KIẾP GIANG HỒ 216 (Sơn Vương)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
TRƯƠNG VĂN THOẠI - Đệ Nhất Giang Hồ Hành Hiệp Trượng Nghĩa, Lấy Của Lính Pháp Chia Cho Dân Nghèo
Sơn Vương tên thật Trương Văn Thoại, tự là Vạn Năng, là nhà văn, trùm giang hồ , "Quốc vương" tự phong của "Quốc gia Nhân dân Quần đảo An Ninh", Ông được xếp vào danh sách người thụ án lâu nhất Việt Nam thời Pháp thuộc. Tổng cộng các bản án do tòa "áo đỏ" của Pháp tuyên dành cho ông gồm 79 năm Trương Văn Thoại sinh năm 1909, tại làng Bình Nghị, tỉnh Gò Công (nay thuộc xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), là con trai thứ năm của Trương Đình Cung Anh, một điền chủ có học, lại thêm nghề bốc thuốc chữa bệnh, và có lòng hào hiệp, thường hay giúp đỡ giới nghèo cùng đinh.

Sơn Vương Trương Văn Thoại

Với 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo, có lẽ Sơn Vương Trương Văn Thoại là người phải thụ án lâu nhất Việt Nam. Không chỉ có thế, ông còn là một nhà văn được hâm mộ, một tên cướp khét tiếng trượng nghĩa và hào hoa. Cách mạng tháng Tám thành công, ông trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính Côn Đảo. Nhưng do những tham vọng phiêu lưu, ông tự biến mình thành lãnh chúa của cái gọi là “Đảo quốc Côn Lôn” để sau đó lại tiếp tục sống hàng chục năm sau song sắt, cho đến tận ngày sức tàn lực kiệt. Có thể nói, cuộc đời Sơn Vương là một lăng kính phản ánh khá trung thực và đậm nét về khí phách cang cường trọng nghĩa, yêu tự do, ý chí quật cường hào sảng của người nông dân Nam Bộ. Quan trọng hơn hết, ông là một nhân chứng sống của nhà tù Côn Đảo suốt hai thời Pháp thuộc và Mỹ – ngụy.
1. Kiếp phong sương ăn quán ngủ đình
Trước khi đổ ra cửa Tiểu, dòng chảy của sông Soài Rạp đột nhiên trở nên mạnh mẽ lạ thường. Từ nhiều đời, người dân làng Bình Nhị (Gò Công) vẫn tự hào bảo nhau: chính dư ba của trận Rạch Gầm – Soài Mút đại phá giặc Xiêm đã tiếp sức cho dòng sông tuôn ra biển lớn. Những câu chuyện truyền miệng hào hùng ấy đã hun đúc thêm cho những người nông dân xứ này một khí phách kiên cường, trượng nghĩa và trọng lẽ công bằng.
Ở trong làng, điền chủ Trương Đình Cung Anh là một người danh giá, được trọng vọng. Tuy giàu và có học thức nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về phía những người nông dân khốn khổ, luôn sẵn sàng giúp đỡ người nghèo và bênh vực kẻ yếu. Khi đã lớn tuổi, ông làm thêm nghề bốc thuốc Nam giúp dân chúng quanh vùng.
Năm 1909, người con trai thứ năm của vị điền chủ hào hiệp này chào đời. Lần đầu tiên nhìn thấy mặt con, điền chủ Trương Đình Cung Anh đã đứng lặng hồi lâu. Trán rộng, nhân trung sâu, mắt sâu, mũi khoằm, dáng dong dỏng, đứa bé mang tướng mạo một Kim Thánh Thán, hẳn sau này sẽ chọc trời khuấy nước nhưng có lẽ suốt đời lận đận. Ông đặt tên cho con là Trương Văn Thoại.
Ngày thôi nôi, trước vô số đồ chơi được bày trước mặt, cậu bé đã vồ lấy và nắm rất chắc hai tay hai món: một quản bút, một thanh gươm. Nét mặt vị điền chủ rạng lên nhưng ông vẫn không ngăn nổi một thoáng rùng mình lo lắng.
Đến tuổi cắp sách, Thoại tỏ ra thông minh, sức học hơn hẳn bạn bè cùng lớp. Nhưng, chỉ học hết chương trình Cours Supérieur (lớp Nhất tiểu học, khoảng lớp 5 hiện nay) đủ vốn tiếng Pháp để đọc sách Tây, cậu bé đã bỏ ngang, chuyển sang luyện võ và học thêm chữ Hán.
Thời gian còn lại, Truơng Văn Thoại vùi đầu vào sách, đọc toàn kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Truơng Văn Thoại cực kỳ say mê những cuốn sách của nhà văn bình dân Phú Đức với nhân vật Bách-xi-ma lái… “Khúc Dồi” phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc ẩn đang cưỡi trên… “Điếu Xì Gà”. Những nhân vật nổi loạn trong sách vở và truyền thống hào sảng, bất khuất của quê hương đã thắp dần lên trong lòng cậu bé một ước mơ cháy bỏng về lẽ công bằng và con đường giúp dân bớt bị bóc lột, hà hiếp. Nhưng giữa khi nước mất, ách đô hộ của thực dân Pháp đè nặng, Thoại chưa đủ sức nhìn thấy con đường sáng, chỉ ngọn lửa tang bồng hồ thỉ trong lòng là ngày một cháy rực lên.
Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Truơng Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng lao theo tiếng gọi giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra 6 năm trời lăn lộn khắp các ngọn núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào vùng Long Hải, Bà Rịa theo một đại lão sư mai danh ẩn tích học võ và học đạo. Năm 1931, vị Đại lão sư viên tịch, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền khốn khổ. Anh ở trọ trên căn gác gỗ rộng chừng 20m2 của tiệm may Nam Chấn Hưng ở số 2 đường Lefebre (nay là đường Hồ Tùng Mậu, quận 1). Ông Tư Chiêu, chủ tiệm Nam Chấn Hưng vốn là bạn bè của ông Trương Đình Cung Anh, cha Thoại. Ngoài sách vở, tài sản của Thoại chỉ có thêm một chiếc bao kiểu lính thủy bằng vải kaki. Ban ngày, trải bao bên lề đường, Thoại hành nghề bán sách. Đêm, chắp thêm hai đoạn dây, bao kaki trở thành chiếc võng nóp cho kẻ giang hồ chợp mắt qua đêm.
Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Trên những tấm đệm bàng 7 tấc, một dãy thầy bói sắp hàng, kính râm che mắt, bộ bài cáu bẩn xếp ngay ngắn trước mặt. Bên cạnh đám thầy bói là các văn nhân, chủ báo, cũng bày “sản phẩm” của mình trên những vuông chiếu trải cạnh lề đường. Trong số những người bán báo đó, Trương Văn Thoại đặc biệt chú ý đến một người: Ông Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè) kiêm thủ lĩnh đảng Thanh niên cao vọng, hơn Thoại chẵn 10 tuổi. Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée và nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Theo chữ Hán, chữ “Thoại” được ghép bởi ba chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Ngoài ra, Thoại còn ký tên khác là Trương Vạn Năng, tự bộc lộ ý chí và tham vọng của mình.
Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc tầng lớp bần cùng.
Khoảng những năm 1932-1933, Sơn Vương Trương Văn Thoại – mới 23 tuổi – đã danh nổi như cồn ở khắp Sài Gòn – Chợ Lớn và vùng lục tỉnh, chủ yếu nhờ những tác phẩm trung thiên tiểu thuyết đăng tải trên báo. Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Vẫn là tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, song tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi tiến bộ lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật tướng cướp nghĩa hiệp cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với thanh gươm lưng ngựa, thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn ùng oàng. Đáng kể nhất là ba cuốn: Luật rừng xanh, Chén cơm lạt, và Tướng cướp hào hoa.
Rất đông nhà văn, nhà báo thế hệ sau đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Sơn Vương, cả về khí phách chống cường quyền, áp bức, ủng hộ dân nghèo lẫn lối hành văn bình dân trong sáng và giản dị. Nhưng ít ai biết rằng, tất cả những nhân vật tướng cướp nghĩa hiệp ấy đều chính là hiện thân của tác giả Sơn Vương. Thay vì tìm tư liệu để viết, Sơn Vương đã tự… tạo ra tư liệu. Trong hơn hai năm, từ 1931-1933, Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhằm vào các phú hộ, địa chủ gian ác khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.
Giữa năm 1933, Sơn Vương dời địa điểm bán sách sang lề đường Charner (Nguyễn Huệ). Tại đó, ông gặp gỡ và kết nghĩa huynh đệ với một thanh niên tên là Nguyễn Phương Thảo, người sau này nổi danh với cái tên Trung tướng độc nhãn Nguyễn Bình – Tư lệnh các lực lượng quân sự Nam Bộ những năm đầu cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp (1945-1954).
Nguyễn Phương Thảo thua Sơn Vương 6 tuổi, quê ở Yên Phú, Hưng Yên. 17 tuổi, Thảo bỏ dở năm thứ hai trung học xuống Hải Phòng, đáp tàu Pélican của hãng Messagering để “hành phương Nam” lập nghiệp. Vốn khâm phục chất hảo hớn của người Nam Bộ, Thảo đã nhanh chóng làm quen và mê sách của Sơn Vương. Được một người thợ cùng chỗ trọ giới thiệu, anh đã nhanh chóng tìm được tác giả các cuốn truyện yêu thích. Sơn Vương cũng tỏ ra cảm kích trước ý chí giang hồ của người bạn nhỏ tuổi, đồng thời cũng muốn làm quen với một tính cách Bắc nguyên gốc nên tiếp Thảo khá nhiệt tình. Gặp Thảo, Sơn Vương khen:
– Người phương Bắc mến mộ trời Nam, hai mươi năm sau tất có thêm một tay hảo hớn.
Luôn miệng tấm tắc “kỳ ngộ! kỳ ngộ!”, Sơn Vương bỏ dở buổi bán sách kéo Nguyễn Phương Thảo sang một quán Chệt (quán ăn Tàu) ở đường Colonel Grimaud (Phạm Ngũ Lão) để đãi một chầu hủ tiếu xí quách. Đó là lần đầu tiên trong đời, anh thanh niên Nguyễn Phương Thảo biết đến vị cay của rượu. Nhưng Thảo chỉ uống ba ly con, phần còn lại một mình Sơn Vương từ từ nốc cạn.
Mới vào Nam, việc làm chưa có, Nguyễn Phương Thảo ngỏ ý nhờ Sơn Vương tìm giúp. Sau một hồi suy tính, Sơn Vương khuyên người bạn vong niên sang Đa Kao mở tiệm giặt là phục vụ cho đám công chức, thầy thông, thầy ký. Để có vốn cho Thảo mở tiệm, Sơn Vương quyết định đi… cướp, làm một vụ thật đậm…
Để xác định con mồi, Sơn Vương đã ôm chiếc bao lính thủy ra góc đường De la Some, chỗ đối diện Nhà băng Đông Dương ngồi bán sách suốt nhiều buổi. Cuối cùng thì một con mồi lớn cũng đã lọt vào tầm ngắm của Sơn Vương. Cứ vào sáng thứ Sáu của tuần đầu tiên mỗi tháng, René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot lại cùng một tài xế và một vệ sĩ phóng chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh bạc về phát lương cho công nhân, số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Theo tính toán, Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền khi tên Giám đốc quay trở về. Ông quyết định rủ Nguyễn Phương Thảo đi theo để biểu diễn cho xem, nhưng lại tuyệt đối lại không nói một câu với “cậu bé” về kế hoạch đã định.
Đầu tháng 7 năm 1933, vụ cướp đã diễn ra đúng như kế hoạch. Sơn Vương “dụ dỗ” được Năm Đường, tài xế của một chủ Tây tham gia vào cuộc. Lợi dụng ông chủ và vợ con về Pháp nghỉ phép, Năm Đường đã “mượn” chiếc Clément Bayard của chủ và thay biển số theo Sơn Vương đi cướp. Xe chở Sơn Vương, Năm Đường và Nguyễn Phương Thảo chạy thẳng theo con đường đất đỏ dẫn về Tân Sơn Nhất (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Đến một chiếc cầu nhỏ ở Bà Quẹo, Năm Đường cho xe quay lại, dừng ngay trên cầu, vờ hư xe lúi húi sửa.
15 phút sau, chiếc Peugeot của René Gaillard đã xuất hiện từ xa, cuốn bụi đỏ bay theo mù trời. Đến nơi, thấy cầu bị kẹt, Gaillard tức tối nhảy xuống la hét om sòm. Sơn Vương đầu đội nón nỉ, mang bộ complet trắng, nhàn nhã như một công tử Bạc Liêu ôn tồn tiến lại, nói bằng tiếng Pháp:
– Xin lỗi ông, xe tôi bị panne, ông chờ cho chút xíu.
Đang bực, Gaillard quát:
– Muốn sửa, đẩy qua chỗ khác!
Quát chưa dứt câu, Gaillard đã trợn mắt, bởi Sơn Vương trả lời rất xấc xược:
– Được thôi, phiền ông lại đẩy đi!
Nhưng hắn chưa kịp chửi thề, một họng súng đen ngòm đã xuất hiện ngay trước mặt, kèm theo là tiếng Sơn Vương quát khẽ:
– Giơ tay lên!
Theo phản xạ, cả chủ lẫn tớ trong xe đều giơ tay quá đầu. Điềm nhiên, Sơn Vương tiến lại bên chiếc Peugeot giật lấy cặp tiền vứt vào xe mình cho Nguyễn Phương Thảo giữ. Ông còn tước luôn khẩu súng của tên vệ sĩ và quay lại nói với Gaillard mấy câu nhã nhặn:
– Phiền ông Giám đốc cho mượn đỡ một kỳ lương, tôi đang có việc cần xài.
Sơn Vương vừa nói, vừa vứt luôn khẩu súng trên tay vào xe của Gaillard và nhanh chân tót lên chiếc Clement Bayard giục Năm Đường chạy thẳng.
Sau vài phút hoàn hồn, René Gaillard kịp nhìn lại, mới phát hiện ra rằng khẩu súng mà Sơn Vương “kỷ niệm” chỉ là súng giả. Cáu tiết, hắn quát tài xế phóng xe đuổi theo. Nhưng tốc độ của chiếc Peugeot cũ kỹ không thể đua kịp tốc độ của chiếc Clément đời mới, máy rất mạnh. Đuổi đến Hòa Hưng thì địch thủ đã biến mất tăm dạng, Gaillard đành tiu nghỉu quay xe trở lại. Cách đó không xa lắm, Sơn Vương cũng xách cặp tiền kéo Nguyễn Phương Thảo đang há hốc ngạc nhiên bước xuống, giục Năm Đường đưa xe về rửa và thay biển số. Sơn Vương và Thảo bao nguyên một chiếc xe thổ mộ, giong thẳng về gác trọ phía Sài Gòn.
Vụ cướp táo tợn được đồn lan khắp Sài Gòn chỉ sau đúng một ngày. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một “thằng Tây” khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa bẽ mặt. Nhưng với Sơn Vương, đó lại là tai họa và là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.
René Gaillard – kẻ bị hại, vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse và nước Pháp. Cùng với tên anh ruột là Charlles Gaillard, hắn đã gây ra hàng chục vụ cướp của giết người. Bị kết án chung thân khổ sai, hai anh em hắn đã tìm cách khoét vách ngục La Santé ở Paris và trốn sang Tân Thế Giới, tiếp tục gây tội ác. Được ít lâu, anh em Gaillard lại bị tóm cổ, thụ án khổ sai chung thân tại nhà ngục La Cayen – địa ngục trần gian của Pháp tại Nam Mỹ. Ngồi tù chưa ấm chỗ, chúng lại vượt ngục trốn vào Hoa Kỳ. Tại đó, René cùng anh tiến hành đánh cướp một xe chở bạc. Lần này, Charlles Gaillard bị bắn chết ngay tại trận. Còn lại một mình với một đống tiền, René Gaillard trốn sang Đông Dương, dùng số tiền ăn cướp được mua cổ phần của đồn điền cao su Terreves Rouges và nghiễm nhiên trở thành Giám đốc hãng cao su Mimot.
Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, máu “đảo Corse” vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền và bỡn cợt, hắn không chịu nổi. Gaillard tuyên bố: Thưởng 5000 bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm. Lúc này, Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5000 đồng mà Gaillard đã rêu rao.
Vốn thông minh, cáo già, lại rành tâm lý người Việt, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết tưởng như nhỏ nhặt. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard, cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc. Do đó, y liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm “ăng kết”. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường biết chắc sẽ bị lật tẩy nên hoảng sợ đã ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Ngày 16 tháng 8 năm 1933, Sơn Vương bị bắt.
Nhận được điện thoại của cò Bazin, tên giang hồ đảo Corse phóng xe tới bót Catinat ngay tức khắc. Được thưởng tiền, Bazin tỏ ra khá biết điều. Y bảo Gaillard:
– Giao nó cho ông một buổi, muốn làm gì thì tùy thích.
Cởi trần, xách roi gân bò vào phòng tra tấn, nơi Sơn Vương đang bị xích hai tay lên trần nhà, Gaillard nhìn đối thủ mảnh khảnh từ chân lên tới đầu và bảo:
– Mày cướp của tao năm vạn, tao tính rẻ, cứ một ngàn đồng tao lấy lại một roi. Mày tính chịu được mấy roi?
Không một chút sợ hãi, Sơn Vương cười và trả lời:
– Ông thích bao nhiêu cứ lấy bấy nhiêu. Bao nhiêu tôi cũng chịu, chỉ sợ ông mệt.
Điên tiết, Gaillard xông vào quật liên tiếp lên người Sơn Vương. Chỉ sau năm roi, chiếc áo lụa của Sơn Vương đã bị xé nát, rách tơi tả. Nhưng Gaillard vẫn không ngừng tay. Sơn Vương oằn oại gồng người vận khí chịu đòn nhưng không hề hé răng kêu rên nửa tiếng. Đến roi thứ 16, Gaillard đã quá mệt, mồ hôi vã ra như tắm. Thấy mình mẩy Sơn Vương đã nát bét, máu tuôn ra như suối, nhưng vẫn không nao núng, Gaillard bèn vứt roi, khen:
– Mày chịu đòn quá giỏi, tao thua. Số roi còn lại, tao cho mày nợ.
Khạc ra một bụm máu, Sơn Vương cười mà miệng sưng vêu, méo xệch:
– Khỏi, ông cứ lấy cho đủ. Nếu thiếu, tôi sẽ đi cướp của những thằng giàu như ông chứ chẳng cần phải vay nợ ai hết, ông nên đánh tiếp đi, kẻo tiếc.
Đến đó, René Gaillard chỉ còn biết phục sát đất. Hắn đổi giọng:
– Ông đúng là gan dạ hơn dân đảo Corse. Tôi kính phục ông. Số còn lại, coi như tôi xóa nợ cho ông hết.
Bỏ ra khỏi phòng, Gaillard nói với Bazin:
– Tao không kiện nữa, thả nó đi!
Bazin ngạc nhiên. Hắn bảo:
– Luật là luật, ông tha nhưng tôi không tha.
Không thuyết phục được Bazin, tên giang hồ đảo Corse tỏ ra khá áy náy với Sơn Vương. Hắn lại quay trở vào. Đứng trước mặt Sơn Vương, hắn hứa:
– Để tỏ lòng kính trọng ông, ngày mở phiên tòa, tôi sẽ không đến dự.
Và hắn đã giữ lời.
Một tháng sau, Sơn Vương bị Tòa tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.
2. 16 tháng 8 – ngày định mệnh
Đến Côn Đảo, Sơn Vương bị tống vào banh II, buồng giam tù thường án. Vụ cướp táo bạo của Sơn Vương khiến đám thường phạm nể phục, dù so với đa số bạn tù, ông ít tuổi hơn nhiều. Lẫn giữa đám đầu trộm đuôi cướp, Sơn Vương nổi trội hơn cả bởi là người có học, thuộc nhiều tích xưa chuyện cũ, lại giỏi tiếng Pháp. Vì vậy, mỗi lần có việc cần đề đạt gì với bọn gác ngục, cả buồng giam đều phải cậy đến Sơn Vương. Sau chưa đầy một tháng, Sơn Vương đã được coi như “sếp” buồng giam. ở các buồng bên cạnh, nhiều chính trị phạm – cả tù Cộng sản lẫn tù Quốc dân Đảng – cũng có nhiều người từng quen biết Sơn Vương trong thời gian viết báo, in sách, đôi người còn tỏ ý ngưỡng mộ. Thấy ông có uy tín với bạn tù, lại nói năng nhỏ nhẹ, cử chỉ đĩnh đạc, bọn gác ngục cũng tỏ ra vì nể.
Cuối năm 1933, giám thị Nguyễn Văn Liễn (Vệ Liễn) quyết định tổ chức một cuộc thi chữ đẹp tại tù Côn Đảo. Kết quả, Sơn Vương giành giải nhất, đẹp hơn cả chữ của các thư ký trên đảo cùng dự thi. Vệ Liễn bèn vận động chúa đảo cho ông ra làm thư ký giúp việc tại Ty Ngân khố của tỉnh đảo Côn Lôn. Kể từ đó, Sơn Vương không phải ngồi xà lim và làm khổ sai nữa. Ban ngày ông lo ghi chép giấy tờ ở Ty Ngân khố, buổi tối dạy bé Nguyễn Thị Kim Hoa, 9 tuổi, con gái Vệ Liễn học đến 9 giờ đêm. Sau đó, ông được cắp chiếu về ngủ cùng chỗ với các nhân viên của Ty Ngân khố.
Lúc mới ra đảo, ngoài Nguyễn An Ninh, Sơn Vương tỏ ra ngưỡng mộ các tù chính trị Quốc dân Đảng. Máu giang hồ của ông bị mê hoặc bởi gương trung liệt của Nguyễn Thái Học, và một số chiến công của đảng này. Nhưng dù ở tù, những người Quốc dân Đảng vẫn thẳng tay khủng bố những người bất đồng chính kiến với họ trong đường lối đấu tranh cách mạng. Trước mắt Sơn Vương, Quốc dân Đảng đã tiến hành một số vụ ám sát, khủng bố ngay tại Côn Đảo chủ yếu nhắm vào tù Cộng sản. Trong khi đó, những người tù Cộng sản, dù rất căm giận vẫn không hề tìm cách trả đũa. Ngược lại, họ vẫn đoàn kết, nhất trí, luôn tìm cách hòa giải những mối bất đồng, cố hàn gắn mối đoàn kết giữa tù Cộng sản và tù Quốc dân Đảng. Thần tượng cũ sụp đổ, lòng ngưỡng mộ của Sơn Vương dần dần dành hết cho số tù là đảng viên Cộng sản. Lợi dụng công việc ở Ty Ngân khố, ông thường tìm cách chuyển giấy, mực vào và giúp những người Cộng sản liên lạc với nhau.
Năm 1936, nền chính trị nước Pháp biến động mạnh. Nội các Léon Blum và phong trào Mặt trận bình dân lên nắm chính quyền, tiến hành hàng loạt cải cách dân chủ ở Đông Dương, trong đó có cả việc đặc xá tù chính trị. Tháng 7 năm 1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên.
Cạnh nhà tù ở Hà Tiên có một khu bungalow(*) dành cho các ông Tây bà đầm nghỉ mát. Một hôm, tên Giám đốc bungalow người Pháp bị mất 200 đồng. Nghi cho một anh bồi người Việt lấy cắp, hắn đã tự tay tra khảo anh dã man. Anh bồi không nhận bị tên Giám đốc tàn ác đốt đèn cầy và nhỏ sáp nóng vào mũi. Anh bồi chết, dân chúng kéo nhau biểu tình. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám và la ó dữ dội để ủng hộ. Vì vậy, chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.
Tội ác của thực dân Pháp đi đâu cũng gặp, tên Tây đoan (quan thuế) kiêm quận trưởng Phú Quốc đã nhiều lần tác oai tác quái ức hiếp dân trên đảo. Biết chuyện, Sơn Vương đã âm thầm thu nhập tài liệu và viết bài, bí mật gửi về cho một số tờ báo ở Sài Gòn. Các báo cử người ra điều tra và đăng bài lên án mạnh mẽ. Tên Tây Đoan khát máu bị đuổi đi nơi khác. Tháng 2 năm 1938, tên quận trưởng mới thay đã đưa trả Sơn Vương về lại Hà Tiên. Ông bị giam giữ thêm 6 tháng, đến ngày 16 tháng 8 năm 1938, trùng ngày trùng tháng với ngày bị bắt, Sơn Vương được thả.
Nhưng, hình như định mệnh đã trói chặt cuộc đời Sơn Vương với ngày 16 tháng 8. Đúng một năm sau, ngày 16 tháng 8 năm 1939, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này, ông bị bắt vì một lý do hết sức quái gở. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã người Việt hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là… sếp mật thám của bót Polo (Chợ Lớn). Bẽ mặt, hắn móc ngay tu huýt cho lên miệng thổi một hồi. Mã tà, lính kín lập tức bu lại, còng Sơn Vương dẫn về.
Xuất thân là một võ sĩ đấm boxe (quyền Anh) có hạng, tên phó cò bót Polo cũng hung hăng không kém gì sếp chánh. Bất cứ ai mới bị bắt, hắn cũng đòi phải… đấu tay đôi. Thông thường, cuộc đấu chỉ dừng lại khi kẻ mới vào đã máu me bê bết và bất tỉnh nhân sự. Vì vậy, người ta gọi hắn bằng biệt danh Cọp Lửa.
Thấy Sơn Vương mảnh khảnh nhưng có vẻ ngang tàng, Cọp Lửa hất hàm hỏi cộc lốc:
– Biết võ không?
Sơn Vương cũng đáp cộc lốc:
– Chịu đòn được.
Cọp Lửa đòi đấu. Sơn Vương nhã nhặn từ chối:
– Đây là bót cò, đâu phải sàn boxe ở hội chợ? Nếu ông cò muốn, tôi đứng cho ông đấm.
Tên cò tức lắm, xông vào ngay. Sơn Vương không đánh trả, chỉ xuống tấn vận nội công chịu đòn. Đấm liên tục 10 phút, Sơn Vương vẫn không nhúc nhích, Cọp Lửa đành ôm hai tay buốt nhức lỉnh sang chỗ khác.
Ra tòa, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại căng Pursat (Campuchia). Nhờ giỏi ăn nói, Sơn Vương xin được một lưỡi cưa, cưa còng và trốn qua Thái Lan. Không bao lâu, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này, ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17 bót Catinat, nơi đặt máy chém. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.
3. Những năm sôi động
Giai đoạn 1942-1946, quần đảo – nhà tù Côn Lôn xảy ra rất nhiều biến động. Đặc biệt, quyền cai trị liên tục bị thay đổi. Tháng 9 năm 1942, phát xít Nhật đã cho quân đổ bộ lên đảo lần đầu tiên, nhưng chúng chỉ ở lại ít hôm rồi rút. Ba năm sau, ngày 6.2.1945, tàu chiến Nhật đã chĩa đại bác vào quần đảo, yểm trợ cho một trung đội vũ trang đổ bộ lên, bất chấp sự phản đối của bọn Pháp trên đảo.
Đám lính Nhật đổ bộ tiến hành ngay việc khống chế đài vô tuyến điện và tịch thu toàn bộ radio của bọn Pháp, ra sức tìm cách tiếp xúc với tù nhân, tiếp tế, cung cấp thông tin và truyền bá thuyết Đại Đông á cho đám chính trị phạm thân Nhật. Không dám công khai ngăn cản lính Nhật, lính Pháp đã tìm cách di chuyển nơi làm việc của đám tù thân Nhật, ngăn không cho những cuộc tiếp xúc diễn ra. Bị chúng thẳng tay khủng bố, đánh đập dã man, những tù nhân thân Nhật đã bóng gió bắn tin đe dọa bọn giám thị người Pháp, đồng thời ấm ức chờ gió đổi chiều để có cơ hội trả thù.
Sáng ngày 9.3.1945, thêm hai tàu tuần duyên Nhật lừ lừ tiến vào Côn Đảo. Mặc cho đám lính Pháp ngơ ngác, bọn Nhật đã ngang nhiên chất lên bờ một số thiết bị, khí tài chiến tranh. Xong việc, hai chiếc tàu tuần duyên không những không rút lui, lại còn kê tất cả nòng pháo hướng thẳng vào đất liền. Đánh hơi thấy chuyện chẳng lành, đích thân Tyssery, giám đốc Nhà tù Côn Đảo đã đến trại Nhật, yêu cầu được giải thích. Tên sĩ quan chỉ huy Nhật Bản ngang nhiên trả lời:
– Chúng tôi đưa hàng lên để lắp đặt một trạm vô tuyến.
Đồng thời hắn ra lệnh:
– Mời ông Tyssery ở lại.
Thực chất bọn Nhật muốn giam lỏng Tyssery không cho quay về. Ngay đêm đó, không tốn một phát đạn, Nhật đã tước hết toàn bộ vũ khí của lính Pháp, chiếm giữ trại lính, dinh giám đốc, đài vô tuyến và toàn bộ vị trí phòng thủ trên đảo. Bốn ngày sau, giám đốc Tyssery và viên đại úy chỉ huy lính Pháp ở Côn Lôn được tàu chiến Nhật đưa về đất liền. Quyền cai quản nhà tù, Nhật giao cho phó giám thị Hilaire đồng thời giữ nguyên bộ máy giám thị Pháp – Việt như cũ.
Chỉ sau đó ít hôm, máy bay đồng minh đã tiến hành nhiều đợt oanh kích Côn Đảo. Bom đạn Mỹ đã đánh sập hải đăng hòn Bảy Cạnh, Nhà đèn, Sở lưới và một số cơ sở sản xuất trên đảo, giết chết hàng chục tù nhân đang lao động ở các khu vực này. Một số tù nhân đã lợi dụng lúc tình hình nhốn nháo, thoát ra khỏi vòng rào trại giam. Đám tù thân Nhật trong trại cũng bắt đầu trỗi lên phá phách, gây yêu sách.
Đòi hỏi của chúng đã được bọn Nhật đáp ứng bằng một hành động mị dân: trao quyền chúa đảo cho Lê Văn Trà –  nguyên thư ký của Tyssery, đồng thời tiến hành cái gọi là “lễ trao trả độc lập” và biến quần đảo Côn Lôn (tiếng Pháp: Poulo Condore) thành cái gọi là “Quốc gia tự do Nông dân huynh đệ quần đảo Côn Lôn (Etat libre agricole et fratemel d’ Archipel de Poulo Condore)”. Trong buổi lễ, Lê Văn Trà đã không tiếc lời ca ngợi công lao của quân đội Thiên Hoàng và Thống đốc Minoda. Sau đó, Trà đã công bố đạo dụ của Chính phủ Trần Trọng Kim về việc các chính trị phạm kể từ ngày này được Chính phủ Việt Nam trả lại tự do và được coi như mọi người khác trong nước. Nhưng thực chất, chỉ có 150 tù thân Nhật là được đi lại tự do và được phóng thích sau hai tuần. Những người khác, ngay sau buổi mít tinh đã bị xua trở lại, lại vào khám, tiếp tục bị giam giữ như cũ.
Ngay sau khi thoát cũi sổ lồng, bọn tù thân Nhật đã đi ngay vào cuộc trả thù những cai ngục Pháp – Việt. Chúng cũng thừa cơ hội khủng bố, hành hạ một số tù nhân Cộng sản, tù thường phạm dám công khai phản đối chúng. Để ủng hộ tù Cộng sản, Sơn Vương đã đứng ra vận động một số thường phạm, công khai âm mưu của bọn tù thân Nhật, đồng thời vạch mặt tuyên bố nếu đám này có hành động quá khích, họ sẽ đứng ra chống lại.
Giỏi ăn nói và có uy tín, Sơn Vương đã được khá đông thường phạm có lương tri ủng hộ. Do đó, bọn tù thân Nhật cũng chùn tay, không dám đối xử tàn ác với những bạn tù khác. Mũi nhọn khủng bố của chúng dồn hẳn sang hướng đám cai ngục cũ. Một số gác ngục hung hãn hồi trước như Toustou, Lantali, đã bị đánh trọng thương, phải vào nhà thương Côn Đảo điều trị. Sau này, được những người Cộng sản kiên trì thuyết phục, không ít người trong số họ đã ngả sang chủ trương liên minh giữa những người Cộng sản và các lực lượng dân chủ, tiến bộ chống phát xít, bình tĩnh đối phó với các hành động khiêu khích của đám tù thân Nhật đang được chính quyền bù nhìn dung túng.
Thấy uy tín của khối Đại Đông á đang bị rơi rụng dần, bọn Nhật trên đảo và chính quyền Lê Văn Trà bèn tìm cách đối phó bằng cách thực hiện một số cải cách dân chủ. 8 chiếc ghe bầu được gửi từ đất liền ra để rước đám tù thân Nhật thuộc các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo về. Trên đảo, Trà cho mở lại trường tiểu học và ra tờ báo “Tiếng nói tự do”. Sợ tù Cộng sản sẽ biến tờ báo thành diễn đàn chống phát xít, Lê Văn Trà đã giao cho Sơn Vương phụ trách. Sau khi nhận chức chủ bút, Sơn Vương đã được đi lại khá tự do. Lấy lý do đảo đã được tự do, tù nhân cần và được quyền biết tin tức, Sơn Vương đã thuyết phục được Lê Văn Trà cho tù nhân được sửa lại một chiếc radio hỏng. Dù không muốn, song Lê Văn Trà cũng không thể phản đối.
Dưới sự chỉ huy của Tôn Đức Thắng – người lính thợ nổi tiếng từng kéo cờ phản chiến trên biển Hắc Hải trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất – một tốp thợ tù đã sửa chữa xong chiếc radio, sau đó sửa luôn được một chiếc canô hỏng. Qua sóng radio, tin cách mạng tháng Tám đã thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập đã khiến cả đảo hồ hởi reo mừng. Bọn gác ngục và bọn thân Nhật bắt đầu co vòi lại không dám lộng hành.
Tối ngày 16.9.1945, tàu Phú Quốc và 32 ghe bầu chở theo 10 tấn gạo tiếp tế của Cách mạng đã cặp bến Cỏ ống. Rạng sáng hôm sau, cờ đỏ sao vàng đã phất phới bay rực cầu tàu Côn Đảo. Tham tá Lê Văn Trà nộp con dấu của nhà tù cho chính quyền Cách mạng.
Sau một tuần lễ sửa chữa, đoàn tàu, thuyền lại quay mũi ra khơi. 1.800 chính trị phạm được giải thoát đưa về đất liền. Đến đầu tháng 12 năm 1945, ủy ban hành chính Nam Bộ lại gửi một đoàn ghe ra Côn Đảo rước tù do đồng chí Văn Cừ làm trưởng đoàn. Ngày 11.12.1945, dưới sự chứng kiến của phái đoàn Văn Cừ, Lê Văn Trà đã đứng ra tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ trên đảo. 12 người trong đó có sáu giám thị, sáu tù nhân đã được bầu vào bộ máy chính quyền mới. Ngày 15 tháng 12, ủy ban hành chính mới của Côn Đảo chính thức được công bố, Sơn Vương Trương Văn Thoại chính thức trở thành Chủ tịch ủy ban.
ở cương vị mới mẻ này, Sơn Vương tỏ ra là một vị chủ tịch năng nổ và có khả năng lãnh đạo. Ngay sau khi nhậm chức, Sơn Vương đã sốt sắng bắt tay ngay vào việc tổ chức lại sản xuất, từ thu hoạch lúa, đánh bắt hải sản đến khai thác củi, đá, làm vệ sinh… Ông đã đề ra một số biện pháp khuyến khích lao động như chia một phần thành quả cho người làm ra sản phẩm. Mặt khác, việc lao động sản xuất dưới thời Sơn Vương lãnh đạo được coi như bắt buộc, cả các thành viên ủy ban lẫn các công chức, giám thị cũ cũng phải trực tiếp tham gia. Ông cũng tỏ ra kịp thời và chính xác khi xác định những việc cần làm cấp bách, giao đúng người đúng việc, từ tổ chức một tổ y tế vào núi tìm thuốc trị bệnh đến việc xuất toàn bộ vải vụn trong kho giao cho tổ phụ nữ may quần áo cộc cấp tốc để phát cho một số tù nhân thiếu thốn.
Giai đoạn đầu, uy tín của Sơn Vương khá cao. Khi phái đoàn Văn Cừ đón tù về đất liền, ông đã đồng ý ở lại, tiếp tục cùng chính quyền mới khôi phục cuộc sống và trật tự của đảo, dù trong lòng rất nôn nao mong được trở lại đất liền. Ngoài tinh thần trách nhiệm, việc đồng ý ở lại Côn Đảo của Sơn Vương có một phần níu kéo của một lý do khác: tình yêu. Người tạo ra sức hút mãnh liệt ấy là Lệ Hoa, tức Nguyễn Thị Kim Hoa, con gái của Vệ Liễn và là cô học trò nhỏ tại đảo của Sơn Vương từ hơn 10 năm trước.
Khi Sơn Vương bị đày ra Côn Đảo lần thứ 2 (1942), cô bé học trò 9 tuổi ngày xưa đã trở thành một thiếu nữ 18 tuổi, đẹp rực rỡ, được coi như hoa khôi của Côn Đảo. Có học thức, thích thơ ca, đặc biệt là ngâm vịnh Kiều, Lệ Hoa tỏ ra cảm phục tài năng của huyền thoại Sơn Vương. Lúc này Lệ Hoa cũng đang là một cô giáo tiểu học trên đảo. Cô thường bí mật đem những thắc mắc trong sách vở nhờ Sơn Vương giải thích giúp. Là người có chữ, từng đọc nhiều sách chữ Hán, đối với Sơn Vương, Lệ Hoa hội đủ cả tám tiêu chuẩn của một mỹ nhân, với “hoa diện” (mặt tươi như hoa), “nguyệt thần” (thần thái trong sáng như ánh trăng), “điểu thanh ngôn” (tiếng nói trong trẻo như chim hót), “liễu thái” (dáng dấp mềm mại như nhành liễu), “băng tuyết bì” (da trắng như tuyết), “ngọc cốt” (tinh thần kiên định như viên ngọc), “thu thủy tư” (tâm hồn tĩnh lặng như nước hồ thu) và “thi thư tiên” (có học thức, coi trọng chữ nghĩa). Choáng ngợp trước nhan sắc của cô, Sơn Vương cũng tỏ ra rất hào hứng khi được đáp ứng các thắc mắc. Tình thầy trò, chú cháu ngả dần thành tình yêu, dù Sơn Vương hơn Lệ Hoa 13 tuổi. Nhưng vì cuộc đời vẫn phải náu thân sau song sắt, chí lớn còn lưu nơi đảo vắng, Sơn Vương chỉ còn biết thổ lộ lòng mình qua mấy câu thơ nuối tiếc mà ông bí mật nhờ lính gác gửi tận tay ý trung nhân:
” Ước gì kéo được thời gian
Cho tôi trẻ lại, cho nàng già hơn “
Khi phụ trách tờ Tiếng nói tự do, Sơn Vương lại sáng tác một bài thơ dài có tựa Vịnh Hai Bà Trưng để thổ lộ lòng mình với Lệ Hoa. Sợ chưa đủ cho người đẹp hiểu thấu tâm tình, ông lại bỏ ra cả ngày trời, dùng chiếc bút máy hiệu Kaolo mang từ đất liền ra tỉ mẩn chép bài thơ dài hơn 400 chữ này lên mặt sau của vỏ một bao diêm và gửi cho Lệ Hoa. Quả nhiên, bức thư tình đọc bằng… kính lúp độc đáo ấy đã khiến trái tim cô hoa khôi chao đảo. Vài ngày sau, cô học trò xưa đã trả lời thầy giáo cũ bằng hai hàng chữ nắn nót:
Sa trường chí nhượng tài trai
Phòng xuân trỗi gót dặm ngoài có em.
Tình cảm đã trở nên sâu đậm, nhưng vẫn đang là một người tù, nên Sơn Vương đành nén lại, chờ đợi. Cuối cùng, ông cũng đã tìm được thời điểm. Khi trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính Côn Đảo, Sơn Vương lập tức chỉ định ngay Lệ Hoa làm Hội trưởng Hội phụ nữ của đảo. Từ đây, người tù đã có thể công khai trò chuyện với người yêu mà không sợ sự ngăn cấm của ông bố Vệ Liễn – người gác ngục.
4. Đảo quốc Côn Lôn và những tham vọng phiêu lưu
Công bằng mà nói, trong thời gian nắm quyền lãnh đạo quần đảo Côn Lôn, Sơn Vương đã làm được khá nhiều điều tốt đẹp, góp phần ổn định cuộc sống và giữ gìn an ninh trật tự trên đảo. Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu, khi những người Cộng sản còn có mặt. Ngay sau khi phái đoàn Văn Cừ trở về đất liền, không còn ai kiềm giữ, bản chất lục lâm thảo khấu, anh hùng cá nhân trong con người Sơn Vương mới thật sự bộc lộ.
Đầu tiên, Sơn Vương cho sửa sang lại phần mộ của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và tổ chức một lễ tế khá rình rang. Trước bàn thờ mới lập, khói hương nghi ngút, Sơn Vương tuyên bố:
– Từ nay, quần đảo Côn Lôn chính thức trở thành “Quốc gia trung lập dân chúng quần đảo An Ninh” (Etat neutre des Insulaire de L’ Archipel d’ An Ninh).
Đồng thời, ông tự xưng là… Quốc vương của “quốc gia” mới lập. Không ít người trên đảo tỏ ý không phục, Sơn Vương tìm cách giải thích bằng cách tung ra luận điệu:
– Tên tôi là Sơn Vương, có nghĩa là “Vương” của đảo Côn Sơn, mệnh ấy do trời định.
Giải thích xong, Sơn Vương tuyên bố:
– Bất cứ ai chống lại mệnh trời, người đó sẽ bị trừng trị.
Chưa hết, dù các ban bệ trên đảo đều được thành lập bằng con đường bầu cử, nhưng Sơn Vương vẫn cố tình biến nó thành một thứ triều đình. Mỗi một buổi họp, Sơn Vương chễm chệ trên chiếc ghế bành kê ở thềm cao, bá quan văn võ xếp hai hàng ngồi thấp phía dưới. Trước khi muốn báo cáo, mọi người đều phải tiến ra giữa hai hàng người chắp tay trước mặt Sơn Vương và mở đầu bằng câu: “Thưa thủ lãnh..!”.
Sau ngày 15.12.1945, không còn người tù chính trị nào ở lại, cả đảo chỉ còn lại toàn thường phạm cũ, cho nên triều đình phường tuồng của Sơn Vương không bị ai phản đối. Nhưng, đám lưu manh cũng nhân cơ hội đó ngóc đầu dậy, hành hung sách nhiễu dân chúng trên đảo. Cảnh sát trưởng Nguyễn Thành út vốn xuất thân là một tên du thủ du thực, bị kết án 10 năm khổ sai, đã nhiều lần ngang nhiên vào nhà dân giở trò cướp bóc, trêu ghẹo phụ nữ. Biết chuyện, thay vì đưa út ra kỷ luật công minh, Sơn Vương lại có cách xử sự hết sức quái chiêu và đẫm chất giang hồ. Trước văn võ bá quan, ông thẳng tay giáng cho Nguyễn Thành út một tát tai và ném ra lời thách thức:
– Tôi với anh giao đấu tay đôi. Nếu thắng, anh muốn làm gì mặc sức. Nếu thua, tôi sẽ chặt một cánh tay để anh khỏi làm bậy.
Tự lượng sức không thắng nổi Sơn Vương, Nguyễn Thành út đã dập đầu lạy như tế sao, xin Sơn Vương tha tội. Từ đó, nạn cướp bóc, sách nhiễu dân chúng mới lắng xuống.
Trở thành “quốc vương” của quần đảo, Sơn Vương bắt đầu nghĩ đến việc thực hiện giấc mơ của ông:  cưới Lệ Hoa làm vợ. Ông đặt ra một bài vè tự ca ngợi mình, bắt trẻ con trên đảo hát, coi đó như “Quốc ca Côn Lôn quốc”. Trong đó có câu:
…Lệ Hoa đệ nhất Côn Lôn quốc
Trương Vạn Năng tứ hải vô song…
Tình thâm của Sơn Vương, con gái người gác ngục không từ chối. Nhưng Vệ Liễn, cha cô thì vẫn khăng khăng cự tuyệt, không chịu gả con gái cho “tên tù kẻ cướp”. Thuyết phục mãi không được, Sơn Vương đành phải lập kế. Ông cho hàng loạt đàn em thảo đơn tố cáo tội ác của giám thị Nguyễn Văn Liễn đối với tù nhân của chế độ trước. Lá đơn tố cáo với hàng chục chữ ký được đệ trình lên cho “quốc vương” yêu cầu minh xét. Nắm cớ, Sơn Vương sai Cảnh sát trưởng Nguyễn Thành út bắt Vệ Liễn tống giam để “điều tra”.
Cha bị bắt, Lệ Hoa hoảng sợ, vào gặp Sơn Vương khóc lóc, năn nỉ xin thay cha chuộc tội. Chỉ đợi đến đó, Sơn Vương liền sai một tay Hội đồng dân biểu là Nguyễn Văn Đây (Hai Đây) vào khám gặp Vệ Liễn. Hai Đây vạch cho viên cựu giám thị rõ:
– Ông chỉ còn một con đường, gả cô Lệ Hoa cho Sơn Vương, nếu không sẽ chết. Nếu gả con gái, ông nghiễm nhiên đã là nhạc phụ của chúa đảo, tất nhiên không ai dám đụng đến ông, mọi tội lỗi xưa coi như xóa sạch.
Vệ Liễn suy nghĩ hồi lâu, sau đó xin được gặp con gái và đem toàn bộ thiệt hơn hỏi ý Lệ Hoa. Dù trong lòng cờ mở trống giong nhưng Lệ Hoa cũng vờ tỏ ra miễn cưỡng khi gật đầu, không quên kèm theo lệ chảy hai hàng. Cô muốn tỏ rõ một sự hy sinh đành nhận lời bán mình chuộc cha cho thật giống Thúy Kiều, dù trong tim cô không còn mơ ước nào lớn hơn là được làm vợ Sơn Vương.
Ngày 28.2.1946, đám cưới của Sơn Vương – Lệ Hoa được tổ chức. Lúc này, trên đảo còn lại 200 bao gạo, một phần ba trong đó đã mục nát. Sơn Vương cho xuất một phần số gạo mục này ra xay bột làm bánh hỏi, bún, bánh bò rễ tre, nấu rượu và cho bắt heo quay làm tiệc đãi khách. Để xứng đáng với địa vị một quốc vương, ông sai người dọn dẹp, quét vôi trang trí lại ngôi nhà của chúa đảo Hilaire để làm tổ ấm hạnh phúc đón dâu. Chiếc xe Jeep của chúa đảo cũng được sơn lại và kết hoa để làm xe rước dâu. Xe hoa chở cô dâu chú rể chạy lòng vòng khắp đảo suốt cả buổi sáng. Trẻ con trên đảo chạy theo la hét inh ỏi. Trên xe, Sơn Vương liên tục vẫy tay chào đám “thần dân”. Đến tận sáng hôm sau, mọi người vẫn tha hồ ăn uống và nhảy múa. Có lẽ, đây là đám cưới lớn nhất có một không hai ở Côn Đảo.
Khi quyết định tổ chức đám cưới linh đình, Sơn Vương đã gặp không ít lời dị nghị và phản đối. Đang say cả men tình lẫn men quyền lực, ông vẫn bất chấp. Ngay sau hôm hôn lễ, có một người là ông già Quýt đã công khai đứng ra chỉ trích Sơn Vương về hai tội: Thứ nhất, lạm dụng quyền hành để ép hôn Lệ Hoa. Thứ hai, tổ chức đám cưới quá thừa mứa và lãng phí, trong khi lương thực, thực phẩm trên đảo đã cạn kiệt. Đang ngây ngất, Sơn Vương đùng đùng nổi giận sai thủ hạ giết chết ông lão. Ngày 26.3.1946, xác ông già Quýt được phát hiện. Dân chúng trên đảo lập tức kéo nhau đến dinh chúa đảo, gào thét đòi truy tìm và trừng trị kẻ thủ ác. Lúc này, Sơn Vương mới bắt đầu nao núng, đành phải hứa tổ chức điều tra.
Do không được tiếp tế, Côn Đảo bắt đầu phải đối diện với nạn đói, thiếu thuốc men, nhu yếu phẩm nghiêm trọng. Bí thế, Sơn Vương vội cử người về đất liền xin viện trợ. Nhưng chờ mãi, đoàn sứ giả vẫn không quay trở lại. Túng quẫn, đám lưu manh lại bắt đầu lộng hành, tha hồ đào tường khoét vách, bắt cóc tống tiền không sao dẹp hết. Nhiều người dân trên đảo không chịu nổi đã liều lĩnh tự đóng ghe, bè trốn về đất liền. Không quản nổi trật tự, Sơn Vương bèn ban lệnh: ai tự ý bỏ trốn sẽ bị nhốt xà lim chín tháng. Vô ích. Số người bỏ trốn vẫn ngày một tăng. Trong khi đó, radio lại phát ra toàn tin xấu: Pháp đã tái chiếm Nam Kỳ, chiến tranh đã quay trở lại… Côn Đảo đã bị cô lập và viễn cảnh bị Pháp tái chiếm đã không còn xa xôi nữa.
Trong tình cảnh rối ren đó, Lệ Hoa tỏ ra sáng suốt hơn cả. Cô khuyên Sơn Vương: nên về đất liền tham gia kháng chiến hơn là ngồi bó tay chờ Pháp đến nộp mình.
Sơn Vương đồng ý. Ông thảo công văn gửi Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Sóc Trăng Dương Kỳ Hiệp ngỏ ý muốn xin về kháng chiến, đồng thời nhờ ông chủ tịch tạo điều kiện cho sứ giả của Sơn Vương gặp phái đoàn Văn Cừ để bàn tính dọn đường về. Đoàn sứ giả gồm: Trần Phẩm – cựu tù nhân, mã tà 88 Đức và hai thành viên khác (một nam, một nữ) trong ủy ban hành chính Côn Đảo. Vào đất liền, hai tuần sau họ mới trở lại nhưng không bắt được liên lạc. Họ cho biết: trong đất liền, chiến tranh đã lan rộng, quân Pháp đã chiếm được nhiều nơi.
Nóng lòng và hoang mang, Sơn Vương tính nước manh động đánh bài… chuồn! Ngày 20.3.1946, ông cho hạ thủy một chiếc thuyền, dự định cùng Lệ Hoa và một số người tin cẩn bỏ trốn. Nhưng do thuyền đóng vội, vừa xuống nước đã bị sóng đẩy vào bờ đá và đánh vỡ tan nên dự định đã bất thành.
Biết không còn đường rút, ngày 25.3.1946, Sơn Vương đã tập trung dân chúng để nghe ông đọc một bài diễn văn xin nhường quyền cai trị lại cho những người Pháp trên đảo. Nhưng, những người Pháp có mặt đã không nhận. Ông lại phái thêm 3 người về đất liền đi sứ, yêu cầu Pháp tiếp tế lương thực cho Côn Lôn, đồng thời xin cho mình một bộ đồ, 1 súng lục, 1 nón nỉ và 1 xe đạp. Giấc mơ “định bá đồ vương” trong tuyệt vọng đã teo lại thành vài món đồ vặt vãnh, song Sơn Vương cũng không được toại nguyện. Thay vì trả lời, quân Pháp đã tống giam 3 sứ giả của Sơn Vương vào bót Catinat và phái tàu chiến ra tái chiếm Côn Đảo.
Ngày 8.4.1946, đại úy Gimbert chỉ huy ba chiến hạm chở 2 đại đội lính hỗn hợp gồm cả Pháp, Âu – Phi và lính bản xứ tiến vào Côn Đảo theo đường Bãi Nhà Thờ. Mờ sáng, nghe đại bác Pháp bắn lên bãi để dọn đường, Sơn Vương đã dẫn toàn bộ “triều đình” chờ sẵn ở bậc thềm trụ sở để nghênh tiếp. Nhưng, ông không còn đủ thời gian để đọc nốt bài diễn văn cuối cùng của đời mình. Theo lệnh của Gimbert, Sơn Vương và toàn bộ tù thường phạm còn lại (gồm 400 người) đã bị tống giam ngay tức khắc. Riêng Lệ Hoa và gia đình cô, Pháp vẫn cho tự do ở trên đảo.
Khi ba chiến hạm Pháp vừa tiến vào Bãi Nhà Thờ, một tên Việt gian là Đinh Công Thành đã bí mật lẻn ra Sở Muối cung cấp tin tức và dẫn đường cho quân Pháp đổ bộ. Sơn Vương bị tống ngục, tên Thành mượn gió bẻ măng, đứng ra tố cáo ông là phần tử nguy hiểm, cần phải canh gác cẩn thận. Vì vậy, Sơn Vương bị quân tái chiếm đối xử hết sức tàn tệ, suýt nữa bị đem ra hành hình tại chỗ. Nhờ có Lệ Hoa và giám thị Toustou đứng ra xin giúp, ông mới tránh được cái chết đã kề gang tấc.
Vào tù, Sơn Vương lại gặp thêm một đại nạn. Bị ông tát tai sỉ nhục dạo trước, tên lưu manh Nguyễn Thành út nung nấu chờ cơ hội trả thù. Hắn đã không ngần ngại bịa ra chuyện Sơn Vương đang giữ bản đồ kho báu của Gia Long giấu lại trên đảo khi chạy trốn quân Tây Sơn năm 1783. Tưởng thật, chúa đảo Gimbert và tên cò Pellier đã tra tấn Sơn Vương hết sức dã man để bắt ông khai nơi giấu bản đồ. Bị đánh đập quá đau, Sơn Vương đành nhận bừa là có kho báu và vẽ lại một tấm bản đồ ma. Vì tội đó, ông lại bị thêm hàng chục trận đòn dã man khác.
Năm 1947, Sơn Vương bị điệu về Sài Gòn để hầu tòa. Với hai tội danh mới là cưỡng hôn Lệ Hoa và giết ông già Quýt, Sơn Vương phải lĩnh thêm một án tù chung thân khổ sai. Sau đó, ông bị đưa ra lại Côn Đảo để thi hành án, trở thành tù nhân mang thẻ số 313C, giam tại hầm số 8, khu biệt lập, lao 2. Vào tù, ông viết thư cho vợ Vệ Liễn, yêu cầu bà thuyết phục chồng về Sài Gòn làm việc để Lệ Hoa có cơ hội tái giá, và quên hẳn mình. 6 tháng sau, Sơn Vương nhận được thư, một số nhu yếu phẩm và 2000 đồng do Lệ Hoa gửi người quen cầm vào. Sau đó, chim trời cá nước, cả hai bặt tin nhau cho đến tận cuối đời.
Sáu năm sau, ngày 8.8.1953, trong một buổi được ra ngoài lao động, Sơn Vương đã bất ngờ chạm trán với Nguyễn Thành út, kẻ đã vu oan giá họa cho ông trong chuyện “kho vàng”. Lúc này, út đã được bọn gác ngục cho làm “cặp rằng” để hành hạ tù nhân. Máu hận thù sôi lên đẩy Sơn Vương xông tới. Nắm chặt cổ áo tên chó săn đã vu oan giá họa cho mình, Sơn Vương bảo:
– Mày là con chó không đáng sống. Nhưng nếu bây giờ tao giết mày, người ta lại bảo là tao trả thù không quân tử. Thôi thì tao cho mày cơ hội cuối cùng, mày với tao quyết đấu. Muốn chơi bằng thứ vũ khí gì, mày hãy chọn đi.
Không còn đường trốn tránh, Sơn Vương vừa quay lưng, Nguyễn Thành út đã vớ ngay một khúc cây, từ phía sau nhắm thẳng đầu ông bổ xuống. Cú đánh lén không đạt mục đích. Chỉ một cú xoay người Sơn Vương đã tước được vũ khí của tên lưu manh mạt hạng. Thuận tay, ông giáng cho hắn một gậy nằm quay đơ. Vốn căm ghét tên “cặp rằng” tàn ác, các tù nhân khác đã không can thiệp để mặc cho Sơn Vương đập nát thây Nguyễn Thành út. Vì tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo qui định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và hai án chung thân (32 năm). Tính tổng cộng, ông phải nhận mức án những 79 năm tù.
Mãi cho đến năm 1968, sau đúng 34 năm ngồi tù (từ 1933), Sơn Vương mới được ân xá. Trước đó, năm 1967, tờ Tin Sáng và một số tờ báo đối lập ở Sài Gòn đã liên tục đăng bài điều tra về chế độ hà khắc, phát xít của nhà tù Côn Đảo. Cũng trong năm này, liên minh Thiệu – Kỳ đã đắc cử Tổng thống và Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Để mị dân, Thiệu – Kỳ hứa sẽ tìm hiểu và cải thiện điều kiện sinh hoạt ở Côn Đảo. Biết Sơn Vương ngày xưa từng là một nhân vật khá có tiếng tăm, trong khi hiện tại gần 60 tuổi, đã sức tàn lực kiệt, không còn khả năng gây nguy hại cho bộ máy quyền lực Việt Nam Cộng hòa, Thiệu – Kỳ quyết định giải thoát cho Sơn Vương, hòng lấy lòng dân chúng. Ngày 18.11.1968, ông được phóng thích. Thiệu – Kỳ đã điều hẳn một chiếc trực thăng quân đội bay ra đảo đón ông về.
Trở lại đời thường, Sơn Vương được khá nhiều báo chí thời đó săn đón. Thiên phóng sự Sơn Vương – người tù thế kỷ mà ông cho đăng feilleuton trên một số báo chí chỉ khiến dư luận ồn ào được một thời gian ngắn. Chiến tranh đang ngày một khốc liệt, người dân miền Nam còn nhiều chuyện đáng để quan tâm hơn một số phận Sơn Vương.
Bị cuộc đời quên lãng, Sơn Vương lặng lẽ lui về sống ẩn dật ở một ngôi nhà nhỏ trong con hẻm ngoằn ngoèo, nay là nhà số 137/52 Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh. Tại đó, ông mưu sinh bằng nghề bốc thuốc Nam gia truyền. Căn nhà nhỏ có gác gỗ này do bà Phạm Thị Hoa – người vợ gá nghĩa lúc tuổi đã xế bóng – tậu cho ông. Năm 1978, Sơn Vương ly dị bà Hoa, tiếp tục gá nghĩa với Nguyễn Thị Tám, một người đàn bà thua ông 30 tuổi.
Thỉnh thoảng, một vài người khách, thường là các nhà văn, nhà nghiên cứu sử học, những người có quan tâm đến lịch sử nhà tù Côn Đảo có ghé đến ngôi nhà nhỏ thăm hỏi Sơn Vương. Thời gian còn lại, ông sống trong cô độc, không bạn bè, không gia đình và không cả hồi quang quá khứ. Mỗi lúc có khách, ông già Sơn Vương ngày thường sống âm thầm, lặng lẽ lại tỏ ra hoạt bát hẳn. Trong những lúc hồi tưởng lại thời quá vãng, Sơn Vương thường tỏ ý tiếc nuối bởi thời trai trẻ dọc ngang không gặp được cách mạng, không đem được tài năng nhiệt huyết cống hiến cho dân tộc. Ông thường ngửa mặt than:
– Vì máu anh hùng cá nhân, đời tôi vĩnh viễn chỉ còn lại là huyền sử quá gần tội lỗi, không còn dịp để bước vào chính sử như sở nguyện.
Những lúc như vậy, Sơn Vương thường để khách ngồi lại một mình bên bàn trà, chạy xuống bếp, xách lên một con dao yếm. Vén áo, phơi bụng và vận công, Sơn Vương mạnh tay chém dao bình bịch vào bụng, mặc cho khách trợn mắt, tái mặt vì kinh sợ và thầm phục. Sau đó, khẽ vuốt lại những đường lằn nổi đỏ trên khoang bụng, tay giang hồ tóc bạc lại nở một nụ cười buồn và tự huyễn hoặc mình, rằng:
– Bụng vẫn còn cứng!
Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà Gò Công và mất tại đó vào năm 1987.
5. Và cha và con và…
 Tại một căn nhà khang trang trên đường Tân Kỳ Tân Quý, quận Tân Bình, chúng tôi đã may mắn được tiếp xúc và trò chuyện với một người hết sức đặc biệt và bất ngờ. Đó là một bà cụ chừng 70 tuổi, dáng vẻ khá lịch lãm, tự tin – phong cách thường gặp ở những tao nhân mặc khách. Trên khuôn mặt của cụ, tuổi tác vẫn chưa xóa hết được dấu vết của một người đàn bà có nhan sắc mặn mà, khi còn trẻ có thể được xem là mỏng mày hay hạt. Rót nước mời chúng tôi, bà cụ tự giới thiệu về mình:
– Tôi là Trương Ngọc Nữ, con gái của nhà văn Sơn Vương Trương Văn Thoại. Tôi vừa về từ Canada được đúng một ngày.
Lời giới thiệu khiến tôi giật mình. Quả thật, người đàn bà ngồi trước mặt tôi giống Sơn Vương như đúc. Cũng khuôn mặt nhỏ, thanh tú, cũng sống mũi cao, vầng trán rộng và đặc biệt là cái miệng với đôi môi luôn mím chặt… So với ảnh Sơn Vương lúc về già, bà Nữ không khác chút nào. Không thể nghi ngờ, song tôi hết sức phân vân, bởi trong quá trình tìm tư liệu về ông kéo dài suốt nhiều năm, tôi chỉ biết chắc một điều là Sơn Vương có khá nhiều vợ nhưng chưa bao giờ nghe ai nhắc đến chuyện tay lãng tử bạc đầu này có một người con. Mối băn khoăn vừa thoáng hiện ra đã lập tức được xua tan bởi dòng hồi ức tuôn như suối của bà Trương Ngọc Nữ…
Khoảng giữa năm 1930, khi vị Đại sư ẩn danh ở núi Ông Trịnh bắt đầu lâm trọng bệnh thì việc học võ và học đạo của Sơn Vương bắt đầu bị gián đoạn. Anh thường hay rời núi về Sài Gòn tìm thuốc cho thầy, sau đó tìm nơi ở trọ để tĩnh tâm bắt đầu theo đòi món nợ văn chương. Chỗ trọ đầu tiên của gã lãng tử là một xóm nhỏ ở xã Nhị Thành, huyện Hóc Môn. Tại đó, Sơn Vương đã trót phải lòng một cô hàng xén. Buổi sáng, cứ đúng giờ Sơn Vương dậy chạy thể dục, luyện công thì đầu xóm, cô thôn nữ cũng dậy sớm để dọn hàng. Thói quen giờ giấc đã xui họ gặp gỡ, phải lòng nhau và lén lút ăn ở với nhau. Trót đa mang một kiếp giang hồ rày đây mai đó, Sơn Vương không lưu lại lâu dài nơi xóm vắng. Ngày rời đi, Sơn Vương không hề chia tay với người yêu, cũng chẳng có lấy một lời thề hẹn hay nhắn nhủ. Thói mai quán chiều lều đã khiến Sơn Vương không hề biết rằng có một giọt máu của anh đang hoài thai trong lòng cô thôn nữ. Khi cô hàng xén trở dạ sinh được một bé gái kháu khỉnh thì Sơn Vương đã bặt tăm cá nước chim trời, không một lần lai hồ cố thổ. Một mình Sơn Vương vô tình nhưng cô thôn nữ thì không. Dù gã người tình không hề quay trở lại, cô vẫn lấy họ của anh để đặt cho con gái cái tên Trương Ngọc Nữ.
Ngọc Nữ càng lớn càng xinh đẹp, giống cha như đúc, được ăn học tử tế đàng hoàng. Sau này, qua lời mẹ kể, cô biết mình có một người cha phiêu bạt từ lâu nhưng hiện ở phương nào thì cô chịu chết. Ngoại trừ cái tên Trương Văn Thoại, cô không biết gì thêm về cha đẻ của mình.
Năm 17 tuổi, Ngọc Nữ bỏ nhà vào bưng theo kháng chiến. Nhờ có học thức, cô nhanh chóng trở thành thư ký của ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ, sau đó trở thành thư ký riêng của trung tướng độc nhãn Nguyễn Bình. Thời gian đầu, cô gái trẻ gọi vị tướng bằng chú, không hay biết chú Bình chính là người em kết nghĩa Nguyễn Phương Thảo thời trai trẻ của cha mình. Tướng Nguyễn Bình cũng không mảy may nghĩ đến việc cô thư ký trẻ trung xinh đẹp cạnh mình lại chính là giọt máu rơi của người anh kết nghĩa Sơn Vương. Thời kháng chiến, việc nước ngập đầu, không phải lúc nào người ta cũng có thời gian để nhận ra một mối duyên riêng tư kỳ ngộ, dù nó vẫn tồn tại ngay bên cạnh. Trong những lúc trò chuyện hiếm hoi, cả hai chú cháu cũng chưa bao giờ nhắc đến Sơn Vương.
Có thể coi cô gái Trương Ngọc Nữ là một hình mẫu của típ sinh viên học sinh Sài Gòn xếp bút nghiên theo kháng chiến, đến với cuộc đấu tranh của cả dân tộc bằng cả bầu nhiệt huyết lẫn sự ngây thơ lãng mạn. Sự khắc nghiệt của chiến tranh không hề làm giảm mà ngày một tăng sự kính phục hóa thành ngưỡng mộ trong lòng cô đối với Nguyễn Bình – vị tướng oai hùng và cũng rất hào hoa. Vì thế, trước những lời ngỏ ý gần xa của các anh Vệ quốc đoàn, cán bộ kháng chiến cùng cơ quan hay những người vì công tác thường có dịp ghé ngang khu bộ, cô gái trẻ vẫn không hề lay động. Tất cả tâm trí, tình cảm, cô dành hết để nghĩ về một người, không ai khác chính là vị tướng lớn hơn cô 15 tuổi. Dĩ nhiên, tướng Nguyễn Bình không khó gì mà không nhận ra tấm ân tình mà cô gái trẻ dành trọn cho ông. Trong thâm tâm, vị tướng cũng hết mực cảm mến, thường tỏ ra đặc biệt quan tâm chăm sóc cô nhân viên xinh đẹp. Không biết từ bao giờ, từ chú cháu, hai người đã đổi sang gọi anh, em trìu mến. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở mức độ đó, bởi tướng Nguyễn Bình lúc đó đã có gia đình.
Mối tình câm của cô học sinh thành thị bỏ nhà theo kháng chiến đang vào hồi vô vọng thì Ngọc Nữ nhận được hung tin: tướng Nguyễn Bình hy sinh khi trên đường ra Bắc công tác. Thương nhớ đã khiến lòng cô hóa đá. Từ đó, cô bỏ ngoài tai tất cả mọi lời ong bướm của không biết bao nhiều chàng trai ngưỡng mộ, chỉ khư khư giữ trong lòng mình một hình bóng Nguyễn Bình mà không hề thổ lộ cùng ai. Thỉnh thoảng, để nguôi ngoai thương nhớ, cô lại len lén bày ra một trò mê tín: cầu cơ. Cô tin rằng đó là cách duy nhất để cô có thể tự do được trò chuyện, thổ lộ tâm tình với vị tướng đã khuất mà cô hằng yêu trộm nhớ thầm. Nhiều năm trôi qua, gia tài quí nhất mà cô giữ khư khư – đến tận ngày nay – là cuốn sổ dày chép lại hàng trăm bài thơ – “biên bản” những lần trò chuyện bằng cách cầu cơ giữa cô với linh hồn đã khuất của tướng Nguyễn Bình. Không nói thì ai cũng biết, trong những bài thơ ấy, cô cứ mãi là một Trương Ngọc Nữ vĩnh viễn 17 tuổi.
Năm 1964, khi tuổi thanh xuân đã sắp trôi qua hết, cô mới chịu lập gia đình. Chồng sắp cưới của cô là một kỹ sư hàng không dân dụng làm việc tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày cưới sắp đến thì báo chí Sài Gòn đua nhau đăng tin: Tội nhân chung thân cấm cố khổ sai Trương Văn Thoại, tức nhà văn kiêm tướng cướp Sơn Vương lừng lẫy một thời sẽ được đưa về Sài Gòn để làm nhân chứng cho một phiên tòa. Đến lúc này, người mẹ của Ngọc Nữ mới cho cô hay Sơn Vương chính là cha đẻ của cô. Chưa kịp mừng vì biết tin cha còn sống, lại biết thêm rằng ông từng là một nhà văn, Trương Ngọc Nữ đã cảm thấy choáng váng và xấu hổ khi phải nhìn nhận mình có một người cha là tên cướp lừng danh. Nhưng tình máu mủ thiêng liêng đã trở thành sự thôi thúc mãnh liệt và không thể cưỡng. Nhờ sự tháo vát của người chồng chưa cưới, Ngọc Nữ đã xin vào được tận buồng giam để lần đầu tiên được biết mặt cha. Tất cả chỉ hai lần gặp mặt, mỗi lần 30 phút. Nước mắt mừng tủi của cuộc hạnh ngộ trùng phùng không san bằng hết được khoảng cách giữa hai cha con. Trừ những người trong nhà, Ngọc Nữ không hề kể cho ai nghe về cuộc gặp gỡ. Trong nhà tù, dù rất muốn, họ vẫn không hề gọi nhau bằng hai tiếng cha, con, chỉ gọi nhau bằng chú, cháu. Sơn Vương xấu hổ không dám xưng cha bởi với con gái ông không hề có ơn dưỡng dục. Ngọc Nữ thì cố chấp không chịu thừa nhận một tướng cướp là cha.
Tình trạng dùng dằng này tiếp tục tái diễn khi Sơn Vương được trả tự do vào năm 1968. Ra tù, Sơn Vương không về sống chung với vợ con mà tiếp tục số phận ăn quán ngủ đình. Vợ cũ của ông, mẹ của Ngọc Nữ đã mất, giữa hai cha con mối ràng buộc máu mủ cũng không làm mặn nồng hơn những tình cảm trước ngày gặp mặt nhau. Đôi lúc, có viếng thăm hay vô tình gặp gỡ, hai cha con vẫn cương quyết giữ cách xưng hô chú, cháu. Sơn Vương thỉnh thoảng cũng có viết cho con gái mấy dòng thư, chủ yếu để giải thích chuyện này chuyện nọ hoặc bày tỏ sự nuối tiếc với con gái. Cũng có khi ông gửi cho con gái một vài bức ảnh của mình nhưng lời đề tặng ở mặt sau lại cố tình ghi chệch đi là “Tặng cháu Ngọc Nữ, theo yêu cầu của cháu” hoặc một lý do gì đó tương tự, cố xóa đi mọi vết tích có thể gúp nhận diện mối quan hệ cha con. Hầu như Ngọc Nữ chẳng bao giờ trả lời thư ông. Nhưng không hiểu sao, tất cả mọi lá thư ấy cô đều cất giữ rất kỹ càng. Có lẽ, dù có bộc lộ hay không thì tình cha con cũng là điều có thật và không thể chối bỏ.
Sau năm 1975, bà Trương Ngọc Nữ theo chồng sang định cư tại Toronto (Canada). Mối liên hệ giữa hai cha con xa cách dần dần. Thậm chí khi Sơn Vương mất cũng phải nhiều tháng sau bà mới biết tin…
Tại Canada, gia đình bà Trương Ngọc Nữ sống tương đối bình lặng nhưng thành đạt. ít nhiều một chút máu văn chương và nghiệp cầm bút của Sơn Vương vẫn còn được lưu truyền trong những hậu duệ của ông đang sinh sôi nảy nở ở xứ người. Một cô con gái bà Ngọc Nữ, tức cháu ngoại Sơn Vương hiện đang là chủ bút của tờ Sài Gòn Toronto, một tờ báo tiếng Việt xuất bản tại Canada. Chính vì mối quan tâm đối với lĩnh vực thông tin báo chí nên dù ở cách xa nửa vòng trái đất, gia đình bà Ngọc Nữ vẫn thường xuyên tiếp xúc được với không ít sách báo từ trong nước gửi sang. Nhờ đó, loạt bài viết của chúng tôi về quái kiệt Sơn Vương đã có dịp khuấy động một chuỗi hồi ức buồn trong tâm hồn họ. Theo lời của bà Trương Ngọc Nữ thì phải đến tận lúc đọc loạt bài viết của chúng tôi, bà mới hiểu rõ được thân thế của người cha đã khuất. Lần đầu tiên bà nhận ra rằng không chỉ là một tướng cướp mà danh xưng chỉ gợi lên một khái niệm tội lỗi hay một sự băng hoại về mặt nhân cách, người cha Sơn Vương của bà còn là một tay hảo hán thực thụ, coi thường và căm giận bạo lực áp bức, đầy lòng nhân ái với người nghèo. Những vụ cướp kinh thiên động địa của ông không phải chỉ để mưu cầu cho riêng bản thân một cuộc sống xa hoa mà hướng nhiều tới mục đích cứu giúp người khốn khó và trừng trị những kẻ nợ máu, làm giàu trên sự bần cùng và xương máu của nhân dân. Quan niệm, việc làm vị nghĩa của Sơn Vương có thể sai lầm về cách thức song rất đáng được trân trọng. Cũng chính vì những việc làm ấy nên ông mới phải giam thân hơn 30 năm trời phía sau song sắt nhà tù, cho nên mới không thể nuôi dạy con cho tròn đạo làm cha, kể cũng không thể trách. Hơn thế nữa, với một người cha như Sơn Vương, bà Ngọc Nữ tự thấy mình còn có thể tự hào, bởi người cha của bà đã ít nhiều dự phần vào lịch sử, hay nói đúng hơn, đã trở thành nhân chứng của một thời… Chưa hết, Sơn Vương còn là anh kết nghĩa của tướng Nguyễn Bình – người đàn ông mà hình bóng đã khắc sâu vào đáy trái tim bà. Chỉ riêng điều đó thôi, với bà Ngọc Nữ cũng đã là tất cả.
Đáng tiếc, hiểu ra thì đã muộn. Người cha mà trong đời bà chưa một lần được gọi tiếng cha đã hóa người thiên cổ, tất cả còn lại chỉ là những giọt nước mắt tiếc nuối.
Lần giở cuốn sổ tay ố vàng chép đầy cả trăm bài thơ, những lần trò chuyện  trong tâm tưởng với vong linh tướng Nguyễn Bình, bà khoe với tôi cả một xấp hình ảnh, thư từ của Sơn Vương mà bà vẫn kẹp ở giữa, được cất giữ cẩn thận suốt mấy chục năm qua. Giữa bề bộn những trang giấy cũ đã đổi màu ấy, tôi nhìn thấy còn có những bản sao giấy chứng minh nhân dân, vài trang bản thảo, một số hình ảnh giấy tờ của Sơn Vương, dăm ba trang báo mà ông là tác giả được cắt rời, thậm chí còn có cả một bản sao tờ phán quyết ly hôn của ông với người vợ thứ ba nữa. Bất cứ thứ gì có liên quan đến người cha, bà Ngọc Nữ đều cóp nhặt, gìn giữ lại như những kỷ vật. Những trang giấy cũ kia với bà là cả một gia tài. Run run lần giở từng mảnh nhỏ, bà khóc.
Theo hiểu biết của tôi, đến tận lúc chết, hiện hữu trên khuôn mặt Sơn Vương vẫn là một ánh nhìn với bờ môi mím chặt đầy khinh bạc. Tin chắc rằng giờ đây, dưới suối vàng, bờ môi ấy sẽ nhoẻn thêm một nụ cười thật hiền lành, thật ấm áp – nụ cười của một người cha khi được nhận mặt con.

Chuyện về nhà văn tướng cướp Sơn Vương – 1


Tin số 1 của 4 tin về Sơn Vương
Ông được xếp vào danh sách người thụ án lâu nhất Việt Nam thời Pháp thuộc. Tổng cộng các bản án do tòa “áo đỏ” của chính quyền Pháp tuyên dành cho ông gồm 79 năm tù. Trong đó có 32 năm tù “giam biệt xứ” và 34 năm “khổ sai biệt xứ” tại Côn Lôn (tức Côn Đảo).
Đã có hàng ngàn bài báo viết về ông nhưng vẫn chưa đúc kết trọn vẹn cuộc đời ông.
Vụ cướp chấn động Sở mật thám Đông Dương
Trong hồ sơ án tích của Pháp ghi năm 1933 Sơn Vương bị bắt lần đầu sau khi thực hiện vụ cướp nhắm vào chuyến áp tải tiền lương từ ngân hàng về sở do René Gaillard – vệ sĩ của viên chủ sở cao su ở Gò Vấp. Thật ra, ông cướp tổng cộng 5 vụ lớn nhưng 4 vụ kia nạn nhân không muốn báo cò Pháp. Chỉ riêng vụ dùng súng giả đánh cướp tiền của René Gaillard áp tải, Sở Mật thám Nam Kỳ mới truy cứu do René Gaillard quyết tâm gỡ nhục.
Chiếc Peugeot mà René Gaillard áp tải tiền bị Sơn Vương chặn cướp.
Có nguồn cho rằng, René Gaillard là chủ đồn điền sở cao su Mimot. Điều này khó chính xác vì vào thời đó, hiếm khi đích thân chủ đồn điền đi ngân hàng nhận tiền mà thường giao cho gạc-đờ-co (garde du corps: vệ sĩ riêng). Vả lại, nếu René Gaillard mở sở cao su ở Mimot thì đi ngân hàng Phnôm Pênh nhận tiền gần hơn Sài Gòn.
Thời điểm đó, vùng Tân Bình, Gò Vấp, Hóc Môn là những vườn cao su bạt ngàn của các điền chủ người Pháp. Vì chủ trương thực dân cướp bóc thuộc địa nên lực lượng điền chủ cao su được chính quyền Pháp tại Việt Nam rất trọng vọng và có thế lực. Họ là đối tượng được lực lượng cảnh sát Pháp bảo vệ an ninh tối đa. Tận dụng ưu thế đó, hầu hết các điền chủ cao su đều bỏ tiền thuê riêng cho mình một lực lượng gạc-đờ-co. Điều đáng nói là hầu hết những tay gạc-đờ-co này đều đang ăn lương ở Sở Mật thám. Xem như những tay gạc-đờ-co này vừa làm nhiệm vụ cho Sở Mật thám vừa “làm thêm” cho điền chủ cao su.
Ngày thường, ngoài việc bảo vệ an ninh cho điền chủ, những tay gạc-đờ-co còn có nhiệm vụ trấn áp số công nhân cao su chây lười hoặc có biểu hiện chống đối chủ.
Khi đến kỳ lương cuối tuần, điền chủ cao su thường giao séc cho gạc-đờ-co đi cùng công táp (comptable: kế toán) và sốp-phơ (chauffeur: tài xế) thành bộ ba đến Ngân hàng Đông Dương nhận tiền mặt đem về sở phát cho phu. Giai đoạn đó, khu vực ngoại thành Sài Gòn đều là vùng ngoài tầm kiểm soát đối với chính quyền Pháp. Những đoạn nối từ Ngân hàng Đông Dương (nằm ở cuối đường Charner, nay là đường Nguyễn Huệ) đến các đồn điền cao su ngoại thành là đường đất đỏ nhỏ hẹp, đi xuyên qua những vườn cao su rộng mênh mông, vắng vẻ. Vì vậy, hiếm khi các điền chủ cao su dám đi trên những chuyến xe chở đầy ắp tiền.
Chân dung Sơn Vương năm 1970.
Trước khi thực hiện phi vụ đánh cướp táo tợn này, Sơn Vương đã bỏ ra mấy tháng trời ngồi lê vỉa hè gần Ngân hàng Đông Dương để bán tiểu thuyết do chính ông sáng tác. Vừa bán sách, Sơn Vương vừa chú ý quan sát và ghi nhớ đặc điểm từng người ra vào. Ông thuộc nằm lòng giờ giấc, quy luật chiếc xe Peugeot chở tiền do Ren Gaillard áp tải. Ông nhận thấy, trong số những chiếc xe hơi đến ngân hàng nhận tiền chỉ có chiếc Peugeot luôn lấm bụi đỏ, chứng tỏ chủ nhân của nó nằm ở ngoại thành vắng vẻ. Không dại gì chọn cướp những chiếc xe sạch sẽ chỉ chạy trong nội thành đầy rẫy cảnh sát.
Sau khi vạch kỹ kế hoạch hành động, Sơn Vương nhận thấy không thể đánh cướp chiếc xe Peugeot trong khu vực nội thành. Nếu phục kích chặn đường thì không thể đoán được chiếc Peugeot sẽ đi ngả nào ra ngoại thành. Cuối cùng, Sơn Vương chọn cách bám đuổi theo chiếc xe chở tiền. Muốn bám đuổi theo, Sơn Vương cần có chiếc xe mạnh hơn, nhanh hơn chiếc Peuguot.
Ông sực nhớ đến một người bạn tên Năm Đường là tài xế cho một viên công chức Pháp. Trước kia, mỗi lần chở ông chủ ra nhà băng, Năm Đường thường ngồi xuống chiếu bán sách của Sơn Vương đọc ké để giết thời gian. Năm Đường khoe với Sơn Vương chuyện ông chủ mới tậu chiếc xe hơi hạng sang đắt tiền Clément Bayard. Vì đắt tiền nên tại Sài Gòn chỉ có 5 chiếc. Năm Đường còn khoe ông chủ vừa cùng gia đình về Pháp nghỉ hè, giao hẳn xe cho anh ta chăm sóc. Sơn Vương rủ Năm Đường dùng chiếc xe đi “hát” (tiếng lóng: cướp). Nghĩ tới số tiền được chia phần quá lớn, Năm Đường đồng ý.
Một ngày cuối tuần đầu tháng 7-1933, Năm Đường ngồi sau vô lăng, Sơn Vương ngồi ghế phụ, Nguyễn Phương Thảo (sau này là Trung tướng Nguyễn Bình) ngồi ghế sau trên chiếc Clément Bayard đã thay biển số giả, đậu sẵn ven đường cách Ngân hàng Đông Dương vài trăm mét.
Khi chiếc xe Peugeot vừa rời ngân hàng, chiếc Clément Bayard bám theo. Khi còn cách chiếc cầu sắt nối Sài Gòn với Hóc Môn vài cây số, chiếc Clément Bayard tăng tốc vượt qua chiếc Peugeot rồi chạy rề rà. Khi chạy đến giữa chiếc cầu sắt, chiếc Clément Bayard vờ chết máy nằm choán giữa cầu.
Năm Đường, Nguyễn Phương Thảo và Sơn Vương cùng xuống xe mở nắp capo vờ sửa chữa. Nôn nóng chở tiền về sở, René Gillard xuống xe tiến đến cạnh chiếc Peugeot toan cự nự thì tá hỏa khi nhận ra một họng súng lục chĩa thẳng vào đầu. Trong khi Sơn Vương dùng súng khống chế René Gillard, Nguyễn Phương Thảo lục soát tước vũ khí rồi cùng Năm Đường chuyển tiền từ chiếc Peugeot sang chiếc Clément Bayard, đồng thời lấy luôn chìa khóa công tắc chiếc Peugeot.
Chuyển tiền xong, Năm Đường nổ máy sẵn, Nguyễn Phương Thảo đã vào xe ngồi yên vị, Sơn Vương vẫn nhắm súng vào René Gillard đi giật lùi rồi nhảy vào  xe. Chiếc xe Clément Bayard tung bụi phóng thẳng về hướng Hóc Môn. Dù vậy, Sơn Vương vẫn còn đủ thời gian ném khẩu súng giả của mình về phía René Gillard.
Chạy đến Bà Quẹo, Năm Đường rẽ ngoặt xe về hướng Gò Vấp rồi trở lại trung tâm Sài Gòn kiểm đếm số tiền cướp được 50.000 đồng Đông Dương. Số tiền được chia đều làm 3.
Nguyễn Phương Thảo dùng số tiền đó mua một căn nhà phố tương đối rộng rãi ở khu Đa Kao mở tiệm giặt ủi lấy biển hiệu là Thảo Sơn (tên ghép của Nguyễn Phương Thảo và Sơn Vương).
Sơn Vương gởi một ít tiền về quê cho các em, phần còn lại ông cùng Nguyễn Phương Thảo mua nhu yếu phẩm, gạo mang đi miền Trung phân phát từ thiện rất nhiều chuyến cho đồng bào bị bão lũ. Thấy Sơn Vương mua nhiều gạo đi làm từ thiện, ông Nguyễn Thanh Liêm – chủ nhà máy xay xát gạo ở Khánh Hội (Sài Gòn), cổ đông lớn của một ngân hàng ở đường Pellerin (nay là đường Pasteur) – cũng tham gia 300 bao gạo, tương đương 15.000, đồng thời cho mượn xe, tàu tải hàng đến tận nơi.
Vụ cướp táo tợn này đã khiến hầu hết các tờ báo tiếng Pháp lẫn Việt ngữ có mặt tại Việt Nam đều thi nhau giật tít. Cay cú, gã gạc-đờ-co ăn lương Sở Mật thám Đông Dương René Gillard quyết truy xét vụ án đến cùng…
Sơn Vương là ai?
Lần theo quyển hồi ký “Côn Đảo ký sự – Máu hòa nước mắt” của chính ông viết, chúng tôi tìm về nguyên quán của ông ở “làng Bình Nghị, tỉnh Gò Công”. Tuy vậy, việc tìm địa chỉ “làng Bình Nghị” không hề đơn giản. Bởi,  cái tên làng đó có từ đời Gia Long.
Đến thời kháng chiến chống Pháp, ta đổi làng Bình Nghị thành xã Bình Nghị, thuộc huyện Đông, tỉnh Gò Công. Pháp đổi làng Bình Nghị thành xã Hòa Nghị. Năm 1951, Gò Công trở thành huyện lị thuộc tỉnh Mỹ Tho. Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) nhập xã Hòa Nghị và Tân Duân Đông lại thành xã An Hòa thuộc huyện Gò Công.
Nhân chứng Sáu Xiêm và anh Châu – Công an xã Bình Nghị.
Thời kháng chiến chống Mỹ, ta đặt xã An Hòa thuộc huyện Đông, tỉnh Gò Công. Chính quyền VNCH đặt xã An Hòa thuộc quận Hòa Lạc, tỉnh Gò Công. Sau năm 1975, ta đổi tên xã An Hòa thành xã Bình Nghị, thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, 2 làng xưa là Bình Nghị và Tân Duân Đông nhập lại thành xã Bình Nghị ngày nay.
Chúng tôi đã đi lòng vòng trong phạm vi 1.000ha diện tích của xã Bình Nghị, hỏi thăm các bô lão địa phương nhưng tất cả đều không biết “ông Sơn Vương là ông nào?”.
Cuối cùng, chúng tôi ghé trụ sở Ủy ban nhân dân xã Bình Nghị để rồi suýt bỏ cuộc vì hầu hết, không ai biết “Nhà văn tướng cướp Sơn Vương là ai?”.
Giữa lúc bối rối, bất ngờ anh công an viên tên Nguyễn Thái Châu thốt lên: “Nhà văn tướng cướp Sơn Vương là người xứ này nhưng tôi không nhớ cụ thể ở ấp nào. Khẳng định luôn! Tôi sẽ đi tìm”.
Sau này chúng tôi mới biết, anh Châu là người rất mê đọc sách báo viết về lịch sử quê hương Gò Công. Anh Châu đã đưa chúng tôi đi tìm. Sau vài lần hỏi thăm, cuối cùng, chúng tôi được một nhà giáo về hưu chỉ đến nhà một người có tên gọi là Sáu Xiêm.
Sau vài câu chào hỏi xã giao, ông Sáu Xiêm xác nhận ngay mình hiện giữ ngôi thờ tự và chịu trách nhiệm cúng giỗ họ tộc, trong đó có nhà văn Sơn Vương.
Ông Sáu Xiêm có tên khai sinh là Trương Văn Thanh. Ông nội ông là chí sĩ Trương Văn Kỉnh tức ông Biện Thới.
Theo quyển sổ ghi chép của gia tộc thì ông Trương Văn Kỉnh là anh hai (người miền Nam gọi anh cả là anh hai) của 7 người em gồm 2 trai, 5 gái. Người em út mang thứ Tám. Ông Trương Văn Thoại tức nhà văn Sơn Vương là em thứ năm.
Ngôi nhà ngày xưa của ông Trương Văn Kỉnh đã được con cháu sửa sang. Đây là nơi sống cuối đời của Sơn Vương.
Trước khi tham gia kháng chiến, ông Trương Văn Kỉnh làm chức ký biện (thư ký) ở Tòa bố tỉnh Gò Công (Tòa bố là trụ sở hành chánh tỉnh lị). Là con trai đầu nên ông Kỉnh phải làm việc kiếm tiền nuôi dưỡng, dạy dỗ các em.
Ông Trương Văn Kỉnh sinh năm 1895. Còn nhà văn Sơn Vương sinh năm 1908 (không phải 1909 như nhiều tài liệu khác). Như vậy, vào năm 1926, Sơn Vương 17 tuổi thì ông Trương Văn Kỉnh đã 31 tuổi.
Cha của nhà văn Sơn Vương là Trương Đình Cung Anh (1873-1951) – Cháu họ nội của lãnh tụ nghĩa quân Trương Đăng Định, tức Trương Định.
Ông Trương Đình Cung Anh là thầy nho chuyên bốc thuốc nam trị bệnh chứ không phải là địa chủ như một số người nhầm tưởng. Thời đó, hưởng thừa kế trên dưới 20ha đất ruộng, chỉ là trung nông, chưa phải là phú hộ. Là người thức thời yêu nước, ông Trương Đình Cung Anh đều cho 3 người con trai ăn học đến hết bậc Supérieur (tiểu học). Nhờ tấm bằng Supérieur, ông Trương Văn Kỉnh được thu tuyển vào làm việc cho Tòa bố tỉnh Gò Công. Khi phong trào Hội kín yêu nước của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh lan tới Gò Công, ông Trương Văn Kỉnh đã tích cực tham gia.
Phần Sơn Vương – Trương Văn Thoại – dù học rất giỏi và có năng khiếu văn chương nhưng sau khi thi tốt nghiệp chương trình Cours Supérieur (Thi tốt nghiệp tiểu học để bắt đầu bước vào học sơ trung học) ông không chịu đi học nữa. Thời đó, muốn tốt nghiệp tiểu học, học trò phải nộp đơn dự thi vào hội đồng giáo dục cấp tỉnh. Chỉ có cấp tỉnh mới được tổ chưc thi tiểu học. Người học xong lớp “tam” là có thể đứng lớp dạy sơ học trường làng hoặc đi xin vào các sở Tây làm thầy ký, thầy biện (thư ký, kế toán) hoặc làm thông ngôn. Người tốt nghiệp tiểu học có thể về làng làm hiệu trưởng, mở trường học.
Thi xong tiểu học, Sơn Vương kiên quyết không đi học trường Tây nữa mà trở về nhà học tiếng Hán, tiếng Nôm và các bài thuốc đông y của cha.

Chuyện về nhà văn tướng cướp Sơn Vương (bài 2)


Tin số 2 của 4 tin về Sơn Vương
Cùng thời điểm đó, tuy bị đàn áp đẫm máu nhưng tiếng vang của phong trào Hội Kín Phan Xích Long vẫn lan tỏa khắp Nam Kỳ. Cậu bé Trương Văn Thoại nuôi dưỡng trong lòng một tư tưởng nghĩa hiệp pha trộn giữa hai nền văn hóa Đông và Tây.
Vì lẽ đó, thay vì đi theo con đường cách mạng, ông lại chống Pháp theo cách “hiệp khách giang hồ”.
Những ngày làm cách mạng
Năm 1925, 16 tuổi ông bỏ nhà đi theo một đại lão sư phụ ẩn cư học đạo, tu luyện võ công trên núi Thị Vãi và Mây Tàu.
Nơi ông ẩn cư tu luyện trên núi Thị Vãi là ngôi chùa cổ Linh Sơn Bửu Thiền Cổ Tự thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngôi chùa này được xây cất tre lá, không tên từ thời Vua Gia Long bôn tẩu lánh nạn Tây Sơn. Các thư tịch cổ cho biết, người dựng chùa là ni sư Diệu Thiện có tên trần tục là Lê Thị Nữ.
Bà đã có công nuôi dưỡng, che giấu Vua Gia Long trong thời gian nguy khốn nên sau khi khôi phục ngai rồng, ông đã phong thánh cho ni sư là Linh Sơn Thánh Mẫu và sắc ấn cho ngôi chùa với tên mới là  Linh Sơn Bửu Thiền Tự. Ngôi Linh Sơn Bửu Thiền Tự từng là nơi tụ họp của nghĩa quân Phan Xích Long trong thời gian mới khởi phát. Phải chăng, đại lão sư phụ của Sơn Vương là một trong những thành viên Hội Kín Phan Xích Long còn sống sót?
Ông Sáu Xiêm tìm năm sinh của Sơn Vương trong sổ ghi chép của gia đình.
Học võ được 1 năm thì sư phụ viên tịch, Trương Văn Thoại trở về Sài Gòn. Ông đi thẳng đến tòa soạn tờ Đông Pháp Thời báo xin làm việc miễn lương. Năm 1925, luật sư Phan Văn Trường phối hợp với Nguyễn An Ninh cho tái lập tờ báo Tiếng Chuông Rè, Trương Văn Thoại đến xin làm cộng sự.
Buổi chiều ngày 21/3/1926, Trương Văn Thoại phụ giúp ông Trương Văn Kỉnh tổ chức quy tựu quần chúng để Nguyễn An Ninh diễn thuyết bài xích thực dân Pháp.
3 ngày sau, ông Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại, Trương Văn Kỉnh và hàng trăm người khác bị mật thám bắt nguội đưa về giam ở bót Catinat Sài Gòn.
Tại bót Catinat, Chánh thanh tra mật thám Đông Dương là cò Bazin buộc những người bị bắt giữ phải ký tên vào một tờ khai ghi sẵn có nội dung buộc tội Nguyễn An Ninh lập đảng cướp làm phản, quấy nhiễu dân chúng, mưu toan cướp chính quyền. Ai chấp nhận ký sẽ thả ngay và cấp tiền xe về quê.
Hai anh em họ Trương cùng với hơn 60 người khác cương quyết không ký nên tiếp tục bị giam giữ. Đích thân tên cò mật thám Bazin khét tiếng tàn ác vào tận phòng giam dùng ba trắc “pín ngựa” đánh đập từng người để buộc họ ký tên.
Bằng uy tín của mình, luật sư Phan Văn Trường đã viết một bài tố cáo bót Catinat giam giữ người dân vô cớ, trái luật. Bài tố cáo vừa đăng trên báo Tiếng Chuông Rè vừa được gửi thẳng đến tay Thống đốc Nam Kỳ là Cognacq. Trước lý luận sắc bén của bài báo tố cáo, Thống đốc Nam Kỳ Cognacq đành ra lệnh cho Bazin thả hết những người bị giam giữ.
Thoát tù, Trương Văn Thoại tiếp tục tìm nơi ẩn cư. Bộc bạch trong hồi ký, thời gian này ông vào núi tu luyện thêm võ công.
Ngồi vỉa hè tự bán sách của mình sáng tác
Năm 1931, ông trở lại Sài Gòn và bắt đầu viết một loạt tiểu thuyết xã hội với bút danh Sơn Vương.
Có thể nói, ông là một văn sĩ có tài thu hút độc giả bằng những tiểu thuyết kỳ tình xã hội lúc bấy giờ. Ông mô tả những tướng cướp lãng tử, giàu lòng nghĩa hiệp, chuyên cướp của nhà giàu để chia cho người nghèo.
28_nha1499
Nhà may Nam Hưng trên đường Lefebvre thời Pháp thuộc (nay là đường Nguyễn Công Trứ, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM) – Nơi Sơn Vương từng tá túc cùng Nguyễn Phương Thảo – Tướng Nguyễn Bình.
Trong hồi ký, ông tự bạch rằng tác phẩm của ông luôn nhắm vào 5 mục tiêu: 1/ Cốt truyện lấy đề tài thường xảy ra trong tầng lớp bình dân; 2/ Giải trí, giáo dục, răn đời, làm ác gặp ác, làm lành gặp lành; 3/ Đả phá chính sách thực dân, gợi lòng yêu nước; 4/ Tả chân bình dị, bênh vực kẻ cô thế, bài xích quan liêu; 5/ Đất nước Việt Nam là của người Việt Nam.
Sau 3 năm viết tiểu thuyết, bút danh Sơn Vương bắt đầu có vị trí trong lòng độc giả thợ thuyền bình dân khắp các tỉnh thành Nam Kỳ.
Kể từ đầu năm 1931, người dân Sài Gòn thường trông thấy một thanh niên cao, gầy, ăn nói mềm mỏng, mặc bộ đồ xá xẩu (thường phục của người Hoa), trải chiếu trên vỉa hè đường De La Some (Nay là đường Hàm Nghi) bán sách do chính mình sáng tác và ấn hành. Ông hòa nhập vào cuộc sống vỉa hè của giới cạo gió giác hơi, chiêm tinh gia đường phố và phu xe.
Thời gian này ông bày bán hơn 20 đầu sách như: “Bạc trắng lòng đen”, “Lỗi hẹn quên thề”, “Ngọc lầm với đá”, “May nhờ rủi chịu”, “Làm ơn mắc oán”, “Kẻ thù dân tộc”, “Thà được làm chó hơn được làm người”, “Làm nhơn được vợ, Phản bạn vì tình”, “Chén cơm lạt của người thất nghiệp”, “Sâu bọ nổi lên làm người”… Hầu hết những quyển sách của ông được in khổ nhỏ (15,5 x 12cm) và mỏng khoảng vài chục trang để giới thợ thuyền, giới lao động bình dân có thể nhét vào túi áo dành đọc trong những giờ giải lao. Trong số sách có xin giấy cò xuất bản (1 loại giấy phép thời đó), ông chen vào những quyển tiểu thuyết in thủ công có nội dung kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp.
Thỉnh thoảng, ông gom góp số tiền lãi từ việc bán sách mua gạo chia thành những bao nhỏ rồi lén ném vào những ngôi nhà nghèo khó ở ngoại thành.
Mỗi khi vắng khách, ông ngồi tại vỉa hè sáng tác hoặc giao du kết bạn với những phu xe ngựa Malabar.
Xe ngựa Malabar là một loại “xe ngựa taxi ” phổ biến ở Sài Gòn giai đoạn đó. Thời đó, giới phu xe ngựa đa phần là người Ấn Độ di cư từ vùng biển Malabar, Pondichéry (Ấn Độ) hay từ Singapore đến Sài Gòn kiếm cơm. Vì vậy, người ta gọi chung loại “xe ngựa taxi” này là xe malabar. Người Ấn Malabar có tính cẩn thận cao nên một số được tuyển dụng làm gác-dan (bảo vệ cổng) và hành nghề đổi tiền. Họ đặt chiếc thùng to như chiếc bàn trên vỉa hè rồi treo những cọc tiền lủng lẳng để đổi tiền lẻ cho khách qua đường. Từ giới xe ngựa Malabar, Sơn Vương lan rộng mối quan hệ của mình với giới phu bốc vác Malabar, gác dan Malabar và giới đổi tiền để bổ sung kiến thức… cướp cho mình.
Với giới phu xe, Sơn Vương tìm hiểu thói quen đi chợ, mua sắm và địa chỉ của giới nhà giàu. Với giới gác-dan, ông tìm hiểu công thức bảo vệ. Với giới đổi tiền, ông tìm hiểu những địa chỉ giàu có. Ông tự lập cho mình một loạt những kế hoạch cướp táo bạo.
Trong thời gian ngồi vỉa hè bán sách, khi đêm xuống, ông cuốn chiếu về tá túc trong căn gác trọ của tiệm may Nam Hưng ở số 2, đường Lefebvre (nay là đường Nguyễn Công Trứ, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM). Ông Tư Chiêu – chủ tiệm may Nam Hưng – là bạn đồng liêu của ông Trương Đình Cung Anh (thân phụ của Sơn Vương) từ thuở tóc còn để chỏm ở quê Gò Công.
Giữa năm 1933, đám lính cò không cho giới hàng rong bám vỉa hè đường De La Some, Sơn Vương dời địa điểm bán sách sang lề đường Charner (Nguyễn Huệ). Tại đó, ông gặp gỡ với một thanh niên lang bạt tên là Nguyễn Phương Thảo, sau này trở thành Trung tướng độc nhãn Nguyễn Bình – Tư lệnh các lực lượng quân sự Nam Bộ những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Từ cuộc hội ngộ kết tâm giao này, Sơn Vương đã quyết định đánh cướp để giúp bạn có tiền mở tiệm giặt ủi, đồng thời cứu trợ người nghèo.
Cướp kiểu… tiểu thuyết
Sau khi thành công vụ cướp tiền của René Gaillard, nghĩ mình đã nằm ngoài tầm điều tra của cảnh sát, Sơn Vương còn tiếp tục đi “hát” thêm 4 phi vụ đậm chất hiệp khách giang hồ nữa. Đặc trưng nhất là vụ cướp tiền của giang hồ Sáu Ngọ.
Người thứ 2 từ trái sang, được cho là Sáu Ngọ. Ảnh Internet.
Tại Chợ Lớn những năm đó, có 2 ông vua đầu tư sòng bạc lớn, đó là Tư Nhiều và Sáu Ngọ. Sáu Ngọ có tên Tây là Paul Daron. Sáu Ngọ là chồng của nghệ sĩ sân khấu cải lương tài danh Bảy Nam. Ông là người bỏ tiền cho nghệ sĩ Bảy Nam lập gánh cải lương Nam Hưng Ban. Sau khi chia tay nghệ sỹ Bảy Nam, ông đã gặp và kết bạn tình với mỹ nữ Trần Ngọc Trà, tức Ba Trà – một nhan sắc lừng danh Sài Gòn.
Khi mới quen, để lấy lòng người đẹp, Sáu Ngọ đặt may tặng cho Ba Trà 365 bộ đồ để thay đổi mỗi ngày. Dưới trướng Sáu Ngọ là hàng chục sòng bài có giấy phép của chính quyền Pháp. Chỉ riêng sòng ở vườn Bureau (nay là Công viên Tao Đàn), mỗi ngày Sáu Ngọ thu 2 bao tiền.
Hằng ngày, Sáu Ngọ thường sai gạc-đờ-co của mình là Sáu Maniven đi cùng tài xế đến từng sòng thu tiền. Sáu Maniven xuất thân là giang hồ bến xe Cái Vồn, Cần Thơ, dưới trướng của đại ca giang hồ Năm Lửa, tức Trần Văn Soái. Sau này, Năm Lửa trở thành tướng lĩnh quân đội Hòa Hảo. Trong một lần giành khách bán cho xe đò đường dài Cái Vồn – Chợ Lớn,  Sáu dùng cây ma-ni-ven (tay quay khởi động xe) đánh chết đối thủ rồi trốn về Sài Gòn ẩn náu. Vì vậy, Sáu có hỗn danh là Sáu Maniven. Sáu Ngọ thu tuyển Sáu Maniven làm gạc-đờ-co cho mình. Là dân gốc giang hồ có án nên Sáu Maniven không dám xài súng mà chỉ lận trong lưng con dao dâu.
Sau khi điều nghiên, Sơn Vương nhận thấy hằng ngày cứ đến tầm 19 giờ là Sáu Maniven cùng tài xế lái xe hơi đến sòng ở vườn Bureau thu tiền rồi tiếp tục chạy về hướng Thị Nghè. Ông quyết định hành động một mình. “Canh me” lúc Sáu Maniven vừa rời xe hơi bước vào sòng, ông leo lên ghế sau xe chĩa súng vào đầu tài xế khống chế. Sáu Maniven ôm bao tiền trở ra, mở cửa xe, ông tiếp tục chĩa súng vào đầu. Sáu Maniven chỉ còn biết riu ríu ôm bọc tiền ngồi vào xe cạnh Sơn Vương.
Sơn Vương buộc tài xế chạy tiếp về hướng cầu Thị Nghè. Khi đến chỗ vắng, Sơn Vương đẩy tài xế lẫn Sáu Maniven ra khỏi xe rồi cầm lái phóng xe biến vào đêm tối.
Sáu Ngọ bị cướp tiền thu sòng bài rất đau nhưng không dám tố cáo với cò Pháp. Nếu làm rùm beng, chính Sáu Ngọ bị bể nồi cơm. Sáu Ngọ lệnh cho Maniven: “Đi tìm hung thủ, gặp đâu giết đó”. Maniven chưa tìm ra hung thủ là ai thì Sơn Vương bị bắt bởi vụ cướp xe chuyển tiền lương của Sở cao su.
Trong vụ cướp xe chuyển tiền lương của Sở cao su, Sơn Vương bị hở sườn một chi tiết không đáng có. Đó là ông đã sử dụng chiếc xe hơi đắt tiền Clément Bayard của Năm Đường mượn. Vì là xe hơi đắt tiền nên khắp Sài Gòn chỉ có 5 chiếc.
Không hổ danh là trùm mật thám Sài Gòn, qua mô tả của gã gạc-đờ-co René Gaillard, cò Bazin – Chánh sở Mật thám ra lệnh cho lính tra bộ tìm địa chỉ của 5 chiếc Clément Bayard hiện có tại Sài Gòn. Sau khi sàng lọc, cò Bazin nhận thấy ngày xảy ra vụ cướp, chủ nhân của 4 chiếc kia đều có chứng cứ ngoại phạm. Chỉ có chiếc của tên công chức Pháp mà Năm Đường làm tài xế có nhiều dấu hiệu nghi vấn.
Tra hồ sơ, cò Bazin biết được chủ nhân của chiếc xe đang đi nghỉ hè cùng vợ con ở Pháp. Trước khi đi nghỉ hè, ông ta giao chiếc xe cho tài xế riêng tên thường gọi là Năm Đường chăm sóc.
Không chần chờ, Bazin cho lính đi lùng bắt Năm Đường.

Chuyện về nhà văn tướng cướp Sơn Vương (bài 3)


Tin số 3 của 4 tin về Sơn Vương
Giang hồ Pháp gặp hiệp khách xứ Việt
Năm Đường bị tống vào nhà giam mà không nhận được một lời giải thích nào của cò cảnh sát. Sau một   đêm mất ngủ vì muỗi cắn, Năm Đường được Chánh Sở Mật thám là cò Bazin trực tiếp hỏi cung. Thay cho màn chào hỏi, viên chánh Sở Mật thám có máu giang hồ cầm chiếc roi pín ngựa vụt vun vút vào không khí khiến Năm Đường run lẩy bẩy.
Chờ cho đối phương mất hết thần hồn, Bazin cười khẩy hỏi: “Tiền ăn cướp xài rất sướng, hả mông-xừ sốp-phơ (ông tài xế)? Nếu còn chút thông minh, mày nên kể chi tiết vụ đánh cướp, đừng để chiếc roi này khó chịu”. Dứt câu hỏi, Bazin “vuốt” một roi ngang lưng Năm Đường.
28_ong1500
Ông Sáu Xiềm và kỷ vật của Sơn Vương.
Năm Đường quì sụp xuống chân Bazin vừa lạy như tế sao vừa hứa kể hết mọi điều. Năm Đường mới gặp Nguyễn Phương Thảo lần đầu hôm đi cướp nên giấu nhẹm không khai. Trong cơn sợ hãi, Năm Đường vẫn đủ trí khôn để khai rằng mình chỉ là kẻ được Sơn Vương thuê lái xe, hoàn toàn không biết trước kế hoạch cướp.
Sáng hôm đó, Sơn Vương đang lúi húi dọn sách ra vỉa hè như thường lệ thì một chiếc xe “cây” (tiếng lóng có nghĩa là xe bắt phạm) thắng kịt sát bên. Ông chưa kịp phản ứng gì thì đã bị 2 viên cò khóa tay đẩy lên xe “cây”. Biết là vụ cướp bị “bể ổ”, nhà văn giang hồ lẳng lặng lên xe.
Sơn Vương bước vào phòng hỏi cung thì gặp René Gaillard đã ngồi sẵn ở bàn buy rô. Vì mối quan hệ thân tình, Bazin ưu tiên cho René Gaillard khởi cung Sơn Vương. Vừa gặp Sơn Vương, nhớ đến khẩu súng giả trong vụ cướp, lòng tự ái của tên giang hồ đảo Corse nổi lên bừng bừng.
René Gaillard có dáng cao to, hầm hố của dân đảo Corse, đồng hương của Napoléon Bonaparte. Corse là một hòn đảo thuộc Pháp nằm ở Địa Trung Hải. Người đảo Corse vạm vỡ, khỏe mạnh, ăn to nói lớn và tính khí giang hồ mã thượng chất ngất. Hầu hết người gốc đảo Corse đến Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX chỉ có 2 loại, nếu không làm mật thám chỉ điểm thì làm… giang hồ.
Gã cũng từng là dân giang hồ chính hiệu và cũng từng cùng một đồng bọn tên Charlles Gaillard đánh cướp bằng súng một chuyến xe chuyển tiền của ngân hàng ở thành đô Paris tráng lệ. Chuyến cướp đó, gã cũng dùng chiêu thức chặn chiếc xe chở tiền giống như Sơn Vương, chỉ có điều gã dùng súng thật chứ không gan dạ dùng súng giả như Sơn Vương. Xui cho gã, đồng bọn Charlles Gaillard quá nhát gan.
Khi chiếc xe chuyển tiền đã được chặn lại, tay gạc-đờ-co áp tải đã giơ hai tay úp mặt vào thành xe chịu trận cho Charlles Gaillard dí súng vào gáy. René Gaillard đang chuyển tiền từ chiếc xe chuyển tiền sang xe mình thì… Charlles Gaillard bị viên gạc đờ co tước súng. Gã gạc đờ co cảm nhận họng súng của Charlles Gaillard run lẩy bẩy sau gáy mình. Thế là bằng một thao tác nhanh gọn, gã gạc đờ co xoay người tước khẩu súng trên tay Charlles Gaillard như lấy từ trong túi áo. Gã gạc đờ co lẩy cò, Charlles Gaillard đổ xuống như cây chuối rồi giẫy đành đạch trước khi xuôi tay đi thẳng xuống địa ngục. Trước tình thế đó, René Gaillard chỉ còn biết đưa thẳng 2 tay lên trời chịu thúc thủ.
René Gaillard ra tòa với tội danh cướp có vũ khí, thụ án 5 năm tại nhà tù La Santé thủ đô Paris. Ngồi khám được hơn một năm, René Gaillard vượt ngục.
Sau một thời gian im hơi lặng tiếng, René Gaillard đi tìm gã gạc đờ co bắn chết Charlles Gaillard để đòi lại món nợ máu. René Gaillard gặp Charlles Gaillard tại một quán rượu. Không hiểu vì run hay vì lý do nào khác, René Gaillard nhắm súng vào đầu đối thủ siết cò nhưng viên đạn lại găm vào… chân. Gã gạc đờ co ôm chầm lấy René Gaillard và… la làng. René Gaillard nghiến răng kề khẩu súng vào mang tai gã gạc đờ co siết cò. Lần này khẩu súng phản chủ đã không chịu nổ. René Gaillard bị thực khách nhiệt tình trong quán rượu xúm nhau “đánh hội đồng” đến mềm nhũn.
Lần này, René Gaillard lãnh án chung thân, lao động khổ sai ở nhà tù La Cayen. Cayen là một vùng nông nghiệp nổi tiếng với các sản vật khóm, mía và nho của Pháp. Gã đã dùng sức vóc của mình góp phần tạo nên thương hiệu khóm Cayen trong những ngày lao động khổ sai.
Trong một chuyến đeo cùm đi lao động, René Gaillard cùng một số bạn tù tước súng lính cai rồi đào thoát. Lần vượt ngục này, vì mang án chung thân, René Gaillard không dám tìm kẻ cựu thù đòi nợ máu nữa.
Một ngày đông lạnh lẽo, René Gaillard bất ngờ gặp đại ca đồng hương đảo Corse. Đó là Franchini (không phải Mathiew Franchini – chủ khách sạn Contineltal Palace ở quận 1, Sài Gòn).
Franchini là một đại ca giang hồ gác kiếm sau khi tích lũy được một số vốn kha khá từ những vụ cướp. Y dùng số vốn đó đầu tư một số đồn điền cao su ở Tân Đảo. Tân Đảo có tên hành chính là New Hebrides. Ngày nay Tân Đảo có tên chính thức là Cộng hòa Vanuatu. Đó là quần đảo thuộc địa của Pháp và Anh ở Tây nam Thái Bình Dương từ thế kỷ XIX. Chính quyền Pháp đang khuyến khích các nhà đầu tư trồng cao su ở vùng thuộc địa này. Sau khi nghe René Gaillard kể khổ Franchini tuyển dụng ngay gã đàn em đang tơi tả làm vệ sĩ riêng.
Ngoài ra, Franchini còn đầu tư cao su ở Hóc Môn, Gò Vấp (Sài Gòn), Cầu Khởi (Tây Ninh) và Mimot (Chup, Campuchia). Theo các sử liệu kháng chiến chống Pháp thì vào những năm thập niên 30 thế kỷ XX, Franchini là một tên chủ đồn điền cao su rất tàn ác đối với công nhân.
Sau này, thấy đầu tư ở Tân Đảo xa xôi, Franchini bán các sở cao su ở đó rồi đặt trụ sở chính tại Gò Vấp. Tất nhiên, Franchini lôi thằng vệ sĩ đàn em René Gaillard đi theo. Để tạo quyền lực riêng, Franchini ký gửi René Gaillard cho Bazin để có chân trong Sở Mật thám. Tuy là một gạc đờ co nhưng René Gaillard được đại ca tin tưởng giao cho quản lý tất cả mọi công việc cũng như mọi giao dịch liên quan đến cao su. Đáp ơn cứu mạng, René Gaillard trung thành với Franchini còn hơn chó nuôi từ lúc mới đẻ.
Gã giang hồ đảo Corse bị khuất phục
Tưởng mình là một con cọp uy lực, vừa gặp Sơn Vương, René Gaillard khoái trá chuẩn bị một trận vờn mồi. René Gaillard phóng chiếc roi pín ngựa vun vút vào không khí trước mặt Sơn Vương để uy hiếp tinh thần rồi dọa: “Mày cướp 50.000 đồng, tao đánh đủ 50.000 roi”. Không ngờ, Sơn Vương không những không sợ mà còn nhìn hắn trừng trừng như thách thức. Nổi cáu, René Gaillard hùng hục quất roi vào người Sơn Vương.
29_nhung1500
Những năm 30 thế kỷ XX, cả Nam kỳ chỉ có 5 chiếc Clément-Bayard.
Chiếc roi pín ngựa xé rách bươm quần áo nhưng Sơn Vương vẫn không thay đổi sắc mặc, lại còn cất tiếng cười cợt. Đánh đến vã mồ hôi, bải hoải tay chân vẫn không khuất phục được Sơn Vương, gã giang hồ đảo Corse đành xuôi tay: “Tao mệt rồi, cho mày nợ đó”. Sơn Vương cười từng tràng dài: “Tôi không có thói quen mang nợ lại thích sòng phẳng. Đánh cho đủ số nợ đi”.
Trước sự cứng đầu của gã giang hồ xứ Việt, nhớ lại thời mình đi “hát” bị “rớt” ở Paris mấy năm trước, René Gaillard ngầm thán phục. Gã ném roi, thốt: “Mẹc-xà-lù! Tao xóa nợ cho mày luôn đó”.
Trong buổi cung đầu tiên, uy dũng của Sơn Vương đã khiến tay giang hồ thứ thiệt như René Gaillard cảm phục. Để tỏ lòng mã thượng, dân chơi đảo Corse quyết định… bãi nại cho Sơn Vương. Tuy nhiên, vụ án đã được các báo giật tít ra trang nhất nên không thể để chìm xuồng. Thế là Bazin chỉ truy cứu một mình Sơn Vương ra tòa đại hình. Trong những ngày tạm giam hầu tra tại Maison Centrale de Saigon (Khám Lớn Sài Gòn) ở số 69, đường La Grandière (nay là Thư viện Tổng hợp TPHCM) René Gillard lại là người duy nhất đi thăm nuôi Sơn Vương. Gã còn đưa cả vợ đến ra mắt tay văn sĩ tướng cướp và hứa rằng, sẽ đề nghị bị hại là ông chủ Franchini không đến dự tòa, xem như đó là hình thức bãi nại gián tiếp.
Một người là C.V.D. – trước năm 1975 là điệp báo viên của ta ẩn trong vai Phó chi Cảnh sát quận 1 của chế độ Việt Nam Cộng hòa, kể rằng ông đã từng có dịp xem hồ sơ của Sơn Vương vào năm 1972 tại Tổng Nha Cảnh sát trong chiến dịch “bài trừ tệ nạn xã hội”. Vì chiến dịch huy động tổng lực nên rất nhiều cảnh sát ở các chi được trưng dụng về Tổng Nha để phân loại, lập hồ sơ đối tượng. Vì nghe danh Sơn Vương đã lâu nên khi gặp hồ sơ, ông háo hức đọc. Trong hồ sơ của tòa đại hình thời Pháp chỉ có vỏn vẹn 2 trang khẩu cung.
Lời cung của Sơn Vương rất đơn giản: “Tôi mướn chiếc xe, mướn luôn sốp-phơ Năm Đường. Tôi không nói với Năm Đường thuê đặng mần gì. Chạy tới chiếc cầu sắt, tôi biểu Năm Đường dừng xe cho tôi tiểu tiện. Chiếc xe chở bạc vừa trờ tới, tôi rút súng giả ra tra vào đầu gạc đờ co biểu đưa vali. Lấy vali bạc xong, tôi chĩa súng vô đầu Năm Đường biểu chạy hết ga. Về tới Sài Gòn, tôi hăm he Năm Đường khai ra với người khác, tôi giết chết cả gia đình. Trong vụ này chỉ mình tôi chủ mưu. Năm Đường vô can. Tôi chỉ trả công sốp-phơ và mướn xe tổng cộng 10 đồng. Mình tôi làm tôi chịu lãnh đủ, đừng truy cứu người vô can”.
Phiên tòa đại hình cũng diễn ra chóng vánh khiến cánh nhà báo thất vọng tràn trề. Bị hại là Franchini không đến dự. Không có luật sư bào chữa cho bị cáo lẫn bị hại. Suốt 30 phút diễn ra phiên tòa, hầu như các quan tòa chỉ làm thủ tục. Sơn Vương chỉ phải trả lời 3 câu thẩm vấn của chủ tọa. 3 câu hỏi cũng chỉ lặp lại nội dung bản khẩu cung. Khi chánh án cho phép tự biện hộ, Sơn Vương nói gọn: “Có vay, có trả. Tòa cứ tuyên, bao nhiêu năm tù, xin chung đủ”. Không còn gì để hỏi, chánh án tuyên luôn án 10 năm tù biệt xứ.
Vụ đánh cướp được các báo viết tường thuật cả trang giấy. Sau khi phiên tòa diễn ra, các báo chỉ đưa một góc tin nhỏ xíu.
Nhận án xong, Sơn Vương được đưa trở lại Khám Lớn Sài Gòn chờ chuyến đi dài.
Trong vụ này, Năm Đường được miễn tố. Chỉ có điều, khi người chủ biết chuyện đã đuổi việc Năm Đường. Ông ta trở lại nghề xà ích xe ngựa. Cảm nghĩa Sơn Vương đã bao che cho mình nên Năm Đường cũng thường xuyên đến thăm.
Kể từ khi hành hiệp, vì không muốn liên lụy đến người thân, Sơn Vương cắt đứt mọi liên lạc. Vì vậy, khi ông đi tù, cha mẹ ông cũng không hay biết.
Vào những năm đó, Maison Centrale de Saigon là nhà tù lớn nhất miền Nam, giam giữ tù nhân đại hình (trọng án) và tù nhân chính trị. Mỗi dãy phòng giam dài 30m và chiều ngang 6m. Ở giữa 2 dãy phòng giam là hành lang có chiều ngang 2m được phân cách với phòng giam bằng chấn song sắt phi 12. Tường phòng giam sơn màu đen. Cửa sổ song sắt trổ trên cao gần mái nhà. Giai đoạn này, do tù nhân chính trị nhiều nên bọn cai ngục dồn tù đại hình vào mỗi buồng hơn 50 người. 2 dãy phòng giam chứa hơn 100 người. Tất cả đều nằm dưới nền xi măng và 1 chân phải bị khóa vào 1 chiếc cùm dài suốt dọc phòng giam.
Để quản lý số tù nhân đông đúc, chen chúc ấy, bọn cai nghĩ ra chiêu dùng “dây đậu nấu đậu”, có nghĩa là chúng chọn trong số tù những tay có máu lưu manh, có sức khỏe làm caporal (người quản lý). Đọc theo âm trại là cặp rằn hoặc cọp rằn. Giang hồ thời nay gọi là “đại bàng” hoặc “đầu gấu”.
Cách chọn cặp rằn của bọn cai ngục rất… lưu manh. Chúng cho các tù nhân thách đấu võ với nhau để xem và bắt độ cá cược. Kẻ nào mạnh nhất phòng giam sẽ được làm cặp rằn. Khi một tù nhân thách đấu và đánh gục cặp rằn “đương nhiệm” thì sẽ được làm cặp rằn mới. Để bảo vệ “ngôi”, cặp rằn thường đánh phủ đầu những tù nhân mới.
Sơn Vương cũng không ngoại lệ. Trong thời gian hầu tra, ngày đầu tiên bị chuyển từ bót Catinat sang Maison Centrale de Saigon, khi cánh cửa ngục vừa khép sau lưng, Sơn Vương đã bị cặp rằn Ba Nhỏ – một côn đồ chợ Cầu Muối – túm cổ đánh dằn mặt. Ba Nhỏ không ngờ Sơn Vương xoay người nhanh như chớp khiến gã mất đà té dúi vào chân tường. Biết gặp cao thủ võ nghệ, cặp rằn Ba Nhỏ nhịn nhục chờ thời cơ trả đũa.

Chuyện về nhà văn tướng cướp Sơn Vương (bài 4)


Tin số 4 của 4 tin về Sơn Vương
Từ một người tràn trề tinh thần dân tộc, chế độ nhà tù hà khắc của thực dân Pháp đã dần biến Sơn Vương thành một tín đồ cực đoan của chủ nghĩa cá nhân. Dù vẫn còn nguyên tính cách nghĩa khí nhưng ông bị rơi vào cái vòng luẩn quẩn ân oán giang hồ. Thế là án chồng án.
Đề lao hiệp khách
Tại nhà giam Maison Centrale de Saigon, cặp rằn Ba Nhỏ được chủ ngục hậu thuẫn đã hà hiếp nhiều bạn tù cô thế. Không ai dám đối mặt với y.
Một hôm, René Gillard gửi vào cho Sơn Vương 2 giỏ xách thực phẩm. Ba Nhỏ đại diện buồng giam lên phòng cai ngục lấy đồ thăm nuôi. Gã lấy 2 giỏ thực phẩm của René Gillard gửi cho Sơn Vương mà không nói tiếng nào. Sơn Vương vô tình không biết Ba Nhỏ đã cướp trắng “tài sản” của mình.

28_cau1501
Cầu Ma Thiên Lãnh, Côn Đảo là do Sơn Vương đặt.
Lần thăm nuôi sau, René Gillard hỏi Sơn Vương có vừa miệng những món ăn do chính vợ René Gillard làm để gửi vào không. Đến lúc đó, Sơn Vương mới biết Ba Nhỏ đã ăn chặn thực phẩm thăm nuôi của mình. Dù không được nếm một chút món ăn nào, Sơn Vương cũng gật đầu khen ngon để làm vui lòng bạn.
Trở về phòng giam, Sơn Vương điểm mặt Ba Nhỏ: “Anh bạn phải trả đủ tôi số thực phẩm đã ăn cắp”. Ba Nhỏ không nói không rằng, rút trong người ra con dao tự chế từ thìa ăn đâm thẳng vào cổ Sơn Vương. Nhanh như chớp, Sơn Vương đoạt lấy con dao rồi khóa cứng tay Ba Nhỏ. Gã lưu manh chợ Cầu Muối xám mặt vì nghĩ mình đã tận mạng. Chỉ cần Sơn Vương thọc con dao ngược vào cổ Ba Nhỏ là đời gã ra ma. Gã nhắm mắt chờ thần chết gọi hồn. Cả phòng giam nín thở chờ đợi nhát dao phục thù của Sơn Vương.
Thật bất ngờ, Sơn Vương nhét dao vào lưng quần rồi nói: “Lần sau moa (tao) không tha cho toa (mày) đâu”.
Mấy giây sau, gã lưu manh chợ Cầu Muối mới thu lại hồn vía rồi… quỳ sụp xuống chân Sơn Vương xin nhận làm đồ đệ học võ. Sơn Vương khoát tay: “Từ nay, phòng giam này không còn cặp rằn nữa”.
Không còn nạn cặp rằn ăn hiếp tù nhân, cả phòng giam vỗ tay tung hô Sơn Vương là “đề lao hiệp khách”.
Một năm sau, Sơn Vương bị chuyển ra đảo tù Côn Sơn (nay là Côn Đảo). Ông ra đảo vào thời điểm Pháp đang xây dựng con đường nối liền các sở cũ đến sở Ông Câu để kiểm soát tù vượt ngục (Thời gian xây dựng từ 1930 đến 1945). Khi mở đường, bọn cai ngục bắt tù nhân đập đá xây một chiếc cầu bắc ngang đèo Ông Đụng. Việc xây dựng cầu này đã khiến hơn 356 tù nhân chết vì lao lực và tai nạn. Sơn Vương đã phỏng theo truyện kiếm hiệp tàu “Tiết Nhơn Quí chinh đông” gọi cây cầu này là Ma Thiên Lãnh. Cái tên này được sử dụng cho đến ngày nay.
Cuối năm 1933, số tù nhân chính trị ra đảo ngày càng đông, nhân sự cai ngục lại mỏng, thiếu nhân sự làm thư ký nên chúa đảo Bovier lệnh cho Nguyễn Văn Liễn, tức Vệ Liễn – Chánh cai vệ banh 2 – trưng dụng trong số tù nhân ở banh 2 do hắn quản lý. Sơn Vương được chúa đảo trưng dụng “miễn ngạch trật” tức làm việc không lương tại Sở Ngân khố của đảo tù nhờ chữ đẹp. Dù vẫn ở tù nhưng Sơn Vương trở thành tù hành chính. Ban ngày đến Sở Ngân khố làm thư ký, ban đêm trở về buồng giam.
Năm 1936, phong trào Mặt trận Bình dân của Léon Blum lên nắm chính quyền tại Pháp đã tiến hành hàng loạt chính sách cải cách dân chủ ở chính quốc lẫn các vùng đất thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Để ăn mừng chiến thắng, Léon Blum quyết định ân xá giải phóng đồng loạt hệ thống nhà tù. Tù nhân chính trị được tha bổng, tù nhân xã hội ở các đảo tù được đưa vào đất liền.
Tháng 2/1937, tại nhà ngục Hà Tiên, Sơn Vương đã đứng ra hô hào bạn tù tổ chức một cuộc bạo loạn đào thoát. Cuộc bạo loạn nhanh chóng bị đàn áp bởi lực lượng cảnh sát Pháp do đích thân chủ tỉnh Hà Tiên chỉ huy. Sơn Vương bị xếp vào loại cầm đầu nên bị đày ra nhà tù mới trên đảo Phú Quốc.
Từ nhà tù Phú Quốc, ông viết nhiều bản tường trình gởi về đất liền bằng đường dây bí mật để tố cáo nguyên do xảy ra cuộc bạo loạn. Bản tường trình này cho biết, một số tù nhân thường phạm không lãnh án khổ sai nhưng bị bọn cai ngục đưa ra hòn đảo nhỏ Kiên Lương đập đá xây dựng khu nghỉ dưỡng. Đó là hành vi phạm luật thời đó. Vì việc lao động nặng chỉ dành cho phạm nhân lãnh án “khổ sai”.
Trong thời gian “khổ sai” ở Kiên Lương, những người tù này thường xuyên bị tên chủ ngục người Pháp hành hạ, đánh đập rất tàn ác. Một hôm, hắn bị mất một số tiền. Nghi ngờ một người bồi (nhân viên tạp dịch) Việt Nam lấy cắp, hắn đã dùng nhục hình tra khảo tàn nhẫn đến chết. Những người tù chứng kiến khi trở về phòng giam kể lại rằng, trong khi tra tấn nạn nhân, tên chủ ngục Pháp liên tục thét: “Đánh chết bọn Annammit ăn cắp!”. Lòng tự ái dân tộc và nỗi bức xúc kìm nén bấy lâu có dịp phun trào thành cuộc biểu tình trong nhà tù.
Những bản tường trình của Sơn Vương từ nhà tù Phú Quốc gửi về đất liền đã đến tay các tờ báo ở Sài Gòn. Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là một thành viên của Mặt trận Bình dân Pháp đã cử người về nhà tù Hà Tiên và Phú Quốc điều tra và sau đó tên chủ ngục bị trục xuất về Pháp. Nhờ đó, vào tháng 2/1938, Sơn Vương cùng một số tù nhân khác được tha bổng.
Đụng độ “cọp lửa từ bi”
Ra tù, Sơn Vương trở lại vỉa hè chợ Bến Thành viết báo, bán sách kiếm cơm qua ngày.
Một tối, ông lân la vào rạp hát Nguyễn Văn Hảo xem xi-nê (chiếu phim). Khi chen chúc mua vé, ông bị một gã người Việt lai Pháp đi cùng “đầm” (bạn gái) đạp trúng chân đau điếng. Dù biết đạp chân người khác nhưng gã Việt lai Pháp vẫn phớt lờ phép lịch sự không thèm xin lỗi nạn nhân. Sĩ diện, máu giang hồ sôi sùng sục trong huyết quản, ông đấm cho gã Việt lai Pháp, lỗ mũi gã đầy máu.

Banh 2, nơi Sơn Vương thụ án.
Không ngờ gã lưu manh Việt – Pháp là phó cai đội của bót mật thám Polo có tên là Turbi nhưng giang hồ Sài Gòn đặt hỗn danh là Cọp Lửa Từ Bi – một tên côn đồ lưu manh khoác áo mật thám Pháp.
Gã hô hoán. Thế là Sơn Vương bị đám cò cảnh sát đè nghiến xuống đất trói gô lại đưa về bót Polo Chợ Lớn với tội danh… cướp cạn.
Dù chỉ va chạm nhỏ, Turbi vẫn gán cho Sơn Vương tội cướp bằng một bản cung giả.
Ngày 18/9/1939, Sơn Vương lại tái ngộ với phiên tòa đại hình vì đã từng có án tích trọng phạm. Ra tòa lần này, chán ngán sự đời, Sơn Vương không thèm hé răng một lời trong phần thẩm vấn của chánh án. Bực mình gã chánh án người Pháp tuyên 10 năm cấm cố. Sơn Vương bị tống vào nhà tù trọng án hình sự Đông Dương ở Pursat, Campuchia.
Tại đây, ông lén xin được 1 lưỡi cưa sắt của đám tù khai thác gỗ. Một đêm tháng 2/1940, ông cưa song sắt cửa sổ, đào thoát ra rừng thành công.
Trốn khỏi nhà tù Pursat, Sơn Vương theo cánh thợ rừng Khmer đi lần về Phnôm Pênh. Khi ông chuẩn bị lên một chiếc tàu hàng sắp xuất bến từ Phnôm Pênh về Châu Đốc thì bị cảnh sát Pháp phát hiện.
Ông bị cảnh sát Pháp áp tải từ Phnôm Pênh đi thẳng về bến Bình Đông, Sài Gòn suốt 3 ngày để tái ngộ với cò Bazin tại bót Catinat.
Lần này ông bị kết án vượt ngục. Từ án 10 năm cấm cố, ông đội thêm án khổ sai biệt xứ. Đầu năm 1942, ông có mặt tại nhà tù Côn Đảo trên một chuyến tàu hàng của quân đội Pháp. Ra đảo lần này, Sơn Vương bị đẩy vào hầm xay lúa banh 1 – nơi dành cho tù khổ sai.
Tháng 2/1942, tàu chiến quân đội Nhật trịch thượng “xin” Pháp cho ghé Côn Đảo lấy nước và lương thực. Chính quyền Pháp đang suy yếu nên nhượng bộ quân Nhật. Lấy nước và lương thực xong, quân Nhật rút đi. Đến tháng 2/1945, bất ngờ một đội tàu chiến Nhật lại xuất hiện. Quân Nhật muốn dùng Côn Đảo làm trạm vô tuyến nối liên lạc với các đơn vị tiến chiếm Đông Nam Á. Lần này chúng chiếm đảo bằng vũ lực. Vừa đổ quân lên đảo, quân Nhật tước sạch vũ khí của quân Pháp. Chúa đảo là Tyssery, nguyên một sĩ quan cảnh sát bị quân Nhật khống chế giam lỏng.
Mấy ngày sau, Tyssery và viên đại úy chỉ huy quân đội Pháp ở Côn Sơn được tàu chiến Nhật đưa về đất liền. Sau đó Nhật tiến hành “lễ trao trả độc lập cho người Việt Nam”, biến quần đảo Côn Sơn (tiếng Pháp: Poulo Condore) thành cái gọi là “Quốc gia tự do Nông dân huynh đệ quần đảo Côn Sơn (Etat libre agricole et fraternel d’Archipel de Poulo Condore) và trao quyền chúa đảo cho Lê Văn Trà – nguyên là nhân viên thư ký của Tyssery. Lê Văn Trà ra tờ báo “Tiếng nói tự do” và giao cho Sơn Vương làm chủ bút. Đám tù chính trị thân Nhật được cơ hội nhảy lên làm “cha”. Sơn Vương bỏ ngoài tai chuyện chính trị, chỉ lo làm phận sự một nhà báo, nhà văn.
Làm “Vua quốc gia an ninh đảo”
Chính phủ thân Nhật – Trần Trọng Kim đưa ra chiếc tàu đón đám tù chính trị thân Nhật về đất liền. Còn tù chính trị Cộng sản vẫn bị giam giữ ở các trại.
Lợi dụng sự lơ là của đám thân Nhật, Sơn Vương lén giúp đỡ những người Cộng sản giấy, bút và chiếc đài bán dẫn.
Sơn Vương chưa kịp xuất bản số báo đầu tiên thì quân Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh. Nhờ chiếc đài bán dẫn, những người Cộng sản nắm bắt được tin tức cuộc khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám trong đất liền. Ngay lập tức những người tù Cộng sản tiếp quản Côn Đảo từ tay đám thân Nhật. Cờ đỏ sao vàng được cắm trên đảo từ ngày 16/9/1945. Lê Văn Trà giao nộp con dấu cho lực lượng cách mạng Côn Đảo. Một Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Côn Sơn được thành lập vào ngày 11/12/1945, Sơn Vương được bầu làm Chủ tịch.
Ngay sau đó ông đứng ra tổ chức cải táng hài cốt của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh đồng thời tổ chức lao động sản xuất để tự cung tự cấp lương thực theo mô hình hợp tác xã.
Tuy nhiên, bản chất giang hồ lãng tử, tự tôn anh hùng cá nhân đã xô đẩy ông đi vào con đường khác. Trong cơn cuồng vĩ, ông bất thần tuyên bố thành lập một quốc gia mới có tên gọi là “Quốc gia Trung lập Dân chúng quần đảo An Ninh” (Etat neutre des Insulaires de L’Archipel d’An Ninh) và tự xưng là “Quốc vương” của “quốc gia”. Tất cả tù chính trị đã theo phái đoàn Cách mạng về đất liền, trên đảo chỉ còn những người tù hình sự được trả tự do nên ông thỏa sức làm “vua”.
Thời điểm này, đám cai đội cũ bị lưu lại đảo không cho về đất liền. Trong đó có gia đình Vệ Liễn. Nguyễn Lệ Hoa – con gái của Vệ Liễn bước vào tuổi dậy thì, rất xinh đẹp. Thế là Sơn Vương dùng quyền lực “vua quốc gia”, buộc Vệ Liễn phải gả Lệ Hoa cho ông. Bị Vệ Liễn từ chối, Sơn Vương giao cho “thừa tướng” Nguyễn Thành Út bắt giam về tội “tra tấn, hành hạ tù nhân trong thời làm cai vệ”. Vệ Liễn đành chịu phép chấp nhận gả Lệ Hoa.
Ngày 28/2/1946, đám cưới của Sơn Vương – Lệ Hoa được tổ chức linh đình. Sơn Vương mở kho gạo mời “toàn dân” tham dự ăn uống, nhảy múa suốt 3 ngày đêm. Dù bị cưới hỏi kiểu tướng cướp, Lệ Hoa cũng có một quãng thời gian ngắn hạnh phúc với Sơn Vương. Phần Sơn Vương, sau lễ cưới, suốt ngày ông chỉ lo hú hí với vợ, bỏ mặc “vương triều” cho đám “thừa tướng” quậy phá lẫn nhau.
Chỉ làm “vua” được một tháng, ngày 25/3/1946, Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Pháp trở lại Đông Dương. Biết thân phận, ông chủ động mời những người đã từng làm việc cho Pháp trên đảo ra để giao lại chính quyền. Đám này chưa biết thời cuộc sẽ về đâu nên không dám nhận. Sơn Vương đành cử 3 “thừa tướng” vào đất liền yêu cầu Pháp tiếp tế lương thực, đồng thời xin 1 khẩu súng lục, 1 nón nỉ và 1 xe đạp. Cả 3 vị “thừa tướng” vừa xuất hiện trên đất liền, chính quyền Pháp nắm đầu tống giam rồi phái 3 tàu chiến chở 2 đại đội bộ binh ra tái chiếm Côn Đảo.
Ngày 8/4/1946, 2 đại đội lính Pháp rời tàu chiến tiến lên đảo thì đã thấy Sơn Vương cùng các “thừa tướng” xếp hàng ngay ngắn chờ sẵn. Lính Pháp bắt tất cả ngồi dưới đất tay đặt lên đầu rồi phân loại. Toàn bộ “triều đình” của Sơn Vương bị tống giam. Phần Sơn Vương bị tố cáo là “thành phần ác ôn” bị đem ra dựa cột để xử bắn. Vệ Liễn tiếp tục trở lại phận sự cũ đã cùng với Lệ Hoa xin tội cho Sơn Vương.
Nhờ vậy, Sơn Vương được ân xá nhưng phải chấp nhận trả án giam.

Huyền thoại tướng Nguyễn Bình kết nghĩa với nhà văn–tướng cướp

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy quân sự tài ba, quyết đoán và dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Trước Cách mạng tháng Tám, ông nổi danh là người gan dạ, mưu lược. Ông tham gia Quốc dân Đảng và bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo.Tại đây, ông bị những kẻ cực hữu trong Quốc dân Đảng đâm mù một mắt. Năm 1936, ông được trả tự do và về Hải Phòng lập căn cứ. Tháng 6/1945, ông thành lập Chiến khu Đông Triều và làm Tư lệnh chiến khu, một vị chỉ huy làm quân Pháp kinh hoàng bạt vía.Tháng 7/1945, ông chỉ huy du kích đánh chiếm thị xã Quảng Yên, tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước Cách mạng tháng Tám, sau đó tổ chức giành chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương và được Trung ương giao làm Khu trưởng Khu Duyên hải Bắc Bộ.Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách cho ông vào miền Nam để thống nhất các lực lượng vũ trang.Ông nổi tiếng trong việc quy tụ lực lượng giang hồ tham gia kháng chiến ở Nam Bộ trở thành một đội quân chính quy, hùng mạnh và là người khai sinh Ban Công tác thành Sài Gòn (sau này gọi là Biệt động Sài Gòn).Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên.Khi Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập, ông được giao chức vụ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Ủy viên quân sự Nam Bộ… Ông là vị tướng đầy huyền thoại của Quân đội nhân dân Việt Nam.Tương ngộ giữa đất Sài GònNguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh năm 1908, là con thứ 4 trong một gia đình trung lưu gồm có 5 người con.Nguyễn Phương Thảo có vóc dáng khỏe mạnh, khuôn mặt cương nghị, tính tình phóng túng. Từ ông toát ra một sự tự tin, một sức mạnh nội tâm được kiềm chế gây ấn tượng mạnh mẽ cho người khác.Cha ông là Nguyễn Thế Pho, lúc còn trẻ làm việc tại Hải Phòng nên mới quen biết và kết hôn với mẹ ông là Ngô Thị Long, người làng Hà Nhuận, huyện An Dương, Hải Phòng. Năm 11 tuổi, Nguyễn Phương Thảo được cha mẹ gửi lên Hải Phòng ở tại nhà người anh ruột là một viên chức bưu điện Hải Phòng để theo học bậc thành chung.

Trung tướng Nguyễn Bình
Tại đây, Nguyễn Phương Thảo vừa học vừa tham gia các phong trào yêu nước trong giới học sinh nên bị mật thám Pháp theo dõi.Đến năm 1924, lúc 16 tuổi, khi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, Nguyễn Phương Thảo đi làm thủy thủ cho hãng tàu Đầu Ngựa chuyên chạy tuyến Hải Phòng – Mác-xây (Pháp).Được một thời gian ngắn, do không cam chịu thân phận làm nô lệ, Nguyễn Phương Thảo đã tham gia những hoạt động chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và bị truy lùng.Tuổi trẻ sôi động và đầy nhiệt huyết, ông quyết định trốn gia đình vào Sài Gòn để tránh sự truy lùng của bọn mật thám và tìm cho mình một con đường để hoạt động.Ông cải trang và xin vào làm một người thợ giặt ủi trên tàu Pélican của hãng Messagenés Maritimes xuất bến từ Hải Phòng để vào miền đất hứa.Có thể nói đây là quyết định làm thay đổi cuộc đời một con người quả cảm, tài ba, sẵn sàng dấn thân, một vị trung tướng đầy thao lược sau này.Sau mấy ngày lênh đênh trên biển, tàu Pélican cập bến Nhà Rồng, người thợ giặt ủi bất đắc dĩ Nguyễn Phương Thảo bắt tay từ biệt các bạn thủy thủ bước xuống Khánh Hội. Theo chỉ dẫn của một người bạn, ông tìm đến một nhà trọ ở trong hẻm gần nhà ga xe lửa. Ở đó ông được chủ nhà cho mượn ghế bố nghỉ trưa và nghỉ đêm. Cơm ngày hai bữa dọn chung cho tất cả mọi người ở trọ thuộc nhiều giới: thầy ký công tư sở, thanh niên học nghề.Nhà nấu cơm tháng này chứa khoảng mười hai người, giá cả rất vừa túi tiền giới bình dân. Nguyễn Phương Thảo có đủ tiền để ở trọ lại đây trong thời gian vừa phải đi tìm việc làm.Hàng ngày ông đi dạo khắp các phố phường, khám phá nơi mà Pháp hãnh diện gọi là Hòn ngọc Viễn Đông để vừa biết đây biết đó và tìm cho mình một công việc thích hợp.Theo tư liệu của nhà văn Nguyên Hùng, tại đây, cơ duyên đã khiến ông gặp gỡ và kết thân với nhà văn – tướng cướp Sơn Vương, một nhân vật đầy “huyền thoại” của đất Sài Gòn những năm 1930.Sơn Vương tên thật là Trương Văn Thoại, ông sinh năm 1909 tại làng Bình Nghị (nay thuộc xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), là con trai thứ năm của ông Trương Đình Cung Anh, một điền chủ có học, lại thêm nghề bốc thuốc chữa bệnh, và có lòng hào hiệp, thường hay giúp đỡ người nghèo.Khi vừa học hết lớp nhất tiểu học, Trương Văn Thoại chuyển sang luyện võ và học chữ Hán. Năm 1925, ông bỏ làng theo một lão võ sư mai danh ẩn tích học võ và học đạo tại các ngọn núi Thị Vải, núi Ông Trịnh, núi Mây Tào vùng Long Hải, Bà Rịa.Đến năm 1931, khi vị sư phụ qua đời, Trương Văn Thoại về Sài Gòn làm việc tại “Đông Pháp thời báo”.Sau đó ông gặp Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ “Tiếng chuông rè” kiêm thủ lĩnh đảng Thanh niên cao vọng, người mà ông cảm phục từ lâu.Trương Văn Thoại trở thành một cộng sự đắc lực của Nguyễn An Ninh và tờ “Tiếng chuông rè”. Thời kỳ này Trương Văn Thoại bắt đầu sử dụng bút danh Sơn Vương.Các bài báo của ông mang đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với các tầng lớp nghèo khó.Ngoài ra ông còn viết tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, nhưng những tướng cướp nghĩa hiệp cướp của nhà giàu chia cho người nghèo không cưỡi ngựa đánh gươm mà là những công tử hào hoa lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay.Và một điều cực kỳ đặc biệt, những tướng cướp hào hoa nghĩa hiệp trong các tác phẩm của ông được lấy nguyên mẫu từ chính ông. Điều này cũng có nghĩa ông là một tướng cướp khét tiếng tại đất Sài Gòn.Trong những năm 1931-1933, một mình Sơn Vương gây ra hàng chục vụ cướp mà đối tượng là những phú hộ, địa chủ mang tiếng gian ác ở các vùng Đồng Nai, Sài Gòn, Long An…Thời kỳ này, những độc giả ham mê đọc truyện kiếm hiệp chủ yếu chú ý đến hai tác giả rất nổi tiếng. Người thứ nhất là nhà văn Phú Đức, một tác giả được mệnh danh là chuyên viết truyện “xúi con nít đánh lộn”.Người thứ hai chính là nhà văn – tướng cướp Sơn Vương Trương Văn Thoại. Tính đến đầu năm 1933, Sơn Vương đã có một gia tài tác phẩm đồ sộ với 30 tác phẩm, trong đó có đến 20 tác phẩm là trường thiên tiểu thuyết, hầu hết được xuất bản trong những năm 1930, 1931. Hàng ngày, Sơn Vương ngồi ở góc đường Monlau (nay là Huỳnh Thúc Kháng) vừa viết vừa bán sách của chính mình.Bạn cùng nhà trọ với Nguyễn Phương Thảo có một thanh niên học nghề máy nổ rất mê tiểu thuyết. Hễ về tới nhà là anh ta lật ghế bố đọc say mê, có lúc anh ta vừa đọc vừa cười một mình, rung rinh cả ghế bố.Thấy lạ, Nguyễn Phương Thảo tò mò hỏi han thì được biết anh ta đang đọc tiểu thuyết “Tướng cướp hào hoa” của Sơn Vương.Trong những ngày rảnh rỗi chưa tìm được việc làm, Nguyễn Phương Thảo cũng mượn cuốn này đọc và bị lôi cuốn lúc nào không hay biết. Ông tỏ ra cảm phục và quý mến, nên tìm cách gặp mặt tác giả Sơn Vương.Và qua sự dẫn dắt của người thanh niên chung nhà trọ, Nguyễn Phương Thảo đã gặp gỡ Sơn Vương tại góc đường Monlau (nay là Huỳnh Thúc Kháng), quận 1.Tại đây, qua vài câu trao đổi, biết gặp phải một trang hảo hán, Sơn Vương đã thu dọn sách vở, mời Nguyễn Phương Thảo một chầu rượu gọi là ra mắt trong buổi sơ giao.Ông cho rằng bán sách chỉ là cách giao du để tìm bạn tri âm. Nay đã gặp được rồi nên trong lòng khảng khái. Kẻ phương Bắc, người phương Nam mến mộ nhau, gặp được nhau như cá gặp nước, cả hai thỏa sức bày tỏ mọi tâm tình.Qua đó, Nguyễn Phương Thảo càng khâm phục Sơn Vương gấp bội khi được biết những nhân vật tướng cướp hào hoa trong tiểu thuyết được lấy nguyên mẫu từ chính tác giả.Trước khi chia tay, Sơn Vương ký tặng Nguyễn Phương Thảo cuốn tiểu thuyết “Luật rừng xanh”. Trang đầu tiên, Sơn Vương viết: “Mến tặng chú em kết nghĩa Nguyễn Phương Thảo. Ký tên Sơn Vương (Trương Văn Thoại)”.Về nhà trọ, Nguyễn Phương Thảo lật ghế bố đọc một hơi. Đây là chuyện một tá điền có vợ đẹp bị chủ điền bày mưu cướp vợ. Anh ta mướn thầy kiện thưa chủ điền nhưng chủ điền đút lót tiền bạc nên bị thua kiện, tán gia bại sản, phải bỏ xứ ra đi. Quyết chí trả thù, anh ta lên núi học võ, học bùa ngải.Sau nhiều năm khổ luyện, anh ta trở về làng cũ thanh toán món nợ năm xưa. Danh dự đã phục hồi, nhưng anh ta vĩnh viễn trở thành kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Với anh ta, chỉ còn một thứ luật: luật rừng xanh.Sáng hôm sau Nguyễn Phương Thảo tới góc đường Monlau nhưng không thấy Sơn Vương đâu, chờ đến 9 giờ sáng vẫn không thấy. Buồn bã, ông thả bộ trên đường phố, trong lòng đinh ninh Sơn Vương có việc gì đó không ra bán sách như thường lệ. Và thật bất ngờ, ông gặp Sơn Vương đang ngồi bán sách trên vỉa hè đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ) trước trụ sở Tổng Ngân khố Nam Kỳ.Hai kẻ phiêu lưu mạo hiểm và giang hồ kỳ hiệp lại gặp nhau, Sơn Vương lại dọn dẹp sách vở và mời Nguyễn Phương Thảo về nhà mình là một căn phòng khoảng hai mươi mét vuông thuê của ông chủ tiệm may Nam Chấn Hưng tại ngã ba Lefebvre - Guynemer (nay là Nguyễn Công Trứ - Hồ Tùng Mậu).Tại đây, Nguyễn Phương Thảo càng hiểu rõ tính cách phóng khoáng, ngang tàng của nhà văn giang hồ và thêm phần khâm phục. Chính vì thế, khi Sơn Vương mời về ở chung, Nguyễn Phương Thảo đã không ngần ngại gật đầu đồng ý.Trong thâm tâm, ông muốn tìm hiểu thêm về con người miền Nam mà Sơn Vương có lẽ là tiêu biểu hơn hết.Vụ cướp làm chấn động dư luận miền NamTrong thời gian ở phòng trọ của Sơn Vương, hai người bàn bạc với nhau rất nhiều việc. Sơn Vương khuyên Nguyễn Phương Thảo nên mở một tiệm giặt ủi tại Sài Gòn vì theo ông nghề này có thể có thu nhập tốt.Vấn đề quan trọng là vốn ở đâu ra? Sơn Vương liền đưa ra một kế hoạch khiến Nguyễn Phương Thảo phải giật mình: đi cướp! Và tất nhiên Nguyễn Phương Thảo một mực từ chối vì không thể kiếm vốn liếng bằng cách như thế.Tuy nhiên, để trấn an người anh em kết nghĩa, Sơn Vương cầm lấy con dao, đưa mấy ngón tay rà lưỡi dao bén ngót rồi cởi áo phình bụng căng cứng, xỉa mấy ngón tay vô thử mấy cái rồi thẳng tay chém ba nhát vô bụng. Lưỡi dao bật ra, để lại trên da bụng ba vết lằn đỏ.Trước cặp mắt trợn tròn kinh hãi của Nguyễn Phương Thảo, Sơn Vương nói: “Nội công này “qua” học của đại lão sư trên núi ở Long Hải.Dao mác không chém đứt, chỉ có súng đạn mới đáng sợ. Nhưng súng trong tay kẻ chủ động mới ăn tiền. Để chứng minh điều này, “qua” để cây súng thiệt ở nhà, chỉ mang theo cây súng giả. Cam đoan vẫn đánh lấy valy bạc của thằng Gaillard cho chú xem”.Cái tên Gaillard mà Sơn Vương nhắc đến là René Gaillard, Phó giám đốc Hãng cao su Mimot ở Campuchia (giáp với tỉnh Tây Ninh) đồng thời là Quản trị viên Công ty Caffort ở đường Catinat, Sài Gòn.Tên này hàng tháng đều đến ngân hàng Sài Gòn để rút tiền về trả lương cho công nhân nên số tiền hắn mang theo là rất lớn.Trong những ngày bán sách ở vỉa hè tại những con đường ở chợ Bến Thành, Sơn Vương đã theo dõi kỹ lưỡng và nắm rõ quy luật đi lại của hắn. Sơn Vương quyết định làm một quả để giúp Nguyễn Phương Thảo vốn liếng mở tiệm giặt ủi!

Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên.
Để thực hiện phi vụ này, Sơn Vương gọi một trợ thủ đắc lực tên là Năm Đường. Theo kế hoạch đã bàn bạc, Năm Đường chuẩn bị một chiếc xe hơi sang trọng hiệu Clément Bayard, tất nhiên là đã thay biển số giả để đánh lạc hướng bọn Tây. Chiếc xe này là của một ông chủ người Pháp, nơi Năm Đường làm công.Nhân lúc người chủ có công việc phải về Pháp, Năm Đường đã “mượn” tạm để thực hiện phi vụ như trong… tiểu thuyết. Đến giờ hẹn, Năm Đường chở Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo trực chỉ hướng Tân Sơn Nhất. Trên khúc đường quẹo ra Bà Quẹo, xe ngừng lại tại cầu sắt nhỏ.Năm Đường xuống dỡ nắp xe lên, làm như xe hỏng máy. Nguyễn Phương Thảo ngồi trong xe ngắm nhìn hai thầy trò Sơn Vương và Năm Đường đóng kịch. Không bao lâu đã thấy bụi bốc lên từ phía Tân Sơn Nhất.Tức thì Năm Đường vờ lom khom sửa gì đó trong đầu máy xe còn Sơn Vương thì đi tới đi lui làm như sốt ruột lắm, cứ nhìn đồng hồ tay mãi.Vài phút sau chiếc xe tên phó giám đốc sở cao su chạy tới. Hắn bóp kèn inh ỏi đòi qua nhưng chiếc xe của Năm Đường nằm chình ình ở giữa đường. Tên Gaillard mở cửa xe bước xuống nạt nộ.Bất ngờ Sơn Vương hét lớn: “Mày là thằng nào mà dám ra lệnh cho tao?”. Vừa nói Sơn Vương vừa chĩa súng vô ngực tên Gaillard. Hắn run bắn người, ngoan ngoãn đưa hai tay lên đầu. Sơn Vương thò tay tước ngay khẩu súng lục trong túi hắn.Một tay cầm súng, một tay Sơn Vương xách valy tiền ném vô xe Năm Đường, sau đó quăng khẩu súng giả vào xe tên Gaillard để làm “kỷ niệm” rồi nhanh chân bước lên xe. Năm Đường chỉ chờ có thế lập tức rồ ga vọt qua cầu.Nguyễn Phương Thảo nhìn về phía sau, thấy tên Gaillard hối tài xế đuổi theo. Hắn chĩa súng bóp cò, khi đó mới biết súng giả, nên bực mình ném xuống đường. Hai chiếc xe xả hết tốc độ đuổi nhau, bụi bay đỏ trời.Xe Năm Đường là loại xe đời mới nên máy móc tối tân, tốc lực cao hơn nên càng lúc càng bỏ xa xe sau.Về tới Hòa Hưng, Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo xuống xe, thuê một chiếc xe ngựa chạy về Chợ Cũ. Kế hoạch coi như thành công mỹ mãn.Ngay chiều hôm đó, Năm Đường tới nhận tiền “chiến lợi phẩm”. Nguyễn Phương Thảo cũng được Sơn Vương tặng một số tiền để thuê một căn nhà mặt tiền ở khu vực Đa Kao mở tiệm giặt ủi. Căn nhà này rất rộng, có cả một cái sân lớn để đặt sào phơi phóng quần áo.Và sau vụ cướp, theo sắp xếp của Sơn Vương, mỗi người chia ra mỗi nơi, tránh gặp nhau đề phòng bị phát hiện. Tuy nhiên, từ ngày tạm biệt căn phòng trọ của Sơn Vương để mở tiệm giặt ủi, Nguyễn Phương Thảo vẫn theo dõi các hoạt động của Sơn Vương về hai phương diện văn chương và giang hồ.Thỉnh thoảng Sơn Vương cũng ghé tiệm giặt ủi để xem người anh em làm ăn ra sao, nếu cần thì ông sẵn sàng giúp thêm vốn.Bị mất một số tiền rất lớn là 50 ngàn đồng Đông Dương nhưng đối với Gaillard lại chẳng đáng là bao. Tuy nhiên tên này xuất thân từ dân đảo Corse, nơi sản sinh ra toàn những dân anh chị có máu mặt, đầu trộm đuôi cướp sừng sỏ nhất thế giới.Hắn không thể nào bỏ qua vụ này, không thể nào chịu cảnh nhục để một công dân của đất nước nô lệ qua mặt mình. Hơn nữa, hắn rất muốn giáp mặt kẻ dám liều lĩnh vuốt râu hùm.Hắn lập tức đến gặp tay Giám đốc Sở Mật thám Sài Gòn là cò Bazin nhờ tên này tung hết nhân viên truy bắt kẻ cướp cho bằng được với số tiền thưởng là một phần mười số tiền bị cướp, tức là 5 ngàn đồng.Cò Bazin là một tay lão luyện trong nghề mật thám, là một kẻ khét tiếng ở bót Catinat Sài Gòn.Đối với hắn, việc truy tìm ra kẻ cướp trong vụ này không khó lắm vì thời đó tại Sài Gòn chưa có nhiều xe hơi, mà lại là xe hơi sang trọng, nên việc truy tìm chiếc xe hơi tham gia vụ cướp là chuyện thật đơn giản.Vài ngày sau, cò Bazin cho dán bố cáo khắp nơi treo giải thưởng 5 ngàn đồng Đông Dương cho ai chỉ bắt bọn cướp lái xe du lịch Clément Bayard.Tiền thưởng quá lớn thúc giục đám mật thám đua nhau truy tìm. Nhờ chi tiết về hiệu chiếc xe mà công việc truy bắt trở nên dễ dàng.Tội nghiệp Năm Đường đã được Sơn Vương chia cho mười ngàn đồng mà ăn ngủ không yên. Mỗi lần đám mật thám tới xét hỏi về chiếc xe Clément Bayard là Năm Đường lại nổi da gà.Sau mấy đêm không ngủ, Năm Đường đành tới bót Catinat thú tội là đã cho Sơn Vương mượn chiếc xe để đi ăn cướp. Mặc dù Sơn Vương đã rời nơi trú ẩn, nhưng không sao lọt khỏi mạng lưới mật thám dày đặc của tên trùm Bazin.Bắt được Sơn Vương, Bazin điện ngay cho Gaillard tới bót Catinat dự cuộc thẩm vấn. Nhưng trước khi diễn ra buổi thẩm vấn theo quy định, Bazin cho phép Gaillard đòi lại món nợ danh dự từ Sơn Vương bằng… luật rừng.Đây là một trận đấu trí căng thẳng giữa một người là giang hồ nghĩa hiệp, còn kẻ kia là tay đầu trộm đuôi cướp đúng nghĩa.Bởi René Gaillard không ai khác mà chính là em ruột của Charles Gaillard, một tay trộm cướp khét tiếng ở đảo Corse.Cả hai đều là tù vượt ngục khám La Santé tại Paris, sau đó trốn qua Mỹ chuyên đánh cướp các ngân hàng. Vụ sau cùng, chúng tổ chức cướp một xe tiền rồi trốn qua Đông Dương mua cổ phần đồn điền cao su Mimot.Giáp mặt René Gaillard trong khám, lại đang bị trói hai tay, Sơn Vương thần thái vẫn ung dung, bình tĩnh, không có chút gì run sợ. Ông nhìn tên phó giám đốc đồn điền cao su bằng một ánh mắt sắc lạnh và thách thức.Gaillard được cò Bazin đưa cho một chiếc roi gân bò. Hắn trừng trừng vào Sơn Vương: “Tao tính giá rẻ mạt, cứ một ngàn là một roi. Mầy chịu nổi năm chục roi?”. Sơn Vương cười thách thức: “Chỉ sợ ông mỏi tay thôi”.Thấy Sơn Vương không tỏ ra sợ sệt hay năn nỉ xin tha, Gaillard điên lên như con thú sắp vồ mồi. Hắn thẳng tay quất roi gân bò vô mình Sơn Vương đang bị còng hai tay.Ngọn roi đầu xé rách chiếc áo sơ mi của Sơn Vương, mấy roi sau biến chiếc áo rách thành mớ bùi nhùi. Máu rịn theo các vết hằn trên da. Sơn Vương cắn răng vận nội công, hai mắt trợn trừng nhìn Gaillard như thôi miên.Mới hơn mười roi Gaillard mà đã thấm mệt, trong khi đó Sơn Vương vẫn thản nhiên, không tỏ vẻ gì là đau đớn.Tuy rất tức giận nhưng trong lòng thầm khâm phục một người dám làm dám chịu, gan dạ hơn người, Gaillard chắp tay bái phục và tuyên bố không đánh tiếp bốn mươi roi còn lại như hắn đã nói.Gaillard quay sang cò Bazin: “Dân đảo Corse quê tôi nổi tiếng sản sinh những tay tướng cướp sừng sỏ nhất thế giới, nhưng so với thằng này thì ít ai hơn được. Anh hùng phải trọng anh hùng. Tôi không kiện cáo gì nữa. Ông hãy tha cho nó!”.Như vậy, dù là người bị trói tay và bị đánh rất dã man, nhưng chính Sơn Vương lại là người chiến thắng trong cuộc “đọ sức” này.Tuy nhiên, đối với tên trùm mật thám Bazin vốn là một tay máu lạnh thì không hề có ý muốn dung tha cho bất kỳ một ai. Điều này có nghĩa là Sơn Vương phải ra tòa lãnh án. Ông bị kết án 5 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.Khi biết tin Sơn Vương bị kết án khổ sai, Nguyễn Phương Thảo mất ngủ mấy đêm liền. Ông tìm mọi cách để giúp Sơn Vương nhưng lực bất tòng tâm. Vào tù ra khám là chuyện tất nhiên của kẻ cướp dù tài ba đến mức nào. Biết vậy nhưng ông không khỏi ngậm ngùi cho số phận của Sơn Vương. Ông theo dõi liên tục vụ xử án trên báo hàng ngày như để chia buồn cùng người giang hồ mã thượng mà ông rất mực nể phục.
Theo PN

 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32