từ bên nước Mỹ, nó nói khổ quá, muốn về quê mà không có tiền rồi nói thêm cái chi đó nữa mà bà không nghe rõ… Tiền bạc đâu không thấy, chỉ thấy bóng hình con xa dần theo tuổi tác và nỗi nhớ ngày một dài thêm. Nhiều đêm nhớ con không ngủ được, nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt u sầu, bà gọi tên: Vét ơi, trở về với mẹ và làng quê đi con….
| Trưởng làng Kuk, ông Rơ Lan Hin cho biết: “Làng Kuk hiện nay có 142 hộ, trên 565 khẩu, đều là người Jơrai. Bà con đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, ở đây nhà nào cũng có xe máy, ti vi… Trường học, bệnh xá được xây dựng khang trang, trẻ em đủ tuổi đến trường học tập đều được hỗ trợ 100% học phí, tiền mua sách vở. Đầu năm 2008, nhà nước đã làm đường nhựa từ làng ra tận trụ sở UBND xã”. |
Lá Thư Trần Thế | Duy Khánh - Hương Lan
Lá Thư Trần Thế
Lạy Chúa con là lính trận ngoài biên
Vì xa thành phố xa quá nên quên.
Đêm nay ngôi hai trời xuống
Ánh sao lung linh muôn màu,
con tưởng hỏa châu soi tuyến đầu
Lạy Chúa con là thiếu phụ miền quê
Chồng con vì nước nên đã ra đi
Hai ba năm chưa thỏa chí
Hết Thu qua Xuân sang Hè
Con đợi tàn Đông mới tin về.
Đạn xé không trung đêm đừng đêm vẫn nghe
Từng lớp trai đi cho ngày mai vẫn đi
Đêm nay Người xuống đời
Xin đem nguồn vui tới
Những đôi môi cằn cỗi lâu không cười.
Lạy Chúa con còn lứa tuổi học sinh
Vì cha là lính con thiết tha xin
An vui cho người đầu tuyến
Trẻ thơ yên tâm sách đèn
Để mẹ hiền con hết ưu phiền.
Vì xa thành phố xa quá nên quên.
Đêm nay ngôi hai trời xuống
Ánh sao lung linh muôn màu,
con tưởng hỏa châu soi tuyến đầu
Lạy Chúa con là thiếu phụ miền quê
Chồng con vì nước nên đã ra đi
Hai ba năm chưa thỏa chí
Hết Thu qua Xuân sang Hè
Con đợi tàn Đông mới tin về.
Đạn xé không trung đêm đừng đêm vẫn nghe
Từng lớp trai đi cho ngày mai vẫn đi
Đêm nay Người xuống đời
Xin đem nguồn vui tới
Những đôi môi cằn cỗi lâu không cười.
Lạy Chúa con còn lứa tuổi học sinh
Vì cha là lính con thiết tha xin
An vui cho người đầu tuyến
Trẻ thơ yên tâm sách đèn
Để mẹ hiền con hết ưu phiền.
Những bức thư tình cảm động của người lính trong chiến tranh
(VTC News) - Chiến tranh đâu chỉ
có đau thương mất mát, ở đó còn có cả những tình yêu mãnh liệt đạp lên
bom đạn, súng gươm của kẻ thù.
Mới đây, VTC News đã gửi đến quý vị độc giả bức thư tình viết cho người yêu của liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa
(Nam Định), viết khi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra. Viết vội bức
thư, anh còn chưa kịp ghi địa chỉ để gửi đã phải hành quân lên biên giới
chiến đấu với kẻ thù.
Anh hy sinh
khi bức thư tình viết cho người yêu còn chưa được gửi. Phải mãi đến 34
năm sau, bức thư mới được trao tận tay bà Thúy, người yêu của liệt sĩ
Hòa trong sự xúc động của nhân vật và những người chứng kiến.
Bức thư tình của liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa. Ảnh N.T. Hằng
Chiến
tranh là đau thương mất mát, nhưng ở đó có cả những tình yêu thiêng
liêng và cao đẹp. Tình yêu đó được truyền tải, kết nối từ chiến trường
này sang chiến trường khác, từ chiến trường về hậu phương. Và truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Để từ đó, những thế hệ đi sau hiểu được sự
tàn bạo, mất mát, hy sinh của chiến tranh, để quý trọng hơn nền hòa bình
chúng ta đang có.
Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả những bức thư tình như thế:
“Ngày 30/4 /1971
...Bốn năm nữa Như Anh ‘đã trở thành con người hoàn chỉnh’, đã có thể trả lời câu hỏi: ‘Hạnh phúc là gì?’.
Chao
ôi, Như Anh, Như Anh bé bỏng của Thạc. Sao câu trả lời của Như Anh lại
hay và đẹp đẽ thế. Ừ, phải rồi, khi nào ‘trở thành người lớn thực sự,
khi nào đóng góp được cho Tổ quốc, khi đấy ta mới trả lời được, hạnh
phúc là gì!’. Cám ơn thầy Nga văn ngộ nghĩnh của Như Anh đã giúp cho
Thạc hiểu được khía cạnh đẹp đẽ ấy của tâm hồn bạn.
...
Bốn năm nữa biết bao sự kiện sẽ xảy ra. 30/4/1975 thì Thạc và Như Anh
đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975, dù
chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết
cho nhau những dòng chữ ‘hạnh phúc là thế nào’ nhé! Thạc sẽ nhớ lời hứa
này và sẽ chuẩn bị ‘ý tứ’ cho bức thư ngày ấy bằng cuộc sống bốn năm sắp
tới.
Ngày 26/3/1972
Như Anh yêu dấu của Thạc…
Bây
giờ đây Thạc muốn nói với Như Anh điều mà Thạc còn e ngại mãi: chờ
Thạc, Như Anh nhé! Chờ Thạc đi chiến đấu trở về. Chắc không còn lâu nữa
chiến tranh sẽ kết thúc thôi. Thạc sẽ trở về và lại đi học tiếp. Thạc
lại mặc chiếc áo xanh da trời xanh màu thương nhớ. Lại hò hẹn Như Anh…
Thôi
nhé, bắt tay cô sinh viên nào. Vui và khỏe nhé. Học giỏi nhé, thỉnh
thoảng nhớ Thạc chụp ảnh và viết thư gửi về cho Thạc nhé. Cứ nhé mãi
thôi. Đừng ‘ghét Thạc’ nhé!
Xiết chặt Như Anh. Thạc của Như Anh” - thư tình trong “Mãi mãi tuổi 20” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc
Ảnh bìa cuốn nhật ký nổi tiếng Mãi mãi tuổi 20 của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc.
Liệt
sĩ Nguyễn Văn Thạc (sinh năm 1952) - tác giả của cuốn sách “Mãi mãi
tuổi 20” nhập ngũ (ngày 6/9/1971). Trong những ngày tháng ở chiến
trường, Nguyễn Văn Thạc và bạn gái Như Anh thường xuyên có những bức thư
chứa chan nỗi nhớ thương da diết và mong ngày đất nước toàn thắng để
hội ngộ. Song, Nguyễn Văn Thạc đã không thể trở về, anh hy sinh ngày
30/7/1972.
Cũng như liệt sĩ Nguyễn
Văn Thạc, bác sĩ - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm cũng phải xa cách mối tình lên
đường chiến đấu với kẻ thù xâm lược khi tuổi còn xuân. Và chị ngã xuống
trên chiến trường Quảng Ngãi vào năm 1970. Khi cuốn nhật ký của chị
được một cựu binh Mỹ lưu giữ, trả lại cho gia đình. Người ta đã thấy
trong đó những bức thư tình xúc động về mối tình trong thời chiến.
Hình ảnh liệt sĩ Đặng Thùy Trâm được in trên bìa cuốn nhật ký.
“Đừng
trách tôi nghe đồng chí! Tiếng súng chiến thắng đang nổ giòn trên khắp
các chiến trường, chiến thắng ấy có công sức của anh, của những người
chiến sĩ giải phóng và có chút xíu của em người ở hậu phương. Em nghe
rồi nhưng vẫn có lúc nào đó giữa hai tràng tiếng nổ em nghe tiếng thì
thầm của trái tim... Đó là khuyết điểm không thì tùy người đánh giá...
Anh có khỏe không? Mong anh được bình an và khỏe, mãi mãi là người giải
phóng quân cầm súng mà tâm hồn không phải chỉ có lửa đạn...?”.
Trong cuốn nhật ký của mình, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm viết: “...
Cái gì của chín năm qua không phải dễ mất đi dù người ta có muốn dứt bỏ
nó. Người ta là ai? Là anh, là em hay những dư luận đang bao bọc cả hai
đứa mình? Anh xác định đi, ai cũng có trong đó cả anh à... Vậy mà gốc
rễ của yêu thương hình như vẫn còn nằm sâu trong lòng đất, vẫn còn sức
sống, vẫn có thể đâm chồi nẩy lộc nếu mùa xuân lại về với những hạt mưa
xuân mát lạnh trên má người con gái năm xưa”.
Video: Chiến tranh biên giới 1979: Vết thương lòng của những người ở lại
Xúc động bức thư tình không kịp gửi của liệt sĩ chiến tranh biên giới 1979
(VTC News) - Viết vội bức thư
cho người vợ tương lai trước giờ hành quân, nhưng chưa kịp gửi thì chuẩn
úy Nguyễn Thái Hòa đã hy sinh trong chiến tranh biên giới năm 1979.
Vào những ngày này 38 năm về
trước, chuẩn úy Nguyễn Thái Hòa (khi đó 27 tuổi) hành quân lên Lạng Sơn
chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Trước khi đi, anh viết vội bức thư gửi
cho người yêu, nhưng anh đã hy sinh mà chưa kịp ghi địa chỉ để gửi thư
về.
Phải 34 năm sau (năm 2013), khi
đất nước đã hòa bình, người yêu của liệt sĩ Hòa ngày nào giờ đã thành
bà mới nhận được bức thư đầy xúc động.
Bức thư của liệt sĩ Hòa viết cho người yêu trước lúc hy sinh. (Ảnh: Đức Thuận).
Hôm
nay, kể lại với chúng tôi về hành trình 34 năm đi tìm nhân vật trong
bức thư, bà Ngô Thúy Hằng - người sáng lập và điều hành Trung tâm tư vấn
pháp luật và trợ giúp pháp lý cho gia đình liệt sĩ (MARIN) - đơn vị đã
tìm kiếm và trao bức thư cho bà Thúy (người yêu của liệt sĩ Hòa) vẫn vẹn
nguyên xúc động.
Bà Hằng cho biết, đại tá Vũ Đình Đảng (cựu giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự) là người phát hiện và lưu giữ bức thư.
Vào năm 1981, đại tá Đảng được giao nhiệm vụ làm Chính trị
viên Đại đội 10, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 52, Sư đoàn 337. Khi tiếp nhận
công việc, trong một lần kiểm tra lại sổ sách thì ông phát hiện bức thư
đã rất cũ, trên bì thư không ghi địa chỉ của người nhận và cả người
gửi.
Tò
mò, ông mở bức thư ra xem thì đó là những dòng tâm sự rất xúc động của
một sĩ quan trẻ gửi cho người yêu ở quê nhà. Bức thư gây ấn tượng đặc
biệt với đại tá Đảng, bởi thư được viết vào ngày 19/2/1979, chỉ 2 ngày
sau khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tàn khốc nổ ra.
Bức
thư viết vội với những cảm xúc của người lính trẻ khi vừa tham gia
chiến đấu giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuẩn bị
được về với quê hương, gia đình và người yêu thì lại phải lên đường bước
vào một cuộc chiến khốc liệt khác. Cuộc chiến mà chuẩn úy Hòa đã vĩnh
viễn nằm lại nơi biên cương để giữ được từng tấc đất của Tổ quốc.
Đọc
xong bức thư, đại tá Đảng cũng chưa biết tên người đã viết bức thư này
là ai. Ông mang thư đi hỏi những đồng đội trong đơn vị thì mới biết đó
là của liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa - chính trị viên cũ của đơn vị.
“Đây
(bức thư – PV) là tài sản của cả 1 thế hệ”, bà Hằng dẫn lời đại tá
Đảng. Vì thế, đại tá Đảng ấp ủ tâm nguyện sẽ tìm người thân của liệt sĩ
Hòa để trao lại bức thư. Đồng thời, gửi đến tay người con gái trong bức
thư được liệt sĩ Hòa viết 34 năm về trước.
Sau
đó, bằng những kết nối, bức thư được mang đến Trung tâm MARIN. Năm
2013, MARIN đã tìm được ông Nguyễn Văn Hợp - em trai liệt sĩ Hòa (ở thị
trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định).
Ông Hợp cho biết, hiện phần mộ của liệt sĩ Hòa nằm tại Hải Hậu, còn gia đình đã chuyển hết về Nghĩa Hưng sinh sống.
Nhận
lại bức thư, ông Hợp xúc động kể, anh trai ông (liệt sĩ Hòa) là con thứ
ba trong gia đình, năm 1972 ông Hòa đi bộ đội, đóng quân ở Nghệ An, sau
đó vào tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam. Kết thúc chiến tranh
chống Mỹ, giải phóng đất nước, ông Hòa trở về đơn vị tại Nghệ An đóng
quân.
Chưa kịp gác súng trở về quê hương thì ông lại được điều động lên biên giới Lạng Sơn chiến đấu với quân Trung Quốc xâm lược.
Người
con gái trong bức thư mà ông Hòa nhắc tới là bà Thúy (người cùng quê),
khi đó, 2 gia đình đã định ngày cưới cho đôi trẻ vào tháng 3/1979.
Ngày
19/2/1979, ông Hòa được lệnh hành quân lên chiến trường Lạng Sơn. Hai
tuần sau, ngày 2/3/1979, ông anh dũng hy sinh trên mảnh đất biên giới
khi bức thư viết cho người yêu còn chưa kịp gửi.
Đại tá Đảng trao bức thư cho gia đình liệt sĩ Hòa và bà Thúy. (Ảnh: Ngô Thúy Hằng).
Năm
2013, đại tá Đảng cùng trung tâm MARIN đã trực tiếp mang bức thư về
trao tận tay cho gia đình và bà Thúy. Đọc những dòng thư mà liệt sĩ Hòa
viết cho người yêu đúng 3 tiếng trước khi hành quân lên biên giới khiến
những người có mặt đều rưng rưng nước mắt.
VTC News xin đăng tải lại nguyên văn bức thư tình không kịp gửi của liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa:
19/2/1979,
Em thân yêu của anh!
Thư
em đến với anh giữa lúc anh cùng đơn vị chuẩn bị lên đường đi chiến
đấu. Lẽ ra anh không báo tin này cho em và gia đình biết, phần vì thời
gian rất gấp và khẩn trương, phần vì anh không muốn em phải lo lắng
nhiều vì anh.
Em thân yêu!
Ở xa em có thể hiểu được tâm trạng của anh lúc này không em - bâng
khuâng, buồn và nhớ da diết, anh bâng khuâng vì đêm nay là đêm cuối cùng
ở vùng đất khu 4 này. Ngày mai anh sẽ ra phương Bắc để bước vào cuộc
chiến mới.
Nơi đó cuộc ác
chiến đã và đang diễn ra. [...] Nơi đó đồng đội đang chờ anh. Anh buồn
vì những lúc này anh thấy mình cô đơn và buồn tẻ. Anh nhớ em da diết bởi
vì anh sẽ phải xa em nhiều năm nữa, chưa biết khi nào anh mới quay trở
lại gặp em. Ôm em và hôn em thắm thiết. Tình yêu của em và anh trong
những ngày tháng qua đã để lại cho anh tình thương em, yêu em vô bờ bến.
Có thể nói rằng mỗi bước đi, mỗi ngày sống anh đều có em…
Em
ơi, ngày mai anh đi về phương Bắc, anh không được gặp em để có đôi lời
biệt ly! Ra đi mang nhiều nỗi nhớ thương, ai có thể thấu hiểu được lòng
anh trong lúc này em nhỉ? Chỉ có anh thôi, anh đang sống trong giờ phút
chia ly. Bao lời anh nói em nhờ thư, nhờ gió mây gửi đến cho em.
Anh
ra đi mang theo tình em, anh ra đi để được hiểu, được sống trong giờ
phút có cảm nghĩ sâu sắc và tất nhiên sẽ hiểu hết các giá trị của tình
yêu. Một tình yêu của anh với em không giới hạn. Một tình yêu vô cùng
đẹp đẽ. Dù có nói vạn lần yêu em anh cảm thấy vẫn chưa đủ. Anh không
biết nói gì hơn nữa để diễn tả nỗi nhớ tình thương và yêu em như lúc
này.
Em yêu thương và nhớ
mãi của anh! Chỉ còn 3 giờ đồng hồ nữa là anh tạm biệt nơi đây. Có lẽ
chiến thắng của quân dân ta ngày mai có thể có cả công anh. Nhớ theo dõi
tin thắng trận và mừng cho anh em nhé. Anh đã và đang chuẩn bị hành
quân như em đã viết thư cho anh. Và đêm nay anh không ngủ để ghi nốt
trang thư trên mảnh đất này. Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ
để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu,
không ngủ để gần em và luôn thấy em.
Nhận được thư này đừng nên lo lắng nhiều và buồn em nhé - tan giặc anh về, chờ đợi anh em nhé, chờ đợi anh.
Đêm 19/2.
Anh yêu của em
Tái
bút: Anh chỉ nhận được thư em ngày 6/2. Vì chuyển nên đừng ghi theo địa
chỉ cũ nữa, khi nào có địa chỉ mới anh sẽ báo tin sau. Anh đã ghi thư
cho chị Nhuần + Huệ và em 2 lá. Nhưng mới chỉ nhận được thư em lúc 20h
ngày 19/2. (Thông cảm cho anh vì thời gian rất gấp. Ngồi ghi thư cho em
ngay trong lúc tất cả đang chuẩn bị lên đường - lính mà em).
Thư tình nay còn đâu
Cập nhật lúc 21:51, Thứ Sáu, 05/10/2018 (GMT+7)
Những lá thư tình, ngày nay dường như đã
vắng bóng. Và bóng dáng của nhân viên bưu cục không còn là hình ảnh được
chờ mong phía thềm nhà.
Những lá thư tình giờ chỉ là dĩ vãng. Để thay thế, đã có điện thoại, email, mạng xã hội… vừa nhanh chóng lại có thể đi kèm hình ảnh và những biểu cảm xinh xinh; vừa tiện lợi lại hiện đại bởi đã ai có thể vừa ngồi trên xe hay lang thang ngoài phố mà viết cho nhau những lá thư tình.
Không còn thư tình, nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung;… trước khi gửi đi được lọc chung qua bàn phím. Chẳng phải nắn nót “nét chữ nết người”; chẳng cần viết và xé khi những dòng chữ chưa đủ sức diễn đạt lòng mình. Cũng chẳng có những bâng khuâng, len lén giấu thư tình đâu đó, rồi chỉ cần có khoảnh khắc ngắn thôi, lén mở, lén nhìn nét chữ thân thương và thấy lòng mình đang thổn thức. Cũng sẽ chẳng có một ngày nào đó, khi bước qua một ngã rẽ cuộc đời, lặng lẽ khóc, lặng lẽ thả đi những lá thư tình vào nơi ngọn lửa hồng.
Không còn thư tình. Người yêu nhau chẳng còn thấy những dòng chữ như những ánh mắt cười vừa nhảy múa vừa dóng thẳng hàng khi người ta vui hay run rẩy, nghiêng nghiêng, nhạt nhòa lúc người ta đang trào nước mắt. Không còn thư tình, chẳng cần phải cất thật kỹ, khóa thật chặt để giữ cho riêng mình những nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung… Đã có mật khẩu thay thế. Rồi qua điện thoại, email, mạng xã hội… nhiều chuyện tình còn có thể lan tỏa xa hơn, để được chúc mừng, để được tụng ca hay để lây lan cảm xúc; một cảm xúc không đi từ trái tim mình.
Những lá thư tình, ngày nay dường như đã vắng bóng. Khi thùng bưu phẩm không còn những lá thư tình, sẽ chẳng còn ánh nhìn lấp lánh, nheo nheo đùa nghịch của bác nhân viên bưu cục thuở nào; cả đôi bàn tay xòe ra đón nhận gói bưu phẩm cũng không còn run run và nhân viên bưu cục dường như đã thành nhân viên giao hàng kể khi thư tình vắng bóng...
Tôi vẫn nhớ, chuyện thư tình của những người yêu nhau là câu chuyện không xa lắm. Thư tình chỉ mới vắng đâu đây, rồi sẽ lại về bởi điện thoại, email, mạng xã hội… dẫu có nhanh chóng và tiện lợi nhưng không có những dòng chữ nắn nót, dù mực xanh hay mực tím, dù rõ nét hay nhạt nhòa thì việc chuyển tải những nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung… chưa bao giờ là đủ đầy nhất.
Bởi vậy, những người yêu nhau, hãy viết cho nhau một lá thư tình.
Những lá thư tình giờ chỉ là dĩ vãng. Để thay thế, đã có điện thoại, email, mạng xã hội… vừa nhanh chóng lại có thể đi kèm hình ảnh và những biểu cảm xinh xinh; vừa tiện lợi lại hiện đại bởi đã ai có thể vừa ngồi trên xe hay lang thang ngoài phố mà viết cho nhau những lá thư tình.
Không còn thư tình, nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung;… trước khi gửi đi được lọc chung qua bàn phím. Chẳng phải nắn nót “nét chữ nết người”; chẳng cần viết và xé khi những dòng chữ chưa đủ sức diễn đạt lòng mình. Cũng chẳng có những bâng khuâng, len lén giấu thư tình đâu đó, rồi chỉ cần có khoảnh khắc ngắn thôi, lén mở, lén nhìn nét chữ thân thương và thấy lòng mình đang thổn thức. Cũng sẽ chẳng có một ngày nào đó, khi bước qua một ngã rẽ cuộc đời, lặng lẽ khóc, lặng lẽ thả đi những lá thư tình vào nơi ngọn lửa hồng.
Không còn thư tình. Người yêu nhau chẳng còn thấy những dòng chữ như những ánh mắt cười vừa nhảy múa vừa dóng thẳng hàng khi người ta vui hay run rẩy, nghiêng nghiêng, nhạt nhòa lúc người ta đang trào nước mắt. Không còn thư tình, chẳng cần phải cất thật kỹ, khóa thật chặt để giữ cho riêng mình những nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung… Đã có mật khẩu thay thế. Rồi qua điện thoại, email, mạng xã hội… nhiều chuyện tình còn có thể lan tỏa xa hơn, để được chúc mừng, để được tụng ca hay để lây lan cảm xúc; một cảm xúc không đi từ trái tim mình.
Những lá thư tình, ngày nay dường như đã vắng bóng. Khi thùng bưu phẩm không còn những lá thư tình, sẽ chẳng còn ánh nhìn lấp lánh, nheo nheo đùa nghịch của bác nhân viên bưu cục thuở nào; cả đôi bàn tay xòe ra đón nhận gói bưu phẩm cũng không còn run run và nhân viên bưu cục dường như đã thành nhân viên giao hàng kể khi thư tình vắng bóng...
Tôi vẫn nhớ, chuyện thư tình của những người yêu nhau là câu chuyện không xa lắm. Thư tình chỉ mới vắng đâu đây, rồi sẽ lại về bởi điện thoại, email, mạng xã hội… dẫu có nhanh chóng và tiện lợi nhưng không có những dòng chữ nắn nót, dù mực xanh hay mực tím, dù rõ nét hay nhạt nhòa thì việc chuyển tải những nhớ thương và chờ đợi; hạnh phúc và khổ đau; làm lành và giận dỗi; dang dở và thủy chung… chưa bao giờ là đủ đầy nhất.
Bởi vậy, những người yêu nhau, hãy viết cho nhau một lá thư tình.
Trâm Oanh
.

Nhận xét
Đăng nhận xét